1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI THẢO LUẬN MÔN LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ MỚI NHẤT

62 60 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Thảo Luận Môn Luật Sở Hữu Trí Tuệ Mới Nhất
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Sở Hữu Trí Tuệ
Thể loại Bài Thảo Luận
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 821,5 KB
File đính kèm b195128i-tl-in.zip (476 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ, BÀI THẢO LUẬN TỪ CÁC BUỔI HỌC, ĐIỂM CAO. Luật SHTT, Luật SHTT, LUẬT SỞLUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ, BÀI THẢO LUẬN TỪ CÁC BUỔI HỌC, ĐIỂM CAO. LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ, BÀI THẢO LUẬN TỪ CÁC BUỔI HỌC, ĐIỂM CAO. LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ, BÀI THẢO LUẬN TỪ CÁC BUỔI HỌC, ĐIỂM CAO. LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ, BÀI THẢO LUẬN TỪ CÁC BUỔI HỌC, ĐIỂM CAO. LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ, BÀI THẢO LUẬN TỪ CÁC BUỔI HỌC, ĐIỂM CAO. LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ, BÀI THẢO LUẬN TỪ CÁC BUỔI HỌC, ĐIỂM CAO. LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ, BÀI THẢO LUẬN TỪ CÁC BUỔI HỌC, ĐIỂM CAO. TRÍ TUỆ, BÀI THẢO LUẬN TỪ CÁC BUỔI HỌC, ĐIỂM CAO.

Trang 1

BUỔI THẢO LUẬN SỐ 1Phần A1: Lý thuyết

Câu 1 Vì sao cần phải bảo hộ tài sản trí tuệ? Quyền sở hữu trí tuệ có những đặc trưng

gì so với các tài sản hữu hình?

Thuật ngữ “tài sản trí tuệ” ngày càng được sử dụng phổ biến trong các văn bản quy phạmpháp luật của Việt Nam, điển hình là quy định về khái niệm “quyền sở hữu trí tuệ” trong Luật Sở

hữu trí tuệ Lần đầu tiên, thuật ngữ “tài sản trí tuệ” được sử dụng một cách trực tiếp: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả quyền quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng” (khoản

1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019 và 20221) Tuy nhiên, LuậtSHTT lại chưa đưa ra khái niệm “tài sản trí tuệ” một cách trực tiếp, khiến nó có vẻ như là “một kháiniệm phổ thông và được thừa nhận chung”

Việc tiếp cận tài sản trí tuệ hiện nay thường không trên phương diện pháp lí vì các văn bảnquy phạm pháp luật hiện tại cũng chưa quy định cụ thể về tài sản trí tuệ, kể cả BLDS năm 2015 Tàisản trí tuệ cần được tiếp cận trước tiên dưới góc độ tài sản Tài sản trí tuệ là một loại tài sản gắn vớitrí tuệ, hình thành từ hoạt động trí tuệ của con người Trí tuệ theo cách giải thích trong các từ điển

tiếng Việt là “Phần suy nghĩ, tư duy của con người, bao gồm những khả năng tưởng tượng, ghi nhớ, phê phán, lý luận, thu nhận tri thức có thể tiến lên tới phát minh khoa học, sáng tạo nghệ thuật”.2

Bất kì một sản phẩm mới nào khi được tung vào thị trường thì sẽ luôn phải đứng trước nguy

cơ bị đối thủ cạnh tranh sản xuất ra các sản phẩm giống hoặc tương tư, cũng như làm giả, làm nháicác logo, bao bì sản phẩm Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không những có ý nghĩa quan trọng mà còn

có vai trò to lớn không chỉ đối với chủ thể nắm quyền sở hữu, chủ thể sản xuất, kinh doanh vàngười tiêu dùng mà nó còn liên quan đến sự phát triển của cả quốc gia Chính vì vậy, tài sản trí tuệluôn cần phải được bảo hộ một cách chặt chẽ với những quy định của pháp luật Cụ thể:

Thứ nhất, bảo vệ sở hữu trí tuệ là khuyến khích sự sáng tạo: Đối với chủ thể nắm quyền

sở hữu, việc bảo hộ tài sản trí tuệ sẽ khuyến khích sự sáng tạo; thúc đẩy những nỗ lực, cống hiếncủa họ vào các hoạt động nghiên cứu; cải tiến kỹ thuật, tạo ra những sản phẩm tốt Ngoài ra việcbảo hộ tài sản trí tuệ còn nhằm bảo vệ thành quả sáng tạo trí tuệ, nếu không bảo hộ sẽ có nguy cơ bịchủ thể khác khai thác, sử dụng Khi một tài sản trí tuệ được bảo hộ sẽ có cơ sở pháp lý ngăn cấmchủ thể khác sử dụng, khai thác khi không có sự đồng ý của chủ thể sở hữu tài sản trí tuệ

1 Sau đây được viết tắt là Luật SHTT

Trang 2

Thứ hai, bảo vệ sở hữu trí tuệ thúc đẩy kinh doanh: Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ góp

phần giảm thiểu tổn thất, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh hợp pháp

Thứ ba, bảo vệ sở hữu trí tuệ là bảo vệ lợi ích người tiêu dùng: Bảo vệ quyền sở hữu trí

tuệ giúp người tiêu dùng có cơ hội lựa chọn, sử dụng các hàng hóa, dịch vụ chất lượng cao, đáp ứngnhu cầu của họ Ngoài ra, trên thị trường sẽ không còn tràn lan những sản phẩm giả, kém chấtlượng Các chủ thể đang sản xuất, kinh doanh những mặt hàng có chất lượng, có sự đầu tư trí tuệvào sản phẩm sẽ hạn chế bị ảnh hưởng về mặt uy tín và doanh thu

Thứ tư, bảo vệ sở hữu trí tuệ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh: Bảo vệ quyền sở hữu

trí tuệ hiệu quả sẽ tạo được môi trường cạnh tranh lành mạnh Là động lực thúc đẩy tăng trưởng

kinh tế.“Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, chỉ dẫn địa lý đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và thịnh vượng của nhiều doanh nghiệp, khu vực và quốc gia trên thế giới Bởi vậy, các quốc gia trên thế giới càng ngày càng quan tâm hơn tới việc đưa các sản phẩm của mình thâm nhập vào thị trường của các nước khác thông qua việc sử dụng chỉ dẫn địa lý Tuy nhiên do những lợi ích to lớn về thương mại mà chỉ dẫn địa lý mang lại cho người sử dụng, các chủ thể khác, vì mục đích tư lợi có thể sẵn sàng tìm mọi cách sử dụng danh tiếng đó, gây ảnh hưởng rất lớn đến các quốc gia và lãnh thổ sở hữu chỉ dẫn địa lý đó” 3

Thứ năm, bảo vệ sở hữu trí tuệ tạo uy tín cho doanh nghiệp: Nhờ vào bảo vệ sở hữu trí

tuệ, các doanh nghiệp sẽ xây dựng được “uy tín thương hiệu” của mình, được nhiều người biết đến

và tin dùng Bởi lẽ, họ đã phải trải qua thời gian dài đầu tư trong nhiều năm, mất rất nhiều chi phínghiên cứu và triển khai mới có thể đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng

Cuối cùng, bảo vệ sở hữu trí tuệ mang lại lợi ích quốc gia: Bảo hộ tài sản trí tuệ hiệu quả

sẽ tạo được môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh; là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,góp phần vào việc thu hút đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó bảo hộ tài sản trí tuệ còn mang lại lợi íchcho quốc gia không chỉ về kinh tế mà còn về chính trị cụ thể là bảo hộ tài sản trí tuệ đóng vai tròquan trọng trong việc hội nhập kinh tế nước ta với thế giới (Nếu muốn gia nhập làm thành viên của

Tổ chức Thương mại thế giới WTO thì điều kiện tiên quyết đối với các quốc gia là bảo hộ quyền sởhữu trí tuệ)

*Quyền sở hữu trí tuệ có 05 đặc trưng so với tài sản hữu hình cụ thể như sau:

Khái niệm: “không phải mọi thứ trí tuệ đều được bảo hộ dưới dạng quyền sở hữu trí tuệ Ngược lại không phải mọi quyền sở hữu trí tuệ đều là sản phẩm của trí tuệ”4

3 Nguyễn Thị Hương (2015), Bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với chỉ dẫn địa lý, kinh nghiệm của một số nước và thực tiễn tại Việt Nam,

Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 1.

4 Lê Nết (2006), Quyền sở hữu trí tuệ, Nxb Đại học quốc gia, tr 13.

Trang 3

Thứ nhất, tài sản trí tuệ là một tài sản vô hình: Đây là thành quả lao động sáng tạo hay uy

tín kinh doanh của các chủ thể, được pháp luật quy định bảo hộ Nó tồn tại dưới dạng quyền tài sản

và quyền nhân thân nên con người không thể chiếm hữu nó về mặt vật lý như tài sản hữu hình.Khác với tài sản vô hình, tài sản hữu hình là tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất (nhàxưởng, máy móc, thiết bị, vật tư, hàng hóa, ) có thể nhìn thấy được và có trị giá đo lường cụ thể

Thứ hai, quyền sử dụng đóng vai trò quan trọng: Vì tài sản trí tuệ là tài sản vô hình nên ít

đặt ra quyền chiếm hữu, còn quyền định đoạt trong một số trường hợp sẽ bị hạn chế vì Luật SHTTquy định về quyền định đoạt do đó quyền sở hữu trí tuệ nói chung thì quyền sử dụng đóng vai tròquan trọng, nó giúp khai thác lợi ích từ tài sản trí tuệ Tài sản trí tuệ có thể có hàng trăm, hàng ngànngười sử dụng cùng một thời điểm vì tài sản trí tuệ là tài sản vô hình nên nó không chịu sự ràngbuộc của một hình thái vật chất nhất định nó khác so với tài sản hữu hình

Thứ ba, bảo hộ có chọn lọc: Không phải mọi lao động trí tuệ đều được bảo hộ mà chỉ bảo

hộ những gì phù hợp với lợi ích, phù hợp với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Ví dụ như một tácphẩm được tạo ra những nội dung trái đạo đức, trái pháp luật thì không được bảo hộ

Thứ tư, bảo hộ mang tính lãnh thổ và có thời hạn:

*Mang tính lãnh thổ: Có giới hạn nhất định, chỉ được bảo hộ trong phạm vi một quốc gia,

trừ trường hợp khi có tham gia Điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ thì lúc đó phạm vi bảo hộ được

mở rộng ra các quốc gia thành viên

*Có thời hạn: Pháp luật có đặt ra thời hạn bảo hộ quy định tại Điều 27 Luật SHTT Trong

thời hạn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là bất khả xâm phạm Hết thời hạn bảo hộ này (bao gồm cảthời hạn gia hạn nếu có), tài sản đó trở thành tài sản chung của nhân loại, có thể được phổ biến mộtcách tự do mà không cần bất kỳ sự cho phép nào của chủ sở hữu

Còn bảo hộ quyền sở hữu tài sản hữu hình pháp luật không đặt ra thời hạn bảo hộ cho nhữngtài sản này, tài sản hữu hình có thời hạn bảo hộ tuyệt đối

Thứ năm, một sản phẩm trí tuệ có thể được bảo hộ bởi nhiều loại quyền sở hữu trí tuệ khác nhau

Ví dụ 1: Một bình hoa vừa được bảo hộ về kiểu dáng công nghiệp vừa được bảo hộ quyềntác giả

Ví dụ 2: Chiếc đầu đĩa CD thì việc bảo hộ độc quyền sáng chế được thực hiện đối với nhiều

bộ phận kỹ thuật của chiếc đầu đĩa Tên của nó được bảo hộ về nhãn hiệu Kiểu dáng cũng đượcbảo hộ bởi các quyền đối với kiểu dáng công nghiệp

Trang 4

Câu 2: Cho ví dụ về các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ: tác phẩm, sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại, thiết kế bố trí, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và giống cây trồng.

