Theo hướng đi đó, chúng tôi nghiên cứu thơ Nguyễn Thị Mai trên phương diện ngôn ngữ với mong muốn tìm ra được những nét riêng trong cách vận hành ngôn ngữ của nhà thơ, từ đó đánh giá đón
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ HƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ NGUYỄN THỊ MAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ HƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ NGUYỄN THỊ MAI
Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 8220102
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM HÙNG VIỆT
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu khảo sát, thống kê, nghiên cứu, kết luận trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố ở bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Thị Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành ngoài sự cố gắng của bản thân còn là sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô, bạn bè Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sau sắc đến thầy giáo PGS.TS Phạm Hùng Việt - người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên, Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam đã tâm huyết giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức làm cơ sở cho việc nghiên cứu luận văn
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến những người thân, bạn
bè, đồng nghiệp đã quan tâm, động viên, tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2018
Tác giả
Trần Thị Hương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của luận văn 5
7 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6
1.1 Thơ và ngôn ngữ thơ ca 6
1.1.1 Khái niệm thơ 6
1.1.2 Khái niệm ngôn ngữ thơ 8
1.1.3 Đặc trưng ngôn ngữ thơ 9
1.2 Giới thiệu về Nguyễn Thị Mai và thơ Nguyễn Thị Mai 16
1.2.1 Giới thiệu về nhà thơ Nguyễn Thị Mai 16
1.2.2 Thơ Nguyễn Thị Mai 18
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VỀ THỂ THƠ, VẦN, NHỊP VÀ CÁCH TỔ CHỨC BÀI THƠ TRONG THƠ NGUYỄN THỊ MAI 21
2.1 Đặc điểm về thể thơ 21
2.1.1 Thể thơ năm chữ 22
2.1.2 Thể thơ sáu chữ 24
Trang 62.1.3 Thể thơ lục bát 25
2.1.4 Thể thơ tự do 30
2.1.5 Thể thơ văn xuôi 34
2.2 Vần trong thơ Nguyễn Thị Mai 36
2.2.1 Vần xét ở vị trí gieo vần 36
2.2.2 Vần xét ở mức độ hòa âm 44
2.3 Nhịp trong thơ Nguyễn Thị Mai 48
2.3.1 Nhịp trong thơ 5 chữ 48
2.3.2 Nhịp trong thơ 6 chữ 50
2.3.3 Nhịp trong thơ lục bát 50
2.3.4 Nhịp trong thơ tự do 53
2.4 Đặc điểm về cách tổ chức bài thơ trong thơ Nguyễn Thị Mai 55
2.4.1 Đặc điểm về tiêu đề 55
2.4.2 Đặc điểm về câu thơ, dòng thơ 56
2.4.3 Đặc điểm về khổ thơ, đoạn thơ 57
2.5 Tiểu kết 60
Chương 3 TỪ NGỮ VÀ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THƯỜNG GẶP TRONG THƠ NGUYỄN THỊ MAI 61
3.1 Đặc điểm sử dụng một số lớp từ trong thơ Nguyễn Thị Mai 61
3.1.1 Sử dụng từ láy 61
3.1.2 Lớp từ chỉ hình ảnh, màu sắc 65
3.2 Một số biện pháp tu từ nổi bật trong thơ Nguyễn Thị Mai 72
3.2.1 Biện pháp so sánh 73
3.2.2 Biện pháp điệp ngữ 78
3.2.3 Tiểu kết 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng thống kê các thể loại thơ 21
Bảng 2.2: Các loại vần trong hai tập thơ Nguyễn Thị Mai xét theo vị trí gieo vần 36
Bảng 2.3: Phân loại vần chân 40
Bảng 2.4: Bảng thống kê vần chính, vần thông, vần ép 44
Bảng 2.5: Bảng các loại nhịp trong thơ lục bát Nguyễn Thị Mai 51
Bảng 2.6: Bảng số lượng âm tiết trong tiêu đề thơ 55
Bảng 2.7: Bảng số lượng dòng trong thơ 57
Bảng 3.1: Bảng tổng hợp số lượng, tỉ lệ phân loại các kiểu từ láy trong hai tập thơ “Nón trắng sang đò” và “Thời hoa gạo cháy” của Nguyễn Thị Mai 62
Bảng 3.2: Bảng tổng hợp số lượng và tỉ lệ sử dụng lượt từ chỉ màu sắc trong thơ Nguyễn Thị Mai 70
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 “Thơ ca là tinh hoa tối cao của ngôn ngữ…” (Piere Gamarra) Quả đúng như vậy thơ là thứ ngôn ngữ biểu hiện tập trung nhất tính hàm xúc phong phú của ngôn ngữ, vừa giàu nhạc điệu,vừa giàu hình ảnh và sắc màu Trong kho tàng thơ ca của nước nhà không thể không kể đến những đóng góp to lớn của các nhà thơ nữ
Trong số đông đảo các nhà thơ nữ hiện đại, có những cây bút nữ Hà Nội
đã để lại những dấu ấn mạnh mẽ trong việc tạo dựng nên diện mạo và tiếng nói chung cho các nhà thơ nữ, những sáng tác của họ đã góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng cho sự phát triển của nền thơ ca Việt Nam Tuy nhiên, mỗi nhà thơ lại có cách vận hành bộ máy ngôn ngữ của riêng mình Đã có những luận văn, luận án nghiên cứu về thơ của một số tác giả cụ thể Theo hướng đi đó, chúng tôi nghiên cứu thơ Nguyễn Thị Mai trên phương diện ngôn ngữ với mong muốn tìm
ra được những nét riêng trong cách vận hành ngôn ngữ của nhà thơ, từ đó đánh giá đóng góp của nhà thơ đối với văn học nước nhà
1.2 Trong xu thế hội nhập hiện nay việc sử dụng ngôn ngữ trong thơ ca
đã bị pha tạp rất nhiều Có nhiều nhà thơ đã ý thức được điều đó và trong các nhà thơ đó có Nguyễn Thị Mai là nhà thơ nữ đã góp phần gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt Tuy nhiên trong thơ Nguyễn Thị Mai vẫn có những cái mới, cái lạ trong cách dùng từ mà không nhà thơ nào có được, đặc biệt là trong thơ lục bát Hơn thế Nguyễn Thị Mai còn là một cô giáo dạy văn nên từ ngôn ngữ thơ giảng dạy trong nhà trường cho đến ngôn ngữ thơ ca đời thường có sự giao thoa, hòa quện với nhau tạo nên tứ thơ rất lạ, lôi cuốn người đọc
Nguyễn Thị Mai sinh ra và lớn lên ở Thủ đô Hà Nội, nhưng cô lại không
có may mắn được hưởng hạnh phúc như bạn bè cùng trang lứa nơi đô thành Cuộc đời cô nhiều thăng trầm, lam lũ, sớm bươn trải với cuộc đời Có lẽ chính những khổ đau vất vả đầu đời đã giúp Nguyễn Thị Mai nghị lực vươn lên, sớm
Trang 9biết tự lập, để học tập, công tác và để trở thành thi sĩ có những rung cảm viết nên những tác phẩm đầy xúc động sau này Cũng có lẽ vì những điều đó mà khi đọc thơ của Nguyễn Thị Mai ta thấy được sự ấm áp, đôn hậu, dịu dàng nhưng không
hề đơn điệu, nệ cổ
Nguyễn Thị Mai - nhà thơ, giảng viên, ngoài ra cô từng là ủy viên Ban chấp hành lâm thời từ ngày đầu thành lập Hội văn học nghệ thuật tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) và tiếp tục trúng ủy viên BCH, Trưởng tiểu ban Văn học thiếu nhi khóa đầu tiên sau Đại hội lần thứ nhất Hội văn học nghệ thuật tỉnh rồi cán bộ Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam, Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ
nữ Với bút danh Hạnh hoa Nguyễn Thị Mai đã trở thành quen thuộc với biết bao bạn đọc trên khắp cả nước Cô rất có duyên với giải thưởng, thi đâu được đấy,
đó là các giải thưởng như: Giải nhất cho chùm thơ hai bài “Giờ văn” và “Nhà
không có bố”- Hội nhà văn Việt Nam và Uỷ ban chăm sóc thiếu niên nhi đồng
Việt Nam tổ chức năm 1992, giải nhất bài thơ “Ru mẹ”- Vụ Văn hóa dân tộc-Bộ
Văn hóa thông tin và truyền thông tổ chức năm 2007, giải nhì (không có giải nhất
) bài thơ “Chợ đêm Long Biên”- 5 tờ báo lớn tổ chức trong đó có báo Văn nghệ Ngoài ra tập thơ “Thời hoa gạo cháy” đạt giải B năm 1995 và tập thơ “Nón trắng
sang đò” đạt giải A năm 1997 của Trung ương các hội LHVHNT Việt Nam Dù
là một cây bút sáng giá của thi ca Hà Nội nhưng những bài viết, bài nghiên cứu
