1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu ở huyện yên thành, tỉnh nghệ an

132 2,2K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu ở huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Thị Kim Huệ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 7,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó có thể là một địadanh lịch sử - văn hóa để tưởng niệm các danh nhân, anh hùng đã đi vào tâmthức của nhân dân như một hoài niệm, hay gần gũi hơn đó là các ngôi đền, miếu,đình làng, chù

Trang 1

NGUYỄN THỊ KIM HUỆ

TÌM HIỂU MỘT SỐ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TIÊU BIỂU Ở HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của luận văn 5

6 Bố cục của đề tài 5

B NỘI DUNG 6

Chương 1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ -VĂN HÓA 6

1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên – xã hội và truyền thống lịch sử - văn hóa của huyện Yên Thành 6

1.1.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội 6

1.1.2 Truyền thống lịch sử - văn hóa 12

1.2 Quá trình hình thành và đặc điểm kiến trúc - điêu khắc các di tích 14

1.2.1 Các di tích đình làng 15

1.2.2 Các di tích đền 21

1.2.3 Các di tích chùa 25

1.2.4 Các di tích nhà thờ họ 27

1.2.5 Nhóm di tích và danh thắng khác (Lăng mộ, Giếng, Cây, lèn đá, đồn, khu lưu niệm, tam quan, miếu, hồ đập, cầu, bãi tập, nhà thánh, cồn…) 28

1.3 Thực trạng và công tác bảo tồn các di tích 29

Tiểu kết chương 1 32

Chương 2 DIỆN MẠO MỘT SỐ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TIÊU BIỂU 33

2.1 Đình Hậu 33

Trang 3

2.1.4 Các hiện vật trong di tích 35

2.1.5 Kết luận 36

2.2 Chùa Gám 38

2.2.1 Địa điểm 38

2.2.2 Nhân vật thờ tự 38

2.2.3 Đặc điểm kiến trúc điêu khắc 43

2.2.3 Các hiện vật trong di tích 50

2.2.4 Kết luận 51

2.3 Đền Đức Hoàng 54

2.3.1 Địa điểm 54

2.3.2 Nhân vật thờ tự 54

2.3.3 Đặc điểm kiến trúc điêu khắc 58

2.3.4 Các hiện vật trong di tích 65

2.3.5 Kết luận 66

2.4 Nhà thờ Hồ Tông Thốc 68

2.4.1 Địa điểm 68

2.4.2 Nhân vật thờ tự 69

2.4.3 Đặc điểm kiến trúc điêu khắc 73

2.4.4 Các hiện vật trong di tích 76

2.4.5 Kết luận 78

2.5 Phủ thờ Trần Đăng Dinh 79

2.5.1 Địa điểm 79

2.5.2 Nhân vật thờ tự 79

2.5.3 Đặc điểm kiến trúc điêu khắc 84

2.5.4 Các hiện vật trong di tích 87

Trang 4

2.6.2 Nhân vật thờ tự 89

2.6.3 Đặc điểm kiến trúc điêu khắc 90

2.6.4 Các hiện vật trong di tích 92

2.6.5 Kết luận 93

2.7 Khu lưu niệm Phan Đăng Lưu 94

2.7.1 Địa điểm 94

2.7.2 Khảo tả di tích 94

2.7.3 Kết luận 98

Tiểu kết chương 2 99

Chương 3 GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TRÙNG TU, TÔN TẠO CÁC DI TÍCH 100

3.1 Giá trị lịch sử, văn hóa 100

3.1.1 Giá trị lịch sử 100

3.1.2 Giá trị văn hóa 103

3.2 Các giá trị khác 104

3.2.1 Giá trị kiến trúc - điêu khắc 104

3.2.2 Giá trị giáo dục 107

3.2.3 Giá trị kinh tế - du lịch 107

3.3 Một số giải pháp nhằm bảo tồn, tôn tạo các di tích 108

Tiểu kết chương 3 112

C KẾT LUẬN 114

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

E PHỤ LỤC 119

Trang 5

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Các di tích lịch sử - văn hóa phản ánh đời sống văn hóa và truyềnthống lịch sử của một cộng đồng cư dân qua các thời đại Đó có thể là một địadanh lịch sử - văn hóa để tưởng niệm các danh nhân, anh hùng đã đi vào tâmthức của nhân dân như một hoài niệm, hay gần gũi hơn đó là các ngôi đền, miếu,đình làng, chùa, nhà thờ - là những nơi thiêng liêng trong cuộc sống tâm linh củangười dân, nơi họ gửi gắm niềm tin, đức tin, những giá trị giáo dục về cội nguồn

và cũng là nơi họ cầu mong những điều tốt đẹp cho cuộc sống Nghiên cứu các

di tích lịch sử - văn hóa cho chúng ta nhận diện rõ hơn truyền thống lịch sử vàvăn hóa của một vùng đất Di tích lịch sử - văn hóa không chỉ mang giá trị lịch

sử, văn hóa đơn thuần mà nó còn chứa đựng các giá trị về nghệ thuật kiến trúc,điêu khắc, giá trị giáo dục, giá trị du lịch, kinh tế,… Nghiên cứu về quá trình rađời của các di tích và giá trị văn hóa của nó trở thành một hướng nghiên cứu cógiá trị khoa học và thực tiễn của sử học

1.2 Huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An là mảnh đất có chiều dài về lịch sửcũng như văn hóa Cùng với quá trình hình thành và phát triển của dân tộc,mảnh đất này đã từng chứng kiến, ghi dấu những sự kiện lịch sử, văn hóanhững vết tích của chiến tranh, có thể những dấu tích đó không còn nguyên vẹnnhư xưa nhưng giá trị mà chúng để lại thì vẫn còn trường tồn mãi mãi Theo sốliệu thống kê cho thấy, Yên Thành có mật độ di sản khá dày, với hơn 400 ditích lịch sử và danh thắng nhưng hiện nay chỉ còn 192, trong đó đã có 34 di tíchđược xếp hạng các cấp (17 di tích được xếp hạng Quốc gia và 15 di tích đượcxếp hạng cấp tỉnh)

Trong những năm qua, nhất là trong những năm đổi mới và phát triển củađất nước, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến sự nghiệp bảo tồn và phát huygiá trị di tích - danh thắng Các chương trình mục tiêu chiến lược quốc gia,chương trình chống xuống cấp bằng nguồn vốn của Trung Ương, của Tỉnh,…đã

Trang 6

tác động trực tiếp đến việc bảo tồn di tích và đã thu được những kết quả quantrọng Tuy nhiên, trải qua thời gian, do nhiều nguyên nhân (thiên tai, khí hậu,thời tiết, chiến tranh,…) các di tích đã không còn nguyên vẹn như ban đầu, thậmchí có một số di tích đã trở thành phế tích (như Đình Thượng - Văn Thành, ĐềnCửa Thần - Vĩnh Thành ) Một số di tích do tu sửa, tôn tạo trái phép đã bị làmbiến dạng; công tác quản lý, bảo tồn, tu bổ các di tích danh thắng chưa đáp ứngyêu cầu, nhiệm vụ.

1.3 Trước thực trạng đó, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vàocông tác bảo tồn, tôn tạo và phát triển các di tích lịch sử văn hóa trên địa bànhuyện Yên Thành nói riêng, tỉnh Nghệ An nói chung, tôi đã lựa chọn thực hiện

đề tài “Tìm hiểu một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu ở huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An” làm luận văn tốt nghiệp Cao học thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử

Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tìm hiểu các di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Yên Thành không chỉ là

sự quan tâm của các sở, ban, ngành có liên quan mà từ lâu đã thu hút sự chú ýcủa các nhà nghiên cứu khoa học Vì thế, đã có nhiều công trình nghiên cứu,nhiều luận văn, bài báo, tạp chí đề cập đến các di tích lịch sử - văn hóa trênđịa bàn huyện Yên Thành, nhưng đó chỉ là một vài di tích tiêu biểu chứ chưa

có sự tìm hiểu một cách đầy đủ về diện mạo hệ thống di tích lịch sử - văn hóa

ở huyện Yên Thành

Trước hết là các công trình chuyên khảo về lịch sử - văn hóa Nghệ An,

đáng kể là các công trình: “Nghệ An di tích danh thắng” (Sở văn hóa thông tin Nghệ An), “Tìm trong di sản văn hóa xứ Nghệ” (Đào Tam Tỉnh), “Tục thờ thần

và thần tích Nghệ An” (Ninh Viết Giao) phản ánh về các di tích lịch sử - văn hóa

trên đất Nghệ An, trong đó có phản ánh các di tích trên đất huyện Yên Thành

Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu phản ánh đến vấn đề chúng tôinghiên cứu như:

Trang 7

- “Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh” của Nguyễn Đổng Chi chủ biên,

Nxb Nghệ An, 1995

- “Nghệ An kí” của Bùi Dương Lịch, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, 1993.

- “Hoan Châu kí” của Nguyễn Cảnh Thị, Nxb Thế giới, 2004.

- “Nghệ An lịch sử và văn hóa” của các tác giả Ninh Viết Giao, Trần Kim

Đôn, Nguyễn Thanh Tùng, Nxb Nghệ An, 2005

- “Địa danh lịch sử văn hóa Nghệ An” của Trần Viết Thụ chủ biên, Nxb

Nghệ An, 2006

Trên cơ sở kế thừa thành quả của các tác giả và các công trình nghiên cứu

đã có, kết hợp với một số tư liệu qua công tác điền dã, chúng tôi sắp xếp, lựachọn, hệ thống hóa kiến thức nhằm trình bày một cách đầy đủ và toàn diện hệthống di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Yên Thành (Nghệ An)

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu

Đối tượng của đề tài là một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu ởhuyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An Trong đó, chúng tôi xác định những tìmhiểu những di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu được xếp hạng trên các hạngmục di tích như đền, chùa, nhà thờ họ, đình làng

Từ đối tượng nghiên cứu trên, đề tài xác định các nhiệm vụ nghiên cứu

- Giá trị lịch sử, văn hóa của các di tích; ảnh hưởng của các di tích đốivới tình hình kinh tế - xã hội huyện Yên Thành hiện nay Công tác bảo tồn,trùng tu các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Yên Thành

Trang 8

-4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu có liênquan, bao gồm các loại tài liệu như:

- Thư tịch, bia ký

- Gia phả của các dòng họ và thần tích về các nhân vật được thờ tự

- Các công trình khảo cứu về các di tích lịch sử văn hóa ở huyện Yên Thành

- Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước từ Trungương đến địa phương về việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sửvăn hóa

- Tư liệu điền dã của tác giả

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận khi thực hiện đề tài là dựa trên lý luận của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

về công tác văn hóa

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Chúng tôi sử dụng 2 phương pháp chuyênngành cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, chúng tôi sửdụng các phương pháp liên ngành như điều tra xã hội học, điền dã dân tộc học,phỏng vấn báo chí để thực hiện đề tài Trong đó chúng tôi xác định phương phápthực tế điền dã là chủ đạo, kết hợp với tổng hợp, đối chiếu, so sánh để rút ra cái

Trang 9

chung và cái riêng của các di tích, nét đặc sắc trong nghệ thuật kiến trúc điêu khắccủa các di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của huyện Yên Thành.

5 Đóng góp của luận văn.

- Phục dựng một cách hệ thống về quá trình xây dựng, trùng tu, tôn tạocủa các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh Yên Thành

- Phác thảo diện mạo của các di tích – lịch sử văn hóa như kiến trúc, điêukhắc, quy mô, các hoạt động tín ngưỡng, lễ hội văn hóa liên quan đến các di tích

- Phân tích được giá trị lịch sử và giá trị văn hóa của các di tích; mức độảnh hưởng của các di tích đối với đời sống của nhân dân quanh vùng

- Tập hợp nguồn tư liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch

-di tích, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của nó

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nộidung chính của đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Sự hình thành và đặc điểm các di tích lịch sử - văn hóa.

Chương 2: Diện mạo một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu

Chương 3: Giá trị lịch sử, văn hóa và một số giải pháp nhằm bảo tồn, tôn

tạo các di tích

Trang 10

B NỘI DUNG Chương 1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CÁC DI TÍCH

LỊCH SỬ - VĂN HÓA

1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên – xã hội và truyền thống lịch sử - văn hóa của huyện Yên Thành.