Ví dụ về đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ:

- Tác phẩm: có 12 loại hình được bảo hộ

1 Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiệndưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác: Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh

2 Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác: Bài giảng của giảng viên được ghi hình lại bằngđiện thoại di động (Trong trường hợp tác giả tự thực hiện việc định hình bài giảng, bài phátbiểu, bài nói khác dưới hình thức bản ghi âm, ghi hình, thì tác giả được hưởng quyền tácgiả đối với bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác; đồng thời là chủ sở hữu quyền liên quanđối với bản ghi âm, ghi hình.)

3 Tác phẩm âm nhạc:

4 Tác phẩm báo chí: Phóng sự của VTV về bánh mì Hến của Việt Nam

5 Tác phẩm sân khấu: Chèo, tuồng, cải lương, múa rối, kịch nói, kịch dân ca, kịch hình thể,nhạc kịch, xiếc, tấu hài, tạp kỹ và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác

6 Tác phẩm điện ảnh: Bộ phim Mắt Biếc của Đạo diễn Victor Vũ (Hình ảnh tĩnh được lấy ra

từ một tác phẩm điện ảnh là một phần của tác phẩm điện ảnh đó)

7 Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng

8 Tác phẩm kiến trúc: Bản vẽ thiết kế, công trình kiến trúc

9 Tác phẩm nhiếp ảnh: Hình ảnh chụp ruộng bậc thang ở Hà Giang từ một chiếc máy ảnh

10 Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học

11 Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian: Truyện, thơ, câu đố;Điệu hát, làn điệu âmnhạc;Điệu múa, vở diễn, nghi lễ và các trò chơi;

12 Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu

- Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn

đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên (khoản 12 Điều 4 Luật SHTT)

Ví dụ 1: Máy xúc lúa và nông sản vào bao do ông Hoàng Thanh Liêm (còn gọi là Ba Liêm,ngụ tại TP Cần Thơ) sáng chế

Ví dụ 2: Điện thoại, máy hút bụi, là sáng chế dưới dạng sản phẩm; quy trình xử lý rác thải thành nguồn năng lượng, cũng là đối tượng được bảo hộ dưới dạng sáng chế

- Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác

nhau (khoản 16 Điều 4 Luật SHTT)

Trang 5

Ví dụ 1: nhãn hiệu của Apple là hình quả táo cắn dở, Google là chữ cái kết hợp với màu sắc

- Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm hoặc bộ phận để lắp ráp thành

sản phẩm phức hợp, được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu

tố này và nhìn thấy được trong quá trình khai thác công dụng của sản phẩm hoặc sản phẩm phứchợp (khoản 13 Điều 4 SHTT)

Ví dụ : Hình dáng bên ngoài của xe oto, xe máy, cái ghế, cái bàn, hộp đựng thuốc hoặc hìnhdáng thể hiện bao bì của một sản phẩm,…

- Tên thương mại: là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân

biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khuvực kinh doanh (khoản 21 Điều 4 Luật SHTT)

Ví dụ 1: Công ty cổ phần Hàng không VietJet, Công ty Cổ phần Sữa Hà Nội,

Ví dụ 2: VIETCOMBANK, AGRIBANK, Công ty gốm sứ Minh Long, Công ty sản xuất nhựa Duy Tân,…

- Thiết kế bố trílà cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đótrong mạch tích hợp bán dẫn

Ví dụ: trong các thiết bị điện tử như máy tính, điện thoại… sẽ có các mạch điện tử (con

chip) và các mối liên kết các mạch điện tử thì đây là đối tượng bảo hộ dưới dạng thiết kế bố trímạch tích hợp bán dẫn

- Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ nguồn gốc địa lý của sản phẩm từ khu vực, địa

phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia cụ thể (khoản 22 Điều 4 Luật SHTT)

Ví dụ: Nước mắm Phú Quốc (đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý) khác với nước mắm Phan Thiết,

có thể khác nhau về quy trình chế biến, màu sắc của nước mắm,

- Bí mật kinh doanh: là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được

bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh ( khoản 23 Điều 4 Luật SHTT)

Ví dụ 1: Các số liệu, dữ liệu, các chương trình, kế hoạch của công ty về sản xuất sản phẩm,các bí quyết kinh doanh, quy trình công nghệ, thiết kế,…

Ví dụ 2: Công thức của món ăn, công thức bí mật tạo ra Coca Cola đang được bảo hộ, chiếnlược kinh doanh cũng có thể là bí mật kinh doanh,

- Giống cây trồng: là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất,

đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết được bằng sự biểu hiệncác tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt được với bất kỳ

Trang 6

quần thể cây trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di truyền được( khoản 24 Điều 4 Luật SHTT).

Ví dụ 1: Trước kia có thanh long ruột trắng, ngày nay còn có các loại thanh long ruột đỏ,…

Ví dụ 2: Giống lúa Mắt rồng (SR20) do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam laitạo thành công,…

Câu 3: Nêu những điểm khác biệt cơ bản trong việc bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp:

Những điểm khác biệt cơ bản trong việc bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp:

Khái niệm Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá

nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo

ra hoặc sở hữu (khoản 2 Điều 4 LuậtSHTT)

- Quyền sở hữu công nghiệp làquyền của tổ chức, cá nhân đối vớisáng chế, kiểu dáng công nghiệp,thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn,nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫnđịa lý, bí mật kinh doanh do mìnhsáng tạo ra hoặc sở hữu và quyềnchống cạnh tranh không lành mạnh(khoản 4 Điều 4 Luật SHTT)

hộ, nghĩa là quyền tác giả đã phát sinh

kể từ khi tác phẩm được sáng tạo vàđược thể hiện dưới một hình thức vậtchất nhất định (Khoản 1 Điều 6 LuậtSHTT)

Bảo hộ trên cơ sở có đăng ký: phải điđăng ký bảo hộ để được cấp vănbằng thì mới được bảo hộ (sáng chế,giải pháp hữu ích, kiểu dáng côngnghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọixuất xứ hàng hoá), trừ: nhãn hiệu nổitiếng, bí mật kinh doanh, tên thươngmại (Khoản 3 Điều 6 Luật SHTT)

Điều kiện

bảo hộ

Tác phẩm được bảo hộ quyền tác giảkhi thỏa mãn điều kiện là sản phẩmsáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ

Có 03 điều kiện chung:

- Tính mới;

Trang 7

thuật, khoa học, được thể hiện dưới mộthình thức vật chất nhất định và khôngphải là các đối tượng không thuộcphạm vi bảo hộ quyền tác giả.

- Trình độ sáng tạo;

- Khả năng áp dụng công nghệ

Tùy thuộc vào từng đối tượng bảo hộ

cụ thể mà phát sinh những điều kiện

hộ vô thời hạn (đặt tên tác phẩm, đứngtên thật hoặc bút danh, nêu tên thậthoặc bút danh khi tác phẩm được côngbố…) CSPL: Điều 27 Luật SHTT

Thời hạn bảo hộ ngắn hơn so vớithời hạn bảo hộ quyền tác giả (5 nămđối với KDCN, 10 năm đối với nhãnhiệu, 20 năm đối với sáng chế – cóthể gia hạn thêm 1 khoảng thời giantương ứng với từng đối tượng).CSPL: Điều 93 LSHTT

Trong đó, đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đốitượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chươngtrình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa Đối tượng quyền sở hữu côngnghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinhdoanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vậtliệu nhân giống và vật liệu thu hoạch

Giả sử áp dụng quy định của pháp luật SHTT hiện hành thì hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu có phải là đối tượng quyền SHTT hay không?

Giả sử áp dụng quy định của pháp luật SHTT hiện hành thì hồ sơ công bố tiêu chuẩn chấtlượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu thì đây không phải là đối tượng quyền SHTT.Bởi vì:

Trang 8

Thứ nhất, theo quy định của pháp luật SHTT hiện hành cụ thể là tại Điều 3 thì hồ sơ công bố

tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với 7 loại rượu không thuộc trong các nhómđối tượng quyền sở hữu trí tuệ

Thứ hai, theo tinh thần của Thông tư 19/2012/TT- BYT hướng dẫn việc công bố hợp quy và

công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm thì Hồ sơ này thực chất là tập hợp những tài liệu cóliên quan đến chất lượng, điều kiện vệ sinh, an toàn thực phẩm được ban hành theo mẫu của Bộ Y

tế Đây là các văn bản hành chính để thực hiện chức năng quản lý hành chính trong lĩnh vực vệ sinh

an toàn thực phẩm Chính vì vậy mà tính sáng tạo trong các hồ sơ này hoàn toàn không có Khikhông đáp ứng được tính sáng tạo thì đối tượng này không được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả

Thứ ba, về căn cứ xác lập quyền SHTT theo quy định tại Điều 6 Luật SHTT thì có nhiều đối

tượng phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có thể được bảo hộ quyềnSHTT Đối với mỗi đối tượng thì thẩm quyền cấp giấy phép thuộc về cơ quan khác nhau do LuậtSHTT quy định Từ đó xem xét đến hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩmđược thực hiện tại Sở Y tế, trong khi Sở Y tế không phải là cơ quan có thẩm quyền xác lập quyềnSHTT nên không đáp ứng điều kiện về đối tượng SHTT được bảo hộ

Từ những lập luận nêu trên, có thể thấy Luật SHTT đã quy định rất rõ ràng và cụ thể về đốitượng SHTT, theo đó hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm không phải làđối tượng quyền SHTT

Theo đó, Tòa án vẫn xác định các “hồ sơ công bố tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh, an toànthực phẩm của Cơ sở Phước Lộc Thọ được Sở Y tế TP Hồ Chí Minh tiếp nhận cho công bố khôngphải các đối tượng SHTT được pháp luật bảo hộ… ”

Dựa trên quy định của pháp luật SHTT hiện hành thì tác phẩm kiến trúc có phải là đối tượng quyền tác giả hay không? Vì sao?

Theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 14 Luật SHTT, tác phẩm kiến trúc là một trongnhững đối tượng của quyền tác giả Bởi vì, căn cứ vào Điều 15 Nghị định 22/2018/NĐ-CP, tác

phẩm kiến trúc là “tác phẩm thuộc loại hình kiến trúc, bao gồm:

a) Bản vẽ thiết kế kiến trúc về công trình hoặc tổ hợp các công trình, nội thất, phong cảnh.

b) Công trình kiến trúc.”

Như vậy, có thể nhận thấy rằng, tác phẩm kiến trúc là một sản phẩm của sự sáng tạo và đượcthể hiện dưới dạng một bản vẽ thiết kế và công trình kiến trúc rõ ràng, cụ thể Với đặc trưng gắnliền với công trình xây dựng, tác phẩm kiến trúc được bảo hộ quyền tác giả là cơ sở để thực hiện

Trang 9

các công trình xây dựng và việc xây dựng trên thực tế chính là mục đích cuối cùng của việc sángtạo tác phẩm kiến trúc đó

2/ Theo Tòa án xác định trong bản án số 4, đối tượng đang tranh chấp có phải là đối tượng quyền tác giả hay không? Vì sao Tòa án lại xác định như vậy?

