1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu ở thành phố vinh, nghệ an

164 4,6K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu Một Số Di Tích Lịch Sử Văn Hóa Tiêu Biểu Ở Thành Phố Vinh, Nghệ An
Tác giả Lê Thị Huyền Trang
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử - Văn hóa
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 9,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó cũng có thể là nơi gửi gắm niềm tin, đức tin cũng như cầumong những điều tốt đẹp trong cuộc sống của nhân dân như chùa, đền, miếu,đình làng, nhà thờ… Vì thế, tìm hiểu các di tích l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ HUYỀN TRANG

TÌM HIỂU MỘT SỐ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TIÊU BIỂU Ở THÀNH PHỐ VINH – NGHỆ AN

LUÂN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

Nghệ An, Tháng 12/2012

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ -VĂN HÓA Ở THÀNH PHỐ VINH (NGHỆ AN) 7

1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, dân cư và truyền thống lịch sử - văn hoá của thành phố Vinh 7

1.1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư 7

1.1.2 Truyền thống lịch sử - văn hoá 9

1.2 Sự ra đời các di tích lịch sử - văn hóa ở thành phố Vinh 24

1.2.1 Các loại di tích 24

1.2.2 Nguồn gốc lịch sử 26

1.2.3 Đặc điểm kiến trúc - điêu khắc 28

1.3 Hiện trạng và công tác bảo tồn các di tích 31

1.3.1 Hiện trạng các di tích 31

1.3.2 Công tác bảo tồn các di tích 32

Tiểu kết chương 1 34

CHƯƠNG 2 DIỆN MẠO MỘT SỐ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TIÊU BIỂU Ở THÀNH PHỐ VINH (NGHỆ AN) 35

2.1 Chùa Cần Linh 35

2.1.1 Bố cục các công trình kiến trúc của chùa 35

2.1.2 Bố trí nội thất bên trong 40

2.1.3 Quá trình trùng tu, tôn tạo và công nhận di tích 44

2.2 Chùa Diệc 48

2.2.1 Nguồn gốc 48

2.2.2 Hệ thống văn bia 52

2.3 Đền Hồng Sơn 57

Trang 3

2.3.1 Nguồn gốc 57

2.3.2 Các công trình kiến trúc và văn bia 59

2.3.3 Hoạt động tín ngưỡng và lễ hội 65

2.3.4 Quá trình trùng tu, tôn tạo 68

2.4 Đền Quang Trung 69

2.4.1 Danh nhân Quang Trung - Nguyễn Huệ 69

2.4.2 Quá trình xây dựng và bố cục kiến trúc 71

2.4.3 Đời sống tâm linh và lễ hội 76

2.5 Núi Dũng Quyết và khu vực Phượng Hoàng Trung Đô 79

2.5.1 Nguồn gốc lịch sử 79

2.5.2 Quá trình trùng tu, tôn tạo Error! Bookmark not defined 2.6 Thành cổ Vinh 87

2.6.1 Nguồn gốc lịch sử 87

2.6.2 Kiến trúc 89

2.6.3 Vai trò của Thành cổ Vinh trong tiến trình lịch sử 94

2.7 Cụm di tích làng Đỏ - Hưng Dũng 97

2.7.1 Lịch sử hình thành 97

2.7.2 Các công trình kiến trúc 102

Tiểu kết chương 2 111

CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ 113

3.1 Giá trị lịch sử, văn hoá 113

3.1.1 Giá trị lịch sử 113

3.1.2 Giá trị văn hoá 118

3.2 Các giá trị khác 121

3.2.1 Giá trị kiến trúc - điêu khắc 121

3.2.2 Giá trị giáo dục 122

Trang 4

3.2.3 Giá trị kinh tế - du lịch 123

3.3 Một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị 124

Tiểu kết chương 3 133

KẾT LUẬN 134

TÀI LIỆU THAM KHẢO 139

PHỤ LỤC 143

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Thành phố Vinh (Nghệ An) là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử vàvăn hoá Trải qua hơn hai thế kỷ hình thành và phát triển, mảnh đất này đãtừng chứng kiến những biến động lớn lao của lịch sử dân tộc, từng nhiều lần

bị tàn phá dưới bom đạn của kẻ thù, nhưng những gì còn tồn tại và hiện hữucho đến ngày nay đã chứng tỏ Vinh là một thành phố anh hùng Và hệ thống

di tích lịch sử - văn hoá là minh chứng cho điều đó Mặc dù có những di tíchkhông còn nguyên vẹn như xưa nhưng giá trị mà chúng để lại không hề mất

đi Tìm hiểu các di tích lịch sử - văn hoá ở thành phố Vinh là góp phần tìmhiểu lịch sử đầy vẻ vang và oanh liệt nhưng cũng mang đậm dấu ấn văn hoácủa vùng đất này

Các di tích lịch sử - văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồvật… có giá trị lịch sử, văn hóa, có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quátrình phát triển văn hoá, xã hội của địa phương Đó là địa danh lịch sử - vănhoá để tưởng niệm các danh nhân, đã đi vào tâm thức của nhân dân như mộthoài niệm Đó cũng có thể là nơi gửi gắm niềm tin, đức tin cũng như cầumong những điều tốt đẹp trong cuộc sống của nhân dân như chùa, đền, miếu,đình làng, nhà thờ… Vì thế, tìm hiểu các di tích lịch sử - văn hoá ở Thành phốVinh chính là góp phần tìm hiểu về các giá trị văn hóa vật thể và đời sốngtinh thần của nhân dân Thành phố Vinh

Trên mảnh đất Thành phố đỏ anh hùng, chúng ta thấy hệ thống di tích lịch sử văn hóa rất đa dạng như: chùa Cần Linh, chùa Diệc, đền Hồng Sơn,đền Quang Trung, núi Dũng Quyết và Phượng Hoàng Trung Đô, Thành cổVinh, cụm di tích làng Đỏ Hưng Dũng… Những di tích lịch sử - văn hoá nàykhông chỉ mang giá trị lịch sử, văn hoá mà còn chứa đựng các giá trị giáo dục,

Trang 6

-giá trị nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, -giá trị du lịch… Vì thế, cần phải cómột công trình nghiên cứu khoa học thực sự nghiêm túc để thấy được tầmquan trọng và giá trị của các di tích trong đời sống văn hóa tinh thần của nhândân Thành phố Vinh.

Trải qua bao thời gian, do nhiều nguyên nhân (thiên tai, khí hậu, chiếntranh…) mà các di tích đã không còn nguyên vẹn như ban đầu, một số di tíchhiện nay không còn nữa, một số di tích chỉ còn là phế tích Vì vậy, việc phụcdựng, trùng tu, tôn tạo các di tích có giá trị là việc làm hết sức cần thiết và cấpbách nhằm trả lại diện mạo cũng như những giá trị lịch sử, văn hoá của di tích

Với những ý nghĩa đó, lại là một người con của mảnh đất thành Vinh,

tôi thực hiện đề tài: “Tìm hiểu một số di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu ở

Thành phố Vinh (Nghệ An)” nhằm đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên

cứu về lịch sử - văn hoá của Nghệ An nói chung và thành phố Vinh nói riêng

đó chỉ là những nghiên cứu ở mức độ khái quát chứ chưa đi sâu tìm hiểu diệnmạo và giá trị của các di tích lịch sử - văn hoá ở Thành phố Vinh

Trong sách “Nghệ An, di tích - danh thắng” (2001) của Sở Văn hoá

thông tin Nghệ An có viết về các di tích danh thắng của Nghệ An, trong đó cómột số di tích ở thành phố Vinh như: Thành cổ Vinh, đền Hồng Sơn, chùaCần Linh, di tích Phượng Hoàng Trung Đô và núi Quyết…

Trong cuốn “An Tĩnh cổ lục” (2005), tác giả Hippolyte Le Breton đã

dành một chương để nói về xứ Vinh với nhiều di tích, danh lam thắng cảnh và

Trang 7

thành quách nơi đây Tuy nhiên, phần lớn các di tích - danh thắng được đềcập đến trong tác phẩm thuộc giai đoạn thế kỷ XIX - XX không thuộc địaphận Thành phố Vinh hiện nay, chẳng hạn như: Núi Hồng Lĩnh, núi Đại Hải,các lãnh địa cũ của họ Nguyễn ở Thượng Xá, Thái ấp và đền thờ của họNguyễn Tiên Điền, Lam Thành… Một số địa danh có mặt ở Vinh hiện nay đãđược tác giả khảo cứu cẩn thận như: Núi Dũng Quyết, Thành Vinh…

Tác giả Đào Tam Tỉnh trong tác phẩm “Tìm trong di sản văn hoá xứ Nghệ” (2010) đã viết về lịch sử và địa danh ở thành phố Vinh và một số di

tích tiêu biểu ở đây như: Thành cổ Vinh, di tích Phượng Hoàng Trung Đô…

Giáo sư Ninh Viết Giao với cuốn “Tục thờ thần và thần tích Nghệ An”

đã có sự tổng hợp các đền, đình, miếu ở các huyện, thị xã và thành phố Vinhcủa Nghệ An Trong đó, hệ thống di tích lịch sử - văn hóa ở Thành phố Vinh

đã được tác giả đề cập đến gồm: đền Hồng Sơn, đền Trìa, đền Voi Nẹp, đềnThịnh Tiến, miếu Bà Cô, Dăm Mụ Nuôi, Văn Miếu…

Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu như:

- “Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh” (1995) của Nguyễn Đổng Chi

chủ biên, NXB Nghệ An, Vinh

- “Nghệ An ký” (1993) của Bùi Dương Lịch, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

- “Hoan Châu ký” (2004) của Nguyễn Cảnh Thị, NXB Thế giới, Hà Nội.

- “Nghệ An lịch sử và văn hoá” (2005) của các tác giả Ninh Viết Giao,

Trần Kim Đôn, Nguyễn Thanh Tùng, NXB Nghệ An

- “Địa danh lịch sử văn hoá Nghệ An” (2006) của Trần Viết Thụ chủ

Trang 8

toàn diện về diện mạo một số di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu ở thành phốVinh (Nghệ An).

