1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật đinh tiên hoàng trong truyền thuyết dân gian việt nam

74 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 907,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời gian cứ trôi dần đi theo quy luật vốn có của nó, lịch sử cũng đã trải qua nhiều thế kỷ song những truyền thuyết và sự tích về Đinh Tiên Hoàng vần còn in đậm và lưu truyền trong tâm

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN

- -

VŨ THỊ THẢO

Nhân vật Đinh Tiên Hoàng trong truyền

thuyết dân gian Việt Nam

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Tất cả những gì mà tôi viết đều trung thực dựa trên các tài liệu bản thân tôi sưu tầm nghiên cứu và phân tích đựợc chứ không hề sao chép ở công trình nào cả

Và công trình nghiên cứu của tôi chưa có ai nghiên cứu và công bố

Tôi xin chịu trách nhiệm về những gì đã cam đoan ở trên

(kí, ghi rõ họ tên)

Vũ Thị Thảo

Trang 3

Em xin chân thành cảm ơn tới TS Lê Đức Luận - Giảng viên trường Đại học

sư phạm Đà Nẵng , người trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình làm và hoàn thiện khóa luận

Mặc dù đã rất cố gắng xong không thể tránh được sai sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, nhận xét của quý thầy cô và các bạn để bài khóa luận của

em được hòan thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện

Vũ Thị Thảo

Trang 4

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

3.1 Đối tượng nghiên cứu: 6

3.2 Phạm vi nghiên cứu: 6

4 Phương pháp nghiên cứu: 6

5 Bố cục luận văn 7

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG I: NINH BÌNH VỚI NHÂN VẬT LỊCH SỬ VÀ TRUYỀN THUYẾT DÂN G IAN 8

1.1 Ninh Bình – vùng đ ất, con người và văn hóa dân gian 8

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên Ninh Bình 8

1.1.2 Đặc điểm lịch sử xã hội 9

1.1.3 Đặc điểm về văn hóa 11

1.2 Nhân vật lịch sử và truyền thuyết dân gian 13

1.2.1 Nhân vật lịch sử của Ninh Bình 13

1.2.2 Khái niệm truyền thuyết 16

1.2.3 Từ nhân vật lịch sử đến nhân vật truyền thuyết dân gian 19

1.2.4 Tín ngưỡng về Đinh Tiên Hoàng tại cố đô Ninh Bình 22

CHƯƠNG II: CHÂN DUNG ĐINH TIÊN HOÀNG QUA TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN 28

2.1.Xuất thân và thuở hàn vi 28

2.1.1 Sự xuất hiện kỳ lạ 28

2.1.2 Thuở cờ lau tập trận 31

2.2 Sự nghiệp anh hùng của Đinh Tiê n Hoàng 34

2.2.1 Chí lớn giữa thời lo ạn 34

2.2.2 Mở nước, lập đô, đổi xưng Hoàng đế 38

Trang 5

2.3.2 Kết thúc bi thảm và để lại nhiều uẩn khúc 44

CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG THI PHÁP TRUYỀN THUYẾT VỀ ĐINH TIÊN HOÀNG 49

3.1 Cốt truyện và nhân vật 49

3.1.1 Cốt truyện 49

3.1.2 Nhân vật 52

3.2 Thi pháp thời gian và không gian nghệ thuật 59

3.2.1 Thời gian nghệ thuật 59

3.2.2 Không gian nghệ thuật 62

KẾT LUẬN 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đinh Tiên Hoàng, ông vua xứ hoa lau là người có công dẹp loạn mười hai sứ quân, thống nhất đất nước Thắng lợi của ông là thắng lợi của xu hướng thống nhất quốc gia, của tinh thần dân tộc và ý chí độc lập mạnh mẽ của nhân dân, thêm vào đó cùng với những chính sách đối nội hết sức chiến lược, mềm dẻo và uốn nắn phù hợp với mục tiêu cụ thể Đinh Tiên Hoàng đã có được thành công rực rỡ trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị cũng như quân sự Ngoài những gì mà sử sách ghi chép lại thì trong tâm thức dân gian từ đời này qua đời khác, nhiều sáng tác về Đinh Tiên Hoàng và sự nghiệp thống nhất đất nước đã hình thành, phát triển những truyền thuyết tiêu biểu trong văn học dân gian Việt Nam Thời gian cứ trôi dần đi theo quy luật vốn có của nó, lịch sử cũng đã trải qua nhiều thế kỷ song những truyền thuyết và sự tích về Đinh Tiên Hoàng vần còn in đậm và lưu truyền trong tâm thức nhân dân Việt Nam, đặc biệt là nhân dân vùng đất cố đô Ninh Bình Chẳng hạn như những câu thơ sau đã in sâu trong lòng bất cứ người dân nào ở đây kể cả những đứa trẻ:

“Bé thì chăn nghé chăn trâu Trận bày đã lấy bông lau làm cờ Lớn lên xây dựng cơ đồ Mười hai sứ tướng bây giờ đều thua”

Bản thân là người được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Ninh Bình yêu dấu, chúng tôi rất đỗi tự hào về truyền thống anh hùng bất khuất, về tài năng mưu lược

của thế hệ cha ông Thông qua việc lựa chọn đề tài “Nhân vật Đinh Tiên Hoàng trong truyền thuyết dân gian Việt Nam”, chúng tôi mong muốn hiểu một cách đầy

đủ và sâu sắc về hình tượng Đinh Tiên Hoàng thông qua cái nhìn và tình cảm của các tác giả dân gian và của người dân địa phương đối với nhân vật này Từ đó hi vọng sẽ góp một phần nhỏ bé vào việc làm rõ hơn bức chân dung đẹp đẽ của một vị anh hùng dân tộc, khẳng định được công lao to lớn, vĩ đại của ông đối với lịch sử

Trang 7

nước nhà, đồng thời qua đó cũng hiểu biết thêm về nét đẹp văn hóa của vùng đất cố

đô xưa

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nói đến văn học dân gian Việt Nam thì truyền thuyết được coi là một trong những thể loại văn học độc đáo của dân tộc và nó có một vị trí hết sức đặc biệt Với đặc trưng thể loại của mình, truyền thuyết cho ta thấy được những giá trị to lớn trong việc lưu truyền lịch sử văn hóa của dân tộc Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay thì việc quan tâm tới thể loại dân gian này không được chú trọng nhiều Trong

cuốn “ Bình giảng truyện dân gian” có viết “ nếu ca dao nhất là bộ phận ca dao trữ tình về tình yêu đôi lứa còn rất gần gũi với con người hiện đại thì truyện dân gian, nhất là các truyện ra đời sớm ( như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích…) lại rất xa vời với cảm nghĩ của con người hiện nay nhất là đối với tuổi tr ẻ Thanh niên thường ưa thích cái mới mà truyện dân gian lại rất cổ ( tư duy cổ, ngôn ngữ cổ, ăn mặc cổ ) [28, tr.11]

Trong kho tàng truyền thuyết giàu có và phong phú của dân tộc ta thì mảng truyền thuyết về các anh hùng văn hóa chiếm một số lượng lớn Truyền thuyết về Đinh Tiên Hoàng – người làm nên thời kỳ “ bản lề” vĩ đại của lịch sử dân tộc cũng giữ một

vị trí hết sức quan trọng trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Nghiên cứu truyền thuyết về ông không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử mà cũng đem lại giá trị to lớn về tư tưởng, chính trị, văn hóa, đặc biệt với chuyên ngành văn học dân gian

Nhìn chung có nhiều công trình giới thiệu những truyền thuyết về Đinh Tiên Hoàng nhưng qua quá trình khảo sát và tìm hiểu thì chúng tôi thấy tập trung nhiều nhất ở một số công trình tiêu biểu sau:

1 Lê Doàn Đàm ( 2009), Thắng tích cố đô Hoa Lư và những huyền thoại, NXB Phụ nữ, H

2 Trương Đình Tưởng( 2009), Truyền thuyết Đinh Lê, NXB Văn hóa dân

tộc, H

3 Trương Đình Tưởng( 1988), Truyền thuyết Hoa Lư, Sở VH – TT Hà Nam Ninh

4 Nguyễn Văn Trò ( 2010), Cố Đô Hoa Lư, NXB Văn hóa dân tộc, H

Trang 8

Tuy vậy, giữa những công trình này cũng có sự trùng lặp rất nhiều, có chăng thì cũng chỉ là tên truyền thuyết khác nhau, cách kể khác nhau mà thôi Qua quá trình sưu tầm và chọn lọc, chúng tôi đã tập hợp, thống kê được tất cả 45 truyền thuyết xung quanh nhân vật Đinh Tiên Hoàng Cùng một số tài liệu lịch sử kết hợp với kết quả đó sẽ là nguồn tư liệu giúp chúng tôi thực hiện đề tài của mình

Ngay trong lời nói đầu của công trình “Truyền thuyết Đinh Lê” tác giả Trương

Đình Tưởng đã viết “Trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu biên soạn “Truyền thuyết Đinh – Lê”, một điều khá đặc biệt là, có khi cùng một nhân vật, sự kiện lịch sử, ở những địa phương khác nhau, lại có những truyền thuyết khác nhau Có những truyện hoàn toàn khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau, và không giống chính sử”

[ 26, tr.6 -7] Chính điều này tạo ra không ít khó khăn cho việc nghiên cứu Tuy nhiên, nó lại phản ánh cho ta thấy được đời sống tinh thần phong phú của người dân lao động lúc bầy giờ

Trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1” nhà sử học Lê Văn Hưu đã ca

ngợi công ơn của Đinh Tiên Hoàng như sau “Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không chủ, các hùng trưởng cát cứ, đánh một cái mà mười hai sứ quân thần phục hết, rồi mở nước đóng đô, đổi xưng hoàng đế, đặt trăm quan, dựng sáu quân, chế độ gần đủ, chắc là

ý trời vì nước Việt ta lại sinh ra bậc thánh triết để tiếp nối chính thống của Triệu Vương chăng?” [2, tr 193] Đây là nhận định về tài năng hơn người của Đinh Tiên

Hoàng, công lao của ông đối với dân tộc Việt Nam, sự xuất hiện của ông đã đáp ứng được lòng mong mỏi của quần chúng nhân dân lúc bấy giờ

Cũng nói về công lao của Đinh Tiên Hoàng, Lê Văn Hưu lại viết “Trời đất cùng che chở, mặt trời mặt trăng cùng sáng soi, cho nên mới sinh thành muôn vật, nuôi dưỡng mọi loài cũng như hoàng hậu sánh với ngôi vua, cho nên mới đứng đầu làm tiêu biểu cho trong cung và giáo hóa cho thiên hạ” [2, tr.195]

Đồng quan điểm trên, nhà sử học Ngô Sỹ Liên nhận xét về công lao của ông

trong việc dẹp loạn mười hai sứ quân “Các đế vương nổi dậy, không bao giờ là không do ở trời Song bực thánh nhân không cậy là chịu mệnh ở trời mà lại càng

Trang 9

làm hết phận sự của mình”, “Vận trời đất bí rồi ắt thái, Bắc Nam đều cùng một lẽ

ấy Thời Ngũ Đại bên Bắc triều Trung Quốc suy loạn rồi Tống Thái Tổ nổi lên Ở Nam triều nước ta, mười hai sứ quân phân chia quấy nhiễu, rồi Đinh Tiên Hoàng nổi lên Không phải là ngẫu nhiên mà do vận trời vậy” [2, tr.200]