Theo Tòa án xác định trong bản án số 4, đối tượng đang tranh chấp là đối tượng của quyềntác giả Tòa án đã theo hướng tồn tại một tác phẩm kiến trúc được bảo hộ Cụ thể, trước khi đi vàoxác định hành vi xâm phạm quyền tác giả hay không thì Tòa đã xét rằng “các bản vẽ thiết kế trêncủa tác giả Minh và Vĩnh là các tác phẩm kiến trúc phải thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giảtheo điểm i khoản 1 Điều 14 Luật SHTT” Tuy nhiên, Toà chưa lý giải tại sao đây là các tác phẩmkiến trúc được bảo hộ bởi quyền tác giả

Căn cứ theo Luật SHTT xác định tác phẩm kiến trúc là một loại hình tác phẩm được bảo hộquyền tác giả nhưng chưa cụ thể về loại tác phẩm kiến trúc Nghị định 100/2006 (được sửa đổi bởiNghị định 85/2011) thì khái niệm tác phẩm kiến trúc được quy định cụ thể hơn Theo Điều 17 Nghị

định 85/2011 thì “Tác phẩm kiến trúc quy định tại điểm i khoản 1 Điều 14 Luật SHTT là các bản

vẽ thiết kế dưới bất kỳ hình thức nào thể hiện ý tưởng sáng tạo về ngôi nhà, công trình xây dựng, quy hoạch không gian (quy hoạch xây dựng) đã qua hoặc chưa xây dựng …coi là tác phẩm kiến trúc độc lập” Bên cạnh đó việc các bản vẽ thiết kế về công trình kiến trúc đã được Cục Bản quyền

tác giả cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả vào tháng 6 năm 2011 cũng được xem là căn cứxác định tác phẩm kiến trúc là một loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

3/ Quan điểm tác giả bình luận có cho rằng đối tượng đang tranh chấp là đối tượng quyền tác giả không? Lập luận tác giả như thế nào về vấn đề này?

Theo quan điểm của tác giả bình luận, đối tượng đang tranh chấp là đối tượng của quyền tácgiả Luật SHTT xác định tác phẩm kiến trúc là một loại hình thức tác phẩm được bảo hộ quyền tácgiả nhưng chưa cụ thể về loại tác phẩm kiến trúc Theo Điều 17 của Nghị định 85/2011 đã quy định

cụ thể và chi tiết hơn, từ quy định của nghị định, tác giả đã rút ra hai đặc trưng cơ bản của kháiniệm “tác phẩm kiến trúc”:

Thứ nhất, theo khoản 1 Điều 6 Luật SHTT, “quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định”, với quy định trên, tác phẩm kiến trúc chỉ được bảo hộ nếu được thể hiện dưới hình thức “bản vẽ thiết kế” Do đó, nếu một bản

vẽ chưa rõ ràng, chưa cụ thể thì không coi đó là “bản vẽ thiết kế” nên không được bảo hộ quyền tác

giả

Thứ hai, nội dung thiết kế là ngôi nhà, công trình xây dựng, quy hoạch không gian đã hoặc

Trang 10

đựng các yếu tố: công năng, kỹ thuật vật chất và nghệ thuật Luật SHTT quy định đối tượng tác giảbao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học nhưng nếu xếp tác phẩm kiến trúc vào chỉ mộttrong ba nhóm này sẽ không phù hợp.

Trong vụ việc, đối tượng được nêu trong tranh chấp là các “ bản vẽ thiết kế” và đã được

“Cục Bản quyền tác giả cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả” đồng thời không có chủ thểnào phủ nhận điều này nên việc Tòa án xác nhận là thuyết phục Các bản vẽ này đều là các bản vẽthiết kế nên thỏa mãn yêu cầu thứ nhất về điều kiện tác phẩm kiến trúc Để phù hợp với điều kiệnthứ hai dựa trên tên gọi của các đối tượng để xác định tính chất của nó có phù hợp hay không Mặtkhác, do trong định nghĩa không ghi rõ không phân biệt có hay chưa có công trình xây dựng thựchiện từ tác phẩm kiến trúc nên vấn đề này không ảnh hưởng đến cơ sở xác lập có thỏa mãn hai điềukiện trên hay không

4/ Theo quan điểm của bạn, tác phẩm đang tranh chấp trong tình huống nêu trên có là đối tượng quyền tác giả hay không? Giải thích vì sao?

Theo quan điểm của nhóm, tác phẩm đang tranh chấp trong tình huống trên là đối tượng củaquyền tác giả Bởi vì theo khoản 1 Điều 6 Luật SHTT thì quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩmđược sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định Bởi lẽ tác phẩm kiến trúc chỉđược bảo hộ đó được thể hiện dưới hình thức “bản vẽ thiết kế” Đối tượng được nêu trong tranhchấp là các “bản vẽ thiết kế” và đã “được Cục Bản quyền tác giả cấp giấy chứng nhận đăng kýquyền tác giả”, đồng thời không có chủ thể nào phủ nhận điều này

Các bản vẽ đều là các bản vẽ thiết kế nên thỏa mãn yêu cầu thứ nhất về điều kiện tác phẩmkiến trúc (theo Khoản 1 Điều 6 Luật SHTT), đối tượng của các bản vẽ thiết kế này bao gồm: Nhàngũ gian tứ hạ, Nhà vọng nguyệt lục giác, Cổng tam quan cổ lầu, Khu gia nhà rường Việt Nam Ởđây, tuy chỉ có thể căn cứ trên tên gọi của các đối tượng này để xác định tính chất của nó chứ không

có bản vẽ có sẵn để xác định liệu rằng những đối tượng này có phải là “ngôi nhà, công trình xâydựng, quy hoạch không gian” hay không, nhưng nếu đúng như tên gọi được dùng thì các đối tượngnày đều có thể được xem là công trình xây dựng và phù hợp với đặc điểm thứ hai của tác phẩm kiếntrúc

BÀI THẢO LUẬN BUỔI 2

Câu 1 Phân tích mối liên hệ giữa quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả

Trang 11

Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2011, 2019 và 20225

quy định: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” Như vậy, khi cá nhân sáng tác ra một tác phẩm và thể hiện tác phẩm dưới dạng hình

thức nhất định Thông qua quá trình lao động sáng tạo hoặc một tổ chức, cá nhân được chuyển giaoquyền tác giả thì những tổ chức, cá nhân đó được xem là chủ thể của quyền tác giả

Theo khoản 3 Điều 4 Luật SHTT quy định “Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi

là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.” Có thể hiểu, những chủ

thể được sở hữu quyền liên quan này khi họ thực hiện một cuộc biểu diễn, hoặc tổ chức một buổibiểu diễn, buổi ghi hình, ghi âm…

Thứ nhất, quyền tác giả và quyền liên quan có mối liên hệ mật thiết với nhau:

Quyền tác giả là tiền đề, cơ sở thực hiện quyền liên quan, ví dụ như không có tác phẩm thìkhông có gì để biểu diễn, để truyền đạt đến công chúng Từ đó, có thể thấy, quyền tác giả đóng vaitrò quyết định

Quyền liên quan cũng tác động ngược trở lại quyền tác giả: Nếu một tác phẩm được chủ thểquyền liên quan truyền đạt đến công chúng được đón nhận thì mọi người biết nhiều hơn đến tácphẩm, làm tăng giá trị tác phẩm; hoặc nếu chủ thể quyền liên quan biểu diễn không tốt thì cũng ảnhhưởng, làm giảm giá trị của tác phẩm

Vì vậy, quyền liên quan tồn tại song song và có mối quan hệ mật thiết với quyền tác giả.Việc sáng tạo ra tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả là cơ sở để các chủ thể quyền liên quan tiếnhành các hoạt động của mình và từ đó làm phát sinh quyền liên quan

Thứ hai, các chủ thể trong quyền liên quan có vai trò quyết định:

Để có được quyền liên quan, các chủ thể như: người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm,ghi hình,… phải biểu diễn, thể hiện, phát sóng, tổ chức dựa trên tác phẩm gốc của chủ sở hữu quyềntác giả Tức là người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, người phát sóng có vai trò trunggian, truyền đạt, thông tin, nội dung, giá trị của tác phẩm gốc đến với công chúng

Cụ thể hơn, một tác phẩm được khi ra đời, được thể hiện dưới hình thức nhất định, đượccông bố nhưng chưa chắc được cộng đồng đón nhận, tiếp thu hết thông tin, giá trị mà tác phẩm đómang lại Thông qua các chủ thể trung gian của quyền liên quan, tác phẩm đó có thể đi vào lòngngười hơn, được công chúng đánh giá cao hơn bởi khả năng truyền đạt hấp dẫn và kỹ xảo của ngườibiểu diễn, cũng như tổ chức phát sóng, ghi âm, ghi hình,

Trang 12

Ví dụ: Đối với một bài hát, quyền tác giả bảo hộ phần nhạc của nhạc sĩ và phần ca từ của

người viết lời, và quyền liên quan sẽ được áp dụng đối với:

– Phần biểu diễn của nhạc công và ca sĩ trình bày bài hát đó;

– Bản ghi âm/ghi hình chứa bài hát đó của nhà sản xuất; và

– Chương trình phát sóng của tổ chức sản xuất chương trình chứa bài hát đó

Khi thực hiện quyền liên quan thì các chủ thể quyền liên quan phải tôn trọng các quyền nhânthân, quyền tài sản của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng Trongmối quan hệ với tác giả, quyền liên quan chỉ được bảo hộ với điều kiện không gây phương hại đếnquyền tác giả Quyền liên quan này tồn tại song song và gắn liền với tác phẩm, chỉ khi tác giả hoặcchủ sở hữu quyền tác giả cho phép khai thác và sử dụng tác phẩm thì những chủ thể của quyền liênquan mới có thể thực hiện để tạo ra sản phẩm Và cũng tương tự như quyền tác giả, những chủ thểcủa quyền liên quan cũng được bảo vệ quyền nhân thân, quyền tài sản đối với sản phẩm của mình

Ví dụ: việc biểu diễn một ca khúc chưa được công bố phải có sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác

giả và phải trả tiền theo quy định của pháp luật

Câu 2: Điểm b khoản 3 Điều 20 là một quy định hoàn toàn mới được bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2022 Theo đó, chủ sở hữu quyền tác giả không có quyền ngăn cấm tổ chức, cá nhân khác thực hiện hành vi “phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối” Anh/chị hiểu như thế nào về quy định này.

Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyềntài sản quy định tại Điều 20 của Luật này, theo đó, chủ sở hữu quyền tác giả chỉ nắm giữ quyền tàisản (nắm giữ toàn bộ hoặc một, một số quyền tài sản)6

Chủ thể hữu quyền tác giả có những quyền sau: (i) Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả hoặc

là các đồng tác giả: có các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 và các quyền tài sản quy định tạiĐiều 20 Luật SHTT; (ii) Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giảhoặc giao kết hợp đồng với tác giả; (iii)Chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế; (iv) Chủ sở hữuquyền tác giả là người được chuyển giao quyền và (v) Chủ sở hữu là Nhà nước: có các quyền quyđịnh tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 Luật SHTT Trong đó, có quyền tài sản theo cách hiểu củaBLDS, sẽ có những nhánh quyền cở bản bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền địnhđoạt Hành vi thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối được xác định là hành vi trong

6 Vũ Thị Hải Yến (2021), Một số góp ý sửa đổi quy định của Luật Sở hữu trí tuệ về chủ thể của quyền tác giả,Tạp chí khoa học pháp lý, Số 09(148) - [ https://tapchikhplvn.hcmulaw.edu.vn/module/xemchitietbaibao?oid=a2779591-f6cf-4de7-82c8- 60265e8a0078 ], truy cập ngày 07/9/2022.