về cô chưa nhiều và cũng chưa mang tính hệ thống Những nghiên cứu về ngôn ngữ thơ của Nguyễn Thị Mai lại càng ít Chính vì lí do đó, chúng tôi chọn đề tài
nghiên cứu kết quả nghiên cứu Đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Thị Mai Do
vậy, chúng tôi hi vọng mong muốn kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về thơ Nguyễn Thị Mai, góp phần khẳng định đóng góp của nhà thơ với nền thơ ca nước nhà
2 Lịch sử vấn đề
Trang 10Việc nghiên cứu và tiếp nhận tác giả, tác phẩm thơ Nguyễn Thị Mai, từ trước đến nay đã thu hút được sự chú ý của một số người Theo khảo sát bước đầu của chúng tôi, đã có một số tờ báo, bài báo trong nước, trong tỉnh nghiên cứu
về nhà thơ Nguyễn Thị Mai Cụ thể cho tới nay có khoảng hơn 10 bài viết giới thiệu, bình phẩm thơ Nguyễn Thị Mai Báo An Ninh thủ đô, Văn nghệ công an… Tác giả Lâm Xuân Vi là người có nhiều bài viết về Nguyễn Thị Mai nhất với các
bài viết: Nguyễn Thị Mai đời và thơ như tôi biết, Sợi nhớ vô hình quấn theo,
Có một chợ trăng của nữ nhi cửu vạn, Đọc tập thơ “Không xóa nổi lời hoa” với đôi lời cảm nghĩ Ngoài ra còn có một số tác giả khác viết về Nguyễn Thị Mai như: PGS.TS Trần Thị Trâm (Bức chân dung tâm hồn người đàn bà Việt trong thơ Nguyễn Thị Mai); Lê Hoài Nam (Người biết giữ thăng bằng giữa thơ và đời); Công Nhuệ (Gửi người lục bát hồn quê); Bùi Kim Anh (Nhà thơ Nguyễn Thị Mai: Đằm thắm nghĩa tình thơ lục bát); Dương Hiền Nga (Dương Hiền Nga đọc “Qua hàng trầu nhớ mẹ” của Nguyễn Thị Mai); Hoài hương (Nguyễn Thị Mai: Thơ là sự chân thực về cảm xúc); Nguyễn Đức Hậu bình bài thơ Nhà không có bố; Trần Vân Hạc (Anh không bước nổi qua tà áo em), (Thơ tặng người về “của nhà thơ Nguyễn Thi Mai” bài giảng chia sẻ kinh nghiệm)…; Lê Hoài Nam (Nguyễn Thị Mai, thi sĩ có gương mặt mùa xuân); Vương Trọng với nhiều bài bình thơ Nguyễn Thị Mai…
Là một nhà thơ với tuổi thơ nhiều “dữ dội”, trải qua nhiều cung bậc của cảm xúc nên thơ cô có những nét rất thực vừa dịu dàng, đôn hậu, ấm áp nhưng không bằng phẳng, thủ cựu Thơ Nguyễn Thị Mai phần nhiều lấy cảm hứng
từ những điều mà cô tận mắt chứng kiến, những điều có thực trong đời sống Đặc biệt hơn khi sáng tác thơ Nguyễn Thị Mai rất nhuần nhuyễn trong việc sử dụng âm hưởng của ngôn ngữ ca dao Điều đó cũng đủ cho ta thấy được những
điều mới lạ trong ngôn ngữ thơ của Nguyễn Thị Mai Thực hiện đề tài “Đặc
điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Thị Mai” trong khuôn khổ một luận văn chúng tôi
Trang 11mong muốn tìm hiểu để làm rõ được nét riêng biệt về phong cách ngôn ngữ thơ Nguyễn Thị Mai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
- Trình bày những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Thị Mai xét về mặt hình thức: thể thơ, vần, nhịp
- Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Thị Mai xét về mặt từ ngữ
và các biện pháp tu từ thường được nhà thơ sử dụng
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp miêu tả
Trang 12Phương pháp này được sử dụng để miêu tả các kiểu cấu trúc tiêu biểu của thơ Nguyễn Thị Mai
5.2 Phương pháp phân tích
Phương pháp này được dùng để phân tích các hiện tượng sử dụng ngôn từ, tín hiệu thẩm mĩ, cấu trúc ngôn ngữ nhằm rút ra đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ Nguyễn Thị Mai
5.3 Thủ pháp thống kê, phân loại
Đây là thủ pháp được sử dụng để thu thập và phân loại những câu thơ, bài thơ chứa đựng hiện tượng ngôn ngữ cần nghiên cứu
6 Đóng góp của luận văn
Có thể xem đây là đề tài đầu tiên đi vào tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ thơ của nhà thơ Nguyễn Thị Mai ở hai bình diện hình thức biểu đạt và nội dung, từ
đó chỉ ra những đóng góp riêng đặc sắc của nhà thơ Nguyễn Thị Mai từ góc độ ngôn ngữ học
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
Chương 2: Đặc điểm về thơ, vần, nhịp và cách tổ chức bài thơ trong thơ Nguyễn Thị Mai
Chương 3: Từ ngữ và các biện pháp tu từ thường gặp trong thơ Nguyễn Thị Mai
Trang 13
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Thơ và ngôn ngữ thơ ca
1.1.1 Khái niệm thơ
Thơ là một loại hình nghệ thuật dùng ngôn ngữ làm chất liệu, dưới sự chắt lọc ngôn từ cũng như cách kết cấu của chúng được sắp xếp một cách logic nhất định tạo nên hình tượng, âm thanh gây ấn tượng cho người đọc và người nghe
Thơ là loại hình văn học có bề dày lịch sử Có thể nói trong khoảng thời gian từ 384-322 TCN ở châu Âu đã có định nghĩa về thơ và nó được xuất phát
từ nhà hiền triết người Hi Lạp Aristotle Còn ở Việt Nam có thể coi thơ bắt nguồn
từ những câu ca dao tục ngữ có vần điệu mà thành
Thơ, Thơ ca hay thi ca, là thuật ngữ dùng để chỉ loại hình nghệ thuật sáng
tác tổng hòa các mặt: ân nhạc, nhịp điệu, hội họa nhưng phải ngắn gọn, cô đọng súc tích Vậy thơ là gì? Đây là một câu hỏi vẫn còn nhiều sự tranh cãi của giới chuyên ngành và chưa đi đến một sự thống nhất Hơn thế ở mỗi nền văn hóa lại
có những quan niêm, nhận định, định nghĩa về thơ rất khác nhau
Ở phương Tây có những nhận định, định nghĩa về thơ khá thú vị Alfred
De Vigny (1797-1863) - một trong những nhà thơ nổi tiếng của Pháp nhận định:
“Thơ là sự đẹp tuyệt trần của sự vật, và sự chiêm ngưỡng vẻ đẹp ấy trong lý
tưởng” Ste'phane Mallarme' (1842-1898) cho rằng: “Thơ là một sự tái tạo lí tính của vũ trụ”… “Thơ ca là sự biểu hiện ý nghĩa bí ẩn của sinh tồn, nhờ ngôn ngữ của con người được cô đọng vào tiết tấu thiết yếu của nó” (theo Lịch sử văn học
Pháp thế kỉ XIX, tr.327); hay “Thơ là tham vọng của một diễn từ mang chở nhiều
nghĩa hơn và được trộn lẫn với nhiều âm nhạc hơn là ngôn ngữ thông thường không mang và cũng không thể mang trong nó” (Vale’ry, Sự chuyển tiếp của
Verlaine,1921, Tạp văn)
Trang 14Lau’rence Ferlingghetti - nhà thơ cuối cùng của thế hệ “Beat generation” -
nhóm nhà thơ “không tùy thời” vào những năm 50 của thế kỉ XX tại Mĩ đã có
nhiều định nghĩa về thơ rất mới lạ được in trong một bài viết có tên “52 định
nghĩa về thơ để sử dụng trong thế kỉ XXI” như sau: “Thơ,đó là những cách đi đến nơi tận cùng của ý thức”, “Thơ, là chiếc lá chói lọi của tưởng tượng Nó phải rực sáng và làm cho bạn gần như mù quáng”, “Thơ, được tạo thành bởi những quầng sáng tan dần trong đại dương âm thanh”, “Thơ, là cái gì tồn tại giữa các dòng chữ”, “Thơ là một tiếng nói li khai chống lại sự lãng phí từ ngữ
và sự thừa thãi điên rồ của chữ in”…(Thơ là gì? Báo Thơ, 24, tháng 6/2005, tr
21) Cũng theo ông, để có một định nghĩa chuẩn mực về thơ là điều bất khả, bởi
mỗi bài thơ đã mang cho mình một định nghĩa, thậm chí hơn thế: “Không nghi
ngờ gì nữa, có bao nhiêu bài thơ thì có từng ấy định nghĩa, thậm chí còn nhiều hơn nữa bởi vì các Giáo sư và nhà phê bình thơ còn đông hơn các nhà thơ”
Ở phương Đông, trong nền văn học trung đại của Trung Quốc, khái niệm
“thơ là gì?” đã được luận bàn từ rất sớm Ngược dòng thời gian trở về đời Đường
ta thấy, nhà thơ Bạch Cư Dị đã đưa ra các yếu tố cốt yếu tạo thành điều kiện tồn
tại của thơ: “Cảm hóa được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng
gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa Với thơ, gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa” Nhận định này của Bạch Cư Dị đã nêu lên mối quan hệ gắn bó