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu diện mạo một số

di tích lịch sử - văn hoá tiêu biểu ở Thành phố Vinh, tìm hiểu về quá trình xâydựng và tôn tạo các di tích, từ đó nhằm nêu bật các giá trị lịch sử, văn hoá vànhiều giá trị khác của các di tích, đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn vàphát huy các giá trị văn hóa ở Thành phố Vinh

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung khảo sát các di tích lịch sử

-văn hóa trên địa bàn Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trên các khía cạnh:nguồn gốc, diện mạo, đặc điểm kiến trúc và giá trị của các di tích lịch sử - vănhóa

Với đề tài này, diện nghiên cứu tuy hẹp nhưng chúng tôi hi vọng sẽ gópphần làm sáng rõ hơn bức tranh phong phú, đặc sắc về hệ thống di tích lịch sử

- văn hóa trên mảnh đất Thành phố Vinh anh hùng Mặt khác để thấy đượcrằng, vùng đất này không chỉ là vùng đất hiếu học và anh hùng cách mạng màcòn là địa danh nổi tiếng với nhiều di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu đồnghành cùng lịch sử dân tộc

4 Nguồn tài liệu và Phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu:

- Tài liệu thành văn: Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các nguồn

tài liệu thành văn gồm các công trình nghiên cứu về di tích lịch sử - văn hóa ởNghệ An nói chung và Thành phố Vinh nói riêng và các tài liệu khác có liênquan đến đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài đã được công bố Trong

đó chủ yếu là: một số tác phẩm sử học trong lịch sử; các công trình nghiêncứu về lịch sử văn hoá, văn hoá dân gian; các tài liệu về lịch sử Đảng cộngsản Việt Nam…

Trang 9

- Tài liệu điền dã: Chúng tôi đã tiến hành khảo sát tại thực địa một cách

nghiêm túc, khoa học để tìm hiểu về vấn đề nghiên cứu, qua đó nhằm làm rõnguồn gốc, quá trình xây dựng, trùng tu, diện mạo và những giá trị của các ditích lịch sử - văn hóa ở Thành phố Vinh Chúng tôi cũng đã khảo sát các đềnthờ, chùa, Thành cổ Vinh và các di tích khác… để thấy được các giá trị vềkiến trúc, ghi chép bi ký, câu đối, hoành phi…, chụp ảnh và hỏi ý kiến củanhững người đi trước có hiểu biết về các di tích lịch sử - văn hóa Từ đó, để

có được cái nhìn chân thực, khách quan về vấn đề nghiên cứu

Ngoài ra, chúng tôi còn tiếp cận và tham khảo thông tin về các di tíchlịch sử - văn hóa của Thành phố Vinh và Nghệ An có liên quan đến đối tượngvà phạm vi nghiên cứu của đề tài trên các website chính thống, để có cái nhìnkhách quan, đa chiều về vấn đề nghiên cứu

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Dựa trên quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình thực hiện đề tài này, chúngtôi đã sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic và phương pháp điền

-dã thực địa Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp như: thống kê, đối chiếu,

so sánh để phân tích tổng hợp rút ra những đánh giá khách quan và chỉ ranhững giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật kiến trúc và giá trị du lịch… của các

di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn Thành phố Vinh

5 Đóng góp của đề tài

Tìm hiểu một số di tích lịch sử - văn hoá ở Thành phố Vinh là nhằm cómột cái nhìn khái quát, toàn diện về các di tích lịch sử - văn hoá trên địa bànthành phố Vinh, góp phần tìm hiểu truyền thống lịch sử - văn hoá của mảnhđất này

Mặc dù đối tượng nghiên cứu của đề tài là không mới nhưng khôngtrùng lặp với các công trình khoa học đã công bố Hệ thống di tích lịch sử -

Trang 10

văn hóa của Thành phố Vinh được đề cập đến trong đề tài là sự tập hợp mộtcách có hệ thống và đầy đủ nhất so với các công trình đã công bố Đồng thời,

đề tài còn góp phần cung cấp một số tư liệu trong việc giảng dạy phần Lịch sửđịa phương ở trường phổ thông, giáo dục cho thế hệ trẻ về truyền thống uốngnước nhớ nguồn và những giá trị lịch sử quý báu cần được giữ gìn và pháthuy Đề tài cũng là nguồn tư liệu quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu lịch

sử - văn hóa của địa phương

phố Vinh (Nghệ An)Chương 3: Giá trị lịch sử, văn hoá và một số giải pháp nhằm bảo tồn,

phát huy các giá trị

Trang 11

CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA

Ở THÀNH PHỐ VINH (NGHỆ AN)

1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, dân cư và truyền thống lịch sử - văn

hoá của thành phố Vinh

1.1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư

Thành phố Vinh là tỉnh lỵ của Nghệ An, thuộc vùng Bắc Trung Bộ.Qua nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, diện tích ngày nay của thành phốlà 104,96 km2 (năm 2010) Về vị trí địa lý, thành phố Vinh nằm ở toạ độ địa

lý từ 18º38’50” đến 18º43’38” vĩ độ Bắc, từ 105º56’30” đến 105º49’50” kinh

độ Đông Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Hưng Nguyên, phía Bắc giáphuyện Nghi Lộc, phía Đông giáp thị xã Cửa Lò, phía Nam giáp huyện NghiXuân - Hà Tĩnh Thành phố Vinh cách thủ đô Hà Nội 291 km về phía Bắc,cách thành phố Hồ Chí Minh 1428 km về phía Nam

Thành phố Vinh nằm ở ven bờ sông Lam (hay còn gọi là sông Cả), consông bắt nguồn từ Thượng Lào, với chiều dài 375 km, chảy qua các huyệnCon Cuông, Đô Lương, Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, qua thànhphố Vinh và thị xã Cửa Lò rồi đổ ra biển Đông

Với vị trí địa lý đó, thành phố Vinh có thể dễ dàng thông thương vớicác huyện trong tỉnh Nghệ An qua hệ thống đường bộ (đường 49, đường 30,đường 15), thậm chí là sang Lào bằng đường 7 qua cửa khẩu Nậm Cắn vàđường 8 qua cửa khẩu Cầu Treo Mặt khác, do nằm trên đường quốc lộ 1A vàđường sắt Bắc Nam nên thành phố Vinh có thể mở rộng giao lưu về mọi mặtvới các địa phương, các vùng trong cả nước Mặc dù không phải là thành phốgiáp biển nhưng do nằm gần cảng Cửa Lò, Cửa Hội và cảng sông Bến Thuỷ,lại có sân bay Vinh, nên trong quá trình phát triển, Vinh không chỉ có lợi thế

Trang 12

khai thác các thế mạnh của các ngành kinh tế biển mà còn có thể mở rộnggiao lưu buôn bán, hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Như vậy có thể thấy, xét về vị trí địa lý, thành phố Vinh đã trở thànhmột đầu mối giao thông quan trọng cả về đường sông, đường bộ, đường sắt,đường biển và đường hàng không Đó là điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi

để xây dựng một thành phố Vinh giàu mạnh trong tương lai

Thành phố Vinh bao gồm các loại địa hình: sông, núi, đồng bằng, ven

biển Theo Tiến sĩ Nguyễn Quang Hồng trong “Thành phố Vinh - quá trình hình thành và phát triển ”[15, 14](1), thành phố Vinh là sản phẩm của sự bồi tụcủa biển Đông ở phía Đông và Đông Bắc và sự bồi đắp của sông Lam ở phíaNam và Tây Nam Cũng do kết quả của sự kết hợp này mà ở phía Đông thànhphố đã hình thành nên một vùng đất ngập mặn, chua phèn, đó là Rừng Bần, naythuộc xã Hưng Hoà, tạo nên một điểm di tích, du lịch hấp dẫn Phía Đông Namthành phố là núi Dũng Quyết (núi Quyết) sừng sững, hùng vĩ, gắn liền với têntuổi của vị anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ và sự tích PhượngHoàng Trung Đô

Nằm ở vùng đất miền Trung nắng lắm, mưa nhiều, nhưng nhìn chung,khí hậu thành phố Vinh khá dễ chịu, ôn hoà Nhiệt độ trung bình hàng năm24ºC, độ ẩm trung bình 85-90%, số giờ nắng trung bình 1696 giờ Ngoài ra,còn xuất hiện sương muối, mùa bão vào các tháng 7, 8, 9, gây nhiều khó khăncho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Dân số thành phố Vinh hiện nay là 435.208 người (năm 2010) So vớicác thành phố khác, thành phố Vinh có mật độ dân số khá thấp, nhưng đó lạilà điều kiện thuận lợi trong sự phát triển chung của thành phố Về thành phầndân cư, do nằm trên đầu mối giao thông quan trọng nên Vinh không chỉ là nơi

(

Chú thích: (1) Số trong ngoặc vuông là số thứ tự tài liệu tham khảo trong danh mục tài

Trang 13

tụ cư của các cộng đồng cư dân xứ Nghệ mà còn là nơi cư trú của không ítnhững cộng đồng người từ Bắc di cư vào, từ Nam ra, bởi đây là địa bàn thôngthương hết sức thuận lợi Điều này cũng giải thích vì sao vùng đất Vinh đã trởthành một nơi đô hội ngay từ thời Lý, Trần.

“Tính cách nổi trội của con người thành phố Vinh là bộc trực, táo bạo, khảng khái, giàu đức hi sinh, dốc lòng trung nghĩa vì đất nước, quê hương; ý chí mạnh, quyết tâm cao; rất mực cần kiệm, giản dị nhưng cũng hào phóng, giàu lòng nhân ái, hảo tâm, rất hiếu học và có tính hài hước, ham thích văn nghệ, thể thao” [2, 27].

Hiện nay, thành phố Vinh có 25 phường, xã: Lê Mao, Lê Lợi, QuangTrung, Hà Huy Tập, Đông Vĩnh, Đội Cung, Cửa Nam, Vinh Tân, Hồng Sơn,Trường Thi, Trung Đô, Bến Thuỷ, Hưng Dũng, Hưng Bình, Hưng Phúc,Quán Bàu, các xã: Hưng Đông, Hưng Lộc, Hưng Hoà, Hưng Chính, NghiPhú, Nghi Ân, Nghi Kim, Nghi Liên, Nghi Đức

Thành phố Vinh được công nhận là đô thị loại II theo Quyết định số10404/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 13/8/1993 Ngày 30/9/2005,Chính phủ ban hành Quyết định 239/ 2005/QĐ-CP phê duyệt Đề án xây dựngvà phát triển Vinh trở thành đô thị trung tâm của vùng Bắc Trung Bộ Ngày5/9/2008, tại Quyết định số 1210/QĐ-TTg, Thủ tướng chính phủ đã côngnhận thành phố Vinh là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Nghệ An Hiện nay, thànhphố đang hướng tới là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của khu vực BắcTrung Bộ, một trong những đô thị lớn và phát triển của cả nước

1.1.2 Truyền thống lịch sử - văn hoá

Truyền thống lịch sử:

Trải qua hơn hai thế kỷ hình thành và phát triển, ra đời từ sự hợp nhấtcủa 3 trung tâm đô thị: Vinh, Bến Thuỷ, Trường Thi, thành phố Vinh đã cómột quá trình phát triển với nhiều thăng trầm lịch sử Vùng đất Vinh xưa gắn

Trang 14

liền với các tên gọi: Vĩnh Phong (thời Lý), Vĩnh Dinh (thời Trần), Vĩnh Yên,Yên Trường (thời Nguyễn) Trước thế kỷ XV, vùng đất này thuộc huyện TânPhúc, thời Tây Sơn đổi thành huyện Chân Lộc, thời Minh Mạng đổi sanghuyện Chân Phúc Thời Gia Long, Vinh chủ yếu nằm trên vùng đất Vĩnh Yênvà Yên Trường, thuộc tổng Ngô Trường (sau đổi thành tổng Yên Trường),huyện Chân Lộc, trấn Nghệ An.

