1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu các di tích lịch sử văn hoá nhà nguyễn ở làng gia miêu xã hà long, huyện hà trung, tỉnh thanh hoá

121 1,7K 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu các di tích lịch sử và văn hoá nhà Nguyễn ở làng Gia Miêu xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá
Tác giả Lê Thị Thuý Huệ
Người hướng dẫn Th.S. Hoàng Quốc Tuấn
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử văn hoá
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 581,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ở đây do nguồn tài liệu và khả năng của bản thân còn hạn hẹp nên trong Khoá luận tốt nghiệp này chúng tôi chỉ nghiên cứu tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hoá ở làng Gia Miêu thuộc xã

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa lịch sử

-* -Sinh viên: lê thị thuý huệ

K43 - B1

khoá luận tốt nghiệp đại học

Tìm hiểu các di tích lịch sử - văn hoá nhà Nguyễn

ở làng Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung,

Trang 2

khoá luận tốt nghiệp đại học

Tìm hiểu các di tích lịch sử - văn hoá nhà Nguyễn

ở làng Gia Miêu xã Hà Long, huyện Hà Trung,

Trang 3

Vinh, 2006

Trang 4

Lời cảm ơn

Trong quá trình tìm hiểu và hoàn thành khoá luận này, bản thân tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của thầy giáo hớng dẫn: Th.S Hoàng Quốc Tuấn cùng các thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử, các cô, các chú ở Th viện trờng Đại học Vinh, Th viện Tổng hợp Thanh Hoá, Bảo tàng Tổng hợp Thanh Hoá, Ban Quản lý Di tích - Danh thắng Thanh Hoá

Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình quý báu của thầy giáo hớng dẫn Th.S Hoàng Quốc Tuấn và các quý thầy cô, các cô, các chú đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn

Tháng 4 năm 2006

Trang 5

Mục lục

Trang

A Dẫn luận 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài 11

3.1 Mục đích 11

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 12

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 12

4.1 Nguồn t liệu 12

4.2 Phơng pháp nghiên cứu 13

5 Bố cục của luận án 13

B Nội dung 15

Chơng 1: Làng Gia Miêu trong lịch sử 15

1.1 Điều kiện tự nhiên và dân c 15

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 15

1.1.1.1 Vị trí địa lý 15

1.1.1.2 Địa hình 17

1.1.1.3 Khí hậu 17

1.1.1.4 Sông ngòi 18

1.1.1.5 Núi đồi 19

1.1.1.6 Đất đai 21

1.1.1.7 Rừng 22

1.1.2 Đặc điểm dân c 22

1.2 Truyền thống lịch sử - văn hoá 25

Trang 6

1.2.1 Gia Miêu - một vùng địa linh nhân kiệt 25

1.2.2 Gia Miêu Ngoại trang - quê hơng nhà Nguyễn 30

Chơng 2: Các di tích lịch sử văn hoá 38

2.1 Đình Gia Miêu 38

2.1.1 Quá trình hình thành đình Gia Miêu 38

2.1.2 Nhân vật thờ tự 40

2.1.3 Đặc điểm kiến trúc điêu khắc 42

2.1.4 Tín ngỡng - lễ hội truyền thống của đình Gia Miêu 46

2.2 Lăng miếu Triệu Tờng 48

2.2.1 Nguồn gốc và sự tích 48

2.2.2 Lịch sử đối tợng thờ tự 52

2.2.3 Tín ngỡng và lễ hội truyền thống ở Lăng miếu Triệu Tờng 55

2.3 Nhà thờ họ Nguyễn Hữu 59

2.3.1 Quá trình hình thành 59

2.3.2 Đặc điểm kiến trúc, điêu khắc 60

2.3.3 Hệ thống thờ tự và các nghi thức tế lễ 63

Chơng 3: Giá trị - ý nghĩa và công tác bảo tồn các di tích lịch sử văn hoá ở làng Gia Miêu 66

3.1 Giá trị lịch sử, văn hoá 66

3.1.1 Giá trị về mặt lịch sử 66

3.1.2 Giá trị về mặt văn hoá 68

3.1.3 Giá trị về mặt kiến trúc điêu khắc 70

3.2 ý nghĩa 73

3.2.1 ý nghĩa về việc bảo tồn các giá trị truyền thống 73

Trang 7

3.2.2 ý nghÜa vÒ viÖc gi¸ trÞ v¨n ho¸ du lÞch 75

3.3 C«ng t¸c b¶o tån 76

3.3.1 Chñ tr¬ng vµ c¸c biÖn ph¸p b¶o tån 76

3.3.1.1 Chñ tr¬ng 77

3.3.1.2 C¸c biÖn ph¸p b¶o tån 79

3.3.2 Qu¸ tr×nh thùc hiÖn 80

C KÕt luËn 82

Tµi liÖu tham kh¶o 84

Phô lôc 87

Trang 8

A Dẫn luận

1 Lý do chọn đề tài

Thanh Hoá là một vùng đất cổ, có bề dày lịch sử, là một trong những

địa bàn sinh tụ đầu tiên và phát triển liên tục của ngời Việt qua các thời đại Trong lịch sử, Thanh Hoá là vùng đất "phên dậu" đầy ắp các sự kiện và nhân vật gắn liền với quá trình đấu tranh dựng nớc và giữ nớc, ngay từ cuộc khởi nghĩa Bà Triệu (248 sau Công nguyên) đến nay thì trên mảnh đất xứ Thanh đã

để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử của dân tộc Đất xứ Thanh còn là mảnh đất phát tích của nhiều triều đại lớn trong lịch sử Việt nam nh: Nhà Tiền Lê (981-1009), nhà Hậu Lê (1428-1788), nhà Trịnh (1545-1786), nhà Nguyễn (1558-1945) và cũng là nơi sản sinh ra nhiều danh nhân cho dân tộc

Vì thế vùng đất có bề dày lịch sử này đã trở thành nguồn khai thác cho nhiều đề tài nghiên cứu của giới sử học ở đây do nguồn tài liệu và khả năng của bản thân còn hạn hẹp nên trong Khoá luận tốt nghiệp này chúng tôi chỉ nghiên cứu tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hoá ở làng Gia Miêu thuộc xã

Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá - đó là vùng đất bản triều của

v-ơng triều Nguyễn

Thanh Hoá là một tỉnh đất rộng, ngời đông, thiên nhiên và lịch sử của vùng đất này đã để lại những di sản văn hoá cực kỳ quý giá, trong đó, di sản văn hoá vật thể giữ một vị trí quan trọng và tồn tại dới các dạng thức phong phú đa dạng Qua kiểm kê bớc đầu, hiện tại Thanh Hoá có hơn 1.535 di tích, danh thắng, trong đó 138 di tích đã xếp hạng Quốc gia, 383 di tích xếp hạng cấp tỉnh Do chịu tác động bom đạn khốc liệt của chiến tranh, khí hậu, thiên nhiên khắc nghiệt và một phần do ý thức của con ngời các di sản văn hoá vật thể truyền thống đang đứng trớc nguy cơ xuống cấp, biến dạng, thậm chí biến mất Khu di tích nhà Nguyễn ở làng Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá gồm đình làng Gia Miêu, lăng miếu Triệu Tờng, nhà thờ họ

Trang 9

Nguyễn Hữu cũng đang ở trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng Riêng khu vực lăng miếu Triệu Tờng - một công trình nghệ thuật nguy nga có vị trí lớn trong nền mỹ thuật Nguyễn và lịch sử mỹ thuật Việt Nam, nó đợc các vua nhà Nguyễn cho xây dựng nh một mẫu mực hoàn chỉnh hội tụ đầy đủ những thành tựu kiến trúc lăng tẩm thời Nguyễn, hiện đã bị phá huỷ hoàn toàn

Trong mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, các di tích lịch sử văn hoá nh đình, miếu, đền, chùa, danh lam thắng cảnh là một bộ phận của

di sản văn hoá dân tộc, có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống tinh thần

và tín ngỡng của nhân dân Gắn liền với nó là sự tích, truyền thuyết, tín ỡng, tôn giáo liên quan đến sự tạo thành và tồn tại của các di tích trong tiến trình lịch sử Những giá trị của di tích không chỉ đợc xem nh là bản thông

ng-điệp giữa các thế hệ mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, có chỗ đứng vững chắc trong tâm thức của ngời dân Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch nớc Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 65 (ngày 23-11-1945), đặt các công trình kiến trúc đền, miếu, đình, chùa dới sự bảo hộ của Nhà nớc Cùng với công cuộc phục hng nền văn hoá dân tộc của tổ chức UNESCO, tháng 3 năm 1984, Hội đồng Nhà nớc đã ban hành Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng các di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh; tháng 11/2001 Luật

Di sản Văn hoá đợc Quốc hội nớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua quy định rõ về mặt nội dung của di tích cũng nh công tác bảo tồn

và phát huy các di sản văn hoá dân tộc

Hiện nay khi nền kinh tế, văn hoá Việt Nam đã và đang gặt hái đợc những thành tựu đáng kể, việc tìm về cội nguồn là sự cần thiết, là yếu tố tích cực trong việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá - lịch sử Đó không chỉ là nhu cầu cần thiết của con ngời (cả trong nớc và quốc tế) mà còn

là ngành kinh tế mũi nhọn cần hớng tới

Với những lý do trên và đặc biệt là do tầm quan trọng về lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, về tiềm năng khai thác du lịch của khu di tích nhà Nguyễn gồm đình làng Gia Miêu, lăng miếu Triệu Tờng và nhà thờ họ Nguyễn Hữu ở

Trang 10

làng Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá mà chúng tôi

đã su tầm tài liệu, nghiên cứu, tìm hiểu để mong muốn góp thêm một phần nhỏ bé vào công cuộc phục hng giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá vật thể nớc nhà

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ những năm 80 của thế kỷ trớc, với sự phục hng của nền văn hoá dân tộc trên lĩnh vực bảo tồn các di sản văn hoá vật thể, công tác nghiên cứu lập

hồ sơ khoa học đề nghị công nhận và bảo vệ các di tích ở các cấp cũng nh công tác trùng tu, tôn tạo các di tích trọng điểm đợc các cấp, các ngành ở Hà Trung tiến hành và thu đợc nhiều tài liệu quý

Khi viết về Đình Gia Miêu và Lăng miếu Triệu Tờng thì sách Đại Nam

nhất thống chí, tập II, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội (1970) đã viết: "Lăng

Trờng Nguyên của Triệu tổ (Triệu tổ tức Nguyễn Kim, ông tổ đầu tiên của nhà Nguyễn, năm Gia Long thứ 5 truy tôn là Triệu tổ, miếu hiệu là Tĩnh hoàng đế) Tĩnh hoàng đế bản triều: ở núi Triệu Tờng huyện Tống Sơn Tĩnh hoàng hậu cũng hợp táng ở đây Năm Gia Long thứ 5 dâng tên lăng là Trờng Nguyên; năm Minh Mạng thứ 3 ngự chế bài minh và năm Thiệu Trị thứ nhất ngự chế bài thơ, đều khắc vào bia dựng dinh ở phía tả lăng Tơng truyền huyệt

mở miệng rồng, lúc đặt tử cung (quan tài) xong, thì cửa huyệt khép chặt lại, phút chốc có gió to ma lớn, mọi ngời đều sợ hãi chạy tan, lúc họp lại, thì núi