giữa các nhân tố cấu thành nên một tác phẩm, cũng giống như một chỉnh thể ngoài đời thực là gốc rễ, mần lá, hoa, quả luôn gắn liền với nhau
Ở Việt Nam, khái niệm “thơ là gì?” đã được giới chuyên ngành đưa ra
luận bàn với nhiều quan điểm rất khác nhau Trước tiên phải kể đến nhà thơ Chế
Lan Viên với quan niệm: “Thơ là thể loại văn học có độ hàm súc cao, là sự dồn
nén cảm xúc đến mức cô đúc”.Và thật thiếu xót khi ta không đưa ra định nghĩa
về thơ của Phan Ngọc- một dịch giả, nhà ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu văn hóa
Việt Nam: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp
Trang 15nhận phải nhớ, phải cảm xúc, và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức này”[41, tr 23] Qua đó ông đi đến khẳng định muốn định nghĩa về thơ phải đáp
ứng các điều sau: - Có giá trị phổ quát, - Mang tính hình thức giúp người ta nhận
diện được thơ, không cần phải có kinh nghiệm và hiểu biết nghệ thuật, - Giúp người ta nắm được thực chất của thơ, để làm thơ, đọc thơ, giảng thơ có kết quả
Nhà thơ Mã Giang Lân trong cuốn Tìm hiểu thơ đã đưa ra định nghĩa rằng: “Thơ
là một thông báo thẩm mĩ trong đó kết hợp bốn yếu tố: Ý- Tình- Hình- Nhạc”,
sau khi ông tóm tắt toàn bộ các quan niệm, nhận định về thơ từ trước đến nay
Còn theo nhóm tác giả phê bình và nghiên cứu Văn học Lê Bá Hán, Trần Đình
Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn từ điển thuật ngữ văn học: “Thơ là hình thức
sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh
mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”.[22, tr 309]
Như vậy, theo bề dày lịch sử nghiên cứu và phê bình văn học đã có rất nhiều nhận định, định nghĩa về thơ qua đó ta có thể rút ra một số đặc điểm chung của thơ
ca như sau: Thơ là một phức hợp của hệ thống ngôn từ có tổ chức, có vần điệu, nhịp điệu, bộc lộ cảm xúc của tác giả bằng hình ảnh thông qua ngôn từ
1.1.2 Khái niệm ngôn ngữ thơ
Đối với mỗi tác phẩm văn học thì ngôn ngữ chính là nguyên căn tạo dựng nên nó; mỗi thể loại lại có một thứ ngôn ngữ khác nhau với những nét đặc trưng khu biệt mà chỉ thể loại đó mới có Và với ngôn ngữ thơ thì tính đặc trưng đó lại càng đậm nét bởi: đối với thơ ngôn ngữ là chất liệu, là phương tiện biểu hiện, là mục đích hướng tới Có thể nói ngôn từ trong tác phẩm thơ ca được sử dụng một cách hữu hạn, bởi dung lượng ngôn ngữ thơ ca hạn chế nhất trong các thể loại
văn học Quả đúng như một nhà thơ đã từng nói ngôn ngữ thơ ca được “đúc lại
như huân chương”
Hay nói như Pautôpxki: “Những chữ xơ xác nhất mà chúng ta đã nói đến
cạn cùng, đã mất sạch tính chất hình tượng đối với chúng ta, những chữ ấy trong thơ ca lại sáng lấp lánh lại kêu giòn và tỏa hương”
Cũng bởi vì lẽ thế mà ta có thể coi ngôn ngữ thơ là đỉnh cao của sự chắt
Trang 16lọc nên chính vì vậy mà Maiacôpski cho rằng: “Quá trình sáng tạo ngôn ngữ
thơ ca cũng giống như những người lọc quặng ra đi um, lọc lấy tinh chất, tìm ra trong những cái bộn bề của những tấn quặng từ đẹp, ánh sáng kim cương” “Thơ
ca là cái tinh hoa tối cao của ngôn ngữ, là cái ánh ngời phi thường của nó, chỗ rách cảm động nhất của nó”
Trong cuốn “ngôn ngữ thơ Việt Nam”, PGS TS Nguyễn Hữu Đạt đã nhận
định về cách tổ chức ngôn ngữ thơ như sau: “được trình bày bằng hình thức ngắn
gọn và súc tích nhất với cách tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối
âm riêng của từng ngôn ngữ” [11, tr 25] Điều này càng được khẳng định bởi
GS TS Nguyễn Thiện Giáp: “Do yêu cầu thể hiện thế giới nội tâm, thế giới tinh
thần, cách tổ chức ngôn ngữ của thơ khác hẳn cách dùng lời nói của các phong cách chức năng phi nghệ thuật”[20, tr 338]
1.1.3 Đặc trưng ngôn ngữ thơ
Từ sự nhận diện về thơ và ngôn ngữ thơ như trên, ta có cơ sở làm sáng rõ đặc trưng của ngôn ngữ thơ dựa trên ba bình diện: ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp
đã tạo nên tính nhạc trong thơ
Tính nhạc trong thơ được tạo nên dựa trên cơ sở sự phong phú về thanh điệu, nguyên âm, phụ âm của tiếng Việt Đặc biệt phải kể đến vai trò của thanh diệu trong việc tạo ra nét khác biệt, ấn tượng của tính nhạc trong thơ ca của người Việt mình
Bởi thanh điệu là sức mạnh, là đặc trưng quan trọng của tiếng Việt
Theo các nhà chuyên môn, nhạc tính thể hiện ở ba mặt cơ bản trong thơ:
sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp:
- Sự cân đối ở đây chính là mặt tương xứng hài hòa giữa các dòng thơ Sự
Trang 17hài hòa có thể là cách sắp xếp tổ chức, có thể là âm thanh hay hình ảnh
- Sự trầm bổng của ngôn ngữ thể hiện ở nhịp điệu Nhịp thơ chính là nhịp của cảm xúc, cảm nhận của tác giả Nó xoay vần đều đặn, nhịp nhàng như tháng năm bốn mùa Sự trầm bổng còn được thể hiện ở ở cách hòa âm, sự thay đổi độ cao giữa hai nhóm thanh điệu
- Trong ngôn ngữ thơ ca sự trùng điệp thể hiện ở việc dùng vần, điệp từ, ngữ và điệp cú Chúng như là chất kết dính gột các dòng thơ lại với nhau thành một chỉnh thể thống nhất, tạo nên vẻ đẹp viên mãn cho ngôn ngữ thơ
Tính nhạc trong ngôn ngôn ngữ thơ đã khiến cho bài thơ trở thành một sinh thể nghệ thuật tồn tại gần gũi với âm nhạc Bạn đọc không khó để bắt gặp những bài hát có cốt lõi từ thơ ca
* Vần
Vần là yếu tố quan trọng xây dựng nên sự hòa âm giữa các câu thơ mà sự
hòa âm lại là yếu tố trước hết để tạo nên tính nhạc của thơ “Vần là sự hòa âm,
sự cộng hưởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất định giữa hai từ hoặc hai
âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ và thực hiện những chức năng nhất định như liên kết các dòng thơ , gợi tả nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [12, tr 12] Hay trong
cuốn “Thuật ngữ nghiên cứuvăn học” do Lê Bá Hán chủ biên vần được định
nghĩa như sau: Đó là “sự lặp lại những khuôn âm giống nhau hoặc tương tự ở
giữa hay cuối dòng thơ để tăng sự liên tưởng và sức gợi cảm của câu thơ” [22,
tr 277] Cách phân loại vần cũng rất rõ ràng “Ở Việt Nam xưa nay vẫn thường
có ba cách phân loại vần: phân loại giữa vào vị trí của tiếng gieo vần ở trong dòng thơ, khổ thơ (thành các vần lưng, vần chân, vần chân ôm nhau, vần chân đan chéo nhau…); phân loại dựa vào mức độ hòa âm giữa hai âm tiết bắt vần với nhau (thành vần chính, vần thông, vần ép) và phân loại dựa vào đường nét biến thiên của thanh điệu ở âm tiết mang vần (thành vần bằng, vần trắc)” [12,
tr 109] Trong tiếng Việt âm tiết là đơn vị biểu diễn vần thơ bao gồm: âm đoạn tính và siêu đoạn tính (thanh điệu) Xét về chức năng tạo sự tương đồng, sự hòa
Trang 18âm thì các yếu tố cấu tạo nên âm tiết có vai trò không giống nhau: “Ở đây thanh
điệu, âm cuối rồi đến âm chính là những yếu tố giữ vai trò quyết định của sự hòa
âm Vai trò thứ yếu thuộc về âm đệm và yếu tố cuối cùng là âm đầu” [47, tr 115]
Đầu tiên ta phải nói đến yếu tố siêu đoạn tính (thanh điệu), thanh điệu trong các vần thơ có chức năng hòa âm rõ nét được biểu hiện chủ yếu ở chỗ các
âm tiết hiêp vần chỉ có thể mang thanh đồng loại tuyền điệu (cùng bằng hoặc cùng trắc), đó là nét căn bản của vần thơ Việt Nam
Khi xét về yếu tố âm đoạn tính của các âm tiết hiệp vần, đầu tiên phải kể