Tháng 5/1804, Gia Long quyết định chuyển trấn thành Nghệ An từLam Thành - Phù Thạch (Hưng Nguyên ngày nay) về Vĩnh Yên và Yên

Trường, huyện Chân Lộc “Từ đây, Vĩnh Yên và Yên Trường trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của trấn Nghệ An (bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh)” [15, 24] Không những thế, đến nửa đầu thế kỷ XIX, Vinh còn là một

trung tâm quân sự, một pháo đài kiên cố để bảo vệ vùng đất Nghệ An - HàTĩnh

Năm 1899, Vinh trở thành một trong sáu trung tâm đô thị ở Xứ uỷTrung Kỳ thông qua Đạo dụ của vua Thành Thái và Nghị định của toàn quyềnĐông Dương Pôn Đume Trong 2 năm 1916 và 1917, 2 thị xã Bến Thuỷ,

Trường Thi lần lượt ra đời “Đến ngày 10/12/1927, Toàn quyền Đông Dương Mông-ghi-giô đã ký Nghị định sát nhập 3 trung tâm đô thị: Vinh, Bến Thuỷ, Trường Thi để thành lập thành phố Vinh – Bến Thuỷ”.[12, 17]

Với bề dày lịch sử hơn 200 năm, vùng đất và con người thành phố Vinh

đã mang trong mình những truyền thống lịch sử - văn hoá quý báu

Từ khi trở thành trấn thành của Nghệ An, Vinh không chỉ là trung tâmkinh tế, chính trị mà còn là trung tâm quân sự của cả Nghệ An và Hà Tĩnh

So với các địa phương khác trong tỉnh Nghệ An, thành phố Vinh códiện tích ruộng đất không nhiều Mặt khác, để Vinh trở thành trung tâm kinh

tế, chính trị của tỉnh Nghệ An, nhà Nguyễn đã lấy một phần diện tích đất canhtác để xây thành, đắp luỹ, đào sông, xây các công trình: Văn Miếu, đàn Tiên

Trang 15

Nông, đàn Xã Tắc, đàn Sơn Xuyên, miếu Quan Công, miếu Hội Đồng, miếuThành Hoàng, trường thi Hương Nghệ An Mặc dù vậy, cư dân vùng đất Yên

Trường - Vĩnh Yên vẫn không thể thoát khỏi quan niệm truyền thống “dĩ nông vi bản”, lấy nông nghiệp làm nguồn sống chính.

Xứ Nghệ nói chung và vùng đất Vinh nói riêng dường như không đượcthiên nhiên ưu đãi, đất đai dài hẹp mà cằn cỗi, ít nơi bằng phẳng, ruộng đấtkhông có đê điều bảo vệ nên thường là vùng đất trũng Ngoài trồng lúa, cưdân Yên Trường - Vĩnh Yên còn dành một phần diện tích để trồng hoa màunhư ngô, khoai…

Không có lợi thế về ruộng đất, cư dân ở đây đã tạo mọi điều kịên đểphát triển các hoạt động buôn bán, trao đổi bằng các nghề thủ công truyềnthống Ở đây xuất hiện các nghề dệt, chiếu cói, làm nón lá và tơ, nghề rènnông cụ, nghề đan lát đã trở nên phổ biến Mặc dù vậy, các nghề thủ côngtruyền thống không giúp cho vùng tổng Yên Trường có một làng nghề truyềnthống nổi tiếng nào

Nhờ vị trí địa lý thuận lợi, lại là đầu mối giao thông quan trọng của tỉnhNghệ An và vùng Bắc Trung Bộ, Vinh trở thành nơi buôn bán khá sầm uất lúcbấy giờ với trung tâm là chợ Vĩnh (chợ Vinh ngày nay) Đây là nơi tập trung

tất cả các loại hàng hoá “từ lâm đặc sản ở miền Tây Nghệ Tĩnh đến các hàng thủ công ở các làng nghề từ phía Nam đến phía Bắc, các nông sản phẩm, các đặc sản của miền biển” [15, 45] Đây còn là địa bàn hoạt động của các thương nhân Hoa Kiều, họ “buôn bán các loại vải vóc từ Trung Quốc sang như gấm, nhung lụa, nhiễu, sa…” [15, 43] và độc quyền mặt hàng thuốc Bắc.

Không giống các đô thị khác (như Hội An, Gia Định), Vinh là một trung tâmtiêu thụ các loại sản phẩm hàng hoá trong vùng mà không phải là một trungtâm sản xuất hàng hoá

Trang 16

Về giao thông vận tải, các tuyến đường bộ chủ yếu đáp ứng nhu cầu đilại hay nói đúng hơn là phục vụ cho các cuộc hành quân, càn quét của quânđội triều đình nhiều hơn là thúc đẩy phát triển kinh tế Tuyến đường biển chủyếu phục vụ cho việc chở gỗ lim từ Nghệ An vào Huế hoặc chở thuỷ quân từHuế ra Bắc để đàn áp phong trào nông dân khởi nghĩa Các cảng Cửa Lò, CửaHội được sử dụng vào mục đích quân sự là chủ yếu mà không được khai thác

An nói riêng, biến Vinh thành một trung tâm chính trị, quân sự trong suốt thế

kỉ XIX Điều này thêm một lần khẳng định tính chất “địa chính trị” lấn át tính chất “địa đô thị”, yếu tố “thành” lấn át yếu tố “thị” của đô thị Vinh.

Thời nhà Nguyễn (1804 - 1884), cũng như các địa phương khác, nôngdân làng xã dọc lưu vực sông Lam cũng đứng lên khởi nghĩa chống lại triềuđình (khởi nghĩa Giáp Tuất)

Ngày 20/7/1885, trước sự bất lực của phong kiến nhà Nguyễn, thànhNghệ An thất thủ Thương biện tỉnh vụ Nghệ An là Vũ Trọng Bình buộc phảidâng thành Nghệ An cho Pháp mà không hề có một sự kháng cự nào Thựcdân Pháp tuy chiếm được thành Nghệ An nhưng không thể chiếm được vùngđất và con người nơi đây, chúng không hề dập tắt được phong trào đấu tranhluôn luôn âm ỉ trong quần chúng nhân dân, những người vốn có mâu thuẫnvới triều đình phong kiến nhà Nguyễn, nay lại phải đối phó với một kẻ thùmới là thực dân Pháp Hơn ai hết, nhân dân thành phố Vinh nói riêng và nhân

dân Nghệ Tĩnh nói chung luôn luôn nung nấu ý chí và quyết tâm “quyết đánh

cả Triều lẫn Tây” Lòng căm thù đã biến thành hành động khi thực dân Pháp

Trang 17

đặt chân lên đất Nghệ An Phong trào Cần Vương bùng nổ như một luồngsinh khí mới làm trỗi dậy khí thế vốn ấp ủ bấy lâu nay trong lòng người dân

xứ Nghệ Lá cờ Cần Vương đi đến đâu đều được nhân dân hưởng ứng đến đó.Đặc biệt, nhân dân thành phố Vinh sau khi mất thành Nghệ An như được tiếpthêm sức mạnh, cùng nhân dân cả nước chuẩn bị mọi mặt cho một cuộc đấutranh mới Họ tập hợp dưới ngọn cờ của các tướng lĩnh Phan Đình Phùng,Phan Cát Mưu… rèn sắm vũ khí, kiên quyết chống Pháp và triều đình tớicùng Chính điều đó đã biến Vinh vừa là trung tâm chỉ huy của quân đội Phápvà quân đội triều đình nhằm đối phó với sự phát triển của phong trào CầnVương trên địa bàn hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, vừa là đối tượng tấn côngtiêu diệt của lực lượng chống Pháp ở Nghệ An mà đứng đầu là Phan ĐìnhPhùng và Cao Thắng trong những năm 1892 - 1893

Với hai điều ước Hác măng (25/8/1883) và Patơnôt (6/6/1884), ViệtNam đã thực sự trở thành thuộc địa của Pháp Điều này cũng đồng nghĩa vớiviệc nhà Nguyễn tự kết thúc vai trò là một vương triều độc lập, không còn làngười đứng đầu và lãnh đạo đất nước để trở thành công cụ đắc lực của thựcdân Pháp, đứng hẳn về phía Pháp mà đối lập với nhân dân Thực dân Pháp vàtriều đình câu kết với nhau, ra sức đàn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân Từnhững năm 1893 đến 1896, bằng các cuộc càn quét liên miên, quân đội Phápvà quân đội triều đình đã dập tắt phong trào kháng Pháp ở hai tỉnh Nghệ Anvà Hà Tĩnh

Sau khi hoàn thành xâm lược nước ta bằng vũ trang, thực dân Pháp tiếnhành một cuộc khai thác thuộc địa trên quy mô cả nước Dưới tác động củacuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, tình hình kinh tế, chính trị, xãhội, văn hoá của nước ta có những chuyển biến căn bản Nền kinh tế có bướcphát triển hơn trước nhưng đó là một nền kinh tế thuộc địa, phụ thuộc vàothực dân Pháp Đời sống nhân dân vẫn không được cải thiện mà càng trở nên

Trang 18

điêu đứng dưới sự bóc lột tàn nhẫn của thực dân Pháp Trong xã hội, bên cạnhcác giai cấp, tầng lớp cũ bị phân hoá đã xuất hiện một số giai cấp, tầng lớpmới, đó là công nhân, tư sản, tiểu tư sản… Đó chính là sản phẩm của việc dunhập phương thức sản xuất mới tư bản chủ nghĩa vào nước ta Mặc dù cónhững hệ quả khách quan nằm ngoài ý muốn chủ quan của thực dân Phápnhưng mục tiêu của chúng đã gần như đạt được khi Việt Nam từ một xã hộiphong kiến thuần tuý trở thành một xã hội thuộc địa còn tàn dư phong kiến

Như thế, từ khi được chọn làm trấn thành Nghệ An (5/1804) cho tới khitrở thành một trong sáu trung tâm đô thị ở Trung Kỳ (1899), trải qua 8 thập kỉvới bao biến động của đất nước, Vinh vẫn giữ vị trí là trung tâm kinh tế, chínhtrị, xã hội, văn hoá của cả Nghệ An và Hà Tĩnh Nhưng trước sự cai trị củangười Pháp mà cụ thể là Toàn quyền Đông Dương, nhân dân xứ Nghệ cũngnhư nhân dân cả nước đã bị tước đi quyền tự do, độc lập, trở thành nô lệ củamột nước thuộc địa

Sau sự thất bại của phong trào Cần Vương theo lập trường phong kiến

ở cuối thế kỉ XIX, bước sang thế kỉ XX, một khuynh hướng cứu nước mới bắtđầu xuất hiện ở Việt Nam, đó là khuynh hướng cứu nước theo lập trường dânchủ tư sản Sự thay đổi này càng được thấy rõ ở Nghệ An nói chung và Vinh -Bến Thuỷ nói riêng Đó là những hoạt động cứu nước của một bộ phận tríthức đã thoát ra khỏi những tư tưởng lạc hậu, bảo thủ của chế độ phong kiến

để đại diện cho dân tộc vươn lên tiếp thu những tư tưởng mới của thời đại.Đáng chú ý trong số đó là Phan Bội Châu, Đặng Thái Thân, Nguyễn Thành

Họ cùng lập ra hội Duy Tân với chủ trương “cầu học văn minh”, đưa những

thanh niên ưu tú sang Nhật Bản học tập, khởi đầu cho phong trào Đông Du.Một số khác như Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Nguyễn Đình Kiên lập

“Triêu Dương thương quán” ở Vinh, một hình thức để duy tân đất nước Một

bộ phận khác lại tìm đến con đường xuất dương, mong tìm ra phương cách để

Trang 19

cứu nước như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu… Những chí sĩ yêu nước nàycùng với những hoạt động của họ không chỉ tiêu biểu cho phong trào yêunước ở Vinh - Bến Thuỷ và Nghệ An mà còn tiêu biểu cho một thời kì cáchmạng của lịch sử dân tộc, gây tiếng vang và tác động đến thái độ, tinh thầncách mạng của mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài tỉnh.