đá liên tiếp, cây cối um tùm, không nhận đợc mộ đâu nữa, cho nên đến nay phàm gặp sự lệ, chỉ trông vào núi để làm lễ mà thôi" [13.250] Sách Đại Nam

nhất thống chí (Văn hoá tùng th), tỉnh Thanh Hoá, (tập thợng) (á - Nam

Trần Tuấn Khải phiên dịch), Nha Văn hoá - Bộ Quốc gia - giáo dục xuất bản, Sài Gòn - 1960 chép: "Triệu tổ - Tĩnh hoàng đế Trờng Nguyên lăng (lăng Tr-ờng Nguyên của Triệu tổ Tĩnh hoàng đế triều nhà Nguyễn): ở núi Triệu Tờng trong quí huyện Lăng này hợp táng cả Tĩnh hoàng hậu là vợ Tĩnh hoàng đế nhà Nguyễn Trớc đây cha gọi là lăng, mãi tới niên hiệu Gia Long thứ 5 mới

Trang 11

tôn lên gọi là lăng Năm Minh Mạng thứ 3, ngự chế bài văn bia Đến niên

hiệu Thiệu Trị năm đầu, ngự chế bài thơ và dựng một nhà bia ở phía bên tả lăng Tơng truyền ở huyệt đó có mở sẵn Long khẩu (miệng rồng, tức là có lỗ hổng sẵn sàng từ trớc), đến khi vừa đặt tử cung (tức là quan tài đựng xác vua) vào thì chợt có một cơn ma gió sấm sét, mọi ngời đều kinh sợ chạy tán loạn đi cả Kịp lúc tạnh ma quay lại thấy núi đá chi chít, cây cỏ um tùm, không thể nào nhận đợc nơi phần mộ nữa Bởi thế, sau đây khi có tế lễ thì chỉ vọng núi

đó để lễ mà thôi. Mỗi khi các vua ngự giá bắc tuần đều có làm lễ yết mộ rất là

trọng thể Ngoài ra những ngày thanh minh hàng năm thì cắt các quan tôn thất ra làm lễ" (14.96) Sách Thanh Hoá đẹp nh tranh của H LeBertoin, in trên báo Revue indochinoise số 3, số 4 tháng 3 - 1922 (ngời dịch Phạm Thế Học), tài liệu lu trữ Th viện Khoa học Tổng hợp Thanh Hóa đã giới thiệu về Lăng miếu Triệu Tờng: "Lăng Nguyễn Kim nh một toà thành Bao quanh thành có hào nớc và cầu gạch bắc qua Lại còn hai lớp luỹ bao bọc (bức luỹ ngoài xây năm Minh Mạng thứ 16 (1835) có 4 cửa trổ theo 4 phơng, ở cửa nam có một cái vọng lâu " [12.15] Sách Những đình chùa và những nơi

lịch sử trong tỉnh Thanh Hoá của H LeBretoin, ngày 20-2-1920 khi viết về

lăng miếu Triệu Tờng (hay còn gọi là Lăng Trờng Nguyên) đã viết: "Đây là lăng mà ngời phơng Tây thờng hay biết đến và gọi là "Lăng nhà vua" thuộc làng Quí Hơng, tổng Thợng Bạn (thuộc huyện cũ Tống Sơn) Lăng có một hào ngập nớc và thành đá cao bao quanh, tạo ra cho lăng mộ cảnh tợng của một thành luỹ Tuy tiếng gọi là Thiên Tôn Sơn, nhng lăng mộ lại ở chính giữa một cánh đồng bằng Chữ sơn (nghĩa là núi, ở đây không đúng theo nghĩa đen của nó Đến năm thứ hai triều Minh Mạng (1821) lăng mộ đợc đặt lại tên theo tên núi Triệu Tờng (tức núi Thiên Tôn, hay An Tôn) và giữ tên gọi này cho

đến nay" [11.6-7]

Bên cạnh đó còn có các bài nghiên cứu nh "Bóng dáng xứ Thanh trên

đất Huế" của Phan Thuận An [1], "Một số di tích kiến trúc tiêu biểu thời Gia Long ở Thanh Hoá" của Nguyễn Ngọc Khiếu [25], "Nghệ thuật kiến trúc đình

Trang 12

Gia Miêu và Lăng miếu Triệu Tờng" [33], "Di tích ở Thanh Hoá" [32] của Phạm Văn Tuấn , "Một số t liệu về Gia Miêu ngoại trang" của Nguyễn Phúc

Ưng Ân [4]

Nh vậy, nhìn chung với những công trình vừa nêu trên có thể giúp chúng tôi nghiên cứu một cách cụ thể hơn về quê hơng họ Nguyễn, cung cấp nội dung khoa học rất phong phú và đa dạng, thấy đợc những đóng góp của

xứ Thanh, đó là niềm tự hào của con ngời xứ Thanh

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích

Chúng tôi chọn đề tài "Tìm hiểu các di tích lịch sử văn hoá nhà

Nguyễn ở làng Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá" với mục đích:

- Trình bày một cách hệ thống về quá trình hình thành làng Gia Miêu, tình hình c dân, đình Gia Miêu, lăng miếu Triệu Tờng và nhà thờ họ Nguyễn Hữu để hiểu thêm Gia Miêu Ngoại trang là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi phát tích vơng triều Nguyễn có một quần thể di tích có giá trị lớn của nhà Nguyễn

- Nghiên cứu về đình Gia Miêu, Lăng miếu Triệu Tờng, nhà thờ họ Nguyễn Hữu ngoài việc nhằm phác hoạ lên bức tranh toàn cảnh về quê hơng nhà Nguyễn mà còn cho thấy kiến trúc điêu khắc thời Nguyễn với những đặc trng cơ bản Đồng thời góp một phần vào việc giữ gìn và bảo tồn một quần thể

di tích nhà Nguyễn có giá trị lớn trong công cuộc phục hng nền văn hoá dân tộc

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Khi nghiên cứu về đề tài này chúng tôi chỉ có tham vọng nghiên cứu xung quanh về quần thể di tích của nhà Nguyễn (đình Gia Miêu, Lăng miếu

Trang 13

Triệu Tờng, nhà thờ họ Nguyễn Hữu) với việc việc bảo tồn phát huy tác dụng của khu di tích, chứ không có tham vọng tìm hiểu sâu suốt thời nhà Nguyễn Với những tài liệu có đợc cha phải là nhiều, do thu thập tài liệu còn gặp nhiều khó khăn và trình độ năng lực còn hạn chế Mặt khác đây là lần đầu tiên đợc nghiên cứu về quê hơng của một triều đại lớn trong lịch sử nên trong cách viết

và cách đánh giá có phần nào bị hạn chế, tôi rất mong đợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn quan tâm đến vấn đề này

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn t liệu

Để hoàn thành khoá luận chúng tôi đã tham khảo một số công trình nghiên cứu gồm: Đại Nam nhất thống chí (1970), tập II, NXB Khoa học xã

hội Hà Nội [13]; Đại Việt sử ký toàn th, tập I, II, III, NXB Khoa học xã hội,

Hà Nội [15], [16], [17]; Đại Nam nhất thống chí (1960) tỉnh Thanh Hoá, tập

thợng, Nhà văn hoá Bộ quốc gia giáo dục [14]; Lê Quý Đôn toàn tập (1978),

Đại Việt thông Sử, tập 3, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội [18]; Lịch sử Đảng

bộ huyện Hà Trung, tập I [19]; Hà Long những chặng đờng lịch sử [20];

Đình chùa lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam [21]; Gia phả họ Nguyễn trớc Gia Long của Tôn Thất Hân [23]; Việt Nam danh nhân từ điển của Nguyễn

Huyền Anh [3]; Thanh Hoá Quan phong của Vơng Duy Trinh [37]; Lịch sử Thanh Hoá, tập III, tập IV của Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh

Hoá [9], [10]; Thanh Hoá di tích và thắng cảnh (2000), tập 1, Bảo tàng tỉnh

Thanh Hoá [5]; Thanh Hoá thời kỳ 1802-1930 (kỷ yếu hội thảo khoa học)

[6] Các tài liệu nói trên ít nhiều đã viết khái quát về làng Gia Miêu và Lăng miếu Triệu Tờng

Ngoài ra còn có một số học giả nớc ngoài đã nghiên cứu về vấn đề này nh: Thanh Hoá đẹp nh tranh [12]; Những đình chùa và những nơi lịch sử trong tỉnh Thanh Hoá [11] của H Le Bretoin

Trang 14

Bên cạnh đó chúng tôi còn tham khảo một số bài nghiên cứu ở các tạp chí nh: "Bóng dáng xứ Thanh" của Phan Thuận An [1], "Di tích ở Thanh Hoá" [32], "Nghệ thuật kiến trúc đình Gia Miêu và lăng miếu Triệu Tờng"

[33] của Phạm Văn Tuấn

Để tiến hành nghiên cứu vấn đề này còn có nguồn tài liệu dân tộc học

do chúng tôi su tầm qua nghiên cứu điền dã thực tế ở địa bàn và nguồn tài liệu không kém phần quan trọng giúp chúng tôi nghiên cứu là các tài liệu văn bia, gia phả

4.2 Phơng pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài của luận án ngoài việc dựa vào các tài liệu nói trên chúng tôi đã dựa vào nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu một cách khái quát về đình Gia Miêu, lăng miếu Triệu Tờng và nhà thờ họ Nguyễn Hữu từ đó nghiên cứu về nghệ thuật kiến trúc và đánh giá trong bối cảnh chung

Lịch sử là cần phải tái hiện một cách chân thực những sự kiện diễn ra trong quá khứ và bao giờ cũng phải rút ra đợc quy luật lịch sử của nó, đồng thời phải đặt nó trong bối cảnh chung của hiện tại

Các phơng pháp đợc sử dụng để hoàn thành luận án là phơng pháp điền dã dân tộc học là chủ đạo, chúng tôi đã tiến hành các đợt nghiên cứu diền dã,

sử dụng các phơng pháp cụ thể nh: quan sát, phỏng vấn, ghi chép các truyện

kể, truyền thuyết dân gian, ca dao, tục ngữ, các thông tin hồi cố từ những ngời già và những ngời hiểu biết về xã hội truyền thống ở địa phơng

5 Bố cục của Khoá luận

Ngoài phần phụ lục, tài liệu tham khảo luận án đợc chia làm 3 phần:

A Dẫn luận:

1 Lý do chọn đề tài

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3 Mục đích - phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 15