1.1.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội

Yên Thành là huyện nằm ở phía Đông Bắc Nghệ An, cách thành phố Vinh

55 km về phía Bắc Chiều Bắc - Nam của huyện kéo dài gần 40km từ HònSường giáp Quỳnh Lưu đến Tràng Sơn giáp Nghi Lộc Tiếp giáp phía đông làhuyện Diễn Châu, phía bắc là một phần huyện Diễn Châu và Quỳnh Lưu, phíatây giáp với Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, phía Nam giáp Nghi Lộc, Đô Lương Diện tích560.024ha, trong đó có đất canh tác 15.647ha chiếm 29% Một điều đáng chú ý

là đồng bằng Yên Thành có độ nghiêng lớn, mặt cắt dày nên diến ra cả quá trìnhmài mòn, rửa trôi và bồi tụ Đồng bằng lại hẹp ngang, lũ rút nhanh mang theo rabiển những phần đất mịn chưa kịp lắng đọng Vì vậy đất nhẹ, giữ nước giữ mùnkém Độ màu mỡ không bằng đồng bằng sông Mã, kém xa đồng bằng Bắc bộ vàNam bộ Ở giữa những cánh đồng lại xuất hiện những nhánh núi, quả đồi lèn đá

xé lẻ, một số cánh đồng ở vùng trũng, bị nhiễm mặn

Yên Thành giống như một hình lòng chảo không cân với ba phía bắc, tây,nam là rừng núi, ở giữa phía đông là vùng đồng bằng trũng Nơi cao nhất là đỉnhVàng Tâm ở phía Tây Bắc Nơi sâu nhất là vùng đồng trũng ven sông Điện, sôngCầu Bà âm 0,6m so với mực nước biển [36; 4]

Vùng rừng núi trung du và bán sơn địa là dạng địa hình chiếm hầu hếtdiện tích ở phía bắc, phía tây và phía nam huyện Dãy núi phía bắc được hìnhthành do dãy núi phía đông bắc chạy từ Quỳnh Lưu đến Yên Thành, hình thànhmột bức màu xanh của dãy núi Bồ Bồ Dãy núi ở phía tây và nam huyện do dãynúi Phu Hoạt ở tây bắc Nghệ An chạy về, hầu hết là rừng núi và đồi thấp, nhưng

Trang 11

vẫn có những con dốc lớn Vùng đồi núi chủ yếu là đất bazan và một phần đất đávôi nên có thể hình thành ở đây vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả,ngoài ra còn trồng cây lương thực, rau màu Nhìn chung, đồi núi Yên Thành lànơi chứa đựng nhiều tập đoàn cây rừng cũng như các loại động vật quý Songtrải qua nhiều biến thiên, trữ lượng rừng cũng như các loại động vật tự nhiên củahuyện giảm xuống đáng kể Hiện nay, địa hình Yên Thành có ba vùng rõ rệt:Vùng đồi núi bán sơn địa, vùng đồng bằng thâm canh và vùng đồng trũng

Về khoáng sản, căn cứ vào kết quả thăm dò thì ở Yên Thành, chưa pháthiện được khoáng sản kim loại mà chỉ có khoáng sản phi kim Đáng kể có đá vôi

ở Đồng Thành, Trung Thành, Nam Thành, Lý Thành, Bảo Thành, Vĩnh Thành,Long Thành, mỏ beri ở Sơn Thành Cát xây dựng ở Sơn Thành, Bảo Thành vàrải rác ven các sông suối Than bùn ở Vĩnh Thành [ 36; 6]

Sông hồ tự nhiên ở Yên Thành không nhiều và không có con sông nàolớn Hầu hết sông suối bắt nguồn từ các dãy núi phía bắc, tây nam Sông Dinhbắt nguồn từ Đồng Trổ, Động Trọc và một nhánh từ Đồng Mai về Khe Cấy, hợplưu với nhau chảy qua Tràng Thành sang Long Hồi, Tích Phúc xuống sông Điển.Sông Dền bắt nguồn từ động Huyệt chảy qua Kẻ Dền đổ xuống sông Sọt Bàusừng bắt nguồn từ động Mồng Gà chảy về Quỳnh Lăng, Yên Mã, Thành Đạt,Tiên Bồng đổ xuống sông Sở Huyện còn có hệ thống khe dày đặc: khe Nhà Trò,khe Mả Tổ bắt nguồn từ Hòn Sường chảy về Phú Lộc, Phú Trạch, Thọ Trường,Lạc Thổ Khe Cát chảy qua Tràng Sơn, Lương Hội về sông Điển ở các xã KhánhThành, Long Thành, Vĩnh Thành có sông Điển chảy qua hợp lưu với sông Sọt,cầu Bà chảy về sông Bùng ra Lạch Vạn Đây là đường giao thông đường sôngquan trọng và nguồn hải sản phong phú Ở phía nam do đồi núi trọc nên không

có nguồn sinh thủy chảy đều, chỉ có một số khe và bàu như khe Ngọng, bàu MậuLong, bàu Chèn, Liên Trì chảy về sông Vũ xuống sông Điền

Yên Thành có khí hậu và thời tiết khá phức tạp Nằm trong vùng khí hậunhiệt đới ẩm gió mùa, quanh năm nhận được bức xạ mặt trời với tổng lượng

Trang 12

nhiệt cả năm hơn 8500°C, nhiệt độ trung bình cả năm là 23°C Trong năm có haimùa, mùa nóng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh kéo dài từ tháng 11đến tháng 4 năm sau Mùa nóng cũng là mùa bão, giông tố và hay xảy ra gióxoáy gây nhiều thiệt hại Mùa lạnh thường có gió mùa đông bắc khô lạnh, ítmưa, nhiều mây, buổi sáng thường có sương mù, sương muối Lượng mưa trungbình hàng năm nằm trong khoảng 1600 - 1800mm

Về giao thông, do địa hình là một vùng lòng chảo không cân với ba phía

là rừng núi còn ở giữa là đồng trũng nên trước đây ngoài tuyến đường sông cửaLạch Vạn, sông Bùng lên Yên Thành, chỉ có tuyến đường liên thôn, liên xã, liênhuyện, giao thông chưa phát triển Cho đến đầu thế kỉ XXI, quốc lộ 7A và tỉnh lộ

538 mới được khai thông nhưng chỉ đi qua một số làng xã Hiện nay, hệ thốnggiao thông đường bộ ở huyện được mở rộng nâng cấp, ngoài hai tuyến đườngchính là quốc lộ 7A và tỉnh lộ 538 được mở rộng và rải nhựa, các tuyến đườngliên xã, liên huyện khác được rải đá theo chương trình xây dựng “mạng đườngxanh”, giúp việc đi lại của nhân dân trong huyện được thuận lợi, đồng thời giaolưu buôn bán với các huyện lân cận được thuận lợi hơn nhiều

Điều kiện tự nhiên như trên có tác động đáng kể đến tập quán, tính cáchcủa người dân Yên Thành Trên cơ sở kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, trồng lúanước, các công xã nông thôn xuất hiện với những Kẻ Sừng, Kẻ Nhớ, Kẻ Sàng,

Kẻ Dền, Kẻ Rục, Kẻ Sấu,…Con người sống trong cộng đồng làng xã với nhữngquan hệ họ hàng, tôn tộc, xóm làng với những sinh hoạt văn hóa mang màu sắccủa cư dân nông nghiệp trồng lúa nước Đại đa số dân cư Yên Thành làm nôngnghiệp và coi đây là nguồn sống chính

Về nguồn gốc hình thành con người, trong sách Lịch sử Huyện YênThành viết: “Do địa hình vùng núi Yên Thành ăn liền với các dãy núi từ phíaTây Bắc Nghệ Tĩnh trở xuống, có nhiều lèn đá vôi, nhiều hang động và thunglũng kín là địa bàn cư trú thuận lợi của ngươì Việt cổ Với những kết quả bước

Trang 13

đầu của Khảo cổ học cho chúng ta biết Yên Thành, Diễn Châu là nơi giao lưucủa nền văn hoá Bắc Nam, là nơi người Việt cổ có mặt từ lâu đời [ 9;18 ]

Cư dân Yên Thành ngày xưa không đông lắm, dân số tăng chậm, chỉ khicác quan cai trị Châu Diễn chọn Quỳnh Lăng và Kẻ Dền để xây dựng lị sở cùngvới công cuộc di dân từ miền bắc vào khai dân lập làng thì dân số mới tăngmạnh Hiện nay, dân số Yên Thành khoảng hơn 275.000 người, mật độ là 49

chỉ có người Kinh mà còn có cả người Mường ở Mường Khùa, Khe Thần còngiữ lại tộc phả xác định tổ tiên của họ trước đây ở Thung Mây, Thung Lăng dọc

Kẻ Cấy Một số tộc Mường ở huyện Tương Dương (Nghệ An) gần đây về nhận

tổ tiên ở Mậu Long Tại Bàu Chèn (Liên Trì), trong năm 1960, khi làm thủy lợi,

bà con xã viên phát hiệm một số một táng người phụ nữ Mường trong một cây

gỗ lim tròn Ở Bắc Thành, Liên Thành, Văn Thành, Đông Thành còn lưu lại nơichôn cất hài cốt của đồng bào Mường trước kia Trên các làng xã ở Yên Thànhcòn nhiều địa danh bằng tiếng Việt - Mường chưa bị Hán hóa như Thung Mây,Thung Lăng, Bàu Chèn, Đồng Cháng, Đồng Vằng, Hòn Ây,…[36;8]

Thiên nhiên vừa ưu đãi, vừa thử thách, vừa tạo thuận lợi, vừa gây khókhăn Tuy nhiên điều đó cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước đã hun đúc nêncon người Yên Thành nói riêng cũng như người xứ Nghệ nói chung vốn quýnhất như trong Đại Nam nhất thống chí đã viết “Đất xấu dân nghèo tập tục cầnkiệm Nhà nông chăm chỉ ruộng nương, học trò ưa chuộng học hành” Ở YênThành, vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt và mọi áp lực bất công của xã hộiphong kiến, dẫu cuộc sống có nhiều lúc khó khăn, vất vả nhưng người dân luônluôn xây dựng, vun đắp cho mình một cuộc sống lạc quan, yêu đời với những hội

hè theo nhịp điệu mùa màng Các trò dân gian như chơi đu, chọi gà, đành cờ, hát

Ca Trù, hát Trống, hát Chèo,…được phổ biến rộng rãi Trong huyện có nhiềuphường hát như: Xuân Nguyên, Phúc Tăng, Liên Trì, Vạn Tràng, Bảo Nham,Kim Thành, Văn Hội, và đặc biệt là làng Quỳnh Lăng có phường hát nổi tiếng

Trang 14

Làng Xuân Nguyên có phường hát Ca Trù của họ Nguyễn được xếp vào loại tròđại hàng từng biểu diễn ở kinh đô Huế năm 1925 và nhiều nơi trong vùng Vàodịp hội mùa, hội làng đầu xuân, tiếng trống tuồng, trống chéo vang lên khắp nơi.