Trong cuốn “Giáo trình văn học dân gian” tác giả Nguyễn Bích Hà có đề cập tới Đinh Tiên Hoàng qua nhận xét khái quát sau: “ Bộ Lĩnh là một chú bé mồ côi, cờ lau tập trận lúc nào cũng đứng đầu các bạn chơi, để lớn lên trở thành môt thủ lĩnh quân sự tài danh, dẹp loạn mười sứ quân, đánh tan cát cứ, thống nhất giang sơn, trở thành vị hoàng đế anh hùng” [9,tr.67]

Như vậy, nói tới công lao của vị anh hùng Đinh Bộ Lĩnh đối với nhân dân Hoa

Lư Ninh Bình nói riêng và đối với dân tộc Việt Nam nói chung, một điều dễ nhận thấy nhất đó là từ một con người hết đỗi bình thường, lớn lên trong cuộc sống thiếu thốn cơ hàn nhưng với trí thông minh sáng ngời trời cho, cùng sự anh dũng, mưu

lược, Đinh Bộ Lĩnh đã giúp dân, giúp nước, và trở thành người giữ vai trò “mở nền chính thống” cho dân tộc

Và điều đặc biệt là, hội thảo khoa học “Nhà Đinh với sự nghiệp thống nhất và phát triển đất nước”, do UBND tỉnh Ninh Bình, Viện Sử học Việt Nam, Hội khoa

học lịch sử Việt Nam phối hợp tổ chức tại Ninh Bình ngày 7- 1- 2012 đã khẳng định

vị trí quan trọng của triều Đinh trong tiến trình lịch sử dân tộc Hàng loạt các bài

viết, bài nghiên cứu về vùng đất cố đô và vị vua tài ba này như: “Lễ hội truyền thống cố đô Hoa Lư Ninh Bình: hào khí một thuở, vang vọng mãi ngàn năm” của Khắc Cư; “Đền vua Đinh và lễ hội Trường Yên” của tác giả Kim Thanh; “Từ Hoa

Lư đến Thăng Long: sự chuyển dời tất yếu của lịch sử” của Đinh Ngọc Quý viết về

công lao to lớn của vua Đinh, về lễ hội tại địa phương để tưởng nhớ công lao to lớn của ông đối với địa phương nói riêng và cả nước nói chung

Tuy nhiên trong lịch sử, Đinh Tiên Hoàng cũng có những sai lầm nhất định trong sự nghiệp đã gây ra những hậu quả đáng tiếc Ngô Sỹ Liên đã bàn về vấn đề

này như sau: “Từ xưa chỉ lập hoàng hậu một người để chủ việc nội trị mà thôi, chưa từng nghe thấy có năm hoàng hậu Tiên Hoàng không có học vấn kê cứu đời

Trang 10

xưa, mà các bề tôi lúc bấy giờ lại không có người nào biết giúp sửa cho đúng, để đến nỗi lòng riêng đắm đuối mà lập năm hoàng hậu ngang nhau Sau đến hai triều

Lê Lý cũng nhiều khi bắt chước làm thế, chính là do Tiên Hoàng khơi đầu mối loạn vậy” [2,tr.201], “ Nối nghiệp dùng con đích là đạo thường muôn đời: làm trái đạo thường ấy, chưa bao giờ là không gây loạn”[2,tr.198] Có thể nói lịch sử đã ghi lại

những sai lầm thất đáng tiếc trong cuộc đời của vị vua có công lao vĩ đại đối với

dân tộc Sai lầm nối tiếp sai lầm đã gây ra bao hậu quả thương tâm Vì “lòng riêng đắm đuối” vua gây ra sự đố kị ghen ghét lẫn nhau trong triều đình Vì tranh giành

ngôi báu mà bề tôi giết vua, anh giết em gây mất hết tôn ti trật tự Và hậu quả to lớn nhất đó là cái chết của hai cha con Đinh Bộ Lĩnh cùng sự rối ren lục đục của triều đình, gây mầm mống của sự phản tặc

Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỉ quyển 1:

"Truyền ngôi cho con trưởng là đạo thường của muôn đời, bỏ đạo ấy mà không có biến loạn thì quả là chưa bao giờ nghe vậy Cũng có khi nhân thời loạn

mà lập Thái Tử, nhưng trước hết phải chọn người có công, nếu con trưởng ác đức thì phải phế bỏ đi rồi sau mới lập con thứ Thế là xử việc lúc biến mà vẫn được đúng, người xưa cũng từng làm Nam Việt Vương Đinh Liễn là con trưởng, từng có công lao, chưa thấy có lỗi Đinh Tiên Hoàng vì yêu con thứ mà quên con trưởng, tưởng thế là thỏa tình yêu quý, nào có biết đâu như thế là làm hại con Còn như Đinh Liễn giết em, nhẫn tâm đến thế thì rõ là thiên đạo và nhân luân đều mất hết, tức là tự chuốc họa thiệt thân, lại còn liên lụy đến cha nữa, há chẳng rùng rợn lắm sao? Nếu không như vậy thì tội đại ác của Đỗ Thích vì đâu mà có, đúng như lời sấm truyền?"

Nói tới Đinh Tiên Hoàng trong lịch sử cũng như trong dân gian không chỉ

dừng lại ở việc nói lên những công lao hay những sai lầm của ông mà còn có đề cập tới cái chết của Đinh Tiên Hoàng nữa Cho đến nay nó vẫn còn gây nhiều tranh luận

khác nhau Dân gian lưu truyền như sau: “ mùa Đông, tháng Mười, nhân lúc vua Đinh Tiên Hoàng ăn dạ yến và ngắm trăng, Đỗ Thích đã chớp thời cơ lén bỏ thốc độc vào miếng rồi trong đĩa lòng lợn, món ăn khoái khẩu của vua” [ 7, tr.64] Theo

Trang 11

chính sử ghi lại “ Tương truyền xưa kia ở dưới tượng vua Đinh có tượng Đỗ Thích Hàng năm cứ đến ngày tế vua Đinh, dân làng lại đem tượng Đỗ Thích ra đánh hai roi hay “ khảo ba vồ” để răn kẻ có tội Đó là cách giải thích dân gian” [11,tr.393]

Tuy vậy nhiều nhà nghiên cứu gần đây có xu hướng bác bỏ giả thiết cho rằng cha con Đinh Tiên Hoàng là do Đỗ Thích giết mà lại đặt giả thiết thủ phạm là Lê Hoàn và Dương Vân Nga Nhưng tất cả chỉ là giả thiết chưa có cơ sở chắc chắn Nhìn chung các công trình của các tác giả mới chỉ nêu ra một cách khái quát nhất chứ chưa đi vào vấn đề cụ thể Nhưng thật sự để làm được đề tài này chính tác

giả Trương Đình Tưởng cũng đã nói “Thư tịch cổ về thời đại Đinh Lê còn đến ngày nay rất ít Hy vọng đẩy mạnh công tác sưu tầm nghiên cứu văn hóa dân gian, văn chương dân gian trong đó có truyền thuyết lịch sử, cùng với các tư liệu khác như thần phả,thần tích, khảo cổ học sẽ góp phần phác họa tương đối rõ nét về thời kỳ hào hùng này của lịch sử dân tộc” [26,tr 8]

Ở đây chúng tôi xin ra đưa ra một hướng nghiên cứu riêng về vấn đề này Trên cơ sở những cái mà các tác giả trước đã đề cập nhưng chưa đi sâu nghiên cứu chúng tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu Mục đích là nhằm đưa ra cách nhìn khách quan, chân thực, xác đáng để hiểu một cách sâu sắc và toàn diện về hình tượng Đinh Tiên Hoàng – người anh hùng vĩ đại của dân tộc

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hình tượng nhân vật Đinh Tiên Hoàng trong truyền thuyết dân gian Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nhân vật Đinh Tiên Hoàng trong truyền thuyết, lịch sử và tín ngưỡng dân gian

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

 Phương pháp điền giã

 Phương pháp khảo sát

 Phương pháp thống kê

 Phương pháp phân tích tổng hợp

Trang 12

Chương I: Ninh Bình với nhân vật lịch sử và truyền thuyết dân gian

Chương II: Chân dung Đinh Tiên Hoàng qua truyền thuyết dân gian

ChươngIII: Một số đặc trưng thi pháp xây dựng nhân vật

Trang 13

NỘI DUNG

CHƯƠNG I NINH BÌNH VỚI NHÂN VẬT LỊCH SỬ VÀ TRUYỀN THUYẾT

DÂN GIAN

1.1 Ninh Bình – vùng đất, con người và văn hóa dân gian

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên Ninh Bình

Ninh Bình là tỉnh nằm ở phía Nam vùng Đồng bằng Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội trên 90km về phía Nam với hệ thống giao thông thuận tiện Phía Bắc giáp Hà Nam, phía Đông và phía Đông Bắc giáp Nam Định, phía Đông Nam giáp biển Đông, phía Nam và phía Tây Nam giáp Thanh Hóa, phía Tây và Tây Bắc giáp với Hòa Bình Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh gần 1420km2, trong đó có trên 554km2 đất canh tác nông nghiệp Địa hình tự nhiên được chia thành 3 vùng rõ rệt: vùng phù sa cổ ven chân núi, vùng chiêm trũng và vùng đồng bằng ven biển Hiện nay vùng bãi bồi Kim Sơn hàng năm tiếp tục vươn ra biển đông từ 80 – 100m

Với vị trí địa lý đó, Ninh Bình là một địa bàn chiến lược vô cùng quan trọng, một vùng đất văn hiến giàu truyền thống cách mạng, cùng với sự biến đổi và phát triển của lịch sử Mảnh đất Ninh Bình vào thế kỷ X đời nhà Đinh – tiền Lê đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa xã hội của nước Đại Cồ Việt Rừng núi Ninh Bình nằm trong hệ thống núi đá vôi hình cánh cung từ biên giới Việt Lào ra tận biển Đông, nhìn trên bản đồ Việt Nam, Ninh Bình và Thanh Hóa giống như một tường thành Nằm trong bức tường thành có khu rừng nguyên sinh Cúc Phương với những thảm thực vật và động vật quý hiếm, có nhiều hang động kỳ thú kết hợp với những công trình kiến trúc bao đời để lại làm nên một danh

lam thắng cảnh như "Nam Thiên đệ nhị động - Bích Động", "Nam Thiên đệ tam động - Địch Lộng, Thiên Tôn, Liên Hoa " Đặc biệt có vùng núi non, khe suối,

thung lũng, đèo Ba Dội nổi tiếng

Ngoài những nguồn lợi về kinh tế rừng, kinh tế du lịch và nghiên cứu khảo cổ vùng núi Ninh Bình nói chung, vùng Tam Điệp nói riêng có vị trí rất lớn về quân sự

Trang 14

trong lịch sử dựng và giữ nước c ủa dân tộc Từ quan khởi nghĩa Hai Bà Trưng đánh Hán, nhà Đinh dựng nước, nhà Trần đánh Nguyên Mông… đến quân đội Tây Sơn

với "nước cờ Tam Điệp" và phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn tiến ra Bắc Hà tiêu

diệt quân Thanh đều dựa vào núi rừng Ninh Bình và sử dụng vùng Tam Điệp như một lá chắn, một thanh kiếm trong hành trình giữ nước của dân tộc

