1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu văn hóa sơn vi ở yên bái

103 511 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu văn hóa sơn vi ở yên bái
Tác giả Trương Thị Hồng Mai
Người hướng dẫn GVC. ThS. Hoàng Quốc Tuấn
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử văn hóa
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 7,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Yên Bái là một tỉnh miền núi, có vị trí đặc biệt quan trọng về nhiều mặt, có những di tích, di vật khảo cổ học độc đáo, phản ánh đặc thù phát triển văn hoá - lịch sử của một vùng đất già

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa lịch sử

-*** -Khóa luận tốt nghiệp đại học

TìM HIểU VĂN HóA SƠN VI ở YÊN BáI

Chuyên ngành: lịch sử văn hóa

Giáo viên hớng dẫn: GVC ThS Hoàng Quốc Tuấn Sinh viên thực hiện : Trơng Thị Hồng Mai

Lớp : 47B3 - Lịch Sử (2006 – 2010)

Trang 2

Vinh 2010

Lêi c¶m ¬n

dẫn nhiệt tình của thầy giáo GVC.ThS Hoàng Quốc Tuấn, cùng các thầy cô giảng dạy chuyên ngành Lịch sử Văn hóa - khoa Lịch Sử - trường Đại học Vinh Với sự cố gắng nỗ lực của bản thân, sự động viên khích lệ của bạn bè đã giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Đại học.

Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn GVC.ThS Hoàng Quốc Tuấn và các thầy cô trong chuyên ngành Lịch sử Văn hóa.

Nhân dịp này, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ Bảo tàng tỉnh Yên Bái, nhất là cán bộ phòng Lưu trữ thông tin tư liệu và quản lý di vật, cán bộ Sở văn hóa thông tin tỉnh Yên Bái, cùng cán bộ thư viện trường Đại học Vinh, và bác Nguyễn Văn Quang (nguyên giám đốc Bảo tàng tỉnh Yên Bái)

đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi tiếp cận, thu thập tư liệu và biên soạn nội dung bản khóa luận này.

Cuối cùng tôi xin cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo khoa Lịch Sử và bạn

bè cùng khóa đã giúp đỡ tôi trong thời gian qua.

Vì thời gian và nguồn tài liệu có hạn, khóa luận còn nhiều thiếu sót, kính mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn sinh viên.

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 5, năm 2010

Tác giả Trương Thị Hồng Mai

Trang 3

Lớp 4 7B3 – Lịch Sử MỤC LỤC

Trang

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ của khóa luận 4

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 5

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5

6 Bố cục của khóa luận 6

B NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ TỈNH YÊN BÁI 7

1.1 Đặc điểm địa lý, tự nhiên 7

1.1.1 Vị trí địa lý và các đơn vị hành chính 7

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 8

1.2 Đặc điểm dân cư - xã hội 14

1.3 Trình độ kinh tế 15

1.4 Truyền thống văn hóa 16

1.5 Truyền thống lịch sử 19

CHƯƠNG 2: VĂN HÓA SƠN VI Ở YÊN BÁI 22

2.1 Khái quát về văn hóa Sơn Vi 22

2.1.1 Lịch sử phát hiện và nghiên cứư văn hóa Sơn Vi 22

2.1.2 Một số đặc điểm của văn hóa Sơn Vi 26

2.2 Quá trình phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sơn Vi ở Yên Bái 29

2.2.1 Quá trình phát hiện 29

2.2.2 Quá trình nghiên cứu 31

Trang 4

2.3 Đặc điểm phân bố di tích và loại hình di vật 38

2.3.1 Đặc điểm phân bố di tích 38

2.3.2 Đặc trưng loại hình di vật 43

2.4.Các di tích văn hóa Sơn Vi tiêu biểu ở Yên Bái 51

2.4.1 Địa điểm Bách Lẫm 52

2.4.2 Địa điểm Tuần Qu¸n I 54

2.4.3 Địa điểm Lương Thịnh III 56

2.4.4 Địa điểm Đại Cại 57

2.4.5 Địa điểm Khe Quỷ 59

2.4.6 Di chỉ Bến Mậu A 59

2.5 Vài nét về cuộc sống của cư dân Sơn Vi ở Yên Bái 63

2.5.1 Môi trường sống 63

2.5.2 Hoạt động kinh tế 64

2.5.3 Tổ chức xã hội 65

2.5.4 Đời sống tinh thần 66

2.6 Đánh giá vị trí của văn hóa Sơn Vi 67

2.6.1 Với văn hóa Sơn Vi ở Phú Thọ 67

2.6.2 Với văn hóa Sơn Vi ở Lao Cai 68

2.6.3.Với văn hóa Sơn Vi ở một số tỉnh khác 69

CHƯƠNG 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA VĂN HÓA SƠN VI Ở YÊN BÁI 71

3.1 Vấn đề bảo tồn 71

3.1.1 Thực trạng di tích, di vật của văn hóa Sơn vi ở Yên Bái 71

3.1.2 Cơ sở để định hướng bảo tồn 74

3.1.3 Một số định hướng và biện pháp cụ thể 76

3.2 Phát huy những giá trị của văn hóa Sơn Vi ở Yên Bái 80

C KẾT LUẬN 85

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO 8PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTLSVN Bảo tàng lịch sử Việt Nam

KCH Khảo cổ học

KHXH Khoa học xã hội

HĐND Hội đồng nhân dân

NPHMVKCH Những phát hiện mới về khảo cổ họcNxb Nhà xuất bản

Trang 7

A Mở đầu

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Văn hoá Sơn Vi là một văn hoá khảo cổ mang tên xã Sơn Vi, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ Nơi lần đầu tiên 30 năm trớc (1968), cán bộ khoa Lịch Sử trờng Đại học tổng hợp Hà Nội và phũng Văn hoá huyện Lâm Thao (Phỳ Thọ) đã phát hiện những di tích chứa công cụ ghè đẽo của nền văn hoá này

Văn hoá Sơn Vi ngay từ những năm đầu khi phát hiện, đó đợc GS Hà Văn Tấn xác nhận nh là một nền văn hoá khảo cổ, khỏc văn hoá Hoà Bình và tr-

ớc văn hoá Hoà Bình, có thể có niên đại thuộc hậu kỳ đồ đá cũ Luận điểm đó

đã đợc các đồng nghiệp và các thế hệ học trò của giáo s chứng minh và phát triển thêm qua những phát hiện mới đầy sức thuyết phục, không chỉ trên đất Phú Thọ mà nhiều nơi khác trên lãnh thổ Việt Nam

Yên Bái là một tỉnh miền núi, có vị trí đặc biệt quan trọng về nhiều mặt,

có những di tích, di vật khảo cổ học độc đáo, phản ánh đặc thù phát triển văn hoá - lịch sử của một vùng đất giàu truyền thống Đặc biệt trong giai đoạn lịch

sử tiền sử v sơ sà ử, cụ thể l văn hoá Sơn Vi.à

Nhờ những nổ lực của cán bộ khoa học, khảo cổ học ở trung ơng v à địa phương mà việc tìm hiểu văn hoá Sơn Vi đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, góp phần t liệu làm sáng tỏ dần bộ mặt lịch sử của vùng đất Yên Bái

Cho đến nay, có 230 di tích văn hoá Sơn Vi đã đợc phát hiện trên đất nớc Việt Nam Một số di tớch đã đợc khai quật, nhiều bài báo viết về văn hoá Sơn Vi

đã đợc công bố, một số vấn đề cơ bản của văn hoá Sơn Vi đã đợc giải quyết như xỏc định niờn đại, phõn chia cỏc giai đoạn và đặc trưng loại hỡnh cụng cụ trong văn húa Sơn Vi Bờn cạnh đú, không ít vấn đề mới đặt ra và tiếp tục đợc

đa ra thảo luận, đú là nghiờn cứu về mặt kỹ thuật học, tớnh địa phương trong văn húa Sơn Vi

Trang 8

Đối với tỉnh Yên Bái, việc phục dựng bức tranh toàn cảnh về lịch sử giai

đoạn văn hoá Sơn Vi là một nhiệm vụ to lớn, thiết thực của các nhà khảo cổ học

Nghiên cứu, tìm hiểu về văn hoá Sơn Vi, đó là một hớng tiếp cận sâu rộng những thành tựu văn hoá lịch sử, có những đánh giá đúng, thiết thực về con ngời thời tiền sử và đặt ra những phơng hớng nghiên cứu cũng nh bảo tồn, phát huy những giá trị biểu của văn hoá Sơn Vi Đó là một việc làm rất cần thiết

và có ý nghĩa lớn trờn bỡnh diện cả nước núi chung và đối với tỉnh Yờn Bỏi núi riờng

L à một sinh viờn chuyờn ngành Lịch sử Văn húa, là một người con sinh ra trờn miền quờ Yờn Bỏi, nhận thức được những vấn đề trên, tôi mạnh

dạn chọn đề tài : “Tìm hiểu văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái” làm đề tài cho khoá

luận tốt nghiệp Đại học của mình Điều đặc biệt hơn nữa là nghiên cứu, tìm hiểu về đề tài này, tôi mong muốn đóp góp một phần nhỏ bé công sức của mình, góp phần làm sáng tỏ những giá trị to lớn, đích thực của văn hoá dân tộc trên mảnh đất Yên Bái, quê hơng thân yêu

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIấN CỨU

Trong hơn 30 năm qua, đã có nhiều phát hiện mới về văn hoá Sơn Vi Các nhà khảo cổ học hầu nh đã tìm thấy dấu vết văn hoá này hầu khắp các tỉnh Bắc Bộ v Bắc Trung Bộ.à

Tìm hiểu và nghiên cứu về văn hoá Sơn Vi không phải là vấn đề mới mẻ

đối với các học giả trong và ngoài nớc Từ khi phát hiện ra di chỉ khảo cổ học

đầu tiên năm 1968 ở Sơn Vi - Phú Thọ, cho tới nay đã có hàng trăm công trình nghiên cứu với quy mô lớn và hết sức công phu

Để phục vụ kịp thời công tác nghiên cứu khảo cổ học, khoa học và tuyên truyền giáo dục về di sản văn hoá dân tộc, đợc sự đồng ý của Viện khảo cổ học

và Sở văn hoá thông tin thể thao Phú Thọ, ban biên tập đã xuất bản cuốn sách

Tìm hiểu văn hoá Sơn Vi ” gồm các tham luận trình bày tại Hội thảo khoa học

Trang 9

đầu tiên, kỷ niệm 30 năm phát hiện văn hoá Sơn Vi Tiếp đó, nhà xuất bản Khoa học xã hội đã xuất bản cuốn sách “Văn hoá Sơn Vi (” the Sơn Vi culture) do GS

