1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) tăng cường quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của chi cục quản lý thị trường tỉnh thái nguyên

149 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 2,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác kế hoạch đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm ở địa phương còn hạn chế, một số huyện tuy đã thành lập Ban chỉ đạo nhưng hoạt động chưa hiệu quả; hệ thống tổ chức chuyên

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Hữu Cường

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Lương Ngọc Khiêm

Tôi xin cam đoan: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được bày tỏ trong lời cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Lương Ngọc Khiêm

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy, Cô giáo khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh -Học Viện Nông nghiệp Việt Nam cùng nhiều tập thể, cá nhân

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy,

cô giáo khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh - Học Viện nông nghiệp Việt Nam; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Trần Hữu Cường - Trưởng khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Lãnh đạo cũng như toàn thể cán bộ công chức Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên, các tổ chức, cá nhân liên quan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho Luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè những người đã luôn động viên và đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Lương Ngọc Khiêm

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục sơ đồ, đồ thị, hình ix

Trích yếu luận văn x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 8

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 8

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 9

2.1 Cơ sở lý luận 9

2.1.1 Một số khái niệm dùng trong ngành thực phẩm và QLNN về ATTP 9

2.1.2 Vai trò của quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm 11

2.1.4 Nguyên tắc quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm 11

2.1.5 Nội dung quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm 12

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm 19

2.2 Cơ sở thực tiễn 21

2.2.1 Kinh nghiệm quốc tế 21

2.2.2 Kinh nghiệm trong nước 26

Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 34

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 34

3.1.1 Đặc điểm của tỉnh Thái Nguyên 34

3.1.2 Khái quát về Chi cục quản lý thị trường tỉnh Thái Nguyên 40

3.2 Phương pháp nghiên cứu 46

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 46

Trang 5

3.2.2 Phương pháp phân tích 49

3.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 49

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 51

4.1 Thực trạng quản lý nhà nước về QTTP của Chi cục QLTT tỉnh TN 51

4.1.1 Công tác xây dựng, triển khai thực hiện các văn bản, chính sách pháp luật về ATTP 51

4.1.2 Thực trạng bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm 55

4.1.3 Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn lực tài chính phục vụ QLNN về ATTP của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên 68

4.1.4 Thực trạng công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến kiến thức về ATTP trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 71

4.1.5 Thực trạng hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về ATTP của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên 77

4.1.6 Những tồn tại trong QLNN về ATTP của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên 84

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến QLTT về ATTP của Chi cục QLTT tỉnh TN 88

4.2.1 Cơ chế chính sách trong quản lý nhà nước về ATTP 88

4.2.2 Nguồn lực dành cho công tác QLNN về ATTP 90

4.2.3 Trình độ nhận thức về an toàn thực phẩm 94

4.2.4 Sự phối hợp của cơ quan quản lý nhà nước 96

4.3 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên 97

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 104

5.1 Kết luận 104

5.2 Kiến nghị 117

5.2.1 Kiến nghị Chính phủ, Bộ Y tế, Bộ Công Thương 105

5.2.2 Kiến nghị đối với UBND tỉnh Thái Nguyên 120

Tài liệu tham khảo 121

Phụ lục 124

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast

Asian Nations)

ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm

BCĐ 389 Ban Chỉ đạo chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại BCĐLNVSATTP Ban chỉ đạo liên ngành vệ sinh an toàn thực phẩm

EU Liên minh châu Âu (European Union)

FDA Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ

GMP Hướng dẫn thực hành sản xuất tốt (Good Manufacturing

Practices) HACCP Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn (Hazard Analysis

and Critical Control Points) ISO Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế

VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Danh mục các Khu công nghiệp tên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 40Bảng 3.2 Diện tích, dân số, mật độ và số đơn vị hành chính năm 2015 42Bảng 3.3 Phân bổ lao động trong các ngành nghề qua các năm 43Bảng 3.4 Số lượng Cơ sở giáo dục, Giáo viên, Học viên giai đoạn 2014 –

2016 44Bảng 4.1 Số lượng cán bộ Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên làm công tác

QLNN về ATTP 76Bảng 4.2 Trình độ chuyên môn của cán bộ Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên

làm công tác QLNN về ATTP 77Bảng 4.3 Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị của Chi cục QLTT tỉnh

Thái Nguyên 79Bảng 4.4 Tình hình trang thiết bị của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên phục

vụ cho công tác kiểm tra về ATTP qua các năm 79Bảng 4.5 Nguồn lực tài chính phục vụ QLNN về ATTP của Chi cục QLTT

tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 - 2016 81Bảng 4.6 Tình hình đào tạo, tập huấn kiến thức về ATTP của Chi cục QLTT

tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 – 2016 83Bảng 4.7 Tình hình tuyên truyền, phổ biến kiến thức về ATTP của Chi cục

QLTT tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 - 2016 86Bảng 4.8 Đánh giá công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến kiến

thức về ATTP của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014

- 2016 87Bảng 4.9 Tình hình tổ chức các cuộc thanh tra, kiểm tra về ATTP của Chi

cục QLTT tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 – 2016 89Bảng 4.10 Tình hình thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về ATTP của Chi

cục QLTT tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 – 2016 90Bảng 4.11 Các nội dung vi phạm chủ yếu về ATTP trên địa bàn tỉnh Thái

Nguyên giai đoạn 2014 – 2016 91Bảng 4.12 Đánh giá về công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về ATTP

trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 – 2016 92

Trang 8

Bảng 4.13 Tình hình giám sát điều tra và xử lý NĐTP trên địa bàn tỉnh Thái

Nguyên giai đoạn 2014 – 2016 94Bảng 4.14 Tình hình xét nghiệm về ATTP của Chi cục QLTT tỉnh Thái

Nguyên giai đoạn 2014– 2016 95Bảng 4.15 Đánh giá của cán bộ quản lý Nhà nước về cơ chế chính sách ATTP 102Bảng 4.16 Đánh giá nguồn nhân lực quản lý về ATTP tại Chi cục QLTT tỉnh

Thái Nguyên 103Bảng 4.17 Đánh giá của cán bộ về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ

QLNN về ATTP 105

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, HÌNH

Sơ đồ 2.1 Hệ thống chính sách pháp luật 18

Sơ đồ 3.1 Tổ chức bộ máy QLNN của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên 51

Sơ đồ 4.1 Mạng lưới quản lý nhà nước về ATTP cấp tỉnh 65

Sơ đồ 4.2 Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm 70

Sơ đồ 4.3 Sự phân công, phối hợp QLNN về ATTP trong ngành Công thương 73

Đồ thị 4.1 Thực trạng hiểu biết kiến thức về ATTP trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 94

Đồ thị 4.2 Thực trạng kiến thức thực hành về ATTP trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 95

Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên 34

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Lương Ngọc Khiêm

Tên luận văn: “Tăng cường quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Thái Nguyên”

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60 34 01 02

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Hữu Cường

Đơn vị đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu

a Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá tình hình quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên

Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng

a Phương pháp thu thập thông tin:

* Thông tin thứ cấp: từ các báo cáo tổng tổng kết năm, các tài liệu của các cơ quan chức năng trong tỉnh Thái Nguyên từ năm 2014 – 2016

* Thông tin sơ cấp: Thu thập qua các điều tra bằng bộ câu hỏi (phỏng vấn 128 người) và sử dụng phương pháp phỏng vấn KIP

b Phương pháp phân tích: Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý bằng chương trình Excel và được trình bày trên các sơ đồ, bảng số liệu, đồ thị

c Phương pháp phân tích thông tin:

Trang 11

Chúng tôi dùng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp tiếp cận thể chế, phương pháp chuyên gia, phương pháp PRA

Kết quả nghiên cứu chính và kết luận

Nghiên cứu thực trạng QLNN về ATTP của Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Thái Nguyên cho thấy Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều nỗ lực trong công tác xây dựng, triển khai thực hiện các văn bản, chính sách pháp luật về ATTP

- Để tăng cường công tác QLNN về ATTP, Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên cũng thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các Sở - Ban - Ngành, từ đó làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm về ATTP

- Công tác giám sát, điều tra và xử lý ngộ độc thực phẩm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên cũng được tiến hành thường xuyên, tuy nhiên khâu xử lý, tìm ra nguyên nhân các vụ ngộ độc còn lúng túng, chưa triệt để dẫn đến khó khăn trong việc tìm nguyên nhân và đưa ra kết luận

- Công tác tuyên truyền, tập huấn, phổ biến kiến thức về ATTP của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên được tổ chức thường xuyên trên địa bàn tỉnh Nội dung của các lớp tập huấn phù hợp với thực tiễn và tuân theo các quy định của pháp luật, các hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú hướng tới nhiều đối tượng Tuy nhiên, do kinh phí cho công tác này còn hạn hẹp nên ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác tuyên truyền