Trang 13

nhánh quyền quyền định đoạt Nếu đã định đoạt thì dẫn đến một hệ quả pháp lý là chuyển giaoquyền định đoạt cho chủ thể còn lại trong mối quan hệ đó Nếu xem xét dưới góc độ pháp luật vềSHTT thì đó chính là tinh thần nguyên tắc cạn quyền Mà cụ thể là chủ sở hữu của các quyền SHTT

sẽ không còn quyền kiểm soát, can thiệp vào quá trình lưu thông tiếp theo của những sản phẩm,hàng hóa này7

Liên quan đến quyền sao chép và phân phối tác phẩm, nhiều nước còn đề cập đến “lý thuyết

về sự cạn quyền” hay “học thuyết về lần bán đầu tiên” Thuyết cạn quyền cho rằng khi một sảnphẩm (hay hàng hóa) nào đó được sản xuất dựa trên các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nhưquyền tác giả (bản quyền), nhãn hiệu, sáng chế,… và được đưa ra thị trường lần đầu tiên bởi chínhchủ sở hữu của các quyền sở hữu trí tuệ đó hay dưới sự cho phép của họ thì chủ sở hữu của cácquyền sở hữu trí tuệ sẽ không còn quyền kiểm soát, can thiệp vào quá trình lưu thông tiếp theo củanhững sản phẩm, hàng hóa này Lý thuyết này được áp dụng cả trong lĩnh vực quyền tác giả lẫntrong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp Ví dụ trong Luật SHTT, lý thuyết cạn quyền của tác giả

được hiểu như sau: Kể từ lần bán đầu tiên của một hoặc nhiều bản sao (dưới hình thức đã được định

hình) của tác phẩm với sự cho phép của tác giả hay chủ sở hữu quyền, việc bán lại các bản sao nàykhông thể bị cấm bởi các chủ thể quyền Sở dĩ có quy định như vậy là do tác giả hay chủ sở hữuquyền đã được nhận một khoản đền bù tương xứng để cho phép việc sao chép và phân phối các bảnsao tác phẩm đến công chúng nên họ không có quyền kiểm soát việc lưu hành các bản sao này trênthị trường nữa Nói cách khác quyền của chủ thể quyền tác giả đã bị “cạn kiệt” kể từ khi các bảnsao tác phẩm được đưa ra thị trường một cách hợp pháp lần đầu tiên Quy định như vậy nhằm tạothuận lợi cho sự tự do lưu thông các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học trên thị trường Ở châu

Âu, người ta gọi đây là nguyên tắc tự do lưu thông tác phẩm Ví dụ, một tác giả đồng ý để một nhàxuất bản tại Pháp được phép thương mại hóa cuốn sách của mình bằng việc xuất bản ra thị trường10.000 bản sao Đổi lại, tác giả được nhận một khoản đền bù tương xứng Kể từ thời điểm đó, tácgiả không có quyền kiểm soát việc người khác lưu thông, phân phối như thế nào đối với các bản saonày tại thị trường chung châu Âu (trừ phi có hành vi vi phạm quyền tác giả như sao chép tác phẩmđược bảo hộ) Như vậy, mọi người có quyền bán lại, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại,… các bản saotác phẩm mà không cần sự đồng ý của tác giả8

Trong các quy định về quyền tác giả của pháp luật SHTT Việt Nam tại điểm b khoản 3 Điều

20 là điều khoản quy định trường hợp ngoại lệ không thuộc quyền tài sản của Luật Sở hữu trí tuệ cụ

7 Trường Đại học Luật TP.HCM (2020), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ (Tái bản, có sửa chữa, bổ sung), Nxb Hồng Đức – Hội

Luật gia Việt Nam, tr.105.

8 Nguyễn Trọng Luận (2019), Luật Sở hữu trí tuệ – Bất cập và hướng hoàn thiện, Tạp chí Tòa án Nhân dân – [ https://tapchitoaan.vn/luat-so-huu-tri-tue-bat-cap-va-huong-hoan-thien ], truy cập ngày 07/9/2022

Trang 14

thể là điểm d khoản 1 Điều 20 LSHTT: “d) Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúngthông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm

dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này”.

Được biết, quyền phân phối tác phẩm được coi là một trong những phương thức sử dụng tácphẩm một cách độc lập Phân phối tác phẩm là việc đưa những vật thể thể hiện hoặc sao chép tácphẩm vào giao lưu dân sự thông qua các hợp đồng như mua bán, trao đổi, tặng cho… Đối tượngphân phối có thể là bản gốc hoặc bản sao của tác phẩm

Theo Khoản 3 Điều 21 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP quy định “Quyền phân phối bản gốc hoặc bản sao tác phẩm quy định tại điểm d khoản 1 Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện bằng bất kỳ hình thức, phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được để bán, cho thuê hoặc các hình thức chuyển nhượng khác bản gốc hoặc bản sao tác phẩm”.

Như vậy, không phải mọi quyền phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thôngqua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dướidạng hữu hình đều thuộc quyền tài sản của chủ sở hữu tác phẩm và chủ sở hữu tác phẩm không còn

có quyền ngăn cấm khi phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản saotác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối

Điểm sai trong ví dụ của bạn Linh:

Thứ nhất, Linh nhầm lẫn giữa khái niệm chủ sở hữu quyền tác giả với chủ sở hữu của tác

phẩm Cụ thể, chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ cácquyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này, theo đó, chủ sở hữu quyền tác giả chỉ nắm giữquyền tài sản (nắm giữ toàn bộ hoặc một, một số quyền tài sản) Chủ sở hữu của tác phẩm đượcxem là chủ sở hữu của tài sản theo quy định của pháp luật dân sự thông qua giao dịch mua bán

Trang 15

Thứ hai, đối với chi tiết này “Khi A đã bán bức tranh đó cho B thì A vẫn là tác giả

nhưng chủ sở hữu quyền tác giả của bức tranh lúc này là B” có thể xem xét tại khoản 1 Điều 41

Luật SHTT quy định “Tổ chức, cá nhân được chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ quyền quy

định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 của Luật này theo thỏa thuận trong hợp đồng là chủ

sở hữu quyền tác giả” Từ chi tiết trên có thể thấy nếu trong hợp đồng có thỏa thuận chuyển giao

một, một số hoặc toàn bộ quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 của Luật này thìđược xem là chủ sở hữu quyền tác giả Ngược lại, nếu không có thỏa thuận những nội dung trên thìchi tiết này sai

Câu 2 Phòng tập gym Mỹ Hòa in tờ rơi quảng cáo truyền thông cho hình ảnh phòng tập Mặt trước tờ rơi in các bài viết về lợi ích của việc tập gym (được lấy từ các trang báo điện tử) và có ghi nguồn cuối bài viết là “Theo Báo .”, mặt sau in thông tin của phòng tập và chính sách khuyến mãi cho khách hàng Hỏi phòng tập làm như vậy có vi phạm quyền tác giả không?

Đầu tiên, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 14 Luật SHTT quy định về các loại hình tácphẩm được bảo hộ quyền tác giả thì các bài viết về lợi ích của việc tập gym đăng trên trang báothuộc vào tác phẩm báo chí Từ đó, các bài viết về lợi ích của việc tập gym đăng trên trang báo màphòng tập gym Mỹ Hòa in tờ rơi quảng cáo truyền thông cho hình ảnh phòng tập thuộc đối tượngđược bảo hộ quyền tác giả

Điều đó đồng nghĩa với việc các bài viết này sẽ có từng tác giả riêng, Luật SHTT quy địnhcác quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản tại Điều 19, Điều 20 và các quyền tácgiả liên quan đến từng đối tượng được bảo hộ quyền tác giả từ Điều 21 đến Điều 25a Luật SHTT.Theo đó hành vi sử dụng và trích dẫn các bài viết nói về lợi ích của việc tập gym của phòng tập nàychiếu theo dữ liệu đề bài không nêu rõ mục đích sử dụng của phòng tập gym Mỹ Hoà đối với cácbài viết này là gì Tuy nhiên, nếu mục đích sử dụng của phòng tập Mỹ Hoà nhằm mục đích thươngmại thì vi phạm vào khoản 3 Điều 28 Luật SHTT, còn nếu không nhằm mục đích thương mại thìhành vi này cũng vi phạm điều khoản tương tự vì không thực hiện đúng với mục đích mà tại cáckhoản của Điều 25 đã quy định

Cơ sở pháp lý: điểm c khoản 1 Điều 14; Điều 19; Điều 20; Điều 21 đến Điều 25a; Điều 28

Luật SHTT

Câu 3 Nghiên cứu tranh chấp quyền tác giả trong vụ việc Truyện tranh Thần Đồng Đất Việt (thông qua các phương tiện thông tin đại chúng) và đánh giá các vấn đề pháp lý sau (trên cơ sở các thông tin này)? (Giả sử áp dụng quy định của Luật SHTT 2005 để giải quyết tranh chấp này.

Trang 16

a) Theo Luật SHTT, truyện tranh Thần Đồng Đất Việt có được bảo hộ quyền tác giả không?

Căn cứ khoản 2 Điều 4 Luật SHTT quy định: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”

Quyền tác giả phát sinh một cách tự động từ khi tác phẩm được sáng tạo ra và thể hiện dướidạng hình thức vật chất nhất định mà không bắt buộc phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền theoquy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật SHTT Ngoài ra, tác phẩm thuộc loại hình tác phẩm được thểhiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; là tác phẩm mỹ thuật ứng dụng (điểm g khoản 1 Điều 14Luật SHTT), xét điều kiện về chủ thể thì truyện tranh Thần Đồng Đất Việt đủ điều kiện theo quyđịnh tại Điều 13 Luật SHTT, hơn nữa tác phẩm này không thuộc trường hợp các đối tượng khôngthuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả theo quy định tại Điều 15 Luật SHTT năm 2005

Vì vậy, truyện tranh Thần Đồng Đất Việt thuộc trường hợp được bảo hộ quyền tác giả

Cơ sở pháp lý: Khoản 2 Điều 4, Điều 13, Điểm a, g Khoản 1 Điều 14, Điều 15 Luật SHTT b) Ai là chủ sở hữu của hình thức thể hiện của các nhân vật Trạng Tí, Sửu Ẹo, Dần Béo, Cả Mẹo trong bộ truyện tranh Thần Đồng Đất Việt?

Theo quy định tại Điều 25 Nghị định 22/2018/NĐ-CP, chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm tổchức, cá nhân Việt Nam Trong trường hợp “Thần Đồng Đất Việt”, theo đó công ty Phan Thị là chủ

sở hữu quyền tác giả thuộc loại tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồngvới tác giả để sáng tạo ra tác phẩm Hợp đồng được ký kết giữa Lê Linh và công ty Phan Thị vàonăm 2002 và văn bản đăng ký ở Cục Bản quyền tác giả để Lê Linh chuyển giao quyền tài sản chocông ty này đồng thời khẳng định công ty Phan Thị là chủ sở hữu quyền tác giả cho bộ truyện ThầnĐồng Đất Việt “Ngày 29/3/2002, theo yêu cầu của bà Hạnh, ông có ký đơn để Công ty Phan Thịđăng ký quyền sở hữu đối với 4 hình tượng nhân vật Trạng Tí, Sửu Ẹo, Dần Béo, Cả Mẹo Sau đó,Công ty Phan Thị được Cục bản quyền cấp Giấy chứng nhận ghi nhận là chủ sở hữu bản quyền của

4 hình tượng nhân vật trên” Như vậy, chủ sở hữu quyền tác giả cho bộ truyện Thần Đồng Đất Việtnày là công ty Phan Thị

c) Ai là tác giả của hình thức thể hiện của các nhân vật Trạng Tí, Sửu Ẹo, Dần Béo, Cả Mẹo trong bộ truyện tranh Thần Đồng Đất Việt?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 12a Luật SHTT quy định tác giả phải là người trực tiếp sángtạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học Đồng thời, tác giả phải làngười trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học.Những điều chỉ nằm trong suy nghĩ (tồn tại dưới dạng những ý tưởng) mà không được thể hiện ra

Trang 17

bên ngoài dưới một hình thức vật chất nhất định mà qua đó tính sáng tạo về giá trị vật chất hoặctinh thần được bộc lộ thì đó không phải là tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học.

Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 12a Luật SHTT quy định người hỗ trợ góp ý kiến hoặc cung cấp

tư liệu cho người khác không được công nhận là tác giả hay đồng tác giả

Trong vụ việc này, bà Phan Thị Mỹ Hạnh cho rằng mình đã nghĩ ra những ý tưởng trong đầu

về 4 hình tượng nhân vật và thuê hoạ sĩ Lê Linh thể hiện ý tưởng đó trên giấy Những ý tưởng nàykhông tồn tại ở dạng vật chất hay dạng thức có thể nhận biết được nên không đáp ứng những quyđịnh của Luật Sở hữu trí tuệ và không được pháp luật Việt Nam bảo hộ Vì vậy, bà Phan Thị MỹHạnh không được công nhận là đồng tác giả của bộ truyện

Tác giả của bốn hình tượng nhân vật trong truyện này là ông Lê Phong Linh (Lê Linh) Bởi

vì, ông là người trực tiếp thực hiện các công việc từ hình thành ý tưởng sáng tạo đến vẽ hình tượngnhân vật và dự kiến số tập truyện phải xuất bản trong năm sáng tạo ra bốn hình tượng thể hiện củacác nhân vật Trạng Tí, Sửu Ẹo, Dần Béo, Cả Mẹo hoặc xuyên tạc các tác phẩm này

Ngoài ra, tập 24, phần phụ lục ghi nhận quy trình thực hiện bộ truyện tranh Thần Đồng ĐấtViệt: Bà Hạnh chỉ đạo trực tiếp, họa sĩ Lê Linh tính toán, phần soạn kịch bản, phác họa sơ bộ vàgiai đoạn lột tả đều do họa sĩ Lê Linh trực tiếp thực hiện, bà Hạnh và ông Bá Hiền chỉ góp ý, sửađổi nếu có Tập 37, trang bìa cuối in bài và ảnh ông Lê Phong Linh có nội dung “Đôi nét về tác giả

Lê Linh”; mục “Thư quán” là nội dung giao lưu giữa bạn đọc với tác giả bộ truyện – ông Lê Linh,

đã ghi nhận ý tưởng về một bộ truyện tranh sử dụng các tích trạng làm nội dung chính là của bà MỹHạnh, còn ông Linh nghiên cứu sáng tạo các nhân vật, chọn tích trạng, soạn kịch bản, bố cục, phácthảo, lên kế hoạch sáng tác, v.v để cho ra đời bộ truyện tranh Thần Đồng Đất Việt Đến nay, Công

ty Phan Thị vẫn không có văn bản đính chính các thông tin nêu trên

Như vậy, có thể xác định ông Lê Linh là tác giả duy nhất của truyện tranh Thần Đồng ĐấtViệt

Cơ sở pháp lý: khoản 1, khoản 2 Điều 12a Luật SHTT.

d) Công ty Phan Thị có quyền gì đối với bộ truyện tranh Thần Đồng Đất Việt?

Trong vụ việc, ông Lê Linh là tác giả thực hiện tác phẩm theo Hợp đồng lao động với PhanThị nên công ty Phan Thị được công nhận là chủ sở hữu quyền tác giả nên có các quyền tài sản đốivới tác phẩm này Chủ sở hữu quyền tác giả là người có quyền sử dụng, định đoạt tác phẩm Điều

36 Luật SHTT có quy định: “Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ quyền quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 của Luật này.” Các quyền

của công ty Phan Thị đối với bộ truyện tranh Thần Đồng Đất Việt

Trang 18

- Quyền tài sản: Điều 20 Luật SHTT;

- Quyền nhân thân: Khoản 3 Điều 19 Luật SHTT;

- Quyền chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan: Điều 45 Luật SHTT;

- Quyền chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan: Điều 47 Luật SHTT

Do công ty Phan Thị là chủ sở hữu quyền tác giả thuộc loại tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụcho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả để sáng tạo ra tác phẩm theo Điều 39 Luật SHTT.Hợp đồng được ký kết giữa Lê Linh và công ty Phan Thị và văn bản đăng ký ở Cục Bản quyền tácgiả để Lê Linh chuyển giao quyền tài sản cho công ty Tuy nhiên, tác giả chỉ có thể chuyển giaoquyền tài sản được quy định tại Điều 20 của Luật SHTT còn quyền nhân thân gắn với tác giả làquyền không thể chuyển giao được, thậm chí là khi tác giả đồng ý thì pháp luật vẫn không chophép Hầu như trong mọi trường hợp, chủ sở hữu hoàn toàn có quyền tài sản đối với tác phẩm trừtrường hợp tác giả và chủ sở hữu tác phẩm có thỏa thuận khác Tuy nhiên, giữa công ty Phan Thị vàtác giả Lê Linh không tồn tại thỏa thuận nào khác

Như vậy, trong trường hợp này, công ty Phan Thị sẽ có các quyền quy định tại khoản 3 Điều

19 và khoản 1 Điều 20 của Luật này.”

Cơ sở pháp lý: Điều 36, Điều 45, Điều 47 Luật SHTT.

e) Việc công ty Phan Thị cho xuất bản bộ truyện từ tập 79 trở đi có phù hợp với quy định pháp luật không?

Việc công ty Phan Thị cho xuất bản bộ truyện từ tập 79 trở đi là không phù hợp với quy địnhpháp luật, cụ thể là xâm phạm đến quyền nhân thân của tác giả Lê Linh

Căn cứ vào các quy định ở Điều 6, Điều 13 Luật nhận thấy ngoài ông Lê Linh thì không cònbất kỳ ai tham gia vào quá trình sáng tạo ra tác phẩm Thần Đồng Đất Việt Bà Hạnh không phải làtác giả của 4 hình tượng nhân vật Do đó, bà Hạnh không được công nhận là đồng tác giả Hợpđồng được ký kết giữa Lê Linh và công ty Phan Thị và văn bản đăng ký ở Cục Bản quyền tác giả để

Lê Linh chuyển giao quyền tài sản cho công ty này đồng thời khẳng định công ty Phan Thị là chủ

sở hữu quyền tác giả cho bộ truyện Thần Đồng Đất Việt chứ không có nội dung ghi ai là tác giả hayđồng tác giả mà chỉ ghi chủ sở hữu là của Phan Thị

Tuy nhiên, bị đơn lại không có quyền cắt xén tác phẩm, thực hiện các hành vi dưới bất kỳhình thức nào gây phương hại đến danh dự, uy tín tác giả Tại phiên tòa sơ thẩm, HĐXX đối chiếuvới quy định của Nghị định 22/2018/NĐ-CP, việc Phan Thị tiếp tục sáng tác các tập truyện (từ tập79) là hành vi tự sửa chữa tác phẩm, không được sự đồng ý của tác giả Bộ truyện Thần Đồng ĐấtViệt là do Công ty Phan Thị phát hành, có sử dụng hình thức thể hiện của 4 nhân vật này Tuy Công

Trang 19

ty Phan Thị là chủ sở hữu tác phẩm là hình thức thể hiện của 4 nhân vật, được quyền sử dụng hìnhtượng 4 nhân vật này vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình nhưng phải tôn trọng quyềnnhân thân của tác giả là sự toàn vẹn của tác phẩm Việc đưa hình ảnh các nhân vật này vào nội dungtruyện cần thể hiện các nét mặt, tư thế, hành động phù hợp với nội dung cốt truyện sẽ làm sai lệch

so với hình thức thể hiện gốc Việc làm sai lệch so với hình thức thể hiện gốc không có sự đồng ýcủa tác giả, đồng thời Công ty Phan Thị không ghi chú rõ việc sử dụng hình thức thể hiện của 4nhân vật Trạng Tí, Sửu Ẹo, Dần Béo, Cả Mẹo là tác phẩm của tác giả Lê Phong Linh Do đó, Hộiđồng xét xử có căn cứ xác định Công ty Phan Thị đã có hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tácgiả Lê Phong Linh theo quy định tại Điều 19, khoản 5 Điều 28 Luật SHTT

Theo Nghị định 22/2018 NĐ-CP, thì công ty Phan Thị đã vượt quá thẩm quyền và xâmphạm đến quyền tác giả Đồng thời, áp dụng Luật SHTT thì Phan Thị vẫn có hành vi xâm phạm đếnquyền nhân thân của tác giả Cụ thể, theo giấy chứng nhận bản quyền tác giả, hình thức thể hiện 4nhân vật chỉ được diễn hoạt ở một vài khía cạnh trước sau, bên trái, bên phải Đây được xem là hìnhthức thể hiện gốc của tác phẩm Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngônngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, tức là một tácphẩm sáng tạo dựa trên một nguyên bản của tác phẩm gốc Tác phẩm phái sinh chỉ được công nhậnkhi không phương hại đến quyền nhân thân của tác giả Tuy nhiên, theo các bằng chứng tại tòa,Phan Thị đã có các hành vi sửa chữa và cắt xén các hình tượng nhân vật này, tạo nên những đặcđiểm khác với hình thức thể hiện gốc mà Lê Linh đã đăng ký

BUỔI THẢO LUẬN SỐ 3

Câu 1 Phân tích nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc về quyền ưu tiên Các nguyên tắc này được áp dụng cho những đối tượng nào?

Thứ nhất, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên:

Trong hoạt động sản xuất công nghiệp cũng như trong thực tiễn kinh doanh, việc tạo ra một giải pháp kỹ thuật hay đầu tư cho một nhãn hiệu có thể là mục tiêu hướng đến của nhiều chủ thể khác

Trang 20

nhau Việc nhiều chủ thể cùng đầu tư trí tuệ, công sức, tài chính một cách độc lập có thể mang lại những kết quả sáng tạo giống hoặc tương tự nhau và họ đều mong muốn nhận được sự bảo hộ kết quả sáng tạo của họ Trong khi đó, cơ chế bảo hộ SHCN chỉ dành độc quyền cho chủ thể duy nhất Xuất phát từ mục tiêu của pháp luật sở hữu trí tuệ là bảo vệ sự sáng tạo, vì vậy, có quan điểm cho rằng cần phải dành sự ưu tiên bảo hộ cho người đầu tiên sáng tạo ra hay còn gọi là “nguyên tắc sángtạo đầu tiên” Tuy nhiên, do pháp luật không bắt buộc nhà sáng chế phải công bố hay đăng ký sáng tạo của mình nên trên thực tế, nhiều khi rất khó xác định được ai là người sáng tạo đầu tiên Vì vậy,hầu hết các quốc gia trên thế giới đã đồng thuận chọn giải pháp dành quyền ưu tiên cho người đầu tiên nộp đơn đăng ký bảo hộ đối tượng SHCN tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền – được gọi là nguyên tắc sáng tạo đầu tiên9.