4 Nguån t liÖu vµ ph¬ng ph¸p nghiªn cøu

Trang 16

B Nội dung Chơng I Làng Gia miêu trong lịch sử

-1.1 Điều kiện tự nhiên và dân c

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Gia Miêu Ngoại trang, trớc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thuộc tổng Thợng Bạn, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung là một vùng đất rất giàu truyền thống lịch sử văn hoá hàng nghìn năm Thời nhà Nguyễn, huyện Tống Sơn đợc gọi là Quý hơng - quê gốc bản triều và đợc nhắc đến nh một miền đất thiêng

Phủ Hà Trung ở cách tỉnh thành 40 dặm về phía đông bắc, đông tây cách nhau 37 dặm, nam bắc cách nhau 39 dặm, phía đông đến biên giới huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình 23 dặm, phía tây đến địa giới hai huyện Vĩnh Lộc, Thạch Thành phủ Quảng Hoá 14 dặm, phía nam đến địa giới huyện

Đông Sơn phủ Thiệu Hoá và địa giới huyện Quảng Xơng phủ Tĩnh Gia 18 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Phong Hoá và Yên Mô tỉnh Ninh Bình 41 dặm, nguyên là đất quận Cửu Chân Từ đời nhà Trần trở về trớc gọi là huyện

Hà Trung, thời thuộc Minh cũng gọi là Hà Trung do ái Châu lãnh lệ vào phủ Thanh Hoá, đời Lê Quang Thuận thăng làm phủ, lệ vào Thanh Hoá thừa tuyên lãnh 4 huyện: bản triều vẫn theo nh thế Năm Minh Mạng thứ 19 đặt thêm phủ Hà Trung, kiêm lý huyện Hoằng Hoá, thống hạt huyện Mỹ Hoá mới đặt phủ nha kiêm lý 2 huyện Tống Sơn và Nga Sơn, thống hạt huyện Hậu Lộc Năm Tự Đức thứ 3 bỏ phần phủ, lãnh 5 huyện [13.199]

Huyện Tống Sơn ở cách phủ 21 dặm về phía bắc; đông tây cách nhau

41 dặm, nam bắc cách nhau 28 dặm, phía đông đến biển 26 dặm, phía tây đến

Trang 17

địa giới huyện Thạch Thành 18 dặm, phía nam đến địa giới huyện Vĩnh Lộc

và Nga Sơn 8 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Yên Mô và Phụng Hoá tỉnh Ninh Bình 20 dặm Từ đời Trần về trớc gọi là Tống Giang, thời thuộc Minh vẫn theo nh thế, do ái Châu lãnh, lệ vào phủ Thanh Hoá Đời Lê Quang Thuận lệ vào phủ Hà Trung, đời Trung Hng đổi gọi là Tống Sơn Huyện này

là đất cỗi gốc của bản triều, năm Gia Long thứ 3 gọi Tống Sơn là Quý huyện, Gia Miêu Ngoại trang là Quý hơng Năm Minh Mệnh thứ 19 bỏ tri huyện, do phủ kiêm lý lãnh 4 tổng, 63 xã thôn trang [13.199]

Ngày nay, Gia Miêu Ngoại trang đợc đổi thành làng Gia Miêu Ngoại thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung Với địa điểm nằm ở địa đầu của Bắc Trung Bộ Việt Nam, huyện Hà Trung phía bắc giáp tỉnh Ninh Bình, phía nam giáp huyện Hậu Lộc, phía đông giáp huyện Nga Sơn, phía Tây giáp huyện Thạch Thành và huyện Vĩnh Lộc Toạ độ địa lý của huyện là 190 57'30" đến

20010'00" vĩ độ bắc, 105045' đến 105058' kinh độ đông

Xã Hà Long nằm ở phía bắc - tây bắc của huyện Hà Trung và cũng là nơi địa đầu cửa ngõ phía bắc tỉnh Thanh gồm 3 làng: Gia Miêu Nội, Gia Miêu Ngoại và Nghĩa Đụng Theo đơn vị hành chính ngày nay thì xã Hà Long giáp xã Thành Tâm (huyện Thạch Thành), phía tây giáp xã Hà Giang, về phía nam

và phía đông giáp nông trờng Hà Giang (phờng Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn) Phía bắc là dãy núi Triệu Tờng là bức tờng ngăn cách địa giới giữa hai tỉnh Thanh Hoá và Ninh Bình Xã Hà Long với vị trí địa lý nằm ở cửa ngõ then chốt của tỉnh Thanh Hoá và đặc biệt đây là mảnh đất đã từng chứng kiến những sự kiện lịch sử quan trọng đó là cuộc hành quân của Quang Trung - Nguyễn Huệ đánh tan 29 vạn quân Thanh ra khỏi bờ cõi nớc ta vào mùa xuân

1789 Với chiến công này thì vai trò vị trí của phòng tuyến Tam Điệp cùng với sự đóng góp của nhân dân Hà Trung thì Thanh Hoá mãi mãi ghi vào lịch

sử dân tộc trong sự nghiệp chống xâm lợc Mãn Thanh vào cuối thế kỷ XVIII

1.1.1.2 Địa hình

Trang 18

Là vùng tiếp giáp giữa trung du và đồng bằng ven biển cho nên về địa hình Hà Trung chia thành 2 dạng địa hình cơ bản là vùng bán sơn địa và vùng

đồng bằng chiêm trũng Địa hình nghiêng dần từ Tây Bắc xuống đông nam

Xa kia Hà Trung là một vùng đất nhiều núi đồi bao bọc, chen lẫn với các xứ

đồng thấp trũng quanh năm ngập nớc bị chia cắt bởi núi, sông Về mặt địa hình theo các nhà địa lý học Việt Nam và Thanh Hoá thì huyện Hà Trung và thị xã Bỉm Sơn đợc xếp là "vùng cảnh quan núi đồi thấp", cùng với phần nhỏ huyện Thạch Thành, Hoằng Hóa thì đây chính là "phần rìa đông của phức nếp lồi sông Mã tiếp nối với dải núi đồi thấp Hoà Bình, Thanh Hoá ở phía tây - tây bắc" Dạng địa hình chủ yếu của Hà Trung là bao gồm các đồi, núi thấp xen kẽ với các mảnh bán bình nguyên cổ, giữa chúng là các thung lũng dạng xâm thực, bồi tụ hoặc thung lũng lũ tích

Xã Hà Long là một trong 6 xã đợc công nhận là xã miền núi trong tổng

số 25 xã, thị trấn của huyện Hà Trung Bên cạnh những dãy núi chạy ôm vòng lấy địa hình toàn xã là những mảnh đồng nhỏ hẹp dùng để trồng lúa và trồng màu Đồng ruộng ở đây là đất thịt pha, hơi bạc màu còn đồi núi là đất đỏ bazan, vì thế mà địa hình Hà Long mang nặng tính chất của một trung du - miền núi Do ở liền kề một đồng bằng ven biển, vì thế vùng đất Hà Long là nơi bắt đầu cảnh quan miền núi, lại vừa có cảnh quan của một đồng bằng chuyển tiếp

1.1.1.3 Khí hậu

Khí hậu ở đây là kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa nóng, lạnh

rõ rệt Sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn

đã viết về khí hậu huyện Tống Sơn nh sau: "Miền rừng núi thờng có gió tây, khí sắc âm u, cho nên cha đến tiết tiểu hàn, đại hàn mà ở rừng núi đã rét trớc Biển thờng có gió nồm, khí sắc sáng sủa cho nên cha đến tiết tiểu thử, đại thử

mà ở biển đã nóng trớc" [13.213] Nhng ngày nay thì nhiệt độ bình quân hàng năm là 2306, lợng ma 1.450mm, mùa hè nóng ẩm hớng gió chính là đông nam

Trang 19

và tây nam, bão thờng có vào tháng 6 - 10, mùa đông thì hanh và rét hanh,

s-ơng mù vào mùa đông và mùa xuân

Nhìn chung so với khí hậu trong tỉnh thì Hà Trung có phần nào dễ chịu hơn và ôn hoà hơn do là huyện đầu mút tiếp nối với Bắc Kỳ cho nên về mùa

đông thờng lạnh hơn từ 1-20, mùa hè giảm 1-20 Tuy nhiên vẫn có nơi chịu

ảnh hởng của các đợt gió Tây Nam nhng độ khô nóng của nó thấp hơn Với

địa hình đa dạng nh vậy chúng ta có thể chia thành 3 tiểu vùng: Tiểu khí hậu

đồng bằng, tiểu vùng khí hậu ven biển và tiểu vùng khí hậu trung du miền núi

Xã Hà Long thuộc tiểu vùng khí hậu trung du miền núi: Nhiệt độ vừa phải, mùa đông tơng đối lạnh và khô, mùa hạ nóng nhiều về ban ngày, dịu hơn về ban đêm Lợng ma ở đây thuộc vào loại trung bình, độ ẩm lớn, gió ít mạnh hơn Thiên tai chủ yếu cần đề phòng là rét đậm, lũ, sơng giá, sơng muối, gió bão Nói chung khí hậu vùng này thất thờng hơn hai vùng trên nhng

nó vẫn phù hợp với việc phát triển các loại cây công - nông - lâm

Theo sách Đại Nam nhát thống chí" sông Tống Giang ở địa phận

huyện Tống Sơn, nguồn từ khe Thạch Bàn huyện Phụng Hoá tỉnh Ninh Bỉnh chảy vòng vào địa phận huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá đổ xuống địa phận núi Trang Ch huyện Tống Sơn, chảy về phía nam qua cầu Hội Thuỷ xã Quang Lang, về phía đông đến cửa quan Thanh Dán thì chia làm 2 chi: một chi chảy về phía nam đến cửa kênh Nga rồi họp với sông Mã mà đổ xuống cửa biển Bạch Câu, một chi chảy về phía đông đến sông Chính Đại rồi hợp với sông Trinh, sông Cân mà ra biển" [13.235]

Trang 20

Sông Tống bắt nguồn ở phía bắc thuộc hệ thống núi Tam Điệp của Ninh Bình - Thanh Hoá do hai nhánh chính hợp thành: Một nhánh bắt nguồn

từ núi Khê Cái (Tam Điệp) gọi là sông Long Khê, một nhánh từ núi Nghĩa

Đông đổ về và hợp lại thành sông Tống ở chân núi đồi chùa gần làng Gia Miêu (xã Hà Long) Từ Hà Long, sông Tống chảy vòng theo hớng đông - nam qua các vùng Trạch Lâm (Bỉm Sơn), Hà Bắc, cầu Tống Giang rồi đổ về sông Hoạt ở cầu Chợ Huyện (tức cầu Hội Thuỷ, cầu Quang Lãng - xã Hà Dơng hiện nay) Ngoài ra, sông Tống còn có nhánh cách cầu Chợ Huyện vài trăm mét về phía bắc đi qua xã Hà Dơng, Hà Vân để đổ về họp với sông Hoạt ở cửa quan Thanh Đớn (xã Hà Thanh) Khi hợp với sông Hoạt rồi thì không còn gọi

là sông Tống nữa, cho nên khi viết về sông ngòi Hà Trung ngời ta chỉ viết chung về hệ thống sông Hoạt