Hà Văn Tấn, Trình Năng Chung, Nguyễn Khắc Sử chủ biên, Hà Nội 1999

Từ những nghiên cứu cụ thể đến tổng kết những tri thức hiện có về văn hoá Sơn Vi, hai cuốn sách này đã giới thiệu một cách toàn diện về văn hoá Sơn

Vi với nhiều vấn đề đợc trình bày trên nhiều quan điểm giống nhau và khác nhau của các nhà khoa học Từ đó, tác giả có cái nhìn tổng quan, rõ ràng nhất

về văn hoá Sơn Vi

ở Yên Bái, ngời có công lớn đầu tiên trong việc phát hiện và nghiên cứu khảo cổ học về văn hoá Sơn Vi nói riêng và văn hoá tiền sơ sử Yên Bái nói chung là TS Nguyễn Văn Quang (nguyên giám đốc Bảo tàng tỉnh Yên Bái)

Ông đã cùng với đồng nghiệp ở Viện khảo cổ học và Bảo tàng tỉnh Yên Bái liên tục trong nhiều năm đã tiến hành điều tra, khảo sát các di tích khảo cổ trên đồi

gò, thềm sông, suối Cuốn sách “… Tiền sử v sơ sử Yên Bái à ” là kết quả nghiên cứu nhiều năm của Nguyễn Văn Quang, phát triển từ luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành Khảo cổ học, đã bảo vệ thành công tại hội đồng chấm luận án cấp nhà nớc năm 2002, nhng có bổ sung thờm nhiều t liệu mới cho cập nhật và sữa chữa cho phù hợp với một công trình nghiên cứu khoa học, thể hiện ở việc

hệ thống hoá đầy đủ những t liệu và kết quả nghiên cứu từ trớc đến nay về các

di tích, di vật thời tiền sử, sơ sử ở Yên Bái Trên cơ sở đó, công trình đã phân lập đợc 5 giai đoạn phát triển chính trong thời kỳ tiền sử và sơ sử ở Yên Bái: hậu kỳ đá cũ, sơ kỳ đá mới, hậu kỳ đá mới, sơ kỳ đồng thau và sơ kỳ thời đại đồ sắt Đặc biệt, bức tranh về văn hoá Sơn Vi đợc xây dựng khá hoàn chỉnh và có

hệ thống Cho đến năm 2004, tác giả quyển sách này tập hợp đợc 67 địa điểm với 9.274 di vật của văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái Đây là nguồn t liệu chính để nghiên cứu về văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái

Những phát hiện di tích hậu kỳ đỏ cũ - văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái đợc biết

đến muộn hơn so với văn hoá Sơn Vi ở Phỳ Thọ, thời kỳ đầu là do các bộ phận

Trang 10

chuyên môn địa phơng công bố Những công bố này còn mang tính sơ lợc, mang tính thông tin và đợc công bố chủ yếu trên các kỷ yếu “Những phát hiện mới về Khảo cổ học ” h ng à năm Từ những thập kỷ 90 trở lại đây bắt đầu có sự phối hợp giữa cán bộ địa phơng và cán bộ chuyên môn ở Viện khảo cổ học trong việc khảo sát nghiên cứu văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái Một số nhà nghiên cứu đã trực tiếp khảo sát, nghiên cứu và có một số công bố tổng quát hơn Tuy vậy cha có một công trình, một tác phẩm riêng nào viết về văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái.

Đối với cá nhận tôi, tìm hiểu văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái là sự tiếp tục kế thừa, tổng hợp những công trình nghiên cứu của các thế hệ đi trớc Trên cơ sở

đó, góp phần tiếp tục nghiên cứu, khám phá những bí ẩn về văn hoá Sơn Vi trên

đất Yên Bái vẫn còn nằm sâu trong lòng đất Từ đó, góp phần nhỏ bé trong việc nghiên cứu Khảo cổ học ở tỉnh nhà

3 NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI

Nhiệm vụ chính của đề tài khoá luận này nhằm:

- Tìm hiểu đặc điểm, đặc trng tiêu biểu của văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái trên cơ sở tìm hiểu, phân tích về: di tích, di vật cùng việc phác hoạ bức tranh…cuộc sống của c dân Sơn Vi ở Yên Bái

- Mối quan hệ văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái trong tơng quan so sánh với các khu vực xung quanh (trên lưu vực sông Hồng và sông Chảy)

Từ đó, đề ra phơng hớng bảo tồn v phát huy những giá trị văn hoá, lịchà

sử của văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái

Trang 11

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIấN CỨU

4.1 Đối tợng

Đối tợng chính là các di tích di vật thuộc văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái, gồm các loại hình đặc trng với khu vực phân bố yếu ở thềm sông, đồi gò, đến đặc

điểm di vật về loại hỡnh, nguyên liệu, kỹ thuật…

Bên cạnh đó, mở rộng khảo sát, tìm hiểu thêm về quần thể di tích tiêu biểu cũng nh quá trình nghiên cứu văn húa Sơn Vi ở Yên Bái và các tỉnh kế cận trong sự so sánh đối chiếu…

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài khoá luận tập trung tìm hiểu nghiên cứu văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái trong tổng thể nói chung, từ những nhân tố, điều kiện tác động, hình thành nên nền văn hoá và đặc trng tiêu biểu Đồng thời, đưa ra vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị của nền văn hoá đó Phạm vi không gian là quần thể di tích phát hiện đợc

ở Yên Bái trên lưu vực sông Hồng và sông Chảy Phạm vi thời gian là di tích, di vật thuộc niên đại văn hoá Sơn Vi -hậu kỳ thời đại đồ đá cũ

5 NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU

5.1 Nguồn tài liệu

Để thực hiện, hoàn thành đề tài này chúng tôi thu nhập, sử dụng tất cả các nguồn tài liệu có liên quan, bao gồm: các tài liệu Khảo cổ học, khoa học liên ngành: Khảo cổ học - Bảo tàng học Trong đó sử dụng nhiều nhất là các tác phẩm, công bố về các công trình nghiên cứu về văn hoá Sơn Vi trên cả nớc và ở Yên Bái, các su tập hiện vật đá ở Bảo tàng tỉnh Yên Bái, cùng với các sách, bài viết, báo cáo có liên quan Ngoài ra, còn sử dụng nguồn văn hoá dân gian,…truyền miệng, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề liên quan trong nội dung đề tài khoá luận

Trang 12

5.2 Phơng pháp nghiên cứu

Khoá luận sử dụng phơng pháp luận Mác- Lênin trong nghiên cứu văn hoá vật thể thời quá khứ nhằm nhìn nhận đánh giá các vấn đề văn hoá học Do tính chất, đặc thù của khúa luận tốt nghiệp nghiên cứu về văn hoá vật thể thời quá khứ trong các su tập ở Bảo tàng nên khoá luận sử dụng phơng pháp nghiên cứu liên ngành: Khảo cổ học, Bảo tàng học Trong đó chú trọng vận dụng các phơng pháp thống kê phân loại, miêu tả điển hình, đồ họa, vẽ, chụp ảnh Từ đó tiến hành thu thập và xử lý thông tin

Khoá luận sử dụng các phơng pháp nghiên cứu đa ngành nh dân tộc học, văn học dân gian trong việc lý giải một số vấn đề liên quan về văn hoá Sơn Vi, cũng nh vận dụng một số phơng pháp khoa học tự nhiên trong việc phân tích và bảo quản di tích, di vật Bên cạnh đó, công tác điền dã và phỏng vấn là phơng pháp nghiên cứu trực tiếp khá quan trọng của đề tài

6 BỐ CỤC CỦA KHểA LUẬN

Ngoài phần mở đầu, kết thúc, tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu,

ảnh minh hoạ và phần phụ lục Bố cục chính của đề tài gồm 3 phần cơ bản:…

Chơng 1: Vài nột về tỉnh Yên Bái.

Chơng 2: Văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái.

Chơng 3: Bảo tồn và phát huy những giá trị của văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái.

Trang 13

B nội dung

Ch ơng 1

VÀI NẫT về tỉnh Yên Bái

1.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA Lí TỰ NHIấN

1.1.1 Vị trí địa lý và các đơn vị hành chính

Yên Bái là một tỉnh miền núi, nằm giữa vùng Tây Bắc và Đông Bắc, giữa miền trung du và thợng du của Bắc - Nam Theo bản đồ của Sở địa chính tỉnh Yên Bái, tỉnh Yên Bái có toạ độ 103056’ đến 10506’10’’ kinh Đông; từ

21019’30’’ đến 22017’30’’ vĩ độ Bắc Toàn tỉnh có tổng diện tích đất tự nhiên là 6882,92km2, chiều rộng từ Đông sang Tây dài 120km, từ Bắc đến Nam d ià 100km Phía Bắc giáp Lào Cai, phía Đông giáp hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang, phía Nam giáp Phú Thọ, phía Tây giáp tỉnh Sơn La [5] Yên Bái nằm ở

đầu mối và trung độ của các tuyến đờng giao thông đờng bộ, đờng sắt từ Hải Phòng đến Hà Nội và lên cửa khẩu Lao Cai Vị trí này có nhiều thuận lợi trong chiến tranh giải phóng dân tộc, trong công cuộc bảo vệ tổ quốc, giao lu và phát triển kinh tế, văn hóa nhng lại bị hạn chế nhất định khi xây dựng nền kinh tế thị trờng, mở cửa với bên ngoài

Yên Bái có quá trình hình thành lâu dài và phức tạp Từ xa xa, vùng đất Yên Bái đã là một bộ phận của tổ quốc Trải qua những thăng trầm của lịch sử, vùng đất Yên Bái có rất nhiều tên gọi và sự biến động về địa giới hành chính Vùng đất cơ bản của Yên Bái từ xa gồm khu vực của Yên Bái ngày nay, một phần đất của huyện Yên Bình và Trấn Yên, còn các huyện thị khác là phần đất

đợc sát nhập vào Yên Bái qua các thời kỳ Thời Hùng Vơng, phần lớn đất đai nằm trong lãnh thổ của nớc Văn Lang, quân Giao Chỉ Đời nhà Đờng, nằm trong vùng các châu Kỵ My Thời Lý, Yên Bái bao gồm cả châu Định Nguyên, một phần châu Chân Đăng và một phần trại Quy Hoá Đến thế kỷ XV (đời Lê Thánh Tông), để tăng cờng sự thống nhất về hành chính, Lê Thánh Tông chia n-

Trang 14

ớc thành 13 đạo, ở Yên Bái có huyện Văn Chấn, Trấn Yên nằm trong phủ Quy Hoá thuộc đạo thừa tuyên Hng Hoá, châu Lục Yên, châu Thu Vật (Yên Bình) nằm trong đạo thừa tuyên Tuyên Quang.