- Tăng cường QLNN về ATTP của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên không thể thiếu công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền, đây được coi là nhiệm vụ trọng tâm và xuyên suốt trong các hoạt động QLNN về ATTP

- Đã xác định rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc tăng cường QLNN về ATTP của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên như: Cơ chế chính sách thiếu đồng bộ, nguồn lực quản

lý về ATTP như nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực còn hạn chế, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác QLNN về ATTP ở mức thấp, sự phối hợp giữa các cơ quan trong QLNN về ATTP còn chồng chéo Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường QLNN về ATTP 1) Hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế chính sách; 2) Tăng cường nguồn nhân lực cho công tác ATTP; 3) Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra, kiểm tra; 4) Nâng cấp cơ sở vật chất, nguồn kinh phí phục vụ QLNN về ATTP; 5) Tăng cường công tác giáo dục, truyền thông nhằm nâng cao hiệu quả QLNN

về ATTP

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Author: Luong Ngoc Khiem

Thesis title: Enhancing the state observation to food safety of the Market Surveillance Department of Thai Nguyen province

Major: Business Administration Code: 60 34 01 02

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research objectives

a General objectives

Based on the evaluation of state management to food safety, the study proposed some solutions that can enhance the state management ability in terms of food safety of the Market Surveillance Department of Thai Nguyen province

b Particular objectives

- Contribute to systematize the theories and practical basis regarding food safety

of state surveillance

- Evaluating the current status of food safety of Market Surveillance Department

of Thai Nguyen province

- Analyzing the factors that can impact at food safety of Market Surveillance Department of Thai Nguyen province

- Proposing some solutions in order to strengthen the state mangament ability of food safety of Market Surveillance Department of Thai Nguyen province

Research methods

a Information collection method:

* Secondary information: From the year-end reports, the documents of the authorities in Thai Nguyen province from 2014 to 2016

* Primary information: Collected through questionnaire surveys (interviews with

128 people) and using the KIP interview method

b Analysis method: All collected data is processed by Excel program and presented on diagrams, tables, graphs

c Information analysis method: in this research, the author used the descriptive statistics method; comparative method; Method of institutional analysis; Expert method, PRA method

Trang 13

Main results and conclusions

Research on the state observation of food safety showed that the Market Surveillance Department of Thai Nguyen province has made great efforts in the formulation and implementation of documents, policies and laws on food safety

- In order to improving the state management ability of food safety, the Market Surveillance Department of Thai Nguyen province also regularly cooperates with the other departments and sectors closely, investigate and control violations in that area

- Surveillance, investigation and treatment of food poisoning in Thai Nguyen province has been also carried out regularly, however, the process of treatment, finding out the cause of poisoning remains confused, therefore leading to find the cause difficultly and make conclusions

- The promotion, training and dissemination of food safety knowledge of the Market Surveillance Department of Thai Nguyen province has been organized regularly The content of training courses is practical and complies with the law, diversified forms of communication that many types of people can understand However, due to limited funding, it should affect the effectiveness of propaganda

- Enhancing the state observation to food safety of the Market Surveillance Department of Thai Nguyen province is indispensable for trainning and propagonda This has been considered as a key and complete penetration tasks in activities of the state observation to food safety

- Some factors affecting the enhancement of state management of food safety of the Market Surveillance Department of Thai Nguyen province were identified as: lack

of synchronous policy mechanism; the management resources on food safety such as financial resources and human resources are limited; the facilities and equipment used for state management of food safety are low The cooperation between the agencies to food safety is overlapping From then on, some solutions to increasing the state surveilance of food safety:

1) Improve the legal framework andpolicies

2) Enhance human resources for food safety

3) Completing the organizational system of management, inspection and examination

4) Upgrading facilities and funding sources for state management of food safety 5) Improving education and communication to upgrade the effectiveness of state surveilance of food safety

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

An toàn thực phẩm là một trong những vấn đề mà Đảng, Nhà nước ta từ lâu đặc biệt quan tâm coi trọng, coi đây là một vấn đề có ý nghĩa lớn về kinh tế, xã hội, sức khỏe cộng đồng, về bảo vệ môi trường và cũng là vấn đề có ảnh hưởng lớn đến tiến trình hội nhập của Việt Nam Do đó, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định sự cần thiết phải tăng cường quản lý, kiểm soát chặt chẽ, có hiệu quả hơn về

sẽ giới hạn các tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam Bên cạnh đó, vấn đề đặc biệt quan trọng là an toàn thực phẩm Việt Nam luôn vướng vào nhiều quy định cấm như hàm lượng quá cao hoặc sử dụng không đúng một số sản phẩm như chất phụ gia, dư lượng kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, kim loại nặng… tồn dư trong sản phẩm nông sản, thực phẩm, thủy sản Chỉ cần một nhà sản xuất

có lô hàng không đạt tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm xuất vào

EU bị chặn có thể gây ảnh hưởng xấu đến danh tiếng của tất cả các nhà sản xuất, xuất khẩu khác

Vì vậy, vấn đề then chốt ở đây là làm thế nào quản lý được tốt chất lượng nông, thủy sản bảo đảm thực phẩm của Việt Nam không nhiễm vi sinh vật, không chứa hóa chất bị cấm, hóa chất ngoài danh mục cho phép, hay bị nhiễm hóa chất quá giới hạn cho phép nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trong những năm gần đây, nền kinh tế của Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển dịch sang cơ chế thị trường Vấn đề an toàn thực phẩm tuy đã và đang

Trang 15

được các cấp Ủy đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tuy nhiên nhận thức của nhà quản lý, người sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng về an toàn thực phẩm vẫn còn hạn chế Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý an toàn thực phẩm đã được xây dựng, ban hành nhưng vẫn còn chồng chéo Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm vẫn chưa quyến liệt, công tác tuyên truyền, tập huấn, phổ biến kiến thức về ATTP chưa sâu rộng nên một bộ phận không nhỏ người dân chưa nắm rõ được về ATTP, vì vậy còn nhiều vụ việc đáng tiếc xảy ra

Theo thống kê của Bộ Y tế, trong năm 2015, toàn quốc ghi nhận 171 vụ ngộ độc thực phẩm với 4.965 người mắc và 23 trường hợp tử vong, so với năm 2014

đã giảm 22 vụ (11,4%), số mắc giảm 237 người (4,6%) và số tử vong giảm 19 người (45,2%) Năm 2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 129 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 4.139 người mắc, trong đó 12 trường hợp tử vong

Tình hình ngộ độc thực phẩm trong 5 năm, từ 2012-2016 đang thay đổi theo chiều hướng tăng về số vụ lẫn số người mắc Trong những năm gần đây, tỷ lệ ngộ độc thực phẩm trong các cơ sở cung cấp thức ăn sẵn gia tăng Nếu như ở những năm 2012, 2013 tỷ lệ ngộ độc thực phẩm do các cơ sở cung cấp thức ăn sẵn chiếm khoảng 33,3%, thì trong 3 năm gần đây (2014, 2015 và 2016) tỷ lệ ngộ độc thực phẩm trong các cơ sở cung cấp thức ăn sẵn tăng cao Điển hình trong năm 2015 có 6 vụ ngộ độc thực phẩm thì đã có đến 4 vụ do cơ sở cung cấp thức

ăn sẵn gây ra; còn trong 4 tháng đầu năm 2016 có 5 vụ ngộ độc thực phẩm thì 3

vụ là do các cơ sở cung cấp thức ăn sẵn gây ra

Vì vậy, để đảm bảo lợi ích cho nhân dân, Nhà nước phải thực hiện công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm, tạo điều kiện hình thành một môi trường thuận lợi giúp các doanh nghiệp nâng cao chất lượng đảm bảo cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ người tiêu dùng

Thái Nguyên là tỉnh nằm trong khu vực trung tâm vùng Việt Bắc, tiếp giáp với 6 tỉnh, thành phố, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Bên cạnh những thuận lợi, tỉnh Thái Nguyên cũng gặp không ít những khó khăn trong công tác QLNN về ATTP Trước tình hình đó Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương quyết liệt triển khai thực hiện nhiệm vụ đảm bảo ATTP

Được sự chỉ đạo của UBNN tỉnh, Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên với vai

Trang 16

trò là Cơ quan Thường trực Tiểu ban giúp việc Ban Chỉ đạo (BCĐ) 389 tỉnh, đã tham mưu giúp BCĐ về công tác phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, kịp thời phát hiện những sai phạm, đặc biệt là những sai phạm về ATTP, từ đó tham mưu các giải pháp thiết thực, hữu ích cho Sở Công Thương, UBND tỉnh, Cục QLTT nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLNN về ATTP trên địa bàn tỉnh

