1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu ở huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh

125 1,8K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu ở huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả Đặng Thúy Tiểu Trà
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Trọng Văn
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch Sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên bức tranh chung của lịch sử dân tộc, huyện Lộc Hà cũng như các huyện khác của cả nước, hòa cùng với sự phong phú cả về vật chất lẫntinh thần người dân huyện Lộc Hà có cả một

Trang 2

một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu ở huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh” tôi

đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo, các cấp lãnh đạo, gia đình, anh chị em, bạn bè đồng nghiệp.

Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn đối với: Ban giám hiệu, các phòng, khoa, Hội đồng khoa học của trường Đại học Vinh; Ban giám hiệu, tập thể Phòng tổ chức cán bộ trường; các thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn; đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo - PGS.TS Nguyễn Trọng Văn đã dành nhiều thời gian, tận tình hướng dẫn giúp

đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Tôi xin trân trọng cảm ơn cán bộ phòng Văn hoá huyện Lộc Hà, phòng quản lý di sản thuộc sở Văn hoá thể thao và du lịch tỉnh Hà Tĩnh, Bảo tàng tổng hợp tỉnh Hà Tĩnh, Thư viện trường Đại học Vinh đã cung cấp thông tin,

số liệu và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.

Trong quá trình học tập, nghiên cứu tôi đã có nhiều cố gắng nhưng cũng không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả:

Đặng Thuý Tiểu Trà

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học của đề tài 6

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7

5 Đóng góp của luận văn 9

6 Bố cục của luận văn 9

NỘI DUNG 10

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ - VĂN HÓA HUYỆN LỘC HÀ,TĨNH HÀ TĨNH 10

1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội huyện Lộc Hà 10

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 10

1.1.2 Dân số và nguồn nhân lực 15

1.2 Đặc điểm kinh tế - văn hóa 16

1.2.1 Về kinh tế 16

1.2.2 Truyền thống văn hóa, lịch sử 18

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2 DIỆN MẠO MỘT SỐ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TIÊU BIỂU Ở HUYỆN LỘC HÀ,TĨNH HÀ TĨNH 29

2.1 Các di tích Đền, Đình, Miếu 29

2.1.1 Đền Mai Lâm (đền thờ vọng Lê Khôi – xã Mai Phụ) 29

2.1.2 Đền Cả (Xã Ích Hậu) 34

2.1.3 Đền thờ Tiến sĩ Nguyễn Văn Giai (xã Ích Hậu) 41

2.1.4 Đền Ngọc Mỹ (xã Phù Lưu) 46

2.1.5 Đền Thanh Hòa (xã Phù Lưu) 48

Trang 4

2.2 Các di tích Chùa 56

2.2.1 Quần thể di tích chùa Chân Tiên (xã Thịnh Lộc) 56

2.2.2 Chùa Kim Dung (xã Thạch Bằng) 62

2.2.3 Chùa Xuân Đài (xã Thạch Bằng) 68

2.3 Các di tích nhà thờ họ 70

2.3.1 Nhà thờ họ Phan Huy (xã Thạch Châu) 70

2.3.2 Nhà thờ dòng họ Nguyễn Đức và Chi Gia Trang (xã Ích Hậu) 74

Tiểu kết chương 2 83

Chương 3 GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ CÔNG TÁC BẢO TỒN PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA CÁC DI TÍCH 84

3.1 Giá trị lịch sử, văn hóa của các di tích 84

3.1.1 Giá trị lịch sử 84

3.1.2 Giá trị văn hóa – nghệ thuật 86

3.1.3 Giá trị về kinh tế – du lịch của các di tích 90

3.2 Bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích 91

3.2.1 Thực trạng công tác bảo tồn, trùng tu di tích 91

3.2.2 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích 98

Tiểu kết chương 3 101

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Căn cứ Điều 4 Luật Di sản văn hóa, điều 14 Nghị định số

92/2002/NQ – CP ngày 11 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ quy định chitiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa, thì di tích lịch sử - văn hóa

là một công trình được xây dựng trong quá khứ của lịch sử, các di vật, cổ vật,bảo vật quốc gia thuộc công trình đó, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa vàkhoa học

Huyện Lộc Hà (Hà Tĩnh) được thành lập từ năm 2007, trên cơ sở sátnhập 7 xã vùng Hạ Can của huyện Can Lộc và 6 xã ven biển của huyện Thạch

Hà Tuy là huyện mới được thành lập nhưng lịch sử hình thành và phát triểncủa các làng xã thuộc huyện Lộc Hà đã có từ lâu đời Cùng với sự phát triểncủa lịch sử dân tộc vùng đất huyện Lộc Hà ngày nay đã từng là căn cứ quantrọng của nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta

1.2 Trên bức tranh chung của lịch sử dân tộc, huyện Lộc Hà cũng như

các huyện khác của cả nước, hòa cùng với sự phong phú cả về vật chất lẫntinh thần người dân huyện Lộc Hà có cả một hệ thống các đình, đền, chùa,miếu mạo, lăng mộ… được xây dựng khắp toàn huyện Trải qua bao thăngtrầm biến đổi của lịch sử, sự tàn phá của thời gian, của chiến tranh và của cảthời kỳ cải cách văn hóa, hệ thống các công trình, các di tích lịch sử - văn hóađã không còn giữ nguyên được diện mạo ban đầu nhất là các di tích kiến trúcnghệ thuật Tuy nhiên lịch sử xây dựng, quy mô của kiến trúc và sự tồn tạicủa các công trình này đã khẳng định và lưu giữ những giá trị truyền thốngcủa cư dân huyện Lộc Hà Đồng thời nó có ảnh hưởng không nhỏ tới quátrình phát triển kinh tế - xã hội của huyện và đời sống tinh thần của nhân dân

Trang 6

1.3 Các di tích lịch sử - văn hóa là một phần trong di sản văn hóa do

nhân dân sáng tạo ra, là biểu hiện sinh động trong mỗi quan hệ giữa quá khứ

và hiện tại, quá khứ và tương lai Đó không chỉ là những “kho sử lộ thiên”,

mà còn hội tụ trong đó tất cả những giá trị về văn hóa nghệ thuật, kinh tế, dulịch, văn hóa tâm linh và cả sự cố kết cộng đồng Chúng ta - thế hệ được trựctiếp thừa hưởng những giá trị đó cần phải có những hiểu biết về sự tồn tạicũng như vị trí, ý nghĩa của các di tích lịch sử - văn hóa để bên cạnh sự tônkính, tự hào còn phải có ý thức, trách nhiệm trong việc bảo vệ phát huy nhữnggiá trị mà các di tích này để lại

Chính vì những ý nghĩa to lớn đó, trong những năm qua các cấp chínhquyền và nhân dân địa phương đã và đang có nhiều nỗ lực nhằm giữ gìn, bảotồn và trùng tu lại các di tích lịch sử - văn hóa này như bảo tồn những giá trịvật chất và tinh thần vô giá của quê hương,dân tộc Trải qua những bước đikhó khăn ban đầu khi mới thành lập huyện, giờ đây Lộc Hà đã vươn mìnhđứng dậy, lộ diện một huyện với nhiều mũi nhọn về nhiều mặt Mũi nhọn vănhóa, nhất là việc trùng tu tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa đã đưa đến chohuyện kết quả đáng khích lệ Từ 17 di tích được xếp hạng khi mới thành lậphuyện đến nay toàn huyện đã có 41 di tích được xếp hạng, trong đó có 5 ditích cấp quốc gia và 35 di tích cấp tỉnh

1.4 Nghiên cứu về quần thể di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu của huyện

Lộc Hà giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử hình thành và phát triển củavùng đất Lộc Hà; những giá trị văn hóa truyền thống, những nét độc đáo trongnghệ thuật kiến trúc, chạm khắc của cư dân địa phương, đồng thời cũng gópphần gìn giữ, bảo tồn và quảng bá những giá trị văn hóa truyền thống của quêhương Hà Tĩnh; phát huy những giá trị, tác dụng của các di tích lịch sử - vănhóa trong việc nâng cao ý thức, giáo dục truyền thống cho các tầng lớp nhândân, nhất là cho thế hệ trẻ hôm nay…

Trang 7

Chính vì những lý do đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu

một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu ở huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh”

làm đề tài cho luận văn tốt nghiêp thạc sỹ của mình

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về các di tích lịch sử - văn hóa là một trong những mảng đềtài lý thú, nhưng là một mảng đề tài khó đòi hỏi sự công phu và lòng kiên trìcũng như khả năng đọc được các văn bản chữ Hán Đồng thời người nghiêncứu cũng phải có cái nhìn sâu sắc, bao quát toàn diện và khách quan về quátrình hình thành và tồn tại của các di tích cũng như sự biến động của lịch sửdân tộc có tác động lên nó

Dựa trên các nguồn tài liệu mà chúng tôi thu thập và tiếp cận được chúngtôi nhận thấy: trước đây chưa có một công trình khoa học nào đề cập một cáchtoàn diện và sâu sắc về mảng đề tài mà chúng tôi nghiên cứu, chỉ có một số côngtrình có nói tới khía cạnh nhỏ của đề tài như các tác phẩm viết về danh nhân vănhóa, dòng họ khoa bảng, lễ hội truyền thống…

Gần đây, trước yêu cầu của cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóamới và việc bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trong việcphát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục của địa phương; đáp ứng nhu cầu sinhhoạt tín ngưỡng của nhân dân và việc thờ tự của các dòng họ, nên việc tìmhiểu, nghiên cứu về các di tích lịch sử - văn hóa tại huyện Lộc Hà nói riêng và

cả nước nói chung đã từng bước phát triển Trong đó phải kể đến:

Cuốn Lịch sử Hà Tĩnh (tập 1) của nhóm tác giả Đặng Duy Báu, Đinh

Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, do nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấnhành, năm 2000 Cuốn sách đã giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triểncủa tỉnh Hà Tĩnh từ thời nguyên thủy cho tới trước năm 2000 Thông quacuốn sách chúng ta cũng có thể hiểu được đôi nét về lịch sử của vùng đất

Trang 8

huyện Lộc Hà ngày nay Cuốn sách cũng đã nhắc tới truyền thống văn hóacủa mảnh đất Lộc Hà bây giờ.