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc, núi rừng Ninh Bình luôn luôn được chọn làm căn cứ cách mạng, căn cứ kháng chiến của nhân dân ta Một số binh đoàn chủ lực đã ra đời, đứng chân và hoạt động cách mạng ở đây trong suốt quá trình xây dựng và chiến đấu

Khí hậu và thời tiết Ninh Bình thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình 1.565mm, nạn bão lụt hạn hán thường xuyên sảy ra, thời tiết và khí hậu ở đây vừa thuận lợi vừa khắc nghiệt với sản xuất công, nông nghiệp, đồng thời ảnh hưởng lớn đến các hoạt động quân sự Đường sá sông ngòi Ninh Bình phân bố tương đối đều thuận lợi cho việc đi lại và giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội Đường biển Ninh Bình dài khoảng 15 km, thuận lợi cho giao thông đường thủy, tài nguyên thiên nhiên phong phú, có than bùn, đá vôi, nước khoáng…

Thiên nhiên Ninh Bình đã mang lại cho nơi đây một cảnh quan tương đối hoàn chỉnh, có biển, đất đai phì nhiêu, núi non sông nước hữu tình Đồng thời tự nhiên cũng đem lại cho Ninh Bình một thế hiểm yếu về địa hình quân sự Đó là một địa bàn cơ động chiến lược có thể tiến đánh, lui, có thể giữ, mang đầy dấu tích lịch sử chống giặc gi ữ nước của dân tộc ta từ thời Hai Bà Trưng

1.1.2 Đặc điểm lịch sử xã hội

Ninh Bình xưa cùng với Thanh Hóa thuộc bộ Quân Ninh, nước Văn Lang Qua thời thuộc Hán, Lương, một phần nhỏ vùng đất này thuộc Cửu Chân, phần còn lại thuộc Giao Chỉ, thời thuộc Đường, bắt đầu hình thành Trường Châu

Năm 968, vua Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn 12 sứ quân lên ngôi hoàng đế đóng đô tại Hoa Lư và đổi tên gọi Trường Châu thành Trường An Năm 1010, Lý Thái Tổ dời kinh đô về Thăng Long, Ninh Bình nằm trong phủ Trường An, sau đổi

là châu Đại Hoàng vào cuối thế kỷ 12 Đời nhà Trần đổi thành lộ, rồi lại đổi thành

Trang 15

trấn Thiên Quan Đời Lê Thái Tông, Ninh Bình sáp nhập vào Thanh Hóa; đời vua Lê Thánh Tông tách về thuộc trấn Sơn Nam xong rồi lại thuộc về Thanh Hóa cho tới đời vua Minh Mạng nhà Nguyễn Thời nhà Nguyễn, địa bàn Ninh Bình

là 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan Năm 1831, Ninh Bình trở thành một trong số

13 tỉnh ở Bắc Kỳ với 6 huyện Yên Khánh, Nho Quan, Kim Sơn, Gia Khánh, Gia Viễn và Yên Mô, thuộc Liên khu 3 Ngày 27/12/1975, Ninh Bình hợp nhất với các tỉnh Nam Định và Hà Nam thành tỉnh Hà Nam Ninh rồi lại tái lập ngày 26/12/1991 Khi tách ra, tỉnh Ninh Bình có diện tích 1.386,77 km², dân số 787.877 người, gồm

2 thị xã Ninh Bình, Tam Điệp và 5 huyện Kim Sơn, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp, Hoàng Long Ngày 23/11/1993, huyện Hoàng Long đổi lại tên cũ là huyện Nho Quan Ngày 4/7/1994, huyện Tam Điệp đổi lại tên cũ là huyện Yên Mô và tái lập huyện Yên Khánh từ 10 xã của huyện Tam Điệp cũ và 9 xã của huyện Kim Sơn

Về mặt quân sự, Ninh Bình cũng giữ một vị trí then chốt vì đèo Ba Dội nằm trong dãy Tam Điệp là một cửa giao thông hiểm yếu giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, dùng đường bộ từ Thăng Long vào Thanh Hóa hay từ Đàng Trong ra Đàng Ngoài, đều phải vượt đèo này Hiện tại, nơi đây là đại bản doanh của Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết Thắng, là một trong bốn binh đoàn chủ lực của quân đội nhân dân Việt Nam Các đơn vị quân đội khác đóng quân trên địa bàn Ninh Bình gồm có: Lữ đoàn

279 (Phường Nam Sơn, Thị xã Tam Điệp); Lữ đoàn 241 (Quỳnh Lưu, Nho Quan); Trung đoàn 202 (Phú Lộc, Nho Quan); Kho J 102 (Thạch Bình, Nho Quan); Sư đoàn 350 (Bích Đào, thành phố Ninh Bình);Viện Quân y 5 (Phúc Thành, TP Ninh Bình); Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Ninh Bình (Kim Đông, Kim Sơn)

Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, do có vị trí chiến lược quan trọng

về quân sự nên Ninh Bình luôn là một địa bàn chiến trường nóng bỏng, đồng thời vừa là hậu phương trực tiếp, gián tiếp của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và giải phóng đất nước Với lòng yêu nước nồng nàn nhân dân Ninh Bình trong suốt chiều dài lịch sử đã luôn kiên cường, bất khất chống kẻ thù xâm lược và mọi bạo ngược cường quyền, góp phần xứng đáng vào những chiến công lừng lẫy của dân tộc trong mọi thời kỳ lịch sử

Trang 16

1.1.3 Đặc điểm về văn hóa

Ninh Bình nằm ở vùng giao thoa giữa các khu vực: Tây Bắc, đồng bằng sông

Hồng và Bắc Trung Bộ Đặc điểm đó đã tạo ra một nền văn hóa Ninh Bình tương

đối năng động, mang đặc trưng khác biệt trên nền tảng văn minh châu thổ sông

Hồng Đây là vùng đất phù sa cổ ven chân núi có con người cư trú từ rất sớm Các

nhà khảo cổ học đã phát hiện trầm tích có xương răng đười ươi và các động vật trên

cạn ở núi Ba (Tam Điệp) thuộc sơ kỳ đồ đá cũ; động Người Xưa (Cúc Phương) và

một số hang động ở Tam Điệp, Nho Quan có di chỉ cư trú của con người thời văn

hoá Hoà Bình Sau thời kỳ văn hoá Hoà Bình, vùng đồng bằng ven biển Ninh Bình

là nơi định cư của con người thời đại đồ đá mới Việt Nam Di chỉ Đồng Vườn (Yên

Mô) đã được định niên đại muộn hơn di chỉ Gò Trũng Cư dân cổ di chỉ Đồng Vườn

đã phát triển lên cư dân cổ di chỉ Mán Bạc (Yên Thành, Yên Mô) ở giai đoạn văn

hoá đồ đồng từ cuối Phùng Nguyên đến đầu Đồng Đậu

Thế kỷ XVI - XVII, đạo Thiên Chúa được truyền vào Ninh Bình, dần dần hình

thành trung tâm Thiên Chúa Giáo Phát Diệm, nay là giáo phận Phát Diệm đặt

tại Kim Sơn với 60% tổng số giáo dân toàn tỉnh Bên cạnh văn hoá của cư dân Việt

cổ, Ninh Bình còn có "văn hoá mới" của cư dân ven biển Dấu ấn về biển tiến còn in

đậm trên đất Ninh Bình Những địa danh cửa biển như: Phúc Thành, Đại An, Con

Mèo Yên Mô, cửa Càn, cửa biển Thần Phù cùng với các con đê lịch sử như đê Hồng

Đức, đê Hồng Lĩnh, đê Đường Quan, đê Hồng Ân, đê Hoành Trực, đê Văn Hải, đê

Bình Minh I, đê Bình Minh II Cho đến nay vùng đất Ninh Bình vẫn tiến ra biển

mỗi năm gần 100 m Ninh Bình là một tỉnh mở rộng không gian văn hoá Việt xuống

biển Đông, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hoá từ Bắc vào Nam, từ biển

vào Kinh tế biển đóng vai trò quan trọng nổi bật như nghề đánh bắt cá biển, nuôi

tôm sú, tôm rảo, nuôi cua Nếp sống của cư dân lấn biển mang tính chất động

trong vùng văn hoá môi trường đất mở

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nhân dân Ninh Bình đã đoàn kết, thương yêu

đùm bọc lẫn nhau cùng chống thiên tai, địch họa để duy trì, nâng cao và bảo vệ

cuộc sống, bảo vệ mảnh đất yêu thương của mình Nhân dân Ninh Bình đời này nối

Trang 17

tiếp đời kia hun đúc nên những phẩm chất, tính cách tốt đẹp, trở thành truyền thống cho ngàn đời con cháu noi theo Lao động sáng tạo là truyền thống nổi bật của nhân dân Ninh Bình với đức tính cần cù sáng tạo, thông minh, bền bỉ, dũng cảm đã lấn biển, quai đê mở mang bờ cõi, tạo nên nhiều diện tích canh tác mới, xây dựng những công trình kiến trúc nổi tiếng như đền Đinh - Lê, nhà thờ đá Phát Diệm… Ninh Bình là vùng đất địa linh, nhân kiệt, có nền văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú Hoàng đế Đại Cồ Việt - Đinh Tiên Hoàng, Lê Hoàn với các danh tướng Đinh Điền, Nguyễn Bặc, thái hậu Dương Vân Nga, quốc sư Nguyễn Minh Không, danh nhân văn hóa Trương Hán Siêu, tiến sĩ Ninh Tốn, bảng nhãn Vũ Duy Thanh, nhà văn hóa Vũ Phạm Khải, nhà chiến lược, nhà ngoại giao Phạm Thận Duật, các nhà hoạt động cách mạng tiền bối: Lương Văn Thang, Lương Văn Tụy, Tạ Uyên và các khoa bảng, văn hóa, khoa học đương đại… đã được sinh ra và lớn lên tại đây

Hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa ở Ninh Bình gắn liền với tín ngưỡng của vùng đất sinh Vua, sinh Thánh, sinh Thần thông qua các đền thờ Vua (đặc biệt là các Vua Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Trần Thái Tông, Quang Trung và Triệu Quang Phục với số lượng vài chục đền thờ mỗi vị); thờ Thánh (Nguyễn Minh Không và các tổ nghề); thờ Thần (phổ biến là các vị thần Thiên Tôn, thần Cao Sơn

và thần Quý Minh trong không gian văn hóa Hoa Lư tứ trấn) Ninh Bình là vùng đất phong phú các lễ hội văn hóa đặc sắc như Lễ hội cố đô Hoa Lư, lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội đền Nguyễn Công Trứ, lễ hội đền Thái Vi Các lễ hội khác: lễ hội Yên