Do địa bàn rộng lớn, lực lượng QLNN về ATTP của tỉnh Thái Nguyên còn mỏng nên khó kiểm soát hết địa bàn Mặt khác kế hoạch đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm ở địa phương còn hạn chế, một số huyện tuy đã thành lập Ban chỉ đạo nhưng hoạt động chưa hiệu quả; hệ thống tổ chức chuyên trách về an toàn thực phẩm chưa đồng bộ; lực lượng thanh tra ở các tuyến còn thiếu và chưa được đào tạo chuyên ngành; nhiều khâu trong chuỗi cung cấp thực phẩm “Từ trang trại đến bàn ăn” chưa được kiểm soát chặt chẽ; vẫn còn tình trạng buôn bán, sử dụng chất cấm trong chăn nuôi; tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong rau, quả, chè khá phổ biến; công tác quy hoạch, xây dựng các vùng sản xuất rau, chè

an toàn còn nhiều khó khăn…

Trước tình hình trên, việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên được đặt ra là một nhiệm vụ cần thiết

và cấp bách

Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Tăng cường quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Thái Nguyên” nhằm góp phần tăng cường quản lý nhà nước về ATTP và giải quyết những vướng mắc trong quá trình triển khai

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá tình hình quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên

Trang 17

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên

- Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường QLNN về an toàn thực phẩm của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Thái Nguyên

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên

Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của Chi cục QLTT tỉnh Thái Nguyên từ năm 2014 đến năm 2016, dự báo hiệu lực QLNN đến năm 2020

Trang 18

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM

2.1.1.3 Vệ sinh an toàn thực phẩm

Vệ sinh an toàn thực phẩm là các điều kiện và biện pháp cần thiết để bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người (Luật ATTP, 2010)

2.1.1.4 Mối nguy hại về an toàn thực phẩm (Food safety hazards)

Mối nguy hại về an toàn thực phẩm (Food safety hazards) là tác nhân sinh học, hóa học hoặc vật lý trong thực phẩm hoặc tình trạng của thực phẩm có khả năng gây ra ảnh hưởng xấu đối với sức khỏe

Chú ý không nhầm thuật ngữ “Mối nguy hại” với thuật ngữ “Rủi ro” mà trong ngữ cảnh an toàn thực phẩm “rủi ro” có ý chỉ sự kết hợp giữa xác suất của ảnh hưởng bất lợi về sức khỏe như bị bệnh và mức độ nghiêm trọng của ảnh hưởng đó (như chết, vào bệnh viện, không làm việc được,…) khi chịu tác động bởi

1 mối nguy hại nhất định Mối nguy hại về an toàn thực phẩm bao gồm cả các chất gây dị ứng Đối với thức ăn và thành phần thức ăn gia súc, mối nguy hại về an toàn thực phẩm liên quan đến những rủi ro có thể có trong và hoặc trên thức ăn và thành phần thức ăn gia súc có thể truyền sang thực phẩm thông qua việc tiêu thụ thức ăn gia súc đó, do đó có khả năng gây ra ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người

Trang 19

Trong trường hợp các hoạt động không liên quan trực tiếp đến thức ăn gia súc và thực phẩm (ví dụ như sản xuất vật liệu bao gói, đại lý làm sạch, ) thì các mối nguy hại về an toàn thực phẩm liên quan là những mối nguy hại có thể truyền trực tiếp hoặc gián tiếp vào thực phẩm do mục đích sử dụng dự kiến của sản phẩm và/hoặc dịch vụ được cung cấp và do đó có khả năng gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người (Viện nghiên cứu quản trị kinh doanh UCI, 2015)

2.1.1.5 Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm

Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm là những quy chuẩn kỹ thuật và những quy định khác đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm

và hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm mục đích bảo đảm thực phẩm an toàn đối với sức khoẻ, tính mạng con người (Viện nghiên cứu quản trị kinh doanh UCI, 2015) 2.1.1.6 Khái niệm về quản lý nhà nước

Như vậy, việc tác động theo cách nào còn tùy thuộc vào góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu

Trang 20

và quyền hạn mà nhà nước đó giao quyền trong việc tổ chức và điều khiển các quan hệ xã hội và hành vi của con người (Phan Huy Đường, 2015)

Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt dộng của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển xã hội (Ngô Huy Toàn, 2009)

2.1.1.7 Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

Quản lý nhà nước về ATTP được hiểu là có hệ thống bộ máy tổ chức quản

lý đủ năng lực, thể hiện tập trung trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức hoạt động thực thi chính sách pháp luật một cách nghiêm ngặt; công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật và công tác tập huấn, thông tin, tuyên truyền văn bản pháp luật, công tác phối hợp liên ngành trong quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý như mong muốn Tăng cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV liên quan tới nhiều khâu cơ bản trong chu trình quản lý, gồm: (i) Con người với tư cách nhân vật trọng tâm; (ii) Nội dung văn bản, chính sách và quyết định gắn với thực tiễn; (iii) Cơ chế, tài chính, công cụ máy móc hỗ trợ bảo đảm hoạt động quản lý nhà nước (Vũ Thanh Hải, 2013)

2.1.2 Vai trò của quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước nhằm định hướng phát triển, nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm thực phẩm đáp ứng các mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ Công tác quản lý chất lượng thực phẩm ra đời và phát triển cùng với các hoạt động của đời sống kinh tế và xã hội, công tác quản lý ATTP có vai trò quan trọng, tác động nhiều mặt và sâu sắc đến hầu khắp các lĩnh vực, từ sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ cho đến việc bảo vệ môi trường, an toàn sức khoẻ con người, đảm bảo công bằng và lợi ích quốc gia Trong nền kinh tế phát triển sôi động như hiện nay thì vai trò quản lý của nhà nước ngày càng trở nên quan trọng Vai trò của quản lý nhà nước về ATTP trước hết phải là vai trò định hướng và đảm bảo cho hoạt động có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế mang tính dẫn dắt và chỉ hướng Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển kinh tế phải dựa vào đẩy mạnh xuất khẩu, mà muốn đẩy mạnh

Trang 21

xuất khẩu phải dựa vào tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ Như vậy, định hướng cơ bản về công tác ATTP hiện nay là đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế Làm tốt công tác này sẽ giúp hàng hoá của Việt Nam đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế Cơ quan nhà nước là nơi tập hợp, đề xuất và ban hành các tiêu chuẩn cho các doanh nghiệp

Vai trò không thể thiếu của quản lý nhà nước về ATTP là việc đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc Thông qua việc quy định và kiểm soát về vệ sinh, an toàn, môi trường, Nhà nước đảm bảo sản phẩm, hàng hóa, nguyên vật liệu… nhập khẩu vào Việt Nam phải bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người tiêu dùng, an toàn cho môi trường tự nhiên và xã hội Bằng các hoạt động kiểm tra giám sát thường xuyên ở các khu vực cửa khẩu các khu vực buôn bán để kịp thời phát hiện và xử

lý những vi phạm

Mặt khác, vai trò của nhà nước còn thể hiện ở chỗ đề ra quy hoạch, kế hoạch tổng thể, đáp ứng những cân đối lớn của toàn bộ nền kinh tế, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, không hiệu quả, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển trong lĩnh vực an toàn thực phẩm; định hướng cho công tác đảm bảo an toàn thực phẩm theo đúng chủ trương chính sách đã đề ra; hạn chế tiêu cực, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

2.1.3 Trách nhiệm của cơ quan QLNN trong kiểm tra an toàn thực phẩm Kiểm tra an toàn thực phẩm là trách nhiệm thuộc các Bộ được giao trách nhiệm quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm Cơ quan quản lý an toàn thực phẩm thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc kiểm tra an toàn thực phẩm trong phạm vi địa phương theo quy định của Bộ quản lý ngành và sự phân công của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Trong trường hợp kiểm tra liên ngành về an toàn thực phẩm có liên quan đến phạm vi quản lý của nhiều ngành hoặc địa phương, cơ quan chủ trì thực hiện kiểm tra có trách nhiệm phối hợp với cơ quan hữu quan thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan để thực hiện

Hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm phải đảm bảo nguyên tắc:

Khách quan, chính xác, công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử; Bảo vệ bí mật thông tin, tài liệu, kết quả kiểm tra liên quan đến cơ quan, tổ

Trang 22

chức cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm được kiểm tra khi chưa có kết luận chính thức;

Không được sách nhiễu, gây phiền hà cho tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh thực phẩm;

Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra, có kết luận liên quan;

Bộ trưởng bộ quản lý ngành quy định cụ thể về hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm trong phạm vi quản lý nhà nước được phân công

2.1.4 Nguyên tắc quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

Theo quy định của Luật an toàn thực phẩm năm 2010, nguyên tắc quản lý

an toàn thực phẩm được quy định như sau:

Đảm bảo an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm

Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm

do mình sản xuất, kinh doanh

Quản lý an toàn thực phầm phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, quy định do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do

tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng

Quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm

Quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành

Quản lý an toàn thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội 2.1.5 Nội dung quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