Những người nông dân Yên Thành cũng là tác giả của một vùng văn hóadân gian khá đặc sắc với những tục ngữ, ca dao, câu đố, chuyện cổ, chuyệntrạng Người dân Yên Thành thường hay kể Vè, hát Ví, hát Giặm Vào dịp ngàymùa, những phường gặt thuê từ các huyện đến Yên Thành đem theo những lờihát ví, điệu hò của các vùng quê Nghệ Tĩnh pha trộn, hòa nhập vào những lànđiệu của Yên Thành làm cho nơi đây trở thành nơi giao lưu của những ngọnnguồn văn hóa dân gian Nghệ An Đêm đêm, bên cối giã gạo, giữa sân trục lúa,lời ca, điệu ví, câu chuyện trạng vang lên khuấy động cả vùng

Yên Thành còn được biết đến là một trong những vùng đất có truyềnthống hiếu học bậc nhất của Nghệ An Theo “Nghệ An đăng khoa lục” từ thờiTrần đến thời Nguyễn ở Yên Thành có 18 vị đại khoa, trong đó có 4 TrạngNguyên, 3 Thám Hoa, 2 Hoàng Giáp, 5 Tiến Sĩ, 4 Phó Bảng Truyền thống đóđược người dân cũng như chính quyền tạo điều kiện để duy trì và phát triển.Những người đỗ đạt cao được làng cấp ruộng, dựng nhà Nhiều làng xã mangđậm truyền thống hiếu học của quê hương như Tam Thọ, Đinh Khoa, Yên Mã,Tràng Thành, Quỳnh Lăng, Giai Lạc,…Những người con Yên Thành từ trạngnguyên đến nhà nho hay cử nhân, tú tài, thầy đồ đều gắn bó với quê hương, đấtnước, họ sống tiết tháo cương trực, cùng nhân dân sáng tạo nên những giá trị vậtchất tinh thần của quê hương Khi nước nhà lâm nguy, có người đã bỏ cả côngdanh, quan trường, cùng nhân dân chống giặc như cụ phó bảng Lê Doãn Nhã, cửnhân Chu Trạc, hay cũng có người về quê dạy học, làm thơ, kêu gọi thức tỉnh

tinh thần yêu nước trong nhân dân như tú tài Lê Liệu, tác giả tập thơ “Nam Quốc tĩnh mê ca”.[29;80]

Một truyền thống quý báu khác của người dân nơi đây là chuộng tínnghĩa, hiếu khách, kính trọng người già cả, biết ơn những người có công với họ

Trang 15

hàng làng nước Những người có công khai khẩn đất đai, chiêu dân lập ấp, cócông với dân với nước được nhân dân quý trọng tôn làm Thành Hoàng, làm PhúcThần và lập đền thờ

Về tín ngưỡng, tôn giáo, ở Yên Thành, đạo Phật được du nhập khá sớm,

từ thời tiền Lê, thời Lý đã có chùa Đến thời Lý - Trần, một số tăng ni phật tửngoài bắc vào hoặc ở nơi khác đến chùa Thông, chùa Gấm, chùa Vĩnh Tuynhưng không có chùa nào có tăng ni trụ trì lâu dài Đạo Phật đã để lại dấu ấn sâuđậm trong nhân dân, đó là thuyết nhân quả, thiện ác Mọi người đều lo làm điềuthiện, tránh điều ác, ở hiền gặp lành Ai cũng lo cho tương lai con cháu kế thế.Đạo Nho ở Yên Thành muộn hơn đạo Phật Chỉ từ cuối đời Trần, đạo Nho mớithịnh hành nhưng ảnh hưởng của đạo Nho đối với tâm lí, tập quán, lối sống củanhân dân là rất đáng kể, như thuyết nhân nghĩa vun đắp cho mình những phẩmchất cao quý như trung với nước, hiếu với dân, lấy báo ơn dân, đền nợ nước làmnghĩa, giành độc lập cho dân tộc làm nhân Đạo Thiên Chúa xuất hiện ở YênThành vào những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, nơi sớm nhất là BảoNham, Rú Đất, Đức Lân, Kẻ Dừa, Ngọc Long từ năm 1839, và muộn nhất là đếnnăm 1941 ở Kim Sơn, Chợ Rộc Hiện nay Yên Thành có 48 nhà thờ xứ, họ vớihơn 3 vạn giáo dân, bà con lương cũng như giáo đoàn kết tương thân tương áiđấu tranh chống giặc ngoại xâm, chống áp bức cường quyền [36; 18]

Trải qua hơn năm thế kỉ lao động cần cù, hiện nay, Yên Thành có một thịtrấn và 37 xã Nhờ có giao thông thuận tiện cũng như chính sách hỗ trợ của Đảng

và Nhà nước, bộ mặt kinh tế của Yên Thành đã có những thay đổi lớn, vươn kịptrình độ phát triển của tỉnh nhà nói riêng và cả đất nước nói chung Nghề nôngtrở thành nguồn sống chủ yếu Một số giống lúa quý như lúa héo, lúa chăm, lúa

dự hương, nếp rồng ở Yên Thành thơm ngon nổi tiếng Có một số lượng lớn cáclàng, các chợ, bến xuất hiện như chợ Dinh, chợ Bộng, chợ Rộc, chợ An, chợ Mõ,chợ Láng,… Bến Tam Tòi, bến Điển là hai bến sông lớn trong vùng Các nghềthủ công gia truyền như nuôi tằm, dệt vải, đan lát phổ biến khắp các làng Ở một

Trang 16

số làng hình thành nghề thủ công nổi tiếng như chiếu cói làng Văn Trai, nồi đấtchợ Bộng, dệt vải Yên Nhân

1.1.2 Truyền thống lịch sử - văn hóa

Lịch sử Yên Thành gắn liền với lịch sử đấu tranh kiên cường chống giặcngoại xâm, chống áp bức cường quyền cùng nhân dân cả nước Thư tịch, dã sử,khảo sát thực địa cho chúng ta thấy trên đất Yên Thành, mỗi ngọn núi, mỗi khúcsông, cánh đồng, mỗi thôn xóm đều ghi lại những chiến tích hào hùng, có khi lànhững bi kịch đau thương Những tên đất, tên làng gắn liền với lịch sử quêhương như Động Đình, Động Huyệt, Đình Mõ, Đồng Thông, Xóm Lũy, Xóm

Hố, Vũ Kỳ,…đã nói lên điều đó

Yên Thành có địa thế hiểm yếu, ba phía là rừng núi, giữa là đồng bằnghướng ra biển, tiến có thể đánh, lui có thể giữ Truyền thống yêu nước, dám xảthân vì nghĩa lớn đã được gìn giữ từ năm này qua năm khác, thế hệ trước đến thế

hệ sau Hầu như không có cuộc kháng chiến nào của nhân dân Nghệ Tĩnh màkhông có con em Yên Thành tham gia Có lúc Yên Thành đã là đất đứng chân, lànơi gửi gắm niềm tin của những người lãnh đạo vào những phút khó khăn nhấtcủa các cuộc kháng chiến cứu nước

Ở thời Lý, Uy Minh Vương Lý Nhật Quang là thế tử của vua Lý TháiTông đã được phái vào Yên Thành khai đất, di dân, lập ấp, tuyển mộ binhlính, thu chuyển lương thảo, phục vụ cho việc dẹp giặc, giữ yên nước nhà.Đến thời Trần, Tình Quốc Đại Vương Trần Quốc Khang vào làm tư châuNghệ An, đóng hậu cứ tại Kẻ Dền, chùa Thông, tuyển mộ binh lính, tích trữlương thảo châu Diễn, tạo điều kiện cho quân dân nhà Trần đánh thắng quânxâm lược Nguyên Mông Theo tiếng gọi của đất nước, hàng nghìn người conYên Thành đã lên đường đi đánh giặc, tiêu biểu là trạng nguyên Bạch Liêu đãcùng Thượng tướng, Thái sư Trần Quang Khải chặn đứng bước tiến của đạoquân Toa Đô từ Chiêm Thành đánh ra Thời nhà Lê, trong cuộc kháng chiếnchống giặc Minh, Lê Lợi phái tướng lĩnh tin cậy vào đây để xây dựng căn cứ,

Trang 17

tuyển chọn binh lính Nguyễn Vĩnh Lộc, người làng Trang Niên (Mỹ Thành)

đã tập hợp nghĩa binh, tham gia đội quân của Lê Lợi, lập nên nhiều chiếncông lớn được Lê Lợi tin dùng, giao cho làm Nhập nội thành khiển Khi mất,ông được Lê Lợi phong là Trung đẳng thần Ở Bắc Thành, theo tộc phả họPhan, trong khoảng thời gian này cũng có ông Phan Vân ở làng Kẻ Rục đãcùng dân làng nổi dậy cùng Lê Lợi đánh giặc Minh Ở Yên Thành đã có nhiềugia đình gửi con em ưu tú của mình vào nghĩa quân Lê Lợi như gia đình bốnanh em họ Nguyễn ở làng Yên Thành gồm Nguyễn Thế Bồng, Nguyễn ThếBình, Nguyễn Trung Lao, Nguyễn Thế Tài

Từ đầu thế kỉ XVI, chế độ phong kiến nước ta bước vào thời kì suy yếu,khủng hoảng kéo dài, Sau khi triều Lê sụp đổ, các phe phái phong kiến xung độttranh giành quyền lợi dẫn đến cảnh anh em giết nhau, nội chiến tàn khốc YênThành là một trong những nơi chịu hậu quả nặng nề của thời kì phân tranh Trịnh

Suốt mấy thế kỉ đấu tranh, Yên Thành đã góp phần xây dựng Nghệ Tĩnhthành vùng đất hào hùng trong sự nghiệp chiến đấu bảo vệ bờ cõi chung của cảnước, xây dựng mở mang quê hương, giữ gìn văn hóa truyền thống tốt đẹp củamình, cùng nhân dân cả nước đánh đuổi ngoại xâm, cùng góp phần sáng tạo nênnền văn minh Đại Việt

Chế độ phong kiến triều Nguyễn suy yếu, đất nước rơi vào họa xâm lượccủa thực dân Pháp Khi cả Nghệ Tĩnh vang lên bản cáo trạng của Hoàng Thái

Trang 18

(Nghi Lộc) và tiếng súng khởi nghĩa Giáp Tuất (1874) của Trần Tấn và ĐặngNhư Mai (Thanh Chương - Nam Đàn) thì nhân dân Yên Thành đã kịp thời vùngdậy khởi nghĩa Đặc biệt khi ngọn cờ Cần Vương tung bay trên núi rừng Ấu Sơn(Hương Khê - Hà Tĩnh) thì phong trào đấu tranh của nhân dân Yên Thành càngphát triển với quy mô lớn, có tổ chức, liên kết với phong trào chống Pháp của cảNghệ Tĩnh Yên Thành là căn cứ địa, là đại bản doanh, là trung tâm của khởinghĩa Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã hay còn gọi là khởi nghĩa Đồng Thông,một trong hai cuộc khởi nghĩa lớn của phong trào Cần Vương chống Pháp ởNghệ An

Bước sang thế kỉ XX, kế tục sự nghiệp của các văn thân, sĩ phu yêu nước,lớp tri thức yêu nước ở Yên Thành đã theo các phong trào Duy Tân, Đông Du do

cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh khởi xướng để tìm đường cứu nước

Chính truyền thống yêu nước nồng nàn đó đã hun đúc nên trong mỗingười dân Yên Thành tinh thần xả thân vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Là mảnhđất tốt để ươm mầm những hạt giống cách mạng tạo điều kiện thuận lợi cho sự rađời các tổ chức Đảng Là tiền đề để nhân dân huyện Yên Thành, dưới sự lãnhđạo của Đảng đã góp phần to lớn trong cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược củathực dân Pháp và đế quốc Mĩ, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc

1.2 Quá trình hình thành và đặc điểm kiến trúc - điêu khắc các di tích

Di tích lịch sử - văn hóa là tài sản vô giá của đất nước Ở đó còn ẩn chứarất nhiều thông tin của nhiều lĩnh vực khác nhau mà các nguồn thông tin trên cácloại hình sử liệu khác không có và không thể có được Đất nước Việt Nam trảiqua hơn hai nghìn năm giữ nước và dựng nước Trang sử hào hùng ấy được ghilại bằng nhiều loại hình sử liệu khác nhau: di tích - di vật, hình ảnh, chữ viết,ngôn ngữ truyền miệng Trong số những nguồn sử liệu ấy thì di tích lịch sử - vănhóa đóng vai trò như một nguồn sử liệu vật chất quan trọng Nó cho chúng tamột số thông tin trực tiếp từ những hoạt động của con người trong quá khứ mànhiều nguồn sử liệu khác không hoặc không có điều kiện đề cập tới Di tích lịch

Trang 19

sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứađựng các điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người trong lịch sử sángtạo ra, được đánh giá là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc.Thông qua các di tích, chúng ta có thể nhận biết được bình đồ kiến trúc của các

di tích trải qua các thời đại, từ đó thấu hiểu thêm về cuộc sống, tâm tư, suy nghĩ,tình cảm của những con người sống trong thời đại đó Hoặc là thông qua các divật còn được bảo lưu ở các di tích, các nhà nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực nhưtôn giáo, địa lí, lịch sử có thể tìm thấy nhiều thông tin quý giá mà các nguồn sửliệu khác chưa bao giờ hoặc không bao giờ nhắc tới

các làng xã trong huyện (125 làng số liệu từ năm 1945 về trước) Có làng có tới

2-3 ngôi đình, nhưng đến nay trên thực tế chỉ còn lại 19 ngôi

Đình làng - một mảnh hồn quê, một nét đẹp của xóm làng, đã từ lâu ănsâu vào trí nhớ và in đậm trong tâm khảm của mỗi con người Đình làng là hìnhảnh thân quen, gắn bó với tâm hồn của mọi người dân là nơi chứng kiến mọisinh hoạt, lề thói và mọi đổi thay trong đời sống xã hội của làng quê Yên Thành.Qua bao thế kỷ, kiến trúc đình làng mang đậm dấu ấn văn hoá, độc đáo và tiêubiểu cho kiến trúc và điêu khắc nổi bật của vùng Đông Yên nhị huyện