Cư, hội thôn Tập Minh, lễ hội động Hoa Lư, đền Thánh Nguyễn, đền Dâu, hội vật Yên Vệ, lễ hội đền Trần Ninh Bình các công trình kiến trúc văn hóa như đền Vua Đinh Tiên Hoàng, đền vua Lê Đại Hành, nhà thờ Phát Diệm, chùa Bái Đính, đền Thánh Nguyễn, làng chèo Phúc Trì, Nam Dân, Thượng Kiệm, những trung tâm hát chầu văn, xẩm, ca trù ở đền Dâu, phủ Đồi Ninh Bình là đất tổ của nghệ thuật hát Chèo, là quê hương các làn điệu hát xẩm, ca trù và của nhiều làng nghề truyền thống như nghề điêu khắc đá Ninh Vân - Hệ Dưỡng, Xuân Vũ, nghề mộc Phúc Lộc, nghề thêu ren Văn Lâm, nghề chiếu cói ở Kim Sơn

Trang 18

1.2 Nhân vật lịch sử và truyền thuyết dân gian

1.2.1 Nhân vật lịch sử của Ninh Bình

Vùng đất Ninh Bình là kinh đô của Việt Nam thế kỷ X, mảnh đất gắn với sự nghiệp của 6 vị vua thuộc ba triều đại Đinh - Lê – Lý với các dấu ấn lịch sử: Thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội Do ở vào vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam, vùng đất này đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch

sử oai hùng của dân tộc mà dấu tích lịch sử còn để lại trong các đình, chùa, đền, miếu, từng ngọn núi, con sông Đây còn là vùng đất chiến lược để bảo vệ Thăng Long của triều đại Tây Sơn, là căn cứ để nhà Trần 2 lần chiến thắng giặc Nguyên - Mông, đất dựng nghiệp của nhà Hậu Trần

Chính tại mảnh đất này, từ một chú bé chăn trâu cắt cỏ, Đinh Bộ Lĩnh đã trở thành người có công lao to lớn đối với dân tộc và được coi là người mở nển chính thống Là con thứ sử Hoan Châu, lại có chí lớn, ngay từ nhỏ Đinh Bộ Lĩnh đã được

lũ trẻ tôn lên làm trưởng Chúng thường khoanh tay làm kiệu và lấy hoa làm cờ, đi hai bên Bộ Lĩnh để rước như nghi vệ Thiên Tử Nhân dân địa phương còn lưu truyền Bộ Lĩnh đã:

Đặt ra có ngũ có dinh

Có quân túc vệ, có thành tứ vi Trên thì bảo diện uy nghi Bên ngoài lại sẵn đan trì nghi môn

Các cụ già ở trong thôn thấy thế bảo nhau: thằng bé này khí độ khác thường, tất có thể cứu đời yên dân, lũ ta nếu không theo sớm, ngày khác tất hối là sẽ muộn, rồi cho con em đi theo học rất đông

Sau khi Ngô Quyền mất (944), các sứ quân lần lượt nổi lên, chiếm giữ các nơi,

sử gọi là loạn mười hai sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh hàng ngày đi chăn trâu đã cùng các bạn tập trận cờ lau, lấy động Hoa Lư làm căn cứ ban đầu của mình

Với tài năng của mình, Đinh Bộ Lĩnh đã thu phục được lòng dân khắp nơi trong thiên hạ.Theo những truyền thuyết sưu tầm được thì hào kiệt bốn phương kéo

về một lòng theo Bộ Lĩnh ngày càng đông Chẳng hạn ( lấy theo địa danh cũ), ba

Trang 19

anh em họ Nguyễn ở Thạch Khê, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương Nguyễn Phấn, Nguyến Quý, Nguyễn Trọng; ở Thanh Hóa có bốn đại tộc Lê, Trịnh, nguyễn, Đào,

ở Bắc Ninh có bốn anh em Lý Đài, Lý Trâu, Lý Quốc, Mộ Nương,…

Những năm tháng đấu tranh chống lại loạn thần là những năm tháng có thể nói là hào hùng, oanh liệt vào bậc nhất trong lịch sử Việt Nam Nhưng đó cũng là quãng thời gian vất vả gian nan, thăng trầm, đầy hi sinh và mất mát của dân tộc Con đường đến với chiến th ắng của dân tộc ta là con đường nhuộm đỏ máu của biết bao nhiêu tướng lĩnh và người dân lúc bấy giờ Để có được những trận thắng oanh liệt ở từng miền đất khác nhau, để cho bọn giặc phải kinh hồn bạt vía, Bộ Lĩnh có lúc phải mang cả mạng sống của chính đứa con trai của mình ra uy hiếp giặc, các tướng lĩnh cùng mọi người đã phải chịu đựng bao hiểm nguy, gian khổ Con đường đấu tranh lúc gập ngềnh, lúc bằng phẳng, quân ta phải từ yếu mới đến mạnh, nghĩa quân có lúc thủ lúc công…nhưng có một điều không bao giờ thay đổi đó là tinh thần bền gan chiến đấu, đến chết không hàng Thắng lợi của Đinh Bộ Lĩnh là thắng lợi của xu hướng tất yếu thống nhất quốc gia, của tinh thần dân tộc và ý chí độc lập mạnh mẽ của nhân dân

Thông qua việc lên ngôi hoàng đế, đặt tên nước riêng, niên hiệu riêng, Đinh

Bộ Lĩnh đã khẳng định tinh thần tự chủ, giành độc lập hoàn toàn của dân tộc ta Như chúng ta đã biết, từ khi Hai Bà Trưng khôi phục nền độc lập và chủ quyền dân tộc là cả một quá trình vươn lên tự khẳng định mình của dân tộc ta Hai Bà Trưng, Ngô Quyền tuy đã xưng vương, cha con họ Khúc và Dương Đình Nghệ chỉ xưng là

“ Tiết độ sứ”, trước đó Lý Bí đã xưng Đế đặt tên nước riêng là Vạn Xuân, sau đó là

Mai Thúc Loan cũng xưng Đế nhưng chính quyền độc lập về quy mô và lực lượng còn nhỏ Đến Bộ Lĩnh, chính quyền đã khá mạnh, ông xưng Đế để sánh với hoàng

đế Phương Bắc, đặt tên nước là Đại Cồ Việt sánh với Đại Tống, đặt niên hiệu riêng

là Thái Bình sánh với niên hiệu Khai Bảo của nhà Tống Về thực chất nhà Tống đã phải coi Đại Cồ Việt là nhà nước độc lập

Đinh Bộ Lĩnh đã tự khẳng định mình ngang với bất cứ một vị hoàng đế nào của Thiên Triều Từ Đinh Bộ Lĩnh về sau, nhà Lê, Lý, Trần – Lê , Nguyễn không có

Trang 20

trường hợp nào trở lại xưng vương hay tiết độ sứ, mà như một dòng chính thống đều xưng Đế, đặt tên nước riêng, niên hiệu riêng mà các triều đại phong kiến phương Bắc, Tống, Minh, Nguyên, Thanh về phương diện ngoại giao cũng như thực tế đã thực sự công nhận điều đó Vì thế các nhà nho xưa đã coi Đinh Bộ Lĩnh

là người mở ra nền chính thống cho chế độ phong kiến trung ương tập quyền ở Việt Nam Câu đối ở đền vua Đinh còn ghi rõ:

“Anh hùng vĩ kiệt, trác quán hồ Ngô, Trưng, Triệu, Thục dĩ tiền, Đại Việt sơn

Lư đã là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước Chính dựa trên cơ sở kinh đô Hoa Lư mà khi rời đô ra Thăng Long, nhà Lý đã xây dựng kinh đô mới theo hình mẫu của kinh đô Hoa Lư

Trong số những danh nhân Gia Viễn – Ninh Bình, Đức Định Quốc Công Nguyễn Bặc có một vai trò lịch sử đặc biệt Ông là Thủy Tổ của dòng họ Nguyễn Việt Nam Thuở thiếu thời, ông chăn trâu tập trận cờ lau, kết nghĩa đào viên với Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Điền, cùng lớn lên bên dòng sông Hoàng Long yên ả Tương truyền ông rất giỏi võ và có sức khỏe phi thường Tính tình ông thẳng thắn, bộc trực

và nghĩa hiệp, luôn luôn bênh vực kẻ yếu Vào thế kỷ thứ X, đất nước rơi vào tình trạng cát cứ của 12 sứ quân Lúc này, ông đã 30 tuổi, cùng Đinh Bộ Lĩnh đem binh lực về Hoa Lư, cố thủ vững chắc và liên tiếp tấn công các sứ quân khác để gây thanh thế Ông với Đinh Bộ Lĩnh không khác gì Quan Vân Trường với Lưu Bị Khi

Trang 21

xông pha trận mạc ông đều đi đầu để ngăn ch ặn mọi nguy hiểm có thể xảy ra cho Đinh Bộ Lĩnh Có lần Đinh Bộ Lĩnh bị sa vào hiểm địa lại bị trúng tên ngã ngựa, ông một mình một gươm, cõng bạn trên lưng, leo lên núi đá dựng đứng để thoát vòng vây Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế, ông được phong tước Định Quốc Công, xếp hàng đầu các công thần Khi Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị sát hại, ông cùng đình thần tìm bắt Đỗ Thích đem giết rồi cùng Đinh Điền và Lê Hoàn tôn

Vệ Vương Đinh Toàn lên ngôi Ông và Đinh Điền làm phụ chính đại thần, Lê Hoàn làm nhiếp Chính Đức Thủy Tổ Nguyễn Bặc là một vị đại công thần suốt đời hy sinh cho người bạn kết nghĩa là Đinh Tiên Hoàng, khí tiết hiên ngang, sẵn sàng lấy cái chết để bảo vệ nhà Đinh Hơn một ngàn năm trôi qua, gốc đại cổ thụ họ Nguyễn

từ cái nôi Đại Hữu, Gia Miêu đâm chồi xanh tươi lan khắp mọi miền, con cháu ông lập nên hàng trăm chi phái hậu duệ, từ Bắc chí Nam, mười thế kỷ ấy đã xuất hiện nhiều danh nhân lịch sử Nguyễn Quốc, Nguyễn Nộn, Nguyễn Đức Trung, Nguyễn Văn Lang, Nguyễn Hoằng Dụ, Nguyễn Cam, các chúa Nguyễn, các vua triều Nguyễn hoặc các nhà thơ: Nguyễn Thuyên, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương Ông xứng đáng là niềm vinh dự và tự hào của quê hương Gia Viễn, Ninh Bình

Khó có thể lột tả hết được những vẻ đẹp thiên nhiên và văn hóa của vùng quê gia Viễn Ninh Bình Mảnh đất ken đầy danh thắng và những di tích lịch sử gắn bó với những danh nhân xuất chúng Một vùng quê tiêu biểu trên đất cố đô địa linh – nhân kiệt của dân tộc Việt Nam

1.2.2 Khái ni ệm truyền thuyết

Trong các loại hình tự sự của văn học dân gian thì truyền thuyết là thể loại gây nhiều tranh cãi nhất Nhìn chung các nhà nghiên cứu văn học dân gian đều thống nhất cho rằng có thể loại truyền thuyết dân gian nhưng có một số cách gọi và quan điểm không đồng nhất Truyền thuyết dân gian vốn là một thuật ngữ khoa học dịch

từ tiếng Đức: volksagenkunde Volk có nghĩa là dân gian, sagen có nghĩa là truyền thuyết, kulk có nghĩa là khoa học Ở Việt Nam, Đào Duy Anh là người đầu tiên sử dụng tên gọi truyền thuyết trên tạp chí Tri tân, số 30 tháng 1 năm 1942 Các tác giả