Ngày 14/7/1925, Trần Phú và các đồng chí của ông là Lê Văn Huân,Tôn Quang Phiệt, Trần Mộng Bạch thành lập Hội Phục Việt ở Vinh, đã có tácđộng sâu sắc đến bộ phận tri thức ở Vinh - Bến Thuỷ, nhất là học sinh trườngQuốc học Vinh Cuối năm 1925, đầu năm 1926, Hội Phục Việt đổi tên là HộiHưng Nam, đã giác ngộ ý thức dân tộc cho quần chúng và tập hợp lực lượngbằng các hình thức hoạt động công khai, hợp pháp

Tiêu biểu nhất trong giai đoạn này là những hoạt động cứu nước củaNguyễn Ái Quốc ở nước ngoài Khác với các bậc tiền bối đi trước, Nguyễn ÁiQuốc đã sang châu Âu, tìm đến nước Pháp để tìm ra thực chất đằng sau

những khẩu hiệu “bình đẳng, tự do, bác ái” Không dừng lại ở Pháp, bước

chân của Người bôn ba khắp các châu lục, đi qua nhiều đất nước để rồi từnhững điều mắt thấy tai nghe, từ thực tiễn cuộc sống, bằng sự nhạy bén và trítuệ hơn người, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn chodân tộc, con đường cứu nước theo khuynh hướng cách mạng vô sản Từ đó,Người bắt đầu truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng vô sản về nước, vềvới nhân dân

Dưới sự ảnh hưởng tư tưởng của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên(ra đời tháng 6/1925), chi bộ Hội thanh niên ở Trung Kỳ ra đời Tiếp đó, Kỳ

bộ Hội Thanh niên Trung Kỳ, Tỉnh bộ Hội Thanh niên Nghệ An cũng đượcthành lập ở đây Như thế, thành phố Vinh vừa là nơi đặt trụ sở của Hội HưngNam, vừa là nơi đặt trụ sở của Kỳ bộ Hội Thanh niên ở Trung Kỳ và của Tỉnh

Trang 20

bộ Hội Thanh niên Nghệ An Có thể nói, Vinh là trung tâm của phong tràocách mạng ở Trung Kỳ trong những năm 20 của thế kỉ XX.

Trong thời kỳ cách mạng 1930 -1931, Vinh - Bến Thuỷ trở thành trungtâm của phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh Từ cuối năm 1929 đến tháng 4/1930,toàn tỉnh đã nổ ra 15 cuộc đấu tranh, trong đó có 5 cuộc của công nhân Vinh -Bến Thuỷ Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 càng tạođiều kiện cho phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ và quyết liệt Vinh -Bến Thuỷ là nơi gặp gỡ, nơi quy tụ sức mạnh của các tầng lớp nhân dân trongtoàn tỉnh Nghệ An, góp phần quan trọng đưa cao trào cách mạng 1930 - 1931lên đến đỉnh cao

Sang thời kỳ 1936 - 1939, Vinh - Bến Thuỷ tiếp tục là trung tâm điểmcủa phong trào đấu tranh dân chủ ở Trung Kỳ, thu hút nhiều tầng lớp nhândân, nhiều tổ chức cách mạng tham gia Những hoạt động như cuộc đón tiếpphái đoàn điều tra thuộc địa do J.Goda dẫn đầu ở Vinh - Bến Thuỷ được sựtham gia hưởng ứng của công nhân nhà máy xe lửa Trường Thi, của đông đảonhân dân thành phố Vinh và vùng phụ cận Cuộc mít tinh ở chùa Diệc nhằmlên án tội ác của phát xít Nhật do Thành uỷ Vinh phát động đã làm cho thựcdân Pháp nhiều phen khiếp sợ Quần chúng nhân đã kết hợp sử dụng các hìnhthức đấu tranh công khai, bán công khai, hợp pháp, bán hợp pháp để đòi cácquyền dân chủ cơ bản, tự do, cơm áo, hoà bình

Đến thời kỳ 1939 - 1945, Vinh - Bến Thuỷ cùng các địa phương kháctrong cả nước tích cực chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tổng khởi nghĩa giànhchính quyền Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ cũng như chính sách phảnđộng của đế quốc Pháp thi hành ở Đông Dương đã tác động mạnh mẽ đến tìnhhình Nghệ An nói chung và thành phố Vinh nói riêng Ở Vinh - Bến Thuỷ,Pháp cho phục hồi hệ thống đồn bốt, hệ thống bang tá, tổ chức đoàn phu, hộiđồng tộc biểu… tăng cường đàn áp để kiềm chế phong trào đấu tranh của

Trang 21

nhân dân thành phố Cũng như trên cả nước, mâu thuẫn giữa nhân dân thànhphố Vinh với đế quốc Pháp ngày càng thêm sâu sắc và gay gắt, họ quyết tâmvùng dậy đấu tranh nhằm lại quyền sống và lật đổ ách thống trị tàn bạo của đếquốc Pháp.

Năm 1940, khi phát xít Nhật đặt chân lên nước ta, Vinh - Bến Thuỷ làmột trong những địa bàn đóng quân của phát xít Nhật, nơi chỉ huy lực lượngcủa đế quốc Nhật ở Nghệ An Nhân dân thành phố Vinh cùng với nhân dân cảnước cùng một lúc chịu sự thống trị của hai kẻ thù Pháp và Nhật Chính sáchcướp bóc tàn bạo của phát xít Nhật đã đẩy nhân dân vào tình cảnh hết sứcđiêu đứng Tinh thần cách mạng của các tầng lớp nhân dân Nghệ An như mộtđám cỏ khô chỉ cần một ngọn lửa nhỏ là có dịp bốc cháy

Cuộc nổi dậy của binh lính chợ Rạng - Đô Lương (ngày 13/1/1941)được sự hưởng ứng của nhân dân thành phố Vinh - Bến Thuỷ đã gây đượctiếng vang lớn Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại, nhưng cùng với khởi nghĩa BắcSơn và Nam Kỳ, là những tiếng súng báo hiệu cho một thời kỳ đấu tranh mới

ở nước ta - đấu tranh bằng phương pháp vũ trang

Sau tiếng súng Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, hưởng ứng chỉ thị

“Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Ban Thường vụ

Trung ương Đảng (ngày 12/3/1945), ngày 19/5/1945, mặt trận Việt Minh liêntỉnh Nghệ - Tĩnh ra đời, kịp thời tập hợp rộng rãi lực lượng tham gia vào côngcuộc chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền Ngày 16/8/1945, dưới sự chỉđạo của Việt Minh liên tỉnh Nghệ - Tĩnh, thanh niên thành phố Vinh kết hợpvới thanh niên các làng Yên Dũng Hạ, Yên Dũng Thượng, Đức Thịnh, Lộc

Đa đã nổi dậy lật đổ bộ máy chính quyền của địch ở các làng xã, giành chínhquyền, thiết lập chính quyền do nhân dân làm chủ Ngày 21/8/1945, khởinghĩa giành thắng lợi ở Vinh - Bến Thuỷ, đồng thời trở thành ngày giànhchính quyền thắng lợi của nhân dân tỉnh Nghệ An Cuộc khởi nghĩa giành

Trang 22

chính quyền ở Vinh - Bến Thuỷ đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chungcủa cuộc vận động cách mạng tháng Tám 1945 trên phạm vi cả nước, mở ramột kỷ nguyên mới cho dân tộc ta, đất nước ta.

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủcộng hoà ra đời, Đảng bộ và nhân dân thành phố Vinh tiến hành khôi phục,củng cố chính quyền, mặt trận cùng các tổ chức đoàn thể Đảng bộ thành phốVinh lãnh đạo nhân dân phục hồi kinh tế, ra sức chống giặc đói, giặc dốt,cùng nhau xây dựng đời sống mới Sau một thời gian hoà bình ngắn ngủi,Đảng bộ và nhân dân thị xã Vinh lại tiến hành xây dựng lực lượng, chuẩn bị

vũ khí, đạn dược, chuẩn bị tinh thần cho nhân dân bước vào cuộc kháng chiếnvới niềm tin tất thắng Cùng với các đô thị khác, cuộc chiến đấu bảo vệ thị xãVinh là thắng lợi mở đầu có ý nghĩa vô cùng quan trọng, thể hiện tinh thần, ýchí quyết chiến quyết thắng của quân và dân thị xã Tiếp đó, Thành uỷ cùng

Uỷ ban kháng chiến chỉ đạo công tác “phá hoại”, tiêu thổ kháng chiến, đóng

góp một phần nhỏ sức người, sức của, ngày công cho cuộc kháng chiến Bướcsang năm 1947, Vinh là đô thị thực hiện tiêu thổ kháng chiến triệt để nhấttrong toàn quốc Không những thế, Vinh trở thành một hậu phương vững chắctrong việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phục vụ chotiền tuyến, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cả nước

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là trong haicuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, Vinh luôn là trọngđiểm đánh phá ác liệt bằng không quân và hải quân Mỹ ở Nghệ An Đã có lúcVinh trở nên hoang tàn, đổ nát nhưng từ trong khói lửa chiến tranh, Vinh trởthành biểu tượng anh hùng bất khuất, sự ngưỡng mộ và niềm tự hào của nhândân Nghệ An và của cả nước Mặc dù bị bom đạn của kẻ thù tàn phá, nhândân thành phố Vinh đã vượt qua mọi khó khăn, đạt được những kỳ tích trongsản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, giao

Trang 23

thông vận tải nhưng vẫn không quên nghĩa vụ hậu phương đối với tiền tuyếnmiền Nam, luôn luôn hướng về nhân dân miền Nam, dốc lòng cùng cả nướcchống lại đế quốc Mỹ và tay sai Cùng với toàn tỉnh Nghệ An, nhân dân thànhphố Vinh đã đóng góp hàng nghìn tấn lương thực thực phẩm chi viện chomiền Nam ruột thịt, hàng vạn thanh niên sẵn sàng lên đường vào Nam chiếnđấu vì lợi ích chung của toàn thể nhân dân cả nước Thắng lợi của cuộc khángchiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước làthắng lợi vẻ vang của cả dân tộc, trong đó có sự đóng góp không nhỏ củaĐảng bộ và nhân dân thành phố Vinh.