Lu lợng nớc của sông Tống Giang tiếp nhận từ các chi nhánh sông suối

ở vùng núi Tam Điệp cũng không phải là ít, sông có chiều dài 15km, hệ số uốn khúc là 1,5m, mức nớc mùa kiệt: 0,6-0,9m Công tác thuỷ lợi ở sông Tống sẽ góp phần giải quyết thoát nớc về mùa lũ, giữ nớc về mùa khô

1.1.1.5 Núi đồi

Hà Long là xã lớn nhất huyện Hà Trung, núi đồi chiếm 75% diện tích

đất đai toàn xã (4.714,05ha)

Núi Triệu Tờng đợc sách Đại Nam nhất thống chí viết: "Núi Triệu

T-ờng: ở cách huyện Tống Sơn 25 dặm về phía tây bắc trong núi có lăng Triệu Tờng Mạch núi từ huyện Thạch Thành nh chuỗi ngọc kéo xuống, nổi lên 12 ngọn liền nhau, cỏ cây xanh tốt trông nh gấm vóc; ở phía đông - bắc có núi Tam Điệp đến núi Thần Phù chạy dài ở phía tả; ở phía tây có núi Điền Doanh, núi Trạch Lâm, núi Trang Chữ chạy vòng ở phía hữu Nớc khe Rồng xuống Tống Giang lợn vòng ở đằng trớc, xa gọi tên là núi Am, lại gọi là núi Thiên Tôn, năm Minh Mạng thứ hai phong tên hiện nay, đợc thờ theo vào đàn Nam Giao; năm thứ 17 khắc hình tợng vào Cao đỉnh, liệt làm danh sơn, chép trong

điện thờ" [13]

Trang 21

Cũng chép về núi Triệu Tờng, sách Thanh Hoá tỉnh chí lại tả: "Núi

Triệu Tờng: ở Quý hơng Tống Sơn Về thế núi là dãy núi trên dới mấy chục dặm hàng nghìn ngọn cao chót vót chen nhau, hai bên tả hữu có sông nớc Cửu Chân muôn ngọn triều về Thực là nền móng chung đúc tốt đẹp nghìn vạn năm của bản triều Núi từ tây bắc mà đến liên tiếp mời hai đỉnh cao chạy dài Cây cối một màu xanh tốt trông xa đẹp nh gấm ngọc Giữa nơi um tùm trũng xuống có vùng đồng ruộng, có giếng hình tròn Bên tả có bia ngự chế, bên hữu có miếu thờ thần Phía trớc có nền vuông để lễ lạy ở đấy cả Tên cũ là

Am Sơn lại còn gọi là núi Thiên Tôn Đầu thời Minh Mạng mới quyết định gọi nh ngày nay Thực ra gọi nh thế là nêu đợc khí thế tốt đẹp phát đạt lâu dài của cảnh sầm uất vậy" [34]

Nh vậy, núi Triệu Tờng không phải là một ngọn núi hay một ngọn đồi

cụ thể mà đó là cả một hệ thống núi đồi ở đất Quý Hơng (quê hơng Nhà Nguyễn) kéo dài từ tây - bắc xuống đông - nam (tức là từ Thạch Thành kéo vòng xuống đến tận núi Tam Điệp - Dốc Xây)

Mặc dù núi đồi chập chùng, liền khoảnh nh bát úp, các dãy núi đồi vẫn

có tên cụ thể đợc phân bổ nh sau:

- ở phía tây - bắc (giáp với Thạch Thành) có núi Hang Treo (cao 201m) ở đó có một hang đá có thể chứa đợc tới hàng trăm ngời Thời cách mạng phản đế cứu quốc (1941), tại Hang Treo - đội du kích Ngọc Trạo ra đời

Đó là lực lợng vũ trang đầu tiên của phong trào cách mạng Thanh Hoá (sau khởi nghĩa Bắc Sơn) Trong bản đồ và cũng nh trong thực tế, Hang Treo nằm hoàn toàn ở phần đất Hà Long

- Cách trung tâm xã 2,5km còn có dãy núi Đụn (cao 118,5m), với diện tích gần 10.000m2, trong đó cũng có một hang khá rộng, lối vào không khó lắm Bên trong hang là cả một thế giới huyền ảo đầy mơ mộng Các nhũ đá vẫn còn trinh nguyên đã tạo ra rất nhiều hình thù kỳ thú Hang này có thể khai thác để phục vụ du lịch đợc

Trang 22

- Phía bắc xã là cả hệ thống núi đá vôi từ Quèn Lim Phó đến Đền Rồng

- Đền Nớc - là ranh giới giữa Hà Long với Ninh Bình Khu đền Rồng, đền

N-ớc và hệ thống núi đá vôi này cùng với hệ thống sông suối ở đây đã tạo ra một vùng cảnh quan di tích thắng cảnh khá ngoạn mục và hấp dẫn ở gần sát Quốc

lộ 1A Hiện nay, lợng khách hành hơng trong cả nớc đến đây mỗi ngày một

đông

- Ngoài ra, ở Hà Long còn có các dãy núi khác nh dãy Dơng Lãng, dãy Cao Các (cao 69,8m), dãy Pháo Đài (cao 29,5m) và các đồi nh: đồi Thiên Tôn, đồi Chùa, đồi Đá, đồi Ông Phụ, đồi Quan, đồi Chu, Rú Vành, Rú úp,

có nơi thành đá ong Nhìn chung loại đất ở vùng này nghèo dinh dỡng, canh tác không thuận lợi, cây trồng chủ yếu là cây lâu năm xen kẽ với cây hàng năm (nh mía, ngô, sắn ) Phải nói đây là vùng thổ nhỡng rất đặc thù, năng suất cây trồng nhìn chung là thấp

1.1.1.7 Rừng

Nằm giữa một vùng đồi núi với 2 dạng địa hình cơ bản là vùng bán sơn

địa và vùng đồng chiêm trũng nhìn chung không bằng phẳng lắm với những dãy núi đồi liên tiếp giữa núi Triệu Tờng ở phía tây bắc với 22 ngọn chạy xuống, phía đông có núi Tam Điệp, phía tây có núi Điếu Doanh, núi Trạch Lâm, núi Trang Tử cho nên Gia Miêu cũng nh Hà Long là một vùng có nhiều

Trang 23

rừng rậm Chứng tích rừng rậm ở đây đợc thể hiện qua những câu chuyện truyền thuyết nh phần mộ Nguyễn Kim do "hổ táng hay thiên táng" trong rừng rậm Thời Nguyễn các vùng Hà Long, Hà Giang, Hà Tiến, Hà Tân, Hà

Đông vẫn đợc xem là khu vực rừng núi và "ma thiêng nớc độc" Ngày nay với sự phát triển kinh tế thì rừng tự nhiên của Hà Trung đã bị khai thác Và ngời dân nơi đây đã làm cho rừng hồi sinh và phát triển bằng cách biến các khu vực đồi đất trở thành những địa điểm trồng các cây công nghiệp (mía, thuốc lá ) và cây lâm nghiệp (bạch đàn, thông, keo là chàm, v.v ) ở huyện

Hà Trung rừng nguyên sinh chỉ còn 300 ha rừng sến ở phạm vi 3 xã Hà Tân,

Hà Lĩnh và Hà Đông

Động vật so với trớc thì nay đã giảm rất nhiều, có thể nói là "nghèo nàn" chủ yếu động vật nuôi là gia súc, gia cầm nh trâu, bò, lợn, gà, dê, vịt

1.1.2 Đặc điểm dân c

Xã Hà Long, huyện Hà Trung đợc hình thành từ rất sớm, con ngời ở

đây có thể tự hào về quê hơng mình, một cái nôi bé nhỏ của loài ngời C dân bản địa ở đây là ngời Kinh và ngời Mờng

Khi giới thiệu về dân c của Hà Long chúng tôi đã dựa vào tài liệu của khảo cổ học, dân tộc học để thấy đợc rằng đây là mảnh đất có con ngời tụ c từ lâu đời Những chủ nhân đầu tiên trên mảnh đất Hà Long là những "Lạc dân" sinh sống và làm nghĩa vụ nh mọi thành viên của xã hội Âu Lạc Nguồn sống của con ngời ở đây chủ yếu dựa vào săn bắn và hái lợm ở hồ Bến Quân xã

Hà Long các nhà khảo cổ đã tìm thấy dấu vết của nền văn hoá Đông Sơn với các rìu đá mài, bôn có vai, gốm thô, xỉ đồng, rìu đồng lỡi xéo Điều này chứng tỏ c dân của Đông Sơn ở Hà Long không chỉ phát minh ra công cụ lao

động sản xuất bằng đồng mà còn mong muốn có những cánh đồng, thửa ruộng để trồng trọt, để tạo ra một bớc ngoặt trong sản xuất nông nghiệp, từ giã nền kinh tế hái lợm, chuyển sang kinh tế sản xuất, đẩy hái lợm, săn bắt xuống hàng thứ yếu Với sự phát triển của công cụ, nguồn thức ăn phong phú,

Trang 24

thì đời sống con ngời ngày đợc đảm bảo, vì thế mà các tụ điểm dân c nhanh chóng phát triển ở khắp nơi.