Trang 22

nhóm Lê Qúy Đôn, khi định nghĩa thể loại truyền thuyết đã viết như sau: “Truyền thuyết là tất cả những chuyện lưu hành trong dân gian có thật xảy ra hay không thì không có gì đảm bảo Như vậy có những truyền thuyết lịch sử mà cũng có cả những truyền thuyết khác, hoặc dính dáng về một đặc điểm (Chuyện nàng Tô Thị, Chuyện Núi Vọng phu, v.v ), hoặc kể lại gốc tích một sự vật gì (Chuyện Trầu Cau, ), hoặc giải thích những phong tục tập quán, hoặc nói về tích các nghề nghiệp, và tất cả những chuyện kì lạ khác”[17, tr.60] Nguyễn Đổng Chi lại cho rằng: “Xét về đề tài truyền thuyết, có thể phỏng đoán rằng, truyền thuyết đã xuất hiện sau thần thoại Truyền thuyết là những truyện lịch sử, và truyện lịch sử chỉ có thể có khi con người

đã có ý thức về lịch sử của mình” [6, tr.81]

Hiện nay, quan niệm về thể loại truyền thuyết có hai cách hiểu rộng hẹp khác nhau Theo cách hiểu rộng thì truyền thuyết là những truyện có dính líu đến lịch sử

mà lại có sự kỳ diệu – là lịch sử hoang đường hoặc truyện tưởng tượng, ít nhiều có

gắn với lịch sử Quan điểm của GS Đặng Văn Lung trong cuốn: “Lịch sử và văn học dân gian” hầu như xếp những truyện về thần có liên quan đến đời sống con

người đều là truyền thuyết Vì thế mà ông cho truyền thuyết có nhiều thể loại: truyền thuyết lịch sử (Truyện Nam Man, Truyện An Dương Vương, Truyện Trưng Trắc và Thi Sách…); truyền thuyết địa danh; truyền thuyết về vật tổ ( Truyện Chim

- Rồng, Truyện Điếu Điểu ); truyền thuyết về vật thiêng (Thần Đồng Cổ, Thuyền Đồng, Đá Thần, Truyện Mộc Đa, Trâu thần, Ngựa thần); truyền thuyết về Shaman ( phương thuật, biến hình); truyền thuyết về phong tục, luật lệ, làm ăn; truyền thuyết

về nhận dạng ( giao ngón chân )

Theo cách hiểu hẹp hơn thì truyền thuyết là những truyện có liên quan đến lịch

sử nhưng có ảnh hưởng đến thế giới quan thầnt thoại “ra đời sau thần thoại và trực tiếp từ thần thoại” Quan điểm này cho các truyện như Chàng Lía, Quận

He, Cố Ghép là truyện cổ tích lịch sử Chính vì quan điểm này mà nhiều tác giả

đã xếp thần thoại, truyền thuyết vào chung một chương, không phân biệt đặc trưng thần thoại, truyền thuyết một cách rõ ràng Hoàng Tiến Tựu cho rằng:

"Hai loại truyện này có mối quan hệ tương đồng nhất định xét về nội dung

Trang 23

phản ánh cũng như phương tiện, phương thức, phương pháp và biện pháp nghệ thuật được dùng để phản ánh" [29, tr 56]

Như vậy, điều phân vân về thể loại truyền thuyết của một số nhà nghiên cứu cũng có cơ sở Nếu cứ cho những gì liên quan đến lịch sử đều là truyền thuyết thì

quả không ổn Cũng chính vì quan điểm này mà tác giả Vũ Biên trong cuốn "Truyền thuyết Hùng Vương - huyền thoại vùng đất tổ" đã cho truyện " Trầu cau", "Chử

Đồng Tử" là truyền thuyết Ngay cả tên cuốn sách cũng có sự nhập nhằng hai thể loại: thần thoại và truyền thuyết Nếu cho đề tài phản ánh là thể loại thì ca dao lịch

sử, vè lịch sử cũng có thể gọi là truyền thuyết bằng văn vần Ngay cả truyện " Trạng Quỳnh" có liên quan đến chúa Trịnh và thời kỳ lịch sử nhà Lê cũng có thể gọi là truyền thuyết Truyền thuyết phản ánh lịch sử theo phong cách của riêng nó, khác với các thể loại khác cũng phản ánh lịch sử Tuy nhiên cũng có một số truyện

mà danh giới thể loại không rõ ràng, nó có sự nguyên hợp giữa hai thể loại thần thoại - truyền thuyết, truyền thuyết - cổ tích Phân biệt rạch ròi những truyện như vậy vào một thể loại cụ thể là không thấy được đặc trưng nguyên hợp của sáng tác dân gian Mặc dù vậy, về đại thể ranh giới giữa ba thể loại: thần thoại, truyền thuyết

và cổ tích là khá rõ ràng Mặc dù không định nghĩa truyền thuyết nhưng nhận xét của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng trong một bài viết về các vua Hùng là khá bao

quát và đầy đủ về đặc trưng nghệ thuật của thể loại này: “Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lý tưởng hóa, gởi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên tác phẩm văn hóa mà đời đời con cháu ưu thích” (Báo Nhân dân ngày 29/4/1969)

Như vậy, những vấn đề của lịch sử dân tộc và giai cấp là đối tượng và cảm hứng sáng tạo của truyền thuyết Những sự kiện lịch sử rộng lớn, trọng đại, có liên quan đến làng, nước, có tính chất khái quát một thời đại hoặc những biến động lớn, sâu sắc trong lịch sử dân tộc chính là những vấn đề mà truyền thuyết quan tâm Tuy nhiên, sự phản ánh lịch sử ở mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử khác nhay sẽ có những đặc trưng khác nhau Lịch sử ấy có thể chỉ dựa vào một chút cốt lõi hiện

Trang 24

thực, còn phần lớn là hư cấu hoặc ngược lại, có thể phần lớn những yếu tố của cốt truyện là lịch sử đích thực và phần hư cấu chỉ tham gia chút ít với ý nghĩa làm nổi bật hơn hiện thực mà thôi

Tóm lại, truyền thuyết là truyện kể về những nhân vật và sự kiện hư cấu hay xác thực, có liên quan, ảnh hưởng tới lịch sử trọng đại của dân tộc hay giai cấp, qua

đó nhân dân thể hiện ý thức và thái độ đối với nhân vật và sự kiện lịch sử

1.2.3 Từ nhân vật lịch sử đến nhân vật truyền thuyết dân gian

Cốt lõi của truyền thuyết là lịch sử Đối tượng phản ánh nổi bật của truyền thuyết cũng là lịch sử Song truyền thuyết không phải là lịch sử Có thể nói, tất cả những sự kiện trọng đại của dân tộc hoặc của nhân dân đều có mặt trong truyền thuyết, những vấn đề sinh hoạt đời thường, sinh hoạt gia đình… không phải là đối tượng của thể loại này

Nhưng sự phản ánh lịch sử của truyền thuyết không phải là sao chép mà là lựa chọn và tái tạo Nhiều nhân vật truyền thuyết là sản phẩm của những hư cấu, chỉ có

“cốt lõi là sự thật lịch sử”, nhưng chính cái lõi sự thật ấy vô cùng quan trọng đã tạo

thần thái, mang sức sống cho truyền thuyết Những hư cấu ấy chủ yếu với mục đích

là đề cao nhân vật bằng lòng yêu kính và ngưỡng mộ của nhân dân Tuy nhiên, truyện kể về nhân vật hay sự kiện lịch sử thì cũng khác với lịch sử Đặc biệt những nhân vật lịch sử khi vào truyện đã được hình tượng hóa để phản ánh lịch sử một cách nghệ thuật Trong sự phản ánh đó không phải bao giờ sự thật lịch sử cững được tôn trọng, cũng không nhất thiết phải quan tâm tới mọi chi tiết vốn có, mà chỉ chọn lựa và nhấn mạnh một số chi tiết có dụng ý, và quan tâm nhiều hơn đến những điều nên có theo mong ước của nhân dân

Những nhân vật và sự kiện lịch sử có thể có thật ngoài đời nhưng không phải bất cứ nhân vật và sự kiện nào cũng trở thành trung tâm của truyền thuyết Chẳng hạn như các cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc đều được đưa vào truyền thuyết nhưng cuộc nội chiến Nam – Bắc triều (Trịnh – Mạc) kéo dài nửa thế kỷ và cuộc chiến tranh Đàng Trong Đàng Ngoài (Trinh – Nguyễn) hầu như ít được truyền thuyết phản ánh Cũng như vậy, không phải nhân vật lịch sử nào có tên tuổi ngoài

Trang 25

đời cũng là nhân vật trung tâm của truyền thuyết Trong sự phản ánh của mình, truyền thuyết thường chú ý hơn nhiều đến nhân vật có xuất thân nông dân hoặc là gần gũi với nhân dân Như vậy cùng với ý thức đề cao lịch sử vẻ vang của dân tộc, tác giả dân gian còn có thức sâu sắc về việc đề cao vai trò của những người xuất thân bình dân Hơn nữa, truyền thuyết dân gian lại thường kể về người anh hùng trong mối quan hệ với dân, người dân vừa tham gia, vừa là chỗ dựa để nhân vật làm nên chiến thắng Sự nghiệp anh hùng không thể tách rời vai trò của tập thể nhân dân trong lịch sử Trần Hưng Đạo có thể chiến thắng quân Nguyên là nhờ người đan sọt làng Phù Ủng, bà lão hàng nước trên sông Bạch Đằng… Bộ Lĩnh dẹp loạn nhờ biết bao người giúp đỡ từ ngày xây dựng căn cứ và chuẩn bị lực lượng – những con người ấy đế từ mọi miền quê của đất nước, họ đi theo tiếng gọi của chính nghĩa và ước mong cuộc sống yên bình

Theo Nguyễn Bích Hà thì “Truyền thuyết là sự nhào nặn lịch sử bằng cách hình tượng hóa và kì ảo hóa các nhân vật theo quan niệm lịch sử của nhân dân Cảm quan lịch sử đã chi phối nghệ thuật xây dựng hình tượng truyền thuyết Họ dù

là có hư cấu hay đích thực thì cũng đề có tên tuổi, gốc gác… nói chung là có một lí lịch rõ ràng gắn với địa phương hay thời đại” [ 9, tr.72]

Đặc điểm chủ yếu mà truyền thuyết muốn phản ánh không phải là lịch sử như thế nào mà là lịch sử đã đem lại cái gì cho nhận thức và tình cảm của nhân dân Có thể nói, truyền thuyết dân gian sẽ mãi mãi như mạch nước ngầm chảy trong lòng dân gian và truyền mãi cho đến muôn đời sau

Sau khi Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân giành lại nền độc lập cho đất nước năm

938, nước ta hoàn toàn thoát khỏi ách nô lệ của kẻ thù phương Bắc, bắt tay xây dựng và phát triển nhà nước độc lập Tuy nhiên, quan niệm độc lập không có nghĩa chúng ta hoàn toàn sống trong hòa bình Dân ta vẫn phải liên tục đứng lên đấu tranh chống ngoại xâm Nhưng có một điều khác rất cơ bản với thời kỳ trước, ta không còn là nô lệ vùng lên mà là dân một nước tự do quyết tâm bảo vệ chủ quyền của nước mình