Điều 90 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2011, 2019 và 202210 quy định

về nguyên tắc nộp đơn đầu tiên áp dụng với sáng chế, KDCN và nhãn hiệu Theo quy định này, có thể thấy nguyên tắc này được áp dụng trong các đơn đăng ký bảo hộ sáng chế, KDCN và nhãn hiệu.Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký cùng một đối tượng trùng hoặc tương đương với nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho đơn đáp ứng được các điều kiện: (i) phải là đơn hợp lệ ; (ii) có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ

Cụ thể, trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký sáng chế/KDCN/nhãn hiệu cùng đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho đối tượng của một đơn duy nhất trong số các đơn đó theo thoả thuận của tất cả những người nộp đơn; nếu không thoả thuận được thì các đối tượng tương ứng của các đơn đó bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ

Vì vậy, điều quan trọng để được cấp văn bằng bảo hộ đối với các đối tượng SHCN chính là việc chủ sở hữu, tác giả của các đối tượng đó nộp sớm hay muộn đơn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu côngnghiệp

Cách xác định ngày ưu tiên:

- Áp dụng đối với người đã nộp đơn đăng ký quyền sở hữu công nghiệp đầu tiên tại Việt Nam hoặc tại các quốc gia là thành viên của một số điều ước quốc tế về sở hữu công nghiệp như Công ước Paris về sở hữu công nghiệp, Công ước PCT về bảo hộ sáng chế

- Pháp luật Việt Nam quy định trong trường hợp đã nộp đơn đầu tiên tại Việt Nam hoặc các quốc gia là thành viên của Công ước Paris về sở hữu công nghiệp, Công ước PCT về bảo hộ

9 Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Nxb Công an nhân dân, tr.221.

10 Sau đây được viết tắt là Luật SHTT

Trang 21

sáng chế thì người nộp đơn đầu tiên có quyền được hưởng quyền ưu tiên cho đối tượng đã được nộp trong đơn đầu tiên trong thời hạn nhất định (theo công ước Paris, thời hạn hưởng quyền ưu tiên đối với sáng chế là 12 tháng tính từ ngày nộp đơn đơn đầu tiên, và 6 tháng đối với quyền ưu tiên KDCN và nhãn hiệu).

- Nếu trong thời gian kể từ ngày nộp đơn đầu tiên đến ngày nộp đơn tại Việt Nam mà có người khác nộp đơn cho cùng đối tượng giống hoặc tương tự đơn của B thì đơn của B vẫn được coi là có ngày nộp đơn đầu tiên và được ưu tiên bảo hộ.11

Ví dụ: A nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu X tại Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam ngày 01/01/2019, B

cũng nộp yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu trùng với nhãn hiệu X tại Cục sở hữu trí tuệ ngày 01/01/2019 nhưng có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở đơn đầu tiên đăng ký nhãn hiệu X đó nộp tại Pháp vào ngày 11/11/2018 thì ngày ưu tiên của B là ngày 11/11/2018, khi đó đơn đăng ký của A sẽ

- Giúp cơ quan nhà nước dễ dàng xác định được chủ thể nào được cấp văn bằng và ít nảy sinh tranh chấp hơn

- Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo

Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có hạn chế nhất định như việc chỉ công nhận người nộp đơn đầu tiên mới được bảo hộ mà trên thực tế đã có người sáng tạo hoặc sử dụng trước sáng chế, KDCN, nhãn hiệu nhưng vì một lý do nào đó mà họ không đăng ký hoặc đăng ký chậm nên không được bảo

hộ Và như vậy, việc áp dụng nguyên tắc này chỉ giúp cho việc quản lý của cơ quan nhà nước dễ dàng hơn nhưng lại dẫn đến việc không công bằng với những người sáng tạo đầu tiên

Thứ hai, nguyên tắc ưu tiên:

Nguyên tắc ưu tiên đã được ghi nhận tại Điều 4 Công ước Paris về bảo hộ SHCN và được quy định tại Điều 91 Luật SHTT Quyền ưu tiên này sẽ được áp dụng khi có ít nhất hai đơn cùng đăng ký để bảo hộ cho cùng một sáng chế, KDCN hay nhãn hiệu Ngày nộp đơn có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng được cấp văn bằng bảo hộ theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên Trên thực tế, một chủ thể có

Trang 22

thể muốn đăng ký bảo hộ sáng chế, KDCN hay nhãn hiệu tại nhiều quốc gia khác nhau nhưng vì lí

do thủ tục phức tạp nên việc nộp đơn tại nước ngoài có thể chậm hơn12 Vì vậy, Điều 4 Công ước Paris đã quy định “nguyên tắc ưu tiên”, dành “quyền tru tiên” cho người nộp đơn đăng ký sáng chế,

mẫu hữu ích (hay giải pháp hữu ích), KDCN, nhãn hiệu: “Bất kì người nào đã nộp đơn hợp lệ xin cấp patent hoặc xin đăng ký mẫu hữu ích, KDCN hoặc nhãn hiệu hàng hoa tại một trong các nước thành viên của Liên minh hoặc người thừa kế hợp pháp của người đó, trong quá trình nộp đơn ở các nước khác sẽ được hưởng quyền ưu tiên trong thời hạn ấn định”.

Theo quy định tại Điều 4 Công ước Paris, ngày nộp đơn đầu tiên tại một trong các nước thành viên Công ước Paris sẽ được công nhận là “ngày ưu tiên” khi đăng ký sáng chế, giải pháp hữu ích, KDCN, nhãn hiệu ở các quốc gia thành viên khác Trên cơ sở Công ước Paris, pháp luật SHTT ViệtNam quy định điều kiện để được hưởng quyền ưu tiên là:

+ Người nộp đơn là công dân Việt Nam hoặc công dân của nước thành viên của Công ước Paris hoặc cư trú, có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam hoặc tại nước thành viên Công ước đó;+ Đơn đầu tiên đã được nộp tại Việt Nam hoặc tại nước thành viên của Công ước Paris và đơn đó

có chứa phần tương ứng với yêu cầu hưởng quyền ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế, KDCN, nhãn hiệu;

+ Đơn đăng ký được nộp trong thời hạn quy định (12 tháng kể từ ngày nộp đơn đầu tiên đối với sáng chế; 6 tháng kể từ ngày nộp đơn đầu tiên đối với nhãn hiệu, KDCN);

+ Trong đơn đăng ký, người nộp đơn có nêu rõ yêu cầu hưởng quyền ưu tiên và có nộp bản sao đơnđầu tiên trong trường hợp nộp tại nước ngoài, trong đó có xác nhận của cơ quan nhận đơn đầu tiên;+ Nộp đủ lệ phí yêu cầu hưởng quyền ưu tiên

Trong trường hợp người nộp đơn đăng ký sáng chế, KDCN, nhãn hiệu muốn hưởng quyền ưu tiên theo điều ước quốc tế khác, yêu cầu hưởng quyền ưu tiên sẽ được chấp nhận nếu đáp ứng được các điều kiện về quyền ưu tiên quy định trong điều ước đó

Tuy nhiên, cần lưu ý là việc áp dụng nguyên tắc ưu tiên này không giống nhau ở mỗi quốc gia Do

đó, người nộp đơn nên tìm hiểu kỹ trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh tại mỗi quốc gia cụ thểtranh các trường hợp bị mất thương hiệu hoặc các tài sản trí tuệ khác

Ý nghĩa:

- Là căn cứ xác định điều kiện bảo hộ, giải quyết tranh chấp khi có hành vi xâm phạm

12 Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Nxb Công an nhân dân, tr.222.

Trang 23

- Là một lợi thế cho chủ sở hữu khi muốn thực hiện quyền sở hữu trí tuệ của mình tại quốc gia khác

do việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đăng ký

- Tạo điều kiện cho việc bảo vệ sáng chế, KDCN và nhãn hiệu không chỉ ở trong phạm vi quốc gia

đã đăng ký mà còn mở rộng ra các quốc gia khác Điều này góp phần hạn chế các hành vi xâm phạm quyền đối với các đối tượng trên

Câu 2 Tóm tắt các bước trong quy trình xử lý đơn và cấp Bằng độc quyền sáng chế.

Sáng chế là một giải pháp kĩ thuật được thể hiện dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình với mụctiêu giải quyết một vấn đề hay ứng dụng Thủ tục đăng ký sáng chế là thủ tục quan trọng và cần thiết để bảo hộ cho sản phẩm, quy trình mà cá nhân (hay còn gọi là tác giả) sáng tạo ra Trước khi tiến hành đăng ký sáng chế tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải đảm bảo rằng Sáng chế đáp ứng được tính mới (một trong những sai lầm rất nghiêm trọng mà người dân Việt Nam thường hay mắc phải đó là có hoạt động quảng cáo, sử dụng rộng rãi, đăng tải lên website công bố sản phẩm/ quy trình dẫn tới tình trạng mất tính mới Sáng chế)

Bước 1: Nộp đơn đăng ký sáng chế tại Cục SHTT Việt Nam ( Điều 108 Luật SHTT)

- 02 bản Tờ khai Đăng ký sáng chế (theo mẫu quy định);

- 02 Bản mô tả Sáng chế kèm theo hình vẽ (nếu có);

- Yêu cầu bảo hộ đối với sáng chế;

- Phí, lệ phí đăng ký sáng chế;

- Giấy tờ khác (nếu có);

- Nếu hồ sơ đầy đủ giấy tờ tối thiểu chuyên viên sẽ thụ lý hồ sơ, lưu hồ sơ và trả lại 01 bản lưulại cho phía chủ đơn

Bước 2: Thẩm định hình thức đơn đăng ký sáng chế ( Điều 109 Luật SHTT)

Việc thẩm định về hình thức của đơn đăng ký sáng chế là việc kiểm tra các thông tin trong hồ sơ đăng ký có đầy đủ, chính xác hay không, các tài liệu kèm theo và lệ phí đăng ký Nếu:

+ Hồ sơ hợp lệ: Cục SHTT sẽ ban hành Quyết định chấp nhận đơn hợp lệ;

+ Hồ sơ có thiếu sót: Cục SHTT sẽ ra Công văn thông báo kết quả thẩm định hình thức (nội dung chỉ ra những thiếu sót cần khắc phục)

+ Thời hạn thẩm định về hình thức là 1 tháng kể từ thời điểm tiếp nhận đơn

Bước 3: Công bố đơn đăng ký sáng chế hợp lệ trên Công báo sở hữu công nghiệp ( Điều 110 Luật SHTT)

Trang 24

Chỉ khi đơn đăng ký được chuyên viên ghi nhận trên Hệ thống chấp nhận đơn hợp lệ thì đơn đăng

ký sẽ mặc định được chuyển ra phòng ban khác thực hiện giai đoạn 2 (Công bố đơn) Công bố đơn được thực hiện trên Công báo Sở hữu công nghiệp của Cục SHTT trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày được chấp nhận đơn hợp lệ hoặc tháng thứ 19 kể từ ngày nộp đơn Khách hàng/chủ đơn có thểvào công báo điện tử trên website của Cục SHTT để tham khảo nội dung đơn đăng ký được ghi nhận trên công báo

Bước 4: Yêu cầu thẩm định nội dung đơn đăng ký bảo hộ sáng chế ( Điều 113 Luật SHTT)

Sau khi đơn đăng ký sáng chế được công bố hợp lệ, Cục SHTT sẽ tiến hành thẩm định nội dung đơn khi có yêu cầu thẩm định nội dung của người nộp đơn hoặc bên thứ 3 và người yêu cầu thẩm định phải nộp phí tra cứu và phí thẩm định nội dung theo quy định trong thời hạn 42 tháng tính từ ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên

Bước 5: Thẩm định nội dung đơn đăng ký bảo hộ sáng chế ( Điều 114 Luật SHTT)

Việc thẩm định nội dung đơn nhằm kiểm tra trực tiếp các điều kiện bảo hộ của Sáng chế có đáp ứngđược tiêu chuẩn hay không? Thời hạn thẩm định nội dung sáng chế là 12 tháng kể từ ngày yêu cầu thẩm định nội dung (tuy nhiên, thời gian thực tế sẽ bị xử lý kéo dài hơn) Nếu:

+ Sáng chế đáp ứng được đầy đủ tiêu chuẩn bảo hộ: Chuyên viên ra Công văn dự định cấp văn bằng

và nộp lệ phí

+ Sáng chế không đáp ứng một trong các tiêu chuẩn bảo hộ: Chuyên viên ra Công văn thông báo kết quả thẩm định nội dung (nội dung nêu rõ lý do chưa đáp ứng)

Bước 6: Cấp hoặc từ chối cấp bằng độc quyền sáng chế ( Điều 117,118 Luật SHTT)

Sau khi thực hiện xong việc thẩm định nội dung khách hàng nhận được công văn dự định cấp văn bằng thì có nghĩa sáng chế đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo quy định của pháp luật

Bước 7: Công bố

Khi hoàn tất mọi thủ tục chủ thể nộp đơn sẽ được cấp Bằng độc quyền sáng chế và được ghi vào Sổđăng ký quốc gia về SHCN

Phần A2: Bài tập

Bài tập 1: Viện Khoa học X đã nghiên cứu và sản xuất thành công sản phẩm “máy điều hòa

sử dụng năng lượng nhân tạo” và đã đưa ra giới thiệu trong triển lãm về công nghệ tổ chức vào ngày 14/12/2019 Sau đó, Viện Khoa học X đã quyết định nộp đơn đăng ký sáng chế cho sản phẩm này tại Cục Sở hữu trí tuệ vào ngày 5/10/2020

Anh/chị hãy đánh giá điều kiện về tính mới theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành.