Trong thời gian thực dân Pháp bình định, ngày 11/4/1900 Pháp thành lập tỉnh Yên Bái, gồm các huyện: Trấn Yên, Văn Chấn, Văn Bàn, Lục Yên Ngày 23/3/1920 Pháp sát nhập châu Than Uyên từ tỉnh Lai Châu vào Yên Bái

Tháng 5/1955, các châu Văn Chấn, Than Uyên thuộc khu tự trị Thái Mèo Tháng 6/1956 huyện Yên Bình của tỉnh Tuyên Quang sát nhập vào tỉnh Yên Bái Tháng 12/1962 quốc hội quyết định đổi tên khu tự trị Thái Mèo thành khu tự trị Tây Bắc Tháng 12/1965 tỉnh Nghĩa Lộ (thuộc khu tự trị Tây Bắc) thành lập gồm các huyện: Văn Chấn, Than Uyên, Phù Yên và thị xã Nghĩa Lộ Ngày 3/1/1976 nhập ba tỉnh Yên Bái, Nghĩa Lộ và Lào Cai thành tỉnh Hoàng Liên Sơn Đến ngày 1/1/1991, tỉnh Hoàng Liên Sơn chia thành hai tỉnh Yên Bái

và Lào Cai

Tỉnh Yên Bái hiện nay gồm: 7 huyện (Lục Yên, Mù Cang Chải, Trấn Yên, Văn Yên, Yên Bình, Văn Chấn, Trạm Tấu); 1 thị xã (Nghĩa Lộ) và thành phố Yên Bái (tỉnh lỵ) (Bản đồ 1)

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

*Địa hình

Yên Bái là tỉnh có địa hình, địa vật phong phú, đa dạng, vừa mang đầy đủ đặc

điểm độc đáo của vùng lãnh thổ phía Tây Bắc của tổ quốc: núi cao, rừng rậm, vực sâu, dốc lớn, sông dài, suối rộng, dài, xen kẽ với nhiều thảo nguyên, những thung lũng rộng lớn, những cánh đồng phì nhiêu màu mỡ, làng bản trù phú Bên hữu ngạn sông Hồng, có những dãy núi cao hùng vĩ, trùng điệp quanh năm mây phủ với những đỉnh cao chót vót: Phú Luông 2.985m, Lung Cúng 2.913m,

Xu Phìn 2.874m Phía Đông sông Hồng và sông Chảy là chân của dãy núi Tây Côn Lĩnh với nhiều dãy núi ken dày nối tiếp nhau Các dãy núi đều chạy từ Tây Bắc đến Đông Nam nên ở Yên Bái ít bị gió bão

Trang 15

Bản đồ 1 Bản đồ tỉnh Yên Bái

Trang 16

Yên Bái có 4 kiểu địa hình, địa mạo chính :

+ Địa khối Hoàng Liên Sơn - Phú Luông: phân bố ở phía Bắc và Tây Bắc của tỉnh Đây là miền núi cao, đổ từ dãy Hoàng Liên Sơn tạo nên giải phân cách giữa sông Đà và sông Hồng (gồm những đỉnh núi cao từ 2000m trở lên)

+ Địa hình núi Con Voi: Chạy theo hớng Tây Bắc - Đông Nam, phân cách lu vực sông Hồng và sông Chảy, gồm nhiều đỉnh núi cao trên 1000m và nhiều dòng suối bắt nguồn từ địa khối này đổ nớc vào sông Hồng và sông Chảy tạo nên địa bàn cư trỳ thuận lợi cho con ngời

+ Địa hình khối Đông Nam dãy phù sa Phìn Hồ gần giống với cấu trúc

địa hình dãy Hoàng Liên Sơn - Phú Luông, song có xu hớng thấp dần về phía Nam và tạo nên vùng đất phẳng lặng dạng bồn địa

+ Địa hình khối cực Bắc của vùng đồi trung du phân bố chủ yếu ở phần cực Nam của tỉnh và chạy dọc theo thung lũng của hai dòng sông Hồng và sông Chảy Nằm lọt giữa 2 dãy núi cao bao bọc xung quanh là cánh đồng Mờng Lò rộng 2300ha, đợc xếp hạng thứ 2 trong những cánh đồng trù phú giàu đẹp của vùng Tây Bắc Dọc hai bên bờ sông Hồng và sông Chảy có những cánh đồng tuy hẹp hơn nhng đất đai tơng đối phì nhiêu màu mỡ thuộc các huyện Trấn Yên, Yên Bình, Lục Yên và Văn Yên

Địa hình khá phức tạp nhng có thể chia thành hai vùng lớn là vùng cao và vùng thấp Vùng cao có độ cao trung bình 600m trở lên (chiếm 67,56% diện tích toàn tỉnh); vùng thấp có độ cao dới 600m (thấp nhất là xã Minh Quân - huyện Trấn Yên với độ cao 27m), chủ yếu là địa hình đồi núi thấp, thung lũng bồn địa (chiếm 32,44% diện tích toàn tỉnh) [14, 16]

Về phơng diện địa hình, Yên Bái có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc giao lu theo hớng Bắc - Nam, dọc thung lũng các con sông Trong khi đó, mối liên hệ kinh tế theo hớng Đông- Tây hết sức khó khăn Địa hình tỉnh Yên Bái phản ánh tính đa dạng phức tạp, đợc tạo nờn trong nhiều thời kỳ khác nhau, có ý

Trang 17

nghĩa rất quan trọng tạo nên môi trờng cảnh quan của thế giới thiên nhiên thời

cổ nơi đây ( Ảnh 1)

*Khí hậu

Yên Bái nằm trong vùng nhiệt đới khí hậu gió mùa Do ảnh hởng của địa hình sờn núi và thung lũng sông nên tính điển hình của loại khí hậu này không còn giữ nguyên đợc, đã cú ít nhiều biến đổi Mùa đông lạnh và mùa hè nóng bức, độ ẩm tăng cao Đồng thời cũng tạo nên nhiều tiểu vùng khí hậu phức tạp

và đa dạng, vừa có những điểm chung của vùng, vừa tạo ra những nét riêng cho tiểu vùng

Phía Tây tỉnh Yên Bái chịu ảnh hởng của gió Lào khô nóng Nhiệt độ trung bình từ 18- 220C, lúc nóng nhất lên tới 300C, độ ẩm lên tới 56% Lợng ma trung bình hàng năm là 1800mm, ma nhiều nhất là từ khoảng tháng 6 đến tháng

9, chiếm khoảng 80% lợng ma cả năm Nằm sâu trong nội địa, Yên Bái tuy ít bão nhng về mùa ma một số nơi thờng có gió xoáy và ma đá [15, 23]

Mô hình khí hậu nh trờn lại bị đặc điểm địa hình chi phối nên trên thực tế cũng không hoàn toàn giữ đợc tính chất nh vậy mà đã biến đổi ít nhiều Từ đó, làm tăng tính phức tạp của môi trờng khí hậu, ảnh hởng sâu sắc đến môi trờng sinh thái Đặc điểm khí hậu này đã trở thành một trong những nguyên nhân quan trọng, quy định tính đa dạng sinh học của Yên Bái

Trang 18

vào, đáng kể nhất là Ngòi Hút, Ngòi Hóp, Ngòi Thia, Ngòi Lâu, Ngòi Vần… (Ảnh 2).

- Sông Chảy: Bắt nguồn từ Hà Giang, có hớng dòng chảy gần nh song song với sông Hồng nhập với sông Lô ở Đoan Hùng (Phú Thọ)… (Ảnh 3)

Ngoài ra, ở Yên Bái có hàng trăm suối nhỏ khác nhau và hồ Thác Bà với diện tích 1.050ha mặt nớc cùng với hệ thống sông Hồng có độ dốc cao, chảy xiết tạo nên một dải đồng bằng màu mỡ, trù phú, hình thành hệ sinh thái rõ rệt, chi phối sâu sắc môi trờng tự nhiên ở khu vực này Chính vùng này đã trở thành

địa bàn c trú, sinh tụ của c dân cổ đại

* Tài nguyên khoáng sản

Đợc hình thành trên những trầm tích cổ, Yên Bái là địa bàn chứa nhiều khoáng sản, từ quý hiếm đến thông dụng Theo bản đồ khoáng sản, ở Yên Bái hiện có trên 200 điểm mỏ Trong đó có 170 điểm mỏ đã đợc khảo sát đang đợc khai thác hoặc chuẩn bị đa vào khai thác và trên 30 điểm thuộc loại mỏ cổ, hầu hết đã chấm dứt khai thác [14,20-21]

Khoáng sản ở Yên Bái gồm hai loại chính: khoáng sản kim loại và khoáng sản phi kim loại

- Khoáng sản kim loại: phân bố rải rác nhiều nơi, chủ yếu tập trung ở phía Tây của tỉnh Dới lòng đất có than ở Hồng Quang (Lục Yên), Hoàng Thắng (Trấn Yên) Quặng sắt ở Mỵ (Văn Chấn), Hng Khánh (Trấn Yên), mỏ

đồng ở làng Nhón

- Khoáng sản phi kim loại: Có nhiều loại đá Đá ở Yên Bái khá phong phú về chủng loại và chất lợng khá cao Các tài liệu khảo sát địa chất cho biết trên đất Yên Bái có các loại đá chính: Macmachua, Macmabazơ, siêu Bazơ, đá biến chất (Gownai trầm tích đá biến chất); granít - gơnai, philit, phiến thạch Mica, phiến thạch sét, phấn sa Đặc biệt cao cấp là các loại đá quý nh… Rubi (hồng ngọc); Nephit, ngọc bích tập trung ở Lục Yên, Yên Bình và dọc theo lu

Trang 19

vực sông Chảy (phía Đông của tỉnh) Đá vôi tập trung ở: Mông Sơn, Mỹ Gia, Ngòi Biếc, Tân Lập Đây là nguồn nguyên liệu khoáng sản quý ở địa ph… ơng.