Nhân vật chính của truyền thuyết là các anh hùng hào kiệt, giữ yên đất nước

Trang 26

đầu thời độc lập: Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Dương Vân Nga….bằng sự

đề cao tài trí, sự khôn ngoan và bản lĩnh của thủ lĩnh, đề cao sự ủng hộ hết lòng của nhân dân, những truyền thuyết đã dựng lại một thờ kỳ lịch sử hết sức khó khăn của dân tộc, chống thù trong giặc ngoài, vừa khẳng định vai trò và ý thức lịch sử lớn lao của nhân dân bên cạnh thủ lĩnh Đinh Bộ Lĩnh là một chú bé mồ côi, cờ lau tập trận lúc nào cũng đứng đầu các bạn chơi, để lớn lên trở thành một thủ lĩnh quân sự tài danh, dẹp lọan 12 sứ quân, thống nhất đất nước, trở thành vị hoàng đế anh hùng Một truyền thuyết khác nổi bật đó là về Dương Vân Nga (vợ của vua Đinh Tiên Hoàng) Trong lịch sử, không ít lần phong kiến lên tiếng phê phán bà, bởi theo quan niệm Nho giáo và đạo đức phong kiến, bà không phải là một người vợ thủy chung, không phải là một người mẹ hết lòng vì con, không phải người con dâu hiếu thảo, dốc lòng vì cơ nghiệp nhà chồng Song hơn tất cả, Dương Vân Nga là một công dân suất sắc, biết đặt lợi ích quốc gia lên trên dòng họ, biết đặt giang sơn trên ngai vàng của con trai Trong lúc vận nước ngàn cân treo sợi tóc, bên ngoài quân Tống đang chuẩn bị xâm lược, trong nước các quan lục đục đòi cát cứ, chèo chống đất nước là ông vua 7 tuổi với bà mẹ 26 tuổi chưa biết gì về triều chính Dương Vân Nga đã trao long bào cho đạo tướng quân Lê Hoàn, cũng là giao trọng trach giữ yên đất nước cho một vị chỉ huy quân sự tài giỏi Nhờ thế bà đã tránh cho đất nước vừa có một nền độc lập non trẻ một cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, một cuộc Bắc thuộc lần thứ hai Bằng truyền thuyết, dân gian luôn kể lại, kể mãi về bà và chưa bao giờ bà thiếu chỗ đứng trong tình cảm của họ Qua truyền thuyết có thể thấy nhãn quan lịch sử vô cùng sáng suốt, minh bạch của nhân dân trong sự đánh giá, sàng lọc những hiện tượng phức tạp trong lịch sử

Hay hàng loạt các câu chuyện về anh hùng hào kiệt khắp nơi tụ về dưới sự lãnh đạo của Bộ Lĩnh, thể hiện sức mạnh của chính nghĩa đã thu phục lòng dân, sức mạnh của tinh thần đoàn kết sẽ giúp vượt qua tất cả

Như vậy, cùng với chính sử, truyền thuyết đã thực sự giữ vai trò tô điểm, đính chính, sàng lọc, bổ xung cho chính sử theo quan điểm, tình cảm và nguyện vọng của nhân dân

Trang 27

Qua việc khắc họa hình tượng nhân vật truyền thuyết, các tác giả dân gian đã thể hiện quan niệm nghệ thuật, phương pháp lựa chọn và xây dựng nhân vật, khuynh hướng phát triển của tư tưởng thẩm mỹ mang đậm tính nhân dân trong trường kỳ kịch sử dân tộc… Nghệ thuật xây dựng nhân vật như vậy đã khiến truyền thuyết có nhiều nét đặc sắc và hấp dẫn trong tương quan với các thể loại khác của văn học văn học dân gian

1.2.4 Tín ngưỡng về Đinh Tiên Hoàng tại cố đô Ninh Bình

Mỗi truyền thuyết đều có một hay một nhóm nhân vật trung tâm, đó là những nhân vật được truyền thuyết ca ngợi Họ sống không phải chỉ trong lòng ngưỡng mộ của nhân dân mà từ niềm tôn kính và ngưỡng mộ đó, họ đã trở thành những thần hoàng của làng hay thần thiêng của một vùng….Hàng năm để tưởng nhớ công ơn đồng thời nhắc nhở cháu con suy nghĩ và nối tiếp truyền thống, dân chúng nơi nơi

mở hội làng, hội nước

Nhân vật truyền thuyết đồng thời cũng là những nhân vật lịch sử nổi tiếng, vì vậy họ được thiêng hóa lập đền thờ cúng và được tổ chức lễ hội tưởng niệm Gắn với nghi lễ thờ cúng chính là một tín hiệu để nhận diện các nhân vật và tác phẩm truyền thuyết

Nhân dân Ninh Bình vẫn thường có câu:

Ai là con cháu Rồng Tiên Tháng Ba mở hội Trường Yên thì về

Câu ca dao lưu truyền trong dân gian càng cho chúng ta thấy sự thống nhất trong tâm thức của người dân đất Việt về dòng giống con Lạc cháu Hồng và công lao to lớn của Đinh Bộ Lĩnh trong việc thống nhất đất nước, xây nền móng cho quốc gia Đại Việt độc lập, tự chủ, hùng mạnh Ghi nhớ công lao của vua Đinh Tiên Hoàng, hàng năm, vào ngày mồng 10 - 3 âm lịch, nhân dân Trường Yên mở lễ hội long trọng thu hút khách muôn phương về đền vua Đinh và xã Trường Yên

Theo truyền thuyết, khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, nhân dân đã xây dựng hai ngôi đền thờ vua Đinh, vua Lê Trải bao cuộc binh đao, hai ngôi đền không còn nữa Năm 1600, lễ quận công Bùi Thời Trung đứng ra xây lại

Trang 28

hai ngôi đền như cũ Năm 1676, dân Trường Yên trùng tu lớn cả hai đền; đến năm Thành Thái thứ 10 (1898), cụ Dương Đức Vĩnh và nhân dân Trường Yên sửa đền vua Đinh, nâng cao đền bằng tảng đá có bồng và vẫn giữ được đến ngày nay

Đền vua Đinh được kiến trúc theo kiểu nội công ngoại quốc: ngoài cùng là Ngọ môn quan Đi theo đường chính đạo, qua hai cột đồng trụ là sân rồng; ở giữa sân có long sàng bằng đá Đây là một công trình nghệ thuật đặc sắc của thế kỷ XVII Hai bên long sàng có đôi nghê và đôi rồng chầu bằng đá xanh nguyên khối Trên mặt long sàng, con rồng được nghệ nhân tài hoa chạm trổ những đường nét tinh tế mềm mại, làm cho con rồng hết sức sống động, vừa tượng trưng cho uy quyền của nhà vua, vừa tượng trưng cho thần linh vũ trụ, ban phúc lành no ấm, mùa màng tốt tươi Quanh diềm long sàng, các chú cua,

cá, tôm bơi lội tung tăng thể hiện ý tưởng dân dã, phóng khoáng của nghệ sĩ dân gian

Đền vua Đinh có ba toà: Bái đường, Thiên hương, Chính cung Giữa bái đường là bức hoành phi với ba chữ lớn: “Chính thống thủy” (mở nền chính thống), hai bên có hai câu đối đề cao lòng tự hào tự tôn dân tộc:

Cồ Việt quốc đương Tống khai bảo Hoa Lư đô thị Hán Tràng An

(Dịch nghĩa: Nước Đại Cồ Việt sánh ngang niên hiệu Khai Bảo của nhà Tống/Kinh đô Hoa Lư như kinh đô Tràng An của nhà Hán)

Tòa Thiên hương thờ các vị công thần của nhà Đinh vẫn giữ được nhang

án đẹp mang nét chạm trổ của thế kỷ XVII

Chính cung thờ vua Đinh và các hoàng tử - bên trái vua là Đinh Liễn, bên phải là Đinh Hạng Lang và Đinh Toàn Hai bên bệ thờ vua có hai con rồng chầu bằng đá bán thân, nhưng nét đặc biệt là ở nơi thâm nghiêm này, nghệ nhân

đã tạc con rồng bên phải có cá chép đang bú; con rồng bên trái có cá trắm đang đớp con tôm, hết sức sinh động Hơi thở của cuộc sống đi vào chốn linh thiêng, hòa quyện với nhau, đã tạo nên tuyệt tác trong kiến trúc nghệ thuật của đền vua Đinh như cảnh các cô tiên đang cưỡi rồng, thắt lưng bay theo gió, một tay ôm

Trang 29

cổ rồng, tay kia đang như múa được chạm gỗ trên diềm bên trái cửa đền; hay cảnh người đàn ông khỏe mạnh đang săn thú trên bức cốn bên trái nghi môn nội

vô cùng sống động Nghệ nhân như thăng hoa khi kết hợp chạm nổi và chạm lộng, tạo nên đàn rồng bơi trong mây trên ván bưng chạy dài suốt xà lòng hậu cung đền Ngoài những tuyệt tác trên gỗ, chúng ta còn được chiêm ngưỡng nghệ thuật chạm khắc trên đá, thể hiện ở hình tứ linh, tứ quý, lưỡng long chầu nguyệt… trên các tảng đá cổ bồng ở cả ngưỡng cửa Đền vua Đinh là công trình nghệ thuật đặc sắc trong quần thể lịch sử - văn hóa của cố đô Hoa Lư với hàng nghìn cổ vật quý hiếm đang được bảo tồn, như gạch xây cung điện có khắc chữ Đại Việt quốc quân thành chuyên, cột kinh Phật khắc chữ Phạn, các bài bia ký…

Không những thế, khi về thăm đền vua Đinh và dự lễ hội Trường Yên, chúng

ta sẽ được đắm hồn vào không khí linh thiêng và đầy màu sắc huyền thoại

Mở đầu ngày hội, ông tiên chỉ thắp nén hương tưởng nhớ về Đinh, rồi tiến hành lễ rước nước từ bến sông Hoàng Long về bao lau tượng và tế ở đến vua Đinh Trong khi đó có con rồng lớn từ bờ sông bên kia “bơi” sang bên này tượng trưng cho rồng vàng chở Đinh Bộ Lĩnh qua sông Sau đó bảy làng : Yên Thượng, Yên Trung, Yên Hạ, Yên Thành, Yên Trạch, Chi Phong và Lạc Hối tế tiệc, tế nghi, tế cửu khúc Tế cửu khúc thực chất là chín khúc ca trù, ca ngợi nền thái bình, thịnh trị thời Đinh, ca ngợi vua Đinh xưng “đế” đặt tên nước

riêng là “Đại Cồ Việt”, đặt niên hiệu riêng là “Thái bình” đưa tầm vóc của đất

nước lên ngang tầm các đế ở phương Bắc để cho Lê – Lý – Trần – Lê về sau nối tiếp Đó là:

Nền sinh thánh như in bên triệu Tống Bên Thái Bình, bên Khai Bảo kỷ nguyên

Từ đây chính thống Nam thiên Nền triệu tự mấy ngàn năm linh tích

Trong ngày hội, còn có nhiều trò chơi và diễn xướng dân gian như: Cờ lau tập trận, kéo chữ thái bình, dẹp loạn mười hai sứ quân, thống nhất đất nước…