Tác phẩm “Địa chí huyện Can Lộc”, do tác giả Võ Hồng Huy chủ biên,

do nhà xuất bản Hà Tĩnh phát hành năm 1999 Thông qua việc giới thiệu vềđịa lý, khí hậu cũng như lịch sử hình thành của huyện Can Lộc, trong phần

danh thắng – di tích các tác giả cũng đã giới thiệu về một số di tích lịch sử

-văn hóa của huyện Can Lộc, nay một phần là của huyện Lộc Hà Tuy nhiên,

do tính chất và yêu cầu của bộ sách nên tác giả chỉ điểm qua một số nét chính

về di tích cũng như nhân vật lịch sử gắn liền với di tích theo kiểu thống kênhưng chưa đi sâu vào tìm hiểu quá trình hình thành và tồn tại cũng như giátrị của các di tích này

Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Can Lộc”, do nhà xuất bản Chính trị quốc

gia phát hành năm 2005, là cuốn sách viết về lịch sử Đảng bộ huyện Can Lộc,trong phần phụ lục cuốn sách cũng đã hệ thống, giới thiệu cho chúng ta biết

về một số di tích lịch sử của huyện Can Lộc trước khi chia tách và nay mộtphần nằm trên địa giới hành chính của huyện Lộc Hà

Hay cuốn “Lịch sử đảng bộ huyện Thạch Hà” (tập 1), nhà xuất bản

Chính trị quốc gia Hà Nội phát hành năm 1997, cuốn sách giới thiệu về quátrình thành lập Đảng bộ huyện Thạch Hà Cũng như quá trình lãnh đạo nhândân đấu tranh giành chính quyền, bảo vệ chế độ mới và bảo vệ hậu phương,chi viện tiền tuyến trong cuộc kháng chiến chống Pháp Qua cuốn sách nàychúng ta có thể tìm hiểu đôi nét về các xã có hệ thống di tích của huyệnThạch Hà trước khi sát nhập vào huyện Lộc Hà

Cuốn Danh nhân Hà Tĩnh (tập 1), do Sở văn hóa Thông tin tỉnh Hà Tĩnh

phát hành năm 1998, cũng đã đề cập khá nhiều về thân thế và sự nghiệp củacác danh nhân thuộc huyện Lộc Hà cũng như việc thờ tự các vị tại Hà Tĩnh

Trang 9

nói chung và huyện Lộc Hà nói riêng Tuy nhiên cuốn sách này lại không đềcập một cách cụ thể đến các di tích lịch sử - văn hóa Vì vậy, cũng chưa tạođược cái nhìn hệ thống tới các di tích lịch sử tại huyện Lộc Hà.

Cuốn “Danh tướng Lê Khôi với quê hương Hà Tĩnh” của tác giả Phan

Thư Hiền và Đặng Thị Thúy Hằng, do nhà xuất bản Văn hóa thông tin pháthành năm 2009 Tác giả đã giới thiệu về tướng Lê Khôi cũng như lễ hội đềnthờ của ông ở Lộc Hà đây là tài liệu giúp cho tác giả tìm hiểu rõ hơn về đềnthờ Chiêu Trưng

Trong những năm gần đây nhu cầu của nhân dân và do yêu cầu của việcnghiên cứu, đánh giá các di tích lịch sử phục vụ cho việc xếp hạng di tích, cácđịa phương đã có nhiều nỗ lực trong việc tìm tòi nghiên cứu và biên soạn lịch

sử các di tích cũng như việc sưu tầm và bảo vệ các hiện vật gắn liền với di tích

Do đó, chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử cũng như giá trị của mỗi di tích Đâycũng là nguồn tài liệu quan trọng giúp chúng tôi hoàn thành đề tài này

Như vậy, nhìn một cách tổng quát các công trình nghiên cứu nói trên, dù

ít, dù nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp đề cập tới nhiều khía cạnh của đề tài dochúng tôi nghiên cứu Song chưa có một công trình nào đề cập tới một cách

có hệ thống, đầy đủ, toàn diện về hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa ởhuyện Lộc Hà Do đó chưa làm rõ được tác dụng của các di tích đối với sựphát triển kinh tế - xã hội của địa phương Mặt khác các công trình trên cũngmới dừng lại ở mức độ khảo tả, thông báo, cho nên đây là những vấn đề mớicần được tìm hiểu, đánh giá, tổng hợp một cách chi tiết và toàn diện nhất về

hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa của huyện Lộc Hà góp phần trong việckhảo sát, đánh giá, xếp hạng di tích cũng như đánh giá về ý nghĩa lịch sử, vănhóa của các di tích Từ đó nêu lên tầm quan trọng của việc bảo tồn trùng tu,tôn tạo các di tích lịch sử trong gia đoạn hiện nay

Trang 10

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trên cơ sở những tài liệu hiện có và khả năng của bản thân, chúng tôi tiếnhành tìm hiểu trên các mặt: lịch sử di tích, kiến trúc, điêu khắc,… của một sốđình, đền, miếu, chùa, nhà thờ họ ở huyện Lộc Hà Tuy nhiên để thấy đượcnhững điều trên tác giả có khái quát thêm về vùng đất Lộc Hà để giúp độc giả cócái nhìn bao quát hơn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về mặt không gian: đề tài chúng tôi tìm hiểu chỉ tập trung vào một số ditích tiêu biểu trên địa bàn huyện Lộc Hà ngày nay

Về mặt thời gian: chúng tôi tiến hành tìm hiểu về lịch sử của các di tích

từ khi xây dựng cho tới nay

Về phạm vi nội dung: chúng tôi giới hạn trong một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu được xếp hạng cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh trên các hạngmục di tích: đền, miếu, chùa, đình làng, nhà thờ họ,…

-3.3 Nhiệm vụ khoa học của đề tài

Từ đối tượng và phạm vi nghiên cứu trên, đề tài xác định nhiệm vụnghiên cứu cụ thể như sau:

Khái quát về tự nhiên, xã hội, lịch sử, văn hóa, con người huyện Lộc Hà.Qua đó thấy được nền tảng tạo nên các di tích

Diện mạo các di tích lịch sử - văn hóa từ nguồn gốc, quá trình xây dựng,trùng tu tôn tạo, kiến trúc điêu khắc của các di tích; các lễ hội, tín ngưỡng liênquan đến di tích

Giá trị lịch sử, văn hóa của các di tích; ảnh hưởng của các di tích tới tínhhình kinh tế - xã hội huyện Lộc Hà hiện nay Công tác bảo tồn trung tu các ditích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Lộc Hà

Trang 11

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Khi tiến hành nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu dựa vào các nguồn tàiliệu đáng tin cậy và những tài liệu đã được dịch từ các nhà xuất bản có uytín như nhà xuất bản Khoa học xã hội, Viện sử học, nhà xuất bản Giáo Dục,nhà xuất bản Chính trị quốc gia…, các tạp chí nghiên cứu đầu ngành.Trong

đó phải kể đến:

4.1.1 Tài liệu gốc

Chúng tôi tham khảo bộ Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chươngloại chí, bộ Đại Việt thông sử, bộ Đại Nam nhất thống chí Gia phả của cácdòng họ Phan Huy, dòng họ Nguyễn Đức, dòng họ Lê Khôi, văn bia tại đềnChiêu Trưng…

Biên bản đề nghị xếp hạng di tích, lý lịch của các di tích lịch sử: chùaKim Dung, chùa Chân Tiên, chùa Xuân Đài, đền Ngọc Mỹ, đền Mai Lâm,đền Thanh Hòa, Đền Cả, đền Mai Lâm, miếu Biên Sơn, đền thờ Nguyễn VănGiai…

4.1.2 Tài liệu nghiên cứu

Thực hiện đề tài này chúng tôi tham khảo các tài liệu lịch sử văn hóanhư: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh (tập 1 và 2), Lịch sử Đảng bộ huyện CanLộc, Lịch sử Đảng bộ huyện Thạch Hà (tập 1 và 2), địa chí huyện Can Lộc,danh tướng Lê Khôi với quê hương Hà Tĩnh, danh nhân Hà Tĩnh… Các bàiviết đăng trên các tạp chí chuyên ngành về các nhân vật lịch sử liên quan tới

đề tài mà chúng tôi nghiên cứu

4.1.3 Tài liệu điền dã

Để có thêm nguồn tài liệu cho việc nghiên cứu, chúng tôi còn có nhữngchuyến đi khảo sát thực tế tới một số di tích như nhà thờ dòng họ Phan Huy ở

Trang 12

xã Thạch Châu, nhà thờ dòng họ Nguyễn Đức Mậu tại xã Phù Lưu, chi GiaTrang của dòng họ Nguyễn Đức ở xã Ích Hậu; chùa Xuân Đài và chùa KimDung ở xã Thạch Bằng; đền Ngọc Mỹ và đền Thanh Hòa ở xã Phù Lưu, Đền

Cả ở xã Ích Hậu, đền thờ Nguyễn Văn Giai… Đồng thời chúng tôi cũng tiếnhành trao đổi với các đồng chí cán bộ xã, huyện, những người trông coi quản

lý di tích có hiểu biết sâu sắc về di tích trên địa bàn huyện Lộc Hà

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về công tác nghiêncứu khoa học

Phương pháp cụ thể: thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng hai phương

pháp chuyên ngành cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Dođặc trưng của đề tài tìm hiểu về di tích lịch sử văn hóa nên chúng tôi chútrọng các phương pháp sau:

Sưu tầm tài liệu: để có nguồn tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tàichúng tôi đã tiến hành sưu tầm tham khảo và tích lũy tư liệu ở Bảo tàng tổnghợp tỉnh Hà Tĩnh, ban quản lý di tích danh lam và thắng cảnh tỉnh Hà Tĩnh.Sao chép dịch các gia phả, dập chụp bia ký và câu đối Nghiên cứu thực địa

và thu thập tài liệu trực tiếp tại các di tích, tìm kiếm tư liệu tại Phòng văn hóathông tin huyện Lộc Hà, huyện Can Lộc, huyện Thạch Hà …

Xử lý tư liệu: trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụngphương pháp tổng hợp, logic để trình bày một cách có hệ thống về quá trìnhxây dựng, bảo tồn các di tích lịch sử theo thời gian, diễn biến của lịch sử.Ngoài ra chúng tôi cũng sử dụng phương pháp so sánh lý lịch của di tích với

tư liệu dân gian và chính sử để từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá mangtính khoa học và khách quan

Trang 13

Phương pháp điền giã, điều tra xã hội học, dân tộc học tại các địa điểm

có di tích, các làng có dòng họ, đình, đền, chùa… mà chúng tôi nghiên cứu đãquan sát, gặp gỡ, trao đổi với các bậc cao niên, những nhà sưu tầm, nghiêncứu để đánh giá phân tích, tổng hợp nêu lên mối quan hệ chặt chẽ, sự tác độngqua lại giữa các di tích với nhau và ảnh hưởng của nó đối với đời sống củanhân dân và sự phát triển của địa phương

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn là nguồn tài liệu bổ ích cho việc nghiên cứu lịch sử địa phương

và những ai quan tâm tới mảng đề tài này

Qua đề tài này tác giả muốn phục dựng lại một cách có hệ thống về quátrình xây dựng, trùng tu, tôn tạo của các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bànhuyện Lộc Hà

Phác thảo diện mạo của các di tích lịch sử - văn hóa như kiến trúc điêukhắc, quy mô, các hoạt động tín ngưỡng, lễ hội liên quan đến di tích

Phân tích giá trị lịch sử và giá trị văn hóa của di tích, mức độ ảnh hưởngcủa các di tích đến đời sống của nhân dân địa phương

Đề xuất một số biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của các ditích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyên Lộc Hà

6 Bố cục của luận văn

Đề tài “Tìm hiểu một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu ở huyện Lộc

Hà, tỉnh Hà Tĩnh”, ngoài phần Dẫn luận, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ

lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương

Chương 1: Khái quát về lịch sử - văn hóa huyện Lộc Hà,tĩnh Hà Tĩnh Chương 2: Diện mạo một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu ở huyện

Lộc Hà,tĩnh Hà Tĩnh.

Chương 3: Giá trị lịch sử, văn hóa và công tác bảo tồn, phát huy giá trị

của các di tích.

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ - VĂN HÓA HUYỆN LỘC HÀ

1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội huyện Lộc Hà

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Huyện Lộc Hà được thành lập theo Nghị Định số 20/2007/NĐ – CP,ngày 07/02/ 2007 của Chính phủ trên cơ sở sát nhập 7 xã vùng Hạ Cancủa huyện Can Lộc và 6 xã vùng Biển Cửa của huyện Thạch Hà

Lộc Hà là huyện nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Hà Tĩnh, “có tọa độ địa

lý 18023’10’’ – 18032’40’’ vĩ độ Bắc, 105048’45’’ – 105055’36’’ kinh độĐông”[27; 17]

Phía Bắc giáp với huyện Nghi Xuân

Phía Nam giáp với huyện Thạch Hà và thành phố Hà Tĩnh

Phía Đông giáp với biển đông

Phía Tây giáp với huyện Can Lộc

Huyện có 13 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm: 7 xã vùng Hạ Cantách ra của huyện Can Lộc đó là các xã: Ích Hậu, Phù Lưu, Hồng Lộc, BìnhLộc, Tân Lộc, An Lộc, Thịnh Lộc và 6 xã ven biển tách ra củahuyện Thạch Hà đó là các xã: Thạch Kim, Thạch Bằng, Hộ Độ, Mai Phụ,Thạch Mỹ, Thạch Châu, gần 135 thôn với 41.540 số hộ dân làm ăn sinhsống Tính đến năm 2011 dân số toàn huyện là 80.614 người Huyện có vịtrí đặc biệt không chỉ với hai huyện Can Lộc và Thạch Hà sau khi tách ravới thành phố Hà Tĩnh và khu mỏ sắt Thạch Khê mà còn đối với chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội của cả tỉnh Hà Tĩnh Với vị trí địa lý như trên là

Trang 16

điều kiện thuận lợi để Lộc Hà phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng quan hệgiao thương, giao lưu với các vùng lân cận.

Địa hình, khí hậu

Địa hình huyện Lộc Hà có núi sông, ao hồ, đồng bằng và biển cả,cảnh quan khí hậu như ngày nay là kết quả của một quá trình vận động lâudài hàng trăm năm của vỏ trái đất Nhưng nhìn chung địa hình của huyệntương đối bằng phẳng, phía Tây Bắc được che chắn bởi dãy núi HồngLĩnh; phía Đông giáp với biển đông; phía Nam – Tây Nam có dòng sôngNghèn uốn khúc bao quanh

Trên địa bàn huyện có 3 con sông chảy qua đó là sông Đò Điệm, sông

Én và sông cửa Sót là hợp lưu của sông Nghèn và sông Rào Cái “Hệthống sông Rào Cái (người dân địa phương gọi là Rào Cấy hay Rào Nậy),sông dài 66km, bắt nguồn từ núi Mụ Sự chảy qua Ngàn Mọ và hồ Kẻ Gỗ(huyện Cẩm Xuyên), xuống Đức Lâm (xã Thạch Lâm), vòng theo địa giớiphía tây nam đến Phất Não (xã Thạch Bình), Đại Nài (gọi là sông Nài haysông Phủ), rồi chuyển sang Kinh Hạ (xã Thạch Hưng) và Ngã Ba Sơn rồi

đổ vào sông Cửa Sót” [5; 22]

Nhìn chung các con sông trong toàn huyện đều ngắn và dốc dễ gây ra

lũ lụt vào mùa mưa, nhưng mà mùa khô lại nhanh cạn Tuy vậy các sônghàng năm lại chuyên chở một lượng phù sa bồi đắp cho các đồng bẳngnhỏ hẹp ven sông Sông vừa đem lại nguồn lợi kinh tế cho cư dân vensông sống bằng nghề chài lưới vừa là những tuyến giao thông thuận lợi

Trang 17

Đó là chưa kể đến hệ thống các kênh đào, khe suối, các đầm hồ được phân

bố khắp nơi trong toàn huyện

Bên cạnh các con sông suối, địa hình huyện Lộc Hà còn có cả cửa sôngkhá rộng thuận lợi cho tàu thuyền cỡ nhỏ vào trú ngụ, trong đó nổi bật nhất làCửa Sót còn gọi là cửa Nam Giới, vì nó nằm ở phía đông bắc của núi NamGiới Xưa kia cửa biển ở phía nam núi, chảy qua xã Dương Luật nên cũng cótên là cửa Dương Luật Nước sông Hoàng Hà đổ ra đây, nước thủy triều dânglên tràn ngược sông rất xa Nơi đây thuyền bè ra vào tấp nập Khi “triều lêncửa biển sóng tung, chân mây dây néo thuyền dừng nghỉ chân” [5; 24] Tốiđến trên của Sót ánh đèn lửa lập lòe trên sông, khi chiều về thuyền cá đâykhoang dong thuyền cập bến Khi ông vua tài hoa Lê Thánh Tông đi tuần duphương nam qua đây đã đề vịnh, có câu:

“ Sóng qua tỉnh mộng giang hồCưỡi bè những muốn lên xô cửa trời ”

“Ngày trước các thương nhân của Trung Quốc, Nhật bản sang vùng nàylàm ăn buôn bán cũng thường cho thuyền bè ra vào cửa biển này” [ 5; 24].Trước Cửa Sót có Mũi Lố, cạnh Mũi Lố có những hòn đá ngầm mangtên: hòn Lố chìm, hòn Am, hòn Môi, hòn Ngứa Đặc biệt “ hòn Ngứa làmột khối đá chìm nằm dưới nước” [5; 24] Trong thời kỳ kháng chiếnchống Mỹ cứu nước “khá nhiều tàu thuyền của Mỹ - Ngụy đã bị nhấnchìm tại đây” [5; 24] Trên đỉnh Mũi Lố có đài quan sát, nay là ngọn đènbiển soi sáng cho Cửa Sót

Dải đất miền trung nói chung và mảnh đất Lộc Hà, Hà Tĩnh nói riêng làmột trong những vùng có khí hậu khắc nghiệt nhất của vùng Duyên Hải miền

Trang 18

trung Đây là vùng chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa – Phơn Tây Nam từnước bạn Lào thổi qua mang theo khí hậu khô nóng, cát bụi bay đầy trời, làmcho cây cối khô héo, ruộng vườn nứt nẻ Sau một đợt từ 5 đến 10 ngày lại cógiông làm điều hòa nhiệt độ, khi hậu trở lại mát mẻ.

Bên cạnh đó là một huyện giáp với biển đông nên có tần suất bão khálớn, kèm theo mưa, gió lốc xoáy Từ tháng 7 đến tháng 9 Lộc Hà lại hay cóbão từ biển đông thổi vào, mang theo mưa gây lụt lội, năm nào cũng có lụtkhông to thì nhỏ, gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của bà con nhân dântrong toàn huyện

Mùa lạnh kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, tháng 11 là thánglạnh nhất trong năm Mùa lạnh lại có gió mùa đông bắc, gió xuất phát từkhu vực có áp suất thấp từ Xibi và Vân Nam, Trung Quốc, rồi tràn vàomiền bắc nước ta khi thổi vào đến địa bàn huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh gặp cácdãy núi ở phía nam và tây nam nên đã phát sinh những đợt mưa dầm dề,dai dẳng

Nhiệt độ trung bình hàng năm của toàn huyện là 280C, về mùa khô doảnh hưởng trực tiếp của gió lào nên có khi nhiệt độ lên tới gần 400C; độ

ẩm trung bình hàng năm là 80%; lượng mưa hàng năm vào loại trung bìnhcủa cả nước nhưng phân bố không đều, mùa khô kéo dài từ tháng 4 đếntháng 8 gây thiếu nước tưới cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân,nhưng mùa mưa lại gây lũ lụt, ngập úng ảnh hưởng đến sản xuất củangười dân

Tài nguyên thiên nhiên.