đến âm cuối “Trong một âm tiết,giữa các yếu tố cấu tạo nên phần vần thì âm
cuối là yếu tố quyết định tính chất của nó rõ hơn cả” [47, tr 100] Âm cuối là
nền tảng để người ta phân loại vần (khép, nửa khép, mở, nửa mở), chính đặc điểm của các loại vần đó đã đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự hòa âm Sự hòa âm của vần thơ đối với âm cuối sẽ được tạo ra khi hai âm tiết hiệp vần có sự đồng nhất các âm cuối (phụ âm, bán nguyên âm và âm vị zê rô) hoặc đồng nhất đặc trưng ngữ âm vang mũi (m, n, ng, nh) hoặc đồng nhất về đặc trưng ngữ âm vô thanh (p, t, c)
Âm chính “là hạt nhân, là yếu tố quyết định âm sắc chủ yếu của âm tiết cho
nên âm chính cũng có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập vần thơ” [47, tr
105] Tham gia vào sự hòa âm này, am chính có một quy luật phân bố chặt chẽ trong các vần thơ: các nguyên âm là âm chính của hai âm tiết hiệp vần phải đồng nhất hoàn toàn, hoặc đồng nhất về một đặc trưng nào đó, đặc trưng về âm lượng Ngoài ra, có những trường hợp âm chính không cùng dòng, cùng độ mở cũng hiệp vần với nhau Các âm tiết này hiệp vần nhờ là âm cuối giống nhau
Phụ âm đầu và âm đệm đều có chức năng tạo nên sự khác biệt cho vần thơ
để tránh lặp vần Thực tiễn cho thấy, khi các âm tiết hiệp vần với nhau đã có sự hòa âm, sự thay đổi lần lượt và lặp đi lặp lại của âm chính, âm cuối và thanh điệu thì sự xuất hiện của bất kì âm đầu nào trong âm tiết cũng không ảnh hưởng đến
sự hòa âm Qua đó, cho ta thấy: “âm đầu có tham gia cùng với các thành phần
Trang 19khác để tạo nên sự hòa âm nhưng vai trò của nó không đáng kể” [47, tr.112] Còn
âm đệm mức độ hòa âm rất thấp, có những định mẫu về vần mà sự có mặt của
âm đệm không ảnh hưởng đến sự phân loại của các vần thơ
Tóm lại, các yếu tố cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt đều tham gia vào việc tạo nên sự khác biệt của vần thơ Việt Nam để tránh lặp vần Những yếu tố chính quyết định âm hưởng chung của toàn âm tiết đó là âm chính, âm cuối và thanh điệu và nó quyết định đến sự hòa âm của các âm tiết hiệp vần
* Nhịp
Trong thơ ca, nhịp là cấu trúc tiết tấu cơ bản của một bài thơ hay các dòng
trong một bài thơ Nói khác đi tiết tấu trong thơ chính là nhịp thơ “Nhịp thơ là
cái được nhận thức thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chất chu kì, cách quãng hoặc luân phiên theo thời gian của những chỗ ngừng, chỗ ngắt và của những đơn vị văn bản như câu thơ (dòng thơ), khổ thơ thậm chí cả đoạn thơ” [48, tr.64]
Trong cuốn “Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại” của Hà Minh Đức
quan niệm về nhịp thơ như sau: “Nhịp là kết quả của một sự chuyển động nhịp
nhàng, sự lặp lại đều đặn những âm thanh nào đó trong thơ” [16, tr 248] Như
vậy chỗ ngừng, chỗ ngắt chính là yếu tố quan trọng nhất tạo nên nhịp điệu theo một cách thức nhất định khi phát âm
Trong thơ có hai kiểu nhịp: ngừng nhịp ở cuối dòng và ngừng nhịp ở trong dòng thơ Nhịp thơ có tính thẩm mĩ cao do con người sáng tạo ra để biểu hiện
tư tưởng, tình cảm con người Do đó, các trạng thái tình cảm, cảm xúc đều tác động đến việc chọn nhịp của câu thơ, bài thơ Nhịp trong thơ khác với nhịp trong
văn xuôi “Trong văn xuôi (nhờ sự đồng thời của lời nói), thời gian được cảm
thấy rõ, hiển nhiên đó không phải là những tương quan về thời gian có thực giữa các sự kiện mà chỉ là những tương quan có tính ước lệ Trong thơ thì thời gian không thể cảm giác được Các tiểu tiết của chủ đề và những đơn vị lớn của chủ
đề được cân bằng bởi cấu trúc của thơ” [49, tr.42] Đơn vị để biểu diễn nhịp
(ngắt nhịp) trong một bài thơ, cơ bản nhất là câu thơ (dòng thơ) Vì trong một
Trang 20câu thơ tập trung mật độ dày đặc về cú pháp, về sự hòa âm… Trong mỗi dòng thơ lại có cách ngắt nhịp thuộc vào thể thơ Từ nhịp chung của thể thơ ấy, người sáng tác sẽ có những cách sử dụng linh hoạt, sáng tạo
Từ sự chi phối của cảm xúc người viết, nhịp thơ được ảnh hưởng bởi những hình thức ngắt nhịp hiện đại trên ba cơ sở chính: hình thái văn bản, cú pháp và dấu câu Như vậy, cách tạo ngắt nhịp hết sức đa dạng, có nhiều kiểu, tùy câu, tùy đoạn, tùy bài thơ, thể thơ Nhịp trong thơ in đậm dấu ấn của từng nhà thơ trong việc chọn nhịp
Trong các thể thơ truyền thống, cách luật, ta thường thấy nhịp chẵn luôn chiếm ưu thế (như trong thơ lục bát), có lẽ điều đó xuất phát từ việc người Việt mình từ xưa đã ưa thích sự cân đối hài hòa, rồi đến sự xuất hiện nhịp lẻ cũng là nhịp lẻ cân đối (trong câu có tiểu đối), sau đó mới đến nhịp lẻ độc lập Còn trong thơ tự do, khi những câu thơ gần với văn xuôi, không có vần thì lúc ấy nhịp nổi lên, vai trò của nhịp đã tạo được sự ngân vang rất lớn cho thơ Bản than nhịp nhiều
lúc cũng chứa nội dung trong đó: “Nhịp chẵn gợi lên sự hài hòa, bình yên, tĩnh
lặng, nhịp lẻ thường báo hiệu những tai ương, mắc mớ, uẩn khúc…” [49,
tr.10] Đến đây, ta có thể thấy nhịp chính là huyết mạch của bài thơ
Vần và nhịp là những đơn vị ngữ âm quan trọng của ngôn ngữ thơ Nếu vần và nhịp được đặt đúng chỗ thì mang nghĩa Chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau, bổ sung cho nhau: sự ngắt nhịp là điều kiện trước tiên cho hiện tượng gieo vần, nhịp làm tăng lên hiệu quả hòa âm của vần, một chiều khác,
chính vần cũng có tác động trở lại nhịp “Sự tác động này được biểu hiện khi có
sự hỗ trợ của vần thì chỗ ngừng chỗ ngắt trở lên rõ ràng hơn, lâu và đậm hơn, vần có khả năng nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [46, tr.36], đặc biệt hơn trong thơ
tự do thì “vần trở thành một tiêu chí rất quan trọng giúp người ta ngừng nhịp
đúng chỗ” [47, tr.42]
Tóm lại sự tổ chức âm thanh một cách hài hòa, có quy luật là đặc trưng nổi bật của ngôn ngữ thơ ca Hai yếu tố làm nên đặc trưng đó là vần và nhịp đồng thời
Trang 21nó có vai trò quan trọng trong việc tạo nên tính nhạc cho thơ, để thơ ca có khả năng biểu đạt tinh tế những tình cảm, cảm xúc của tâm hồn mà con chữ không thể cắt nghĩa hết được Hơn nữa, “Nhạc tính của một thi phẩm càng giàu, tức những tham
số thanh lọc của ngôn ngữ càng có độ tin cậy cao, thì hiệu quả lưu giữ truyền đạt của thi phẩm càng lớn, sức sinh tồn của nó càng mạnh” [7, tr.152]
b Về ngữ nghĩa
Ngôn ngữ thơ ca trước tiên là một thứ ngôn ngữ được chắt lọc, được gọt giũa, tinh luyện từ ngôn ngữ “nguyên liệu” - lời nói hàng ngày Do đó, ngữ nghĩa trong thơ ca và trong ngôn ngữ giao tiếp thông thường không hoàn toàn giống nhau và ngữ nghĩa trong thơ ca còn khác cả ngữ nghĩa trong văn xuôi Khi đưa mỗi ngôn từ vào thơ đều phải trải qua sự lựa chọn khắt khe của tác giả Những ngôn từ ấy hoạt động linh hoạt, đa dạng, biến hóa để đạt được mục đích làm sao với diện tích ngôn ngữ nhỏ nhất nhưng có thể diễn tả được cả thế giới Trong thơ
ca có sự khác biệt với văn xuôi về số lượng ngôn từ, câu chữ vì trong thơ tùy thuộc vào mỗi thể loại mà có những cấu trúc nhất định, còn trong văn xuôi lại không hạn chế về điều đó Ngữ nghĩa của ngôn từ trong thơ nhiều khi không dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa gốc mà nó còn mang những ý nghĩa mới tinh tế và đa dạng hơn, do phải chịu áp lực của cấu trúc Nó vừa phải đảm bảo tính chính xác, tính hình tượng vừa