Ngoài ra, còn phải kể đến nguồn đá cuội sông, cuội suối rất dồi dào, có mặt khắp nơi trong tỉnh, tập trung chủ yếu là dọc theo bờ sông Hồng, sông Chảy và hàng trăm suối lớn nhỏ thuộc lu vực của hai sông này Đá cuội trở thành nguồn nguyên liệu tự nhiên góp phần tạo nên đặc trng văn hoá khảo cổ ở

địa bàn tỉnh Yên Bái ngay từ thời đại đá cũ

Nhìn chung, đặc điểm chính của khoáng sản ở Yên Bái là phân bố rải rác,

có xu thế tập trung ở những vùng khá sâu, xa, có trữ lợng không nhiều Nhng

đáng lu ý là các loại mỏ phần nhiều nông hoặc gần nh lộ thiên nên rất thuận lợi cho khai thác, kể cả bằng thủ công

*Động, thực vật

Dù địa hình và khí hậu Yên Bái đa dạng và phức tạp, song nhìn chung

đây vẫn là vùng nhiệt đới gió mùa, thảm thực vật và động vật mang đặc điểm nổi bật của vùng nhiệt đới Tuy đã có những biến đổi ít nhiều, nhưng Yên Bái chủ yếu là rừng núi, toàn tỉnh có gần 6000km2 rừng núi đồi Rừng chiếm 86% diện tích toàn tỉnh Trong đó có nhiều loại động vật, thực vật quý hiếm

Thực vật thuộc ba vành đai:

+ Thực vật vùng nhiệt đới: độ cao 600 – 700m trở xuống

+ Thực vật vùng á đới: độ cao 600 – 700m đến 1700m

+ Thực vật vùng cận nhiệt đới: độ cao 1700 trở lên

Trong rừng có nhiều loại gỗ quý như: đinh, lim, sến, táu, pơmu phân…

bố chủ yếu ở sông Chảy, huyện Lục Yên Rừng tre, nứa trên đồi gò, thềm phù…

sa cổ thuộc thung lũng sông Hồng Đây là địa bàn thuận lợi cho sự sinh tồn và phát triển của con ngời

Động vật phát triển trên nền quần thể thực vật phong phú nờn quần thể

động vật cũng trở nên đa dạng, nhiều chủng loại động vật đợc phân bố theo các vành đai khí hậu và vành đai thực vật khác nhau, thuộc các lớp: động vật có vú,

Trang 20

bò sát và lớp cá, với các loại nh: hổ, gấu, tê tê ; d… ới nớc có: lơn, ba ba, lơn, cá bống…

Nh vậy, Yên Bái có một khối lợng quần thể động vật, thực vật khỏ phong phú về chủng loại Môi trờng khí hậu nóng ẩm đã tạo cho chúng khả năng phát triển dồi dào và nhanh chóng, tính đa dạng sinh học cao Đây là những tiền đề rất thuận lợi cho sự sinh tồn và phát triển của con ngời Hệ sinh thái mang tính phổ tạp Do đó, đã tạo ra một nguồn thức ăn mang tính dồi dào cho con ngời Từ một điều kiện tự nhiên đa dạng nên nguồn kiếm sống của con người cũng đa dạng theo

1.2 Đặc điểm dân c - xã hội

Yên Bái là tỉnh đa dân tộc, xen c là chính, phân bố không đều, tập trung cao nhất ở vùng đô thị và các trung tâm chính trị, đến các thung lũng sông, ven

đờng quốc lộ và các dải đồng bằng thuộc vùng thấp, cũn tha thớt ở vùng cao

Tính đến 1/4/1999 dân số tỉnh Yên Bái là 679.684 ngời, mật độ dân số là

98 ngời/km2, có nhiều dân tộc xen kẽ Trong đó, đa phần là dân tộc Kinh (54%), Tày (17,28%), Dao (9,1%), H’Mông (7,2%) v à dõn tộc Thái (6%), còn lại là các dân tộc khác [5]

Là một tỉnh miền núi rất đa dạng về dân c và xã hội, trải qua hàng nghìn năm sinh tồn và phát triển, cho đến trớc cách mạng Tháng 8, tình hình xã hội Yên Bái đã có sự phân hoá giai cấp sâu sắc ở các dân tộc vùng thấp có đủ thành phần xã hội: địa chủ, phú nông, t sản, tiểu t sản, nông dân (trung nông, bần nông và cố nông) ở các dân tộc vùng cao quan hệ xã hội lại khác hẳn, nó vừa mang tính phong kiến, vừa mang tính chế độ tù trởng, những tàn d này thể hiện rất rõ trong mối quan hệ mật thiết gắn bó trong nội bộ dòng họ Thực dân Pháp lợi dụng sự lạc hậu của các dân tộc thiểu số để thực hiện chính sách ngu dân và chia để trị, đa dân tộc này đi đàn áp dân tộc khác gây sự đố kỵ thù hằn lâu dài với nhau Ngời Kinh, ngoài một số bộ phận c trú tại địa bản tỉnh Yên Bái

Trang 21

lâu đời còn lại là đa số quê ở dới xuôi, do nhiều lý do phải bỏ quê hơng lên

định c, tìm kế sinh sống ở Yên Bái Nhóm ngời Kinh qua năm tháng dần trụ lại

ở dọc ven sông Hồng, sông Chảy hình thành những l ng mạc trù phú.à

Ngời kinh (ngời Việt) đợc coi là c dân bản địa, c trú ở đây rất lâu đời Có thể ngay từ thời đại đá, những c dân cổ tồn tại, phát triển và dần hình thành nên dân tộc Việt ngày nay Các dấu tích ít nhất từ hậu kỳ đá cũ trở đi đều có nhiều nét tơng đồng với các khu vực xung quanh và đồng bằng Bắc Bộ Qua đú, phản

ánh trình độ sản xuất chung của một khối cộng đồng c dân thống nhất Qua quá trình biến đổi của lịch sử, một bộ phận c dân tiến hành xuống chiếm lĩnh đồng bằng, một bộ phận ngợc lại trở lại miền núi

Nhìn chung, các dân tộc ở Yên Bái tuy định c ở các thời điểm khác nhau, song đều sống hoà thuận, đoàn kết, chung lng đấu cật trong sự nghiệp dựng nớc

và giữ nớc của dân tộc

1.3 Trình độ kinh tế

Nhìn chung, Yên Bái là một tỉnh nghèo chậm phát triển, kinh tế nông nghiệp lúa nớc là chủ đạo, song diện tích ruộng ít lại kém màu mỡ, bị chia cắt, manh mún Một bộ phận c dân, nhất là ở vùng núi và dân tộc thiểu số còn đói, nghốo Nhờ công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nớc hơn chục năm gần đây, sản xuất nông nghiệp được đầu t phát triển, đời sống nhân dân đợc cải thiện hơn, từ chỗ thiếu đói lơng thực nay đã no đủ, d giật Ngời dân phát huy thế mạnh kinh tế của mình Nền nông nghiệp đa canh, kinh tế vờn đồi theo hình thức “trang trại” đang có xu hớng phát triển mạnh ở Yên Bái

Cơ cấu kinh tế của Yên Bái trong những năm gần đõy đã có sự chuyển dịch theo xu hớng tăng tỷ trọng của ngành dịch vụ và công nghiệp Tuy nhiên,

sự chuyển dịch đó còn chậm và không đều

Có thể nói, Yên Bái vẫn là một tỉnh nghèo trải qua hơn một thập kỷ đổi mới chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có một số tiến bộ, song vẫn trong tình trạng chậm phát triển Đời sống kinh tế văn hoá còn có sự chênh lệch khá rõ rệt giữa

Trang 22

vùng thấp v vùng cao, giữa vùng đô thị và vùng sâu vùng xa Tuy vậy, nhữngàtiềm năng của tỉnh sẽ đợc phát huy trong thời gian tiếp theo.

Dới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc, của Đảng bộ tỉnh và chính quyền

địa phơng, nhân dân các tỉnh Yên Bái đã và đang vững chắc bớc đi lên xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, văn hoá giàu đẹp

1.4 Truyền thống văn hoá

*Dấu tích văn hoá

Yên Bái là một trong những nơi sớm xuất hiện đời sống của con ngời nguyên thuỷ Qua khảo cứu, tìm kiếm và khai quật, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy các dấu vết của ngời thợng cổ ở Tân Lập (Lục Yên); các gia cầm hoá thạch

ở hang Hùm (Lục Yên); các công cụ bằng đá ở Bỏch Lẫm (th nh à phố Yờn Bỏi), Mậu A (Văn Yờn), Thẩm Thoúng (Thượng Bằng La – Văn Chấn)…; trống đồng Phù Nham ở Thạch Lơng (Văn Chấn), Tân Hơng, Mông Sơn (Yên Bình), Khai Xuân (Lục Yên) Đặc biệt là chiếc thạp đồng Đào Thịnh ở xó Đào Thịnh huyện Trấn Yên Thạp đồng Đào Thịnh l chiếc thạp đồng còn nguyênàvẹn và lớn nhất tìm thấy ở Việt Nam (cao 97,7cm, đờng kính miệng rộng 64cm, nặng 76kg) đợc chế tạo vào thời kỳ đồng thau, có nhiều hình trang trí đẹp, biểu hiện sự sinh sôi nảy nở của con ngời Đây là tác phẩm nghệ thuật cực kỳ quý giá

Các dấu tích văn hoá thời Trần phát hiện đợc rải rác ở một vài nơi trong tỉnh Yên Bái, chủ yếu là đồ gốm, nhng cũng không có đợc nhiều, nổi bật lên là phát hiện đợc hai địa điểm có kiến trúc đời Trần là chùa tháp Hắc ý (Tân Lĩnh - Lục Yên) và chùa Hang úc (Tân Lập - Lục Yên) Hai di tích này đã trở thành phế tích, kiến trúc đã bị đổ từ lâu và đã bị phủ lớp đất dày 50-70cm Đây là cụng trỡnh kiến trúc tôn giáo đời Trần, di tích này có ít nhiều liên quan đến cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Mông - Nguyên của dân tộc ta

Trang 23

Tính đến tháng 6/2009, toàn tỉnh có 34 di tích lịch sử đợc xếp hạng Trong đó có 9 di tích đợc xếp hạng cấp quốc gia; 25 di tích đợc xếp hạng cấp tỉnh [26, 28].

Những dấu tớch văn húa trờn là bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh, xây dựng và phát triển vùng đất và nhân dân các dân tộc trong tỉnh Yờn Bỏi Đồng thời, qua đó bổ sung thêm các cứ liệu

sử học phong phú và minh chứng cho truyền thống văn hóa của các dân tộc trong tỉnh

*Truyền thống văn hoá dân gian

ở Yên Bái có kho tàng văn hoá dân gian phong phú và đa dạng Đây là nơi sinh sống của c dân nhiều dân tộc, mỗi dân tộc đều bảo tồn đợc bản sắc văn hóa riêng của mình Nét đặc sắc văn húa thể hiện qua kho tàng các truyện cổ, tục ngữ, ca dao, lễ hội, hát dân ca, múa, phong tục, tập quán…

Về hát múa: dân tộc Tày có: Cọi, Then, những làn điệu hát ru truyền thống ca ngợi tình yêu đôi lứa và lao động xây dựng quê hơng; dân tộc Dao có Pã Dung, áy Dựng; dân tộc H’Mông có: hát ru; dân tộc Khơ Mú có : Ma Rơi ; dân tộc Thái có: Xinh Lá.…

Về nhạc: Dân tộc Tày có đàn Tính, đàn Môi, sáo; dân tộc Thái có: Pile, các loại Pi; dân tộc Khơ Mú có: chiêng, sáo; dân tộc Dao Đỏ có: trống, thanh,

la, khèn…

Kho tàng văn hoá dân gian các dân tộc gồm trờng ca, sử thi, truyện cổ tích có giá trị Đó là “Kim Quế”, “Chim Báo”; “Nam Kim”; “Thị Đan”; Quảng Tân - Ngọc Lợng” của ngời Tày Ngời Dao có “Ing Toig Dung”, “Lý Hơng Cả, trờng ca Bàn Đại Hộ” Ngời Thái có: chuyện giữa chàng Khum và nàng Ban… Các tác phẩm này đợc ghi chép lại hoặc trong truyền miệng từ đời này đến đời khác Nội dung các tác phẩm có ý nghĩa nhân văn, giáo dục sâu sắc

Trang 24

Về trang phục: y phục của ngời phụ nữ dân tộc (Dao, Thái ) thêu thùa…với những họa tiết văn hóa đẹp và cầu kỳ, sản phẩm cho thấy kỹ thuật cao về nghệ thuật tạo hình của nghề dệt của các dân tộc tỉnh Yên Bái.