Trang 19

Tài nguyên thiên nhiên của huyện Lộc Hà rất phong phú, đa dạngdưới lòng đất có nhiều khoáng sản nhưng đang ở dạng tiềm năng nhưTitan, Mangan, đá granit Cát vàng để xây dựng và chế tạo thủy tinh có

số lượng đáng kể

Tổng diện tích đất của huyện là 11.853 ha, đất ở huyện Lộc Hà phần lớn

là đất pha cát, độ màu mỡ không cao khả năng giữ nước thấp, 86,6% đất củahuyện đã được đưa vào sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngưnghiệp và phi nông nghiệp Phần lớn đất nông nghiệp của huyện thích hợpcho việc trồng cây rau màu chịu hạn

Chỉ có một ít đồng bằng màu mỡ chiếm khoảng 1/3 diện tích đấtcanh tác, thích hợp cho việc trồng lúa nước và một số cây công nghiệpngắn ngày Còn 14% diện tích đất chưa được sử dụng phần lớn tập trungvào bãi cát ven biển từ xã Thịnh Lộc đến xã Thạch Bằng và các vùng bãiven sông thuộc các xã Hậu Lộc, Hồng Lộc, Thạch Châu, Mai Phụ…huyện cũng còn một số diện tích đất đồi núi chưa được sử dụng tập trung

ở các xã Thịnh Lộc, Thạch Bằng, Thạch Kim… Dù diện tích núi rừng ít,nhưng rừng ở Lộc Hà có nhiều loại gỗ quý như: gỗ Lim, gỗ Sến, gỗ Táu,Dổi, Vàng Tâm, “Một sự thật là trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước

và sau khi mới thống nhất đất nước việc khai thác rừng bừa bãi đã làmcho cây rừng hầu như mỗi ngày một cạn kiệt”[5; 31] Rừng nguyên sinhbây giờ chỉ còn một diện tích nhỏ ở các huyện vùng cao như Hương Sơn,Hương Khê hay Vụ Quang Rừng còn cho mây, song, tre, nứa, trúc,

Trang 20

vầu, lá lợp là một kho tài nguyên làm cơ sở cho việc phát triển cácnghề thủ công mỹ nghệ, sản xuất đồ gia dụng như cái tơi nả của cư dânhai huyện Can Lộc và Thạch Hà xưa sử dụng nay là một phần của huyệnLộc Hà cho đến cái giỏ bắt cua, bắt tép; “từ cái gậy tầm vông, cái chôngtre đến mũi tên tẩm thuốc độc trong thời kỳ kháng chiến dựng nước, giữnước, chẳng những dùng trong tỉnh, cung cấp cho các tỉnh bạn mà còn lànguồn xuất khẩu chẳng bao giờ cạn” [5; 31] Ngoài ra rừng ở huyện Lộc

Hà còn có lợn rừng, sóc, nhím, hươu nai

Nếu rừng có tứ thiết thì dưới biển có tứ ngư (chim, thu, nụ, đé) Nếungã ba Việt Trì có loài cá Anh Vũ tiến vua, Cát Bà có loài trân châu màcác quân Minh (Trung Hoa) rất thích, thì biển Hà Tĩnh nói chung và biểnLộc Hà nói riêng có yến sào, cửu khổng là những loài đặc sản quý đượcnhiều người ưa chuộng Huyện có bãi biển dài 12km, bờ cát trắng và thoảirộng Đây là nguồn tài nguyên quan trọng nhưng chưa được khai thác.Ngoài cát, sỏi là những loại vật liệu tốt cho xây dựng, bãi biển Lộc Hàcòn có khả năng phát triển thành các khu nghỉ d ưỡng, du lịch Cuối bãibiển về phía Nam là cửa Sót, một cửa biển có tầm quan trọng của cả tỉnh.Cửa Sót có tiềm năng phát triển lớn do có vùng bãi ngập mặn nước lợ gần

700 ha cho phép nuôi trồng các loại thủy hải sản, cho phép mở rộng có thểphát triển từ một cảng cá thành một cảng biển có thể đón tàu 500 tấn ravào Cảng Hộ Độ có thể tiếp đón tàu và sà lan có trọng tải từ 200 đến 500

Trang 21

tấn Đặc biệt trên vùng biển Thạch Bằng - Cửa Sót có những điều kiện tựnhiên thuận lợi cho phép xây dựng một đô thị - biển.

1.1.2 Dân số và nguồn nhân lực

Theo suốt chiều dài của lịch sử, cư dân sống trên mảnh đất huyện Lộc Hàchủ yếu là người Kinh Theo truyền thống của ông cha đã để lại “nhất cậnthủy, nhị cận sơn”, nhân dân của huyện Lộc Hà sống ở vùng đồng bẳng vensông, ven biển và các vùng bán sơn địa Khi kinh tế thương nghiệp phát triển,kinh tế thị trường này sinh thì yếu tố “cận thị” lại được chú ý nhiều hơn trongviệc lựa chọn địa bàn sinh sống Sự phân bố dân cư lại có sự thay đổi Nhândân lại phân tán ra các đường trước đây vốn hoang vu, ở các vùng kinh tế mới

để kết hợp hài hòa giữa công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp

Trước đây trên mảnh đất của huyện Lộc Hà ngày nay có “người Bồ Lôhay Ba Lan Họ sống không ổn định, xuất hiện ở các cửa biển: Cửa Sót, CửaNhượng và Cửa Khẩu Họ sống trên thuyền và làm nghề đánh cá” [5; 29],Ngoài ra ngày xưa còn có một số ít đồng bào dân tộc ít người khác sinh sống,nhưng hiện nay số người đó đã bị “Việt hóa” nên hiện nay việc xác định ai làngười Chăm, Hoa còn sinh sống trên mảnh đất huyện Lộc Hà là một việc làm

vô cùng khó khăn

Hiện nay, theo số liệu điều tra dân số toàn huyện tính đến năm 2011 là

“80.614 người Mật độ dân số trung bình là 680 người/km2, cao hơn mứctrung bình chung của toàn vùng Bắc Trung Bộ (203 người/km2) và trung bìnhchung của cả nước (246 người/km2) Dân cư phân bố không đều, xã ThạchKim có mật độ dân số cao nhất: 3.417 người/km2, xã Hồng Lộc có mật độ dân

số thấp nhất 355 người/km2 Dân số trong độ tuổi lao động toàn huyện 52.044người chiếm 62,4%” [49; 2] Lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuậtkhông cao Cơ cấu lao động với cơ cấu kinh tế có sự chênh lệch lớn; số laođộng làm việc trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 73%; số lao

Trang 22

động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng - tiểu thủ công nghiệp chiếm11%; lao động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ chiếm 16% Toàn huyện có1.215 người trong độ tuổi lao động có trình độ cao đẳng, đại học và trên đạihọc, lực lượng này đang hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh

tế - xã hội, góp phần to lớn vào sự nghiệp công nghiêp hóa - hiện đại hóa của

cả nước nói chung và của Lộc Hà nói riêng

1.2 Đặc điểm kinh tế - văn hóa

1.2.1 Về kinh tế

Trải qua hơn 5 năm, trưởng thành và phát triển, kinh tế - xã hội của cácxã trên địa bàn có bước tăng trưởng khá, đời sống nhân dân có bước phát triểnđáng kể Tốc độ tăng trưởng bình quân những năm gần đây đạt gần 10% năm,

cơ cấu kinh tế có bước chuyển biến tích cực

Về sản xuất: nông – lâm – ngư nghiệp đạt 225.434 triệu đồng chiếm

52,59% trong cơ cấu thu nhập, nhiều hộ nông dân sản xuất có quy mô khálớn, làm ăn kinh doanh có hiệu quả

Nông nghiệp: tổng diện tích đất gieo trồng 4.303 ha, trong đó diện tíchtrồng cây lương thực chiếm 5.385 ha đạt sản lương 22.516 tấn; diện tích trồngcây công nghiệp 2.0805 ha đạt sản lượng 3.814 tấn trong đó lạc đạt 3.724 tấn.Diện tích trầu rau màu 1.160,5 ha, sản lượng 5.940,5 tấn

Chăn nuôi: Tổng đàn trâu bò trong toàn huyện là 14.542 con, đàn lợn19.345 con, gia cầm 210.000 con Chăn nuôi chủ yếu tầp trung vào từng hộgia đình nhỏ lẻ, chăn nuôi thủy cầm chỉ mang tính thời vụ, tập trung chủ yếu

ở các xã Thịnh Lộc, Hồng Lộc, Tân Lộc…

Lâm nghiệp: Huyện có 2 208 ha đất lâm nghiệp, với độ che phủ đạt hơn60% Rừng trồng chủ yếu là các loại cây thông, phi lao, keo trong đó có một

số diện tích trồng keo có thể đưa vào khai thác nguyên liệu cho ngành công

Trang 23

nghiệp chế biến Công tác trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng rất đượcngười dân huyên Lộc Hà quan tâm, đặc biệt là rừng phòng hộ ven biển.