Bước vào công cuộc đổi mới, Đảng bộ và nhân dân thành phố Vinh đãcùng với nhân dân cả nước đạt được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế,chính trị, văn hoá, giáo dục, y tế Đó là thực hiện việc xoá bỏ cơ chế tập trungquan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý, điều tiết củanhà nước Công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng đạt nhiều kết quả tích cực.Kinh tế - xã hội có bước phát triển đáng kể, an ninh chính trị, trật tự an toàn

xã hội được giữ vững; y tế, giáo dục có nhiều tiến bộ, đời sống văn hoá vậtchất, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao Tuycòn gặp nhiều khó khăn nhưng trong quá trình phát triển, kế thừa những thànhquả cách mạng đã đạt được, Vinh luôn phấn đấu xây dựng thành phố trởthành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của Nghệ An và của cả vùng BắcTrung Bộ

Truyền thống văn hoá:

Xứ Nghệ từ lâu đã nổi tiếng là mảnh đất có truyền thống hiếu học Nơiđây đã sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước Thời phong kiến, trường thiHương Nghệ An đã đào tạo nên nhiều lớp nho sĩ cung cấp cho bộ máy quanlại triều đình mà tên tuổi của họ còn được lưu danh mãi đến đời sau

Trang 24

Năm 1803, trong chuyến Bắc tuần lần thứ nhất, Gia Long đã cho xâydựng nhà Văn Thánh (hay còn gọi là nhà Văn Miếu) ở Vinh Tiếp đó, cùngvới việc chuyển dời lị sở Nghệ An từ Lam Thành - Phù Thạch về Vĩnh Yên -Yên Trường thì trường thi Hương Nghệ An cũng được chuyển về phía Đôngbắc của nhà Văn Thánh Năm 1807, trường thi Hương Nghệ An được chọn làmột trong năm trung tâm của nhà Nguyễn để tuyển dụng nhân tài Từ đó chođến năm 1918, tại đây đã tổ chức 42 kỳ thi trong tổng số 47 kỳ thi Hươngđược tổ chức dưới thời nhà Nguyễn Trong thời gian này, Nghệ An đã cungcấp cho nhà nước phong kiến 595 cử nhân, trở thành tỉnh có đông số cử nhânnhất so với 30 tỉnh thành khác của cả nước

Với vị trí là một trong những trung tâm đào tạo, tuyển dụng nhân tài củađất nước, Vinh ở thế kỷ XIX không chỉ thu hút hàng ngàn sĩ tử từ khắp nơi về

dự thi mà vô hình chung đã trở thành nơi tiếp xúc văn hoá của nhiều địaphương, nhiều vùng trong cả nước Một điều đặc biệt là trong số những người

đỗ đạt từ trường thi Hương Nghệ An, có một số sau này trở thành những thủlĩnh của phong trào nông dân chống triều đình và thực dân Pháp, điển hình làTrần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng… Họ là nhữngcon người đã đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, là nhiệm vụ thiêng liêng, cao quý.Trong tầng lớp Nho học có sự phân hoá sâu sắc Một bộ phận quay lưng lại vớidân tộc, trở thành tay sai cho bọn thực dân phong kiến Một bộ phận từ quan,

về quê tập hợp lực lượng chống xâm lược dưới ngọn cờ Cần Vương Một bộphận khác tiếp tục dùi mài kinh sử, nuôi mộng công danh ở chốn quan trường.Nhìn chung, ở thế kỷ XIX, đời sống của cộng đồng cư dân xứ Nghệ nói chung,tầng lớp Nho học nói riêng diễn biến khá phức tạp [15, 75]

Sau khi bị thực dân Pháp xâm lược và đô hộ, cũng như Nam Kỳ lụctỉnh, Nghệ An và Hà Tĩnh nằm dưới sự cai trị của thực dân Pháp và đồng thờichịu ảnh hưởng của nền văn hoá Pháp, một nền văn hoá mới mẻ, xa lạ từ

Trang 25

phương Tây Nhưng dường như sự ảnh hưởng của văn hoá Pháp ở vùng đất

xứ Nghệ có phần muộn hơn, bởi lẽ, chính lòng yêu nước và thái độ kiên quyếtchống Pháp tới cùng của nhân dân nơi đây đã khiến cho thực dân Pháp phảimất hơn 10 năm kể từ khi chiếm đóng thành Nghệ An (1885) mới khuất phụcđược vùng đất này

Hơn nữa, sự xuất hiện của những tên thực dân phương Tây cùng vớinhững hành động vô cùng ngang ngược của chúng đã tạo một mâu thuẫn hếtsức sâu sắc giữa nhân dân xứ Nghệ với bọn xâm lược Vì vậy, có thể nói, việctiếp thu nền văn minh phương Tây từ nước Pháp ở xứ Nghệ nói chung, Vinh -Bến Thuỷ nói riêng là một hình thức cưỡng bức

Tuy thế, một bộ phận cư dân của thành phố Vinh - Bến Thuỷ đã tiếpnhận nền văn hoá mới mẻ này như là một sự đáp ứng về mặt tinh thần Sựxuất hiện của nhiều loại hình văn hoá như văn hoá ẩm thực, trang phục,những hình thức giải trí mới và sự ra đời của các hiệu sách, các nhà xuất bản(như Quan hải tùng thư, Nam Đồng thư xã…) đã làm cho đời sống tinh thầncủa nhân dân thành phố trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn

Tuy nhiên, đó chỉ là sự thay đổi trong một số ít dân cư, còn đại bộ phậnnông dân làng xã vẫn lấy các điệu hò, ví dặm, các lễ hội hàng năm như mộtmón ăn tinh thần trong cuộc sống hàng ngày Sau những ngày lao động mệtnhọc, gác lại những muộn phiền lo toan, gác lại những ngày tháng chiến đấuanh dũng, gác lại mối hận thù dân tộc, họ lại tìm đến những câu ví dặm đậmchất xứ Nghệ, những điệu hò đối đáp giao duyên để mang lại những giây phútbình yên trong thời buổi loạn lạc Vẫn biết rằng nước đã mất, nhà đã tannhưng nhân dân xứ Nghệ nói chung, nhân dân thành phố Vinh - Bến Thuỷ nóiriêng vẫn giữ được truyền thống, bản sắc văn hoá của mình Thực dân Pháp

có thể biến họ thành những nô lệ về mặt thể xác nhưng không thể biến họthành những nô lệ về mặt tâm hồn Đó là cái mà những kẻ cướp nước và bán

Trang 26

nước không bao giờ có thể xâm phạm được Người dân Vinh - Bến Thuỷ cóthể bị tước đoạt quyền sống, quyền tự do nhưng không thể bị tước đoạt quyềnhưởng thụ những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần Những câu hát ví dặm,những điệu hò đối đáp không chỉ xuất hiện trong các lễ hội, trong những lúcnông nhàn, trong cả những buổi lao động mệt nhọc mà thậm chí còn xuất hiệntrong những phiên chợ ở chợ Vinh như một phương thức để buôn bán, traođổi trên các chuyến đò dọc từ Đức Thọ - Vinh, Nam Đàn - Hưng Nguyên -Vinh [15,169] Tất cả những điều đó đã tạo nên một phong cách rất riêngtrong đời sống văn hoá của cộng đồng cư dân xứ Nghệ.

Ngay từ thế kỉ XIX, ở Vinh đã có sự hiện diện của các công trình vănhoá như Văn miếu Vinh, đàn Tiên Nông, chùa Diệc, đền Quan Công, chùaCần Linh, đền thờ thần sông, thần núi, đền thờ Đức Thánh Mẫu Trước khithực dân Pháp đặt chân đến, tín ngưỡng tôn giáo ở Vinh cũng như ở xứ Nghệchủ yếu là Nho giáo và Phật giáo Theo sau gót chân của Pháp, ở Vinh xuấthiện thêm một tôn giáo mới, đó là Thiên chúa giáo và thực sự phát triển vàođầu thế kỉ XX

Sang thế kỉ XX, trường thi Hương Nghệ An vẫn được coi là một trongnhững trung tâm đào tạo, tuyển dụng nhân tài của đất nước Nhưng sự tồn tạicủa nó chỉ kéo dài đến năm 1918, khi thực dân Pháp tiến hành cải cách lần 1,xoá bỏ nền giáo dục Nho học, thay vào đó là nền giáo dục Pháp - Việt Năm

1920, chính quyền thuộc địa quyết định thành lập trường Quốc học Vinh(College Vinh), kéo theo đó là sự ra đời của một số trường tiểu học khác ởVinh (như Cao Xuân Dục, Nguyễn Trường Tộ) Điều đó cũng có nghĩa là,nền giáo dục Nho học dần dần được thay thế bởi nền giáo dục Pháp - Việtmang hơi thở hiện đại Các loại hình văn hoá mới ngày càng được mở rộngnhư âm nhạc, rạp chiếu phim, thể thao, báo chí, xuất bản thu hút một bộ phận

cư dân thành phố Vinh - Bến Thuỷ thực sự bước vào quá trình công nghiệp

Trang 27

hoá, hiện đại hoá, kéo theo đó là sự du nhập của nhiều yếu tố văn hoá, vănminh từ phương Tây dội vào Tuy vậy, với truyền thống luôn luôn giữ gìn vàphát huy bản sắc văn hoá của địa phương, của dân tộc, nhân dân thành phốVinh vừa tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá nhân loại, vừa bảo lưunhững giá trị văn hoá truyền thống quý báu của dân tộc, góp phần làm phongphú thêm đời sống văn hoá và kho tàng văn hoá của nhân dân ta.

Khi chiến tranh kết thúc, đất nước trở lại hoà bình, nhân dân đượchưởng những ngày tháng yên bình, ấm no Quần chúng nhân dân lao độngkhông chỉ có điều kiện chăm lo xây dựng, phát triển kinh tế mà còn chú trọngđến đời sống văn hoá vật chất và tinh thần Nhu cầu về thoả mãn những loạihình văn hoá là một phần không thể thiếu trong cuộc sống thường nhật, tạonên một nếp sống văn hoá trong dân cư

Xứ Nghệ từ xưa nổi tiếng là vùng đất địa linh nhân kiệt Đây không chỉlà nơi tập trung nhiều di tích lịch sử - văn hoá quý giá mà còn là mảnh đất sảnsinh ra những làn điệu dân ca, những điệu hò ví dặm Khí hậu khắc nghiệt,thường xuyên phải chống chọi với thiên tai, chiến tranh đã góp phần hìnhthành nên tính cách con người xứ Nghệ bền bỉ, rắn rỏi, bản lĩnh nhưng đồngthời cũng có một đời sống tâm hồn khá phong phú Cùng là người xứ Nghệ,cùng sinh ra trên một cái nôi văn hoá, người Vinh cũng thể hiện tình yêu thiênnhiên, đất nước, con người, tinh thần đấu tranh bất khuất, kiên cường quanhững câu ví dặm đò đưa Họ gửi gắm tất cả những tình cảm, nỗi niềm vàotrong những làn điệu dân ca Họ thêu dệt nên những bức tranh cuộc sốngmuôn màu muôn vẻ mà không lẫn với vùng đất nào khác Chính đời sống tâmhồn phong phú của cư dân xứ Nghệ nói chung, người Vinh nói riêng đã làmnên một kho tàng ca dao, dân ca hết sức đặc trưng mà ở đó, nét dân dã, bình

dị hoà lẫn với sự bác học, uyên thâm Điều đó thể hiện trí tuệ, tài năng, phẩmchất của con người nơi đây

Trang 28

Về đời sống văn hoá tư tưởng, ở Vinh không chỉ có đạo Phật, đạo Nhomà còn có sự du nhập của đạo Thiên Chúa giáo Sự hiện diện của đạo Nhođược thể hiện rõ bằng việc từ khi chuyển lỵ sở Nghệ An từ Hưng Nguyên vềVinh cho đến khi nhà Nguyễn tổ chức kì thi Hương cuối cùng, Vinh luôn làtrung tâm giáo dục thi cử, nơi đào tạo nhân tài không chỉ của Nghệ An, vùngBắc Trung Bộ mà còn của cả nước Năm 1803, Gia Long cho dựng VănMiếu ở Vinh làm nơi thờ Khổng Tử, Chu Văn An và các bậc hiền triết đã cócông sáng lập, truyền bá, phát triển Nho giáo ở Trung Quốc, Việt Nam VănMiếu còn là nơi thờ các danh nho, hiền sĩ đậu đạt cao, nổi tiếng, đón tân khoa,nơi gặp gỡ, bình luận thơ văn, nơi cầu lộc, cầu tài…

Ở Vinh cũng xuất hiện nhiều ngôi chùa, trong đó có những ngôi chùa

đã ra đời từ khá sớm (như chùa Diệc, chùa Cần Linh, chùa Ân) Vào ngàymồng một, ngày rằm hàng tháng, nhân dân thành phố Vinh lại có thói quen đithắp hương dâng lễ tại các đền, chùa trên địa bàn thành phố Đặc biệt, trongcác ngày lễ quan trọng như Tết Nguyên đán, rằm tháng giêng, rằm thángbảy… số người đi thắp hương ngày càng đông hơn, họ còn tìm đến các đền,chùa ở trong tỉnh Nghệ An, thậm chí là sang cả Hà Tĩnh