Khi nói đến đình làng ở Yên Thành, chúng ta bắt gặp ở đây những nétsinh hoạt văn hoá truyền thống, nơi “cân bằng” phép tắc của cuộc sống cộngđồng, nơi khai diễn những tài năng, tư duy của dân làng, nhất là về tín ngưỡng,nơi để thờ thành hoàng làng, người có công với dân, với nước, giữ nước hoặc

Trang 20

giúp dân nghề nghiệp sinh sống Nhìn qua đình làng ta thấy lòng tri ân, trọngnghĩa, trọng tài và sự thể hiện đạo nghĩa “uống nước nhớ nguồn” Ở đây ta dễthấy, đình là của dân làng, nhưng thần không hẳn là người của làng Hơn nữa,cũng như bao làng quê khác trên đất nước ta, nhân dân thừa hưởng nhiều tínngưỡng cổ sơ, nguyên thuỷ, nên thờ và tôn kính rất nhiều vị thần như: Thần núi,thần đá trắng, thần rắn Tất cả những tín ngưỡng ấy, các thế hệ người dân YênThành tiếp nối nhau tạo thành một nền văn hoá đình, một nền văn hoá hỗn hợp

đa dạng, khiến cho đình trở thành một tập thể siêu thần, thành một sức mạnh vôhình, tạo một niềm tin, một niềm hy vọng, một sức mạnh vô hình của làng xã củacộng đồng người Việt Nam

Những đình cổ nhất đó là: đình Hậu xã Bắc thành, đình Trụ Pháp xã MỹThành; đình làng Xuân Đào xã Phú Thành, đình Phụng Luật xã Hợp thành, đình

Mõ ở Hậu Thành Theo quan niệm kiến trúc, đình là một kiến trúc công cộng,rộng mở để chờ đón bất cứ người con nào của quê hương, của đất việt Với ýnghĩa như thế, đình làng chính là nơi không phân biệt giàu sang, nghèo hèn và lànơi thể hiện rõ nét văn hoá hiện thực của đời sống nhân dân Mái cong của đình

đã thể hiện tính đặc thù kiến trúc của dân tộc, không mang tính phổ biến giaothoa ảnh hưởng trong khu vực Góc đao của đình uốn cong và vút cao do một hệthống cấu trúc đặc biệt có tên gọi riêng là tâu đao lá mái, do vôi vữa đắp thành.Tất cả các đình làng trên đất Yên Thành đều thể hiện một khối điêu khắc trongkhông gian, đầy các chi tiết tinh tế, nhưng cũng đầy tính khoa học kiến trúc Vềđường nét, đình là nơi hội tụ những mô típ trang trí tuyệt hảo, gồm nhiều xuhướng: hiện thực, cách điệu và đồ hoạ

Hội làng thường được tổ chức tại sân đình, trong hội làng, dân làngthường diễn Hèm Hèm có nghĩa là diễn lại các sinh hoạt sự tích của vị thầnđược thờ trong làng, những điều kiêng kị của thần Việc việt hoá, dân dã hoáthành hoàng bằng cách triều đình “tấn phong” cho các thần linh các thôn xã chứcthành hoàng làng và đã góp phần thúc đẩy các ngôi đình chiếm được các vị trí

Trang 21

trung tâm sinh hoạt trong xã hội nông thôn Yên Thành, để rồi các ngôi đình đócho tới nay đình được xem là biểu tượng quê hương Văn hoá đình làng có tínhhoàn toàn độc lập của cộng đồng dân cư Yên Thành, trên cơ sở tổng hợp dunghoà mọi nền văn hoá khác thành một nét văn hoá riêng, nhằm phục vụ an ninhcho địa phương mình, trong đó yếu tố chủ yếu vẫn là thờ cúng những người cócông với làng xã, những người có công với nước

Đã một thời, đình làng của một số nơi trên đất nước ta đã trở thành dịchđình như: Cho khách bộ hành dừng lại nghỉ ngơi; là nơi dán cáo thị của làng

và của nhà nước khi đã tuyên đọc Bên cạnh đó đình còn là nhà công đểhương chức, hàng phe, hàng giáp bàn việc dân (việc làng), việc quan (việcnước) Đình còn là chỗ nghỉ ngơi cho vua quan hay cho khách bộ hành mỗikhi có dịp ngang qua làng; đình là toà án, nơi dàn xếp sự tranh chấp hoặc xửkiện của dân làng, là nơi thi hành thưởng phạt, tuyên dương những khenthưởng của làng hay của triều đình

Khác với các địa phương trong nước, đình làng ở Yên thành đã được “xãhội hoá” rất sớm, nên có một thời đình làng đã là trường học cho các lớp ấu nhi,tiểu học Trong sinh hoạt tôn giáo đình làng góp một phần quan trọng trongcông việc tế lễ Giữa hay sau lễ tế thần, thường có nhạc kèn, trống, múa hát như:Hát tuồng, hát chèo, hát Xẩm, hát dân ca Nghệ Tĩnh tại sân đình Đình còn lànơi dân xin ra trình những việc vui, buồn, trọng đại trong nhà như: vào làng chocon trai, nạp cheo, nộp cưới, khao vọng, ma chay, mua nhiêu, mua xã, vào hàngquan viên, lên lão

Đình còn là nơi ảnh hưởng đến sự bình an, thịnh vượng hay nghề nghiệpcủa dân làng vì “Hướng đình” Nhân dân quan niệm hướng đình rất quan quantrọng, hướng đình nằm trong khu vực đất đã được chọn làm đình theo nguyên tắccủa thuyết phong thuỷ hay địa lý Sự an lành hay thịnh vượng của dân làng nhiềuhay ít phụ thuộc vào hướng đình đẹp hay không Nhân dân Yên Thành quanniệm rằng hướng đình ảnh hưởng đến nét đặc thù nghề nghiệp, hay tính cách

Trang 22

chung của dân làng, vì thế, nên việc chọn đất, cắm hướng đình được coi rất quantrọng Trước đình phải tụ thuỷ, nên đình thường được nhìn ra một khúc sôngvòng bọc lại , một ao hồ, hoặc một cánh đồng trũng thấp, có thế thì mới đọngcủa, làng mới giàu; nếu có những mô đất nổi lên làm án, làm bút thì dân làng dễhọc hành thi đỗ, được làm quan (sự thể hiện rõ nét trên hiện còn thấy: đìnhLiên Trì, đình Mậu Long xã Liên Thành; đình Sừng xã Lăng Thành; đình TrụPháp xã Mỹ Thành; đình Hậu xã Bắc Thành; đình Phụng Luật xã Hợp thành ).

Về phong cách kiến trúc các ngôi đình: Tất cả các đình làng Yên Thànhđều mang đậm dấu ấn văn hoá, độc đáo và tiêu biểu của kiến trúc điêu khắctruyền thống Việt Nam Từ những năm 1945 về trước toàn huyện có khoảng 150ngôi đình, mỗi làng đều có một cụm kiến trúc nghệ thuật tôn giáo đình, đền,chùa có rất nhiều tượng và nhiều đồ trang trí thờ cúng khác nhau Những đình cổnhất là đình Sừng Lăng Thành, đình Trụ Pháp xã Mỹ Thành; đình Hậu xã Bắcthành Theo quan niệm kiến trúc, thì đình là một kiến trúc công cộng, rộng mở

để chờ đón bất cừ người con nào của quê hương, chính vì lẽ đó mà đình làngYên Thành, là nơi không phân biệt giàu sang, nghèo hèn, là nơi thể hiện rõ nhấtvăn hoá hiện thực đời sống của nhân dân Các đình đều có kiến trúc to lớn đồ sộnhất làng, dáng dấp bệ vệ, uy nghi, mi toả rộng để che mưa nắng, góc vươncong, cột mập chắc Bốn cột cái gian chính là một cây gỗ rừng được bào chuốttrơn tru, bụng to phình hàng hai vòng tay ôm Đình cổ thường do hai hiệp thợmộc thi đua trổ tài, mỗi bên làm một nửa, nên trông bề ngoài tuy nhất thể, mà bề

trong mỗi nửa bên một khác nhau về phong cách trang trí (Đình Sừng Lăng Thành do 2 nhóm thợ, phó Tu và phó Tời xây dựng) Đình cổ được xây dựng

trong thời điểm cây rừng còn nhiều, lại cố ý dựng lên để tồn tại lâu dài, nên vậtliệu được chọn toàn là loại gố tốt như: Lim, Sến, Táu Cột, kèo, to chắc, gỗchồng chất đến dư thừa, nhưng thực chất là để chịu đựng được sức nặng của toàmái đình to, rộng và lớp ngói to dầy nặng để chịu được các yếu tố khắc nghiệtthiên nhiên của vùng nhiệt đới Hầu hết các toà đại đình đều làm 3 gian rộng và

Trang 23

hai hồi văn Đình có tất cả sáu hàng cột, tổng cộng có 16 cột đặt trên đá tảng.Toàn bộ khung nhà đình được cấu trúc ngay chỉnh, vững vàng, vì kèo được làmtheo kiểu: “Tam oai cổ nghé”, hoặc “chồng rường giá chiêng” và “Thượng rường

hạ kẻ” hoặc có nơi là: “Thượng giá chiêng, hạ kẻ chuyền” Độ dốc của mái đìnhđược tính theo công thức “Thượng tam hạ tứ” khoảng 33 độ phù hợp với tínhphổ biến trong kiến trúc nhà gỗ ở Việt Nam Hầu hết bên cạnh các toà đình đều

có hậu cung là nơi thờ thành hoàng làng, cá biệt những đình không xây hậu cungthì cũng bố trí một vị trí nhất định trong đình để thờ tự.Về mặt tạo hình, đìnhlàng là gương mặt tiêu biểu còn lại phản ánh của kiến trúc cổ Đình không chỉ làcông trình oai nghiêm và đồ sộ nhất trong khung cảnh làng quê Yên Thànhnghèo nàn thời phong kiến thực dân, mà là nơi bảo tồn khá trọn vẹn những đặcđiểm của nền kiến trúc dân tộc, bởi ít chịu ảnh hưởng của kiến trúc ngọại sinh.Qua công tác nghiên cứu và điều tra, điều cho thấy rõ nét tất cả các đình làngđều thể hiện nghệ thuật điêu khắc trên gỗ tỷ mỹ và công phu, những mảng điêukhắc trên gỗ đã góp phần làm kết nối giữa kiến trúc và điêu khắc bền chặt, khăngkhít, không thể thiếu được

Về nghệ thuật điêu khắc trang trí toà đình: Các đình còn lại đều thể hiệnnét phong phú của điêu khắc Điêu khắc cũng có và tồn tại trong các đền, chùa

và các kiến trúc tôn giáo khác nhau, nhưng không ở đâu nó được biểu hiện nétminh hoạ như ở đình Điêu khắc ở đình làng không những là nguồn tài liệu đểnghiên cứu lịch sử Mỹ thuật phát triển ở Yên Thành mà còn là nguồn tài liệu đểnghiên cứu đời sống ngày thường, cũng như tâm hồn của người nông dân YênThành Nói đến điêu khắc đình làng cũng là nói đến nghệ thuật trang trí đìnhlàng Điêu khắc ở đây là điêu khắc trang trí Người thợ làm đình chẳng nhữngthành thạo trong việc dựng đình mà còn biết tô điểm cho ngôi đình thêm đẹp.Điêu khắc ở đây biết và phải gắn liền với kiến trúc Trên các thành phần kiếntrúc đình làng đều được các nghệ nhân xưa dùng trí tuệ và bàn tay điêu luyện của

Trang 24

mình để chạm khắc thành công những hình mẫu có giá trị nghệ thuật cao, thu hút

sự chú ý của mọi người mỗi lúc ghé thăm đình

Trong khoảng thời gian từ thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 20, sự ra đời các ngôiđình các làng, điêu khắc trang trí đều mang đậm tính chất nghệ thuật dân gian.Những nhà điêu khắc vô danh xuất thân từ nông dân giỏi về trồng lúa, đã đưavào đình làng những hình ảnh gần gủi với cuộc sống thực và có thể cả với giấc

mơ của họ, với phong cách hết sức độc đáo và một tâm hồn hết sức sôi nổi Đó

là hình ảnh đôi trai gái ghẹo nhau đến các trang trí phổ biến nư hoa lá, hình các

tứ linh (Long, Ly, Quy, Phượng) Quan sát tổng thể của đình cho thấy, đình làmột khối điêu khắc trong không gian, đầy chi tiết tinh tế, nhưng cũng đầy tínhkhoa học kiến trúc Nói về đường nét đình là nơi hội tụ những mô típ trang trítuyệt hảo, gồm nhiều xu hướng; hiện thực; cách điệu và đồ hoạ Điêu khắc vàkiến trúc đã góp phần làm cho các ngôi đình có những nét riêng của mỗi ngôiđình của mỗi làng quê Yên Thành, nhưng tất cả các ngôi đình đều toát lên hồnquê, gợi nhớ những quá khứ thân tình để rồi đình làng đã theo mỗi một conngười đi vào cuộc sống mới, mà hình ảnh đậm nét của đình không phai nhạttrong cuộc sống của mỗi con người