có tính truyền cảm để phát huy được hiệu quả cao nhất Như Mã Giang Lân đã
nhận xét: “Một trong những nét độc đáo của hoạt động sáng tạo thơ ca là việc bố
trí chữ, tạo nghĩa mới cho chữ Cùng một chữ ấy nằm trên một trục hình tuyến ngôn ngữ nhưng lại biểu hiện nhiều chiều của nghĩa Ở đây không chứa đựng với
tư cách là từ đồng nghĩa mà là từ đa nghĩa Chính từ đa nghĩa tạo nên độ sâu cảm xúc của thơ, tạo nên các tầng nghĩa và sự biến hóa linh hoạt của câu thơ, hình ảnh thơ, hình tượng thơ” [31, tr.21]
Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ giàu sức khơi gợi, từ ngữ trong thơ không chỉ gọi tên sự vật, hiện tượng mà còn gợi ra nhiều liên tưởng, tưởng tượng trong tư duy
Trang 22người đọc, người nghe Họ thấy được cả những thông tin “bề mặt” cho đến những
“trầm tích” ngữ nghĩa của câu thông qua các từ ngữ và cấu trúc ngôn ngữ thơ Lúc này, ngôn ngữ thơ đã đến độ hàm súc “ý tại ngôn ngoại” Và độc giả có thể trở thành người đồng sáng tạo với thi gia để tìm hiểu đến tận cùng khả năng biểu đạt của ngôn ngữ thơ Đó là điều chính yếu của thơ Trong quá trình vận động của ngôn ngữ thơ
ca, cái biểu hiện và cái được biểu hiện luôn tác động qua lại, hòa nhập vào nhau để tạo ra cái khoảng không ngữ nghĩa vô cùng cho ngôn ngữ thơ Nó yêu cầu độc giả đến với thi ca bằng cả tâm hồn để có thể cùng “vào mã” với nhà thơ để “giải mã” những lớp ngữ nghĩa tiềm ẩn trong từng câu chữ
Nhiều khi việc lựa chọn từ ngữ không tuân theo trật tự bình thường, các thành phần trong dòng thơ, câu thơ thường bị đảo lộn Nguyễn Lai đã nhận xét
về cấu trúc cú pháp của câu thơ như sau: “Cấu trúc cú pháp của câu thơ thường
khó phân tích theo nguyên tắc logic của ngữ pháp thông thường như trong văn xuôi” [33, tr.129] bởi cấu trúc của ngôn ngữ thơ thường không bị chi phối do các
quy định chặt chẽ như câu trong văn xuôi và trong ngữ pháp thông dụng Thi gia với những ý tưởng nghệ thuật của riêng mình, có thể sáng tạo và vận dụng các kiểu câu có cấu trúc “bất quy tắc” Đó là những câu “lệch” ra khỏi quỹ đạo của trật tự tuyến tính thông thường mà các đơn vị ngôn ngữ luôn phải tuân thủ, bao gồm câu đảo ngữ, câu tỉnh lược, câu tách biệt, câu trùng điệp, câu vắt dòng, câu
có sự kết hợp bất thường về nghĩa Mặt khác còn có cách liên kết từ mang tính
“lạ hóa” tạo nên những tác động phong phú trong lời thơ Việc vận dụng phổ
Trang 23quát các kết cấu này không làm biến đổi đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản thơ Ngược lại, chính điều đó tạo ra và đem lại những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca, mang hết khả năng vô tận của ngôn ngữ thơ trong việc chuyên chở những trạng thái cảm xúc bí ẩn của thế giới và tâm hồn con người,
để qua đó làm nên sức hút của thơ
Có thể nói, ngữ pháp thơ ca khá đặc biệt và độc đáo, đầy sức hút đối với con người Tìm hiểu ngữ pháp thơ ca là con đường ngắn nhất để chúng ta phát hiện ra phong cách của mỗi nhà thơ và những dấu ấn sáng tạo mang tính cá nhân của thi gia
Đúng như Mã Giang Lân đã từng khẳng định: “Thơ trước hết là ngôn ngữ
với màu sắc âm thanh, nhịp điệu, với những cấu trúc đặc biệt Mỗi chữ đứng riêng
có ý nghĩa riêng, nhưng trong trường hợp khác, trong những cấu trúc khác sẽ có những ý nghĩa khác Mỗi chữ mỗi từ không chỉ là xác mà là hồn, là độ sâu ngữ nghĩa, độ sâu của ngân vang, của cảm quan nghệ thuật” [31, tr.149] Qủa đúng
như lời nhận định, qua ba đặc trưng về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ta thấy ngôn ngữ thơ ca là một loại ngôn ngữ đặc thù, nó là thành phẩm của việc thể hiện tài năng, sự sáng tạo mang phong cách riêng của nhà thơ
1.2 Giới thiệu về Nguyễn Thị Mai và thơ Nguyễn Thị Mai
1.2.1 Giới thiệu về nhà thơ Nguyễn Thị Mai
Nguyễn Thị Mai sinh năm 1955 tại Quận Long Biên, thành phố Hà Nội Quê gốc của cô thuộc huyện Cẩm Khê - Phú Thọ Nguyễn Thị Mai đã học xong các cấp phổ thông, đại học, thạc sĩ ngữ văn khi mới 26 tuổi Cha mẹ mất sớm, nhà lại đông anh em, cô phải gồng gánh lo cho đàn em
Sau khi tốt nghiệp khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, Cô được điều lên Trường Cao đẳng Sư phạm Hòa Bình làm giảng viên, rồi Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây Cô từng là cán bộ Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; giảng viên Học viện Phụ nữ Cô là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội văn học Nghệ thuật Hà Nội
Trang 24Nguyễn Thị Mai có thơ đăng báo từ năm 1976 Đây cũng là mốc thời gian đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời làm thơ của cô Củng bởi từ đó đến nay các tác phẩm của Nguyễn Thị Mai thường xuyên được đăng trên Tạp chí Văn nghệ địa phương (Tản Viên Sơn) và nhiều báo chí Trương ương và cả trên làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam
Từ năm 1995 đến nay Nguyễn Thị Mai đã sáng tác được11 tập thơ, 02 tập truyện ngắn Gồm:
- Thơ:
1 Thời hoa gạo cháy - Tập thơ - Nxb Phụ nữ - 1995
2 Nón trắng sang đò - Tập thơ - Nxb Văn hóa thông tin - 1997
3 Một khúc sông trăng - Tập thơ - Nxb Văn học - 2001
4 Vầng trăng trước nhà - Tập thơ thiếu nhi - Nxb Phụ nữ - 2003
5 Tảo tần gót khuya - Tập thơ - Nxb Văn học - 2005
6 Đừng yêu em như mặt trời - Tập thơ - Nxb Quân đội nhân dân - 2006
7 Bàn tay ấm giọt sương đông - Tập thơ - Nxb Hội nhà văn- 2010
8 Lục bát anh và em - Tập thơ - Nxb Quân đội - 2010
9 Không xóa nổi lời hoa - Tập thơ - Nxb Văn học - 2014
10 Tầm xuân mắt biếc - Tập thơ - Nxb Văn học - 2014
11 Mang quê ra đảo - Tập thơ - Nxb Hội nhà văn - 2015
Thơ là nơi cô kí thác nhiều nhất, với những tâm sự tận đáy lòng mình Trong thơ cô mang một giọng điệu, màu sắc riêng rất tình cảm và sâu lắng Thấp thoáng trong thơ Nguyễn Thị Mai ta bắt gặp bóng dáng của những người con, người chị, người mẹ… bằng những lời thơ, câu từ đắt giá
- Văn xuôi:
1 Người yêu là lính - Tập truyện ngắn - Nxb Quân đội - 2000
2 Chuyện tình của Trưởng Bản Pà Khia - Nxb Văn hóa dân tộc - 2006 Trong số các nhà thơ nữ Hà Nội nói riêng và các nhà thơ nữ Việt Nam nói chung, Nguyễn Thị Mai là nhà thơ có giọng điệu không thể lẫn với bất kì ai Ở
Trang 25cô hội tụ một hồn thơ đa tài, đa cảm
Có lẽ do tuổi thơ cơ cực, chịu nhiều thiệt thòi và sớm phải bươn trải, tảo tần với cuộc sống đã giúp cho Nguyễn Thị Mai tạo ra được những tác phẩm đầy cảm xúc, thể hiện nỗi lòng, tâm tư mà cô muốn gửi gắm đến bạn đọc
1.2.2 Thơ Nguyễn Thị Mai
Là một trong những nhà thơ nữ Việt Nam đương đại, thơ Nguyễn Thị Mai
luôn thể hiện sự đằm thắm, nghĩa tình, có chiều sâu Cô luôn canh cánh, khát khao đổi mới trên nền thơ vốn có của mình
Thơ Nguyễn Thị Mai rộng cả về thể loại lẫn đề tài, cô áp dụng vô cùng hiệu quả từng thể loại để đạt tới đỉnh cao của sự giản dị, xúc động cho thơ mình
Ở bất kì thể loại nào thơ cô cũng có sự độc đáo, xuất sắc khác biệt nhưng
có lẽ thể thơ lục bát đã để lại trên thi đàn nhiều dấu ấn sâu đậm nhất Với thể thơ này cô viết để sẻ chia nỗi niềm cùng thân phận con người, nhất là phụ nữ, gia
đình và tình yêu đôi lứa…: Một lần em đến rồi đi / Tiễn chân, anh hát tới khi em
chào / Lời anh - Lời của ca dao / Giọng anh - ai biết vừa trao tặng gì?