Là một vùng thuỷ thổ khắc nghiệt nhng từ xa đã giang tay đón nhận những con ngời có tấm lòng thành, biết nhờng cơm sẻ áo, chia đất rừng, chia

đất ruộng, để chim thêm tổ, lúa thêm cây Những ngời từ nơi khác đến đã biết hoà nhập vào cuộc sống của c dân địa bàn ở đây và chính họ đã trở thành c dân bản địa Hết lớp này đến lớp khác nh những lớp phù sa của các sông hết lớp phù sa này bù đắp đến phù sa khác làm cho đất đai màu mỡ, tạo cho Tống Giang - Tống Sơn với hàng chục vạn dân đoàn kết lại một khối nh Thiên Tôn

- Tam Điệp

Mảnh đất này đã thu hút dân tộc Mờng có nguồn gốc là Lạc Thổ - tỉnh Ninh Bình, ban đầu c dân này không muốn ở lại mà chỉ tạm thời đốt rẫy cỏ làm nơng sắn, mót lúa rài Nhng chính tính bền gan, kiên trì của ngời Gia Miêu mà họ đã thấy đợc đất tốt và đã định c lâu dài ở 2 thôn Nghĩa Đông,

Đụng Lợc Một số gia đình Mờng đợc chiêu dân họp thành chòm Bái Lá

Không những c dân trong nớc về tụ họp, định c ở mảnh đất này mà còn

có những c dân nớc bạn sang nh thuỷ tổ họ Lại là ông Lại Tiên có nguồn gốc

ở Trung Quốc, đất Kinh Châu sang Việt Nam trú ở xã Thần Đầu và đến Hà Trung làm nghề thầy thuốc, thầy địa lý

ở thế kỷ X, trên địa bàn xã Hà Long đã có 8 tụ điểm dân c nh Bái Nại, Trại, Bái Lạt, Trại Đụng, Trại Vóc, Trại Dềnh, Trại Vỉ, Trại Chuột, Trại Tre Khoảng cuối thế kỷ XVIII, các tụ điểm cũ và thêm những tụ điểm mới nh Ngọc Đới, Thôn Mái, Yên Vĩ, Đồng Tiền, Đồng Hậu, Đông Đô, Nội Trang, Thôn Thợng, Quảng Phúc, Khắc Ninh, Phù Nhân, Dung Dinh, Thanh Hải Những tụ điểm này về cơ bản đợc duy trì cho đến hết thời Hậu Lê Tuy nhiên, dới thời Hậu Lê, do tác động của các cuộc chiến tranh Nam- Bắc triều giữa nhà Lê và nhà Mạc, cuộc chiến tranh giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn cùng với bệnh dịch thiên tai, nhiều thôn xóm đã

bị phiêu tán hết hoặc còn rất ít ngời

Trang 25

Cho đến đầu thế kỷ XIX, trong cơ cấu của làng xã, tổng Thợng Bạn mới ổn định dần và có 12 trang, hơng bao gồm: Hơng Gia Miêu Ngoại, trang Khắc Ninh, trang Hoàng Vân, trang Yến Vĩ, trang Bảo Đới, trang Mỹ Lu, trang Động Tiền, trang Đông Hậu, hơng Gia Miêu Nội, trang Gia Miêu Th-ợng, trang Đông Đô và trang Quảng Đô

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, toàn xã có 13 làng tơng đối ổn

định đó là: Gia Miêu Nội, Gia Miêu Ngoại, Gia Miêu Thợng, Đồng Toàn,

Đồng Hậu, Đồng Bình, Phù Nhân, Hoàng Vân, Yến Vĩ, Nghĩa Đụng, Bái Lạt, Làng Vóc và Trại Dềnh

Cùng với quá trình định c là sự phát triển của các dòng họ trong suốt chiều dài lịch sử Cho đến nay trong xã đã có tới 30 dòng họ đến đây sinh cơ lập nghiệp nh: Họ Nguyễn, họ Mai, họ Bùi, họ Vũ, họ Phạm, họ Trịnh, họ Tống, họ Trần, họ Khơng, họ Lê, họ Văn, họ Hà, họ Cao, họ Hoàng, họ Đình,

họ Ngô, họ Chu, họ Đăng, họ Lại, họ An, họ Trơng, họ Tạ, họ Quách, họ

D-ơng, họ Đoàn, họ Đờng, họ Phí, họ Đỗ, họ Phan, họ Cù Trong những dòng họ trên thì ở đây có họ Nguyễn, họ Trơng, họ Bùi, họ Quách, họ Hà là những họ lớn, đặc biệt trong đó họ Nguyễn là một danh gia vọng tộc từ lâu đời

Sống trong một môi trờng địa lý không mấy thuận lợi và thiên nhiên nhiều khi khắc nghiệt, nhng ngời dân Hà Long từ xa đến nay không chỉ cần

cù lao động, thật thà chất phác mà còn biết đoàn kết dũng cảm đấu tranh chống lại thiên nhiên, vơn lên với ý chí và nghị lực lớn lao để xây dựng quê h-

ơng đất nớc Phẩm chất đó đã trở thành bản chất tốt đẹp của ngời Hà Long

1.2 Truyền thống lịch sử - văn hoá

1.2.1 Gia Miêu - một vùng địa linh nhân kiệt

Ngời xa cho rằng làng Gia Miêu nói riêng và huyện Hà Trung nói chung đất xấu nên dân nghèo, phong tục tằn tiện, điều ấy không sai vì điều kiện tự nhiên ở đây là vùng bán sơn địa, chiêm trũng nhng tiềm năng nội lực

Trang 26

lại rất phong phú Theo Phan Huy Chú một nhà Sử học lớn viết: "Núi sông sầm uất chỉ có huyện Tống Sơn là nhiều hơn", "vì là đất phát phúc to, khí tốt chung đúc còn lâu dài mãi" và "duy huyện Tống Sơn là nơi phát đạt to hơn cả" Đấy là thế mạnh, là sự giàu có về đất và ngời của làng Gia Miêu, huyện

Hà Trung vì thế mà không thiếu vắng các bậc hào kiệt Với núi, với rừng,

đồng ruộng, với sông ngòi con ngời ở đây không chỉ biết "tằn tiện" mà còn biết nuôi chí lớn, ghé vai gánh vác giang sơn Gia Miêu còn đợc coi là một vùng địa linh nhân kiệt, trên mảnh đất thiêng liêng này đã xuất hiện nhiều hào khí

"Đất ấy tài nguyên quý giá của Hà TrungNgời ấy là tài sản vô giá của Hà Trung"

Thuyết phong thuỷ học cha phải đã có một nền tảng khoa học, nhng

"địa lợi" là vô cùng cần thiết đối với đời sống con ngời, không chỉ có nông dân cần đất sinh sống mà ngời anh hùng cũng cần có đất để dụng võ Vào thời nguyên thuỷ con ngời đã tìm đến đây để c trú, thời cổ trung đại Hà Trung đợc phát hiện nh là một miền đất thiêng ở Hà Trung hơn quá nửa số làng trong huyện thờ vị thánh Tống Quốc S Ông là thầy địa lý từ Trung Quốc sang Việt Nam tìm thấy đất quý, thấy Tống Sơn hội tụ đầy đủ các yếu tố địa linh để khí thiêng sông núi đúc nên nhân kiệt

Thời phong kiến ở làng Gia Miêu nói riêng, Hà Trung nói chung quan

võ nhiều hơn quan văn Điều đó không phải do họ chuộng võ, thích võ hơn văn mà nguyên nhân "thời thế tạo anh hùng", do ngời Hà Trung muốn là "anh hùng" để "tạo thời thế", muốn thể hiện tính cách mạnh mẽ của Hà Trung Dòng máu hào kiệt luôn luôn bừng nóng trong huyết quản của họ mà tính cách của họ không mạnh mẽ sao đợc khi họ sống trên một mảnh đất bị ép giữa nớc và núi Trên núi thì có hổ và báo, dới nớc có ma vơng, thuỷ quái, họ phải vợt lên hoàn cảnh chiến thắng tất cả để tồn tại, môi trờng sống dần dần

đợc cải thiện, nớc độc hoá nớc lành, những bóng ma thiêng lui vào ký ức, văn tài ngày càng phát triển nhất là trong bối cảnh lịch sử Nho giáo thâm nhập tận

Trang 27

làng xa, xóm vắng Có nhiều dòng họ lớn ở Hà Trung nh: họ Nguyễn, họ Lại,

họ Tống nh ong san bọng tạo điều kiện học tập khổ luyện thành tài làm rạng danh Hà Trung quê cha đất tổ xứng đáng với mảnh đất địa linh nhân kiệt Theo tài liệu thì có Nguyễn Phong di c vào làng Cổ Đôi (xã Hoàng Giang, huyện Nông Cống) lấy tên lót là "Gia" để con cháu luôn nhớ mình quê ở Gia Miêu (Hà Long, Hà Trung) đời đời không quên, Nguyễn Phong vì có công diệt Mạc nên đổi thành họ Lê - Lê Sỹ Triệt, Lê Sỹ Cẩn cha con ông cháu nối nhau thi đỗ tiến sỹ

* Theo Đại Nam nhất thống chí chép về mảnh đất "địa linh nhân kiệt"

- Lê Văn Ngoạn: Ngời huyện Tống Sơn, hồi bản triều bắt đầu trung

h-ng, Ngoạn hết lòng theo đi đánh giặc, làm Phó Vệ Uý Vệ Túc Võ và Khâm Sai Cơ Chết đợc tặng Chởng Cơ, liệt thờ ở đền Hiển Trung và miếu Trung h-

ng công thần

- Lê Phúc Mỹ: Ngời huyện Tống Sơn, hồi bản triều bắt đầu trung hng,

Mỹ vào Gia Định, theo quân ngũ có công, làm Phó Vệ Uý Vệ Tín Oai, năm

Kỷ Mùi theo đi đánh Quy Nhơn bị chết trận đợc tặng Vệ uý, liệt thờ đền Hiển Trung và miếu Trung hng công thần

- Bùi Văn Nghị: Ngời huyện Tống Sơn làm khâm sai thuộc nơi cai cơ, năm Canh Tý theo đi đánh Trà Vinh bị chết trận, tặng Chởng Cơ, liệt thờ ở

đền Hiển Trung và miếu Trung hng công thần

* Theo Đại Nam thục lục [28]:

Trang 28

- Nguyễn Hán: Con trai thứ hai của Nguyễn Hoàng, khi Nguyễn Hoàng vào làm trấn thủ Thuận Hoá, để Nguyễn Hán ở lại làm con tin tại triều Lê - Trịnh, Hán tham gia việc binh, từng trải trận mạc, lập quân công đợc phong tới Tả đô đốc, tớc Lý quận công

Tháng 5 Quý Tỵ (1593), Nguyễn Hoàng đem binh thuyền ra Đông Đô (Thăng Long) yết kiến vua Lê, chúc mừng vua Lê đã thu phục đợc Đông Đô Vua Lê đã tiến phong Nguyễn Hoàng làm Trung quân Đô đốc Phủ tả Đô đốc Chởng phủ sự Thái uý Đoan quốc công Lúc đó quân Mạc đang chiếm giữ cửa sông Hoàng Giang các tớng nhà Lê là Bùi Văn Khê, Trần Bách Niên đánh không đợc, Nguyễn Hoàng xin đi đánh Vua Lê đã sai Nguyễn Hán đem quân tham chiếm cùng Nguyễn Hoàng Nguyễn Hoàng thống lĩnh hai quân dùng hoả khí và đại bác tiến đánh Nguyễn Hán đã hy sinh, hai tớng giặc Kiên và Nghĩa bị chém chết, Nguyễn Hoàng dẹp yên trấn Sơn Nam Vua Lê truy tặng Nguyễn Hán tớc Lỵ Nhân Công

Năm Gia Long thứ 2 (1803) Nguyễn Hán đợc tặng tự ở Nguyên miếu, con là Nguyễn Hắc đợc vua Lê cho tập ấm, sau Hắc làm quan đến Thái phó Con cháu Nguyễn Hán ở Thanh Hoá dòng dõi rất phồn thịnh, Năm Gia Long thứ nhất (1802) cho hệ tính là Nguyễn Hựu Em Nguyễn Hán là Nguyễn Hải (con trai thứ 5 của Nguyễn Hoàng) cũng làm tin ở Bắc, làm đến Tả đô đốc Cẩm quận công, vua Lê truy tặng Thái phó, con cháu Hải cũng đều ở Thanh Hoá