Diêm nghiệp: Toàn huyện có 105 ha diện tích đất dùng để sản xuất muối,đạt 10.309 tấn, là vùng sản xuất muốn có truyền thống và đạt chất lượng tốt

Kinh tế thủy sản: Là thế mạnh của huyện, trong những năm gần đây kể

từ sau khi thành lập huyện, được sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ huyện,ngành kinh tế thủy sản có sự phát triển cả về đánh bắt, nuôi trồng và chế biến.Tổng sản lượng các mặt hàng thủy sản qua đầu mối vùng Cửa Sót hàng nămchiếm 1/3 thị phần của toàn tỉnh, đã và đang khẳng định trung tâm kinh tếthủy sản của tỉnh Lộc Hà có 344 tàu thuyền đánh bắt cá kể cả xa và gần bờ,tổng công suất lên tới 6.324 CV, thu hút trên 2.000 lao động làm việc Sảnlượng đánh bắt hàng năm đạt 2.916 tấn Diện tích nuôi trồng thủy sản lên tới

512 ha, sản lượng 1.484 tấn Tổng giá trị sản phẩm đạt hơn 120 tỷ đồng, xuấtkhẩu đạt 3,5 triệu USD

Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp – xây dựng: chiếm 21,52%

trong cơ cấu thu nhập, chủ yếu là ngành sản xuất khai thác vật liệu xây dựng,chế biến thủy sản, nghề đan chổi, mây tre đan… Hiện nay huyện đang tậptrung triển khai cho xây dựng một số nhà máy chế biển thủy hải sản ỡ xãThạch Kim và một số địa phương khác

Về cơ sở hạ tầng: hiện nay toàn huyện Lộc Hà có 102 km đường nhựa,

155 km đường bê tông, có 22 nhà học và 9 trụ sở làm việc của xã là nhàcao tầng Mạng lưới giao thông phấn bố khá đều khắp toàn huyện, tập trung

về hướng biển và núi Bằng Sơn Một số tuyến quy hoạch mới đang đặttriển vọng cho sự phát triển mạnh ngành kinh tế biển của các địa phươngven biển của huyện

Trang 24

Thương mại - dịch vụ, du lịch: Tuy lao động tập trung cho ngành này

trong toàn huyện thấp nhưng lại đưa về cho huyện một khoản thu nhậpkhá cao chiếm 24,5% trong cơ cấu kinh tế Trên địa bàn toàn huyệnmột sốchợ đã xuất hiện khá sớm trở thành trung tâm buôn bán, trao đổi giữanhiều vùng trong huyện Mạng lưới chợ nông thôn và các làng nghề thủcông nghiệp phát triển đã dần dần hình thành tầng lớp thị dân Tuy nhiên

ở rải rác, vốn liếng nhỏ, nhưng họ đã có vai trò nhất định thúc đẩy pháttriển sản xuất, mở mang giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng trong vàngoài huyện

Lộc Hà có vị trí địa lý thuận lợi, có nhiều di tích lịch sử văn hóa,danh lam thắng cảnh, có bờ biển thoải và rộng, sạch đẹp và hoang sơ kéodài trên 12km, dự báo ít nhiều sẽ chịu tác động của các dự án đầu tư lớn

sẽ được triển khai trên địa bàn của huyện Du lịch của huyện trong nhữngnăm gần đầy có nhiều khởi sắc đây là điều kiện để cho huyện phát triểnvùng đô thị - du lịch ven biển

1.2.2 Truyền thống văn hóa, lịch sử

Lộc Hà là huyện mới được thành lập hơn 5 năm nhưng không vì thế màLộc Hà không có những truyền thống lịch sử - văn hóa Trên mảnh đất Lộc

Hà ngày nay, từ xa xưa đã có nhiều làng xã nổi tiếng như Phù Lưu, Ích Hậu,Mai Phụ, An Sơn… tồn tại và phát triển

Làng Mai Phụ quê hương của vua Mai Hắc Đế - Mai Thúc Loan, vị

hoàng đế có công lớn trong việc đánh đuổi quân xâm lược nhà Đường.Làng Thu Hoạch trấn Nghệ An (nay là xã Thạch Châu) là quê hương của

Trang 25

dòng họ Phan Huy, một dòng họ nổi tiếng từ thế kỷ 18 và 19, mở rộng ra cảBắc Hà Dòng họ này có các tên tuổi nổi tiếng như: Bình Đô đốc Phan HuyCận, Thượng thư Phan Huy Ích, nhà bác học Phan Huy Chú, các nhà thơPhan Huy Thực, Phan Huy Ôn, Phan Huy Vịnh, Phan Huy Thành, Giáo sư

sử học Phan Huy Lê…

Làng An Sơn, trấn Nghệ An (nay là xóm 3 xã Thạch Mỹ), là quê hương

của dòng họ Phan Trọng - một dòng họ văn hóa ở thế kỷ 17 mở rộng ra đến cảđất Hà Tây cũ Dòng họ này có các tên tuổi nổi tiếng như: Bình Chương sựkiêm tri Quốc Tử Giám tư nghiệp Phan Trọng Phiêu, tri phủ Hoài Đức Tiến sĩ

Kỷ Mão (1789) Phan Trọng Mưu, quan Khâm sứ triều đình Phan Trọng Hoa,quan nha môn Phan Trọng Dung sau này ra định cư ở Hà Tây Danh tướngnổi tiếng trong khởi nghĩa Lam Sơn Phan Trọng Búp, nhà thơ Phan TrọngBàng, phó Thủ tướng Phan Trọng Tuệ, chiến sĩ cách mạng Phan Trọng Bình,Phan Trọng Quảng, Tiến sĩ Phan Tông Tây, Giáo sư Phan Trọng Luận…

Làng Ích Hậu quê hương của Hoàng giáp Đông các hiệu thư Trần Đức

Mậu thời vua Lê Thánh Tông (đền thờ của ông hiện nay không còn nhưng cácsắc phong cho ông còn được lưu trữ tại nhà thờ họ) Tam nguyên Hoàng giáp

Tể tướng Nguyễn Văn Giai mở đầu thời Lê Trung Hưng hiện còn đền thờ vàmột tấm bia lớn dựng ở quê nhà ngay sau khi ông mất Làng Ích Hậu có dòng

họ Nguyễn Chi nổi tiếng về truyền thống yêu nước, văn chương và khoabảng Dòng họ Nguyễn Chi (tức họ Nguyễn Đức cháu chắt trực hệ Trần ĐứcMậu) sinh ra những tên tuổi lớn có những đóng góp to lớn cho lịch sử dân tộcnhư: nhà giáo chí sĩ Nguyễn Hiệt Chi người đồng sáng lập ra Công ty LiênThành và trường Dục Thanh (Phan Thiết) theo tinh thần Duy Tân, Giáo sưnhà văn hóa học Nguyễn Đổng Chi, Giáo sư dân tộc học Nguyễn Từ Chi,

Trang 26

Giáo sư cổ văn học Nguyễn Huệ Chi,… Ngoài ra, ở Ích Hậu còn có nhà cáchmạng nổi tiếng Lê Viết Lượng.

Ngoài các làng trên ở huyện Lộc Hà, còn có một vài người có tên tuổinổi tiếng trong lịch sử như ở xã Thạch Kim có Tiến sĩ Thiêm đô Ngự sửNguyễn Phi Hổ làm quan dưới thời nhà Hậu Lê Xã Hồng Lộc có Hoàng Giáp

Tể tướng Phan Đình Tá làm quan dưới thời nhà Mạc, Tiến sĩ giám sát ngự sửquyền tham chính Bùi Đăng Đạt làm quan dưới thời Lê Trung Hưng (phầnmộ an táng tại Trung Lương, thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh) Làng Phù Lưu có

võ tướng Nguyễn Biên giúp vua Lê Thái Tổ chống giặc Minh khôi phục lạiđất nước, được truy tặng Thái phó Nghiêm quận công trung phong thần tíchĐại vương, thời hiện đại có nhà thơ Chính Hữu…

Di tích và danh thắng ở Lộc Hà có núi Bằng Sơn tức Rú Bơng.Núi có

hình cá trương vây, chim vỗ cánh nên có tên là Côn Bằng: Côn tên một loại

cá lớn; Bằng là chim bằng Núi có ba ngọn xếp thành hàng ngang, núi trảirộng trên địa bàn của 6 xã Tương truyền ở núi này có huyệt đất, “sách Hoàng

lê nhất thống chi chép là huyệt đất “Rồng đuổi hồ, xưng bá, xưng vương từđó” [23; 64] Hương cống Nguyễn Hữu Chỉnh đã bốc mộ tổ họ mình từ huyệnChân Lộc (Nghi Lộc, Nghệ An) bí mật mang vào chôn trộm tại núi này Khilàm ăn được Chỉnh đã tự phong cho mình là Bằng lĩnh hầu, sau được chiêuthống phong Bằng Quận công

Núi Bằng Sơn có chùa Kim Dung, chùa nằm giữa núi của hai xã ThạchBằng và Thạch Mỹ Chùa được xây dựng từ đời nào không rõ nhưng trongchùa thờ Phật tổ, Ngọc Hoàng và Thánh Mẫu, do dòng họ Nguyễn Hữu xâydựng Trong thời kỳ chống Pháp các chiến sĩ yêu nước thường lấy chùa làmtrụ sở để hội họp bàn kế hoạch chống Pháp

Lộc Hà còn có chùa Chân Tiên nằm trên núi Tiên Am ở xã Thịnh Lộctrong chùa thờ Phật tổ và Thánh Mẫu Núi Tiên Am là ngọn núi duy nhất

Trang 27

trong dãy núi Hồng Lĩnh phóng ra tận biển, là một “ngã ba” núi non, biển cả,sông nước giao hòa Trên đỉnh núi này có ao nước ngầm, dưới chân núi có hồnước lớn, lưng núi có bức thành che chắn gió mùa đông bắc; trước mặt núihứng đựng luồng gió nồm tinh lọc từ đại dương cực kỳ trong mát tràn vào.Trên núi Tiên Am có quẩn thể di tích chùa Chân Tiên, theo truyền thuyếtdân gian cho rằng chùa Chân Tiên là để thờ vị tiên Chân Nhân quê ở huyệnNghi Xuân vào “hóa” ở đây vào cuối thế kỷ 17 Chùa nhìn xuống Bàu Tiên,tương truyền là nơi tiên tắm và còn lưu giữ dấu chân ở trên đá, trên một khối