1.2 Sự ra đời các di tích lịch sử - văn hóa ở thành phố Vinh

1.2.1 Các loại di tích:

Thành phố Vinh ra đời cách đây hơn 2 thế kỷ nhưng hệ thống di tích đã

có mặt từ sớm trên mảnh đất này Hiện nay, trên địa bàn thành phố Vinh cócác loại hình di tích:

Trang 29

Theo Hồ Hữu Thới trong “Nghệ An, di tích danh thắng” [24, 8], di tích

lịch sử là những sản phẩm của lịch sử để lại, đó là những nơi ghi dấu về sựhình thành dân tộc, ghi dấu những sự kiện chính trị quan trọng, những chiếncông chống giặc ngoại xâm, những chứng tích tội ác của kẻ thù, nơi lưu niệmdanh nhân… Di tích lịch sử ở thành phố Vinh phản ánh lịch sử đấu tranh kiêncường bất khuất của nhân dân thành phố qua từng giai đoạn lịch sử Qua đó,khẳng định được vị trí, vai trò của thành phố Vinh trong lịch sử dân tộc nóichung và Nghệ An nói riêng Di tích lịch sử được chia làm 3 loại: di tích lịch

sử văn hoá, di tích cách mạng, di tích lưu niệm danh nhân

Di tích lịch sử văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật,tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cùng các giá trịvăn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triểnvăn hoá, xã hội, tiểu biểu như: thành cổ Vinh, đền Hồng Sơn…

Di tích cách mạng là di tích ghi dấu những cơ sở cách mạng, nhữngphong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân thành phố Vinh dưới sự lãnhđạo của Đảng cộng sản Việt Nam, tiêu biểu: làng Đỏ Hưng Dũng, nhà máyđiện Vinh, ngã ba Bến Thuỷ…

Di tích lưu niệm danh nhân là những di tích về những người có nhiềucống hiến to lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tiêu biểu: cụm

di tích ghi dấu sự kiện Bác Hồ về thăm quê, nhà ở và hầm của đồng chí LêViết Cường, địa điểm đồng chí Lê Mao hy sinh, địa điểm đồng chí Lê ViếtThuật bị bắt…

Di tích kiến trúc nghệ thuật là những công trình văn hoá có kiến trúc

cổ, đẹp, thường là những ngôi đình, đền, chùa, miếu có giá trị tiêu biểu trongcác giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc, ví dụ: chùa CầnLinh, đền Hồng Sơn…

Trang 30

Danh lam thắng cảnh là những cảnh quan thiên nhiên, địa điểm có sựkết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử,thẩm mỹ, tiêu biểu như: núi Quyết và khu vực Phượng Hoàng Trung Đô.

1.2.2 Nguồn gốc lịch sử

những di tích ra đời cách đây hàng trăm năm, qua thời gian vẫn tồn tại bềnvững cho đến ngày nay như các ngôi đền, chùa, miếu, thành cổ; có những ditích ra đời từ thế kỷ trước, gắn liền với những sự kiện lịch sử quan trọng haynhững nhân vật lịch sử tiêu biểu, thường là những di tích cách mạng, di tíchlưu niệm danh nhân Muộn hơn, có những di tích chỉ mới ra đời cách đây vàichục năm, thậm chí vài năm, ví dụ như đền thờ vua Quang Trung trên núiQuyết được xây dựng vào năm 2005

Các di tích dù là đền, chùa, miếu, đình, thành cổ hay nhà thờ họ… đềuđược xây dựng trên những vùng đất cao ráo, thoáng đãng, thậm chí đượcnghiên cứu kỹ về địa hình, đất đai, phong thuỷ, nơi hội tụ những linh khí củatrời đất Vì thế, vị trí thường được đặt gần các con sông hoặc lấy một ngọnnúi làm điểm tựa và thường quay về hướng nam

Đối với các di tích có thời gian xuất hiện lâu đời thì thường có những têngọi khác nhau gắn với mỗi giai đoạn lịch sử Tên gọi của di tích thường lấytheo tên địa danh nơi có di tích đó, hoặc tên danh nhân gắn liền với di tích đó

Trong hệ thống di tích lịch sử - văn hoá, ra đời sớm nhất phải kể đến hệthống đền, chùa, đình, miếu… Các ngôi chùa xuất hiện cùng với sự lan toả vàphát triển của đạo Phật ở Nghệ An khoảng thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII Đồngthời, nhân dân còn lập các đền, thờ, miếu mạo để tưởng nhớ các vua Hùng,các anh hùng có công với non sông đất nước

Chùa là nơi thờ Phật, biểu tượng của sự từ bi, bác ái, một đạo lý rất gầngũi và quen thuộc đối với nhân dân Việt Nam Đền là nơi thờ Thánh, đó là

Trang 31

những người có công với dân với nước, những anh hùng dân tộc, những vịkhai canh làng xã, được nhân dân ngưỡng mộ và tôn thờ như: Trần HưngĐạo, Quang Trung - Nguyễn Huệ… Đền, chùa, đình, miếu là những nơi sinhhoạt văn hoá tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh không thể thiếu đượccủa nhân dân trong bất cứ hoàn cảnh nào Đó là nhu cầu thường trực dù làtrong thời bình hay trong thời buổi chiến tranh, loạn lạc Nếu như trong thờibình, người ta tìm đến đền, chùa để đến với cõi tâm linh, tìm thấy những niềm

an ủi, hoan lạc trong cuộc sống, cầu mong một cuộc sống ấm no, hạnh phúc,giải toả những lo âu, muộn phiền sau những giờ lao động vất vả, mệt nhọc; thìtrong thời chiến, người ta tìm đến đây để khao khát thoát khỏi những khổ đau,hoạn nạn, mong muốn một cuộc sống tự do, hoà bình và lên trên hết là khátvọng giành lại giang sơn, gấm vóc, giành lại độc lập, chủ quyền, xây dựngmột đất nước cường thịnh

Nếu ngôi chùa thể hiện sự phát triển của đạo Phật thì sự ra đời của VănMiếu Vinh (Văn Thánh) lại chứng tỏ một bước phát triển cao của Nho giáo ởthành phố Vinh Văn Miếu được lập ra để thờ Khổng Tử, Chu Văn An và cácbậc hiền triết đã có công sáng lập, truyền bá, phát triển Nho giáo ở Trung Quốcvà Việt Nam Văn Miếu còn là nơi sinh hoạt văn hoá của nhân dân, thờ cácdanh nho, hiền sĩ đậu đạt cao, đón tân khoa, bình văn thơ, cầu lộc, cầu tài…

Nghệ An nổi tiếng là vùng đất hiếu học không chỉ vì có những conngười tài năng xuất chúng mà còn có những dòng họ với truyền thống khoabảng lâu đời như họ Nguyễn, họ Hoàng, Họ Uông, Họ Đinh… Các nhà thờ họlần lượt mọc lên, trở thành những điểm di tích có giá trị về mặt văn hoá vàlịch sử

Thế kỉ XVIII, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế đã chọn Nghệ An làm đấtđóng đô, xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô trên núi Quyết, trở thành một di tíchvà là niềm tự nào của nhân dân thành phố Vinh nói riêng, xứ Nghệ nói chung

Trang 32

Trong thời kì cách mạng cũng hình thành nhiều di tích gắn liền vớinhiều sự kiện quan trọng của đất nước như: làng Đỏ Hưng Dũng, ngã ba BếnThuỷ, nhà máy điện Vinh…

Thời hiện đại, nhân dân đã xây dựng nhiều di tích có giá trị như: đềnthờ Quang Trung trên núi Quyết, Quảng trường Hồ Chí Minh, tượng đài Xôviết Nghệ Tĩnh…

1.2.3 Đặc điểm kiến trúc - điêu khắc

Mỗi di tích là một công trình kiến trúc có giá trị tiêu biểu cho một haynhiều giai đoạn phát triển của kiến trúc nghệ thuật của dân tộc Cùng với sự

đa dạng về loại hình, mỗi loại di tích có những đặc điểm kiến trúc - điêu khắcriêng biệt Tuy nhiên, dù là đình, đền, chùa, miếu hay nhà thờ họ thì ít nhiềuvẫn mang phong cách kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam

Yếu tố đầu tiên khi xây dựng một công trình kiến trúc cổ đó là cần cómột vị trí đẹp, cao ráo, có thể là nơi hội tụ linh khí của trời đất với không gianthoáng đãng, yên bình Điều này xuất phát từ điều kiện tự nhiên, khí hậu củađất nước và triết lý sống của người Việt là lối sống hài hoà với thiên nhiên,thuận theo thiên nhiên Cũng chính vì lẽ đó, các công trình kiến trúc thường

có sự kết hợp của “kiến trúc đóng” và “kiến trúc mở” chứ không chỉ đơn thuần là “kiến trúc đóng” của phương Tây Một công trình kiến trúc là sự

tổng hợp của các thành phần nhà cửa, sân vườn, ao, hồ được bao quanh bởihàng rào hoặc tường xây, thể hiện nguyên tắc khép kín Nhưng trong sự khépkín lại có tính mở Trước hết là sự hoà quyện với thiên nhiên, từng kiến trúc

cụ thể có kết cấu riêng song không tách rời nhau, không có ranh giới dứtkhoát, lúc nào cũng gần gũi với tự nhiên

Một công trình kiến trúc dù quy mô lớn hay nhỏ đều được đặt trongmột khung cảnh thiên nhiên êm đềm, thoáng đãng Cảnh quan thiên nhiên làmnền cho công trình kiến trúc Kết cấu thường có sự kết hợp hài hoà giữa âm

Trang 33

và dương, có trước có sau, có cảnh trí hai bên cân đối Hầu hết các công trìnhkiến trúc thường không đồ sộ mà có quy mô vừa và nhỏ Bố cục giản dị, mộcmạc, nhẹ nhàng, thanh thoát, ít có những hình thức nặng nề, loè loẹt, rườm rà,phô trương.

Chùa là kiến trúc Phật giáo nhưng Phật giáo du nhập vào nước ta tronghoàn cảnh đất nước bị ngoại bang đô hộ, nhân dân phải chịu cảnh sống nô lệ,

bần hàn Đạo Phật với tư tưởng “từ, bi, hỷ, xả” đã trở thành một nguồn an ủi

vô cùng lớn lao, một chỗ dựa về mặt tinh thần Theo đó, chùa cũng mang tínhdân gian của người dân Việt Nam

Đền, chùa thường được xây dựng ở trên mảnh đất hội tụ khí thiêng củatrời đất, vị trí đẹp, hài hoà giữa các yếu tố: thiên, địa, nhân, có khung cảnhthiên nhiên tĩnh lặng Kiến trúc chùa thường bao gồm cổng tam quan, sânchùa, nhà bái đường, chính điện và hậu đường Ngoài ra, còn có vườn cây,vườn hoa, giếng, ao, hồ sen Với sự kết hợp của cảnh quan thiên nhiên, cácngôi chùa thường đem lại cho con người cảm giác nhẹ nhõm, thư thái, thanhtịnh Về đại thể, kiến trúc bên ngoài của đền cũng có những đặc điểm cơ bảngiống với chùa, chỉ khác về nội dung thờ cúng và trang trí nội thất

Khác với đền, chùa thì đình thường lấy vị trí trung tâm, có kiến trúc đơngiản hơn Đình thường là một ngôi nhà to, rộng, có 3 đến 5 gian, dựng bằngnhững cột lim tròn, to và thẳng Vì, kèo ngang dọc làm bằng gỗ lim, tường xâybằng gạch, mái lợp ngói mũi hài Gian giữa có bàn thờ thờ Thành hoàng làng,

có một chiếc trống cái để dùng khi tập trung quần chúng hội họp Phía trướcđình là một khoảng sân rộng, là nơi tổ chức các sự kiện quan trọng của làng.Đình có quy mô to nhỏ, trang trí tinh xảo, phong phú hay mộc mạc, khiêm tốntuỳ vào điều kiện kinh tế của địa phương và sự đóng góp của nhân dân

Miếu có quy mô nhỏ hơn đền, thường toạ lạc nơi yên tĩnh, thiêng liêng,

xa khu dân cư, là nơi yên nghỉ của các vị thánh thần Miếu thường có 3 gian,

Trang 34

không có nhà tả, hữu, sân nhỏ, không có tam quan Đối tượng thờ cúng rất đadạng Miếu cũng là nơi thờ những người có công với non sông, đất nước.