Trang 25

Luật SHTT đã có những sửa đổi, bổ sung mang tính đột phá đối với hệ thống sáng chế tại ViệtNam Những sửa đổi, bổ sung này đã có những đóng góp giúp quá trình thẩm định sáng chế ở ViệtNam hiệu quả hơn và phù hợp hơn với các quy định của các Hiệp định mà Việt Nam đã ký kết và làthành viên như các Hiệp định CPTPP13, EVFTA14 và RCEP15.

“Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên” (khoản 12 Điều 4 Luật SHTT) và là một trong sáu đối tượng bảo hộ của quyền SHCN Để một sáng chế được pháp luật bảo hộ bắt buộc phải thỏa

mãn các điều kiện theo luật định và phải được đăng ký

“Có tính mới” là một trong ba điều kiện chung để sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng

độc quyền sáng chế theo khoản 1 Điều 58 Luật SHTT

Theo quy định của Luật SHTT hiện hành thì điều kiện về tính mới của sáng chế đã được sửa đổi, bổsung nhằm phù hợp với điều kiện phát triển của thời đại, tạo điều kiện thuận lợi hơn khi xác địnhtính mới của sáng chế và để khắc phục tình trạng chưa đảm bảo mục tiêu thỏa đáng và cân bằnggiữa quyền của chủ sở hữu và quyền lợi của công chúng như: phạm vi tình trạng kỹ thuật để đánhgiá tính mới của sáng chế chưa tính đến đơn nộp trước nhưng chưa được công bố vào ngày hoặc saungày công bố của đơn nộp sau của Luật SHTT

Luật SHTT đã quy định rõ ràng hơn về tính mới của sáng chế so với Luật SHTT khi tính mới củasáng chế chỉ được xác định mang tính khái quát, cụ thể như sau: tại khoản 1 Điều 60 Luật SHTT đã

tách tình trạng kỹ thuật có trước thành hai hình thức bộc lộ gồm bộc lộ dưới dạng tài liệu phi sáng chế và bộc lộ dưới dạng tài liệu sáng chế Theo đó sáng chế được coi là có tính mới nếu không

thuộc một trong hai trường hợp:

+ Bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ởtrong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trongtrường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên (điểm a khoản 1 Điều 60 LSHTT);

13 Hiệp định CPTPP là tên gọi tắt của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, đây là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, gồm 11 nước thành viên là: Ốt-xtrây-li-a, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Sing-ga-po và Việt Nam.

Hiệp định đã được ký kết 08/3/2018 Đối với Việt Nam Hiệp định có hiệu lực từ 14/01/2019.

14 Hiệp định EVFTA là tên gọi tắt của Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam, đây là một thỏa thuận thương mại tự do giữa Việt Nam và 27 nước thành viên EU Hiệp định EVFTA chính thức có hiệu lực từ ngày 1/8/2020 mở ra những cơ hội và triển vọng to lớn, đây cũng là thời điểm đặc biệt quan trọng của quan hệ đối tác hợp tác toàn diện Việt Nam-EU.

15 Hiệp định RCEP là tên gọi tắt của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực, đây là một hiệp định thương mại tự do (FTA) bao gồm 10 nước thành viên ASEAN và 5 quốc gia mà ASEAN đã ký hiệp định thương mại tự do được ký kết tại Hà Nội vào 15/11/2020, hướng tới mục tiêu hình thành Hiệp định thương mại tự do Đông Á (EAFTA) và khởi đầu cho Đối tác kinh tế toàn

Trang 26

+ Bị bộc lộ trong đơn đăng ký sáng chế khác có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn nhưngđược công bố vào hoặc sau ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế đó (điểm bkhoản 1 Điều 60 LSHTT).

Bên cạnh đó, Điều 60 Luật SHTT 2022 quy định về tính mới của sáng chế cũng sửa đổi tại khoản 3

và bổ sung khoản 4

Như vậy, với tình huống trên thì sản phẩm “máy điều hòa sử dụng năng lượng nhân tạo” khôngđược xem là sáng chế vì không thỏa mãn điều kiện về “có tính mới” và “có trình độ sáng tạo” củamột sáng chế

Theo quy định tại khoản 1 Điều 61 Luật SHTT thì tính sáng tạo có thể được hiểu là kết quả của một

ý tưởng (có thể bắt nguồn từ những sáng chế khác) nhưng không nảy sinh một cách hiển nhiên từtrình độ kỹ thuật hiện tại đối với một người có kỹ năng thông thường (trình độ trung bình) tronglĩnh vực kỹ thuật tương ứng Những gì mà một người có trình độ trung bình ở cùng ngành kỹ thuậttương ứng có thể tự tìm ra được mà không cần phải có bản mô tả sáng chế của người yêu cầu nộpđơn được coi như "hiển nhiên"

Trong trường hợp này, “máy điều hòa sử dụng năng lượng nhân tạo” được xem là một sản phẩmcông nghệ và việc áp dụng năng lượng nhân tạo vào trong thiết bị có sử dụng năng lượng khôngphải là một ý tưởng mới Việc thay đổi năng lượng nhân tạo cho những nguồn năng lượng kháckhông phải ý tưởng mới mà là học hỏi theo những sản phẩm công nghệ khác đã sử dụng được nănglượng nhân tạo Cái mới của sản phẩm này là thiết kế và nguyên lý hoạt động của máy điều hòa khi

sử dụng năng lượng nhân tạo mà không phải những máy điều hòa thông thường Vì vậy, sản phẩmnày không phải là kết quả của một ý tưởng mới, mà có thể nó được nảy sinh một cách “hiển nhiên”hay nói cách khác sản phẩm này không có trình độ sáng tạo mà một sáng chế yêu cầu

Bài tập 2: Ông A là kỹ sư làm việc trong công ty M Giữa ông A và công ty M có ký kết hợp đồng lao động thỏa thuận về phạm vi công việc, mức lương và các nội dung khác Trong quá trình làm việc, ông A được công ty giao nhiệm vụ sáng tạo một chiếc máy gieo hạt mới (có đầu

tư về kinh phí, cơ sở vật chất) Chiếc máy này sau đó được đăng ký bảo hộ và được cấp Bằng độc quyền sáng chế

a) Xác định tác giả và chủ sở hữu của sáng chế được bảo hộ trên Chủ thể nào có quyền đăng ký? Giải thích và nêu cơ sở pháp lý

Căn cứ vào khoản 1 Điều 122 của Luật SHTT thì tác giả của KDCN được nêu trên là người trựctiếp sáng tạo ra đối tượng SHCN, trong tình huống nêu trên một chiếc máy gieo hạt mới chính làđối tượng SHCN và ông A chính là người trực tiếp bỏ công sức để sáng tạo ra chiếc máy gieo hạtmới, do đó, ông A chính là tác giả của KDCN được bảo hộ

Trang 27

Chủ sở hữu là công ty M, vì giữa ông A và công ty M có ký kết hợp đồng lao động thỏa thuận vềphạm vi công việc, mức lương và các nội dung khác Trong quá trình làm việc, ông A được công tygiao nhiệm vụ sáng tạo một chiếc máy gieo hạt mới (có đầu tư về kinh phí, cơ sở vật chất), được cơquan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ đối với máy gieo hạt mới Theo quy định tại khoản 1Điều 121 Luật SHTT.

Chủ thể có quyền đăng ký đối với KDCN này là Công ty M Bởi vì, công ty M là chủ sở hữu, là tổchức đã đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất cho tác giả (cụ thể trong tình huống là ông A) tạo ra mộtchiếc máy gieo hạt mới thông qua hợp đồng lao động và trong hợp đồng hai bên không có thỏathuận nào khác nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 86 Luật SHTT thì Công ty M có quyền đăng ký đốivới sáng chế này

CSPL: Điều 86, Điều 121, Điều 122 Luật SHTT

b) Ông A và công ty M có những quyền gì đối với sáng chế trên?

Theo như phân tích ở trên thì ông A là tác giả của máy gieo hạt mới nên ông A nên có các quyền:

Thứ nhất, quyền nhân thân được quy định tại khoản 2 Điều 122 Luật SHTT được bảo hộ vô thời

hạn

+ Được ghi tên là tác giả trong Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằngđộc quyền KDCN và Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn;

+ Được nêu tên là tác giả trong các tài liệu công bố, giới thiệu về sáng chế, KDCN, thiết kế bố trí

Thứ hai, quyền tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 122 Luật SHTT quyền nhận thù lao trong

suốt thời hạn bảo hộ của KDCN và mức thù lao được trả theo quy định tại khoản 2 Điều 135 LuậtSHTT

CSPL: Khoản 2, khoản 3 Điều 122 Luật SHTT

Đối với Công ty M là chủ sở hữu của máy gieo hạt mới nên có các quyền tài sản sau đây:

+ Sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng SHCN theo quy định tại Điều 124 và Chương

X Luật SHTT như:

o Sản xuất sản phẩm có hình dáng bên ngoài là KDCN được bảo hộ;

o Lưu thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm có hình dáng bênngoài là KDCN được bảo hộ;

o Nhập khẩu sản phẩm có hình dáng bên ngoài là KDCN được bảo hộ

+ Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng SHCN theo quy định tại Điều 125 Luật SHTT;

Trang 28

+ Định đoạt đối tượng SHCN theo quy định tại Chương X Luật SHTT.

CSPL: Điều 123, Điều 124 và Điều 125 Luật SHTT

c) Trong những trường hợp nào chủ Bằng độc quyền sáng chế trên không có quyền ngăn cấm các tổ chức, cá nhân khác sử dụng sáng chế do mình sở hữu.

Chủ Bằng độc quyền KDCN máy gieo hạt mới trên không có quyền ngăn cấm các tổ chức, cá nhân khác sử dụng KDCN khi việc sử dụng KDCN đó thuộc các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 125 Luật SHTT

Cụ thể, khi tổ chức, cá nhân khác sử dụng KDCN máy gieo hạt mới trên nhằm mục đích phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc mục đích phi thương mại hoặc nhằm mục đích đánh giá, phân tích, nghiên cứu, giảng dạy, thử nghiệm, sản xuất thử hoặc thu thập thông tin để thực hiện thủ tục xin phép sản xuất, nhập khẩu, lưu hành sản phẩm Hoặc nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều

125 Luật SHTT: “sử dụng KDCN do người có quyền sử dụng trước thực hiện theo quy định tại Điều 134 của Luật này” thì chủ Bằng độc quyền KDCN máy gieo hạt mới trên cũng không có quyền ngăn cấm tổ chức, cá nhân khác sử dụng KDCN do mình sở hữu

Như vậy, chủ bằng độc quyền sáng chế trên sẽ không có quyền ngăn cấm các tổ chức, cá nhân khác

sử dụng sáng chế do mình sở hữu nếu họ sử dụng vào các trường hợp nêu trên

Bài tập 3: Những đối tượng nào dưới đây là đối tượng của KDCN theo quy định pháp luật

hiện hành, trường hợp không phải thì giải thích tại sao?