Lễ hội, lễ tết của các dân tộc gắn chặt với mùa xuân, với sản xuất nông nghiệp, với hội xuống đồng Ngời dân mong các thần linh phù hộ đuổi ma tà, cầu thời tiết thuận hoà để cuối năm có vụ mùa bội thu Các lễ hội còn là dịp để giao lu, trai gái gặp gỡ nhau tỏ tình Lễ hội thờng có hình thức huyền bí nhng nội dung mang tính chất tốt đẹp, hớng con ngời đi tới niềm tin, ớc mong về một cuộc sống mới đầy đủ

*Về tôn giáo

Tuyệt đại đa số nhân dân có tín ngỡng, hoặc có ít nhiều ảnh hởng của đạo Phật (2550 ngời; chiếm 0,37% dân số); Công Giáo ( 3701 ngời; chiếm 5,45% dân số) và Tin Lành (281 ngời; chiếm 0,04% dân số) Về đạo Thiên Chúa, ngay sau khi thực dân Pháp chiếm đợc tỉnh Yên Bái, các giáo sỹ ngời Âu đã lên theo truyền đạo thiên chúa Trớc cách mạng tháng 8/1945, ở huyện Yên Bình đã có

20 nhà thờ, 7316 hộ giáo dân; huyện Trấn Yên có 10 nhà thờ, 995 hộ giáo dân; huyện Văn Chấn có một số nhà thờ lớn (nhà thờ Phìn Hồ của giáo dân ngời Mông ) Đến thập kỷ 60… -70, khi xây dựng thủy điện Thác Bà, phần lớn giáo dân huyện Yên Bình chuyển sang huyện Trấn Yên

Ngời dân Yên Bái có tín ngỡng thờ cúng tổ tiên là chủ yếu, đây là một phong tục truyền thống, hoặc theo các hình thức tôn giáo nguyên thủy

Nói chung, ở Yên Bái có thiên nhiên đa dạng, nhiều danh lam thắng cảnh

và di tích lịch sử văn hóa đợc xếp hạng đã tạo điều kiện cho ngời dân Yên Bái phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp, đợc lu truyền qua các thời kỳ Ngời dân Yên Bái đã để lại trong đời sống tinh thần một vốn văn hóa cao đẹp

1.5 Truyền thống lịch sử

Trải qua mấy nghìn năm dựng nớc và giữ nớc, cùng những truyền thống quý báu của dân tộc, nhân dân Yên Bái xây dựng nên truyền thống vẻ vang,

Trang 25

oanh liệt Truyền thống nổi bật nhất là tinh thần yêu nớc quật cờng, bất khất,

m-u trí và sáng tạo, kiên qm-uyết đấm-u tranh với mọi kẻ thù xâm lợc từ đời này qm-ua đời khác

Nằm ngay cửa ngõ yết hầu của miền Tây Bắc tổ quốc, Yên Bái đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đã viết lên nhiều trang sử hào hùng trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm Bọn xâm lợc phơng Bắc trớc đây nhiều lần tiến theo con đờng độc đạo dọc sông Chảy hùng hổ tiến vào nớc ta qua đất Yên Bái Nhng đã bao lần quân xâm lợc đã phải phơi xác trên đất Yên Bái anh hùng Nhiều tấm gơng hy sinh của con em dân tộc Yên Bái mãi còn lu truyền trong nhân dân

Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc đã có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra trên đất Yên Bái Tuy cuối cùng đều thất bại nhng các cuộc nổi dậy ấy đã nói lên tinh thần thà chết chứ không chịu làm nô lệ

Tháng1/1258, quân Mông Cổ đã bị quân nhà Trần đánh bật ra khỏi kinh thành Thăng Long, chúng phải chạy theo dòng sông Hồng về phía Tây Bắc nh-

ng vừa chạy tới Quy Hoá bị nhân dân Văn Chấn, Trấn Yên dới sự chỉ huy của ngời anh hùng dân tộc thiểu số Hà Bổng chặn đánh Quân địch bị tổn thất nặng, chúng hoảng sợ chạy thoát thân về Vân Nam, không giám cớp bóc khi vào xâm lợc Nhân dân ta gọi mỉa mai chúng là “giặc phật” Năm 1285, nhân dân châu Thu Vật (Yên Bình) và các vùng xung quanh đã ủng hộ, giúp đỡ đạo quân của t-ớng Trần Nhật Duật chặn đánh quân Mông - Nguyên quyết liệt, làm chậm bớc tiến của chúng về kinh thành Thăng Long Trong thời kỳ dân tộc ta chống quân xâm lợc nhà Minh, Yên Bái cũng là vùng hoạt động của nghĩa binh "áo Đỏ”

Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, nhân dân các dân tộc của tỉnh Yên Bái đã góp phần không nhỏ bảo vệ triều Lê, chống họ Mạc cát cứ và chống lại cớp bóc của giặc giã…

Trong hai cuộc kháng chiến trờng kỳ lịch sử của dõn tộc chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân tỉnh Yên Bái đó đóng góp công sức to lớn vào sự nghiệp

Trang 26

chung của đất nớc, giải phóng dân tộc thống nhất nớc nhà và bảo vệ tổ quốc và tiếp bớc trên con đờng xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Có thể nói, cốt lõi trong truyền thống lịch sử - văn hoá của dân tộc Yên Bái thể hiện truyền thống yêu nớc nồng nàn, ý thức tự lực, tự cờng, thống nhất trong tổ quốc Việt Nam Truyền thống này trớc hết và xuyên suốt là t tởng yêu nớc Chính t tởng này là cội nguồn sức mạnh động lực vợt qua khó khăn, thách thức trong quá trình dựng nớc và giữ nớc Truyền thống nhân văn đoàn kết sâu sắc bao giờ cũng phải hài hoà quan hệ giữa cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc Trong đó, lợi ích tổ quốc là tối cao, khi có giặc ngoại xâm sẵn sàng xả thân vì nớc Trong cuộc sống, ứng xử bao giờ cũng rất nhân ái, khoan dung nghĩa tình và đạo lý Các dân tộc sống xen kẽ, tâm lý, phong tục tập quán, biểu hiện tính dân tộc độc đáo khác nhau nhng rất đoàn kết không có xung đột dân tộc, chiến tranh dân tộc Truyền thống đó còn thể hiện ở chỗ nhân dân các dân tộc trân trọng ghi nhớ công lao những ngời có công trong quá trình dựng nớc n-

ớc, giữ quê hơng, có thể đó là ngời có danh hoặc vô danh đợc lu truyền lại Những địa điểm như Đền Đại Cại (Lục Yên), đền Đại Đồng (Yên Bình), đền

Đông Cuông (Văn Yên), chùa Bách Lẫm, di tích khu mộ các liệt sĩ quốc dân

Đảng khởi nghĩa 1930 (thị xã Yên Bái) đều mang ý nghĩa tốt đẹp Chúng ta…cần giữ gìn bảo tồn, tôn tạo các di tích này, phục vụ công tác truyền thông tốt

đẹp, xây dựng đời sống văn hoá mới trên quê hơng Yên Bái

*Tiểu kết

Yên Bái có vị trí trung chuyển giữa miền núi phía Bắc với đồng bằng Bắc

Bộ, vùng giao thoa giữa Tây Bắc và Đông Bắc Đây là một tỉnh miền núi có truyền thống lịch sử văn hoá giàu đẹp Đặc biệt có điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng ở đây có hai dòng sông lớn (sụng Hồng và sụng Chảy) chạy dọc theo địa bàn của tỉnh tạo nên những trục giao thông trọng yếu rất thuận tiện cho

Trang 27

cả về mặt sinh tồn, sinh thái và giao lu Khí hậu nhiệt đới ẩm tạo ra khả năng phát triển quần thể động thực vật đa dạng và phong phú Vì vậy, chính từ những yếu tố đó, Yên Bái là một địa bàn có điều kiện thuận lợi cho sự sinh sống của con ngời Ngay từ thời tiền sử đó sản sinh ra những vấn đề văn hoá khảo cổ tiêu biểu - văn hoá Sơn Vi là một ví dụ.

Trên cơ sở xem xét đặc điểm đặc trng của điều kiện sinh thái tự nhiên cũng nh truyền thống văn hoá, lịch sử để phác hoạ bức tranh cuộc sống của con ngời nơi đây từ thời xa xa

CHƯƠNG 2

văn hoá sơn vi ở Yên Bái

2.1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN HểA SƠN VI

2.1.1 Lịch sử phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sơn Vi

Vào cuối thời đại đỏ cũ, trờn một vựng rộng lớn của nước ta, cú nhiều

bộ lạc săn bắt, hỏi lượm sinh sống Họ cư trỳ trong cỏc hang động, mỏi đỏ,

Trang 28

ngoài trời, ven bờ các con sông, suối trên một địa bàn khá rộng từ Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Giang đến Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị…

Đã có tới 160 địa điểm thuộc văn hóa Sơn Vi được phát hiện Các di tích của các bộ lạc thời kỳ này được các nhà khảo cổ học gọi bằng một thuật ngữ là

v

ăn hóa Sơn Vi,, [15, 15].

Sơn Vi là tên một xã thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ, nơi đầu tiên phát hiện ra di tích văn hóa Sơn Vi Văn hóa Sơn Vi cách ngày nay khoảng từ 30.000 đến 11.000 năm

Toàn bộ tập hợp công cụ Sơn Vi tìm thấy ở nhiều địa điểm khác nhau đều mang những đặc trưng chung cũng giống nhau về nguyên liệu kỹ thuật chế tác và loại hình hiện vật Đó là một nền “văn hóa cuội”.