Kiến trúc đình, đền, chùa, miếu thường đơn giản, khiêm nhường chứkhông to lớn, xa hoa, cầu kỳ Kết cấu gỗ là rường cột chính của các công trìnhkiến trúc này Các thành phần kèo, cột kết cấu theo kiểu chồng rường, giáchiêng, vì kèo Đường nét hoa văn được chạm trổ công phu, cách điệu, tạo sựuyển chuyển, mềm mại mà vẫn nghiêm trang, cổ kính Mái, tường, cửa, cột,khoảng cách trong ngoài được bố trí hợp lý, hài hoà Phần mái thường đượcuốn cong, thanh thoát ở 4 đầu, tạo cảm giác bay bổng cho toàn bộ kiến trúcvốn thấp, phát triển theo tuyến dài hơn là chiều cao và bớt đi vẻ nặng nề củakết cấu gỗ

Kiến trúc nhà thờ họ có quy mô nhỏ, thường làm một tầng, 3 gian lợpngói, trang trí nhiều hoa văn rồng, phượng Việc xây cất nhà thờ họ cũngđược tuân theo luật phong thuỷ, dựa vào thế đất, có thanh long, bạch hổ, códòng sông làm minh đường Nhà thờ họ được đặt trong một khuôn viên cóhàng rào bao quanh với nhiều cây hoa, cây cảnh Kết cấu nói chung là kiểuchồng rường theo kiến trúc dân gian truyền thống Gian giữa đặt bàn thờchính thờ vị tổ của dòng họ, có bài vị đặt trên một ngai vàng, xung quanh là

có đèn, nến, hương hoa, có thể có những kỷ vật cổ xưa, sắc phong của vuachúa Hai bên là những bàn thờ thờ những vị danh nhân của dòng họ Phíatrước có sân rộng để tiến hành nghi lễ và tụ họp con cháu vào những ngày lễ,giỗ của dòng họ Quy mô, kiến trúc của nhà thờ họ phụ thuộc vào khả năngtài chính của mỗi gia đình trong dòng họ và theo địa vị xã hội của nhữngngười vai vế trong họ

Thành luỹ được xây dựng theo kiến trúc phòng ngự, phục vụ chủ yếucho mục đích quân sự, quốc phòng Bố cục thành luỹ có các hình dạng khácnhau: hình vuông, hình đa giác… Vật liệu xây dựng phong phú gồm: đất, đá

Trang 35

ong, gạch, vôi vữa… Kiến trúc lăng mộ là những công trình lăng tẩm, mộ tángcủa những anh hùng dân tộc, những người có công lao to lớn với dân với nước.

Mỗi công trình kiến trúc là kết quả của một quá trình lao động cực nhọcmà đầy sáng tạo của nhân dân ta qua từng thời kỳ lịch sử, thể hiện sự tài hoa,trình độ thẩm mỹ, điêu khắc của cha ông trong lịch sử

1.3 Hiện trạng và công tác bảo tồn các di tích

1.3.1 Hiện trạng các di tích

Hiện nay, trên địa bàn thành phố Vinh có trên 70 di tích - danh thắng,trong đó có 11 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 1 di tích được xếp hạngcấp tỉnh, 15 di tích do thành phố trực tiếp quản lý, còn lại là các di tích do cácphường, xã trực tiếp quản lý

Trải qua bao thời gian, chứng kiến những biến động lớn lao của lịch sửdân tộc, đa số di tích đã không còn nguyên vẹn như ban đầu bởi sự tàn phácủa thời gian, cộng với khí hậu khắc nghiệt, đặc biệt là do chiến tranh, bomđạn kẻ thù trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Nhiều ditích nay chỉ còn là phế tích như: chùa Diệc, Văn Thánh, ngã ba Bến Thuỷ,Dăm Mụ Nuôi…

Trong số các di tích còn lại đến ngày nay, đền Hồng Sơn là một trongnhững ngôi đền hiếm hoi trên đất Nghệ An còn lưu giữ khá nguyên vẹn kiếntrúc ban đầu Còn các đền, chùa khác thì bị phá huỷ khá nặng nề, nhiều ngôichùa hiện nay không còn nữa Chùa Diệc bị phá huỷ gần như hoàn toàn, hiệnchỉ còn cổng tam quan, một số tượng thờ Phật và hai tấm bia

Đáng tiếc hơn là nhiều di tích đã bị xâm phạm diện tích để xây dựngcác công trình khác, làm mất đi cảnh quan và giảm giá trị của di tích như VănThánh, chùa Diệc, thành cổ Vinh… Một số di tích bị xuống cấp nghiêm trọng

do sự thờ ơ, quản lý không chặt chẽ của các cấp chính quyền địa phương Một

Trang 36

số di tích được phục dựng lại nhưng không đúng với kiến trúc ban đầu màmang nặng kiến trúc hiện đại, mất đi vẻ cổ kính, trang nghiêm của di tích.

Nhiều di tích được phục dựng lại một cách khá nguyên vẹn dựa trênnhững cơ sở vật chất còn sót lại và mô phỏng kiến trúc ban đầu Một số ditích được sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế, văn hoá, du lịch như: thành

cổ Vinh, núi Quyết và Phượng Hoàng Trung Đô, Nhà máy điện Vinh…

Các di tích đền, chùa, miếu, đình… vẫn là nơi sinh hoạt văn hoá tinhthần, nơi tổ chức các lễ hội với các phong tục truyền thống, các trò chơi dângian, văn hoá văn nghệ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống văn hoátinh thần của nhân dân Các di tích còn là nơi du khách đến tham quan,thưởng ngoạn cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, trở thành những điểm du lịchhấp dẫn, nổi tiếng

1.3.2 Công tác bảo tồn các di tích

Hiện nay, một số di tích trên địa bàn thành phố Vinh bị xuống cấpnghiêm trọng Vì thế, bảo tồn các di tích là việc làm hết sức cấp bách, cần có

sự vào cuộc đồng bộ của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và của toàn xã hội

để trả lại diện mạo cũng như giá trị của di tích

Bảo tồn nhằm mục đích bảo đảm sự tồn tại lâu dài, ổn định của di tích

để sử dụng và phát huy giá trị của di tích Bên cạnh việc bảo tồn là việc tiếnhành các hoạt động bảo quản, tu bổ, tôn tạo, gia cố, gia cường, phục hồi, tusửa cấp thiết di tích

Năm 1984, Hội đồng Nhà nước nước CHXHCN Việt Nam ban hànhPháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh.Ngay sau đó, ngành Văn hoá - Thông tin đã có nhiều biện pháp để bảo tồn,tôn tạo, phát huy giá trị các di tích Song song với việc triển khai chương trìnhchống xuống cấp di tích của Bộ Văn hoá - Thông tin, ngành đã tiến hành tổngkiểm kê di tích trên địa bàn tỉnh Nghệ An và thành phố Vinh Đó là những cơ

Trang 37

sở pháp lý quan trọng tạo điều kiên thuận lợi cho việc phát huy tác dụng của

di tích - danh thắng ở thành phố Vinh Việc bảo tồn và phát huy giá trị di tíchgóp phần giáo dục truyền thống dân tộc, chấn hưng văn hoá dân tộc

Trước khi có Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hoá, danhlam thắng cảnh (1984) và Luật Di sản Văn hoá, việc bảo tồn, phát huy giá trị ditích ở thành phố Vinh đã được chú trọng song chưa thực sự đúng mức Trên địabàn thành phố, nhiều di tích do sự tàn phá của thời gian, của chiến tranh nênchỉ còn là phế tích Ý thức của nhân dân trong việc tôn tạo, bảo vệ, khai tháccác giá trị văn hoá là chưa cao Đầu tư của nhà nước và đầu tư từ nguồn đónggóp của nhân dân cho hoạt động này chưa thực sự thoả đáng

Thực hiện Luật Di sản văn hoá, ngành văn hoá đã tiến hành phân loạivà phân cấp quản lý di tích - danh thắng một cách khoa học, phù hợp với tìnhhình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố trong thời kỳ công nghiệp hoá,hiện đại hoá Để quản lý tốt hơn nữa các di tích trên địa bàn, năm 2002, Banquản lý di tích - danh thắng Nghệ An được ra đời Đây là một đơn vị sựnghiệp chịu trách nhiệm tham mưu cho ngành văn hoá và chỉ đạo cơ sở trongcông tác trùng tu, tôn tạo, khai thác phát huy giá trị di tích - danh thắng ởNghệ An cũng như ở thành phố Vinh

Năm 2004, dưới sự chỉ đạo của ngành Văn hoá - Thông tin, công táckiểm kê các di tích - danh thắng được tiến hành trên toàn tỉnh Nghệ An Qua

đó, hệ thống được số lượng, loại hình, tên gọi, địa điểm phân bố, nội dung giátrị, hiện trạng của hệ thống di tích - danh thắng ở Nghệ An Tiếp đó, ngành

Văn hoá - Thông tin đã xây dựng “quy hoạch tu bổ, tôn tạo, phân cấp quản lý cho từng vùng, miền, địa phương nhằm huy động mọi nguồn lực xã hội phục vụ cho công tác trùng tu, tôn tạo, giữ gìn, bảo vệ và phát huy giá trị di tích - danh thắng, đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thống, mở rộng du lịch và giao lưu văn hoá” [24, 9].

Trang 38

Thực hiện chương trình chống xuống cấp di tích của Bộ Văn hoá Thông tin, bên cạnh nguồn ngân sách do Nhà nước đầu tư, ngành đã tuyêntruyền, vận động nhân dân đóng góp sức người, sức của với hàng tỷ đồng chocông tác trùng tu, tôn tạo di tích Hầu hết các di tích được xếp hạng quốc giađều có kinh phí chống xuống cấp.