Trang 30

Đội quân cờ lau có khoảng 60 em học sinh, được chia làm hai toán, tượng trưng cho quân Thung Lau và quân Thung Lá, mặc quần đùi xanh có sọc đỏ, áo trắng cộc tay Cả hai toán các em đều giắt hai bông lau chéo nhau ở sau lưng tay cầm gậy Mỗi toán có một tướng Tướng cầm gươm, đội mũ quan võ bằng

lá mít hay lá dứa Một em bé khôi ngô, tuấn tú được chọn làm vua Đinh Vua Đinh mặc quần đùi đen có sọc đỏ, dội mũ bình thiên bẳng rơm, tay cầm bông lau, có tán vàng bằng lá chuối, tán tía bằng vải đỏ Đội quân cờ lau có trống cái, chiêng, thanh la Hai bên hát múa đối đáp thể hiện ý chí của Đinh Bộ Lĩnh

và ba quân tập trận cờ lau để làm rạng rỡ “con Lạc, cháu Hồng”

Trần ai ai biết ai đâu Hoa Lư có đám trẻ trâu anh hùng

Cờ lau tập trận vẫy vùng Làm cho mầm Lạc, chồi Hồng vẻ vang

cờ Dẫn đầu đội quân là anh tổng cờ Theo nhịp trống giục ba tiếng một:

“Tùng, tùng, tùng” của ông “chỉ trống”, đội quân kéo chữ chạy răm rắp từ trái sang phải Hàng thứ nhất kéo chữ “Thái”, hàng thứ hai kéo chữ “Bình” Đầu tiên hàng thứ nhất chạy nét ngang của chữ “ Thái” sau đó vòng lên trước và kéo xuống thành nét “thanh” rồi lại vòng lên phía tay trái và kéo xuống thành nét

“mác”, cuối cùng chạy vòng lên phía tay phải và kéo xuống tạo thành nét

“chấm” Thế là thành chữ “Thái” Em đi đầu tiên lại là em đi cuối cùng và

ngược lại, em đi cuối cùng lại đứng đầu tiên

Trong khi hàng một kéo chữ “Thái” thì hàng thứ hai kéo chữ “Bình” cũng theo nguyên tắc chạy từ trái qua phải Đầu tiên các em chạy thành nét “ngang” trên của chữ “Bình” Sau đó vòng lên trên và kéo xuống tạo thành nét “ngang”

Trang 31

dưới rồi lại chạy lên trên và kéo xuống tạo thành nét “sổ”, cuối cùng chạy vòng lên và kéo xuống tạo thành nét “phẩy” bên phải, lại chạy ngược lên và kéo xuống tạo thành nét “phẩy” bên trái Theo nhịp trống cả đội ngồi xuống, hạ cờ làm nổi rõ hai chữ “Thái Bình” trước sự khâm phục của mọi người Trong khi

có tiếng hát của các em vang lên:

Thái Bình đã kéo xong hai chữ Chúc toàn dân hai chữ bình an Hội Trường Yên các các hồi ban Mừng già trẻ Trường An hội lạc

[32, tr 113]

Có những năm còn diễn tích: Dẹp loạn mười hai sứ quân ở đồng hang Trâu ầm vang cả núi rừng

Ở phủ vật , nơi thờ “ ông tuyển quân”, tổ chức thi vật để tưởng nhớ vua Đinh

“kén quân bộ” Ở sông Hang Luồn tổ chức thi bơi chải để tưởng nhớ vua Đinh “kén quân thủy” Cuộc thi có năm thuyền của năm thôn : Yên Thượng, Yên Trung, Yên

Hạ, Yên Thành, Yên Trạch, mỗi thuyền có 8 tay chèo và một tay lái Thuyền nào về

đích trước sẽ giành cờ “thái bình” tung bay trên sông nước

Có năm hội Trường Yên còn tổ chức thổi cơm thi Người thi là những cô gái làng, được phát gạo, nồi, nước, và cây lau tươi làm củi Các cô gái làng được dịp trổ tài khéo léo của mình Các cô tiện lau ra ăn như là ăn mía, rồi lấy bã đó dùng làm củi nấu cơm Cô nào thổi cơm nhanh chín, thơm ngon thì được giải Ngoài ra còn rất nhiều trò chơi lý thú như: cờ người, bịt mắt bắt dê, múa khiên, múa võ, múa quyền…Suốt mấy ngày, ban đêm ở đền vua Đinh thì ca cửu khúc để ca ngợi nền thái bình thời Đinh, cầu mong sức khỏe, mùa màng tốt tươi

Nhân dân Trường Yên giải thích rằng ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch là ngày vua Đinh lên ngôi hoàng đế và ngày 15 tháng 8 âm lịch là ngày giỗ vua Đinh, nhưng không đúng với lịch sử Sử cũ cho biết vua Đinh mất vào mùa Đông tháng

10 âm lịch [6, tr 64] Tục lệ của người Việt cổ là kỷ niệm ngày mất ít khi kỷ niệm ngày sinh hoặc ngày lên chức, lên ngôi Nhân dân làng Đại Hữu, quê hương của vua

Trang 32

Đinh lại cho rằng ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch là ngày sinh của vua Đinh Tục kiêng lòng lợn và tiết canh là một tục lệ cổ, tục kiêng máu

Lễ hội tháng 3 và tháng 8 ở đền vua Đinh phải chăng là một biểu hiện của triết

lý âm dương, tháng 3 là số lẻ mang tính dương mạnh Đây là thời kỳ khô hanh, cây cối đang chờ mưa, cần mưa để đâm chồi nảy lộc Tháng 8 là tháng chẵn mang tính

âm mạnh Đây là thời kỳ mưa nhiều, cây cối bị úng lụt, do đó cần nắng, nước rút cho cây cối sống được Có lẽ lễ hội tháng 3 và tháng 8 ở đền vua Đinh cũng là nghi

lễ cầu mưa và nghi lễ cầu tạnh của cư dân nông nghiệp

Rõ ràng lễ hội mùa xuân và mùa thu ở Trường Yên đã được lịch sử hóa, đống hóa với lễ hội tưởng niệm vua Đinh Cũng vì thế một số trò chơi và diễn xướng dân

gian như: cờ lau tập trận, kéo chữ “Thái Bình”, dẹp loạn mười hai sứ quân…làm

cho lễ hội mùa xuân ở Trường Yên mang thêm ý nghĩa lễ hội lịch sử

Trang 33

CHƯƠNG II CHÂN DUNG ĐINH TIÊN HOÀNG QUA TRUYỀN THUYẾT

DÂN GIAN

2.1 Xuất thân và thuở hàn vi

2.1.1 Sự xuất hiện kỳ lạ

Tài liệu về nhân vật Đinh Tiên Hoàng hiện nay cũng còn khá nhiều, những tài

liệu như “đại việt sử kí toàn thư”, “đại việt sử kí tiền biên”, lịch triều hiến chương loại chí”, “Việt Nam văn minh sử cương”…là những tài liệu vô cùng quý giá giúp

chúng ta có thể hiểu thêm về đời tư, sự nghiệp, một số sai lầm cũng như cái chết đầy uẩn khúc về nhân vật Tuy vậy để có được bức chân dung trọn vẹn về con người và lí tưởng của người anh hùng này có lẽ chúng ta nên tìm hiểu qua ánh khúc

xạ của những truyền thuyết dân gian Đành rằng đó có thể không phải là sự thực nhưng có thể là vang bóng xa xôi gần với hiện thực

Theo truyền thuyết, vua Đinh có một xuất thân vô cùng kì lạ Truyền thuyết kể lại rằng, ông Đinh Công Trứ quê ở động Hoa Lư ( nay thuộc Gia Phương – Gia Viễn – Ninh Bình), giữ chức Thứ sử Hoan Châu ( Nghệ An) về thời Dương Đình Nghệ ( 931 – 937) Một hôm, quân phản loạn nổi lên cướp phá doanh thự, kho tàng, khí giới bị đốt cháy trụi Ông cùng vợ là bà Đàm Thị khăn gói lánh về quê quán Trên đường về, hai vợ chồng ông rất mệt mỏi buồn phiền Nhưng điều phiền não hơn cả là hai ông bà lấy nhau đã lâu mà vẫn chưa có mụn con cho vui cửa vui nhà Bây giờ ông bà đã luống tuổi còn mong chi đường con cái Họ than thân, trách phận, trách ông trời ăn ở không công bằng, cả đời ông bà ăn ở hiền lành, làm điều phúc đức mà không có con nối dõi tông đường

Ông bà đi ròng rã hai tháng trời nên rất mệt mỏi, về đến núi Bái Lĩnh ( nay thuộc Gia Sinh – Gia Viễn – Ninh Bình) vợ chồng ông ngồi nghỉ dưới bóng cây cổ thụ Thấy dưới ruộng thỉnh thoảng có tiếng cá quẫy, bà Đàm Thị bảo chồng ngồi ngả lưng vào dưới gốc cây cho đỡ mệt còn mình xuống mò lấy ít cua về nấu bát dấm ăn cho đỡ xót ruột

Trang 34

Bà càng bắt càng thấy lắm cua, cá nên mải mệt quá chả mấy chốc đã cách xa chỗ ông ngủ mà vào tới chân núi cuối đồng Trời đang nắng to bỗng đổ xuống một trận mưa rào bà bèn chạy vào một hang nước trước mặt tránh mưa Khát nước bà đưa tay ra hứng những giọt nước long lanh ngũ sắc từ một nhũ đá rỏ xuống Uống xong, kỳ lạ thay bà buồn ngủ nhíu mắt lại Thấy giữa hang có một tảng đá to, nhẵn nhịu bà ngả lưng xuống đó và ngủ thiếp đi lúc nào không hay Khi cơn mưa tạnh bà cũng giật mình tỉnh giấc Bà giật mình thấy có một con rái cá hình nhân to lớn như một người đàn ông nằm bên cạnh, một chân vắt qua bụng bà Hoảng sợ quá bà kêu

la ầm ĩ, vùng ra khỏi con rái cá và chạy một mạch về phía chồng kêu cứu Chồng bà

và những người làm đồng nghe thấy tiếng kêu thất thanh chạy đổ xô về phía hang núi Thế nhưng con rái cá ấy vẫn trơ trơ như pho tượng trên phiến đá, không hề chạy trốn Đoàn người xông vào đánh, chém tới tấp con rái cá ấy Ông Đinh Công Trứ do đi đường xa dài ngày mỏi mệt nên khi chạy tới nơi thì mọi người đã đánh chết con rái cá đó và chia nhau mỗi người ít thịt còn ông chỉ xin bộ xương và tấm

da, gói lại cẩn thận đem về để trên gác bếp

Từ hôm ấy bà Đàm Thị trong lòng nôn nao, rạo rực Bà biết mình đã có mang nhưng không dám nói cho ai biết sự việc sảy ra trong cái hang ấy Chồng bà biết tin

bà có thai mừng lắm, ông nói “mai ngày sinh hạ, mình đặt tên con là Bộ Lĩnh để ghi nhớ chặng đường chạy bộ loạn lạc vất vả, gian nan, và buổi trưa nghỉ dưới chân núi Lĩnh Sơn nhé”