- Nguyễn Cửu Đàm: Là con Nguyễn Cửu Vân, dòng dõi Nguyễn Cửu Kiềm quê huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá

Năm 1771, Xiêm xâm lợc miền Nam, vây hãm Hà Tiên Năm 1772, chúa Nguyễn sai Chởng Cơ Nguyễn Cửu Đàm, làm khâm sai chánh thống suất đốc chiến, lĩnh 10.000 quân thuỷ và bộ thuộc hai dinh Bình Khang, Bình Thuận và 30 chiếc thuyền chiến để đối phó với quân Xiêm Nguyễn Cửu Đàm tiến quân theo đờng Tiền Giang, cùng với Cai bạ dinh Long Hồ là Nguyễn Khoa Thiêm lĩnh quan quân đạo Đông khẩu tiến do đờng Kiến Giang, lu thủ

Trang 29

Tống Phúc Hiệp do đờng Hậu Giang tiến đóng giữ châu đốc để tiếp ứng cho hai cánh quân trên Bấy giờ quân Xiêm đã lui về chiếm đóng Chân Lạp, dẹp yên Châu Lạc, Cửu Đàm thu quân về dinh, đắp luỹ Tân Hoa kéo dài 15 dặm bao quanh đồn dinh, chắn ngang đờng bộ đề phòng bất trắc Năm 1774 quân Tây Sơn đánh chiếm Quảng Nam, Nguyễn Cửu Đàm thống lĩnh tớng sĩ năm dinh (Bình Khang, Bình Thuận, Trần Biên, Phân Trần, Long Hồ) đánh bại quân Tây Sơn, thu lại đợc 3 phủ: Bình Thuận, Diên Thánh, Bình Khang

* Theo Từ điển nhân vật Lịch sử Việt Nam [36] có:

- Tống Phúc Hiệp: Danh tớng đời Nguyễn sơ, dòng dõi Luân quận công Tống Phớc Trị quê huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá

Đời võ vơng Nguyễn Phúc Khoát, ông làm Lu thủ dinh long hồ (Vĩnh Long) Năm 1772, quân Xiêm xâm lợc Hà Tiên, Mạc Thiên Tứ chạy qua Trần Giang (Cần Thơ) ông nghe báo lập tức đem quân cứu viện đánh tan giặc cớp nớc Năm Giáp Ngọ 1774, nghĩa quân Tây Sơn đánh chiếm Bình Thuận, ông nhận lệnh của tớng Nguyễn Cửu Đàm họp với cai bộ Nguyễn Khoa Thuyên lãnh tớng sĩ 5 dinh và viết hịch truyền đi khắp nơi chiêu binh đợc chúa Nguyễn phong làm tiết chế, tớc Kính quận công

Năm 1776, đại binh Tây Sơn lại vào Gia Định, ông chống cự đợc hơn 1 tháng thì lâm bệnh mà mất vào khoảng tháng 6 âm lịch, Định vơng Nguyễn Phúc Thuần truy tặng ông tớc Hữu phủ quốc công, lập miếu thờ tại dinh Long

Hồ, xã Long Châu (nay thuộc thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long) Về sau triều Nguyễn truy phong ông làm Phúc thần trung đẳng, hàng năm ngày 2 và ngày 3 tháng 6 âm lịch là ngày vía ông

Nh vậy, với mảnh đất có bề dày lịch sử không những là nơi phát tích của nhà Nguyễn mà nó còn là mảnh đất ơm mầm cho các bậc hào khí, một mảnh đất linh thiêng Ngời xa nói: Tống Sơn là đất "võ tớng khai cơ", điều này chỉ đúng ở một phơng diện nào đó hay nói một cách khác đúng nhng cha

đủ Hà Trung có nhiều tớng võ đồng thời cũng có tớng văn và không ít ngời

Trang 30

trong văn có võ, trong võ có văn Tuỳ vào hoàn cảnh "thiên thời địa lợi nhân hoà" mà phát huy tài nghệ để trở thành anh hùng hào kiệt

Từ Hậu Lê đến Nguyễn, nhân vật của Hà Trung tập trung nhiều ở những dòng họ lớn nh: Nguyễn Gia Miêu, Lại Quang Lãng, Tống Bình Lâm, Trơng Đông Toàn, Lê - Hồ Đại La họ đã đáp ứng đợc những yêu cầu của lịch sử

Đến thời kỳ Nam - Bắc phân tranh đã đặt ra nhiều vấn đề cho các nhà khoa học nghiên cứu Họ Trịnh phù Lê, họ Nguyễn cũng phù Lê, tuy nhiên mỗi bên có mỗi cách khác nhau Giới hạn sông ngòi hay thành luỹ chỉ là ranh giới tạm thôi, không ai có ý chia cắt đất nớc Những ngời Thanh - Nghệ đi theo chúa Nguyễn càng không bao giờ quên quê cha đất tổ hay gốc tích tổ tiên Nhất là ngời Hà Trung ai cũng tự hào với hai tiếng "Tống Sơn" đến hàng chục đời sau vẫn tha thiết nhớ thơng sáng ngời nét son trong gia phả

Dù ngụ c ở miền Nam hay miền Bắc những gia đình, dòng họ tiêu biểu của quê hơng Tống Sơn - Hà Trung nh họ Lại, họ Nguyễn, họ Tống, họ Tr-

ơng đều góp phần tô đậm truyền thống dân tộc gắn bó số phận mình với vận mệnh chung đất nớc

Đến năm 1883 với Hoà ớc Quý Mùi và Hoà ớc Giáp Thân ký kết giữa triều đình nhà Nguyễn và thực dân Pháp thì từ đây lịch sử dân tộc, nhân dân Gia Miêu - Tống Sơn cùng với nhân dân cả nớc lại bớc vào giai đoạn đấu tranh đầy hy sinh gian khổ

Ngày 01-9-1858, Thực dân Pháp nổ súng tại Đà Nẵng để phát động chiến tranh xâm lợc nớc ta, do sự yếu kém của triều đình nhà Nguyễn mà liên tiếp các vùng đất từ Nam ra Bắc đã lần lợt rơi vào tay kẻ thù

Ngày 13-7-1885 vua Hàm Nghi đã hạ chiếu Cần Vơng lần thứ nhất để kêu gọi toàn dân trong cả nớc nhất loạt đứng lên chống Pháp xâm lợc Hởng ứng chiếu Cần Vơng, phong trào chống Pháp xâm lợc diễn ra một cách sôi nổi, rộng khắp trong cả nớc trong suốt hơn ba thập niên cuối thế kỷ XIX

Trang 31

Tại mảnh đất Hà Trung - quê hơng của nhà Nguyễn có rất nhiều văn thân sĩ phu đầy khí phách đã đồng lòng Cần vơng chống Pháp vì nơi đây là

"vùng địa linh nhân kiệt" cho nên phong trào Cần Vơng càng có điều kiện thuận lợi phát triển nhanh chóng, mặt khác nơi đây hội đủ các yếu tố "thiên thời địa lợi nhân hoà" để tổ chức lực lợng kháng chiến Do đó trong chiếu Cần Vơng lần hai (19-9-1885) tại vùng rừng núi huyện Hơng Khê - Hà Tĩnh), vua Hàm Nghi đã không dấu giếm gì khi chọn vùng đất quê hơng làm nơi đứng chân để Cần Vơng chống Pháp: "Khi nào trừ khử đợc chúng thì đến gặp Trẫm

sẽ đóng đô tại tỉnh Thanh Hoá Đây là địa điểm quý" Trên thực tế nhiều ngời trong phái chủ chiến ở triều đình Huế (Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, Cao Bá Điểm, v.v ) hoặc những ngời đảm nhận chức ở tỉnh xa (Phạm Bành, Hoành Bật Đạt, Nguyễn Đôn Tiết, Tống Duy Tân, v.v ) đã nhanh chóng trở

về Thanh Hoá để tổ chức lực lợng chống Pháp

Nh vậy, mảnh đất Hà Long, huyện Hà Trung chính là mảnh đất màu

mỡ ơm mầm nên những nhân vật kiệt xuất của dòng họ Nguyễn trong gần 10 thế kỷ của nhà nớc quân chủ và là mảnh đất thiêng là nơi tụ c của ngời dân khắp nơi qua hàng nghìn năm, nó hun đúc các bậc hào kiệt để lại nhiều tấm gơng muôn đời cho con cháu noi theo

1.2.2 Gia Miêu Ngoại trang - quê hơng nhà Nguyễn

Theo quy luật tự nhiên mỗi con ngời sinh ra đều có một quê hơng để thơng để nhớ Cũng nh vậy mỗi triều đại trong tiến trình lịch sử cũng có nơi phát tích của mình, vùng đất xứ Thanh không chỉ là nơi phát tích của nhà Tiền Lê (981-1009), nhà Hậu Lê (1428-1788), nhà Trịnh (1545-1786) mà còn

là quê hơng của nhà Nguyễn (1558-1945)

Ngợc dòng quá khứ về với lịch sử thì Gia Miêu Ngoại trang và huyện Tống Sơn không phải khi nhà Nguyễn lên ngôi mới đợc mang danh là quê h-

ơng của nhà Nguyễn mà phải kể từ khi Nguyễn Hoàng mang gơm đi mở đất phơng Nam và xây dựng cơ nghiệp ở Đằng Trong thành một Quốc gia riêng với 9 đời chúa Nguyễn Nếu triều đại Tây Sơn có công đặt những viên gạch

Trang 32

đầu tiên xây dựng thống nhất quốc gia, xóa bỏ sự phân chia Đằng Trong -

Đằng Ngoài thì vơng triều Nguyễn đợc thành lập đã kế thừa thành quả và trên cơ sở đó tạo những điều kiện thuận lợi để củng cố nền thống nhất đất nớc từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau

Nguồn gốc của vơng triều Nguyễn, theo Gia phả dòng họ Nguyễn Bặc:

An thành hầu Nguyễn Kim là con trai Nguyễn Văn Lu, cháu gọi Nguyễn Huân Vơng, Nguyễn Văn Lang là chú, gọi Nguyễn Quốc Trung (Trinh Quốc Công) là bác, là anh họ An Quận Công Nguyễn Hoằng Dụ

Trong cuốn Gia phả họ Nguyễn trớc Gia Long, lời tựa của Ngự chế Ngọc Điệp thế hệ (sổ ghi hộ khẩu dòng họ) nói là "Tổ Quốc An Nam xuất

hiện từ một thời xa xa Dòng họ ta (chỉ họ Nguyễn) có lịch sử lâu đời Tuy nhiên các việc tìm tòi ngợc lên các triều đại: Đinh, Lê, Lý, Trần tuy rằng làm

tỷ mỷ nhng không đa đến kết quả Tập Ngọc phả tức là Gia phả của Hoàng tộc chỉ bắt đầu từ Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế, vì ông có nhiều chiến tích và sống gần thời đại chúng ta" [23.1]