Theo quy định tại khoản 13 Điều 4 Luật SHTT, đối tượng của KDCN là hình dáng bên ngoài củasản phẩm hoặc bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp, được thể hiện bằng hình khối, đườngnét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này và nhìn thấy được trong quá trình khai thác côngdụng của sản phẩm hoặc sản phẩm phức hợp”

1 Chìa khóa: là đối tượng của KDCN (kiểu dáng chìa khóa, ví dụ chìa khóa thông minh)

2 Kem đánh răng: không là đối tượng của KDCN, vì kem đánh răng chỉ là một chất tẩy dưới dạnghỗn hợp nhão hay gel không biểu thị nhất định một hình thù nào cả vì vậy không thỏa mãn theoquy định tại khoản 13 Điều 4 Luật SHTT

3 Cổng đình làng: không là đối tượng của KDCN, vì đây là công trình dân dụng theo quy định tạikhoản 2 Điều 64 Luật SHTT nên sẽ không được bảo hộ dưới danh nghĩa KDCN Được bảo hộquyền tác giả nếu đáp ứng điều kiện

4 Mì nui: không là đối tượng của KDCN vì ko có tính sáng tạo, m phỏng hình cái nơ (ii Điểm bMục 35.8 Điều 35 TT01/2007): KDCN là hình dáng sao chép/mô phỏng một phần hoặc toàn bộ

Trang 29

hình dáng tự nhiên vốn có của cây cối, hoa quả, các loài động vật , hình dáng của các hình hìnhhọc (hình tròn, hình elíp, hình tam giác, hình vuông, chữ nhật, hình đa giác đều, các hình lăngtrụ có mặt cắt là các hình kể trên ) đã được biết rộng rãi Hình cái nơ thì không được bảo hộ.

Mì nui thì có thể bảo hộ nếu đáp ứng điều kiện

5 Ren vít bugi: không là đối tượng của KDCN, vì ren vít bugi khi lắp vào động cơ sẽ không thấyđược nên theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật SHTT thì sẽ không được bảo hộ dưới danhnghĩa KDCN

6 Dao: Đây không là đối tượng của KDCN Theo quy định tại Điều 66 LSHTT về tính sáng tạocủa KDCN và (i) điểm b, mục 35.8 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN thì dao trong trường hợp này

là sự kết hợp đơn thuần về mặt số lượng của các loại đặc điểm tạo dáng đã được công khai nêndao này không được coi là có tính sáng tạo

7 Cây kem: Đây không là đối tượng của KDCN Theo quy định tại Khoản 1 Điều 65 LSHTT thìKDCN có tính mới khi có điểm khác biệt đáng kể với những kiểu dáng công nghiệp đã bị bộc lộcông khai Thêm vào đó điểm a mục 35.7 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN thì điểm khác biệtđáng kể là phải có các đặc điểm cơ bản khác biệt với nhau Vì vậy, trong trường hợp này, câykem không được xem là đối tượng của KDCN do cây kem có các đặc điểm cơ bản là phần kem

và phần que kem, phần kem có hình chữ nhật, phần que làm từ chất liệu gỗ Tuy nhiên, nếukhông đơn thuần là các khối trụ sắp xếp có sẵn và đáp ứng các điều kiện bảo hộ thì là đối tượngcủa KDCN (kiểu dáng từng cây kem)

8 Thân chai nước: không là đối tượng của KDCN Theo Thông tư 01/2007/TT-BKHCN được sửađổi, bổ sung bởi Thông tư 16/2016/TT-BKHCN thì bảo hộ cả thân chai, nắp chai, đáy chai Tuynhiên, khi tách rời thì có nắp chai

9 Đồng hồ: Đây không là đối tượng của KDCN Trong trường hợp này căn cứ vào khoản 1 Điều

64 LSHTT thì hình dáng bên ngoài của đồng hồ do đặc tính kỹ thuật của nó bắt buộc phải cónên đồng hồ không được bảo hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp Cụ thể như do đặc tính

về kỹ thuật nên đồng hồ có hình tròn dẹt hoặc vuông dẹt, bên trong có chứa phần máy và phầndây đeo… Tuy nhiên, hình dáng mặt đồng hồ mới là cái được bảo hộ KDCN

10 Lốp xe: Đây không là đối tượng của KDCN Trong trường hợp này căn cứ vào khoản 1 Điều 64LSHTT thì lốp xe không được bảo hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp Tuy nhiên, có vàitrường hợp đặc biệt bề mặt lốp xe là đối tượng KDCN; có những rảnh, cho xe chống trơn Cấutrúc lốp xe không phải KDCN theo khoản 1 Điều 64 Luật SHTT

Trang 30

11 Lâu đài: không là đối tượng của KDCN, vì lâu đài là một loại hình công trình kiến trúc đã đượcbảo hộ quyền tác giả theo Điểm i Khoản 1 Điều 14 Luật SHTT Và là công trình theo quy địnhtại khoản 2 Điều 64 Luật này nên sẽ không được bảo hộ dưới danh nghĩa KDCN.

12 Ống tiết kiệm: Đây không là đối tượng của KDCN Cụ thể ở đây là không đáp ứng điều kiện vềtính sáng tạo được quy định tại Điều 66 LSHTT Theo thông tư 01/2007/TT-BKHCN quy địnhtại (ii) điểm b, mục 35.8 đánh giá tính sáng tạo của KDCN của Điều 66 LSHTT thì ống tiết kiệmhình con bò đã mô phỏng theo hình dáng tự nhiên vốn có của con vật nên trường hợp này khôngđược coi là có tính sáng tạo

Bài tập 4: Hãy tiến hành liệt kê bản vẽ và mô tả chi tiết đối với đối tượng Chai dưới đây phù hợp với yêu cầu liệt kê và mô tả chi tiết của Bản mô tả kiểu dáng công nghiệp

CSPL: Điều 103 Luật SHTT được hướng dẫn bởi khoản 33.5 Điều 33 Mục 4 Thông tư BKHCN được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 16/2016/TT-BKHCN

01/2007/TT-Theo đó, Bản mô tả kiểu dáng công nghiệp cần có những nội dung sau:

1 Tên sáng chế: Chai đựng nước thủy tinh

2 Lĩnh vực sử dụng sáng chế: Sản xuất nước đóng chai, nước hoa

3 Kiểu dáng công nghiệp tương tự gần nhất: Không có

4 Liệt kê bản vẽ:

+ Hình 1: Hình vẽ phối cảnh của kiểu dáng công nghiệp

+ Hình 2: Hình chiếu nhìn từ bên trái của kiểu dáng công nghiệp

+ Hình 3: Hình chiếu nhìn từ phía sau của kiểu dáng công nghiệp

+ Hình 4: Hình chiếu nhìn từ phía trước của kiểu dáng công nghiệp

+ Hình 5: Hình chiếu nhìn từ dưới lên của kiểu dáng công nghiệp

+ Hình 6: Hình chiếu nhìn từ trên xuống của kiểu dáng công nghiệp

B Phần Câu hỏi sinh viên tự làm (có nộp bài) và KHÔNG thảo luận trên lớp:

Câu 1 Phân tích các điều kiện bảo hộ kiểu dáng công nghiệp.

Theo quy định tại Điều 63 Luật SHTT, KDCN được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau: (1) cótính mới; (2) có tính sáng tạo và (3) có khả năng áp dụng công nghiệp

Điều kiện thứ nhất: KDCN phải có tính mới

Trang 31

Yêu cầu về tính mới đối với KDCN là một trong những yếu tố thể hiện đặc điểm khuyến khích sángtạo của pháp luật bảo hộ KDCN Sự ra đời và ứng dụng những kiểu dáng kết tinh giá trị thẩm mĩcao, sau giai đoạn độc quyền bảo hộ, sẽ là nền tảng cơ bản để các chủ thể trong xã hội tiếp tục dựavào đó, phát triển và tạo ra các sản phẩm có giá trị, đem lại lợi ích cho cộng đồng Vì vậy, tính mới

là yêu cầu đầu tiên cần đặt ra đối với các đối tượng SHCN mang tính sáng tạo nói chung và đối vớiKDCN nói riêng16

Theo khoản 1 Điều 65 Luật SHTT, KDCN được coi là có tính mới “nếu KDCN đó khác biệt đáng

kể với những KDCN đã bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất

kì hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên nếu đơn đăng ký KDCN được hưởng quyền ưu tiên” Như vậy, điều kiện về tính mới của kiểu dáng

được thể hiện qua hai yêu cầu: (i) có sự khác biệt đáng kể; và (ii) chưa bị bộc lộ công khai

KDCN được coi là có sự khác biệt đáng kể so với KDCN khác khi có những đặc điểm tạo dáng dễnhận biết, ghi nhớ và dùng để phân biệt tổng thể hai KDCN với nhau Những đặc điểm tạo dáng củaKDCN thể hiện qua đường nét, màu sắc, hình khối, tương quan vị trí, kích thước của các yếu tố đótạo thành tổng thể kiểu dáng đó Trong trường hợp hai kiểu dáng chỉ có sự khác nhau không rõràng, phải quan sát rất tỉ mỉ mới có thể phát hiện được hoặc sự khác nhau chỉ thể hiện qua một sốchi tiết nhỏ lẻ, không mang yếu tố tạo hình tổng thể của kiểu dáng thì đặc điểm về tính mới khôngđược đáp ứng

Theo khoản 1 Điều 65 Luật SHTT, KDCN được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chưa được bộc

lộ “dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kì hình thức nào khác” hoặc theo khoản 3Điều này, “nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về KDCN đó” Vídụ: doanh nghiệp A đã sáng tạo ra kiểu dáng mới, độc đáo của sản phẩm X, sau đó bán ra thị trường

và rất thu hút được khách hàng vì kiểu dáng của sản phẩm Sau 2 năm, một số doanh nghiệp khác

đã sao chép kiểu dáng này để sản xuất những sản phẩm có kiểu dáng tương tự Để bảo vệ sự sángtạo của mình, doanh nghiệp A đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xin được bảo hộKDCN của sản phẩm X Trong trường hợp này, rõ ràng, kiểu dáng sản phẩm, tuy có tính mới ở thờiđiểm mới xuất hiện nhưng đã được sử dụng trên thị trường trong thời gian 2 năm Do đó, kiểu dángnày không còn đảm bảo tính chưa bị bộc lộ công khai và được coi là không đảm bảo điều kiện vềtỉnh mới để được bảo hộ Tuy nhiên, cùng với trường hợp này, giả sử, sau khi sáng tạo ra được kiểudáng của sản phẩm X, doanh nghiệp A chưa tung ra thị trưởng các sản phẩm này mà chuẩn bị thủtục xin bảo hộ KDCN Trong thời gian chưa nộp đơn xin đăng ký, kiểu dáng sản phẩm đã được tìmhiểu, tiếp xúc bởi một số nhân viên được giao nhiệm vụ của doanh nghiệp A để chuẩn bị cho việcđưa sản xuất hàng loạt theo kiểu dáng mới Như vậy, tuy kiểu dáng X đã được bộc lộ với các nhân

Ngày đăng: 26/10/2023, 17:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w