Văn hóa Sơn Vi được phát hiện vào năm 1968 ở xã Sơn Vi (Lâm Thao

- Phú Thọ ) của cán bộ giảng dạy và sinh viên khoa Sử, trường Đại học tổng hợp Hà Nội (nay là trường §ại học Khoa häc xã hội và nhân văn) và Phòng văn hóa huyện Lâm Thao (nay là huyện Phong Châu - Phú Thọ)

Quá trình phát hiện và nghiên cứu văn hoá Sơn Vi, có thể được phân chia thành hai giai đoạn:

- Giai đoạn 1968 – 1975: Xác lập sự tồn tại của văn hóa Sơn Vi

Tháng 3/1968, cuộc điền dã của cán bộ giảng dạy và sinh viên khoa Lịch Sử trường §ại học Khoa học xã hội và nhân văn, dưới sự chỉ đạo của giáo sư Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn, đã phát hiện một số địa điểm có công cụ ghè đẽo trên mặt đồi gò xã Sơn Vi huyện Lâm Thao - Phú Thọ Việc tìm kiếm và thăm dò được mở rộng ra các khu vực xung quanh Đến cuối năm

đó đã phát hiện được 61 địa điểm với 1.165 di vật đá Phát hiện này có ý nghĩa mở đầu cho giai đoạn nghiên cứu hậu kỳ thời đá cũ Việt Nam nói chung

và văn hóa Sơn Vi nói riêng [19, 11-12]

Một trong những đóng góp tích cực kịp thời cho việc tìm hiểu văn hóa Sơn Vi là cuộc khai quật di chỉ gò Rừng Sậu (Vườn Sậu) xã Sơn Vi (Phú Thọ) của cán bộ Viện Bảo tàng LSVN (1969), dưới sự chỉ đạo của Phạm Văn

Trang 29

Kỉnh và Lưu Trần Tiờu Trong hố khai quật 100m2 ở Vườn Sậu đó thu được

43 cộng cụ đỏ, 1 hạch và 1.256 mảnh tước cuội Đõy là cuộc khai quật đầu tiờn và là duy nhật về văn húa Sơn Vi đến năm 1999 trờn đất Phỳ Thọ

Tiếp đú, vào những năm 1972, 1975, Viện khảo cổ và Sở văn húa thụng tin Phỳ Thọ mở những cuộc điều tra điền dó nhằm thống kờ cỏc di tớch

đó biết, phỏt hiện mới của di tớch văn húa Sơn Vi ở gũ đồi trung du Cỏc cuộc điền dó ở tỉnh Phỳ Thọ đó được triển khai trờn địa bàn rộng Đồng thời, những hoạt động nghiờn cứu đó được mở rộng ra những địa bàn ngoài: Hà Tõy, Bắc Giang, Sơn La, Lai Chõu…

Trong vũng 8 năm của giai đoạn đầu tiờn này, trờn lónh thổ Việt Nam

đó phỏt hiện gần 100 di tớch văn húa Sơn Vi Những di tớch này phõn bố trờn nhiều địa hỡnh khỏc nhau: từ trung du, ven rỡa đồng bằng Bắc Bộ đến cỏc thềm sụng, hang động , mỏi đỏ miền nỳi Tõy Bắc Ngoài phần lớn các di tích văn hóa Sơn Vi không có tầng văn hóa, trong giai đoạn này đã phát hiện và khai quật một số di tích ngoài trời và hang động, có địa tầng và vết tích c trú của con ngời nh Hang Pông, Cụm Đồn, Bản Phố (Sơn La) Một số ít trong các di tích…này đợc xác định niên đại tuyệt đối Những t liệu này vô cùng quan trọng trong việc khẳng định sự tồn tại thực sự của văn hóa Sơn Vi Tuy vậy, các công trình chuyên khảo, những ấn phẩm viết về văn húa Sơn Vi trong giai đoạn này khụng nhiều Phần lớn những công bố là những bản tin, thụng bỏo ngắn, một

số bỏo cỏo khai quật hoặc một vài luận văn tốt nghiệp của sinh viờn đại học Tuy nhiờn, giai đoạn này về số lượng cỏc di tớch được phỏt hiện hơn là quan tõm đến việc nghiờn cứu kỹ di tớch

- Giai đoạn 1796 đến nay: Phỏc thảo nội dung văn húa

So với giai đoạn trước, ở giai đoạn này số lượng di chỉ văn húa Sơn

Vi phỏt hiện mới khụng nhiều nhưng di tớch được khai quật, chất lượng khai quật nhất là di tớch nhiều tầng cũng tăng lờn rừ rệt

Trờn đất Lào Cai và Yờn Bỏi, trong những năm 1976 – 1977 đó phỏt hiện được nhiều di tớch Năm 1991, cỏn bộ Viện KCH đó thẩm định lại cỏc di

Trang 30

tích Sơn Vi trên đất Yên Bái, tiến hành phân loại, bảo vệ và nghiên cứu toàn

bộ di vật thu thập được từ trước đến nay về văn hóa Sơn Vi ở Yên Bái

Ở Sơn La, từ cuối 1996 đầu 1997, cán bộ Viện KCH và Bảo tàng Sơn

La đã phát hiện 9 địa điểm văn hóa Sơn Vi Gần đây nhất, trên đất huyện Sông Mã cán bộ Viện KCH đã phát hiện mới hai địa điểm đá cũ ngoài trời:

Nà Lốc và Nà Phé Cho đến nay đã thu thập được 500 công cụ cuội từ c¸c di tích kể trên Qua đó cho thấy, diện phân bố của văn hóa Sơn Vi không chỉ ở dọc Sông Hồng mà còn khá dày đặc ở thượng nguồn sông Đà và lẻ tẻ ở sông

Mã trên hai tỉnh Sơn La và Lai Châu

Ở các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa trong giai đoạn này có nhiều phát hiện quan trọng Năm 1976, Viện KCH tiến hành điều tra một số di tích văn hóa Sơn Vi ở khu Hòa Bình và Thanh Hóa Từ 1986 trở lại đây liên tiếp có những phát hiện các di tích đá cũ quan trọng Trong số đó phải kể đến hai địa điểm mái đá Nước, mái đá Điều ở xã Hà Trung huyện Bá Thước (Thanh Ho¸) [17] Trong giai đoạn này có 3 phát hiện kỹ nghệ cuội thời đại đá cũ quan trọng khác, có liên quan nhất định đến văn hóa Sơn Vi, đó là di tích §åi Thông (Hà Giang) và cụm di tích Cùa (Huế) Ở Nghệ An, phát hiện di tích văn hoá Sơn Vi ở Làng Vạc Những di vật thuộc văn hoá Sơn Vi ở đây đã được khẳng định qua tài liệu địa tầng và đặc trưng hình thái kỹ thuật học công cụ

Bên cạnh những phát hiện văn hoá Sơn Vi, trong giai đoạn này còn có một số phát hiện quan trọng khác, có quan hệ nhất định với văn hoá Sơn Vi

Đó là nhóm di tích kỹ nghệ mảnh tước ở mái đá Ngườm (Thái Nguyên) được phát hiện khai quật năm 1982 [1]

Trong giai đoạn 1976 - 1989, số lượng các di tích khảo cổ học thuộc văn hoá Sơn Vi phát hiện gần 100 di tích, trong số đó có nhiều tích được thám sát hay khai quật, các di tích nhiều tầng văn hoá Nhờ vào những phát hiện

Trang 31

mới, kết hợp với những tư liệu của giai đoạn đầu tiờn đó cho phộp ra đời nhiều tỏc phẩm, bài nghiờn cứu, bài bỏo chuyờn sõu về văn hoỏ Sơn Vi, một

số vấn đề về nội dung văn hoỏ Sơn Vi được tiếp cận dưới nhiều gúc độ khỏc nhau Cựng với đú, từ những năm đầu của thập kỷ 80 trở lại đõy đó xuất hiện những phỏt hiện mới, đỏng chỳ ý là: mỏi đỏ Điều (Thanh Hoỏ), Làng Vạc (Nghệ An), Đồi Thụng (Hà Giang) và sưu tập đồ đỏ ở Yờn Bỏi (Nguyễn Văn Quang 1989) Ở Bắc Giang, cú 14 địa điểm hay khu vực tỡm thấy cụng cụ thuộc văn hoỏ Sơn Vi, trong cỏc cuộc điều tra khảo sỏt từ 1975 - 1990 bao gồm trờn 200 di vật đỏ Cỏc cụng cụ phần lớn phõn bố trờn mặt gũ đồi cú độ cao 15 - 20m so với sụng Lục Nam và nằm ở thềm cao nhất ở hữu ngạn sụng Hồng

Gần đõy, ngày 21/8/1998, tại thành phố Việt Trỡ, Viện KCH, Sở văn hoỏ thụng tin và thể thao Phỳ Thọ tổ chức Hội thảo khoa học nhõn kỷ niệm 30 năm phỏt hiện và nghiờn cứu văn hoỏ Sơn Vi Trong hội thảo, đó cú 19 tham luận khoa học xung quanh cỏc vấn đề văn hoỏ Sơn Vi Cỏc tham luận này đó được cụng bố trong tập kỷ yếu hội thảo dưới nhan đề "Tỡm hiểu văn húa Sơn Vi,, do Sở VH - TT Phỳ Thọ xuất bản năm 1998 (Viện KCH và VHTT Phỳ

Thọ)

Để nghiờn cứu một cỏch toàn diện về văn hoỏ Sơn Vi đũi hỏi trước hết

là tập hợp một cỏch cú hệ thống toàn bộ tư liệu về văn hoỏ Sơn Vi trong vũng hơn 30 năm qua Trờn cơ sở xem xột những ý kiến khỏc nhau và đưa ra nhiều kiến giải mới về nội dung văn hoỏ Sơn Vi

2.1.2 Một số đặc điểm cơ bản của văn hoá Sơn Vi

Từ các kết quả nghiên cứu cụ thể, các nhà khảo cổ học đã đa ra một số

đặc diểm cơ bản của văn hóa Sơn Vi:

Trang 32

Các di tích khảo cổ thuộc văn hoá Sơn Vi bao gồm hai loại hình chủ yếu,

đó là loại hình di tích ngoài trời (di chỉ) và loại hình di tích hang động, mái đá [25]

- Loại hình di tích ngoài trời (di chỉ): chiếm tuyệt đại đa số (chiếm 94% tổng số di tích văn hoá Sơn Vi) Các di tích văn hoá Sơn Vi ngoài trời hiện thấy phân bố trên hai loại địa hình: thềm sông và đồi gò, có nguồn gốc thêm phù sa

- Loại hình hang động và mái đá có số lợng ít (chiếm 6,08% tổng số di tích văn hoá Sơn Vi), phân bố rải rác không co cụm thành các di tích hang

động Phần lớn tập trung ở vùng núi đá vôi các tỉnh Tây Bắc (Sơn La, Lai Châu)

và Bắc Trung Bộ Việt Nam (núi Một ở Cẩm Thuỷ - Thanh Hoá)

Nh vậy, trong một chừng mực nào đó có thể xem nhóm các c dân phân

bố tập trung thành khu vực lớn ngoài trời là chủ thể của nền văn hóa Sơn Vi Mặc dù về đặc điểm phân bố có những nét khác biệt ít nhiều giữa các loại hình, song về tổ hợp công cụ đá có nhiều đặc trng thống nhất và ổn định cao