-Ngoài ra, việc bồi dưỡng và nâng cao năng lực một cách thường xuyêncho cán bộ làm công tác di tích cũng được ngành chú trọng Hàng năm, ngành

tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ và những người trực tiếp làm công táctrông coi, bảo vệ di tích

Nhờ những biện pháp tích cực mà nhiều di tích đã được trùng tu, tôntạo khá quy mô, có thể chống đỡ với sự tàn phá của thời gian như: đền HồngSơn, đền thờ vua Quang Trung, đền Tiên Cảnh…

Tiểu kết chương 1:

Sinh ra trên một mảnh đất giàu truyền thống lịch sử và văn hoá - xứNghệ, thành phố Vinh chứa đựng trong lòng nó những chứng tích của lịch sử,những nét văn hóa quý báu được lưu truyền từ đời này sang đời khác Và hệthống di tích lịch sử - văn hoá là những minh chứng hùng hồn, sinh động chonhững trang sử vẻ vang mà đầy đau thương của nhân dân thành phố Vinh Sự

ra đời của các di tích đã làm nên diện mạo của một thành phố đỏ anh hùng.Tuy số lượng di tích không nhiều nhưng lại có đầy đủ các loại hình với đình,đền, chùa, miếu, nhà thờ, thành cổ, lăng mộ… Hầu hết các di tích đã khôngcòn nguyên vẹn như xưa, có những di tích đã mất đi hoặc trở thành phế tích.Điều quan trọng là các di tích phải được trả về đúng với diện mạo vốn có củachúng Đó là tài sản quý giá cần được bảo vệ, giữ gìn và bảo tồn lâu dài

Trang 39

CHƯƠNG 2 DIỆN MẠO MỘT SỐ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TIÊU BIỂU

Ở THÀNH PHỐ VINH (NGHỆ AN)

2.1 Chùa Cần Linh (Xem Hình 1, Phụ lục)

Chùa Cần Linh được xây dựng vào thời Hậu Lê, thuộc hệ phái Phậtgiáo Bắc tông Chùa nằm ở phía Tây Nam thành phố, được xây dựng trên mộtvùng đất trước đây thuộc làng Vang, tổng Yên Trường, huyện Hưng Nguyên,nay là phường Cửa Nam, thành phố Vinh Phía Đông và Nam của chùa cósông Cồn Mộc chảy qua, phía Tây giáp khu dân cư và cơ quan, phía Bắc làđường Nguyễn Sinh Cung

Chùa có diện tích 6538 m2, xây theo hướng Đông - Tây Chùa ban đầu

có tên là Linh Vân Tự (nghĩa là “chùa mây thiêng”) Khi đến thăm chùa, vua

Tự Đức thấy ngôi chùa linh thiêng với nhiều huyền tích bí ẩn nên đã hiến tặng

cho chùa một bức đại tự khắc chữ “Cần Linh” Tên gọi chùa Cần Linh có từ

đó Chùa Cần Linh còn có tên là chùa Sư nữ, vì các vị sư trụ trì chùa từ trước

đến nay đều là nữ “Sư nữ” đã trở thành danh từ quen thuộc trong dângian

Nếu mở rộng tầm mắt thì trước mặt chùa là dãy Thiên Nhẫn, núi HồngLĩnh sừng sững trùng điệp, phía sau là núi Đại Hải, nơi có mộ tổ của vuaQuang Trung; núi Chung, Nam Đàn, quê hương chủ tịch Hồ Chí Minh Sự hội

tụ của cảnh vật thiên nhiên đã đem lại cho ngôi chùa một không gian vừa tĩnhlặng vừa thanh cao

2.1.1 Bố cục các công trình kiến trúc của chùa

Về kiến trúc của chùa gồm có: cổng Tam quan, sân chùa, lăng mộ, nhàBái đường, nhà Thượng điện, nhà thờ Phật tổ, nhà Tả vu, nhà Hữu vu và cácnhà phụ

Trang 40

Cổng Tam quan:

Tam quan của chùa có thể dễ dàng quan sát từ đường Phan Đình Phùng

và đường Đặng Thái Thân “Tam quan” nghĩa là ba con đường dẫn tới đường

tu chốn Phật đàn Cổng lớn nhất gọi là “Linh tự môn”, rộng 3,1 m, hai bên là

hai cột nanh có cấu trúc giống nhau, mỗi cột cao 6,25 m, thiết diện hìnhvuông gồm 3 phần:

- Đế cột: đắp theo kiểu hình chân quỳ, có kích thước: 1,05 x 1,05 x 0,90m; đế cột tuy cấu trúc đơn giản nhưng chắc khoẻ

- Thân cột: là 4 mặt hình chữ nhật, kích thước 0,68 x 4,55 m, được đắpnổi các đường chỉ viền xung quanh, rộng 12 cm Hai mặt đối nhau của mỗicột có hàng chữ Hán dạng câu đối:

Cột bên trái: Đuốc trí tuệ soi đường bác ái,

Cửa từ bi đón khách thập phương

Cột bên phải: - Chân quan thanh tịnh quan

Quảng đại trí tuệ quan

- Bi quan cập từ quan

Thường nguyện thường chiêm ngưỡng

Nội dung các câu trên muốn nói rằng, cửa chùa rộng mở, đón kháchthập phương đến vãn cảnh chùa và nhân tâm đạo đức, trí tuệ là con người nơicửa Phật

- Đỉnh cột: trên đỉnh đội hoa sen, cấu trúc gần giống đế cột, cũng đắphình chân quỳ nhưng 4 mặt, mỗi cạnh đắp 3 đường chỉ chạy song song tạothành hình vuông, ở giữa đắp nổi hoạ tiết kiểu chữ Triện vuông, kích thước:0,68 x 0,68 x 0,90 m

Cách cổng chính mỗi bên 4 m là hai cổng phụ, rộng 1,6 m, cao 2,46 m,đỉnh hình vòm, cấu trúc đơn giản

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An, (2008), Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, tập III (1975 - 2005), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, tập III (1975 - 2005)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Nghệ An
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2008
2. Ban chấp hành Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam thành phố Vinh, (2010), Lịch sử Đảng bộ thành phố Vinh (1930 - 2005), Sơ thảo, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ thành phố Vinh (1930 - 2005)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam thành phố Vinh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2010
3. Nguyễn Hữu Bản, (2011), Hoàng đế Quang Trung với Phượng Hoàng - Trung Đô, Bản đánh máy tổng hợp một số nội dung trong Hội thảo“Hoàng đế Quang Trung với Phượng Hoàng Trung Đô”, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng đế Quang Trung với Phượng Hoàng - Trung Đô," Bản đánh máy tổng hợp một số nội dung trong Hội thảo "“Hoàng đế Quang Trung với Phượng Hoàng Trung Đô”
Tác giả: Nguyễn Hữu Bản
Năm: 2011
4. Phạm Xuân Cần, (2008), Văn hoá đô thị với thực tiễn thành phố Vinh, NXB Nghệ An, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá đô thị với thực tiễn thành phố Vinh
Tác giả: Phạm Xuân Cần
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2008
5. Nguyễn Đổng Chi (chủ biên), (1995), Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, Trung tâm KHXH&NV Quốc gia, Viện nghiên cứu Văn hóa dân gian, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi (chủ biên)
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 1995
6. Trần Kim Đôn, (2009), Địa lý tỉnh Nghệ An, NXB Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý tỉnh Nghệ An
Tác giả: Trần Kim Đôn
Nhà XB: NXB Thời đại
Năm: 2009
7. Ninh Viết Giao, (2000), Tục thờ thần và thần tích Nghệ An, Sở Văn hoá - Thông tin Nghệ An, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục thờ thần và thần tích Nghệ An
Tác giả: Ninh Viết Giao
Năm: 2000
8. Ninh Viết Giao, (2008), Từ điển nhân vật xứ Nghệ, Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ ChÝ Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển nhân vật xứ Nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: NXB Tổng hợp Thành phố Hồ ChÝ Minh
Năm: 2008
9. Ninh Viết Giao, Trần Kim Đôn, Nguyễn Thanh Tùng (2005), Nghệ An Lịch sử và văn hoá, Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An Lịch sử và văn hoá
Tác giả: Ninh Viết Giao, Trần Kim Đôn, Nguyễn Thanh Tùng
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2005
10. Ninh Viết Giao, (1996), Kho tàng ca dao xứ Nghệ, tập 1, Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao xứ Nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 1996
11. Ninh Viết Giao, (chủ biên), (2004), Văn bia Nghệ An, Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bia Nghệ An
Tác giả: Ninh Viết Giao, (chủ biên)
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2004
12. Ninh Viết Giao, (2003), Về văn hoá xứ Nghệ, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn hoá xứ Nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2003
13. Nguyễn Duy Hinh, (1996), Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1996
14. Hippolyte Le Breton, (2005), An Tĩnh cổ lục, NXB Nghệ An, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Tĩnh cổ lục
Tác giả: Hippolyte Le Breton
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2005
15. Nguyễn Quang Hồng, (2003), Thành phố Vinh, quá trình hình thành và phát triển (1804 - 1945), NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phố Vinh, quá trình hình thành và phát triển (1804 - 1945)
Tác giả: Nguyễn Quang Hồng
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2003
16. Bùi Dương Lịch, (1993), Nghệ An ký, Nguyễn Thị Thảo dịch, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An ký
Tác giả: Bùi Dương Lịch
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1993
17. Ngô Sĩ Liên, (1969), Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1969
18. Đỗ Văn Ninh, (2001), Quốc Tử Giám và trí tuệ Việt Nam, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc Tử Giám và trí tuệ Việt Nam
Tác giả: Đỗ Văn Ninh
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin
Năm: 2001
19. Lê Xuân Quang, (1996), Thờ thần ở Việt Nam (2 tập), NXB Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thờ thần ở Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Quang
Nhà XB: NXB Hải Phòng
Năm: 1996
20. Quốc sử quán triều Nguyễn, (1970), Đại Nam nhất thống chí, tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1970

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH 1: CHÙA CẦN LINH - Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu ở thành phố vinh, nghệ an
HÌNH 1 CHÙA CẦN LINH (Trang 154)
HÌNH 2: TAM QUAN CHÙA DIỆC - Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu ở thành phố vinh, nghệ an
HÌNH 2 TAM QUAN CHÙA DIỆC (Trang 155)
HÌNH 3: ĐỀN HỒNG SƠN - Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu ở thành phố vinh, nghệ an
HÌNH 3 ĐỀN HỒNG SƠN (Trang 156)
HÌNH 4: ĐỀN QUANG TRUNG - Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu ở thành phố vinh, nghệ an
HÌNH 4 ĐỀN QUANG TRUNG (Trang 157)
HÌNH 5: BIA DẪN TÍCH PHƯỢNG HOÀNG TRUNG ĐÔ - Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu ở thành phố vinh, nghệ an
HÌNH 5 BIA DẪN TÍCH PHƯỢNG HOÀNG TRUNG ĐÔ (Trang 158)
HÌNH 6: CỔNG TIỀN THÀNH CỔ VINH - Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu ở thành phố vinh, nghệ an
HÌNH 6 CỔNG TIỀN THÀNH CỔ VINH (Trang 159)
HÌNH 7: CỔNG TẢ THÀNH CỔ VINH - Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu ở thành phố vinh, nghệ an
HÌNH 7 CỔNG TẢ THÀNH CỔ VINH (Trang 160)
HÌNH 8: CỔNG HỮU THÀNH CỔ VINH - Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu ở thành phố vinh, nghệ an
HÌNH 8 CỔNG HỮU THÀNH CỔ VINH (Trang 161)
HÌNH 9: ĐÌNH TRUNG TRONG LÀNG ĐỎ HƯNG DŨNG - Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu ở thành phố vinh, nghệ an
HÌNH 9 ĐÌNH TRUNG TRONG LÀNG ĐỎ HƯNG DŨNG (Trang 162)
HÌNH 10: CÂY SANH CHÙA NIA TRONG KHUÔN VIÊN TRƯỜNG ĐHSP KỸ THUẬT VINH - Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu ở thành phố vinh, nghệ an
HÌNH 10 CÂY SANH CHÙA NIA TRONG KHUÔN VIÊN TRƯỜNG ĐHSP KỸ THUẬT VINH (Trang 163)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w