Bạn đọc nói chung và nhà thơ nói riêng đều biết một điều rằng, thơ lục bát rất dễ làm nhưng khó hay Nếu không có những câu vần vũ, tài hoa thì nó sẽ như dòng nước trôi tuột ra biển khơi giống như bài thơ sẽ trôi tuột khỏi nhí nhớ của bạn đọc Cũng chính vì điều đó mà Nguyễn Thị Mai đã dụng công nâng niu, chăm sóc ở thể thơ này Có thể khẳng định thể thơ lục bát đã cắm mốc ngòi bút Nguyễn Thị Mai trên thi đàn văn học
Nói đến thơ Nguyễn Thị Mai ta có thể thấy ngay được sự dịu dàng, ấm áp, đôn hậu lấn át cái phá phách, chông gai, dị biệt Dịu dàng, ấm áp, đôn hậu nhưng
không hề phẳng lặng, cổ hủ, nệ cổ; bởi nhà thơ đã từng nói rằng “Điều ám ảnh,
trăn trở nhất trong quá trình sáng tác của tôi, đó là tìm tứ Nhưng tứ phải lạ, phải mới, phải bất ngờ và mê hồn người đọc Nhiều người không thuộc được bài thơ nhưng rất nhớ tứ thơ, xúc động vì cái tứ chứ không phải vì hình thức bài thơ
Có tứ sẽ có hình thức thể hiện” Qủa đúng như vậy: Nhà quê còn chút mẹ già/ Đêm thâu thức giấc canh gà ho khan/ Mái nghèo một bóng ba gian/ Mảnh sân nắng gội mưa chan tháng ngày/ Vườn quê còn rặng xoan gầy/ Lá rơi xót đất,
Trang 26hoa bay đắng trời
Không chỉ có thế trong thơ cô còn cho phía bạn đọc, cảm giác thiếu vắng,
se thắt cõi lòng, trong sự hoài niệm, liên tưởng đã làm nên hiệu ứng thổn thức
lây truyền trong thơ cô: Một nhà trắng những khăn xô/ Dải khăn em út bấy giờ
chấm chân/ Bấy giờ đang cuối mùa xuân/ Hoa xoan lã chã từ sân ra vườn/ Nhà còn bơ gạo cắm hương/ Và bơ nữa thổi bát cơm trứng gà/ Gia tài lúc mẹ đi xa/ Đôi quang đứt dải, căn nhà dột mưa
Thơ Nguyễn Thị Mai thường hiện hữu những chi tiết đặc trưng mang dấu
ấn riêng nổi bật về cảnh, tình,không gian, thời gian trong thơ thật tinh tế, hóm
hỉnh không thể lẫn với bất kì ai: Sáng này qua ngõ nhà anh/ Hắt hiu bờ dậu, vắng
tanh bóng người/ Bướm vàng dẫn lối trêu ngươi/ Triền đê hoang gió, em ngồi… buồn tênh
Thi liệu dân gian trong thơ cô được sử dụng với dung lượng và tần suất rất lớn, vô cùng linh hoạt Dường như thi liệu dân gian khi vào thơ cô đã nhập vai một
cách tài tình, tự nhiên: Rồi mai hoa cải về trời/ Thì em sẽ hiểu những lời lá dăm.Hay
Dì không mang nặng đẻ đau/ Đứt dây mà xót thương bầu, bí ơi!/ Kệ cho bánh đúc mấy đời/ Người ăn người lại nói lời nghiệt cay.Qua đó ta thấy được thơ cô có lời
dẫn đường, nhịp chỉ lối để đi vào lòng, vào tim người đọc, người nghe
Nguyễn Thị Mai đã đạt được nhiều giải thưởng về thơ Những bài thơ được
giải, hầu hết là lục bát viết về những đề tài cuộc sống gần gũi: Nhà Không có
bố năm 1992; Nói với con chồng năm 1994 Ru mẹ, giải nhất cuộc thi Phòng
chống ma tuý của Bộ Văn Hoá năm 2007; giải C chùm thơ 3 bài cuộc thi thơ tình
của báo Văn nghệ Trẻ năm 2007; Chợ đêm Long Biên giải nhì (không có giải
nhất) cuộc thi thơ lục bát “Ngàn năm thương nhớ” do 6 báo đồng tổ chức năm
2010, trong đó có báo Văn nghệ Hai tập thơ Thời hoa gạo cháy và Nón trắng
sang đò của nhà thơ được giải B và A của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội
Văn học Nghệ thuật Việt Nam
Dành cả cuộc đời và dốc hết tình yêu cho văn học, dẫu cho con đường thơ ca còn dài cô cũng đã tỏa hương cho đời bằng 11 tập thơ đã được xuất bản Cô âm thầm,
Trang 27miệt mài lao động sáng tạo để có được những vần thơ chín muồi, những vần thơ đích thực bất hủ với thời gian Cô xứng đáng là một trong những gương mặt thơ tiểu biểu cho sự dịu dàng, đắm thắm, độc đáo của thơ ca đương đại Việt Nam
Tiểu kết chương 1
Để tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Thị Mai, trong chương 1, luận văn đi vào trình bày làm sáng rõ những vấn đề cơ sở lí luận về thơ, ngôn ngữ thơ cùng các đặc trưng nổi bật, thông qua các mặt về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp
Đó chính là những cơ sở cần thiết để chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra đối với đề tài
Luận văn cũng giới thiệu một số nét khái quát về nhà thơ Nguyễn Thị Mai
và thơ của cô để khẳng định vị trí và đóng góp của cô đối với thơ ca hiện đại Việt Nam
Trang 28Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VỀ THỂ THƠ, VẦN, NHỊP VÀ CÁCH TỔ CHỨC BÀI THƠ
TRONG THƠ NGUYỄN THỊ MAI 2.1 Đặc điểm về thể thơ
Trong cuốn “Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại” có đoạn viết: “Thể
loại như xương cốt, cái làm nên hình thù, vóc dáng cơ bản để từ đó nhà thơ đắp lên da thịt và thổi hồn vào mình, khiến bài thơ trở thành thực thể và tồn tại với đời.” [42, tr.230] Theo nội dung trên thì thể loại được coi là yếu tố quan trọng
nhất để tạo dựng một thi phẩm Nói về thể loại là ta đang nhắc tới phương diện hình thức nhưng chứa đựng trong đó là cả nội dung, cho nên nó đóng vai trò quyết định sức ảnh hưởng của một bài thơ
Nói đến thơ, từ xưa cho đến nay đã có các thể thơ như: thơ Đường luật, thơ hai chữ, thơ ba chữ, thơ bốn chữ, thơ năm chữ, thơ sáu chữ, thơ bảy chữ, thơ tám chữ, thơ lục bát, thơ tự do, thơ văn xuôi… với mỗi thể loại thì lại có những nét ưu viêt riêng Sở dĩ người ta chia ra thành nhiều thể loại là do yếu tố: số tiếng của mỗi dòng, số dòng thơ, cách phối thanh và hiệp vần
Khảo sát hai tập thơ “Thời hoa gạo cháy” và “Nón trắng sang đò” của Nguyễn Thị Mai, có thể thấy Nguyễn Thị Mai đã sử dụng rất nhiều thể thơ: 4 chữ (tiếng), 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ, lục bát, tự do, văn xuôi Có thể thấy rõ hơn về số lượng và thể loại trong hai tập thơ trên của Nguyễn Thị Mai qua bảng dưới đây:
Bảng 2.1: Bảng thống kê các thể loại thơ
STT Thể loại Số bài Số lần xuất hiện Tỉ lệ(%)
Trang 29Dựa vào bảng phân loại trên có thể thấy nhà thơ Nguyễn Thị Mai rất có duyên với thể thơ lục bát; và với thể thơ này đã mang lại cho cô nhiều thành công nhất Điều đó chứng tỏ chất liệu thi ca dân gian rất có đất diễn trong thơ ca của
cô Ngoài ra, trong bảng phân loại ta thấy xuất hiên các thể thơ 4 chữ, 7 chữ, 8 chữ nhưng do tần số xuất hiện rất ít nên chúng tôi xin phép không đi sâu vào những thể loại đó