Cỏc bộ lạc Sơn Vi dựng đỏ cuội là chủ yếu để chế tỏc cụng cụ Họ thường ghố đẽo ở rỡa cạnh hũn cuội để tạo nờn những cụng cụ chặt, nạo Cụng cụ đặc trưng cho văn húa Sơn Vi là những cụng cụ được ghố đẽo ở rỡa cẩn thận, cú nhiều loại hỡnh ổn định, thể hiện bước tiến rừ rệt trong kỹ thuật

Trang 33

chế tỏc đỏ, tuy nhiờn chưa cú kỹ thuật mài Cụng cụ đỏ cuội văn húa Sơn Vi

cú nhiều loại hỡnh phong phỳ, đặc trưng [15, 16]

Nguồn sống chớnh của cư dõn Sơn Vi là hỏi lượm, săn bắt cỏc loài động vật và thực vật Sự xuất hiện của Người tinh khụn Sơn Vi đỏnh dấu bước chuyển biến trong tổ chức xó hội, cỏc thị tộc, bộ lạc ra đời

Văn hoá Sơn Vi thuộc thời đại đá cũ (có niên đại 30.000 năm đến 11.000 năm) [25] Gần đây, việc thám sát và khai quật nhiều hang động, di chỉ chứa công cụ kiểu Sơn Vi đợc tiến hành với quy mô lớn và thu đợc nhiều kết quả

đáng kể (Bảng 2.1)

Trang 34

Bảng 2.1 Các địa điểm văn hoá Sơn Vi ở Việt Nam

Trang 35

2.2 QUÁ TRÌNH PHÁT HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU VĂN HÓA SƠN VI

Ở YÊN BÁI

2.2.1 Quá trình phát hiện

Cho đến trước năm 1960, chưa có phát hiện khảo cổ học nào ở Yên Bái được công bố Trong khi đó, ở các tỉnh lân cận như: Lạng Sơn, Tuyên Quang, Sơn La, Quảng Ninh, Hoà Bình ngay từ thời Pháp đã có những phát hiện mới về KCH quan trọng Năm 1954, phòng Bảo tàng thuộc Ty văn hoá Yên Bái ra đời, các cán bộ của phòng đã tổ chức sưu tập hiện vật, trong đó có các di vật của thời tiền sử và sơ sử Năm 1960, phát hiện thạp đồng và bộ sưu tập đồ đồng phong phú ở Đồng Gianh xã Đào Thịnh, huyện Trấn Yên, đây là mốc mở đầu cho hoạt động khảo cổ học Yên Bái Do giá trị đặc biệt của di tích này, các nhà nghiên cứu ở trung ương bắt đầu để ý đến Yên Bái, một số đợt khảo sát khoa học dọc sông Hồng, sông Chảy đã được tiến hành để nhằm phát hiện thêm các dấu tích khảo cổ học Đặc biệt, sau phát hiện di chỉ Hang Hùm (Lục Yên), đã hé mở khả năng tìm kiếm dấu tích của người tiền sử ở Yên Bái Tiếp sau, có những phát hiện mới đáng kể về KCH ở Yên Bái đóng vai trò quan trọng là các di tích, di chỉ thuộc văn hoá Sơn Vi

Từ năm 1979, cán bộ chuyên môn ở Viện KCH và cán bộ nghiệp vụ ở Bảo tàng Yên Bái đã triển khai tìm kiếm, khảo sát và đã có một số phát hiện công cụ thời đại đá cũ, thuộc văn hoá Sơn Vi

Cuối 1979, Nguyễn Văn Quang đã phát hiện ở đồi Bách Lẫm (thị xã Yên Bái) 15 công cụ ghè đẽo mở đầu cho việc phát hiện, nghiên cứu văn hoá Sơn Vi Từ đó trở đi, hàng năm cán bộ Bảo tàng tỉnh Yên Bái và sau đó là cùng với cán bộ KCH trung ương liên tiếp đã có những phát hiện mới, bổ sung vào danh sách văn hoá Sơn Vi những di tích, di vật mới

Năm 1981, phát hiện di tích văn hóa Sơn Vi ở xã Âu Lâu (Trấn Yên)

Trang 36

Từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1982, cán bộ KCH thuộc Ty văn hoá và thông tin Hoàng Liên Sơn đã phát hiện thêm một số địa điểm KCH thuộc văn hoá Sơn Vi ở xã Giới Phiên (Trấn Yên), Phú Thịnh (Lương Thịnh III, xã Tân Thịnh), phường Hồng Hà (thị xã Yên Bái), phường Yên Thịnh (thị xã Yên Bái), Bách Lẫm (Minh Bảo), Tuy Lộc (Trấn Yên), Đại Đồng (Yên Bình) [21].

Tháng 4/1983, trong một chuyến đi công tác Nguyễn Văn Quang (Sở văn hoá thông tin Hoàng Liên Sơn) đã phát hiện tại nhà máy thuỷ điện Thác

Bà (Yên Bình) hai công cụ cuội kiểu Sơn Vi nằm ở bên bờ sông Chảy được chế tác bằng phương pháp ghè đẽo trực tiếp [8]

Năm 1985, phát hiện thêm di tích thuộc văn hoá Sơn Vi ở huyện Trấn Yên Năm 1986, thực hiện chương trình nghiên cứu dấu vết người nguyên thuỷ trên đất huyện Trấn Yên để xây dựng phòng trưng bày KCH - “Những dấu vết người xưa,, của nhà bảo tàng huyện (12/1985), Đỗ Đức Thịnh và

Nguyễn Văn Quang đã tiến hành khảo sát tại các điểm: Đào Thịnh, Kiªn Thành, Giới Phiên, Văn Phú và Văn Tiến Kết quả khảo sát đã sưu tập được một số công cụ cuội và mảnh tước văn hoá Sơn Vi ở Bách LÉm [22]

Từ đầu thập kỉ 90 đến nay, đã có một số đoàn cán bộ Viện KCH triển khai điền dã ở Yên Bái, tìm kiếm thêm những dấu tích mới của văn hoá Sơn

Vi

Năm 1990, trong khi san gạt làm đường xây dựng cầu Yên Bái, máy gạt đã làm xuất lộ một di tích khảo cổ ở bờ phía Tây sông Hồng (thuộc xã Hợp Minh huyện Trấn Yên) Đó là một hố sâu, có xếp nhiều hòn cuội lớn, một số cuội ghè đẽo theo kiểu Sơn Vi [9]

Năm 1998, Bảo tàng tỉnh Yên Bái đã phát hiện di chỉ bến Mậu A (Văn Yên)

Trang 37

Năm 2000, cán bộ Bảo tàng tỉnh Yên Bái đã phối hợp với Viện KCH đào thám sát di chỉ bến Mậu A và khảo sát địa điểm Tuần Quán I (Trấn Yên), thu được số lượng lớn di vật văn hóa Sơn Vi.

Đến năm 2002, Yên Bái tiếp tục phát hiện thêm các địa điểm và di vật

về văn hoá Sơn Vi, chủ yếu là thuộc lưu vực sông Hồng

Ngoài ra, một số địa điểm được khảo sát lại, một số địa điểm phát hiện mới đã được công bố, víi b¸o c¸o chi tiÕt nh ë ®ồi Bách Lẫm (1980)

Từ năm 1979 đến năm 2003, trên đất Yên Bái đã phát hiện 67 di tích văn hoá Sơn Vi, thu thập được hơn 9 nghìn di vật đá Trong đó, đáng chú ý có các di tích quan trọng như: Bách Lẫm, Lượng Thịnh III, bến Mậu A và Tuần Quán I

Như vậy, do những cố gắng nỗ lực của cán bộ địa phương và sự phối hợp với cán bộ KCH ở trung ương khảo cổ học tiền và sơ sử Yên Bái đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Đặc biệt, đã phát hiện những di tích, di vật đặc trưng cho thời kỳ văn hoá Sơn Vi, góp phần thêm tư liệu làm sáng tỏ bộ mặt lịch sử giai đoạn này trên vùng đất Yên Bái

2.2.2 Quá trình nghiên cứu

Mặc dù các di vật khảo cổ văn hoá Sơn Vi thu thập được chủ yếu thông qua những phát hiện lẻ, song với những nét đặc sắc của nó đã cuốn hút

sự quan tâm ngày càng nhiều các nhà nghiên cứu từ trung ương đến địa phương (được biết đến từ văn hoá Sơn Vi Phú Thọ, bắt đầu từ thập kỷ 80) Những phát hiện và công bố về văn hoá Sơn Vi ë Yên Bái thời kỳ đầu chủ yếu là do cán bộ chuyên môn của địa phương thực hiện những công bố này còn sơ lược, mang tính thông tin và được công bố chủ yếu trên các kỷ yếu

“Những phát hiện mới về KCH,, hàng năm Từ thập kỷ 90 trở lại đây, bắt đầu

có sự phối hợp giữa cán bộ địa phương với cán bộ chuyên môn của Viện KCH trong việc khảo sát và nghiên cứu văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái Một số

Trang 38

nhà nghiên cứu đã trực tiếp khảo sát, nghiên cứu và có một số công bố tổng quát hơn.

Năm 1980, Trần Mãnh Dũng (Ty văn hoá và thông tin Vĩnh Phú) tiến hành phân loại các công cụ đá Sơn Vi tìm thấy ở đồi Bách Lẫm thành 6 loại:

- Công cụ rìa lưỡi dọc cả viên cuội

- Công cụ rìa lưỡi ngang một đầu viên cuội

- Công cụ một phÇn tư viên cuội

- Công cụ mũi nhọn

- Công cụ chặt đập thô không định hình

- Công cụ rìa lưỡi xung quanh

cụ rìa lưỡi xung quanh với kỹ thuật ghè và đập bổ giống như công cụ rìu

Trang 39

ngắn, phụ loại đốc lệch (trong văn hoá Hoà Bình) Từ đó, làm rõ hơn nét đặc trưng kỹ thuật loại hình công cụ Sơn Vi.