Đình làng là một quần thể kiến trúc, được bố cục đăng đối theo một chiềudài hướng Bắc Nam, ngoài cùng là hai cây trụ biểu xây to và công phu, chỉ dẫnvào sân thứ nhất, tiếp đến con đường lát gạch xuyên qua giữa hai trụ, dẫn thẳngtắp đến toà cổng và toà đình, hai gian hai chái, bốn mái uốn cong, trên đắpnhững lá lan đằng hoặc thân rồng uốn lượn Hai bên xây cổng phụ tầng giả,tường được xây bằng gạch cổ, chạm nổi những hình rồng, phượng, nghê, thú vậtsinh hoạt nhân gian

Tất cả công trình kiến trúc đình, các yếu tố liên quan đến đình đều mangđậm phong cách cuộc sống, hơi thở của nhân dân lao động Yên Thành Ngàynay, mỗi khi đến đình chúng ta đều cảm nhận được không khí sinh hoạt cộng

Trang 25

đồng làng xã ngày xưa, bản sắc của nền kiến trúc cổ Việt Nam, một bản sắc vănhoá mang tính lịch sử và sâu sắc nhất.

Tất cả sự tín ngưỡng xưa nhằm duy trì và phát triển sự sống, bởi trên cácvùng dân cư của địa bàn Yên Thành đều sinh sống bằng nghề nông, cần có mùamàng tươi tốt và con người được sinh sôi nảy nở Để có được hai điều trên,những trí tuệ sắc sảo sẽ tìm các quy luật khoa học để lý giải hiện thực, và cóthể nhân dân Yên Thành chịu ảnh hưởng trực tiếp sự tín ngưỡng của nhân dânphía Bắc lan truyền, về việc xây dựng được triết lý Âm Dương, trong đó trí tuệbình dân thì xây dựng tín ngưỡng phồn thực (phồn = nhiều; thực = nảy nở) Tínngưỡng phồn thực ở Yên Thành được thể hiện trên cơ sở ảnh hưởng, sao chép

sự tín ngưỡng của nhân dân các tỉnh lân cận Bên cạnh tín ngưỡng phồn thực,còn có tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, điều rất dễ hiểu khi Yên Thành là mộtvùng quê có đời sống được gắn liền với nông nghiệp, hay có thể nói là thuầnnông Không những thế, việc thờ thần linh ở đây còn thể hiện tín ngưỡng sùngbái con người, coi trọng con người, bởi nhân dân coi con người có hai phần: thểxác và linh hồn, linh hồn được nhân dân cho là “hồn và vía”, vía được hìnhdung như phần trung gian giữa thể xác và linh hồn Họ quan niệm rằng mỗingười có 3 hồn; nam có 7 vía, nữ có 9 vía; Ba hồn gồm: Tinh (sự tinh anh trongnhận thức); Khí (năng lượng làm cho cơ thể hoạt động) và Thần (thần thái của

sự sống) Bảy vía ở đàn ông gồm: hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi và miệng Chín

Trang 26

vía ở nữ giới cai quản: bảy vía như của nam giới cộng thêm hai vía bên dướinữa Hai vía này có nhiều lý giải, nhưng cũng xuất phát từ quan niệm trên mà

ra Hồn và vía dùng thể xác làm nơi trú ngụ, trường hợp hôn mê ở các mức độkhác nhau, được giải thích hồn và vía; hồn rời bỏ thể xác ở mức độ khác nhau.Nếu phần thần của hồn mà rời khỏi thể xác, thì người đó đã chết Khi ngườichết, hồn nhẹ hơn sẽ bay sang kiếp khác, còn vía nặng hơn sẽ bay là là mặt đấtrồi tiêu tan Thế nên dân gian có câu: “Hồn xiêu phách lạc” Khi con ngườichết, là hồn từ cõi dương gian xuống cõi âm ty

Trong cuộc sống trần gian những người sống có tâm phúc, thông minh,làm được nhiều điều ích lợi cho dân, cho nước, khi mất đi, phần hồn của nhữngcon người đó được siêu thoát và được phong thành thánh thần

Trong phạm vi gia đình, nhân dân Yên Thành lập bàn thờ để thờ tổ tiên

và đã trở thành một tôn giáo: Đạo ông bà; Bàn thờ tổ bao giờ cũng được đặtnơi trang trọng nhất Họ cho rằng người đã mất đi về nơi chín suối, nên khi tổchức lễ cúng bao giờ cũng có rượu, hoa quả, vàng mã, hoặc vật tam sinh Saukhi cúng xong đem đốt vàng mã, đổ rượu lên đống tro tàn, khói bay lên trời,nước hoà với lửa thấm xuống đất, làm như thế tổ tiên mới nhận được Độngtác đó được coi là sự hoà quyện Nước - Lửa (âm dương) và Trời đất (tam tài)mang tính triết lý sâu sắc

Thờ thổ công: Thổ công là một vị thần được nhân dân luôn thờ tự tronggia đình, một dạng thờ Mẹ Đất, là vị thần coi nhà cửa, định đoạt hoạ phúc chomột gia đình Sống ở đâu thì có thổ công ở đó “Đất có Thổ Công, sông có HàBá” Nhân dân Yên Thành nhận thức việc thờ Thổ Công cũng từ giả thuyết chorằng: Thổ Công là một trong ba vị Táo Quân xuất hiện trong truyện sự tích TáoQuân Người chồng mới là Thổ Công (trông coi việc bếp núc gọi là thần bếp)người chồng cũ là Thổ Địa ( trông coi việc nhà cửa), người vợ là Thổ Kỳ ( trôngcoi việc mua bán) Tuy nhiên, một số người cho rằng Thổ Công là vị thần caiquản vùng đất, còn Táo Quân chỉ coi việc bếp núc trong nhà Thổ Công được

Trang 27

nhiều người tin là vị thần quan trọng nhất trong gia đình Tổ tiên có công sinhthành dưỡng dục nên được tôn vinh nhất Bàn thờ thờ tổ tiên được lập chínhgiữa, vị trí trang trọng nhất, bàn thờ Thổ Công bên trái, quan trọng thứ hai.Nhưng mỗi khi cúng lễ tổ tiên, người ta đều phải khấn Thổ Công trước để xinphép cho tổ tiên về.

Thờ thành hoàng làng: Ở phạm vi gia đình, nhân dân lập bàn thờ tổ tiên vàthờ Thổ Công, ở phạm vi làng xã nhân dân lập đền thờ để thờ thành hoàng, cónơi miếu thờ được lập tại khu vực đình làng Giống như Thổ Công, Thànhhoàng cai quản và quyết định hoạ hay phúc của một làng, bởi vậy tất cả các làng

cổ Yên Thành đều có vị trí thờ Thành hoàng làng Những người được thờ thường

là những người có tên tuổi và có địa vị, có công lao với dân làng đó như: LàngGiai Lạc xã Hâụ Thành thờ Ông Nguyễn Hữu Chỉ, thần khai cơ vùng đất, manglại cuộc sống an lành cho nhân dân; làng Tam Thọ xã Thọ Thành thờ ông TrầnYết Tâm, giúp dân lao động sản xuất; làng Quỳ Lăng xã Lăng Thành thờ HồHưng Dật, Thái Thị Liệt, Nguyễn Hữu Đạo, đình Mậu Long xã Liên Thành thờ

Lý Biên Cương; Đình Hậu xã Bắc Thành thờ Uy linh Vương Lý Nhật Quang,đình Phụng Luật xã Hợp thành thờ 4 vị thần tổ họ Lê, Nguyễn, Phạm, Hoàng

là những người có công khai khẩn vùng đất và giúp đỡ dân làng sản xuất, chănnuôi sinh sống

Tuy tục thờ Thành hoàng có nguồn gốc từ Trung hoa cổ, sau khi du nhậpvào Việt Nam vào các làng xã ở Yên Thành, đã nhanh chóng bám rễ, ăn sâutrong tâm thức nông dân Yên Thành và đã trở nên hết sức đa dạng Thành hoàng

có thể là một vị thần như: Cao Sơn, Cao Các, Thần Rắn, sát hải đại vươngHoàng Tá Thốn (Đền Đức Hoàng) Thành hoàng có sức toả sáng vô hình nhưquyền uy siêu việt, khiến cho làng quê trở thành một hệ thống chặt chẽ Các vịthành hoàng được nhân dân thờ tự đều được thể hiện qua các sắc phong của cáctriều đại vua có 3 bậc: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần,điều đó cũng phản ánh đầy đủ sự tích, công trạng của các vị thần đối với nước,

Trang 28

với dân, với làng xã Các vị thần cũng được xét đưa từ thứ vị nọ lên thứ vị kia,nếu trong thời gian cai quản các vị này đã phù hộ, giúp đỡ được nhiều cho đờisống vật chất và tâm linh của dân chúng Việc thăng phong các vị thành hoàngcăn cứ vào sớ tâu của làng xã về công trạng của các vị thần Sớ này phải nộp vềtriều đình trong một thời gian quy định Mỗi lần thăng phong, triều đình đều gửisắc vua ban rất trịnh trọng, linh đình và cất nó trong hòm sắc để thờ tại hậu cungđình làng hoặc các đền của làng

Thành hoàng cũng được gọi là phúc thần, tức vị thần ban phúc cho dânlàng, thường mỗi làng thờ một thành hoàng, có khi một làng thờ hai ba hoặc làngthờ một vị Thành hoàng có thể là nam thần hay nữ thần, điều đó phụ thuộc vào

sự tích của mỗi làng

Trong tâm thức dân quê Yên Thành, Đức thành hoàng là vị thần tối linh,

có thể bao quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng, bảo vệ, phù hộ chodân làng làm ăn phát đạt, khoẻ mạnh Các thế hệ dân cứ tiếp tục sinh sôi, nhưngthành hoàng thì còn mãi, trở thành một chứng tích không thể phủ nhận được củamột làng qua những biến cố thăng trầm Có thể cho rằng, thành hoàng chính là vịchỉ huy tối linh của làng xã, không chỉ về mặt tinh thần và còn một phần về mặtđời sống sinh hoạt vật chất của dân làng Vì vậy việc thờ phụng thành hoàng xétcho cùng đó là ý thức hệ sự thờ phụng luật lệ làng xã, lề lối gia phong một thờicủa làng

Chính sự thờ phụng đó là sợi dây liên lạc vô hình, giúp dân làng đoàn kết,nếp sống cộng cảm hoà đồng, đất lề quê thói được bảo tồn Bởi thế, các hươngchức cũng như các gia đình trong làng, mỗi khi muốn mở hội hoặc tổ chức việc

gì đều phải có lễ cúng thành hoàng để xin phép trước Từ đó cho thấy, sựngưỡng mộ thành hoàng cũng chẳng kém gì sự ngưỡng mộ tổ tiên

Thực hiện luật di sản văn hoá, quy chế tổ chức lễ hội, ngày nay lễ hội đã

và đang được phục hồi và tổ chức tại tại một số đình, đền trên địa bàn huyện YênThành ( lễ hội đền cả xã Nhân Thành 6/6; lễ hội đền Đức Hoàng xã Phúc thành

Trang 29

1/2; lễ hội đại điển đình Hương xã Hậu Thành 15/11; lễ hội đền Canh ĐứcThành 15/01 ) Nhằm ghi nhớ và tôn vinh công lao của các vị tiền bối có côngvới nước, với dân làng.