Nh vậy, Nguyễn Kim đợc tôn là Triệu Tổ của nhà Nguyễn, xuất phát

từ Gia Miêu Ngoại trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, nay là xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá Trải qua thời gian, hiện tại thì dấu vết của dòng họ này trên vùng đất Gia Miêu chỉ còn nhà thờ họ Nguyễn Hữu, đình làng Gia Miêu đã xuống cấp nghiêm trọng và Khu lăng miếu Triệu Tờng - nơi

xa kia các vua triều Nguyễn thờng về cúng tổ hàng năm nay đã bị phá huỷ hoàn toàn

Có thể nói quê hơng Gia Miêu là mảnh đất mầu mỡ, ơm mầm cho những tài năng Chính những nhân vật lịch sử kiệt xuất của dòng họ Nguyễn trong gần 10 thế kỷ của nhà nớc quân chủ đã thể hiện đầy đủ những phẩm chất, tinh thần và nghị lực tốt đẹp của quê hơng và chính họ đã góp phần làm rạng danh vùng đất Gia Miêu - Hà Long trong lịch sử Tổ quốc

Nguyễn Bặc - ngời bạn thuở niên thiếu từng tham gia giúp Đinh Bộ Lĩnh ngay từ buổi đầu dựng nghiệp lập nhiều công tích lớn đợc phong là Định

Trang 33

Quốc Công (năm 971) đó là vị tiên tổ của một dòng họ Nguyễn lớn ở làng Gia Miêu

Theo gia phả dòng họ Nguyễn trên đất Thanh cho rằng tình nghĩa của Nguyễn Bặc đối với Đinh Bộ Lĩnh không những gắn bó sâu sắc từ thuở thiếu thời mà sau này, sự nghiệp của Đinh Bộ Lĩnh lập nên nhờ vào sự giúp đỡ tận tình của Nguyễn Bặc Vào năm 979 chính Nguyễn Bặc là ngời phát hiện, bắt

đợc hung thủ Đỗ Thích kẻ sát hại Đinh Bộ Lĩnh Ông đã một lòng phò tấu ấu chúa Đinh Toàn (lúc đó mới 6 tuổi) lên ngôi Hoàng đế Nh vậy đối với nhà

Đinh, Nguyễn Bặc đã giữ một trọng trách lớn với một đạo nghĩa sâu nặng Tại làng Gia Miêu còn lu truyền nhiều truyện truyền ngôn về Đinh Bộ Lĩnh cùng tớng của ông trong quá trình "dẹp loạn 12 sứ quân" đã lấy vùng đất này làm căn cứ tuyển quân tập trận Điều đó chứng tỏ rằng Nguyễn Bặc với nhiều lần qua lại đã trở thành ngời nhà của vùng Gia Miêu trong những ngày đầu dựng nghiệp, cho nên những ngày sóng gió, quê hơng Gia Miêu là nơi nơng tựa tin cậy cho con cháu dòng họ Nguyễn Chẳng những thế ở làng Gia Miêu họ Nguyễn phát triển thành nhiều chi phái theo thời gian đã sản sinh ra nhiều ng-

ời u tú

Theo dòng chảy của lịch sử, dòng họ Nguyễn ở Gia Miêu đã có nhiều cống hiến nổi bật Sử sách và các gia phả của nhiều chi, phái dòng họ Nguyễn trên đất Thanh Hoá cũng nh ở Gia Miêu, ở làng Phung Dực (Hoằng Hoá), làng Bồng Trung (Vĩnh Lộc) đã khẳng định công tích của nhiều danh nhân thuộc dòng họ Nguyễn

Nguyễn Đệ (con trai Nguyễn Bặc) đã gác thù cha làm tớng dới triều Lê Hoàn và Lê Ngoạ Triều để giúp nớc, sau này ông cùng Đào Cam Mộc có công dựng lên triều Lý, ông đã trở thành một trong những vị khai quốc công thần của triều đại này với chức vụ Đô hiệu kiểm Thế hệ con cháu của họ Nguyễn kế tiếp nh Nguyễn Quang Lợi (chức Thái uý Hoà quốc công) cùng

em là Nguyễn Viễn (chức Tả tớng quốc Tham tri chính sự) dới đời vua Lý

Trang 34

Nhân Tông đều là tỳ tớng thân tín của Lý Thờng Kiệt Nguyễn Phụng giữ chức Tả đô đốc dới thời Lý Anh Tông

Đầu thời Trần có Nguyễn Nộn là Hoài Hiếu Vũ Nơng, các con trai của

ông đều giữ chức vụ trọng trách nh Nguyễn Thế Tứ giữ chức Đô hiệu Kiểm (đời Trần Thái Tông), Nguyễn Long chức Thái phó Quận công, Nguyễn Hiến giữ chức chỉ huy sứ, Nguyễn Thức giữ chức Tả đô đốc, chỉ huy quân Thánh Dực và quân Nghĩa Dũng có nhiều công trạng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên dới đời Trần Nhân Tông, Nguyễn Viễn là Viên ngoại lang t đời Trần Thánh Tông, cháu Nguyễn Nộn là Nguyễn Nạp Hoà giữ chức Hữu hiệu kiểm

đời phế đế Trần Hiện

Từ khởi nghĩa Lam Sơn đến hết thời Lê Sơ (1417-1528), các thế hệ con cháu họ Nguyễn ở Gia Miêu đã có mặt liên tiếp trong hàng ngũ công thần các triều vua

Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa đánh đuổi giặc Minh, Nguyễn Lý và Nguyễn Công Duẩn cùng nhiều hào kiệt khác ở làng Gia Miêu đã tham gia từ buổi đầu, dự nhiều trận đánh quan trọng nh trận mai phục ở Cần Trạm (phía dới Chi Lăng) để đánh viện binh cho Liễu Thăng chỉ huy, Lơng Minh làm phó tớng đều bị ta tiêu diệt và trận Xơng Giang ngày 3-11-1427

Nguyễn Công Duẩn đợc coi là một công thần "Bình Ngô khai quốc" là một hào trởng ở làng Gia Miêu, ông đã ủng hộ nghĩa quân ngay buổi đầu Lam Sơn tụ nghĩa Ông có nhiều chiến công nh đánh tan quân Mộc Thạnh ở

ải Lê Hoa 1427 song công lao lớn nhất của ông là đảm bảo quân lơng cho nghĩa quân Buổi đầu ở Lũng Nhai ông tiếp tế 3.500 thạch lơng giúp nghĩa quân phòng thủ ở Linh Sơn Khi Lê Lợi tiến vào Nghệ An, ông đã tiếp 5.500 thạch lơng cùng 300 thùng mắm muối Với những công lao đó, ông đợc vua

Lê Thái Tổ phong làm Thái bảo hoành công, con cháu đời đời làm công thần nhà Lê Vua còn xuống chiếu tuyên dơng công trạng và tặng ông làm Phụng trực đại phu Đô kiêm sự, lĩnh việc quân dân ở huyện nhà Vua còn ban cho

Trang 35

ông 470 mẫu 5 sào đất trong huyện và đợc ban truyền cho con cháu muôn

đời

Dới thời Hậu Lê, làng Gia Miêu nổi lên một số nhân vật kiệt xuất nh Nguyễn Đức Trung (một trong bảy ngời con của Nguyễn Công Duẩn) đã có nhiều công tích thời vua Lê Thánh Tông Ông đã cùng các quan văn võ phế truất Nghi Dân lập vua mới là Lê Thánh Tông, giúp vua xây dựng quân đội, giữ yên đất nớc Con gái thứ hai của Nguyễn Đức Trung là Nguyễn Ngọc Hằng lấy Lê Thánh Tông sinh ra vua Lê Hiến Tông, đợc tôn phong làm Huy Gia Hoàng thái hậu Nh vậy bà Hằng là Quốc mẫu đầu tiên của ngời Gia Miêu sau này

Nguyễn Văn Lang (triều vua Lê Hiến Tông 1497) là ngời thông hiểu thao lợc, sành sỏi phép dụng binh, giỏi cả việc suy nghiệm thiên thời, sức có thể đánh đợc hổ Năm 1509, Uy Mục Đế đuổi những bầy tôi có công trong đó

có Nguyễn Văn Lang Trở về Gia Miêu, ông tập hợp binh lính tại quê nhà

đem quân tiêu diệt nghịch thần trong triều phế truất Uy Mục Đế và tôn Tơng Dực Đế lên ngôi Ông đợc vua phong tớc Nghĩa quốc công, khi mất đợc phong là Nguyễn Huân Vơng Nguyễn Văn Lu (em Nguyễn Văn Lang) cũng

có nhiều công tích đã làm tới chức Phủ Bình Hầu, Hoằng Dụ (con Nguyễn Văn Lang) cũng có nhiều chiến công đợc phong tớc Yên Hoà hầu

Thời Lê Trung hng, Nguyễn Kim - ngời Gia Miêu ngoại trang (cháu Nguyễn Văn Lang) đã tập hợp các thế lực chống Mạc, chiếm giữ vùng Thanh Hoá, Nghệ An lập thành chính quyền riêng với danh nghĩa "Triều Lê Trung Hng" Không chịu khuất phục nhà Mạc ông đã sang Ai Lao đợc vua Sạ Đẩu của Ai Lao che chở cho mợn đất để nuôi dỡng quân lính, chiêu nạp những ng-

ời chống đối nhà Mạc, tìm con cháu nhà Lê tái lập khôi phục lại nhà Lê Năm

1533, Nguyễn Kim đã đón Lê Duy Ninh, lập nên ngôi ở Ai Lao lấy niên hiệu

là Nguyên Hoà (Lê Trang Tông) Lê Trang Tông lên ngôi Hoàng đế - mở đầu

sự nghiệp trung hng nhà Lê Từ đó, hội gió mây lôi cuốn, tiếng chính nghĩa lẫy lừng, quân trẩy đến đâu, chẳng ai không hởng ứng Công nghiệp Trung h-

Trang 36

ng nhà Lê thực sự bắt đầu từ đấy Do có công lớn trong việc khôi phục vơng triều ông đợc vua Lê Trang Tông ban chức Đại tớng Thợng phụ Thái s Hng quốc công Trởng nội ngoại sự Từ đó Nguyễn Kim ra sức giúp vua Lê tìm mọi cách để củng cố ngai vàng

Năm 1540, Nguyễn Kim cầm quân đi đánh miền Nghệ An, thắng trận

"nhiều hào kiệt theo về, thanh thế lẫy lừng, đến đâu là xa gần hàng phục"

[16.132], khi vua Lê đến vây Thành Tây Đô đã phong Nguyễn Kim chức Thái

tể, sai làm Đô lơng Tiết chế tớng sĩ các dinh

Tháng 4 năm 1545, Nguyễn Kim hộ giá vua Lê đem tớng sĩ tấn công miền Trấn Sơn Nam, đóng dinh ở huyện Yên Mô (thuộc Ninh Bình ngày nay) Ngày 20-5 Nguyễn Kim bị viên tớng nhà Mạc đầu độc giết chết Vua truy phong ông là Chiêu Huân Tinh công thuỵ là Trung hiếu, đem về an táng tại núi Thiên Tôn, Gia Miêu Ngoại trang làm lễ chôn cất rất hậu