đá khá bằng phẳng, trên mặt đá in một dấu chân người khổng lồ, cũng trêndãy đá ấy, cạnh đá Chân Tiên còn có một chỗ trên mặt đá có những đường kẻdọc ngang gần như ô Bàn cờ Vì gần Chân Tiên nên cũng được gọi là “Bàn cờtiên” Mỗi mùa lễ hội du khách thập phương đến thăm viếng rất đông để cầuphúc, cầu tài, cầu lộc, nam thanh nữ tú thì đến đây thắp hương cầu duyên.Đền Cả còn có tên là đền Lớn hoặc Tam tòa Đại vương thuộc xã ÍchHậu Đền thờ 3 vị: Lý Nhật Quang (hoàng tử thứ 8 của vua Lý Thái Tổ), LýĐạo Thành và Lý Thế Gia (hai vương hầu của nhà Lý) Đình Đỉnh Lự ở xãTân Lộc di tích lịch sử được xây dựng vào thế kỷ 18, đây là nơi để nhân dântrong vùng thắp hương tưởng nhớ công ơn của võ tướng Nguyễn Xí thời Lê

Sơ Thời kỳ chống Pháp các chiến sĩ yêu nước đã lấy đình làm trụ sở làmviệc Đền thờ Tể tướng Hoàng giáp Nguyễn Văn Giai ở xã Ích Hậu Mộngthương thư trai của Chi gia trang – thư viện lớn bậc nhất xứ Nghệ của gia tộc

họ Nguyễn Chi ở xã Ích Hậu có từ cuối thế kỷ 19 Nhà thờ họ Phan Huy ditích lịch sử - văn hóa có từ cuối thế kỷ 18, nhà thờ họ Nguyễn Đức Mậu ởPhù Lưu và Ích Hậu là những di tích lịch sử - văn hóa,…

Về làng nghề: Huyện Lộc Hà có các làng nghề điển hình sau: Nghề làm

muối ở Hộ Độ - Gia Mỹ xã Thạch Châu, hàng năm cung cấp một lượng muốikhá lớn cho nhà máy chế biến muối I - ốt của tỉnh và cung cấp tiêu dùng cho

Trang 28

cuộc sống của bà con nhân dân quanh vùng, nghề làm dầu lạc ở xóm Thủy xãThạch Châu; nghề làm hương ở làng An Sơn xã Thạch Mỹ; nghề làm nón,làm chổi ở làng Hàn Mỹ xã Thạch Mỹ; nghề làm mật mía ở xã Ích Hậu…

Về mặt các lễ hội truyền thống

Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống lâu đời, góp phần gìngiữ bản sắc văn hóa dân tộc, cổ vũ tinh thần yêu nước và tinh thần đoàn kếttrong đời sống hàng ngày của nhân dân Là huyện mới được thành lập, nhưngvùng đất Lộc Hà giàu truyền thống văn hóa, lịch sử, cách mạng với nhiều ditích, lễ hội Hàng năm trên địa bàn huyện diễn ra hàng chục lễ hội có quy môlớn - nhỏ khác nhau, nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh và đời sốngtinh thần của nhân dân Trong đó phải kể đến:

- Lễ hội đền Tam Lang (đền Cả) ở Phan Xá, Ích Hậu, thời gian tổ chứctrong hai ngày mồng 5 và 6 tháng Giêng âm lịch hàng năm Đền thờ ba vị LýNhật Quang, Lý Đạo Thành và Lý Thế Giai là những người có công tổ chứckhai phá vùng lưu vực sông Lam, sông La, ven núi Hồng Lĩnh mở thêm nhiềulàng, xóm và được nhân dân nhiều vùng tôn làm thành hoàng làng Để tưởngnhớ công lao nhân dân trong vùng đã lập đền thờ trên nền đất ông đóng quângọi là “Tam tòa Đại vương” Dường như cũng chính thổ nhưỡng của các dòngsông đã kiến tạo nên những giá trị văn hóa đặc sắc của người Ích Hậu Nhữngngôi đền lớn như đền Cả, đền thờ Nguyễn Văn Giai… với lối kiến trúc chạmtrổ tinh vi, thể hiện sự phát triển sớm về văn hóa tâm linh của vùng đất này.Đền Cả được xây dựng năm 1475 thờ 3 vị Lý Nhật Quang (hoàng tử thứ 8 củavua Lý Thái Tổ) và 2 vương hầu là Lý Đạo Thành và Lý Thế Giai là 3 vị đã

có công hướng dẫn nhân dân vùng Tây nam Hồng Lĩnh khai lập nên một sốlàng trong đó có làng Kẻ Ngật (thuộc Ích Hậu) Về sau đền còn thờ thêm 2 vịcông thần nhà Trần là Trần Quang Khải và Trần Khánh Dư

Trang 29

- Tại làng Phan Xá, xã Ích Hậu có lễ hội Xuân Điễn Lễ hội nhằm tưởngnhớ thần Tam Lang có công giúp thủy quân Đại Việt đánh thắng giặc ngoạixâm Lễ hội được tổ chức từ ngày mồng 4 đến ngày mồng 8 âm lịch rất trọngthể Gồm có hát tụng thần, hát chèo, tuồng, chơi các trò chơi dân gian Banăm một lần làng có tổ chức bơi thuyền rồng, rước thần trên kênh trước đền.Trải qua bao thăng trầm của lịch sử và sự đổi thay của đời sống xã hội, ngàynay các lễ hội ở các ngôi đền này đều đã lần lượt được khôi phục, thu húthàng trăm lượt du khách thập phương Với những giá trị văn hóa, lịch sử đó,

di tích đền Cả và đến thờ Nguyễn Văn Giai đã được xếp hạng là di tích vănhóa cấp Quốc gia

- Chùa Chân Tiên, xã Thịnh Lộc, lễ hội diễn ra vào ngày 3 tháng 3 âmlịch hàng năm Đây là lễ hội mang đậm nét văn hóa truyền thống dân gian có

từ lâu đời Lễ hội được tổ chức hàng năm là nhằm để bảo tồn, gìn giữ và pháthuy các giá trị văn hóa dân tộc, hướng về cội nguồn Lễ hội không chỉ là nơi

để nhân dân “về nguồn” mà trong tương lai sẽ gắn với việc phát triển du lịch

ở bãi biển Thịnh Lộc, đây sẽ là nơi ngưỡng vọng về tâm linh gắn với du lịchsinh thái và du lịch biển

- Chùa Kim Dung, xã Thạch Bằng lễ hội diễn ra trong hai ngày: Ngày 14

và 15 tháng 3 âm lịch hàng năm Từ xưa lễ hội chùa Kim Dung tổ chức vớiquy mô nhỏ, nhưng sau khi được xếp hạng di tích lịch sử danh thắng cấp tỉnhvào năm 2003 thì lễ hội được tổ chức quy mô và hoành tráng hơn, với nhiềuhoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao phong phú

- Đền Phan Trọng Búp ở xã Thạch Mỹ, lễ hội diễn ra vào ngày 27 tháng

5 âm lịch hàng năm Phan Trọng Búp tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ rấtsớm Trước khi quân Lam Sơn tiến quân vào Nghệ - Tĩnh, thì trước năm 1424đã nổ ra những cuộc khởi tiêu biểu, ở vùng Hà Tĩnh có cuộc khởi nghĩa củaNguyễn Biên (1420) Ông tham gia cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Biên ngay

Trang 30

chính tại quê hương, dưới chân núi Hồng Lĩnh Tháng 10 năm Giáp Thìn(1424) nghĩa quân Lam Sơn ở Thanh Hóa tiến quân vào Nghệ An Vớí thanhthế của nghĩa quân Lam Sơn cùng với các anh hùng hào kiệt khác, nghĩa quâncủa Phan Trọng Búp ở châu Nam Tĩnh đều tự nguyện quy tụ dưới lá cờ “đạinghĩa” do Lê Lợi lãnh đạo Sau khi tham gia cuộc khởi nghĩa, Phan TrọngBúp đã cùng với nghĩa quân tham gia giải phóng toàn bộ châu Nam Tĩnh,tham gia bao vây thành Nghệ An, đánh nhiều đồn ải địch ở vùng Nghệ An.Năm 1425, nghĩa quân tiến ra Bắc sau khi đánh chiếm giải phóng một vùngrộng lớn Nghệ - Tĩnh, nghĩa quân tiến ra Thanh Hóa giải phóng thành Tây

Đô, do quân Minh chiếm giữ kiên cố bậc nhất kể từ Thanh Hoá trở vào vàtrên phạm vi cả nước Trong một trận giao tranh àc liệt với quân giặc, PhanTrọng Búp đã hy sinh tại chân núi Đá Mài, thuộc tổng Trạch Lâm, xã BảoDương (nay là xã Xuân Dương, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa) cáchthành Tây Đô 5km về phía tây và cách Lam Sơn 50km về phía tây nam Saukhi ông mất quân sỹ và nhân dân thương tiếc đã an táng ông tại đây Sau khiđất nước trở lại thái bình triều đình phong kiến nhà Lê Sơ đã cho lập đền thờPhan Trọng Búp và sắc phong làm thành hoàng làng Sắc phong thời Lê -Nguyễn ghi công trạng của ông trong các cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là PhanTrọng Búp trung tín hiệu úy xuất thân Kiệu Vỏ hầu tự Trọng Búp

- Lễ hội làng Thanh Lương (còn gọi là đền Thanh Lương hay đình ThanhLương) ở xã Phù Lưu, là một lễ hội dân gian để tưởng nhớ Phan Khắc Liênngười có công khai phá và lập làng cho nên nhân dân trong vùng phong làmthành hoàng làng và lập đền thờ tự Lễ Khai Hạ vào ngày 23 tháng Giêng âmlịch và Lễ Kỳ phúc diễn ra từ ngày 10 đến ngày 12 tháng 6 âm lịch, nhân dântrong vùng lại tề tựu về đây thắp nén tâm nhang để tưởng nhớ đến công laocủa vị thành hoàng làng Ngoài tham gia các trò chơi các trò dân gian, vềtham dự lễ hội, mọi người lại cầu nguyện các vị thần linh và các anh hùng liệt