Nội dung nghiên cứu quản lý nhà nước về ATTP bao gồm:

i) Công tác xây dựng, triển khai thực hiện các văn bản chính sách pháp luật

về ATTP; ii) Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước; iii) Cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính phục vụ QLNN; iv) Công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về ATTP; v) Công tác thanh tra kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm về ATTP

Trang 23

2.1.5.1 Công tác xây dựng, triển khai thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

a Tham mưu xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là tập hợp các chủ trương, đường lối, chính sách và hành động về phương diện nào đó của nền kinh tế xã hội do Chính phủ thực hiện bao gồm mục tiêu mà Chính phủ muốn đạt được và các phương pháp để đạt được mục tiêu đó (Phan Huy Đường, 2015)

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà nước về ATTP là hệ thống các văn bản có chứa quy phạm pháp luật được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm

2015 Trong đó, quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia công tác ATTP, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của các văn bản quy phạm pháp luật là các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán và người sử dụng thực phẩm

có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm áp dụng sau khi văn bản được ban hành

Luật An toàn thực phẩm đã được Quốc hội thông qua vào ngày 17/6/2010

và chính thức có hiệu lực từ 01/7/2011 Nhiều quy định liên quan đến quản lý chất lượng ATTP đã được ban hành trong nhiều văn bản QPPL khác nhau như pháp lệnh về ATTP (2003), Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa (2006), pháp lệnh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, pháp luật về thú y… Số văn bản QPPL có liên quan đến quản lý chất lượng ATTP do các cơ quan Trung ương ban hành là

337, do các cơ quan địa phương ban hành là 930 Nghị định số 79/2008/NĐ-CP ngày 18/7/2008 của Chính phủ quy định hệ thống tổ chức, thanh tra và kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm đã được triển khai

Công tác tham mưu, phối hợp quản lý với Sở Công Thương, UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo 389 tỉnh, Cục QLTT trong công tác xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ATTP phải được thực hiện thường xuyên và có hiệu quả Hệ thống các văn bản đã được Chi cục QLTT tỉnh tham mưu xây dựng bao gồm: các quyết định, chỉ thị, quy hoạch, kế hoạch, các chương trình, đề án về ATTP trên địa bàn tỉnh

b Triển khai, thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà nước về ATTP được ban

Trang 24

hành từ Trung ương (Chính phủ, Bộ Y tế, Bộ Công thương, Bộ NN&PTNT, Cục QLTT, Cục ATVSTP, Cục quản lý chất lượng nông sản và thủy sản), sau đó được triển khai thực thi tại địa phương thông qua Sở Công thương, Sở Y tế, Chi cục QLTT, Các Chi cục chuyên nghành, Đội QLTT, các Trạm chuyên nghành và một số chính sách được thực hiện ở cấp xã thông qua UBND xã chịu trách nhiệm phổ biến đến người dân kiến thức về ATTP

Kết quả triển khai, thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện thông qua kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu về:

+ Quy hoạch tổng thể về an toàn thực phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng; + Việc kiểm soát ATTP trong toàn bộ chuỗi cung cấp thực phẩm được thiết lập và phát huy hiệu quả, chủ động;

+ Tỷ lệ có kiến thức và thực hành đúng về ATTP ở nguời sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, người quản lý, người tiêu dùng;

+ Tăng cường năng lực của hệ thống quản lý ATTP thông qua hệ thống quản lý ATTP; hệ thống cảnh báo nhanh về ATTP và phân tích một số nguy cơ cao về ATTP; các chỉ tiêu về phòng xét nghiệm ATTP; tình trạng bảo đảm ATTP của các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thông qua hệ GMP, HACCP, ISO 9001, ISO 22000;

+ Ngăn ngừa có hiệu quả ngộ độc thực phẩm cấp tính

c Đánh giá các văn bản, chính sách về ATTP

Các văn bản, chính sách Quản lý Nhà nước về ATTP luôn là vấn đề mang tính thời sự, các chính sách được ban hành phải luôn phù hợp với tình hình thực

tế Sự thay đổi ấy, đã góp phần cho công tác QLNN về ATTP luôn mang tính thực tiễn cao, đồng thời góp phần phân công rõ ràng nhiệm vụ, trách nhiệm, cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành trong thực hiện nhiệm vụ Bên cạnh những mặt tích cực mà các văn bản, chính sách pháp luật về ATTP đã đem lại vẫn còn một số hạn chế như:

+ Thiếu các quy định, hướng dẫn chi tiết, cụ thể về việc triển khai thực hiện các văn bản, chính sách pháp luật về ATTP;

+ Chậm trễ trong công tác soạn thảo và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành;

+ Thiếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về ATTP;

Trang 25

+ Chưa có cơ chế khuyến khích các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thực hiện ATTP;

+ Hệ thống các quy định về quản lý chất lượng ATTP còn nhiều chồng chéo;

+ Hoạt động kiểm soát ATTP chưa có chiến lược quản lý dài hạn;

+ Công tác tuyên truyền thực hiện chưa thường xuyên;

+ Chưa xây dựng quy chế phối hợp trong quản lý giữa các ngành với nhau Nhìn chung các văn bản, chính sách về ATTP đã :

+ Phân công rõ vai trò, trách nhiệm của các lực lượng QLNN về ATTP; + Xây dựng được một hệ thống tiêu chuẩn về thực phẩm, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước áp dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thực phẩm;

+ Hỗ trợ các biện pháp, nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả quản lý ATTP; + Thực hiện tốt chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch về ATTP; + Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành;

+ Đảm bảo quyền lợi, môi trường làm việc cho cán bộ làm công tác QLNN

về ATTP;

Trong thời gian tới các cơ quan QLNN cần khắc phục những hạn chế và phát huy những mặt tích cực đã đạt được để công tác QLNN về ATTP đạt hiệu quả cao

2.1.5.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm được thể hiện qua các hệ thống: Hệ thống quản lý, hệ thống thanh tra chuyên nghành về ATTP, hệ thống kiểm nghiệm An toàn thực phẩm

a Hệ thống quản lý tuyến Trung ương

Tại tuyến Trung ương, công tác quản lý ATTP được giao cho 3 Bộ quản lý:

Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương

Tại Bộ Y tế, Cục An toàn vệ sinh thực phẩm được thành lập để giúp Bộ Y

tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước về VSATTP (Nghị định CP)

79/2008/NĐ-Tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, do tính chất đa ngành, để bao

Trang 26

quát toàn bộ quá trình sản xuất nông lâm thủy sản, công tác quản lý chất lượng, VSATTP nông lâm thủy sản hiện nay được phân công cho nhiều đơn vị thuộc Bộ thực hiện như Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản, Cục Chăn nuôi, Cục Trồng trọt, Tổng cục Thủy sản, Cục Thú y, Cục Bảo vệ thực vật và Cục Chế biến Thương mại Nông lâm thủy sản và Nghề muối

Tại Bộ Công Thương, công tác quản lý ATTP giao cho Vụ Khoa học Công nghệ làm đầu mối

Tại tuyến tỉnh, thực hiện Nghị định 79/2008/NĐ-CP của Chính phủ, đến nay đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Chi cục An toàn

vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) trực thuộc Sở Y tế, 47/63 tỉnh đã thành lập Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thuỷ sản Các địa phương còn có Phòng Quản lý chất lượng nông lâm thủy sản thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm đầu mối tổ chức các nhiệm vụ quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm

b Hệ thống thanh tra chuyên nghành về ATTP:

Tại Trung ương đã thành lập Thanh tra Chi cục ATVSTP và Thanh tra Chi cục Quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản

Tại tuyến tỉnh có Thanh tra Chi cục ATVSTP, thanh tra Chi cục QLTT và Thanh tra Chi cục Quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản

Ngành nông nghiệp có hệ thống thanh tra chuyên ngành về thú y, bảo vệ thực vật từ Trung ương đến địa phương cũng góp phần vào công tác thanh tra, đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm

c Hệ thống kiểm nghiệm An toàn thực phẩm

Hệ thống kiểm nghiệm An toàn thực phẩm được đánh giá thông qua hoạt động xét nghiệm về an toàn thực phẩm Hoạt động này được thực hiện chính xác

sẽ giúp cho công tác thanh tra về ATTP đạt hiệu quả cao

Thực hiện Nghị định 79/2008/NĐ-CP, mạng lưới kiểm nghiệm ATTP đang được kiện toàn từ Trung ương đến địa phương Theo thống kê của Cục An toàn

vệ sinh thực phẩm, cả nước hiện có 72 cơ sở tham gia kiểm nghiệm ATTP trong ngành y tế Các trung tâm kiểm nghiệm thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ, nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tham gia tích cực vào công tác kiểm nghiệm thực phẩm

Trang 27

Tuy nhiên, qua thực tế giám sát cho thấy, nhiều cơ sở kiểm nghiệm còn chưa đáp ứng yêu cầu về hạ tầng, nhân lực được đào tạo, hóa chất, mẫu chuẩn, thiết bị hiện đại có độ chính xác cao còn rất thiếu, đặc biệt là các la bô thuộc trung tâm y tế dự phòng các tỉnh Đáng chú ý là chưa có nhiều la bô đạt chuẩn ISO/IEC/17025 là yêu cầu thiết yếu trong kiểm nghiệm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm

2.1.5.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính phục vụ QLNN về ATTP

Đến nay, cơ sở vật chất của hệ thống quản lý nhà nước về ATTP cơ bản đều đáp ứng được yêu cầu của công việc Cán bộ làm công tác quản lý được trang bị các thiết bị thiết yếu phục vụ cho hoạt động như: Máy tính, laptop, Projector, màn chiếu, máy ảnh, máy quay, bộ tuyên truyền…

Đối với cơ quan quản lý nhà nước về ATTP việc trang bị các thiết bị, máy móc phù hợp trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chất lượng sản phẩm, phản ánh tính chính xác , giúp cơ quan quản lý nhà nước hoàn thành tốt nhiệm vụ, trách nhiệm của mình

Nhà nước cũng đã trang bị hệ thống kiểm nghiệm, xét nghiệm cho các viện, trung tâm với các trang thiết bị máy móc hiện đại Các phòng kiểm nghiệm này phần lớn được công nhận đạt chuẩn ISO17025, thường xuyên tham gia các chương trình kiểm nghiệm thành thạo với các phòng kiểm nghiệm đạt chuẩn quốc gia và quốc tế đạt kết quả tốt, nâng cao kết quả kiểm nghiệm

Phương tiện đi lại: Các địa phương được trang bị xe gắn máy, ô tô phục vụ công tác quản lý an toàn thực phẩm đạt hiệu quả cao nhất

2.1.5.4 Công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến kiến thức về ATTP

Công tác tập huấn, tuyên truyền phổ biến các kiến thức về ATTP là một hoạt động vô cùng quan trọng trong việc phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật cho mọi đối tượng nắm rõ Đây là một là loại hình đặc biệt “một mắt xích quan trọng, trực tiếp nối liền Nhà nước với nhân dân” góp phần vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chấp hành nghiêm quy định của pháp luật Để hạn chế những tồn tại trong quá trình sản xuất, buôn bán và sử dụng thực phẩm không an toàn, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ tăng cường tập huấn, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức và đào tạo kiến thức chuyên môn về ATTP cho các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán và người tiêu dùng Từ đó họ sẽ nắm được những nội dung quan trọng về điều kiện buôn bán, số lượng, chất lượng ATTP

Trang 28

Công tác tập huấn, thông tin tuyên truyền nhằm phổ biến kiến thức về ATTP, nhằm phổ biến kiến thức về chính sách pháp luật đồng thời nâng cao ý thức chấp hành, thực thi pháp luật cho các đối tượng

Hoạt động đào tạo, tập huấn thông qua các chỉ tiêu về: Tập huấn kỹ năng giám sát điều tra; tập huấn đảm bảo ATTP; tập huấn kiến thức ATTP cho các cơ

sở sản xuất kinh doanh thực phẩm

2.1.5.5 Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về ATTP

Hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật đối với các cơ

sở sản xuất, kinh doanh, buôn bán thực phẩm, như: Quy định về sử dụng thuốc BVTV; quy định về sử dụng chất cấm, thuốc kháng sinh trong chăn nuôi, điều kiện vệ sinh trang thiết bị dụng cụ; điều kiện về con người; nhãn thực phẩm chính là các hoạt động quan trọng của các cơ quan quản lý nhà nước về ATTP

a Hoạt động thanh tra an toàn thực phẩm

Thanh tra về an toàn thực phẩm là thanh tra chuyên ngành Thanh tra an toàn thực phẩm do ngành Y tế, ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngành Công Thương thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra Chính phủ quy định việc phối hợp giữa các lực lượng thanh tra an toàn thực phẩm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ với một số lực lượng khác trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm

Nội dung thanh tra về an toàn thực phẩm gồm:

Thanh tra việc thực hiện các quy định kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm đối với sản xuất, kinh doanh thực phẩm và sản phẩm thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành

Việc thực hiện các tiêu chuẩn có liên quan đến an toàn thực phẩm do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng đối với sản xuất, kinh doanh thực phẩm

và sản phẩm thực phẩm

Hoạt động quảng cáo, ghi nhãn đối với thực phẩm thuộc phạm vi quản lý

Hoạt động chứng nhận hợp quy, kiểm nghiệm an toàn thực phẩm

Thực hiện các quy định khác của pháp luật về an toàn thực phẩm

b Kiểm tra an toàn thực phẩm

Kiểm tra an toàn thực phẩm là trách nhiệm thuộc các Bộ được giao trách nhiệm quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm Cơ quan quản lý an toàn thực phẩm

Trang 29

thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc kiểm tra an toàn thực phẩm trong phạm vi địa phương theo quy định của Bộ quản lý ngành và sự phân công của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Trong trường hợp kiểm tra liên ngành về an toàn thực phẩm có liên quan đến phạm vi quản lý của nhiều ngành hoặc địa phương, cơ quan chủ trì thực hiện kiểm tra có trách nhiệm phối hợp với cơ quan hữu quan thuộc các Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan đề thực hiện

Hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm phải đảm bảo nguyên tắc:

Khách quan, chính xác, công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử Bảo vệ bí mật thông tin, tài liệu, kết quả kiểm tra liên quan đến cơ quan, tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm được kiểm tra khi chưa có kết luận chính thức;

Không được sách nhiễu, gây phiền hà cho tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh thực phẩm;

Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra, có kết luận liên quan;

Bộ trưởng bộ quản lý ngành quy định cụ thể về hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm trong phạm vi quản lý nhà nước được phân công

Ngoài ra công tác tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm, các quy định và tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm còn được thông qua các hoạt động như:

- Xây dựng bộ máy quản lý nhà nước về ATTP

+ Bộ máy quản lý nhà nước về ATTP đến nay đã được xây dựng hoàn chỉnh từ Trung ương đến địa phương

+ Bố trí nguồn lực cho bộ máy quản lý nhà nước về ATTP đảm bảo hoạt động có hiệu quả

- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm;

- Quản lý hệ thống kiểm nghiệm, thử nghiệm về an toàn thực phẩm;

- Quản lý việc công bố tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm;

- Tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức và pháp luật

về an toàn thực phẩm;

Trang 30

- Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

- Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về vệ sinh an toàn thực phẩm cho đội ngũ cán bộ làm công tác ATVSTP theo các hình thức sau:

+ Đào tạo chứng chỉ

+ Đào tạo thường xuyên

+ Đào tạo nâng cao chuyên môn nghiệp vụ

+ Đào tạo sau đại học về an toàn thực phẩm

- Hợp tác quốc tế về vệ sinh an toàn thực phẩm

Tham quan, học tập kinh nghiệm các nước trên thế giới về quản lý nhà nước trong lĩnh vực ATTP, áp dụng phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt nam Khuyến khích các doanh nghiệp thực phẩm trong nước áp dụng quy trình HACCP “Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn”

c Xử lý vi phạm về ATTP

Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền Điều này được quy định tại Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ, về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính

về an toàn thực phẩm Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31 tháng 12 năm 2013 Nghị định số 91/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm hết hiệu lực kể

từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm 2.1.6.1 Cơ chế chính sách pháp luật là hành lang pháp lý cho hoạt động ATTP

Chính sách, pháp luật là những văn bản quy phạm pháp luật được ban hành

hệ thống từ Trung ương đến địa phương Lĩnh vực vệ sinh thực phẩm là lĩnh vực rộng, trong quá trình hoạt động có nhiều sự việc phải giải quyết Với hệ thống chính sách, pháp luật chặt chẽ, đầy đủ, thì việc giải quyết sự việc, tình huống sẽ triệt để và nhanh chóng kịp thời

Trang 31

Sơ đồ 2.1 Hệ thống chính sách pháp luật 2.1.6.2 Nguồn lực dành cho công tác quản lý

a Nguồn nhân lực

Cán bộ quản lý là yếu tố chính quyết định đến hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về ATTP, quá trình quản lý đạt hiệu quả hay không là nhờ vào năng lực của các bộ quản lý Nếu kiến thức, năng lực và trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý tốt thì họ sẽ có những nhận định chính xác, xử lý tốt các tình huống và đưa ra những định hướng đúng đắn giúp quá trình quản lý đạt hiệu quả cao Bên cạnh đó, họ cũng là người trực tiếp thanh tra giám sát, chỉ đạo, hướng dẫn và tiếp thu các ý kiến phản hồi từ quá trình thực thi pháp luật ở cơ sở

Số lượng cán bộ quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý Nếu số lượng cán bộ thanh tra, giám sát đủ sẽ thường xuyên thực hiện tốt hơn các hoạt động QLNN về ATTP từ đó các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm sẽ không sản xuất và cung ứng ra thị trường những sản phẩm kém chất lượng, không đảm bảo ATVSTP