Sau khi Nguyễn Kim chết thì con rể là Trịnh Kiểm lên thay, cùng lúc hai con trai của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông đợc phong làm Lãnh Quận Công và Nguyễn Hoàng làm Hạ Khê Hầu sai lãnh quân đi đánh giặc Nguyễn Kim mất đi bỏ dỡ sự nghiệp trung hng nhà Lê, mọi quyền bính từ đây chuyển

về tay họ Trịnh Các con của Nguyễn Kim nhất là Nguyễn Hoàng đều là ngời tài trí hơn ngời Nguyễn Hoàng cầm quân đi đánh Mạc thắng trận liên tiếp phong đến Quận công Sự trởng thành của anh em họ Nguyễn là mối đe doạ của họ Trịnh Trớc tình thế ấy Nguyễn Hoàng đã chờ thời cơ hành động Khi tìm đợc vùng đất "vạn đại dung thân" và Trịnh Kiểm cho rằng đây là vùng

đất hiểm trở xa xôi nên đã đồng ý Nguyễn Hoàng đã dâng biểu với vua Lê

"Thuận Hoá là nơi có hình thế đẹp Để làm nên sự nghiệp lớn, bản triều lúc mới khai quốc phải nhờ vào sự đóng góp của quân lính và tiền tài của Thuận Hoá Có điều Thuận Hoá bị giặc Mạc chiếm cứ đã lâu, lòng ngời hãy còn phản trắc: Phần nhiều vợt biển đi theo Mạc, hoặc nhân dịp đa giặc đến quấy ở phía sau chúng ta Đó là điều rất đáng lo ngaị Vậy nếu không đợc tay lơng t-ớng vào đấy trấn giữ, vỗ về thì không xong" Nguyễn Hoàng đã ra sức xây

Trang 37

dựng cơ đồ bằng mọi cách an dân, vỗ về trăm họ, thu dùng hào kiệt, giảm su thuế Tiếng lành đồn xa, lòng dân Thuận Hoá ngày càng mến phục Từ đó hàng năm dân Thanh Hoá và Bắc Hà vào khai cơ lập nghiệp ngày càng đông

đúc

Ngời Thanh Hoá theo Nguyễn Hoàng còn tiến sâu vào miền Tây Nam

Bộ Lịch sử cho biết việc khai hoang lập làng ở Tiền Giang thế kỷ XVIII đa số

lu dân ngời Việt đến Tiền Giang lập làng có gốc gác từ miền Trung và Nam Trung Bộ, trong đó có cả ngời Thanh Hoá, họ bao gồm những ngời nông dân nghèo khổ, những ngời bị tù đầy, những ngời chống đối chế độ Lê - Trịnh

nh dòng họ Phạm Đăng ở Thanh Hoá, rồi theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hoá , sau đó dần dần đi vào phơng Nam Dòng họ Phạm sau này rất nổi tiếng bởi có Phạm Đăng Hơng là đại công thần nhà Nguyễn Ông có con gái Phạm Thị Hằng là hoàng phi của vua Thiệu Trị - mẹ của vua Tự Đức [27.42-43]

Năm 1613, Nguyễn Hoàng mất đợc tôn phong là chúa Tiên Con thứ 6

là Nguyễn Phúc Nguyên nối ngôi trở thành một đối lực cân sức với chúa Trịnh ở Đằng Ngoài, tiếp tục khai hoang khẩn hoá, đặt quan hệ hải thơng với Nhật Bản và các nớc

Đến đời chúa Nguyễn Phúc Chu (1697-1723) bờ cõi phía Nam nớc ta kéo đến Mũi Cà Mau, quần đảo Hoàng Sa đợc quản lý từ thời Nguyễn Hoàng,

đến đời Nguyễn Phúc Chu quần đảo Trờng Sa cũng đợc nhà Nguyễn tổ chức cai quản Đất đai mở đến đâu chúa sai tớng Nguyễn Hữu Cảnh (con trai Nguyễn Hữu Dật) tổ chức dân c cai quản đến đó

Ngay sau khi lên ngôi, vào năm Gia Long thứ 2 (1804) cùng với việc vinh phong Gia Miêu Ngoại trang là đất Quý hơng, huyện Tống Sơn là Quý huyện, Nguyễn Phúc ánh đã cho xây dựng trên quê hơng mình một khu lăng miếu để thờ tự các vị tiên vơng khai mở ra triều đại mình Đó là lăng Triệu T-ờng hay còn gọi là lăng Trờng Nguyên (dòng suối vĩnh cửu - tên gọi là do Gia Long đặt)

Trang 38

Nh vậy, khởi đầu từ Nguyễn Hoàng, đất Thanh Hoá đã sản sinh ra một dòng họ có công lao to lớn trong lịch sử dân tộc: Khai phá đất hoang, mở mang bờ cõi ở phía Nam để định hình vĩnh viễn cho Tổ quốc trên bản đồ thế giới

Chơng 2 Các di tích lịch sử - văn hoá

-2.1 Đình Gia Miêu

2.1.1 Quá trình hình thành đình Gia Miêu

Đình làng là một loại kiến trúc thờ tự rất quan trọng và phổ biến trong làng quê Việt Nam đặc biệt là ngời Kinh Tất cả các ngôi đình cổ xa nhất nớc

ta hiện nay chỉ có niên đại thế kỷ XVI cho nên các nhà nghiên cứu cho rằng

đình làng ở Việt Nam xuất hiện muộn, nhng trong công trình nghiên cứu khảo

Trang 39

cổ đồ sộ của Hà Văn Tấn về đình thì ông cho rằng đình ở Việt Nam xuất hiện sớm nhng lúc ấy cha gọi là đình

ở Trung Quốc ngày xa đình là đình trạm là nơi nghỉ chân của vua

trong mỗi lần đi xa giá và dần dần sự đi xa giá của vua tha dần thì đình trạm

đó đợc sử dụng vào mục đích khác nhau Chẳng hạn nhà Nho lấy đó làm nơi

đọc kinh sách gọi là Th đình, những ngời đa th, đa công văn giấy tờ của nhà

vua cho từng địa phơng đến đó để giao nên nó trở thành Bu đình, có những

nơi dùng để buôn bán thì là Đình chợ, có những nơi đình nằm ở vị trí thuận

lợi thì nó trở thành nơi làm việc của bộ máy quan chức làng xã nên gọi là

Tên đình Gia Miêu là gọi theo tên làng - làng Gia Miêu Vào đầu thế

kỷ XIX hay trớc Cách mạng tháng Tám 1945, thôn Gia Miêu nằm trong tổng Thợng Bạn, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung (nay là xã Hà Long, huyện Hà Trung) Đình là một công trình kiến trúc nghệ thuật thờ thành hoàng làng Nguyễn Công Duẩn Nguyễn Công Duẩn đợc coi là một công thần bình Ngô khai quốc, do có nhiều công tích ông đợc vua Lê Thái Tổ phong làm Thái bảo Hoàng công ở đình Gia Miêu sau này ngời dân Gia Miêu còn thờ thêm Nguyễn Kim - ngời đợc tôn là Triệu tổ nhà Nguyễn

Quá trình hình thành làng xã Hà Long bắt đầu hình thành từ các trang, hơng, ấp diễn ra trong một thời gian dài chịu sự chi phối của diễn biến lịch sử dân tộc Theo dòng chảy thời gian thì c dân tụ họp về đây ngày càng đông

đúc Đến khoảng thế kỷ IX trên địa bàn Hà Long đã có 8 tụ điểm dân c: Bái

Trang 40

Nại Trại, Bái Lạt, Trại Đụng, Trại Vóc, Trại Dềnh, Trại Phù, Văn Vĩ, Trại Chuột, Trại Tre Khoảng cuối thế kỷ XIII các tụ điểm này mở rộng và thêm những tụ điểm mới nh: Ngọc Đới, Làng Mái, Yên Vĩ, Động Tiền, Đông Hậu,

Đông Đô, Nội Trang, Làng Thợng, Khắc Hinh, Phù Nhân, Duy Ninh, Thanh Hải Những tụ điểm này đợc duy trì đến thời Hậu Lê, nhng đến cuối thời Hậu

Lê do bối cảnh của lịch sử nh chiến tranh Nam - Bắc triều giữa hai dòng họ

Lê và Trịnh Tiếp theo đó là sự chia cắt Đằng Trong - Đằng Ngoài của Trịnh - Nguyễn Các cuộc chiến tranh diễn ra liên miên làm cho nhiều thôn xóm bị phá huỷ, dân đi phiêu tán khắp nơi cho đến thế kỷ XIX tổng Thợng Bạn mới

ổn định dần gồm có 12 hơng, trang gồm: Hơng Gia Miêu Ngoại, trang Khắc Ninh, trang Hoàng Vân, trang Yến Vĩ, trang Bảo Đới, trang Mỹ Lu, trang

Động Tiền, trang Đông Hậu, hơng Gia Miêu Nội, trang Gia Miêu Thợng, trang Đông Đô và trang Quảng Đô Hơng Gia Miêu Ngoại chính là quê hơng của nhà Nguyễn - nơi khai sinh ra các bậc khai quốc công thần cho nên đến năm Gia Long thứ 2 đợc gọi là Quý hơng, huyện Tống Sơn đợc gọi là Quý huyện

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, toàn xã có 13 làng tơng đối ổn định

là Gia Miêu Nội, Gia Miêu Ngoại, Gia Miêu Thợng, Đồng Toàn, Đồng Hậu,

Đồng Binh, Phù Nhân, Hoàng Vân, Yến Vĩ, Nghĩa Đụng, Bái Lạt, Làng Vóc

và Trại Dềnh Tổng Thợng Bạn sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đợc đổi là xã Lam Sơn - Long Khê và sau 1945 đến nay mang tên là xã Hà Long

Đình Gia Miêu là một công trình nghệ thuật còn tơng đối đầy đủ về diện mạo là một công trình kiến trúc gỗ đợc dựng thời vua Gia Long năm thứ

2 (1803) Đình đợc xây dựng theo hớng tây nam, phía trớc đình hớng ra làng Gia Miêu, sau đình là dãy đồi đất mà ta quen gọi là dãy Thiên Tôn và Giăng Lăng Dãy Thiên Tôn và Giăng Lăng là mạch núi bắt nguồn từ huyện Thạch Thành chạy uốn lợn nh chuỗi ngọc qua vùng Hà Long và điểm kết thúc cuối cùng là thị xã Bỉm Sơn Phía đông đình giáp khu đất của lăng Triệu Tờng, phía tây giáp Đình Chợ (chợ Bái Đình)

Ngày đăng: 19/12/2013, 09:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w