Về kiến trúc đền: Qua khảo sát 45 ngôi đền, phong cách kiến trúc đền ởđây khác với các tỉnh phía bắc Tất cả các đền đều được kiến trúc nhỏ gọn không

đồ sộ như đình làng, thường mỗi khu vực đền được xây dựng từ 2 đến 3 toà nhà,theo hình chữ Tam Cách xếp đặt như thế, tiện cho việc bố trí các vị trí đẳng cấpcủa các vị thần khi được thờ tự tại đền, bên cạnh đó có thể giúp cho công trìnhđược bền vững khi có bão, đồng thời tạo ra sự liên kết bền vững của công trìnhnhư thể hiện sự đoàn kết của nhân dân xóm làng Thường các ngôi đền có 3 toànhà, nhân dân gọi thứ tự các ngôi nhà từ ngoài vào: Bái đường, Trung điện,Thượng điện, cũng có đền nhân dân gọi: Hạ điện, Trung điện và Thượng điện.Thượng điện là nơi để long ngai, các vị thần có chức sắc cao nhất

Các nhà đền đều được kiến trúc theo Tam Oai cổ nghé, kiểu kiến trúc cổ,mộng ngàm chắc chắn tạo thế vững chắc, các nhà đền đều có 4 cột trụ, tất cả cáccột trụ đều làm bằng gỗ tốt như: Lim, sến Các ngôi đền được xây dựng vào thế

kỷ 15-16 sau này đều được tu sửa, chỉnh lý, xây tường đốc, tường vách

1.2.3 Các di tích chùa

Do ảnh hưởng tư tưởng phật giáo, nên các ngôi chùa trên đất Yên Thành,cũng được nhân dân lập nên vào những năm đầu thế kỷ 16 cho đến thế kỷ 19 Sốlượng các ngôi chùa còn lại là rất ít, đến nay cả huyện có 7 ngôi chùa: ChùaGám, chùa Hương; chùa Non Nước; chùa Bảo Lâm; chùa Tạnh, chùa Bốc

Về phong cách kiến trúc: Chùa trên đất Yên Thành là một quần thể kiếntrúc gồm những toà nhà được sắp xếp cạnh nhau Chùa ở đây ngoài thờ phật cònthờ thần Thờ tam giáo (Phật - Lão - Khổng), các ngôi chùa đều thuộc về cộngđồng làng xã, việc xây chùa là việc trọng đại đối với mỗi làng, của mỗi làng.Việc chọn đất xây chùa thường chịu sự chi phối bởi quan niệm phong thuỷ “xâydựng chùa phải chọn đất tốt, ngày tốt, giờ tốt Đất tốt là nơi bên trái trống không,

Trang 30

hoặc có sông ngòi, ao hồ ôm bọc Núi hổ (hai tay hổ) ở bên phải phải cao dày,lớp lớp quay đầu lại hoặc có hình hoa sen, tràng phướn long báu, hoặc có hìnhrồng, phượng quy xà, chầu bái”, phía sau không nên có núi áp kề, là đất tốt

Các ngôi chùa đều được xây dựng bằng các thứ vật liệu quen thuộc như

gỗ, gạch, ngói Nhưng nhân dân thường dành cho chùa những vật liệu tốt nhất.Vật liệu cũng như tiền bạc được nhân dân trong làng quyên góp từ mọi tầng lớpdân cư, gọi là “Công đức” Người ta tin là sẽ được hưởng phúc khi đem cúng vậtliệu hay tiền bạc cho việc xây dựng chùa Tên của các người đóng góp được ghitrên cột gỗ tốt không bị mối mọt, hoặc ghi tại các bàn thờ bằng đá hay trên các

đồ sành sứ, bát hương, bình hoa, chân đèn

Ngày bắt đầu xây dựng chùa cũng như ngày khánh thành đều là những thời điểm

có ý nghĩa trong đời sống dân làng

Kiến trúc chùa tại Yên Thành thường được bố trí: Tam quan; Sân chùa; Báiđường và Chính điện

* Tam quan: Là cổng vào chùa, là một ngôi nhà với 3 cửa vào, tầng trên

của tam quan có thể làm gác chuông

* Sân chùa: Qua tam quan là đến sân chùa, tại đây, bố trí các chậu cảnh,

hòn non bộ, nhằm làm tăng thêm cảnh sắc thiên nhiên cho ngôi chùa

* Bái đường: Từ dưới sân chùa, lớp kiến trúc đầu tiên của ngôi chùa là

nhà Bái đường, tại đây được bài trí các tượng phật, bia đá ghi sự tích của chùa;giữa bái đường đặt hương án, nơi thắp hương chính

* Chính điện: Qua nhà bái đường là chính điện Giữa bái đường và chính

điện, có một khoảng trống không rộng, nhằm để lấy ánh sáng tự nhiên Nhàchính điện là phần quan trọng nhất của ngôi chùa, nơi đây được bài trí các photượng phật chủ yếu của điện thờ phật

Trước đây, kiến trúc chùa không đồ sộ lắm nhưng đảm bảo sự bền vững.Trong tất cả các ngôi chùa còn lại phải kể đến chùa Gám xã Xuân Thành là ngôichùa được xây dựng sớm nhất, chùa xây dựng từ thế kỷ thứ 16, cùng thời với

Trang 31

đền Gám Thoáng nhìn dễ nhầm tưởng đây là ngôi đình Điều đáng quan tâm và

sự chú ý là phong cách kiến trúc và điêu khắc Điêu khắc tại chùa Gám hết sứctinh xảo vơí nghiệp vụ điêu luyện trên các mảng gỗ Các mảng điêu khắc thểhiện đậm nét cuộc sống nhân dân lao động gắn liền với thiên thần, nhiên thần.Qua nghiên cứu kiến trúc, điêu khắc ở chùa cho thấy sự thể hiện các chạm khắccác hình cỏ cây, hoa lá, linh vật được khâu nối lại làm cho con người gần gũi vớithiên nhiên, hoà quyện vào thiên nhiên, gắn bó thiên nhiên hơn Chùa là nơi tínngưỡng tâm linh hướng thiện, giáo dục đạo đức, giáo dục đạo lý con người đểluôn có cuộc sống yên lành Các ngôi chùa đã được nhân dân chăm sóc bảo quản

và đã trở thành ngôi nhà tâm đức của nhân dân

1.2.4 Các di tích nhà thờ họ

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên hay còn được gọi là đạo thờ cúng tổ tiên, trởthành nếp sống trong mỗi gia đình người dân Việt Nam và được thể hiện trongrất nhiều cách thức

Trong phạm vi dòng họ, việc thờ cúng tổ tiên được thể hiện qua hàng loạtcác hoạt động tập thể của các gia đình, các thành viên trong họ về giổ tổ, chạp

mộ Địa điểm thờ cúng tổ tiên của dòng họ được diễn ra tại nhà trưởng tộc,những nơi có điều kiện thì xây cất nhà thờ họ (từ đường) Trên địa bàn YênThành có hơn 300 dòng họ, việc các vị thần tổ đến khai cơ, lập ấp, sinh sống trênđất Yên Thành đã để lại sự phát triển của các dòng tộc sau này Trong tổng số

192 di tích và danh thắng có 86 di tích nhà thờ dòng họ được liệt kê vào loạihình di tích cần được bảo tồn và phát huy, nhà thờ dòng họ chủ yếu được concháu trong dòng tộc xây dựng để thờ tự các vị thần tổ của dòng tộc mình Cácnhà thờ được xây dựng sớm là từ đầu thế kỷ XV - XVI đến đầu thế kỷ XIX.Phong cách kiến trúc các nhà thờ dòng tộc đều giống với các đền trên địa bàn;những dòng tộc có điều kiện và phát triển sớm, được xây dựng các thượng điện,

hạ điện và bái đường Thượng điện là nơi trang trọng nhất để đặt long ngai vị

Trang 32

thần tổ, hạ điện là nơi bài trí các vị tiền liệt các bậc hậu duệ của thần tổ Báiđường là nơi để các bàn thờ và còn là nơi tổ chức hành lễ tế tổ.

1.2.5 Nhóm di tích và danh thắng khác (Lăng mộ, Giếng, Cây, lèn đá, đồn, khu lưu niệm, tam quan, miếu, hồ đập, cầu, bãi tập, nhà thánh, cồn…)

Theo điều tra thống kê, hiện nay trên địa bàn Yên Thành đang tồn tại 39

di tích và danh lam thắng cảnh Đây là nhóm di tích hết sức phong phú về đặcđiểm kiến trúc, ý nghĩa về văn hóa và lịch sử cũng như giá trị khai thác và sửdụng trong đời sống và kinh doanh

Chiếm phần lớn nhóm trên là các lăng mộ và giếng Đây là những di tíchthể hiện rất rõ truyền thống văn hóa và nét đẹp cua các làng quê ở Yên Thành

Bên cạnh các lăng mộ, giếng các di tích về các cây cổ thủ, lèn đá, khu lưuniệm cũng tương đối nhiều Các di tích này chủ yếu mang các vẻ đẹp tự nhiên và

có giá trị trong khai thác và kinh doanh Tuy nhiên, hiện nay phần lớn nhữngnhóm này chưa được đầu tư tôn tạo sửa chữa

Ngoài ra còn một số di tích về tam quan, miếu chủ yếu là ở các làng, xóm

và được người dân tự tôn tạo sửa chữa và gìn giữ Trong số đó một số miếu cũngđược người dân tín ngưỡng và thắp hương thường xuyên trong các ngày rằm,ngày lễ tết

Nhóm di tích và danh lam thắng cảnh trên địa bàn Yên Thành khôngnhiều, nhưng phần lớn không có sự đầu tư và quan tâm thích đáng của chínhquyền các cấp nên đang bị xuống cấp nghiêm trọng Để gìn giữ và phát huycác di tích và thắng cảnh này cần có sự đầu tư đồng bộ của nhà nước và nhândân Trong đó cần có chủ trương của chính quyền các cấp để người dân hiểuđược ý nghĩa và có các việc làm cụ thể để phát huy tốt các di tích và danh lamthắng cảnh

Đặc biệt, Yên Thành là quê hương của đồng chí Phan Đăng Lưu - một cán

bộ tiền bối của Đảng, chính vì thế mà khu lưu niệm Phan Đăng Lưu ở xã HoaThành đã được đầu tư, tu bổ trong những năm gần đây Khu di tích xứng đáng là

Trang 33

một địa điểm có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển ý thức củacộng đồng về gìn giữ truyền thống cách mạng và là nơi để nhân dân trong vùng

và các vùng miền khác đến tham quan và học tập

1.3 Thực trạng và công tác bảo tồn các di tích

Qua khảo sát nghiên cứu về hệ thống di tích lịch sử, văn hoá huyện YênThành chúng tôi nhận thấy bên cạnh những di tích đã trở thành phế tích thì trênđịa bàn huyện đang còn rất nhiều những di tích có giá trị về lịch sử, văn hoá vàkinh tế xã hội

Các di tích lịch sử văn hoá được hình thành và tồn tại cách ngày nay hàngtrăm năm, với điều kiện tự nhiên mưa, nắng, bão, lụt… là những di tích lộ thiênnên khó tránh khỏi sự xuống cấp Thêm vào đó do nhân dân ta phải đối mặt vớihai cuộc kháng chiến ác liệt, chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cho nên không

có thời gian chăm lo bảo tồn, đây là một yếu tố khách quan khiến cho các di tích

bị tàn phá, hư hỏng nhiều Ngày nay, một thực tế hiển thị với nền kinh tế đangphát triển nhanh chóng, đã thấy xuất hiện những nhu cầu hiện đại hoá, mà lãngquên đi cái vốn có xưa kia, đẩy các giá trị văn hoá truyền thống đứng trước nguy

cơ bị phủ lấp Các khu kinh tế, giao thông mọc lên một cách không quy hoạch đãlàm ảnh hưởng tới các di tích xưa

Di tích là một thành tố quan trọng của môi trường xã hội, là thông điệpcủa quá khứ gửi lại cho các thế hệ sau và có sức trường tồn Quan tâm đến ditích, chăm lo bảo tồn di tích là một nhiệm vụ hết sức quan trọng Trong thời kỳđổi mới, công cuộc bảo tồn tôn vinh giá trị di tích đang nhận được sự quan tâmđặc biệt của nhà nước và cộng đồng Ngày nay, công tác bảo tồn di tích được coi

là lĩnh vực khoa học chuyên ngành, vốn có nét đặc thù khác hẳn với lĩnh vực xâydựng cơ bản thông thường Căn cứ vào số liệu thống kê, đến nay cả huyện cònkhoảng 192 di tích và danh thắng, đã có 34 di tích được công nhận và xếp hạngcác cấp, trong đó có 17 di tích xếp hạng cấp Quốc gia; 15 di tích xếp hạng cấptỉnh Để giữ gìn những giá trị truyền thống đặc sắc còn lưu giữ được tại các di