Trình độ chuyên môn, trình độ văn hóa của cán bộ quản lý cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả QLNN về ATTP Người cán bộ quản

lý có trình độ học vấn cao, có kiến thức về quản lý sẽ tiếp cận được những tri thức mới, có khả năng tư duy sáng tạo, tiếp thu nhanh các chính sách của Chính phủ, nắm rõ được vai trò và nhiệm vụ của các cơ quan, của bản thân, để từ đó lập

kế hoạch thực hiện, triển khai chính sách xuống cơ sở, nắm bắt nhanh tình hình

Trang 32

của địa phương và có những giải pháp cụ thể kịp thời trong mỗi tình huống, qua

đó có những ứng xử trách nhiệm với công việc được giao

b Nguồn lực tài chính

Nguồn kinh phí dành cho công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền nâng cao kiến thức hiểu biết về ATVSTP ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát QLNN về ATTP Nếu nguồn tài chính đầy đủ sẽ tạo điều kiện cho các

cơ quan quản lý nhà nước tăng cường các lớp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho chủ các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán và người tiêu dùng thực phẩm, đồng thời công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về ATTP được tổ chức thường xuyên hơn và ngược lại khi nguồn tài chính eo hẹp không đáp ứng được yêu cầu thì số lượng các cuộc tập huấn, tần suất thanh tra, kiểm tra sẽ giảm đi và không thường xuyên, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý NN về ATTP

Chế độ đãi ngộ dành cho cán bộ quản lý cũng ảnh hưởng đến trách nhiệm của người quản lý đối với công tác QLNN về ATTP Do trong quá trình thanh tra, kiểm tra, cán bộ quản lý phải tiếp xúc với nhiều hóa chất, thực phẩm mất an toàn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự nhiệt tình của cán

bộ quản lý Chế độ đãi ngộ, lương, thưởng hợp lý sẽ khuyến khích tinh thần làm việc nhiệt tình hơn, phát huy hết khả năng của bản thân, trung thực và có trách nhiệm hơn trong công việc được giao và nâng cao hiệu quả công tác quản lý Tuy nhiên, việc xây dựng chế độ đãi ngộ, lương thưởng cho cán bộ quản lý cần được cân nhắc sao cho phù hợp để tránh tình trạng tiêu cực trong quản lý

2.1.6.3 Cơ sở vật chất và các trang thiết bị

Cơ sở vật chất và các trang thiết bị hỗ trợ công tác thanh tra kiểm tra ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động quản lý NN về ATTP Kiểm tra chất lượng ATTP để trực tiếp gắn trách nhiệm của nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm với sản phẩm của họ Hiện nay, các Chi cục QLTT không có phòng phân tích, thiết

bị để kiểm định chất lượng ATTP Khi đi kiểm tra thị trường nếu có nghi ngờ cán

bộ thanh tra, kiểm tra phải thực hiện lấy và gửi mẫu thực phẩm lên Cục VSATTP, gây mất thời gian và kinh phí tốn kém Việc thiếu các thiết bị kiểm tra nhanh đã gây ra nhiều hạn chế và khả năng kiểm tra, đặc biệt, nhiều nơi cán bộ thanh tra tiến hành tịch thu các hàng hóa kém chất lượng, các hàng hóa có nguy

cơ cao về mất VSATTP… nhưng không có nơi để chứa và kinh phí tiêu hủy gây khó khăn cho công tác tạm giữ tang vật (Trần Thị Ngọc Lan, 2016)

Trang 33

2.1.6.4 Nhận thức về ATTP

Nhận thức về ATTP của cán bộ QLNN, của người kinh doanh thực phẩm, của người sản xuất chế biến thực phẩm và đặc biệt là của người tiêu dùng, được thể hiện thông qua thực trạng hiểu biết kiến thức về ATTP; thực trạng kiến thức thực hành về ATTP của các đối tượng tham gia công tác ATTP

Nhận thức về ATTP càng cao, hiểu biết kiến thức về ATTP cũng như kiến thức thực hành đúng, sẽ tạo cho công tác QLNN về ATTP gặp nhiều thuận lợi 2.1.6.5 Sự phân công, phối hợp QLNN về ATTP giữa các cơ quan quản lý nhà nước

Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã quy định và phân công quản lý ATTP cho 3 Bộ: Y Tế, Công Thương, Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Để hướng dẫn thực hiện các quy định thì 03 Bộ: Y Tế, Công Thương, Nông Nghiệp

và Phát triển nông thôn đã ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện việc quản

lý an toàn thực phẩm và có sự phân công, phân cấp rõ ràng cho các sở, các địa phương triển khai thực hiện một cách có hiệu quả Ngày 9 tháng 4 năm 2014 liên

Bộ Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công Thương đã ban hành Thông

tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT (có hiệu lực từ 29/5/2014) theo đó hướng dẫn phân công quản lý ATTP theo hướng một sản phẩm chịu sự quản lý của 1 bộ, ngành và kèm theo danh mục các ngành, hàng của từng bộ quản lý Sở Công Thương hướng dẫn các Phòng Kinh tế và Phòng Công Thương trong việc phối hợp cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành Công Thương

Theo hướng dẫn của Bộ Công Thương tại Thông tư số 29/2012/TT-BCT ngày 05/10/2012 Quy định cấp, thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT và Quyết định số 2937/QĐ-UBND, Sở Công Thương đã hướng dẫn hồ sơ, thủ tục, trình tự thẩm định và cấp giấy chứng nhận đủ cơ sở đủ điều kiện ATTP cho những cơ sở sản xuất, kinh doanh các nhóm hàng: Rượu; bia; nước giải khát; sữa chế biến; dầu thực vật; bánh kẹo; bột và tinh bột; dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng các sản phẩm trên

và hệ thống các chợ, siêu thị Sở Công Thương ngoài việc thẩm tra tại đơn vị cũng kết hợp tuyên truyền, phổ biến, vận động thương nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải đảm bảo chất lượng an toàn, không sản xuất, kinh doanh thực

Trang 34

phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ, hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không đảm bảo an toàn thực phẩm; bên cạnh đó cũng tiến hành kiểm tra, xử lý những cơ

sở không chấp hành các quy định về chất lượng ATTP

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Kinh nghiệm quốc tế

2.2.1.1 Kinh nghiệm quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm của EU

Vệ sinh an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề được quan tâm ngày càng sâu sắc trên phạm vi mỗi quốc gia và quốc tế bởi sự liên quan trực tiếp của

nó đến sức khỏe và tính mạng con người, sự duy trì và phát triển nòi giống, cũng như quá trình phát triển hội nhập kinh tế quốc tế những vụ vi phạm nghiêm trọng gần đây ở trong nước và trên thế giới càng hối thúc các nhà hoạch định chính sách phải mạnh tay hơn nữa Kinh nghiệm của Liên minh châu Âu (EU) là bài học có giá trị đối với việt nam (Đỗ Mai Thành, 2010)

Hệ thống quy định và tiêu chuẩn đối với sản phẩm của EU rất phức tạp và nghiêm ngặt đặc biệt đối với thực phẩm như: Thịt, cá, hoa quả Có thể nói hiện nay hệ thống tiêu chuẩn và quy định của EU so với nhiều nước trên thế giới là hoàn chỉnh hơn cả, điều này thể hiện trong thực tế là nhu cầu của người tiêu dùng

ở EU về những sản phẩm sạch và an toàn rất cao Một số tiêu chuẩn bảo đảm VSATTP của EU bao gồm:

+ Hệ thống quy định HACCP (viết tắt của chữ: Hazard Analysis and Critical Control Point System) nghĩa là “Hệ thống phân tích mối nguy và kiển soát điểm tới hạn” hay “Hệ thống phân tích, xác định và tổ chức kiểm soát các mối nguy trọng yếu trong quá trình sản xuất và chế biến thực phẩm” Quy định này được đặc biệt coi trọng đối với các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển khi xuất khẩu vào thị trường EU, bởi nếu không thực hiện quy định HACCP sẽ không thể xuất khẩu được hàng của mình sang thị trường này Trong ngành thủy sản các nhà sản xuất buộc phải tuân thủ Chỉ thị 91/492/EC nghĩa là họ phải thực hiện hệ thống HACCP để được phép xuất khẩu vào EU

+ Hệ thống đóng gói, ghi nhãn thực phẩm:

Ủy ban Châu âu đang dự định sửa đổi các quy định về vật liệu đóng gói thực phẩm với mục đích giới thiệu các vật liệu bao gói thông minh có tính kích hoạt và khả năng tăng thời hạn sử dụng, dễ theo dõi chất lượng thực phẩm Vật liệu bao gói có tính kích hoạt có thể tương tác với thực phẩm để giảm lượng ôxy