Trang 31

sỹ cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, dân làng ấm

no, nhà nhà an khang… Lễ hội thể hiện tính ngưỡng thờ thành hoàng làngcủa người dân

- Hội cờ người ở Trung Thịnh, ở làng Yên Điềm xã Thịnh Lộc thời gian

tổ chức vào đầu mùa xuân Là lễ hội dân gian của người dân địa phương có từrất lâu đời thường tổ chức mỗi năm một lần, do các hiệp sỹ cao cờ và các bậccao niên trong xã đứng ra tổ chức và có mời các địa phương lân cận tham gia.Trước đây hội cờ có sắm áo mũ đầy đủ cho các thanh niên nam, nữ làm quâncờ mặc, hai bên điều khiển các quân cờ như đánh cờ bàn Khi giao lưu đánhcờ được bà con trong vùng đến xem rất đông Ngày nay hội vẫn còn nhưngkhông còn áo mũ như ngày trước Hàng năm hội người cao tuổi vẫn duy trì tổchức như một thú vui không thể quên

- Đền Lê Khôi ở xã Thạch Kim lễ hội diễn ra từ ngày mồng 1 đến ngàymồng 3 thàng 5 âm lịch Lễ hội không chỉ để tưởng nhớ một vị tướng, mà còn

có ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm linh của nhân dân trong vùng, nhất là ngưdân ở các vùng ven biển Thông qua lễ hội người dân cầu mong cho ĐứcThánh Chiêu Trưng phù hộ cho ngư dân nơi đây được gặp nhiều may mắntrong mỗi chuyến ra khơi

- Đền Thanh Hòa ở thôn Thanh Hòa, xã Phù Lưu huyện Lộc Hà Đền thờ

vị Đức Thánh Quang và vua Quang Trung, đây là lễ hội truyền thống do làngThanh Hòa tổ chức, diễn ra vào hai ngày: lễ Khai Hạ ngày 7 tháng Giêng vàlễ Kỳ Phúc ngày 20 và 21 tháng 5 âm lịch Sau phần tế lễ và dâng hương củacác làng trong xã là các trò chơi dân gian như: cờ thẻ, chọi gà, đi cà kheo,…Lễ hội thể hiện tín ngưỡng thờ thành hoàng làng của người dân địa phương, lànơi để nhân dân thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻtrồng cây”,… Cầu cho mưa thuận gió hòa, làm ăn phát đạt

Trang 32

- Chùa Xuân Đài ở xã Thạch Bằng là một lễ hội mang tính tôn giáo được

tổ chức vào ngày 14 và 15 tháng 2 âm lịch Chùa được xây dựng từ thời nhàTrần, tọa lạc trên một khu đất ven sông Cửa Sót thuộc thôn Xuân Nghĩa, xãThạch Bằng Từ xưa lễ hội được nhân dân tổ chức vào ngày Khai Hạ mồng 7tháng Giêng, các làng rước thành hoàng làng về đây làm lễ, lập đàn chuẩn tế.Sau một thời gian mai một, năm 2006, chùa Xuân Đài được xếp hạng di tíchlịch sử văn hóa cấp tỉnh, thì lễ hội được chính quyền địa phương tổ chức quy

mô thường niên với nhiều hoạt động phong phú Đây là lễ hội mang đậm nétvăn hóa tâm linh, hướng về cái thiện thể hiện tình yêu quê hương đất nước

- Đền Ngọc Mỹ ở xã Phù Lưu, đền thờ Đặng Tất - vị anh hùng có cônggiúp vua Trần Ngỗi (Giản Định Đế) chống giặc Minh xâm lược Đây là lễ hộitruyền thống do làng Ngọc Mỹ tổ chức diễn ra vào hai ngày: lễ Khai hạ vàongày 16 tháng Giêng và lễ Kỳ Phục vào ngày 5 tháng 6 âm lịch Sau phần lễ

và phần dâng hương của các làng là các trò chời dân gian như cờ thẻ, chọi gà,kéo co… Lễ hội thể hiện tín ngưỡng thờ thần thành hoàng làng của người dânđịa phương, là nơi để nhân dân thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn và cầumong cho mưa thuận gió hòa, làm ăn phát đạt

- Lễ hội đền Tứ Vị Thánh Nương ở xã Thịnh Lộc, đây là lễ hội truyềnthống của làng, được tổ chức vào ngày 15 tháng 1 âm lịch hàng năm Ngoàiphần tế lễ hàng năm thì cứ hai năm một lần làng lại tổ chức thêm phần hội vớicác trờ chơi dân gian như vạt cù, đi cà kheo, chơi cờ, bóng chuyền …Theosách Đại nam nhất thống chí thì Tứ vị Thánh nương là các cung phi của nhàTống là bà Thái hậu Dương Nguyệt Quả, 2 công chúa Triệu Nguyệt Khiêu,Triệu Nguyệt Hương (con vua Tống Độ Tông) và bà nhũ mẫu (Trung Quốc).Năm Thiệu Bảo thứ nhất (1279), do quân Tống thất bại trong trận chiến Tống

- Nguyên, Vua Tống Đế Bính cùng quan quân nhảy xuống biển tự vẫn Tháihậu và 2 công chúa vì thương tiếc nhà Vua cũng nhảy xuống biển tự vẫn theo,

Trang 33

thân xác trôi dạt đến vùng biển Thanh – Nghệ - Tĩnh Người dân nơi đây đãvớt lên chôn cất và được phong làm thần biển ở xứ này, từ đó nhân dân lậpđền thờ vọng và tổ chức tế lễ hàng năm Lễ hội thể hiện rõ nét văn hóa, tínngưỡng dân gian của cư dân ven biển, như cầu mong âm phù hộ mỗi lần rakhơi, tạ lễ sau mỗi vụ ngư kết thúc và vẫn giữ được sắc thái lễ hội làng – Hộikhai xuân Ngoài ra do quá trình hợp tự đền – chùa nên tại đền Tứ vị Thánhnương còn thờ một số vị phúc thần của làng như: Cương Khấu Đại Vương,các vị tiên hiền, những người có công đầu tiên trong khai phá lập làng và đấutrang bảo vệ quê hương trong tiến trình phát triển chung của lịch sử dân tộc.

- Đền Sát hải đại vương, ở xã Thịnh Lộc, là lễ hội lịch sử - văn hóatruyền thống được tổ chức vào ngày 15 tháng 2 âm lịch do chính quyền địaphương phối hợp với các xóm và cư dân trong vùng tổ chức Đền thờ Hoàng

Tá Thốn một người có công rất lớn góp phần trong việc giúp vua Trần NhânTông đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông Ông được vua Trần phong Sáthải đại vương tướng quân, được giao trọng trách thống lĩnh quân thủy bộ bảo

vệ 12 cửa biển Sau khi ông mất, nhà vua xuống chiếu cho nhân dân các vùnglạch sông, cửa biển lập đền thờ Lễ hội đền Sát hải đại vương một mặt nhằmbảo tồn, gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, nhưng mặt kháccũng là dịp để giáo dục cho thể hệ trẻ hôm nay về truyền thống văn hóa, lịch

sử và cách mạng, uống nước nhớ nguồn của các vị tiền nhân đi trước đã cócông với nước với dân, khai thiên lập địa giữ yên bờ cõi

-Đình Đỉnh Lự tại xã Tân Lộc, lễ hội ra đời từ thế kỷ 18, do nhân dântrong vùng tổ chức diễn ra trong hai ngày: Lễ Khai Hạ ngày mồng 7 thángGiêng và lễ Kỳ Phúc ngày 21 tháng 5 âm lịch hàng năm

Về mặt ngôn ngữ, cư dân huyện Lộc Hà thuộc phương ngữ trung bộ,

nhưng không đồng nhất về thanh điệu Mấy xã thuộc vùng hạ Can cùng một

Trang 34

dải ven biển với huyện Nghi Xuân, có giọng nói na ná giống nhau về thanhđiệu, còn các xã thuộc vùng ven biển Ngang Thạch Hà lại có giọng nói khác.

Tiểu kết chương 1.

Như vậy qua trên chúng ta có thể thấy rằng: Lộc Hà là huyện tuy mớiđược thành lập, nhưng là một vùng đất có truyền thống lịch sử - văn hóa lâuđời, là nơi ghi dấu tích của nhiều di tích lịch sử - văn hóa, cũng là nơi sản sinh

ra nhiều hiền tài cho đất nước với nhiều danh nhân văn hóa, dòng họ văn hóa,những tướng tài người giỏi mà tên tuổi của họ gắn liền với sự phát triển củađất nước

Gắn với những nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa, dòng họ văn hóa,làng văn hóa là cả một hệ thống các di tích lịch sử văn hóa có giá trị Trải quabao biến cố, thăng trầm của lịch sử và sự tàn phá của thời gian, rất nhiềunhững di tích lịch sử bị tàn phá trở thành những phế tích Tuy nhiên hiện naytrên địa bàn huyện Lộc Hà vẫn còn bảo tồn, lưu giữ được một số di tích rất cógiá trị về mặt lịch sử và văn hóa Trong đó có một số đền, chùa, nhà thờ tiểubiểu được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh và Quốc gia

Trang 35

Chương 2 DIỆN MẠO MỘT SỐ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TIÊU BIỂU

Ở HUYỆN LỘC HÀ

2.1 Các di tích Đền, Đình, Miếu

2.1.1 Đền Mai Lâm (đền thờ vọng Lê Khôi – xã Mai Phụ)

Nằm trong cụm di tích lịch sử văn hóa của huyện Lộc Hà, đền thờ danhtướng Lê Khôi, người cháu ruột của vua Lê Lợi, không chỉ là một bảo tànglưu giữ những chứng tích về nhân vật, lịch sử, lễ hội… mà còn là một bộ phậnquan trọng trong việc lưu giữ những nét văn hóa truyền thống của quê hương