Trang 34

tích, việc đầu tư, tu bổ di tích ngày càng nhận được sự quan tâm to lớn của Đảng,Nhà nước và toàn xã hội Đầu tư của nhà nước được thực hiện chủ yếu thông quachương trình mục tiêu Quốc gia về văn hoá Ngân sách nhà nước đầu tư theochương trình mục tiêu chống xuống cấp và tu bổ các hạng mục cần thiết Trongnhững năm qua nhiều di tích đã được đầu tư, tu bổ, tôn tạo và đã đang trở thànhnhững sản phẩm du lịch – văn hoá hoàn chỉnh có sức hấp dẫn, bước đầu thu hútkhách tham quan, tạo ra sự chuyển biến nhận thức và ý thức cho công tác pháttriển du lịch huyện nhà trong tương lai như: đền Đức Hoàng, Nhà thờ đá BảoNham, Nhà lưu niệm Phan Đăng Lưu… Bên cạnh nguồn kinh phí đầu tư của nhànước, sự đóng góp của các tổ chức cá nhân trong và ngoài huyện ngày một tăngthêm, do đó nhiều di sản văn hoá được hồi sinh, nhiều hoạt động sinh hoạt vănhoá truyền thống được phục hồi và tổ chức tại di tích góp phần làm phong phúthêm đời sống tinh thần của nhân dân Công tác tu bổ, bảo tồn đang từng bước đivào nề nếp và tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật Việc phân loạicác di tích đưa vào quy hoạch để hưởng đầu tư bằng nguồn kinh phí của nhànước được làm thận trọng và chặt chẽ đúng quy trình, do đó chất lượng thi công,

tu bổ đạt yêu cầu về mặt khoa học Hàng chục ngôi đình, đền, chùa, nhà thờdòng tộc, có giá trị to lớn về kiến trúc, nghệ thuật đã được tu bổ như: Đình Sừng,đình Hậu, đình Liên Trì; đền Đức Hoàng, đền Cả, đền Cựa Thần; Phủ thờ TrầnĐăng Dinh, nhà thờ trạng nguyên Bạch Liêu, nhà thờ Trạng nguyên Hồ TôngThốc, đền thờ tướng công Nguyễn Vĩnh Lộc, Thám hoa Phan Tất Thông, PhanDuy Thực, Tiến sỹ Lê Doãn Nhã… Nhiều di tích lịch sử cách mạng cũng được

tu bổ như: Khu di tích Bác Hồ về thăm Vĩnh Thành, nhà lưu niệm Phan ĐăngLưu, đài tưởng niệm 72 chiến sỹ cách mạng bị thực dân Pháp xử băn 1930-1931,đình làng Xuân tiêu, nhà thờ họ Nguyễn Công…

Để làm tốt công tác bảo tồn chống xuống cấp, nhất thiết cần có sự quantâm của toàn xã hội Làm tốt công tác xã hội hoá sẽ góp phần ngăn chặn một

Trang 35

phần sự xuống cấp của nhiều di tích trong tổng số khoảng 192 di tích còn lại trênđịa bàn huyện

Một nguyên nhân khiến cho việc tu bổ di tích chưa đạt hiệu quả cao nhưmong muốn là chưa có chiến lược kêu gọi xã hội hoá sự đóng góp một cách linhhoạt, hầu hết đang có tư tưởng ỷ lại chờ ngân sách nhà nước đầu tư Kinhnghiệm thực tiễn cho thấy, người dân làng xã khi tiến hành tu bổ di tích thườngtìm một người có uy tín để bầu làm “hội chủ” kêu gọi mọi người đóng góp, côngđức Sự đóng góp đó được sự hưởng ứng của con cháu xa quê và cả nhân dânsống trong khu vực Kết thúc mỗi đợt hưng công, dân làng lại có văn bia ghi lại

ca ngợi di tích, nêu cao ý nghĩa của việc giữ gìn di tích, ghi nhận sự đóng gópcủa mọi người (văn bia còn lại tại đình Sừng; đình Hậu; đền Đức Hoàng; Đền

Cả, Đình làng Xuân Tiêu )

Mỗi địa phương cần chú trọng và phát huy mạnh mẽ vai trò của cán bộhiểu biết về chuyên môn, nhất là mỗi khi tu sửa, bảo tồn chống xuống cấp di tíchcần có sự hướng dẫn cụ thể để tránh sai lệch không đáng có Sự phối hợp chỉ đạonày góp phần nâng cao chất lượng tu bổ di tích

Tu bổ di tích là công việc cần làm muôn đời, mặc dù trong những nămqua đã đạt được những kết quả khả quan nhưng vẫn còn nhiều di tích xuống cấpnghiêm trọng cần phải được kịp thời tu bổ trong những năm tới Yêu cầu đặt ra

là vừa đẩy mạnh công tác xã hội hoá để huy động nguồn lực, vừa nâng cao nhậnthức kiến thức khoa học bảo tồn di tích, nắm vững thực trạng di tích, cùng nhữngđòi hỏi cấp bách đang đặt ra từ nhận thức ấy để quản lý chặt chẽ và triển khai cóhiệu quả các hoạt động tu bổ di tích nhằm gìn giữ những giá trị lịch sử, văn hoá,khoa học, thẩm mỹ của di tích Cùng với việc tu bổ di tích thì việc đầu tư xâydựng, sửa chữa đường xá, tạo điều kiện thuận tiện cho khách thập phương đếntham quan cũng phải được quan tâm, xem xét Có một thực tế là có nhiều di tích,thậm chí là di tích đã được xếp hạng, ví dụ như đền Đức Hoàng, phủ thờ TrầnĐăng Dinh, cụm di tích Đền Gám – Chùa Gám, mặc dầu là những di tích quan

Trang 36

trọng, có đặc điểm kiến trúc, điêu khắc đặc sắc và rất riêng nhưng lại thiếu biểnchỉ dẫn hoặc biển chỉ dẫn rất sơ sài, đường đi đến xuống cấp, đặc biệt là vào mùamưa Điều này gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến việc thu hút khách tham quan,xây dựng ngân quỹ cho việc tu tạo, bảo tồn di tích Hay nói một cách khác, việc

tu bổ di tích là rất quan trọng, đòi hỏi sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của toàn thểban ngành có liên quan và người dân, đồng thời phải có cách thức truyền bá, giớithiệu di tích, danh thắng đó rộng rãi để người dân và khách thập phương đượcbiết và cùng nhau đóng góp vào việc gìn giữ, bảo tồn nét văn hóa dân tộc, truyềnthống cách mạng đã được truyền lại từ bao đời

Tiểu kết chương 1

Có thể khẳng định rằng Yên Thành là một vùng đất có truyền thống lịch

sử và văn hoá lâu đời Nơi đây địa linh hội tụ, không những được nhiều vị vuaquan chọn làm nơi làm căn cứ để chiêu dân lập ấp của vùng Châu Diễn thờitrước mà còn là quê hương, là nơi chôn rau cắt rốn của rất nhiều trạng nguyên,tướng lĩnh, nhà lãnh đạo cách mạng tài ba Cũng giống như bao miền quê trênmảnh đất miền Trung nắng nóng gió Lào, phải chịu sự khắc nghiệt của thời tiết,

sự phức tạp của địa hình, nhưng bù vào đó lại có những người dân chịu thương,chịu khó, có tình yêu nước nồng nàn, chăm chỉ và luôn khao khát vươn lên, vượtqua khó khăn Chính vì thế mà Yên Thành vừa là một địa bàn chiến lược đồngthời là nơi sở hữu bề dày lịch sử, nền văn hóa đậm đà bản sắc và những di tíchlịch sử, văn hóa quý giá trong hệ thống di tích, danh thắng của Tỉnh nhà Trảiqua bao biến cố và thăng trầm của lịch sử và sự tàn phá của thời gian, rất nhiềunhững di tích đã bị phá huỷ trở thành những phế tích Tuy nhiên hiện nay trênđịa bàn huyện Yên Thành vẫn còn lưu giữ và bảo tồn được một số di tích rất cógiá trị về mặt lịch sử và văn hoá Trong đó có một số Đình, Đền, Chùa, nhà thờtiêu biểu đã được xếp hạng là di tích lịch sử, văn hoá cấp tỉnh và quốc gia

Trang 37

Chương 2 DIỆN MẠO MỘT SỐ

DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TIÍU BIỂU

2.1 Đình Hậu

2.1.1 Địa điểm

Đình Hậu được xđy dựng ở xứ Cồn Thụy, lăng Hậu, xê Kim Thănh, tổngQuan Hoa, phủ Diễn Chđu; nay thuộc xóm 4 trại Cồn, phía Tđy – Nam xê BắcThănh, huyện Yín Thănh, tỉnh Nghệ An

Di tích Đình Hậu nằm quay mặt về hướng Nam, phía trước đình lăđường lăng vă đồng ruộng, hai phía Đông vă phía Tđy của di tích lă khu dđn

cư, phía Bắc của di tích lă núi Cồn Thung Tổng mặt bằng kiến trúc của di

tích được bảo vệ bởi hệ thống đường bao quanh có tổng chiều dăi 150m, cóchiều cao 1,4m, dăy 0,20m

2.1.2 Nguồn gốc lịch sử

Đình Hậu lă công trình kiến trúc đời Nguyễn, lớn vă nổi tiếng ở Nghệ An,được khởi công xđy dựng từ năm Minh Mạng thứ 21 (1840) xđy nhă hạ đình;đến năm Tự Đức thứ 10 (1857) xđy thím thượng cung câch hạ đình 5m; năm TựĐức thứ 34 (1881) tu sửa lại nhă hạ đình vă xđy thím hai nhă tả vu hữu vu, hệthống cột nanh, cổng đình [ 27; 2]

Đình Hậu được nhđn dđn lăng Hậu, xê Kim Thănh cũ xđy dựng lín để lămnơi thờ cúng vă hội họp của lăng Hăng năm có nhiều ngăy cúng tế như: Tế giaothừa (1 - 1 Đm lịch), Khai hạ, Thâng 8, thâng 9 lă lễ Thường tận Đặc biệt lă lễĐại điền tổ chức văo ngăy 10 - 2 Đm lịch hăng năm được tổ chức linh đình kĩodăi ba ngăy ba đím, có tổ chức lễ rước rầm rộ, vui vẻ

Nội dung bia đâ đặt ở đình cho biết người có công xđy dựng đình Hậu lẵng Nguyễn Đăng Thiện Nguyễn Đăng Thiện lă người có công đầu trong việckhai khẩn đất hoang lập nín lăng Hậu vă xđy dựng lăng năy thănh một vùng

Trang 38

đông đúc, trù phú Khi Nguyễn Đăng Thiện qua đời, dân làng Hậu tôn ông làmthần Hoàng, rước về thờ tại đình làng Ông được triều đình nhà Lê phong sắc

“Thụy Lĩnh triệu cơ, chiêu dân lập ấp, khai canh tôn thần, dực báo trung hưng

Mỹ hiệu tôn thần” [27; 1]

Trong thời kỳ cách mạng 1930 - 1931, đình Hậu là nơi sinh hoạt của Chi

bộ Đảng xã Kim Thành Sau cách mạng tháng 8 - 1945, đình được dùng làm địađiểm tổ chức bình dân học vụ của xã Về sau đình được sử dụng làm nơi hội họpcủa các đoàn thể, sinh hoạt văn hóa của làng xã

Trong chiến trang chống Mỹ (1967 - 1968), ngôi đình làng Thượng và haingôi chùa trong vùng bị phá hỏng, nhân dân tập trung đồ tế khí và thượng phật

về bảo quản và thờ tự tại đình Như vậy, hiện nay ngoài việc thờ thần hoàng làng(Ông Nguyễn Đăng Thiện), trong đình Hậu còn thờ các vị: Đức Phật Thích Ca,Thánh Đệ Tam, Thiên Sơn Dáng Ứng Công chúa.[27;1]

2.1.3 Đặc điểm kiến trúc điêu khắc

đình (Cột nanh - Tam quan), nhà hạ đình, thượng đình và hai nhà tả hữu vu

Từ ngoài vào đình phải đi qua cổng đình Ở cổng được xây hai cột trụ lớn(90cm×90cm), phía trên dật cấp, có nghê chầu hai bên cổng là hai mảng tườngdắc đắp nối voi và ngựa châu Đường từ cổng chính đi vào đình được lát bằng

24 cột Cột cái có đường kính 0,34m, cột quân đường kính 0,30m Đá tảng cókích thước 0,6×0,6 Kết cấu vì kèo theo kiểu thượng oai hạ kẻ, mái lợp ngói âmdương, phía trước để trống, phía sau và hai bên xây tường bít đốc Nền lát gạchvuông (gạch nung) Trên các chi tiết kiến trúc của hạ đình như: vì kèo, côn, kệđược chạm trổ nhiều đề tài như: Ngũ lão giáng đình, hoa lá, vân mây, hổ phù,cầm kỳ thi tửu với những nét chạm sắc sảo và khoáng đạt Nhà hạ đình để trống,

Trang 39

phía trên xà hạ gian giữa treo bức đại tự Toàn bộ chi tiết gỗ ở hạ đình làm bằng

gỗ chò chỉ

lát gạch vuông Hai bên phải trái là hai nhà tả hữu vu được xây theo kiểu chồngdiêm bít đốc và gần đây đã được tu sửa lại mới hơn Về phần bài trí: ở nhà tả vu

và hữu vu đặt hai con ngựa gỗ bạch, tía lớn (kích thước cao 1,15m dài 1,5m)

mái lợp ngói âm dương, phía sau xây tường, còn 3 mặt đóng ván Kết cấu vì kèotheo kiểu tứ trụ, thượng oai hạ kẻ, chồng rường, chồng đấu

Trên các chi tiết kiến trúc như các xà hạ, kẻ và các vì kèo được chạm trổcác đề tài hoa lá, vân mây một cách công phu, nét chạm sắc, đẹp [bản lược ke lýlịch dt]

Ở gian giữa nhà Hậu đình đặt án thư, bàn thờ phía trên đặt long ngai bài vịcủa Nguyễn Đăng Thiện, Phật bà quan âm Hai gian phải và trái của thượng đình

là bàn thờ của cao sơn, cao các Đức thánh đệ nhị, Đức thánh đệ tam, Thiên sơngiáng ứng công chúa và bàn thờ Phật

2.1.4 Các hi n v t trong di tích ện vật trong di tích ật trong di tích

Ngoài ra còn nhiều đồ tế khí khác như gươm, giáo, đại đao, chùy, tàn,…

Trang 40

2.1.5 Kết luận

Do thời gian tồn tại lâu nên một số công trình không được nguyên vẹnnhư lúc ban đầu như cổng, nhà tả hữu vu, song đền chính (hạ và thượng đình)được bảo quản tương đối nguyên vẹn, nhất là các chi tiết gỗ và các máng, đề tàichạm, khắc trong đình Trong những năm vừa qua, chính quyền địa phương đã

có nhiều cố gắng trong việc bảo vệ di tích như cử tổ bảo vệ thường xuyên trôngnom, quản lý di tích Hiện nay, đình được sử dụng làm nhà truyền thống của xã

và là điểm tham quan du lịch

Đình Hậu giá trị kiến trúc được phản ánh rõ nét từ việc bố trí mặt bằngcho đến kết cấu bộ phận khung, vì, bộ mái,…Bố trí mặt bằng của đình Hậu nóiriêng và Đình xứ Nghệ nói chung có phần khác hơn so với việc bố trí mặt bằngkiến trúc của đình làng Bắc Bộ

Thứ nhất, đình Hậu và đình xứ Nghệ nói chung không có kiến trúc tiền tế.Thứ hai, đình xứ Nghệ có nhà Hậu cung nhưng không gắn liền với Báiđình theo kiểu kiến trúc “chuôi vồ” mà lại cách biệt với Bái đình tạo thành mặtbằng kiến trúc theo kiểu chữ “Nhị”

Theo tài liệu nghiên cứu tìm hiểu và khảo sát hệ thống Đình còn tồn tạitrên đất Nghệ An cho thấy cách bố trí mặt bằng kiến trúc như đình Hậu rất hiếm

có Theo giáo sư Trịnh Cao Tưởng cho biết: hiện nay trên đất Việt Nam chỉ duynhất ở xứ Nghệ có đình Hậu và đình Võ Liệt là hai đình duy nhất bố trí mặt bằngkiến trúc theo kiểu chữ khẩu, nghĩa là phía trước nhà Bái đình, phía sau nhà Hậucung, hai bên là hai Tả - Hữu vu, ở giữa là khoảng sân “trung thiên” với cách bốtrí mặt bằng kiến trúc như thế cộng với yếu tố vị trí địa lý, địa thế , hướng, cũngrất được người xưa quan tâm trong việc xây dựng đình Hậu

Từ đó chúng ta thêm hiểu: việc xây dựng đình trước đây cha ông ta rất chútrọng về việc xem thế đất, thuyết phong thuỷ và hướng của Đình Xuất phát từ ýnghĩa và quan niệm như xưa, những người xây dựng đình Hậu đã chọn cho đìnhmột thế đất có thể nói rất đẹp Đình quay về hướng Nam, đình dựa vào thế núi

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An (2008), Lịch sử Đảng bộ Nghệ An. Tập III (1975 – 2005), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Nghệ An. Tập III (1975 – 2005)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
3. Nguyễn Đổng Chi (chủ biên) (1995), Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1995
4. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1992
5. Nguyễn Đăng Duy (1993), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Nxb Bộ VH - TT và trường Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Bộ VH -TT và trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Năm: 1993
6. Ninh Viết Giao (2000), Tục thờ thần và thần tích Nghệ An, Sở Văn hoá Thông tin Nghệ An. Yên Thành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục thờ thần và thần tích Nghệ An
Tác giả: Ninh Viết Giao
Năm: 2000
7. Ninh Viết Giao (2003), Văn hóa Nghệ An, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Nghệ An
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2003
8. Ninh Viết Giao (2008), Từ điển nhân vật xứ Nghệ, Nxb Tổng hợp Huyện Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển nhân vật xứ Nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Tổng hợp HuyệnHồ Chí Minh
Năm: 2008
9. Ninh Viết Giao, Trần Kim Đôn, Nguyễn Thanh Tùng (2005), Nghệ An : Lịch sử và văn hoá, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An :Lịch sử và văn hoá
Tác giả: Ninh Viết Giao, Trần Kim Đôn, Nguyễn Thanh Tùng
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2005
10. Nguyễn Duy Hinh (1996), Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội. Hà Nội
Năm: 1996
11. Hippolyte Le Breton (2005), An Tĩnh cổ lục, Nxb Nghệ An, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Tĩnh cổ lục
Tác giả: Hippolyte Le Breton
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2005
12. Nguyễn Quang Hồng (2003), Huyện Yên Thành, quá trình hình thành và phát triển (1804 - 1945), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyện Yên Thành, quá trình hình thành vàphát triển (1804 - 1945)
Tác giả: Nguyễn Quang Hồng
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2003
13. Bùi Dương Lịch (1993), Nghệ An kí, Nguyễn Thị Thảo dịch, Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An kí
Tác giả: Bùi Dương Lịch
Nhà XB: Nxb Khoa họcxã hội. Hà Nội
Năm: 1993
14. Ngô Sĩ Liên (1969), Đại Việt sử kí toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử kí toàn thư
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1969
16. Nhà xuất bản Khoa học Hà Nội (1997), Văn hóa truyền thống các tỉnh Bắc Trung Bộ, Kỷ yếu hội thảo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa truyền thống các tỉnh BắcTrung Bộ
Tác giả: Nhà xuất bản Khoa học Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Hà Nội (1997)
Năm: 1997
17. Nxb Nghệ An (1997), Văn hóa dòng họ Nghệ An, Kỷ yếu hội thảo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dòng họ Nghệ An
Tác giả: Nxb Nghệ An
Nhà XB: Nxb Nghệ An (1997)
Năm: 1997
18. Nxb Nghệ Tĩnh (1990), Lịch sử huyện Yên Thành. xuất bản Nghệ An (1996), Lịch sử xã Phúc Thành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử huyện Yên Thành. " xuất bản Nghệ An(1996)
Tác giả: Nxb Nghệ Tĩnh (1990), Lịch sử huyện Yên Thành. xuất bản Nghệ An
Nhà XB: Nxb Nghệ Tĩnh (1990)
Năm: 1996
19. Lê Xuân Quang (1996), Thờ thần ở Việt Nam (2 tập), Nxb Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thờ thần ở Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Quang
Nhà XB: Nxb Hải Phòng
Năm: 1996
20. Quốc sử quán triều Nguyễn (1970), Đại Nam nhất thống chí, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb Khoa họcxã hội
Năm: 1970
21. Trần Minh Siêu (2000), Di tích danh thắng trong du lịch và tài nguyên kinh tế, Tạp chí văn hóa Nghệ An số 25, trang 19 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí văn hóa Nghệ An
Tác giả: Trần Minh Siêu
Năm: 2000
26. Sở văn hoá thông tin Nghệ An (2005), Nghệ An di tích danh thắng, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An di tích danh thắng
Tác giả: Sở văn hoá thông tin Nghệ An
Nhà XB: NxbNghệ An
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Cổng Tam quan Đình Hậu - Tìm hiểu một số di tích lịch sử   văn hóa tiêu biểu ở huyện yên thành, tỉnh nghệ an
Hình 1. Cổng Tam quan Đình Hậu (Trang 115)
Hình 2. Thượng đình, hạ đình, nhà hữu vu, tả vu Đình Hậu - Tìm hiểu một số di tích lịch sử   văn hóa tiêu biểu ở huyện yên thành, tỉnh nghệ an
Hình 2. Thượng đình, hạ đình, nhà hữu vu, tả vu Đình Hậu (Trang 117)
Hình 3. Điêu khắc gỗ tinh xảo trên mái Thượng đình Đình Hậu - Tìm hiểu một số di tích lịch sử   văn hóa tiêu biểu ở huyện yên thành, tỉnh nghệ an
Hình 3. Điêu khắc gỗ tinh xảo trên mái Thượng đình Đình Hậu (Trang 117)
Hình 5. Nhà bái đường Chùa Gám - Tìm hiểu một số di tích lịch sử   văn hóa tiêu biểu ở huyện yên thành, tỉnh nghệ an
Hình 5. Nhà bái đường Chùa Gám (Trang 118)
Hình 11. Nhà thượng điện Nhà thờ Hồ Tông Thốc - Tìm hiểu một số di tích lịch sử   văn hóa tiêu biểu ở huyện yên thành, tỉnh nghệ an
Hình 11. Nhà thượng điện Nhà thờ Hồ Tông Thốc (Trang 119)
Hình 12. Phủ thờ Trần Đăng Dinh - Tìm hiểu một số di tích lịch sử   văn hóa tiêu biểu ở huyện yên thành, tỉnh nghệ an
Hình 12. Phủ thờ Trần Đăng Dinh (Trang 120)
Hình 13. Mặt sau Cửa Tam Quan - Tìm hiểu một số di tích lịch sử   văn hóa tiêu biểu ở huyện yên thành, tỉnh nghệ an
Hình 13. Mặt sau Cửa Tam Quan (Trang 121)
Hình 14. Nhà bái đường Phủ thờ Trần Đăng Dinh - Tìm hiểu một số di tích lịch sử   văn hóa tiêu biểu ở huyện yên thành, tỉnh nghệ an
Hình 14. Nhà bái đường Phủ thờ Trần Đăng Dinh (Trang 122)
Hình 15. Cách bố trí, điêu khắc gỗ - Tìm hiểu một số di tích lịch sử   văn hóa tiêu biểu ở huyện yên thành, tỉnh nghệ an
Hình 15. Cách bố trí, điêu khắc gỗ (Trang 123)
Hình 15. Đình Liên Trì - Tìm hiểu một số di tích lịch sử   văn hóa tiêu biểu ở huyện yên thành, tỉnh nghệ an
Hình 15. Đình Liên Trì (Trang 124)
Hình 16. Cách bố trí hạ điện và trung điện của Đình Liên Trì - Tìm hiểu một số di tích lịch sử   văn hóa tiêu biểu ở huyện yên thành, tỉnh nghệ an
Hình 16. Cách bố trí hạ điện và trung điện của Đình Liên Trì (Trang 125)
Hình 17. Ngôi nhà Phan Đăng Lưu Hình 1 đến 17: Ảnh tư liệu của tác giả qua quá trình điền dã - Tìm hiểu một số di tích lịch sử   văn hóa tiêu biểu ở huyện yên thành, tỉnh nghệ an
Hình 17. Ngôi nhà Phan Đăng Lưu Hình 1 đến 17: Ảnh tư liệu của tác giả qua quá trình điền dã (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w