Trang 35

và tăng hương vị, cũng như khả năng bảo quản Một số loại bao gói có thể hấp thụ khí ga hay độ ẩm sinh ra trong quá trình thực phẩm chín tự nhiên, do đó làm giảm nguy cơ thực phẩm bị nhiễm độc và giữ cho hương vị của sản phẩm tồn tại lâu hơn Các vật liệu bao gói thông minh còn có khả năng biến đổi mầu sắc giúp người tiêu dùng nhận biết được sản phẩm còn tươi hay đã hỏng Ngoài ra EU cũng ban hành danh sách những vật liệu plastic có thể dùng làm bao bì

+ Quy trình thực hành canh tác nông nghiệp GAP (viết tắt của chữ Good Agricultural Practices): Đây là những nguyên tắc được thiết lập nhằm bảo đảm một môi trường sản xuất an toàn, sạch sẽ, thực phẩm bảo đảm không chứa các tác nhân gây bệnh như chất độc sinh học (vi khuẩn, nấm, virus, ký sinh trùng) và hóa chất (dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại năng, hàm lượng Nitrat), đồng thời sản phẩm đảm bảo an toàn từ ngoài đồng đến khi sử dụng

GAP bao gồm việc sản xuất theo hướng lựa chọn địa điểm, sử dụng đất đai, phân bón, phòng trừ sâu bệnh hại, thu hái, đóng gói, tồn trữ, vệ sinh đồng ruộng, vận chuyển sản phẩm… nhằm phát triển nông nghiệp bền vững với mục đích bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn cho người sản xuất, bảo vệ môi trường, truy nguyên được nguồn gốc sản phẩm Trong tương lai gần các nhà sản xuất và xuất khẩu hoa quả và rau tươi nếu muốn cung cấp cho các dây truyền siêu thị ở Châu âu sẽ phải chứng minh rằng sản phẩm của họ được sản xuất theo quy trình GAP và nhiều quốc gia, khu vực sẽ xây dựng GAP của mình theo chuẩn mực quốc tế khi sản xuất rau quả tươi

+ Quy định truy nguyên nguồn gốc: Trong những năm gần đây, do một số dịch bệnh bắt nguồn từ gia súc và gia cầm đã lây lan nhanh chóng trên quy mô toàn cầu, nên Mỹ và Châu âu đã ban hành các luật về VSATTP, trong đó có các quy định về việc các doanh nghiệp cung ứng hàng vào Mỹ và Châu âu phải thực hiện ghi vào cung cấp dữ liệu sao cho có thể truy nguyên được nguồn gốc của sản phẩm khi có vấn đề VSATTP

2.2.1.2 Kinh nghiệm quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm của Thái Lan

Sau khi gia nhập WTO, nhất là từ năm 2002, Thái Lan đã tích cực nâng cao chất lượng và tiêu chuẩn đối với các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và tăng cường vai trò của các cơ quan quản lý thực phẩm; triển khai các chương trình tuyên truyền, quảng bá về độ an toàn của thực phẩm Thái Lan; xây dựng hệ thống cơ quan kiểm soát an toàn thực phẩm hiệu quả để kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về an toàn thực phẩm

Trang 36

a Xây dựng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm

Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã Thái Lan đã thúc đẩy việc xây dựng các tiêu chuẩn đối với hàng nông sản được áp dụng cho ba nhóm bao gồm thực vật, động vật nuôi và cá, được xây dựng trên cơ sở bộ tiêu chuẩn và hướng dẫn quốc tế của nhóm các tổ chức Chương trình tiêu chuẩn thực phẩm của FAO/WHO (FAO/WHO Food Standards Programme (Codex)), Công ước quốc tế về bảo vệ thực vật (International Plant Protection Convention (IPPC)) và Văn phòng quốc

tế về bệnh dịch động vật (Office International des Epizootic (OIE)) Ngoài ra, nội dung của Bộ tiêu chuẩn cũng tương thích với các thông số khoa học, các tiêu chuẩn và quy định của các quốc gia tiên tiến

Tiêu chuẩn đối với hàng nông sản thuộc sự quản lý của Cục tiêu chuẩn thực phẩm và hàng nông sản (ACFS) Các tiêu chuẩn này bao trùm mọi yếu tố về an toàn và vệ sinh dịch tễ đối với sức khỏe của con người, động vật và thực vật 8 bước xây dựng quy trình, tiêu chuẩn của ACFS bao gồm: (i) Xác định thứ tự ưu tiên của đối tượng cần xây dựng tiêu chuẩn; (ii) Thành lập một ủy ban kỹ thuật

để soạn thảo; (iii) Soạn thảo dự thảo tiêu chuẩn; (iv) Thành lập ủy ban đánh giá; (v) Lấy ý kiến của tất cả các bên có liên quan; (vi) Trình ủy ban kiểm soát và Hội đồng ACFS; (vii) Thông báo với WTO và các nước thành viên (đối với những tiêu chuẩn bắt buộc phải thông báo); (viii) Đăng công báo

Thái Lan áp dụng quy trình Good Agriculture Practices (GAP) trong sản xuất hàng nông sản nên được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng Đa

số nông dân được chính phủ hướng dẫn và hỗ trợ cặn kẽ quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn GAP từ khâu chọn cây giống cho đến bón phân, thu hoạch, chế biến

và bảo quản sau thu hoạch Trong khâu tiêu thụ có sự kết hợp giữa các nhà bán lẻ với hệ thống siêu thị rồi từ đó chia nhỏ ra thành những đại lý ở nhiều nơi để thu mua hàng hóa tại nơi sản xuất Một số nơi có thể cử nhân viên đến giám sát và thẩm tra thường xuyên quá trình sản xuất, ghi chép vào sổ sách và xem xét độ an toàn và phù hợp với tiêu chuẩn đề ra của quy trình sản xuất

Bên cạnh đó, Thái Lan cũng đã xây dựng hệ thống kiểm soát nhập khẩu nhằm quản lý chất lượng các loại thực phẩm, hóa chất cũng như kiểm soát dịch bệnh xâm nhập

b Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phát động các chiến dịch về an toàn thực phẩm

Hàng năm, Thái Lan sản xuất một lượng lớn nông sản và thực phẩm và đặc

Trang 37

biệt quan tâm tới việc tuyên truyền về về sinh an toàn thực phẩm Năm 2004, chính phủ Thái Lan phát động là “năm an toàn thực phẩm” để tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân và các cơ sở sản xuất và chế biến thực phẩm quan tâm tới sức khỏe con người Đặc biệt, Thái Lan thường xuyên tổ chức chương trình “Bếp ăn của thế giới” để tuyên truyền, quảng bá về thực phẩm Thái Lan trên toàn thế giới Nhờ đó, người tiêu dùng kể cả Thái Lan và quốc tế đều thể hiện sự tin tưởng đối với chất lượng thực phẩm của nước này

Chính phủ Thái Lan cũng đã kêu gọi các nhân tố tham gia vào các khâu nuôi trồng và chế biến thực phẩm đều phải đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm; đồng thời tăng cường thúc đẩy các kế hoạch kiểm soát

an toàn thực phẩm để ngăn chặn và giảm thiểu nguy cơ ngộ độc thực phẩm và các bệnh từ thực phẩm không an toàn trong toàn bộ quy trình sản xuất và chế biến (thường được gọi là các chiến lược “từ trang trại tới bàn ăn”, “từ trang trại tới dĩa ăn”)

c Xây dựng hệ thống cơ quan kiểm soát an toàn thực phẩm

Thái Lan đã ban hành chương trình an toàn thực phẩm quốc gia (National Food Safety Program) và đã xây dựng hệ thống kiểm soát thực phẩm để nâng cao trách nhiệm của các bộ, ngành, lĩnh vực Thái Lan đảm bảo an toàn và dinh dưỡng cho thực phẩm nước này Trong đó:

- Bộ Y tế kiểm soát thực hiện các quy định bởi đạo luật Thực phẩm B.E

2522 (1979) và đạo luật dược phẩm B.E 2510 (1967) quy định về thuốc thú y và tiền chất

- Bộ Nông nghiệp và hợp tác xã kiểm soát thực hiện quy định bởi đạo luật Thủy sản B.E 2490 (1947), đạo luật bảo vệ đa dạng thực vật B.E 2542 (1999), đạo luật về nhập khẩu và tạm nhập tái xuất động vật B.E 2535 (1992), đạo luật kiểm soát chất lượng thức ăn B.E 2542 (1999)

- Bộ Công nghiệp kiểm soát các quy định của đạo luật chất lượng hàng hóa công nghiệp B.E 2511 (1968)

- Bộ Thương mại kiểm soát thực hiện các quy định của đạo luật kiểm soát chất lượng hàng hóa xuất nhập khẩu B.E 2522 (1979)

Các cơ quan tổ chức tham gia vào hệ thống đảm bảo an toàn thực phẩm tại Thái Lan:

Trang 38

- Bộ Y tế: Cục quản lý chất lượng thực phẩm và dược phẩm (FDA); Cục khoa học dược phẩm (DMSc); Cục y tế (DOH); Văn phòng bí thư thường trực; Trung tâm an toàn thực phẩm;