Vợ chồng ông Đinh Công Trứ về làng được hơn hai tháng thì ông mất đột ngột Mọi người xì xào bàn tán về cái thai trong bụng của bà do ông mất tròn một năm mà bà vẫn chưa sinh con trong khi lúc bà có mang bà lại không hề cho ai hay Em trai của chồng bà là Đinh Dự ở Sách Bông thấy vậy, cho là bà hoang thai nên đến chửi mắng, cướp hết đất đai rồi đuổi đi Bụng mang dạ chửa bà đành phải vào ở trong động núi Kỳ Lân, động có đền thờ Sơn Thần cách làng không xa Hôm ấy trời đang nắng bỗng sấm chớp nổi lên ầm ầm Bà trở dạ rồi sinh ra một cậu bé khôi ngô tuấn tú Nhớ lời chồng dặn bà đặt tên cho con là Bộ Lĩnh Thế là tính ra đúng mười bốn tháng mang thai bà mới sinh Bộ Lĩnh ngoan ngoãn, không hề quấy khóc nhưng rất hiếu động, chưa đầy cữ

Trang 35

mà đã ngồi nhổm được dậy, mắt sáng như sao, diện mạo phương phi khác thường Lên năm tuổi, Bộ Lĩnh đã phải đi mò cua, bắt ốc để lấy tiền t huố c t hang cho mẹ và nuôi thân Bộ Lĩnh rất có biệt tài về bơi lặn Dòng sông Đại H o àng chảy qua làng r ất lớn, sâu và chảy siết Chỉ có Bộ Lĩnh mới bơi được ra giữa

dòng, lặn xuống sâu Thấy vậy dân làng mới bảo nhau “đúng là dòng gi ống tinh ranh của con rái th ần! Ch ỉ có giống rái cá mới bơi lặn, mò h ụ p g i ỏ i n h ư

vậ y, ch ứ người trần, từ thượng cổ đến nay có ai tài bơi lặ n được như v ậy đâu”[26, tr.13] Thế là câu chuyện bà Đàm Thị bị con rái cá hiếp bà chẳng kể

với ai ngay cả với chồng mình mà mọi người cứ tọc mạch, soi mói, thêu dệt ly

kỳ cứ y như họ biết tường tận vậy

Cũng nói tới sự ra đời của Bộ Lĩnh, trong dân gian lại lưu truyền một câu

chuyện khác Trong “Sự tích thiên tinh giáng hạ, Loạn thế xuất anh hùng” kể

rằng, ở xứ Hoan Châu, có đôi vợ chồng vị quan thứ sử, tên húy là Đinh Công Trứ, vợ là Đàm Thị, quê ở làng Đại Hữu, thuộc Châu Đại Hoàng ( nay là xã Gia Phương – Gia Viễn – Ninh Bình) Đêm hôm ấy, vợ chồng quan thứ sử nhập

phòng ái ân và thầm cầu nguyện “lạy trời,lạy đất, lạy thần, lạy phật linh thiêng chứng giám thấu tình cho thân phận phu phụ quan liêm này, một đời tu nhân tích đức, ăn ở hiền lành, nay đã đứng tuổi mà vẫn muộn con, trời đất thương tình thì hãy ban cho con một thiên ân, sinh được nam tử để kế dõi giồng nòi nhà Đinh” Đúng thời khắc ân ái nồng say huyền diệu ấy, từ trên cao phóng

xuống một luồng hào quang sáng chói cùng với một thiên tinh giáng hạ Đêm

ấy, thời khắc ấy, bà Đàm Thị thụ thai Cùng lúc có luồng hào quang tỏa sáng

đó, kho lương thảo ở nơi ấy đã bị bốc cháy dữ dội Do bị cháy kho lương thực

mà sau đó vị quan thứ sử Đinh Công Trứ đã bị cách quan, phải trở về quê quán

Vợ chồng ông về quê Đại Hữu, châu Đại Hoàng, sau đó bà Đàm Thị sinh một

bé trai khôi ngô tuấn tú, đặt tên là Đinh Bộ Lĩnh

Như vậy cũng nói tới sự ra đời của Bộ Lĩnh mà trong dân gian cũng đã có những dị bản khác nhau Điểm chung của các câu chuyện là motip sự thụ thai

kì lạ sinh ra những bậc anh hùng mặc dù cách lí giải có khác nhau nhưng chính

Trang 36

điều đó cho ta thấy đời sống tinh thần phong phú của nhân dân xưa

2.1.2 Thuở cờ lau tập trận

Cha mất sớm, cậu bé Đinh Bộ Lĩnh đã phải đến ở nhờ người chú là Đinh Thúc

Dự tại sách Bông Chú giao cho đi chăn trâu, cắt cỏ, do đó mà chơi thân với lũ trẻ trong làng Cậu bé láu lỉnh thông minh đã bày ra nhiều trò chơi khá độc đáo Lúc bấy giờ bốn phương loạn lạc, các ông thổ hào ở các vùng đều mong mở mang cơ nghiệp, tranh bá đồ vương, nên chuyên dùng gươm giáo để đọ sức nhau, đem quân

đi gây chiến nơi này nơi khác Các cảnh tượng ấy đập vào mắt cậu bé, làm cho cậu nhiều lần ước mơ một cuộc tranh đua! Cậu tưởng tượng một ngày kia, mình cũng có thể uy nghi chiếm ngự thanh gươm, trổ tài với thiên hạ Chưa đến ngày đó, thì ngay bây giờ sao ta lại không thử diễn tập trong hoàn cảnh đồng cỏ mênh mông, núi rừng bát ngát này Nghĩ vậy nên cậu gọi tất cả bọn trẻ lại, bắt bọn chúng chéo tay làm kiệu cho cậu ngồi lên, rước đi quanh cánh đồng Đám rước rầm rộ như vậy, nhưng không có cờ quạt thì chưa uy nghi, cậu nghĩ ra sáng kiến, cho bọn trẻ bẻ những cây hoa lau, cầm cao lên, hộ tống xung quanh cái kiệu tay của mình Sau đám cờ lau, kiệu người ấy là hàng chục, hàng trăm những chiến binh tí hon, nối đuôi nhau, hò hét, hoan hô thật là náo nhiệt Và trong đám bạn đó, có Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ và Trịnh Tú, những người sau này cùng Đinh Bộ Lĩnh tạo nên sự nghiệp

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: “Vua mồ côi cha từ bé, mẹ họ Đàm đưa gia thuộc vào ở cạnh đền sơn thần trong động Vào tuổi nhi đồng, vua thường cùng bọn trẻ con chăn trâu ngoài đồng Bọn trẻ tự biết kiến thức không bằng vua, cùng nhau suy tôn làm trưởng Phàm khi chơi đùa, thường bắt bọn chúng chéo tay làm kiệu khiêng và cầm hoa lau đi hai bên để rước như nghi trượng thiên tử Ngày rỗi, thường kéo nhau đi đánh trẻ con thôn khác, đến đâu bọn trẻ đều sợ phục, hàng ngày rủ nhau đến phục dịch kiếm củi thổi cơm Bà mẹ thấy vậy mừng lắm, mổ lợn nhà cho chúng ăn Phụ lão các sách bảo nhau: "Đứa bé này khí lượng như thế ắt làm nên sự nghiệp, bọn ta nếu không theo về, ngày sau hối thì đã muộn" Bèn dẫn con em đến theo, rồi lập làm trưởng ở sách Đào Áo Người chú của vua giữ sách Bông chống đánh với vua Bấy giờ, vua còn ít tuổi, thế quân chưa mạnh, phải thua

Trang 37

chạy Khi qua cầu ở Đàm Gia Nương Loan, cầu gãy, vua rơi xuống bùn, người chú toan đâm, bỗng thấy hai con rồng vàng hộ vệ vua, nên sợ mà lui Vua thu nhặt quân còn sót, quay lại đánh, người chú phải hàng Từ đấy ai cũng sợ phục, phàm đi đánh đến đâu đều dễ như chẻ tre, gọi là Vạn Thắng Vương”

Có một giai thoại về Đinh Bộ Lĩnh thuở bé Truyện kể lại rằng: một hôm hai anh em Nguyễn Bặc và Nguyễn Bồ chăn trâu vào nơi rừng sâu rậm rạp, bỗng nhiên xuất hiện một con hổ xám chắn ngang lối đi Hổ đói mồi thấy anh em Bồ, Bặc liền nhảy tới, chực vồ cả hai để ăn thịt Hai anh em Bồ, Bặc cùng rút dao ra tự vệ, thế thủ đánh trả hổ dữ Người với hổ quần nhau ác liệt Đang lúc gay go quyết liệt thì

Bộ Lĩnh đi ngang qua, thấy tình thế vô cùng gay go, cấp bách, Bộ Lĩnh nhanh trí rút dao ra, sà vào bên đường đảo mắt nhìn quanh, lựa chặt một cây nứa già, vạc nhọn một đầu Cầm cây nứa trong tay, Bộ Lĩnh nép mình vào một tảng đá để thế thủ rồi hướng cây nứa về phía hổ, thình lình Bộ Lĩnh hét lên một tiếng vang dậy núi rừng khiến hổ giật mình quay lại Thấy Bộ Lĩnh hổ nhảy chồm lên, miệng há hốc, nhe nanh giữ tợn như muốn nuốt chửng miếng mồi Chớp đúng thời cơ, Bộ Lĩnh dùng

hết sức lao thẳng cây nứa trúng miệng hổ, thấu từ mồm đến đuôi hổ Hổ đói liền vật

ra, giãy giụa hồi lâu rồi tắt thở Anh em Bặc Bồ bàng hoàng trước sự bất ngờ, mưu trí với cách đánh lợi hại của bạn mình Bọn chăn trâu kéo đến vây quanh hổ xám, rồi loan tin về làng Mọi người ra xem thực hư thế nào Khi đến nơi tận mắt thấy xác hổ với cây nứa còn xuyên suốt từ mồm đến đuôi hổ ai nấy đều trầm trồ thán

phục Mọi người suy tôn Bộ Lĩnh là “vua mục đồng” tức là vua trẻ chăn trâu Được tôn làm “hoàng đế cờ lau”, Bộ Lĩnh liền giết bò của chú làm lễ “khao quân” Có

người báo tin cho Thúc Dự - chú của Bộ Lĩnh biết, hay tin Thúc Dự vội chạy ra xem thực hư ra sao Đến Thung Lau thấy cảnh gươm, giáo, cung, nỏ bằng gỗ nằm la liệt, trẻ trâu từng tốp vui cười hoa hỉ Bộ Lĩnh thoáng thấy bóng chú liền ra hiệu cho

lũ trẻ trâu tản ra để liệu bề ứng phó Thúc Dự gọi cháu đến hỏi “bò vàng của tao đâu?” Bộ Lĩnh sụt sịt khóc vội đáp “chú ơi bò vàng của nhà ta đã bị thần núi bắt lôi vào hang, cháu giữ lại không nổi, cửa hang khép lại rồi, chỉ còn thò mỗi cái đuôi bò thôi chú ạ” Thúc Dự nhìn theo tay Bộ Lĩnh chỉ bất giác kêu lên “ối giời ơi!

Ngày đăng: 10/05/2021, 23:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm