1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng của cán bộ ban tuyên huấn trung ương, đảng nhân dân cách mạng lào hiện nay

138 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng của cán bộ ban tuyên huấn trung ương, đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay
Tác giả Duangphet Mardsavong
Người hướng dẫn TS. Dương Thị Thu Hương
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Luận văn thạc sĩ xã hội học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cũng như nhu cầu mong muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác đào tạo bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho đội

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊQUỐC GIA

NHÂN DÂN CÁCH MẠNG LÀO HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Dương Thị Thu Hương

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

u v u t u

u v T s

N n y t n n m

CHỦ T CH HỘI ĐỒNG

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tô x n cam đoan đây l côn trìn n ên cứu của r ên tô Luận v n được o n t n dưới sự ướng dẫn của TS Dươn Thị T u ươn C c số liệu, bảng biểu, biểu đồ trong luận v n bảo đảm c ín x c trun t ực v dựa trên t ực tế khảo s t b o c o của c c cơ quan ữu quan

T c ả luận v n

Duangphet Mardsavong

Trang 5

- Cô o, TS Dươn Thị T u ươn , o v ên k oa Xã ọc - ọc

v ện B o c í v Tuyên truyền n ườ đã trực t ếp ướn dẫn v luôn quan tâm

úp đỡ n ệt tìn c ỉ bảo c o tô tron suốt qu trìn lên ý tưởn n ên cứu

c o đến lúc o n t n xon luận v n tốt n ệp

- Lãn đạo khoa Xã ọc v P t tr ển - ọc v ện B o c í v Tuyên truyền v c c GS PGS TS tron v n o ọc v ện đã d y côn rèn luyện v

c ỉ bảo c o tô tron suốt qu trìn ọc tập

- G a đìn đã luôn tạo đ ều k ện t uận lợ tron suốt qu trìn ọc tập

c o tớ lúc o n t n luận v n tốt n ệp đặc b ệt l sự đ n v ên về mặt vật

c ất v t n t ần từ p ía ôn b n oạ của tô ; bạn bè đồn n ệp đã n ệt tìn úp đỡ tô k ặp k ó k n k úc mắc

- C c c n b Ban Tuyên uấn Trun ươn đã cun cấp cho tô n ững

t ôn t n có trị để úp tô o n t n luận v n

Tron qu trìn l m v ệc do t ờ an v trìn đ c uyên môn còn ạn

c ế đề t n ên cứu k ôn t ể tr n k ỏ n ữn t ếu sót tô rất mon

n ận được sự đón óp ý k ến của c c t ầy cô o bạn bè v đồn n ệp!

Tô x n c ân t n cảm ơn !

N t n n m 2021

ọc v ên

Duangphet Mardsavong

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU ĐẠO TẠO, BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG 19

1.1 Một số khái niệm liên quan 19

1.2 Các lý thuyết xã hội học vận dụng trong nghiên cứu 26

1.3 Giới thiệu về Ban Tuyên huấn Trung ương 32

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỘI NGŨ CÁN BỘ VÀ THỰC TRẠNG THAM GIA ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CỦA CÁN BỘ BAN TUYÊN HUẤN TRUNG ƯƠNG LÀO 37

2.1 Thông tin về địa bàn, mẫu khảo sát và đặc điểm trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Lào 37

2.2 Thực trạng đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng của đội ngũ cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương 45

Chương 3: NHU CẦU ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC CỦA CÁN BỘ BAN TUYÊN HUẤN TRUNG ƯƠNG LÀO 61

3.1 Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương 62

3.2 Các yếu tố xã hội tác động đến nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng Nhân Dân cách mạng Lào hiện nay 88

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGH 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

PHỤ LỤC 113

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Cơ cấu thâm niên công tác của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương

(N=170) 40Bảng 2.2 Trình độ học vấn của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=170) 42Bảng 2.3: Lý do cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương chưa bao giờ tham gia

khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức kỹ năng (N = 170) 47Bảng 2.4: Lý do đi học của cán bộ Ban tuyên huấn Trung ương (N=119) 49Bảng 2.5: Yếu tố thúc đẩy cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương đi học thêm

(N=119) 50Bảng 2.6: Thực trạng trong 5 năm vừa qua (từ năm 2016 đến nay) cán bộ Ban

Tuyên huấn Trung ương đã từng được tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức (N=119) 51Bảng 2.7: Đánh giá thực trạng các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ

ngoại ngữ của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (%) (N=119) 52Bảng 2.8: Đánh giá thực trạng khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học

của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=119) 53Bảng 2.9: Đánh giá thực trạng các khóa đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị

của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (%) (N=119) 55Bảng 2.10: Thực trạng tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng quản lý nhà

nước của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=119) 56Bảng 2.11: Đánh giá thực trạng các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên

môn của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (%) (N=119) 57Bảng 2.12: Đánh giá thực trạng các khóa đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng của cán

bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (%) (N=119) 58Bảng 3.1: Lý do quan trọng nhất của cán bộ khi tham gia lớp đào tạo (N=170) 64Bảng 3.2: Thâm niên công tác và nhu cầu đào tạo kiến thức chuyên môn của

cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (%) (N=170) 66Bảng 3.3: Lý do quan trọng nhất của cán bộ khi tham gia lớp bồi dưỡng (%)

(N=170) 67

Trang 9

Bảng 3.4: Lý do quan trọng nhất của cán bộ Ban tuyên huấn khi đi học các

lớp kỹ năng (N=170) 71Bảng 3.5: Thâm niên và mức độ cần thiết về kỹ năng thuyết trình (N=170) 72Bảng 3.6: Nhu cầu về mức độ thường xuyên mong muốn tham gia công tác

đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng của các cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=170) 73Bảng 3.7: Nhu cầu về khung thời gian và địa điểm được đào tạo (có cấp bằng) trong

5 năm tới của các cán bộ Ban tuyên huấn Trung ương (N=170) 79Bảng 3.8: Nhu cầu được bồi dưỡng (có/không cấp chứng chỉ) các kỹ năng của

các cán bộ Ban tuyên huấn trong 5 năm tới (N=170) 81Bảng 3.9: Nhu cầu của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương về thời điểm tổ

chức các lớp bồi dưỡng kiến thức/ các lớp bồi dưỡng kỹ năng trong các tháng (N=170) 83Bảng 3.10: So sánh tương quan giới tính, chức vụ công tác với Nhu cầu của

cán bộ đối với số ngày tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức/ các lớp bồi dưỡng kỹ năng (N = 170) 85Bảng 3.11: Sự khác biệt về giới tính và nhu cầu của cán bộ về đội ngũ giảng

viên đào tạo, bồi dưỡng (N = 170) 88Bảng 3.12: Yếu tố rào cản từ phía cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương có nhu

cầu được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng về kiến thức nhưng chưa thực hiện được (%) (N = 170) 90Bảng 3.13: Ý kiến của cán bộ về đối tượng được ưu tiên đi đào tạo, bồi dưỡng

kiến thức và kỹ năng (N= 170) 92Bảng 3.14: Những yếu tố chính sách ảnh hưởng đến nhu cầu đạo tạo, bồi

dưỡng kiến thức và kỹ năng (N = 170) 94

Trang 10

DANH MỤC BIỂU

Biểu 2.1: Cơ cấu về giới của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=170) 38 Biểu 2.2 Cơ cấu độ tuổi của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=170) 40

Biểu 2.3.: Mức sống của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=170) 41

Biều 2.4 Giới tính và trình độ học vấn (so sánh ngang) của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=170) 43

Biều 2.5 Giới tính và tự đánh giá trình độ ngoại ngữ tiếng anh của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (so sánh ngang) (N=170) 44

Biều 2.6 Giới tính và tự đánh giá trình độ ngoại ngữ tiếng anh (so sánh dọc) của đội ngũ cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=170) 44

Biều 2.7 Giới tính và tự đánh giá trình độ tin học văn phòng (so sánh dọc) của đội ngũ cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=170) 45

Biểu 2.8: Lớp học đào tạo, bồi dưỡng kiến thức kỹ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương (N=119) 48

Biểu 3.1: Mức độ cần thiết của cán bộ về lớp đào tạo 63

Biểu 3.2: Mức độ cần thiết của cán bộ về lớp bồi dưỡng (%) (N = 170) 65

Biểu 3.3: Mức độ cần thiết của cán bộ về lớp kỹ năng 69

Biểu 3.4: Nhu cầu của cán bộ đối với số ngày tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức/ các lớp bồi dưỡng kỹ năng 84

Biểu 3.5: Nhu cầu của cán bộ về đội ngũ giảng viên đào tạo, bồi dưỡng (N=170) 86

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Thuyết Nhu cầu của Abraham Maslow 29

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng: Nhà nước ra đời không phải là nhằm giải quyết mâu thuẫn trong xã hội mà là để điều hành những mâu thuẫn phát sinh trong xã hội theo chiều hướng có lợi cho giai cấp cầm quyền Nắm quyền lực của quốc gia, nhà nước có trách nhiệm và thẩm quyền quản lý quốc gia trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh- quốc phòng, văn hóa, giáo dục, y tế, dân tộc, tôn giáo Điều này, có nghĩa là lĩnh vực mà nhà nước chịu trách nhiệm quản lý rất đa dạng và phức tạp để có thể làm tròn trách nhiệm đó, nhà nước cần phải xây dựng cho mình một bộ máy quản lý hoạt động hiệu quả từ Trung ương đến cơ sở với yếu tố nòng cốt mang tính quyết định là đội ngũ cán bộ công chức

Cán bộ và công tác cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng, là khâu“then chốt” của nhiệm vụ

“then chốt” Cán bộ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng Xây dựng đội ngũ cán bộ là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước Lào, nhằm đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới hiện nay và trong tương lai

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn chúng ta: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”

Công cuộc đổi mới ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào do Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khởi xướng và lãnh đạo, thực chất là sự tiếp tục sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới với những cải biến cách ng sâu rộng và toàn diện, nhằm khơi dậy, tạo ra và phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực của đất nước Đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnh nhìn chung còn thiếu, vừa yếu Một số cán bộ đảng viên chưa thấm nhuần sâu sắc đường lối đổi mới của Đảng

Trang 12

Phong cách làm việc của cán bộ, đảng viên chưa khoa học, nghiêm túc, một

số còn giáo điều và coi thường việc kiểm tra, tổng kết kinh nghiệm (Đại hội II của Đảng bộ tỉnh Viêng Chăn, 1988)

Hiện nay, thủ đô Viêng Chăn đang bước vào thời kỳ mới, ra sức thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập trung phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các dự án của quốc gia

và Thủ đô Yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới hết sức nặng nề, đòi hỏi các cán bộ chủ chốt, các công chức viên chức phải có chất lượng tốt, đủ phẩm chất, năng lực, trí tuệ đảm đương các công việc được giao Một bộ phận cán

bộ nói chung của Ban Tuyên huấn nói riêng trình độ kiến thức, năng lực còn hạn chế, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của cơ sở còn thiếu sót Sự chỉ đạo của các cấp Đảng đối với công tác bồi dưỡng chưa kịp thời; chính sách, chế độ đối với người tham gia công tác đào tạo bồi dưỡng (ĐTBD) chưa thực thỏa đáng; cơ sở vật chất kỹ thuật và kinh phí đầu tư cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng còn hạn chế; chưa có chương trình giáo trình chuẩn cho việc đào tạo, bồi dưỡng cho từng bộ phận, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng được đổi mới nhưng chưa thực sự phù hợp đối với học viên, tính chuyên nghiệp chưa cao Ngoài việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ cán bộ mới, việc đào tạo bồi dưỡng lại cho đội ngũ cán bộ có sẵn, các cán bộ trong giai đoạn phát triển của đất nước thời kỳ này là việc cấp thiết đối với đội ngũ cán bộ ở Ban Tuyên huấn thủ đô

Ban Tuyên huấn Trung ương có các chức năng, nhiệm vụ là: Nghiên cứu, tham mưu; Tuyên truyền, giáo dục và hướng dẫn, kiểm tra, giám sát; Thẩm định, thẩm tra các đề án, văn bản liên quan đến chủ trương, chính sách thuộc lĩnh vực tuyên giáo của các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận, tổ chức đoàn thể và các địa phương trước khi trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Tham gia, phối hợp trong công tác xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên huấn; Chủ trì, phối hợp hướng dẫn, kiểm tra, giám sát công tác

Trang 13

thông tin đối ngoại; Phối hợp với Ban Đối ngoại Trung ương triển khai, thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tuyên giáo đối với các đảng cộng sản, đảng công nhân và một số đảng cầm quyền trên thế giới; Thực hiện một số nhiệm vụ do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao Vì vậy có thể thấy rằng các cán

bộ Ban Tuyên huấn Trung ương cần được thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng

để thực hiện tốt nhiệm vụ

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cũng như nhu cầu mong muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác đào tạo bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho đội ngũ cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay Luận văn này tập trung vào

nghiên cứu: “N u ầu à t , b d ỡ t ứ và á b

B Tu ê u Tru ơ , Đả â dâ á à ”

2 Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh liên tục đổi mới và phát triển hiện nay, những chủ để liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng kiến thức kỹ năng cho cán bộ đã nhận được nhiều sự quan tâm của các nghiên cứu tại Việt Nam, Lào cũng như các nước trên thế giới Trong đó, xoay quanh chủ đề này có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:

2 1 N ê ứu t i Vi t Nam

Luận văn Thạc sỹ của học viên Đinh Xuân Chính (2010): “Xây dựng

đ n ũ c n b cấp cơ sở ở G an ện nay”, Học viện Báo chí và Tuyên

truyền Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ cán bộ ở

cơ sở, nhất là vai trò của đội ngũ cán bộ này trong việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Tác giả đã đánh giá thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế, từ đó đề xuất một số giải pháp để kiện toàn đội ngũ cán bộ cơ sở ở

Hà Giang.[2]

Nguyễn Đức Tiệm (chủ nhiệm, 2011), Nâng cao chất lượng giảng dạy

Trang 14

lý luận chính trị ở trường chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh, Đề tài khoa học cấp trường, Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh Đề tài đánh giá thực trạng công tác giảng dạy lý luận chính trị của Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh hiện nay Qua đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm vận dụng vào việc nâng cao chất lượng công tác giảng dạy của đội ngũ giảng viên trong nhà trường Đồng thời kiến nghị về một số giải pháp trong công tác quản lý chất lượng giảng dạy.[20]

Đề tài “Nân cao ệu quả hoạt đ n n ên cứu thực tế của giảng

v ên trườn c ín trị Nguyễn V n Cừ tỉnh Bắc N n a đoạn hiện nay” do

tác giả Lê Công Khởi (chủ nhiệm, 2012), Đề tài khoa học cấp trường, Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh Đề tài làm rõ thực trạng hoạt động nghiên cứu thực tế của giảng viên, những kết quả và hạn chế Từ đó, đề xuất một số nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu thực tế của giảng viên trường chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay.[9]

Đề tài “Đ o tạo, bồ dưỡn c n b côn c ức khố c c cơ quan Đảng,

đo n t ể c ín trị - xã i cấp tỉnh của Tỉn N n Bìn ện nay” của Tạ

Toàn Thắng, luận văn thạc sĩ, khoa Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước,

Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2014 Đề tài đã tập trung phân tích làm rõ

một số vấn đề lý luận về cán bộ, công chức, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức khối các cơ quan Đảng, đoàn thể chính trị, xã hội cấp tỉnh Tác giả cũng đưa ra các giải pháp nhằm góp phần thực hiện tốt hơn việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung, cán bộ công chức khối Đảng và đoàn thể chính trị - xã hội cấp tỉnh của Tỉnh Ninh Bình nói riêng trong những năm tiếp theo.[18]

Nguyễn Thị Mai Anh (2015): “Yêu cầu v ả p p xây dựn đ n ũ

c n b thời kỳ h i nhập quốc tế”, Tạp chí Cộng sản điện tử, tháng 4 Trong

bài, tác giả đã khái quát một số yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ thời kỳ hội nhập, đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng, nâng cao chất lượng.[1]

Trang 15

Đề tài: “Đ o tạo, bồ dưỡn côn c ức n c ín cấp tỉnh ở Bắc Ninh hiện nay” của tác giả Nguyễn Đại Thắng, đề tài đều nêu được đặc điểm riêng

của địa bàn nghiên cứu từ đó đưa ra các khuyến nghị để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ phù hợp với đặc điểm địa phương Các địa phương đều xác định được rõ mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng: đào tạo bồi dưỡng để phát triển được nguồn nhân lực, làm công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ phát huy được hiệu quả trong hoạt động của bộ máy chính quyền, từ đó xác định rõ nội dung đào tạo bồi dưỡng mang lại hiệu quả cao cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.[21]

Đề tài “Đ o tạo, bồ dưỡn c n b côn c ức cấp xã ở tỉn P ú Yên”

của tác giả Lê Thị Bích Hạnh, là đề tài tập trung chú trong vào nghiên cứu đội ngũ cán bộ, công chức ở cấp cơ sở Các đề tài đã chỉ rõ tầm quan trọng của việc đào tạo, bồi dưỡng trong thời kỳ hiện đại hóa hiện nay: “coi giáo dục, đào tạo là khâu quan trọng nhất và đang trở thành động lực để thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu” Phân tích các vấn đề khó khăn ở cơ sở đang gặp phải khi thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng, khó khăn về mặt kinh tế, giao thông đi lại, trình độ học vấn của cán bộ thấp, mất cân đối trong việc đào tạo, thiếu hệ thống văn bản pháp quy làm căn cứ, việc mở lớp chắp vá và chạy theo số lượng, đội ngũ giáo viên hạn chế về kinh nghiệm giảng đạt, kiến thức thực tiễn và chế độ chính sách đãi ngộ cho cán bộ và giáo viên thấp Từ đó đề tài cũng đã đề xuất ra các giải pháp chính sách, pháp luật về sử dụng và đãi ngộ đối với đội ngũ này.[5]

Bài viết của tác giả Trịnh Việt Tiến (Trường Đại học Nội vụ Hà Nội)

“Va trò của đ o tạo, bồ dưỡn c n b côn c ức đối với hoạt đ ng thực thi côn vụ” Tạp chí Công thương tháng 4/2018 Bài viết tập trung làm rõ vai

trò, định hướng giải pháp để công tác ĐTBD cán bộ, công chức đối với hoạt động thực thi công vụ nhằm mang lại hiệu quả cao, đóng góp cho sự phát triển của đất nước Đối với nền Hành chính quốc gia, việc cập nhật các kiến thức mới qua ĐTBD cho cán bộ, công chức là rất cần thiết để hướng tới nền hành chính chuyên nghiệp.[19]

Trang 16

Bài viết của tác giả Nguyễn Minh Phương (Trường Đại học Nội vụ Hà

Nội) “Côn t c đ o tạo, bồ dưỡn c n b côn c ức v m t số vấn đề đặt ra trong h i nhập quốc tế”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 7/2018 Bài viết chỉ ra

thực trạng công tác ĐTBD cán bộ, công chức của đất nước và những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu làm rõ và khắc phục những khó khăn hạn chế trong công tác ĐTBD cán bộ, công chức, nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang hội nhập đầy đủ và toàn diện với thế giới.[12]

Với cách nhìn nhận từ chiều cạnh công tác đào tạo bồi dưỡng, nghiên

cứu “ Côn t c đ o tạo, bồ dưỡn c n b ở Trườn C ín trị tỉn Nam hiện nay” của Trịnh Thị Phương làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về

công tác ĐT, BD cán bộ ở Trường Chính trị tỉnh Hà Nam hiện nay; Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm về công tác ĐT, BD cán bộ ở Trường Chính trị tỉnh Hà Nam từ năm 2010 đến 2015.[14]

Đề tài “Côn t c bồ dưỡn lý luận c ín trị c o đ n ũ c n b cấp xã

ở huyện Giao Thủy, tỉn Nam Định hiện nay” của tác giả Vũ Huyền Nhung,

Học viện Báo chí và tuyên truyền, 2020 đã cho thấy 05 năm triển khai, công tác bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp xã đã đạt được nhiều kết quả quan trọng góp phần nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ cấp xã, đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới Luận văn đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp xã ở huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định thời gian tới.[8]

Như vậy, chủ đề về thực trạng và nhu cầu đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức là chủ đề được các nhà khoa học Việt Nam quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh: thực trạng công tác đào tạo, tầm quan trọng của công tác đào tạo, chưa có nhiều nghiên cứu đề cập phân tích sâu về nhu cầu đào tạo bồi dưỡng của đội ngũ cán bộ đặc thù, cụ thể

2.2 N ê ứu t à

Luận án tiến sĩ “Đ o tạo, bồ dưỡn đ n ũ c n b lãn đạo quản lý

Trang 17

kinh tế của Đản v N nước L o tron a đoạn hiện nay” (2003), tác giả

Xinhkhăm Phômmaxay, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Luận án đã phân tích những yêu cầu đặt ra đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế nói chung và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong công cuộc xây dựng phát triển nền kinh tế hàng hóa ở CHDCND Lào, trình bày thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế của Lào và tình hình công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ này đề xuất 4 phương hướng và 8 giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước lào trong giai đoạn hiện nay.[32]

Luận văn thạc sĩ với chủ đề “Nân cao c ất lượn đ n ũ c n b lãn đạo chủ chốt cấp huyện ở tỉn V ên C n C n òa dân c ủ N ân dân L o trong thời kỳ mớ ” (2000), của tác giả Phêng-Xạ-Vẳn Vông-Chăn-Đy, Luận

văn thạc sĩ, Chuyên ngành Xây dựng Đảng Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về diện luân chuyển cán bộ Trung ương Đảng NDCM Lào quản lý Từ đó tác giả đã

đề xuất ra các phương hướng và các giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng luân chuyển đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới.[28]

Luận án tiến sĩ “Xây dựn đ n ũ c n b chủ chốt cấp huyện ở c c tỉnh

p ía nam nước c n o Dân c ủ N ân dân L o tron a đoạn hiện nay,

4”, của Bun Xợt Tham Ma Vông, Khoa Lịch sử, trường Học viện Chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004 Đã phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Nam Lào và thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ này trong thời gian qua Đề xuất các giải pháp góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở tỉnh phía Nam Lào đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới.[38]

“Xây dựn đ n ũ c n b kiểm tra của Đảng (cấp tỉnh) ở nước C ng

òa dân c ủ n ân dân L o ện nay” Khăm Phăn Mi La Vông, luận án tiến

sĩ Chính trị học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2005 Tác giả đã

Trang 18

đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ kiểm tra cấp tỉnh của Đảng và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng ở nước CHĐCN Lào Số lượng chung cán bộ kiểm tra của Đảng (cấp tỉnh) hiện có 215 người, nữ 42 Trong

đó cán bộ lãnh đạo chủ chốt chiếm 22%, cán bộ tham mưu từ trưởng và phó phòng, chuyên gia lành nghề chiếm 78% Cụ thể, đánh giá về trình độ, năng lực, nghiệp vụ và chuyên môn Nhìn chung đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng (cấp tỉnh) có trình độ lý luận Mác- Lênin, tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng CNCM Lào thông qua đào tạo chính quy cao cấp là 14.4%, bồi dưỡng ngắn hạn cao cấp là 4%, bồi dưỡng trung cấp là 3%, đào tạo ngắn hạn tại chỗ của trường Chính trị tỉnh là 14%; trình độ nghiệp vụ kiểm tra đã thông qua đào tạo chính quy cấp đại học hoặc trên đại học chiếm 6%, thông qua lớp ngắn hạn bồi dưỡng trong và ngoài nước chiếm 335, trình

độ văn hóa của đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng (cấp tỉnh) đã học đại học hoặc trên đại học chiếm 26%, trung học là 42%, phổ thông cơ sở là 32% Đưa

ra những giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ này

ở Lào [39]

Đề tài “Va trò của đ n ũ c n b lãn đạo quản lý cấp cơ sở v nhữn n ườ có uy tín ở t ôn bản tron p t tr ển c n đồng ở C n o dân chủ n ân dân L o (N ên cứu trường hợp tại huyện Xay T a Ny v uyện

Na Xa T oon Tp V ên C n)” của Kham Bay Ma La Sing, Luận án tiến

sĩ Xã hội học, trường Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2013 Tác giả đã làm rõ một số khái niệm: vai trò, vị thế, phát triển cộng đồng, người có uy tín, đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở, Phân tích thực trạng và tìm hiểu một số yếu tố tác động đến vai trò của đội ngũ cán

bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở và những người có uy tín ở thôn bản trong phát triển cộng đồng Nghiên cứu tìm hiểu sự phối hợp vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở và những người uy tín ở thôn bản trong phát triển cộng đồng Từ đó tác giả đã đề xuất ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò

Trang 19

của đội ngũ, cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và những người có uy tín ở thôn bản trong phát triển cộng đồng.[33]

Đề tài “C ất lượn đ n ũ c n b chủ chốt cấp huyện ở Thủ đô V ên

C n - nước C n òa dân c ủ n ân dân L o tron a đoạn hiện nay”,

(2009) Vi Lath Sou Ni Chan, Luận văn thạc sĩ, Chuyên ngành Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả đã đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện và các hoạt động tạo nên chất lượng đó Từ đó tác giả đã đề xuất ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ này đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của các huyện thủ đô Viêng Chăng trong giai đoạn hiện nay.[27]

Đề tài “Đ o tạo, bồ dưỡn đ n ũ nữ c n b lãn đạo, quản lý ở tỉnh

Luan N m T a tron sự nghiệp đổi mớ ”, (2016), Xixuphăn Thămphănnha,

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng, Trường Chính trị - Hành chính tỉnh Luang Năm Tha: Luận văn trình bày khái niệm, vị trí, vai trò, nhiệm vụ và tầm quan trọng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nữ cán

bộ lãnh đạo, quản lý; trình bày những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Lào về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nữ cán bộ này trong sự nghiệp đổi mới; phân tích đúng thực trạng của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ

nữ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Luang Năm Tha; nêu ra một số bài học kinh nghiệm của một số tỉnh trong nước và nước ngoài; nêu lên những hạn chế về công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ này; đề ra phương hướng

và những giải pháp để tiến hành công tác này trong những năm tới.[35]

Đề tài “Nân cao c ất lượng của đ n ũ c n b lãn đạo - chỉ huy trong lực lượn an n n N ân dân L o” (2017), Vilay Đuôngmany, Luận

văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Lào, Viêng Chăn: Luận văn đã nêu ra được những cơ sở lý luận về khái niệm, vị trí, vai trò và một số quan điểm của Đảng NDCM Lào, chính sách của Nhà nước Lào về việc nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ lãnh

Trang 20

đạo - chỉ huy trong lực lượng an ninh Nhân dân Lào hiện nay; nêu ra một số bài học kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chất lượng đội ngũ cán

bộ lãnh đạo - chỉ huy; khái quát về vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của lực lượng an ninh Nhân dân Lào; chỉ ra được những thành tựu, khuyết điểm trong việc nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo - chỉ huy trong lực lượng an ninh Nhân dân Lào trong thời gian qua Từ đó luận văn đã đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo - chỉ huy trong lực lượng an ninh Nhân dân Lào trong tình hình mới.[29]

Bài viết “M t số ả p p nân cao c ất lượn đ o tạo bồ dưỡn lý

luận c ín trị c o đ n ũ c n b c ủ c ốt ở c c tỉn p ía bắc C DCND

L o” của Khăm - Phủi Chăn Thavadi, Tạp chí Tổ chức nhà nước, ngày

21/06/2018, đã nêu lên thực trạng việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ

lý luận chính trị được tiến hành đồng bộ ở cả 3 chương trình: đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị thời gian 45 ngày cho cán bộ cơ sở tuyến huyện, bản

và cụm bản; học tập tại các trường chính trị và hành chính tỉnh và Học viện Chính trị quốc gia Lào theo chương trình trung cấp và cao cấp lý luận chính trị (đối với các tỉnh phía bắc được đào tạo ở Trường Chính trị và Hành chính tỉnh Luông Pha Băng và Trường Chính trị và Hành chính tỉnh U Đôm Xay) Thứ nhất, tác giả chỉ ra kết quả của các khóa, lớp đào tạo, bồi dưỡng trình độ

lý luận chính trị cho cán bộ các cấp, đặc biệt là với đội ngũ cán bộ chủ chốt trong 2 năm 2015-2017 trước hết là do làm tốt công tác chuẩn bị Ở các trung tâm và các trường chính trị và hành chính tỉnh, việc chuẩn bị nội dung, giáo trình phục vụ cho giảng dạy được tiến hành chu đáo, có sự phân cấp theo đối tượng học tập Chương trình đào tạo, bồi dưỡng được xây dựng đan xen giữa

lý luận với thực tiễn, giữa lên lớp chính khóa và hội thảo theo chuyên đề Thứ hai, từ những kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế, bất cập trong công tác đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các

Trang 21

tỉnh phía bắc CHDCND Lào giai đoạn 2015-2017 có thể rút ra những bài học,

đó là: Phát huy hơn nữa vai trò lãnh đạo của cấp ủy các cấp trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đối với các tỉnh phía bắc, do địa bàn rộng, dân cư thưa và hệ thống giao thông chưa phát triển, việc phân công, cử cán bộ đi học các lớp bồi dưỡng chính trị cần phải làm sớm, chủ động về kế hoạch Thêm vào đó, quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng Nhân dân cách mạng Lào về công tác cán bộ, đặc biệt là trong giai đoạn từ nay cho đến năm

2025, để có được đội ngũ cán bộ vững mạnh, toàn diện, đủ sức vận hành hệ thống chính trị thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao, cần phải có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là bồi dưỡng về trình độ lý luận chính trị Bài viết cũng chỉ ra rằng, công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ chủ chốt các cấp ở các tỉnh phía bắc cần tập trung vào các giải pháp sau: “giữ vững quan điểm của Đảng về mục tiêu, phương châm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy tổ chức đảng đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ”; “đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học Hệ thống giáo án, giáo trình phải được xây dựng khoa học, thường xuyên cập nhật các vấn đề mới trong lý luận và thực tiễn”; “các chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị phải được thực hiện theo phân cấp, ưu tiên phát triển năng lực tư duy, trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt và đội ngũ cán bộ trong nguồn quy hoạch”; “phải có những đổi mới chế độ chính sách trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ” Trong nghiên cứu này, tác giả đã quan tâm đến kết quả, hạn chế, và một số giải pháp của các khóa, lớp đào tạo, bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị cho cán bộ các cấp nhưng chưa quan tâm đến những nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và

kĩ năng của cán bộ hiện nay.[36]

Liên quan đến chất lượng đội ngũ công chức tại nước Cộng hòa Dân

chủ nhân dân Lào cũng được đề cập đến trong bài viết “Nân cao c ất lượng

Trang 22

đ n ũ côn c ức c c Ban Tổ chức Tỉnh ủy của nước C n òa Dân chủ

n ân dân L o” của Sinnakhone Douangbandith, Tạp chí Tổ chức Nhà Nước,

ngày 12/06/2020 Trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra đội ngũ công chức của

các Ban Tổ chức Tỉnh ủy nước CHDCND Lào đã từng bước được củng cố và kiện toàn cả về số lượng và chất lượng, các chức danh được sắp xếp ổn định

và phát huy tác dụng; chế độ, chính sách từng bước được cải thiện theo mức

độ hoàn thiện của hệ thống chính sách, chế độ đối với công chức nhà nước nói chung Bên cạnh những kết quả đã đạt được, đội ngũ công chức của các Ban Tổ chức Tỉnh ủy nước CHDCND Lào vẫn còn những hạn chế nhất định như: một bộ phận công chức yếu kém về phẩm chất, suy thoái về đạo đức, chưa gương mẫu trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Một số công chức khi triển khai thực hiện nhiệm vụ còn chậm, ỷ lại, thiếu chủ động, sáng tạo; công tác tham mưu còn yếu kém, hiệu quả chưa cao, việc phối hợp giữa các đơn vị, các bộ phận trong thực thi công vụ chưa chặt chẽ; còn có biểu hiện gây khó khăn, phiền hà cho tổ chức, công dân trong giải quyết công việc Đội ngũ công chức trẻ dưới

30 tuổi của các Ban Tổ chức Tỉnh ủy mặc dù năng động, nhiệt tình nhưng thiếu kinh nghiệm thực tiễn; tinh thần tự học hỏi chưa cao nên trong công tác chuyên môn còn nhiều thiếu sót, xử lý công việc thiếu linh hoạt Ngược lại, những công chức trên 50 tuổi có nhiều kinh nghiệm công tác nhưng sức ỳ lớn, tiếp thu và cập nhật kiến thức chậm, làm việc máy móc, thiếu sáng tạo, trình

độ áp dụng công nghệ thông tin trong công việc hạn chế đã ảnh hưởng không nhỏ đến công cuộc hiện đại hóa nền hành chính và hệ thống chính trị của địa phương Bài viết này cũng đã chỉ ra chất lượng của đội ngũ công chức các Ban Tổ chức Tỉnh ủy là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao chất lượng tham mưu cho sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào Thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức các Ban Tổ chức Tỉnh ủy sẽ góp phần xây dựng đội ngũ công chức của Đảng và Nhà

Trang 23

nước CHDCND Lào có phẩm chất đạo đức tốt, có lý tưởng cách mạng, vững vàng về chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước Tuy nhiên việc đề cập đến nhu cầu nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng của cán bộ Ban Tổ chức Tỉnh ủy chưa được bài viết đề cập và khai thác.[30]

Như vậy, qua tổng quan nghiên cứu có thể thấy nghiên cứu về chủ đề cán bộ hiện nay khá phong phú, bao trùm được nhiều đối tượng và nhiều cùng miền trên khắp cả nước Tuy nhiên, nghiên cứu tìm hiểu về nhu cầu đào tạo bồi dưỡng của đội ngũ cán bộ đặc thù như cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay còn chưa được nghiên cứu nhiều, đặc biệt từ hướng tiếp cận Xã hội học Chính vì vậy, tác giả lựa chọn hướng nghiên cứu này nhằm có thêm những hiểu biết, căn cứ khoa học xây dựng kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ sát với nhu cầu thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mụ í ê ứu

Từ việc tìm hiểu thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và

kĩ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay, nghiên cứu hướng đến đưa ra một số khuyến nghị về giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Ban Tuyên huấn Thủ đô Viêng Chăn, đáp ứng nhu cầu cán bộ nói riêng và đáp ứng nhu cầu xã hội trong bối cảnh mới hiện nay

Trang 24

nay, đồng thời tìm hiểu một số yếu tố xã hội ảnh hưởng đến sự khác biệt về nhu cầu đào tạo kiến thức, kỹ năng trong đội ngũ cán bộ

- Từ đó, đưa ra khuyến nghị phù hợp liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay đáp ứng nhu cầu cán bộ và yêu cầu xã hội trong bối cảnh mới

4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đố t ê ứu

Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng của cán bộ Ban Tuyên

huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay

4.3 Ph v ê ứu

- Phạm vi: Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay

- Thời gian: 10/12/2020 – 9/6/2021

- 5 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết

5.1 Giả thuy t ê ứu

- Đa số cán bộ đều có nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới, đặc biệt là cán bộ trẻ, trong đó nhóm kiến thức và kỹ năng được ưu tiên lựa chọn hiện nay liên quan phổ biến đến nâng cao trình độ lý luận chính trị, tin học, ngoại ngữ và kỹ năng mềm

- Phần lớn cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay đều có nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức theo hình

Trang 25

thức đào tạo tập trung phổ biến hơn hình thức đào tạo không tập trung

- Cán bộ có thâm niên công tác lâu năm thường có nhu cầu đào tạo bổ sung cập nhật kiến thức mới, trong khi cán bộ có ít có thâm niên công tác mong muốn đào tạo về kỹ năng làm việc Cán bộ là nữ gặp trở ngại về thời gian, gia đình để tham gia các khoá bồi dưỡng phổ biến hơn cán bộ là nam giới

- Thâm niên công tác

- Đặc điểm công việc, vị trí/ chức vụ công việc

- Điều kiện kinh tế hộ gia đình

* Bi n số trung gian: Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kĩ

năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay

* Bi n số phụ thu c: Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng

của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay, cụ thể:

+ Nhu cầu đối với nội dung đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cụ thể + Nhu cầu đối với hình thức đào tạo, tần suất, mức độ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng

+ Nhu cầu đối với phương thức đào tạo, bồi dưỡng, thời gian đào tạo bồi dưỡng

*Bi n số can thi p

+ Môi trường văn hóa – kinh tế - chính trị - xã hội

Trang 26

+ Các quan điểm của Đảng và Nhà nước Lào về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

6 P ươn p p đ ều tra bảng hỏi

Đây là phương pháp nghiên cứu chính vận dụng trong nghiên cứu Mục

Đặc điểm nhân khẩu

- Thâm niên công tác

- Đặc điểm công việc:

Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng của cán

bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay:

+ Nhu cầu đối với nội dung đào tạo, bồi dưỡng kiến thức

và kỹ năng cụ thể + Nhu cầu đối với hình thức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức,

kỹ năng + Nhu cầu đối với phương thức đào tạo, bồi dưỡng, thời gian đào tạo bồi dưỡng

- Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Lào về đào tạo,

bồi dưỡng cán bộ

Môi trường văn hóa – kinh tế - chính trị - xã hội

Trang 27

đích sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi nhằm thu thập thông tin tổng thể

về thực trạng và nhu cầu đào tạo bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay

- Số lượng mẫu tham gia khảo sát: 170 cán bộ công tác tại Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng (cụ thể: bộ phận đào tạo, bộ phận quảng cáo, bộ phận tổ chức, bộ phận chính sách, bộ phận thanh tra, bộ phận quản lý, bộ phận tài chính, bộ phận thư viện, bộ phận quảng cáo di động)

- Phương pháp chọn mẫu: do tổng số cán bộ thuộc diện khảo sát không lớn (178 cán bộ), do vậy tác giả quyết định lựa chọn và mời toàn bộ đội ngũ cán bộ tham gia vào nghiên cứu Số cán bộ đồng ý tham gia nghiên cứu và hoàn thành bảng hỏi khảo sát là 170 cán bộ/ tổng số: 178 cán bộ

6 P ươn p p p ỏng vấn sâu

Cùng với cuộc điều tra bằng bảng hỏi, đề tài còn tiến hành phương pháp phỏng vấn sâu nhằm bổ sung thông tin về nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay

Đề tài thực hiện 15 phỏng vấn với cán bộ

+ 3 cán bộ đã được tham gia đào tạo kiến thức

+ 3 cán bộ đã được chưa được tham gia đào tạo kiến thức

+ 3 cán bộ có thâm niên làm việc trên 10 năm

+ 3 cán bộ có thâm niên làm việc dưới 10 năm

Nhóm đại diện cán bộ lãnh đạo: 3 cán bộ lãnh đạo có liên quan đến quá trình triển khai các chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay

Trong tổng số 15 cán bộ được phỏng vấn, có 7 cán bộ là nam giới và

8 cán bộ là nữ giới

6 3 P ươn p p xử lý t ôn t n

Thông tin định lượng được xử lý bằng phần mềm xử lý dữ liệu định

lượng SPSS 20.0

Trang 28

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý ý u n

Đề tài có ý nghĩa bổ sung cho những nghiên cứu trước đó về Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay Bên cạnh đó, nghiên cứu góp phần làm

rõ thêm việc áp dụng các lí thuyết xã hội học trong nghiên cứu về nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay nói riêng và cán bộ nói chung

6.2 Ý t ực tiễn

- Đề tài đưa ra một góc độ tiếp cận về nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay

- Trên cơ sở điều tra thực tiễn về nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và

kĩ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay đã góp phần bổ sung căn cứ nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ của Ban Tuyên huấn Trung ương

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung gồm 3 chương, bao gồm:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

- Chương 2: Thực trạng đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng của đội ngũ

cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay

- Chương 3: Nhu cầu đào tạo và các yếu tố xã hội tác động đến nhu cầu đào tạo bồi dưỡng kiến thức

Trang 29

Có thể nói “Nhu cầu” là một phạm trù rất rộng Dưới sự phát triển của con người và xã hội ngày càng được mở rộng, nâng cao chất lượng của các nhu cầu và đáp ứng các nhu cầu đó một cách đúng đắn, ngày càng dân chủ, công bằng, nhân đạo và khoa học Có rất nhiều khái niệm và sự phân tích khác nhau về khái niệm nhu cầu

Theo từ điển Tâm Lý học “nhu cầu l m t trạn t của c n ân được tạo ra do c n ân đó t ếu nhữn đố tượng cần cho sự tồn tạ v p t tr ển

v l n uồn gốc hoạt đ ng của c n ân đó”

Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: Nhu cầu là điều đòi hỏi của đời sống, tự nhiên và xã hội.[11]

Theo từ điển xã hội học do Nguyễn Khắc Viện (chủ biên), khái niệm nhu cầu được hiểu là: Mọi hành vi của con người đều do sự thúc đẩy của những nhu cầu nào đó; Về cơ bản người ta chia những nhu cầu của con người thành hai loại cơ bản: nhu cầu sinh học và nhu cầu văn hóa (cũng gọi là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần); Mỗi người có nhu cầu riêng, đồng thời toàn xã hội còn có những nhu cầu chung Nhu cầu xã hội không phải chỉ là tổng của nhu cầu cá nhân, mà còn bao gồm những nhu cầu để duy trì và phát triển xã hội với tư cách tổng thể (an ninh, bảo hiểm xã hội, môi trường sinh thái ); Nhu cầu là cơ sở của lợi ích, tức là những động cơ trực tiếp của hành

vi con người.[23]

Trang 30

Như vậy, gắn vào nghiên cứu nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và

kĩ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào hiện nay, có thể hiểu nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được, là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao Cũng như khi cán bộ có nhu cầu tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng, họ lại tiếp tục đòi hỏi một chương trình đào tạo với các nội dung phù hợp để việc tiếp nhận thông tin trở nên hiệu quả hơn Tóm lại, phạm vi nhu cầu mà đề tài hướng tới là những yếu tố mà cán bộ cần để có các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng của cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, Đảng nhân dân cách mạng Lào trở nên hiệu quả

1.1.2 Đà t o

Theo từ điển bách khoa Việt Nam (1995) định nghĩa: đào tạo là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống, chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào phát triển xã hội, duy trì và khai hóa nền văn minh loài người.[22]

Theo nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 5 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ thì: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức,

kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học.”[6]

Như vậy đào tạo được xem như là một quá trình làm cho người đó được đào tạo có kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp, kỹ năng nghiệp vụ theo tiêu chuẩn nhất định do yêu cầu, đòi hỏi của công việc Đào tạo cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương giúp họ đạt được những yêu cầu về kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp, kỹ năng nghiệp vụ theo tiêu chuẩn chung đối với từng ngạch, bậc hành chính của từng cán bộ ban Tuyên huấn phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của từng chức danh, công việc của cán bộ đảm bảo trong cơ quan hành chính tại Lào hiện nay

Trang 31

Khái niệm “đào tạo” trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cũng

có những khía cạnh nội hàm khác biệt so với khái niệm “đào tạo” trong chương trình giáo dục quốc dân (tiểu học, trung học, cao đẳng, đại học, trên đại học)

Trong khi hệ thống giáo dục quốc dân nói chung có trách nhiệm cung cấp nguồn nhân lực và trí tuệ cho toàn xã hội, trong đó có cả nguồn nhân lực cho công vụ thì đào tạo công chức chỉ giới hạn trong phạm vi điều chỉnh của Luật cán bộ, công chức và một số văn bản có liên quan, được tiến hành chủ yếu ở các cơ sở đào tạo cán bộ, công chức của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng đội ngũ công chức phục vụ cho bộ máy nhà nước Điều đó không có nghĩa là hai thể loại đào tạo này tách biệt nhau, mà chúng tương tác nhau trong tổng thể nền giáo dục quốc dân

Do đó muốn thi tuyển vào làm công chức, một trong những yêu cầu là phải có một văn bằng tương thích với trình độ nghề nghiệp đòi hỏi Như vậy, việc đào tạo trước đó được coi như đào tạo “tiền công vụ” Một khi đã được tuyển vào làm công chức nhà nước rồi lại phát sinh những nhu cầu về bổ sung, cập nhật và tăng cường kiến thức nghiệp vụ, kỹ năng chuyên sâu chức nghiệp của người công chức đó đòi hỏi, từ đó dẫn tới nhu cầu cần tiếp tục đào tạo và bồi dưỡng thêm trong công vụ Vì vậy đào tạo trong “đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức” thường thời gian đào tạo không lâu, quy mô đào tạo không lớn như “đào tạo” trong hệ thống giáo dục quốc dân Mặt khác

“đào tạo” trong cách hiểu này cũng không phải là đào tạo lành nghề Chính vì

lẽ đó, khái niệm “đào tạo” trong “đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức” có nội hàm và ý nghĩa riêng, tồn tại và dần trở thành từ vựng của tiếng Việt, được xác định trong một hoạt động tương đối đặc biệt: đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, công chức

1.1.3 B d ỡng

Theo từ điển tiếng Việt: “bồi dưỡng” là làm cho tăng thêm nghị lực hoặc phẩm chất [15, tr.72]

Trang 32

Bồi dưỡng được định nghĩa là “quá trình cập nhật hóa kiến thức còn thiếu hoặc lạc hậu, bổ túc kinh nghiệm, các hoạt động này nhằm tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội để củng cố và mở rộng một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ sẵn có để lao động nghề nghiệp có hiệu quả hơn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ”.[3]

Bồi dưỡng là giai đoạn tiếp theo sau đào tạo, là hoạt động hướng vào mục tiêu liên tục bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao năng lực nói chung cho những người đã được đào tạo sau một thời gian công tác nhất định

Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ xác định: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức,

kỹ năng làm việc Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chương trình quy định cho từng ngạch công chức Bồi dưỡng theo chức vụ lãnh đạo, quản lý là trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc theo chương trình quy định cho từng chức vụ lãnh đạo, quản lý Bồi dưỡng theo vị trí việc làm là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công tác được giao”.[6]

Trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, bồi dưỡng cập nhật, trang bị thêm, trang bị mới về kiến thức, kỹ năng, thái độ thực thi nhiệm

vụ, công vụ; giúp cho người cán bộ, công chức ngày càng hoàn thành công việc được giao có chất lượng, hiệu quả hơn

Bồi dưỡng kiến thức là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất; là cập nhật, bổ túc thêm một số kiến thức cần thiết, nâng cao hiểu biết sau khi đã được đào tạo cơ bản, cung cấp thêm những kiến thức chuyên ngành Thời gian các khóa bồi dưỡng thường không quá một tháng và tập trung vào những chủ đề trực tiếp liên quan đến công việc của cán bộ đang thực hiện; học xong các khóa bồi dưỡng có thể được cấp chứng chỉ, chứng nhận hoặc không Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức trong đề tài gồm có đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức chung (tiếng anh, ngoại ngữ, lý luận chính trị, quản lý Nhà nước…) và kiến thức chuyên môn

Trang 33

Thực tế xét theo khung cảnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức thì trong đào tạo đã bao hàm việc bồi dưỡng Xét về mặt thời gian, đào tạo thường có thời gian dài hơn, thường là từ một năm trở lên Về bằng cấp thì đào tạo có bằng cấp hoặc chứng chỉ chứng nhận trình độ đã được đào tạo, còn bồi dưỡng thường chỉ có chứng chỉ chứng nhận đã học qua khóa bồi dưỡng

Như vậy, khái niệm đào tạo và bồi dưỡng rất gần nhau Nếu đào tạo được xem như một quá trình trang bị kiến thức mới mà trước đó người công chức chưa được đào tạo, làm cho người công chức “trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” thì bồi dưỡng được xác định là quá trình nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức kỹ năng nghề nghiệp một cách thường xuyên, quá trình tăng cường năng lực nói chung trên cơ sở kiến thức,

kỹ năng nghề nghiệp một cách thường xuyên, quá trình tăng cường năng lực nói chung trên cơ sở kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo làm cho người công chức “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”

Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sự bùng nổ thông tin, chính sách pháp luật của nhà nước luôn có

sự điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh một cách kịp thời, đảm bảo cho sự nghiệp cải cách kinh tế, cải cách nền hành chính nhà nước, do vậy bồi dưỡng kiến thức về quản lý hành chính

và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng thực thi công vụ cho công chức hành chính là vấn đề quan trọng và mang tính cấp thiết

1.1.4 Kỹ

Trong từ điển Tiếng Việt, “kỹ năng” là: khả năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thực tế” Với quan niệm trên, kỹ năng là khái niệm để chỉ các thao tác có tính kỷ luật, đạt đến sự thuần thục nhất định được con người thể hiện trong phương pháp tư duy và trong thực tế, giúp con người đạt kết quả tốt hơn trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn.[16]

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng, tùy vào cách tiếp cận

Trang 34

Theo từ điển Oxfort [17,tr 89], kỹ năng là khả năng để làm tốt một công việc nào đó thường có được qua đào tạo hoặc kinh nghiệm Theo đó, kỹ năng được hiểu là sự thành thạo, tinh thông về các thao tác, động tác trong quá trình hoàn thành một công việc cụ thể nào đó

Kỹ năng được phản ánh trên hai thao tác: Thao tác tư duy và thao tác hành vi (1) Thao tác tư duy thực chất là phương pháp đạt đến một trình độ thuần thục nhất định trong tư duy, qua đó, con người có thể nhận thức các vấn

đề một cách bản chất hơn Ví dụ: kỹ năng phân tích dự báo; kỹ năng khái quát hóa; trừu tượng hóa; kỹ năng thiết lập mô hình tự mô hình hóa tư duy (2) Thao tác hành vi: Những hành động mang tính vật chất Ví dụ: kỹ năng ứng

xử trong giao tiếp; kỹ năng thu thập, phân tích, xử lý thông tin; kỹ năng giải quyết các vấn đề xung đột…

Kỹ năng được hình thành từ ba yếu tố chính: một là, yếu tố sinh học (tư chất, năng khiếu); hai là tiếp thu và khái quát các tri thức khoa học có liên quan; ba là, thâm niên làm việc và khả năng đúc kết các kinh nghiệm thực tiễn

1.1.5 Cá b

Trong “Đại từ điển Tiếng Việt” của Nguyễn Như ý chủ biên, xuất bản năm 1999, “cán bộ” được định nghĩa là:

“1 Người làm việc trong cơ quan Nhà nước;

2 Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ, trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước" [24, tr 249]

Trong “Từ điển tiếng Việt”, nhà xuất bản Đà Nẵng của Viện Ngôn ngữ học đưa ra khái niệm về “cán bộ” là: Người làm công tác có nghiệp vụ, chuyên môn trong cơ quan nhà nước; người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức phân biệt với người thường không có chức vụ Hai định nghĩa này so với các định nghĩa trong một số từ điển khác có sự phát triển và hợp lý hơn Dù cách dùng, cách hiểu trong các trường hợp, các lĩnh vực có khác nhau, nhưng về cơ bản, từ “cán bộ” bao hàm nghĩa chính của nó

là nòng cốt, là chỉ huy

Trang 35

Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [10, tr.269]

“Cán bộ” là một danh từ được du nhập vào đất nước Lào từ nhiều thập

kỷ qua, là một danh xưng đầy niềm tự hào vinh dự trong nhân dân các bộ tộc Lào.Trong thời kỳ cách mạng, từ “cán bộ” dùng để chỉ một lớp người là những chiến sĩ cách mạng, lớp người mới, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, gắn bó với nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp cao cả giành độc lập tự do cho dân tộc Hiện nay, hiểu một cách chung nhất, “cán bộ” là những người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn nhất định trong các cơ quan Nhà nước, Đảng và đoàn thể, tức là những người làm công tác có chức trách trong một

cơ quan, một tổ chức trong hệ thống chính trị hưởng lương từ ngân sách, bao gồm các đối tượng: Một, những người do bầu cử đảm nhiệm công việc theo nhiệm kỳ trong cơ quan, tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị

- xã hội Hai, những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên, làm việc trong cơ quan, tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội [34,tr.109]

Theo Điều 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2015 của Lào thì: cán bộ, công chức là người mang quốc tịch Lào và được tuyển, bổ nhiệm làm việc thường xuyên trong các cơ quan, tổ chức của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương và các tổ chức đại diện CHDCND Lào tại nước ngoài được hưởng lương từ Ngân sách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng và bổ nhiệm làm việc thường xuyên trong các cơ quan Đảng, đoàn thể, mặt trận tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, các tổ chức đại diện của Lào ở nước ngoài

Từ quy định trên cho thấy, khái niệm cán bộ có bốn đặc trưng cơ bản: Một, cán bộ là người được sự uỷ thác của Nhà nước, các tổ chức khác trong

hệ thống chính trị… và lấy danh nghĩa của Nhà nước và các tổ chức đó để

Trang 36

hoạt động.Hai, cán bộ là người giữ một chức vụ, trọng trách nào đó trong hệ thống chính trị nói chung.Ba, cán bộ là người trước khi được giao trọng trách phải qua bầu cử, tuyển chọn, đề bạt hoặc bổ nhiệm Bốn, cán bộ là người được hưởng chế độ đãi ngộ trên cơ sở căn cứ và chất lượng lao động của họ Với những đặc trưng này, những người cán bộ có thể là người lãnh đạo, quản

lý hoặc nhà chuyên môn, nhà khoa học, có thể họ là công chức, viên chức làm việc hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước, cán bộ được hình thành từ dân cử, bầu cử, tuyển dụng, đề bạt, bổ nhiệm [26,tr.31]

Đảng NDCM Lào khẳng định: “Cán bộ và cán bộ có chất lượng là nhân

tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng Chính vì vậy, Đảng phải đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên có trình độ chuyên môn cao, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức cách mạng tốt để đáp ứng nhiệm vụ chính trị trước mắt và lâu dài” [25, tr60]

Từ cách giải thích về khái niệm cán bộ trên đây, chúng ta có thể quan niệm một cách chung nhất về cán bộ như sau: Cán bộ là người làm công tác chuyên môn trong một cơ quan, một tổ chức của hệ thống chính trị Cán bộ là người làm công tác có chức vụ trong một tổ chức lãnh đạo, quản lý để tổ chức

và phối hợp hành động của các thành viên trong một nhóm, một tập đoàn người nhằm giải quyết tốt các mối quan hệ công tác và đạt mục tiêu đã đề ra

1.2 Các lý thuyết xã hội học vận dụng trong nghiên cứu

1 2 1 ý t u t nhu cầu

Lý thuyết nhu cầu của nhà tâm lý học Maslow (1908 – 1970) là lý thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung Nhu cầu là đòi hỏi thường xuyên của mỗi cá nhân, là trạng thái thấy thiếu thốn ở con người Các nhu cầu của con người một mặt được tạo ra do những đòi hỏi bên trong cơ thể, mặt khác được tạo ra từ trong những điều kiện nhất định của xã hội Theo lý thuyết này, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ “đáy” lên tới “đỉnh”, phản

Trang 37

ánh mức độ cơ bản của nói đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa

là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội

– Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người từ thấp đến cao

Nhu cầu s n lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con

người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục

Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người, nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được, đặc biệt là với trẻ em vì chúng phụ thuộc rất nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy đủ các nhu cầu cơ bản này, ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa

Nhu cầu về an to n oặc an ninh:

An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người

- Nội dung của nhu cầu an ninh: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm

Trang 38

Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận (tình yêu và sự chấp nhận)

- Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận

- Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo

sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau

- Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn Bao gồm các vấn đề tâm lý như: Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này Lòng thương, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung lý tưởng mà nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận luôn theo đuổi Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại

Nhu cầu được tôn trọng

- Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng

+ Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muốn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện

+ Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ, khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người

Nhu cầu p t uy bản n ã: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong

cách phân cấp về nhu cầu của ông, đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó

Trang 39

- Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân

ì 1 1: Thuy t Nhu cầu c a Abraham Maslow

Áp dụng lý thuyết vào nghiên cứu, đề tài nhằm làm sáng tỏ luận điểm rằng: Cán bộ Tuyên huấn Trung ương có những nhu cầu như thế nào trong việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức kỹ năng Vì vậy áp dụng lý thuyết này vào giải thích nhu cầu về nhận thức của cán bộ ban tuyên huấn thế nào, muốn tổ chức vào thời điểm nào, nhu cầu được đào tạo về nội dung và hình thức ra sao Việc có được ý kiến của cán bộ Tuyên huấn sẽ đưa ra các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức kỹ năng thật đầy đủ và đáp ứng được nhu cầu của cán bộ

1 2 2 ý t u t về sự lựa chọn h p ý

Lý thuyết lựa chọn duy lý, hay có cách gọi khác là Lý thuyết lựa chọn

Trang 40

hợp lý, bắt nguồn từ kinh tế học, triết học và nhân học thế kỷ 18 – 19 Thuyết lựa chọn hợp lý dựa trên tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách

có chủ đích để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý để đạt được mục đích tối đa với chi phí tối thiểu Thuyết lựa chọn hợp lý không chỉ lý giải hành động cá nhân mà còn được phát triển để xem xét các hoạt động chức năng của các hệ thống và thiết chế xã hội Các học giả tiêu biểu của thuyết này bao

gồm George Homans với Lý t uyết n v lựa chọn, Peter Blau với lý thuyết

Lý t uyết trao đổ xã i Thuyết lựa chọn duy lý đòi hỏi phải phân tích hành

động lựa chọn của cá nhân trong mối liên hệ với cả hệ thống xã hội bao gồm các cá nhân khác với những nhu cầu và sự mong đợi của họ

Thuyết lựa chọn duy lý dựa vào tiên đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Theo Marx, mục đích tự giác của con người như là quy luật quyết định toàn bộ cấu trúc, nội dung, tính chất, phương pháp của hành động và ý chí của con người Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán

để quyết định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức hiện có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực Cách hiểu này lúc đầu mang nặng ý nghĩa kinh tế học vì nhấn mạnh yếu tố lợi ích vật chất (lãi, lợi nhuận, thu nhập) Nhưng sau này các nhà xã hội học mở rộng phạm vi của mục tiêu bao gồm các yếu tố lợi ích

xã hội và tinh thần [6]

Lý thuyết về sự lựa chọn hợp lý, (còn được gọi là lý thuyết lựa chọn hay lý thuyết hành động hợp lý), là một khuôn khổ cho sự hiểu biết và thường chính thức mô hình hóa hành vi kinh tế và xã hội Những tiền đề cơ bản của

lý thuyết lựa chọn hợp lý là kết quả hành vi xã hội tổng hợp từ các hành vi của các diễn viên cá nhân, mỗi người được quyết định cá nhân của họ Do đó,

lý thuyết tập trung vào yếu tố quyết định sự lựa chọn cá nhân (cá nhân luận)