Năm 1982, khi nghiên cứu về hai công cụ cuội tìm thấy ở Thác Bà huyện Yên Bình, Nguyễn Văn Quang đã có những nghiên cứu cụ thể: công cụ thứ nhất là viên cuội thạch anh, hơi dài, r×a tác dụng được tạo ra ở đầu to của viên cuội (công cụ dài 10cm, rỗng ở lưỡi 7cm, dày 2,5) Vì đây là cuội thạch anh nên không tạo ra được vết ghè đẽo lớn, diện ghè không bằng phẳng, má lởm chởm, rìa tác dụng không được sắc Được chế tác bằng phương pháp ghè đẽo trực tiếp [8] Đây là loại công cụ chặt một đầu (công cụ rìa lưỡi ngang) của văn hoá Sơn Vi Công cụ thứ 2 là một viên cuội dẹt, mỏng, hình hơi tròn được ghè đẽo xung quanh, tạo ra cộng cụ hình hạnh nhân (mang đặc điểm Hoà Bình), được làm bằng loại cuội quartzite, nét ghè không thô lắm Việc tìm thấy và nghiên cứu về hai công cụ mang đặc điểm khác nhau ở khu vực này là một điều lý thú, cho phép chúng ta nghĩ tới mối quan hệ giữa hai nền văn hoá Sơn Vi và Hoà Bình

Năm 1986, Nguyễn Đức Giảng (trường Đại học sư phạm Việt Bắc) đã

có những nhận xét bước đầu qua việc nghiên cứu những công cụ cuội Sơn Vi

ở Yên Bái Khi nghiên cứu tập hợp ngẫu nhiên các công cụ thuộc văn hoá Sơn

Vi (tại các địa điểm: Giới Phiên, Phú Thịnh, Hồng Hà, Yên Thịnh, Minh bảo, Tuy Lộc, Đại Đồng), tiến hành phân chia loại hình, số liệu thống kê cho thấy:

- Nhóm công cụ có rìa lưỡi dọc: 48,9%

- Nhóm công cụ 1/4 viên cuội: 16,4%

- Nhóm công cụ rìa lưỡi một đầu: 22,4%

- Nhóm công cụ rìa lưỡi hai đầu : 5,6%

- Nhóm công cụ chặp đập thô không định hình: 4,62%

- Nhóm công cụ rìa lưỡi núm cuội: 2,7% [3]

Trang 40

Qua đó, có thể nhận thấy những công cụ Sơn Vi ở Yên Bái tập trung loại hình cơ bản: công cụ có rìa lưỡi xung quanh, công cụ 1/4 viên cuội, công

cụ rìa lưỡi một đầu Ba loại hình cơ bản đã cho ý niệm về việc phân hoá chức năng: công cụ có rìa lưỡi dài, công cụ 1/4 viên cuội dùng để chặt, cắt, nạo; công cụ có rìa lưỡi một đầu dùng để đào bới

Nghiên cứu mảnh tước từ một số sưu tập công cụ văn hoá Sơn Vi ở

Yên Bái, NguyÔn §øc Gi¶ng nhận ra sự tồn tại loại hình kỹ thuật "Lát cuội",

bổ sung vào nhận thức về kỹ thuật chế tác trong văn hoá Sơn Vi ở Việt Nam nói chung và văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái nói riêng

Trong một số công bố trên tạp chí Khảo cổ học năm 1988, dựa vào loại hình công cụ ghè đẽo xung quanh trong một số sưu tập văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái và Phú Thọ, Nguyễn Đức Giảng cho tới nhận xét rằng công cụ đá ở đây có xu hướng của kỹ thuật xu-ma-tra [3]

Năm 1991, Nguyễn Khắc Sử và Trình Năng Chung nghiên cứu tổng hợp các sưu tập Sơn Vi ở Yên Bái và cho rằng văn hãa Sơn Vi ở Yên Bái có niên đại tương đương và cùng nhóm với các di tích Sơn Vi ở Phú Thọ, muộn hơn so với các di tích Sơn Vi ở Lào Cai

TS.Nguyễn Văn Quang từ năm 1979 đến nay đã có nhiều công bố về phát hiện văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái Năm 1988, nhân dịp kỷ niệm 30 năm phát hiện và nghiên cứu văn hoá Sơn Vi ở Phú Thọ, ông đã có bài luận nhan

đề: "Di tích văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái ", bài viết đã hệ thống hoá các tư liệu về

văn hóa Sơn Vi ở Yên Bái, tiến hành chỉnh lý và phân loại hiện vật, đưa ra một số nhận xét về đặc trưng phân bố di tích và di vật văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái, mèi quan hệ giữa các di tích Sơn Vi ở Yên Bái với Phú Thọ và thống kê bản đồ của văn hoá này trên đất Yên Bái

Những tư liệu của Nguyễn Văn Quang đã được sử dụng trong các công trình chuyên khảo về văn hoá Sơn Vi của các tác giả Hà Văn Tấn,

Ngày đăng: 19/12/2013, 15:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Trịnh Cấn (1991), Những công cụ kiểu văn hoá Thần Sa, NPHMVKCH 1990, H à Nội, tr 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những công cụ kiểu văn hoá Thần Sa, NPHMVKCH 1990
Tác giả: Trịnh Cấn
Năm: 1991
[2]. Trần Mạnh Dũng (1981), Phát hiện di tích văn hoá Sơn Vi ở thị xã Yên Bái, NPHMVKCH 1980, H N à ội, tr 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện di tích văn hoá Sơn Vi ở thị xã Yên Bái
Tác giả: Trần Mạnh Dũng
Năm: 1981
[3]. Nguyễn Đức Giảng (1987), Vài nhận xét bớc đầu về việc nghiên cứu công cụ cuội ở Hoàng Liên Sơn, NPHMVKCH 1986, Nxb KHXH, Hà Nội, tr 68-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nhận xét bớc đầu về việc nghiên cứu công cụ cuội ở Hoàng Liên Sơn
Tác giả: Nguyễn Đức Giảng
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1987
[4]. Nguyễn Đức Giảng (1980), Những công cụ lát cuội trong văn hoá Sơn Vi ở Hoàng Liên Sơn, NPHMVKCH 1987, Nxb KHXH, Hà Nội, tr 25 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những công cụ lát cuội trong văn hoá Sơn Vi ở Hoàng Liên Sơn
Tác giả: Nguyễn Đức Giảng
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1980
[5]. Nguyễn Đình Lu (su tầm), Tập bài giảng lịch sử địa phơng Yên Bái, SGD&ĐT tỉnh Yên Bái xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng lịch sử địa phơng Yên Bái
[6]. Nguyễn Văn Quang (1983), Địa điểm KCH Đại Đồng (Hoàng Liên Sơn), NPHMVKCH năm 1982, Nxb KHXH, Hà Nội, tr 25 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa điểm KCH Đại Đồng (Hoàng Liên Sơn)
Tác giả: Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1983
[7]. Nguyễn Văn Quang (1983), Địa điểm KCH Tuy Lộc (Hoàng Liên Sơn), NPH MVKCH năm 1982, Nxb KHXH, Hà Nội, tr 28 - 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa điểm KCH Tuy Lộc (Hoàng Liên Sơn)
Tác giả: Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1983
[8]. Nguyễn Văn Quang (1984), Về hai công cụ cuội ở Thác Bà (Hoàng Liên Sơn), NPHMVKCH năm 1983, Nxb KHXH, Hà Nội, tr 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hai công cụ cuội ở Thác Bà (Hoàng Liên Sơn)
Tác giả: Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1984
[9]. Nguyễn Văn Quang (1991), Một số phát hiện KCH ở Hoàng Liên Sơn 1990, NPHMVKCH năm 1990, Nxb KHXH, Hà Nội, tr 12-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phát hiện KCH ở Hoàng Liên Sơn 1990
Tác giả: Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1991
[10]. Nguyễn Văn Quang (1997), T liệu mới về văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái , NPH MVKCH 1996, Nxb KHXH, Hà Nội, tr 102-104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T liệu mới về văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái
Tác giả: Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1997
[11]. Nguyễn Văn Quang (1999), Di tích văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái, Tìm hiểu văn hoá Sơn Vi, sở VHTT Phú Thọ xuất bản, tr 101-106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái
Tác giả: Nguyễn Văn Quang
Năm: 1999
[12]. Nguyễn Văn Quang (2002), Khảo cổ học tiền sử và sơ sử Yên Bái, Luận án tiến sĩ KCH, Viện KCH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo cổ học tiền sử và sơ sử Yên Bái
Tác giả: Nguyễn Văn Quang
Năm: 2002
[13]. Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thái Hoà (2002), Phát hiện mới về văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái, NPHMVKCH 2002, Hà Nội, tr 77 – 78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện mới về văn hoá "Sơn Vi ở Yên Bái
Tác giả: Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thái Hoà
Năm: 2002
[14]. Nguyễn Văn Quang (2004), Tiền sử và sơ sử Yên Bái, Nxb KHXH Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền sử và sơ sử Yên Bái
Tác giả: Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb KHXH Hà Nội 2004
Năm: 2004
[15]. Trơng Hữu Quýnh (Chủ biên), Đại cơng lịch sử Việt Nam (Tập 1), Nxb GD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng lịch sử Việt Nam (Tập 1)
Nhà XB: Nxb GD Hà Nội
[16]. Nguyễn Khắc Sử (1985), Thực hiện chế tác một số công cụ cuội văn hoá Sơn Vi, NPHMVKCH 1984, Hà Nội, tr 26 – 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện chế tác một số công cụ cuội văn hoá "Sơn Vi
Tác giả: Nguyễn Khắc Sử
Năm: 1985
[17]. Nguyễn Khắc Sử, Nguyễn Lân Cờng, Đặng Hu Lu (1987), Khaiquật di chỉ mái đá Điều (Thanh Hoá), NPHMVKCH 1986, Hà Nội, tr 70 - 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cờng, Đặng Hu Lu (1987), Khai"quật di chỉ mái đá Điều (Thanh Hoá)
Tác giả: Nguyễn Khắc Sử, Nguyễn Lân Cờng, Đặng Hu Lu
Năm: 1987
[18]. Nguyễn Khắc Sử, Thử phân chia loại hình địa phơng trong kỹ nghệ cuội trong thời đại đá Việt Nam, NPHMVKCH 1988, Hà Nội, tr 14 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử phân chia loại hình địa phơng trong kỹ nghệ cuội trong thời đại đá Việt Nam
[19]. Hà Văn Tấn, Văn hoá Sơn Vi, Nxb KHXH, Hà Nội 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Sơn Vi
Nhà XB: Nxb KHXH
[20]. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb GD, Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam
Nhà XB: Nxb GD

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Các địa điểm văn hoá Sơn Vi ở Việt Nam - Tìm hiểu văn hóa sơn vi ở yên bái
Bảng 2.1. Các địa điểm văn hoá Sơn Vi ở Việt Nam (Trang 34)
Bảng 2.2. Các địa điểm văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái - Tìm hiểu văn hóa sơn vi ở yên bái
Bảng 2.2. Các địa điểm văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái (Trang 42)
Bảng 3.2. Các loại hình công cụ văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái - Tìm hiểu văn hóa sơn vi ở yên bái
Bảng 3.2. Các loại hình công cụ văn hoá Sơn Vi ở Yên Bái (Trang 53)
Bảng 4.3: Phân loại đồ đá Lương Thịnh III (Yên Bái) - Tìm hiểu văn hóa sơn vi ở yên bái
Bảng 4.3 Phân loại đồ đá Lương Thịnh III (Yên Bái) (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w