2.1.1 Thể thơ năm chữ
Thơ năm chữ hiện diện từ lâu đời trong thơ ca dân gian như thơ cổ phong hay ngũ ngôn cổ phong, lối hát giặm Nghệ Tĩnh, thơ Đường hay còn gọi là ngũ ngôn Đường luật Tuy nhiên thể thơ năm chữ của thơ ca hiện đại lại có sự phá cách và mới lạ hơn so với thơ năm chữ truyền thống Thơ năm chữ hiện đại giống như một cơn gió mát mang theo sự tươi mới thổi bay đi sự gò bó của ngũ ngôn Đường luật; đồng thời nó mở rộng mạch thơ và tứ thơ bay bổng hơn
Trong 71 bài thơ của hai tập thơ: “Thời hoa gạo cháy” và “Nón trắng sang đò” của Nguyễn Thị Mai có 7 bài thơ năm chữ chiếm 9,9% Thơ năm chữ của Nguyễn Thị Mai không nhiều nhưng khi đọc lên ta thấy mỗi câu, mỗi từ luôn
chứa đựng những tâm tư, tình cảm như những bài thơ: Chiều chia tay, Nhắn
người ở đầu sông, Tự cảm, Rét nghiêng… Và cũng bởi một điều nữa đó là sự
xen kẽ nhịp nhàng, thuần thục mà đầy tự nhiên về nhịp thơ 2/3,1/4, 3/2 lại càng cho bạn đọc thấy được những tâm tư, tình cảm mà nhà thơ đã đặt để trên từng câu chữ trong mỗi bài thơ Chẳng hạn như trong bài “Rét nghiêng” sau đây có nhịp thơ 2/3, 3/2 xen kẽ nhịp nhàng:
Thị xã,/ em nhớ nhất
Là buổi đầu/ nhìn sao Dòng sông,/ em nhớ nhất Thuở gầm reo,/ ầm ào
Trang 30Ngõ nhà anh,/ nhớ nhất
Có bụi hoa/ dong riềng Mùa đông,/ em nhớ nhất Anh nói rằng:/ Rét nghiêng
(Tự cảm)
Với thể thơ năm chữ, Nguyễn Thị Mai đã bộc bạch một tâm hồn phóng khoáng với mong ước được thành mây, để chạm tới sự tự do không bị ràng buộc Nhà thơ đã sử dụng cách gieo vần tréo: “khơi” - “ơi” và vần ôm “gió” -“nhỏ”, kết hợp với cách ngắt nhịp linh hoạt, nhẹ nhàng trong bài thơ “Là mây” như khẳng định lại sự mong muốn tự tại của mình
Giá mà/ làm con sóng
Để/ tìm về biển khơi Nhưng /sống trong ao hẹp Thì về đâu/ sóng ơi?
Trang 31Hãy/ là mây trên trời Bạn bè/ cùng nắng gió Muốn biển to,/ sông nhỏ
Tự do đời/ mà bay
(Là mây)
Nhà thơ ước mình là mây để tâm hồn mình vươn tới điều lớn lao, cao thượng; để có con mắt nhìn xa trông rộng tuy nhiên đây là bài thơ được viết khi nhà thơ đương độ tươi trẻ nên không có sự trải nghiệm và luôn mông nung khát khao mơ hồ Giả sử bây giờ cho ước chắc chắn nhà thơ sẽ không ước là mây, cũng bởi nhà thơ hiện tại đã trải qua đầy đủ những cung bậc của cảm xúc như: buồn vui, đau khổ Cũng chính bởi lẽ đó mà nhà thơ đã tìm đến thể thơ năm chữ
để mà gửi gắm, để mà giãi bày
2.1.2 Thể thơ sáu chữ
Cũng giống như thơ năm chữ, thơ sáu chữ của Nguyễn Thị Mai có dáng dấp của sự tươi mới của cách ngắt nhịp, của ngôn từ Trong hai tập thơ “Thời hoa gạo cháy” và “Nón trắng sang đò” thể thơ sáu chữ có dung lượng không nhiều, chỉ có 6/71 bài được sáng tác theo thể thơ này, chiếm 8,5% nhưng đã phần nào làm toát lên những hoài niệm, những suy tư, những nỗi niềm mà nhà thơ gửi gắm qua những trang thơ sáu chữ ấy, chẳng hạn:
……
Quê ngoại/ lâu không về được Vẫn thương các cậu,/ các dì Thương/ hoa trắng như gạo vãi Bước người/ có nhẹ chân đi?
(Quê ngoại)
Trang 32Có những khi, thể thơ sáu chữ được Nguyên Thị Mai sử dụng để viết nên những câu thơ đong đầy cảm xúc:
Đừng yêu em như mặt trời Chói chang nắng hè khổ lắm Cũng đừng như ánh trăng xanh Mỗi tháng một lần tròn trặn
Tình anh nếu là vô tận Xin đừng ví nó như sông Sông mà ra biển mênh mông Bao giờ cho em theo được?
(Tâm sự)
Đọc thơ sáu chữ của Nguyễn Thị Mai, ta thấy có sự đối lập giữa dung lượng ngắn, nhỏ hẹp của câu chữ với sự chứa chan, mãnh liệt của tình cảm, cảm xúc Độc giả có thể dễ dàng nhận thấy độ sâu lắng, sự mênh mông của nội tâm trong thơ sáu chữ của Nguyễn Thị Mai Đây chính là điều mới lạ và khác biệt trong thơ cô
2.1.3 Thể thơ lục bát
Là một gương mặt tiêu biểu của những nhà thơ nữ hiện đại Hà Nội, Nguyễn Thị Mai đã chọn thể thơ lục bát là nơi kí gửi ý tưởng sáng tác, mạch nguồn cảm xúc của mình Bởi chỉ cần quan sát qua bảng thống kê, ta thấy được
có tới 36 bài thơ lục bát trong tổng số 71 bài thơ qua hai tập thơ “Thời hoa gạo cháy” và “Nón trắng sang đò” chiếm 50,7% trong các sáng tác của cô
Thể thơ lục bát bắt nguồn từ ngôn ngữ đồng dao, ca dao, dân ca, mộc mạc giản dị mà thấm đậm hồn quê, lay động lòng người Nguyễn Thị Mai đã khai thác triệt để lợi thế đó Thơ lục bát đã giúp cho những cảm xúc trữ tình của cô được sâu sắc hơn, đằm thắm hơn và lí trí hơn
Trang 33Nguyễn Thị Mai rất coi trọng vần luật trong thơ lục bát Mỗi khi phát hiện được vấn đề (tứ) cô thường suy nghĩ phải chọn thể thơ gì để thể hiện Hơn thế Nguyễn Thị Mai cũng chú ý đến cách ngắt nhịp, vì theo cô nhịp là hơi thở của thơ, là giọng điệu khác người Ở thể này nếu buồn cô để nhịp dài, nếu vui cô ngắt nhịp ngắn cho khỏe khoắn chẳng hạn như bài thơ sau:
Chắc là/ em giống tôi xưa
Dễ buồn vui với/ nắng mưa,/ với mình
Chắc là em trẻ,/ em xinh Tóc mây một sợi/ kéo đình đổ siêu Chắc là/ em hạnh phúc nhiều Khi ôm hoa tặng,/ nhận điều hứa cho
Chắc là…/
Sao tôi đắn đo Thương em,/ nói thật mà lo bời bời Rồi mai/ hoa cải về trời Thì em sẽ hiểu/ những lời lá dăm
(Đôi điều với người phụ nữ đến sau)
Với cách ngắt nhịp chẵn, lối gieo vần kết hợp giữa vần chân và vần lưng
ở số từ chẵn hiệp vần với thanh bằng đã tạo cho bài thơ sự uyển chuyển nhẹ nhàng và ngân vang
Ở thể thơ dân tộc này nhà thơ Nguyễn Thị Mai sử dụng thi liệu dân gian như chuyển hóa ca dao, tục ngữ vào thơ mình với tần suất lớn, khá linh hoạt Cũng bởi những trầm tích văn hóa mà Nguyễn Thị Mai học được từ dân gian, đã thấm đượm trong cô, được cô ứng dụng một cách đắc địa nên đã hồi sinh và tỏa sáng, tạo ra ngữ nghĩa mới cho mỗi câu thơ, qua đó làm sâu sắc hơn, hiện đại hơn lục bát của mình:
Trang 34… Đời dì quá buổi chợ tan
Nhà con xảy nghé tan đàn khổ đau
Dì không hoa trắng cài đầu
Về nhà con chỉ cơi trầu nồng say Con là con gái thơ ngây Đàn ông, cha chẳng bù đầy được đâu
Dạy con tết tóc gội đầu Nấu ăn giặt giũ, vá khâu áo quần Bàn tay hiền dịu tảo tần Bưng cơm,rót nước… ân cần trước sau
Dì không mang nặng đẻ đau
Đứt dây mà xót thương bầu, bí ơi!
Kệ cho bánh đúc mấy đời
Người ăn người lại nói lời nghiệt cay
(Nói với con chồng)
Đọc thơ lục bát của Nguyễn Thị Mai ta thấy có cả chất hài rất hóm hỉnh qua phép đối sánh tinh tế tài hoa giàu liên tưởng, góp phần tạo nên tính đa tầng
đa nghĩa cho thơ:
…
Em là vệt sóng trong ao Nhỏ nhoi với những khát khao riêng mình
Là viên ngói cũ đầu đình
Vô tư mưa xối, vô tình mây qua…
Dù anh biển rộng, trời xa Cũng không bước nổi qua tà áo em
(Anh và em)
Trang 35Theo lục bát cổ, cần phải tuân thủ nghiêm ngặt niêm luật ở câu 6 và 8 (nhị
tứ lục phân minh): bằng - trắc - bằng: bằng - trắc - bằng - bằng Song Nguyễn Thị Mai đôi khi phá luật để lục bát thêm thi vị, là trường hợp câu 8 trong cặp câu sau:
Chúng mình có một giáng sinh Anh lẻ loi, em một mình gặp nhau
(Ngẫu hứng giáng sinh)
Chẳng khó để bạn đọc bắt gặp những câu thơ sử dụng nhiều từ láy hoặc sóng đôi trong thơ Nguyễn Thị Mai, điều đó đã tạo cho thơ cô một nhịp điệu nhẹ nhàng, kéo dài, thanh thoát như bài “Bồng bềnh xóm vạn”:
Trang 36Mà anh biến hút chân trời bóng chim…
Em về
Buồn giữa lặng im Mặc gương chiếu hậu dõi tìm bóng anh
Hay sự biến tấu ngắt nhịp trong bài “Tặng núi” sau đây:
Cứ cao!
Kiễng chân với gió, nghiêng đầu vờn mây Dưới kia
Mặc sông trang trải đổi thay, lở bồi…
Nhưng mà
Buồn lắm núi ơi!
Ngàn năm vẫn chỉ chơi vơi một mình
Vẫn là sự ngắt nhịp linh hoạt ở câu lục song lại tạo sự bất ngờ cho độc giả bởi sự kết cấu ấn tượng, biến tấu nhưng vẫn chặt chẽ
Sự đặc biệt trong thơ lục bát của Nguyễn Thị Mai còn ở sự xuất hiện hình thức câu thơ bậc thang Hình thức đó được thể hiện ở nhịp của câu bát trong bài
“Nắng quái chiều” sau đây, đã bị ngắt thành nhiều đoạn nhỏ, làm tăng thêm sức gợi cảm, ý tứ được nhấn mạnh hơn và tính nhạc vang ngân hơn:
Chiều nay anh chạy trốn em Trời đang xanh, nắng bỗng nhiên… quái chiều
Con đường, cây đứng liêu xiêu
Trang 37Vài ba chiếc lá rơi vèo vu vơ Hoa như chưa đẹp bao giờ Câu thơ nhạt nhẽo hững hờ đầu môi Sao mềm yếu vậy tim ơi?
Hát lên!
Không thể
Thôi người cứ xa!
Không những thế thơ lục bát của Nguyễn Thị Mai cứ thế được viết một cách rất tự nhiên như người bản ngữ nói tiếng của chính địa phương mình Điều đặc biệt nữa đó là ta không thấy có sự ép vận trong thơ cô:
Đang trưa, gắt nắng người về Cơm sôi vừa cạn, bộn bề lửa than
Người về, bỏ gánh đa đoan
Bỏ em ngồi dưới bóng xoan, mái nghèo…
Người về tay nải người đeo
Ô che quạt mát cuốn theo dặm đường Người về con nhện tơ vương Mang tơ giăng mắc, khói sương mịt mờ
Một điều không thể phủ nhận, thơ lục bát là thể thơ mà Nguyễn Thị Mai
ưa dùng nhất và rất thành công ở thể loại này, bởi hầu như những bài thơ đạt giải
thưởng đều là thể thơ lục bát
2.1.4 Thể thơ tự do
Thơ tự do là thể thơ không tuân thủ những quy tắc về cách luật cố định như các thể thơ khác Thơ tự do không bị bó buộc bởi những quy tắc khắt khe như thơ Đường luật do đó thể thơ này đã tạo nên một thứ nhịp điệu, âm hưởng mới lạ vô cùng Cũng bởi thế mà mạch thơ trong thơ tự do rất phóng khoáng
Trang 38Trong thơ tự do nhịp điệu gần với đối tượng được nói tới; đây là điều mới mẻ trong thể thơ tự do Và quả là thiếu hụt khi nói tới thể thơ tự do mà không nhắc tới việc các nhà thơ có thể mặc sức sáng tạo về mặt vần điệu, sự hạn định câu trong mỗi bài thơ Từ đó tạo tiền đề cho tứ thơ, nhịp thơ bay bổng biểu thị nội dung một cách tối đa
Nét mới lạ nữa trong thơ tự do là lối gieo vần linh hoạt không tuân theo quy tắc gieo vần vốn có của một số thể thơ Nhà thơ có thể gieo vần khác nhau hoàn toàn trong từng đoạn, khổ thơ Nói như trên, thể thơ tự do không có nghĩa
là tùy tiện trong cấu tạo hình thức mà ngược lại thơ tự do vẫn giữ được phẩm chất vốn có của thơ ca cả về mặt nội dung cũng như hình thức biểu hiện
Các nhà thơ tìm đến thể thơ tự do khi tâm hồn đã đủ độ chín, lúc đó chính
là thời điểm chín muồi cho các nhà thơ diễn tả đối tượng và trạng thái tình cảm một cách xuất thần nhất
Trong hai tập thơ mà chúng ta đang xét của Nguyễn Thị Mai thì thể thơ tự
do được xếp thứ hai, sau thơ lục bát về số lượng gồm 17 bài chiếm 23,9% Về hình thức thơ tự do của Nguyễn Thị Mai là sự phối xen: xen lẫn câu thơ ngắn dài, phối hợp có vần và không vần với nhau
Chẳng hạn như trong bài “Em về”:
Trang 39Sự sáng tạo trong cách sắp xếp số lượng con chữ trong mỗi câu, cho người đọc thấy được sự co duỗi nhịp nhàng dẫn đến việc diễn đạt có hiệu quả cao Việc
sử dụng những câu thơ dài ngắn khác nhau trong bài “Em về” như giãi bày sự đơn độc của tâm trạng
Vẫn là sự xen kẽ của những câu thơ dài ngắn nhưng lại có sự khác biệt đến lạ kì ở lối điệp ngữ làm tăng lên ý nghĩa câu thơ như trong bài “Gửi tháng ngày xa”:
Những bài thơ anh viết có em
Thơ Nguyễn Thị Mai có sức cuốn hút kì lạ tới bạn đọc Hơn thế thơ của
cô dễ nhớ và dễ thuộc bởi thơ cô có những bài hiệp vần theo vần chân, có tác dụng đánh dấu sự kết thúc dòng thơ và tạo nên mối liên kết giữa các dòng thơ:
Còi thét lên giữa một ga đêm
Hay ồn ã lao về trong trưa nắng Con tàu lắc mình mang khách nặng
Em chẳng suy tư trước khách của tàu
Đến bây giờ khi ta đã xa nhau Sân ga nhỏ bỗng thành nơi tha thiết Vuông khăn vẫy bàn tay ai tiễn biệt
Cũng bâng khuâng xao động suốt đường về
……
(Tiếng con tàu)
Trang 40Những dòng thơ với những âm tiết cùng vần nối tiếp nhau giống như các toa của “đoàn tàu thơ ca” nối tiếp nhau tới sân ga tâm tưởng Qua đó nhà thơ đã khoác lên mỗi đứa con tinh thần của mình cái tứ thơ mới lạ, khác biệt chỉ trong thơ cô mới có
Trong thơ tự do của Nguyễn Thị Mai, những câu thơ dài chiếm số lượng khá nhiều Theo khảo sát qua 16 bài thơ tự do của cô thì có 271 câu thơ dài, có
số câu trên năm từ chiếm tỉ lệ 86,6%, còn số câu thơ dưới năm từ chỉ có 42 câu chiếm 13,4%
Trong bài thơ “Người về sau chiến tranh” của cô, ta bắt gặp những câu thơ dài ngắt quãng thành những dòng thơ ngắn Giống như những cây cầu bắc ý qua dòng sông thơ Với hình thức này, nhà thơ như thể đang dốc bầu tâm sự, nỗi niềm giấu kín nơi cõi lòng:
…
Căn phòng bây giờ mới thực sự có anh Mắc áo mắc thêm áo bạt dài đại cán Giầy cao cổ dưới chân giường,
bi đông treo đầu chạn Tiếng điếu cày, mùi khói thuốc, bóng đàn ông …
Tối tối dạy con anh hét vang phòng Cơm thường sớm sẵn chờ em tan buổi Trồng luống rau, đóng chuồng gà,
Lương sĩ quan đưa em hết mọi đồng
Trong số 16 bài thơ tự do, được gói trong hai tập thơ “Thời hoa gạo cháy”
và “Nón trắng sang đò” của Nguyễn Thị Mai ta bắt gặp bài thơ không có vần