- Bộ Nông nghiệp và hợp tác xã: Cơ quan quốc gia về tiêu chuẩn thực phẩm

và hàng nông sản (ACFS); Cục Thủy sản; Cục Nông nghiệp; Cục Phát triển vật nuôi

d Chế tài đối với các vi phạm liên quan an toàn thực phẩm

Theo đạo luật thực phẩm Food Act B.E 2522 (1979) các vi phạm về an toàn thực phẩm có thể bị phạt tiền hoặc phạt tù tùy theo mức độ vi phạm các điều khoản của đạo luật Mức hình phạt tối đa lên tới 100 nghìn Bạt và hình phạt tù tối

đa 10 năm Theo đạo luật này, việc áp đặt hình phạt do Tổng thư ký của Cục Thực phẩm và dược phẩm (FDA) Bộ Y tế quy định hoặc người do Tổng thư ký FDA chỉ định Các vi phạm nghiêm trọng, gây ra hậu quả xấu sẽ được điều tra và chuyển tới cơ quan cảnh sát hoàng gia Thái Lan xử lý hình phạt tù nếu cần thiết Các chính sách trên của Thái Lan đã huy động được sự phối hợp của các bên liên quan như các cơ quan chính phủ, ngành công nghiệp thực phẩm, nông dân, truyền thông, các viện, trường, và đông đảo công chúng tham gia và đã tạo được hiệu ứng tốt giúp Thái Lan có nhiều thành tựu trong việc đảm bảo vệ sinh thực phẩm và được ghi nhận, đánh giá cao Thái Lan đã được chọn là quốc gia chủ nhà để tổ chức diễn đàn toàn cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm lần thứ hai (FAO/WHO Global Forum of Food Safety Regulators - GF2) để phố biến kinh nghiệm và trao đổi thông tin nhằm bảo vệ sức khỏe con người trên toàn cầu Thái Lan cũng được chỉ định làm trung tâm mạng lưới an toàn thực phẩm ASEAN Tóm lại, Thái Lan là một trong những quốc gia quan tâm sớm tới việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và đã ban hành các chính sách hợp lý, trong đó huy động được đông đảo các lực lượng từ chính phủ, các tổ chức xã hội tới người dân nâng cao trách nhiệm trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo sức khỏe cho người dân cũng như phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm phục vụ xuất khẩu

e Bài học cho Việt Nam trong việc quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm

Những kinh nghiệm của EU, Thái Lan về việc quản lý an toàn thực phẩm

có giá trị tham khảo cho Việt Nam trong việc thực hiện kế hoạch đảm bảo an toàn thực phẩm, bảo vệ người tiêu dùng trong cả nước, thúc đẩy việc đạt các tiêu

Trang 39

chuẩn quốc tế để thực phẩm Việt Nam có thể xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới, nhất là trong bối cảnh ta đang có điều kiện thuận lợi khi vừa kết thúc đàm phán một loạt các khu vực thương mại tự do với các khu vực và quốc gia trên thế giới Ta có thể rút ra một số bài học cho Việt Nam trong vấn đề này là:

- Cần xây dựng hệ thống kiểm soát thực phẩm theo nguyên tắc phân tích mối nguy, tiếp cận quản lý hệ thống “ngăn ngừa, phòng chống, kiểm soát và xử lý”, kiểm soát toàn bộ chu trình thực phẩm “từ trang trại đến bàn ăn”

- Nhất thiết phải xây dựng được hệ thống quy định pháp luật đồng bộ từ các biện pháp ATTP đến các biện pháp kiểm dịch động vật theo tiêu chuẩn chung quốc tế (có tính đến điều kiện cụ thể của đất nước) Hệ thống này phải đầy đủ trên các khía cạnh về Luật thực phẩm, phụ gia thực phẩm, vấn đề hóa chất bảo vệ thực vật, vấn đề kiểm dịch… và việc cụ thể hóa các quy định của pháp luật bằng những biện pháp cụ thể trong từng hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, lưu thông thực phẩm đóng vai trò quan trọng khi thực thi chúng

- Trên cơ sở nguyên tắc tiếp cận hệ thống và toàn bộ chu trình thực phẩm, xây dựng bộ máy quản lý và kiểm soát ATTP, phân công trách nhiệm các Bộ/ngành, địa phương liên quan và cơ chế phối hợp giữa chúng bởi năng lực của

bộ máy là yếu tố quyết định hiệu quả công tác quản lý thực phẩm

- Công tác thanh tra là biện pháp quan trọng nhất trong kiểm soát thực phẩm, vì vậy cần có đội ngũ thanh tra đủ lớn và bảo đảm đủ năng lực chuyên môn mới kiểm soát và xử lý được tất cả các khâu của chu trình thực phẩm

- Cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn ATTP mang tính khả thi, hiệu quả cao trong phòng ngừa và xử lý, khắc phục những vi phạm an toàn thực phẩm sao cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam, đặc biệt là phù hợp về mức thu nhập và tập quán ăn uống Tuy nhiên, trong công tác xây dựng tiêu chuẩn vẫn cần lấy chuẩn quốc tế làm cơ sở để từng bước điều chỉnh quy định trong nước, nhất là các quy định liên quan đến thực phẩm xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu

- Xác định hệ thống HACCP là điều kiện tiên quyết đề thâm nhập vào thị trường quốc tế, phát triển kinh doanh, do đó các doanh nghiệp sản xuất và chế biến thực phẩm xuất khẩu cần hết sức chú trọng điều này

- Hệ thống kiểm nghiệm, phân tích thực phẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tính chính xác, khoa học của hoạt động thanh tra, kiểm tra chất lượng ATTP để từ đó rà soát, sửa đổi, bổ xung những quy định cho phù hợp thực

Trang 40

tế, vì vậy Việt nam nhất thiết cần xây dựng, quy định cụ thể chức năng, quyền hạn của các phòng thí nghiệm, hệ thống phòng phân tích chuẩn kiểm nghiệm chất lượng ATTP ở Trung ương và các trung tâm y tế dự phòng cấp tỉnh

- Hoàn thiện hệ thống phân phối và bán lẻ trong nước để khỏi bỏ sót một loại hàng hóa nào liên quan đến vấn đề ăn, uống của người dân mà không được kiểm soát chất lượng ATTP

- Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về nguy cơ ngộ độc thực phẩm, sự lan truyền dịch bệnh trong nhân dân Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ATTP như tranh thủ hỗ trợ kỹ thuật, phòng chống dịch bệnh lây truyền qua biên giới 2.2.2 Kinh nghiệm trong nước

2.2.2.1 Kinh nghiệm quản lý về an toàn thực phẩm của một số Chi cục QLTT trên các tỉnh, thành phố nước ta

a Tại Thành phố Hà Nội

Thủ đô Hà Nội hiện có 30 quận, huyện, thị xã và 584 xã, phường, thị trấn với tổng dân số khoảng gần 10 triệu người (gồm cả ngụ cư và khách vãng lai) Hiện thành phố có số cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố rất lớn và ngày càng tăng (năm 2011 có 47.840 cơ sở, năm

2015 có 58.092 cơ sở) Nhu cầu về thực phẩm trung bình mỗi năm cần khoảng

890 nghìn tấn gạo, 139 nghìn tấn thịt lợn, 42 nghìn tấn thịt gà, 900 triệu quả trứng các loại, 54 nghìn tấn hải sản tươi sống và chế biến, 900 nghìn tấn rau… trong đó Hà Nội cung cấp khoảng 69% nhu cầu thịt gia súc các loại, 32% cá các loại, 97,7% trứng gia cầm, 19% sữa, 38% gạo tẻ, 60% rau củ tươi và 18% quả tươi các loại…, số còn lại là từ các tỉnh khác Diện tích rau an toàn là 5.500 ha/12.000 ha diện tích trồng rau Có 7 cơ sở giết mổ công nghiệp; 17 cơ sở giết

mổ tập trung bán công nghiệp; 04 cơ sở giết mổ tập trung thủ công; có 1.047 điểm giết mổ nhỏ lẻ, thủ công Hiện có 425 chợ (trong đó có 03 chợ đầu mối, không có chợ đấu giá nông sản) phân bố tại 30/30 quận, huyện, thị xã, 117 siêu thị, 22 Trung tâm thương mại trên địa bàn

Đứng trước những thách thức đó Chi cục QLTT Hà Nội được sự chỉ đạo của Cục QLTT và Sở Công Thương đã tập trung chỉ đạo và triển khai quyết liệt các nhóm giải pháp chính để quản lý tốt về ATTP Cụ thể:

Thứ nhất, tham mưu cho Sở Công Thương Hà Nội xây dựng và ban hành các văn bản để thực hiện chỉ đạo, chỉ thị của cấp trên về ATTP

Ngày đăng: 17/07/2021, 06:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w