Ngày đăng: 20/04/2023, 06:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Mai Anh (2015): “Yêu cầu v ả p p xây dựn đ n ũ c n b t ờ kỳ n ập quốc tế”, Tạp chí Cộng sản điện tử, tháng 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu cầu v ả p p xây dựn đ n ũ c n b t ờ kỳ n ập quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Anh
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản điện tử
Năm: 2015
2. Đinh Xuân Chính (2010), đề tài “Xây dựn đ n ũ c n b cấp cơ sở ở G an ện nay”, Luận văn thạc sỹ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựn đ n ũ c n b cấp cơ sở ở G an ện nay
Tác giả: Đinh Xuân Chính
Nhà XB: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Năm: 2010
3. Nguyễn Mạnh Đường (1996), Bồ dưỡn v đ o tạo đ n ũ n ân lực trong đ ều k ện mớ Đề t KX-07-014, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồ dưỡn v đ o tạo đ n ũ n ân lực trong đ ều k ện mớ Đề t KX-07-014
Tác giả: Nguyễn Mạnh Đường
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
5. Lê Thị Bích Hạnh, (2011), đề tài “Đ o tạo bồ dưỡn c n b côn c ức cấp xã ở tỉn P ú Yên”, Luận văn thạc sỹ, Chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đ o tạo bồ dưỡn c n b côn c ức cấp xã ở tỉn P ú Yên
Tác giả: Lê Thị Bích Hạnh
Nhà XB: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2011
7. Nghị định số: 18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức, ngày 5 tháng 3 năm 2010. (dẫn theo: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/bo-may-hanh-chinh/nghi-dinh-18-2010-nd-cp-dao-tao-boi-duong-cong-chuc-101959.aspx ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số: 18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức
Năm: 2010
8. Vũ Huyền Nhung, (2020), Đề tài “Côn t c bồ dưỡn lý luận c ín trị c o đ n ũ c n b cấp xã ở huyện Giao Thủy, tỉn Nam Định hiện nay” Học viện Báo chí và Tuyên truyền, LV chuyên ngành Xây dựng Đảng và CQNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài “Côn t c bồ dưỡn lý luận c ín trị c o đ n ũ c n b cấp xã ở huyện Giao Thủy, tỉn Nam Định hiện nay”
Tác giả: Vũ Huyền Nhung
Nhà XB: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Năm: 2020
9. Lê Công Khởi (chủ nhiệm) (2012), Nân cao ệu quả oạt đ n n ên cứu t ực tế của ản v ên trườn c ín trị N uyễn V n Cừ tỉn Bắc N n a đoạn ện nay, Đề tài khoa học cấp trường, Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nân cao ệu quả oạt đ n n ên nghiên cứu t ực tế của ản v ên trườn c ín trị N uyễn V n Cừ tỉn Bắc N n a đoạn ện nay
Tác giả: Lê Công Khởi
Nhà XB: Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2012
11. GS. Hoàng Phê (chủ biên), 2008, Từ đ ển t ến v ệt c ủ b ên, Nhà Xuất bản Đà Nẵng, tr.719 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt củ bến
Tác giả: GS. Hoàng Phê
Nhà XB: Nhà Xuất bản Đà Nẵng
Năm: 2008
12. Nguyễn Minh Phương (Trường Đại học Nội vụ Hà Nội) “Côn t c đ o tạo bồ dưỡn c n b côn c ức v m t số vấn đề đặt ra tron n ập quốc tế”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, 7/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn t c đ o tạo bồ dưỡn c n b côn c ức v m t số vấn đề đặt ra tron n ập quốc tế
Tác giả: Nguyễn Minh Phương
Nhà XB: Tạp chí Tổ chức Nhà nước
Năm: 2018
13. Trịnh Thị Phương (2018), đề tài “Côn t c đ o tạo, bồ dưỡn c n b ở Trườn C ín trị tỉn Nam ện nay”, Luận văn Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn t c đ o tạo, bồ dưỡn c n b ở Trườn C ín trị tỉn Nam ện nay
Tác giả: Trịnh Thị Phương
Nhà XB: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Năm: 2018
14. Đào Phú Quý, T uyết n u cầu của A Maslow vớ v ệc đ n v ên n ườ lao đ n , Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 26 (2010) 78- 85 78 15. Từ đ ển t ến v ệt (2012), Nxb TPHCM, tr.72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T uyết n u cầu của A Maslow vớ v ệc đ n v ên n ườ lao đ n
Tác giả: Đào Phú Quý
Nhà XB: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh
Năm: 2010
19. Trịnh Việt Tiến “Va trò của đ o tạo bồ dưỡn c n b côn c ức đố vớ oạt đ n t ực t côn vụ”, Tạp chí Công thương tháng 4/2018.Trường Đại học Nội vụ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Va trò của đ o tạo bồ dưỡn c n b côn c ức đố vớ oạt đ n t ực t côn vụ
Tác giả: Trịnh Việt Tiến
Nhà XB: Tạp chí Công thương
Năm: 2018
20. Nguyễn Đức Tiệm (2011): “Nân cao c ất lượn ản dạy lý luận c ín trị ở trườn c ín trị N uyễn V n Cừ tỉn Bắc N n , Đề tài khoa học cấp trường, Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nân cao c ất lượn ản dạy lý luận c ín trị ở trườn c ín trị N uyễn V n Cừ tỉn Bắc N n
Tác giả: Nguyễn Đức Tiệm
Nhà XB: Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2011
21. Nguyễn Đại Thắng (2012), đề tài “Đ o tạo bồ dưỡn côn c ức n c ín cấp tỉn ở Bắc N n ện nay”, luận văn chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đ o tạo bồ dưỡn côn c ức n c ín cấp tỉn ở Bắc N n ện nay
Tác giả: Nguyễn Đại Thắng
Nhà XB: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Năm: 2012
22. Từ đ ển B c k oa V ệt Nam (1995), Nxb Trung tâm biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Trung tâm biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam
Năm: 1995
24. Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1999), “Đạ từ đ ển t ến v ệt”, Nxb văn hóa- thông tin, Hà nội. tr. 249T à Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạ từ đ ển t ến v ệt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Nxb văn hóa- thông tin
Năm: 1999
25. Đảng Nhân dân cách mạng Lào (2001), V n k ện Đạ đạ b ểu to n quốc lần t ứ VII, Nxb Quốc gia Lào, Viêng Chăn Sách, tạp chí
Tiêu đề: V n k ện Đạ đạ b ểu to n quốc lần t ứ VII
Tác giả: Đảng Nhân dân cách mạng Lào
Nhà XB: Nxb Quốc gia Lào
Năm: 2001
26. Khăm Phăn Vông Pha Chăn (2013), Đ o tạo đ n ũ c n b lãn đạo của ệ t ốn c ín trị ở C n o Dân c ủ N ân dân L o ện nay , Luận án tiến sĩ Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. [tr.31] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đ o tạo đ n ũ c n b lãn đạo của ệ t ốn c ín trị ở C n o Dân c ủ N ân dân L o ện nay
Tác giả: Khăm Phăn Vông Pha Chăn
Nhà XB: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2013
27. Vi Lath Sou Ni Chan (2009), đề tài “C ất lượn đ n ũ c n b c ủ c ốt cấp uyện ở T ủ đô V ên C n - nước C n òa dân c ủ n ân dân L o tron a đoạn ện nay”, Luận văn thạc sĩ, Chuyên ngành Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: đề tài “C ất lượn đ n ũ c n b c ủ c ốt cấp uyện ở T ủ đô V ên C n - nước C n òa dân c ủ n ân dân L o tron a đoạn ện nay”
Tác giả: Vi Lath Sou Ni Chan
Nhà XB: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2009
28. Phêng-Xạ-Vẳn Vông-Chăn-Đy (2000), đề tài “Nân cao c ất lượn đ n ũ c n b lãn đạo c ủ c ốt cấp uyện ở tỉn V ên C n C n òa dân c ủ N ân dân L o tron t ờ kỳ mớ ” Luận văn thạc sĩ, Chuyên ngành Xây dựng Đảng Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nân cao c ất lượn đ n ũ c n b lãn đạo c ủ c ốt cấp uyện ở tỉn V ên C n C n òa dân c ủ N ân dân L o tron t ờ kỳ mớ
Tác giả: Phêng-Xạ-Vẳn Vông-Chăn-Đy
Nhà XB: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w