Hà Tĩnh

Lê Khôi quê ở làng Lam Sơn huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa Sinh ratrong một gia đình “đời đời hùng trưởng một phương” Lê Khôi là con traicủa Lê Trừ, người anh thứ hai của Lê Lợi

Nhà Hồ thất bại trong việc bảo vệ chủ quyền của dân tộc, đất nước rơivào ách đô hộ của nhà Minh, nhân dân ta đã đứng lên đánh đuổi quân xâmlược nhà Minh liên tục và rộng khắp Sinh ra và lớn lên tại thời điểm đó, LêKhôi sôi sục ý chí cứu nước, cứu dân Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, LêKhôi đã trưởng thành và đứng trong đội quân “thiết đội” Trong những ngàyđầu chiến đấu, Lê Khôi đã tham gia nhiều chiến dịch, lập nhiều chiến công

“ông theo đầu tiên dưới ngọn cờ khởi nghĩa, mình đeo bên tả mũi tên, bênhữu túi cung, theo vua hàng trận, công lao rực rỡ” [11; 264]

Là một vị tướng giỏi có công phò tá cho ba đời vua (Thái Tổ, Thái Tông,Nhân Tông), cuộc đời và sự nghiệp của Lê Khôi trong những năm tháng

Trang 36

kháng chiến chống quân Minh có nhiều đóng góp nhưng nổi bật nhất là ở trậnKhả Lưu và trận Xương Giang.

Trong trận Khả Lưu, Bồ Ải, Lê Khôi được lệnh cầm một đội quân cùngvới Lê Sát và nhiều tướng lính cao cấp khác đặt phục binh ở Bồ Ải Trongtrận này Lê Khôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình góp công vào

chiến thắng chung của nghĩa quân Lam Sơn Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ghi “Bọn Lê Sát, Lê Lễ, Lê Nhân Chú, Lê Ngân, Lê

Chiến, Lê Tông, Lê Kiều, Lê Khôi, Lê Bôi tranh nhau lê phía trước phá quângiặc…”[11; 264]

Trong trận Xương Giang, Lê Khôi cùng với Phạm Vấn với 3.000 quânlính trong tay đã khiến cho viên tướng khét tiếng của nhà Minh như Đô đốc

Thôi Tụ và Thượng thư Hoàng Phúc phải khiếp đảm Sách Lịch triều hiến chương loại chí ghi “Ông cùng với Phạm Vấn đem vài ngàn binh giáp cùng

Lê Sát đánh tan quan Thôi Tụ, Hoàng Phúc ở Xương Giang, bắt sống Tụ,Phúc và mấy vạn quân địch, dẹp Ngô khôi phục lại Đông đô” [11; 265] Khitriều đình nhà Lê dựng biển khắc tên 93 vị công thần khai quốc thì Lê Khôiđứng ở vị trí thứ 16, ông được phong tước Đình Thượng hầu

Năm 1431, Lê Lợi đã trao cho ông chức Trấn thủ xứ Hóa Châu Được tinông vào trấn thủ nơi đây, theo văn bia tại đền Chiêu Trưng thì nhân dân vùngHóa Châu truyền tai nhau rằng “Hóa châu được người tài giỏi này thì bờ cõiphía nam không có việc gì nữa” Tiếng lành đồn xa, ngày trước quân ChiêmThành thường hay sang quấy phá nhân dân vùng Hóa Châu, bắt đi hàng ngànngười, từ khi Lê Khôi về trấn thủ bờ cõi được yên ổn, quân Chiêm Thànhkhông dám sang quấy nhiễu nữa

Trong thời gian vua Lê Thái Tông trị vì, ông đã nhiều lần cầm quân sátcánh cùng nhà vua đi đánh Ai Lao, châu Thuận Mỗi, làm quan đến chức Nhậpnội đô đốc

Trang 37

Dưới thời vua Lê Nhân Tông, ông được cử vào làm trấn thủ Nghệ An,ông đã chăm lo đến đời sống cho từng người dân, ông đặc biệt chú trọng pháttriển nông nghiệp, những vùng đất hoang hóa ông cho dân đến khai phá lậplàng mở rộng diện tích.

Năm 1444, Chiêm Thành đưa quân đến cướp vùng Châu Hóa, Lê Khôilại được lệnh đưa quân đi tăng viện cho vùng Châu Hóa, tướng lính quân sĩđều hăng hái giết giặc, nhanh chóng giành được thắng lợi, đánh bật được quânChiêm Thành ra khỏi biên giới Tin thắng trận báo về, vua phong cho ôngchức “Nhập nội” tham dự triều chính nhưng vẫn lưu ở Nghệ An

Năm Thái Hòa thứ IV (1446), Đô đốc Lê Khả đưa quân đi đánh phươngNam, Lê Khôi được lệnh đưa binh của toàn bộ trấn Nghệ An đi trước, nơi trậnmạc ông xông pha đánh tan quân giặc ở trên ải, đi tới đâu thắng trận tới đó,tin thắng trận báo về kinh đô Nhưng thật không may trên đường trở về kinh,

Lê Khôi lâm bệnh qua đời ở chân núi Long Ngâm, cửa biển Nam Giới thuộclàng Kim Đôi, Hoàng Hà cũ (nay là xã Thạch Kim, Lộc Hà)

Lịch sử dân tộc ghi nhận, Lê Khôi là một vị tướng tài ba, có công phò tá

ba đời vua Lê Trong thời gian trấn giữ vùng Hóa Châu, với tài năng, mưu trícủa mình, Lê Khôi đã che chở cho người dân nơi đây thoát khỏi họa xâm lăngcủa Chiêm Thành Ông là người hết lòng thương yêu, đùm bọc, lo cho đờisống nhân dân, ông được nhân dân vùng Hóa Châu một lòng tin yêu, mếnphục, kính trọng Ông mất đi nhưng trong lòng người dân Hóa Châu ông đãhóa thần, luôn theo dõi phù hộ cho nhân dân, ông đã trở thành vị thần canhgiữ vùng biên cương nơi đây Nhân dân Hóa Châu đã lập đền thờ cúng ôngtrên núi Nam Giới nơi ông mất để tưởng nhớ Trong đó nhân dân làng MaiLâm, xã Mai Phụ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh có công xây dựng đền và thờphụng Lê Khôi từ xa xưa Về sau do lạch Cửa Sót đổi dòng việc đi lại thờcúng ở đền quá trở ngại khó khăn, làng Mai Lâm xin xây dựng đền thờ vọng

Trang 38

Lê Khôi tại làng để nhân dân thuận tiện việc tế lễ Hàng năm cứ vào ngày giỗcủa Lê Khôi, nhân dân trong vùng làm lễ rước kiệu từ đền Mai Lâm về đềnchính ở núi Nam Giới để cúng tế cùng với các làng khác trong vùng.

Về tấm lòng đức độ và tình yêu thương nhân dân của Lê Khôi được thể hiện

ở đôi câu đối ở Vọng Lâu đền chính thuộc xã Thạch Kim, huyện Thạch Hà:Đức vinh lưu phương thùy tín sử

Phúc tuy quyết hậu nhuận tan dân.[ 22; 20]

Dịch nghĩa: Đức của người mãi mãi được ghi trong sử sách

Phúc của người đối với nhân dân Vĩnh Tuy như còn mới đấy.

Để ghi nhận công đức của Lê Khôi và gìn giữ những giá trị kiến trúcnghệ thuật thời Lê tại đền thờ Chiêu Trưng Lê Khôi ở xã Thạch Bàn, huyệnThạch Hà Năm 1990, Bộ văn hóa thông tin (nay là Bộ VH – TT và DL), đã

có quyết định công nhận di tích lịch sử thắng cảnh đền thờ và lăng mộ LêKhôi là di tích lịch sử cấp Quốc gia Đền Mai Lâm ở xã Mai Phụ, huyện Lộc

Hà, tỉnh Hà Tĩnh là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh

Đền Mai Lâm hay còn có tên gọi khác là đền thờ vọng Lê Khôi đượcdựng thuộc xã Mai Phụ của huyện Lộc Hà Về quy mô kiến trúc của đền lúcxây dựng như thế nào và quá trình xây dựng, cũng như thời gian xây dựng thìkhông có tài liệu nào ghi chép Chỉ biết rằng đền Thờ vọng Lê Khôi nằmtrong một khuôn viên khá hẹp gồm có các công trình chính: nhà Hạ điện, nhàTrung điện và nhà Thượng điện nối liền và thông với nhau thành một khốivừa thuận tiện cho việc tế lễ vừa tiết kiệm diện tích xây dựng giành khônggian mặt tiền của đền cho việc tổ chức lễ hội của nhân dân

Qua cổng chính là một khoảng sân trống, giữa sân xây Tắc môn rộng3,20m, cao 1,80m, mặt ngoài đắp nổi hình nghê và đao Bên phải trước sânđền xây dựng nhà bia, về kết cấu của nhà bia cũng không có gì nổi bật Bia đá

Trang 39

khắc ghi bằng chữ Hán, nội dung khắc ghi thân thế vào sự nghiệp của danhtướng Lê Khôi Mặt trước của nhà bia khắc nổi đôi câu đối:

Mai Lâm chung vượng khí

Thần đức ký bia danh

Tạm dịch: Đất Mai Lâm hun đúc vượng khí

Đức của thần ghi tạc vào bia.

Qua khoảng đất lát gạch nung là ngôi nhà Hạ điện, hai bên tường hồi nhà

Hạ điện mở đường rộng 2,30m thông ra phía sau nhà Thượng điện Phía trướcsân nhà Hạ điện đối diện bên phải và bên trái sát tường bao đắp hai cặp voi vàngựa chiến trông rất sống động, mỗi con dài 2,30m, rộng 1,70m

Nhà Hạ điện bố trí ba gian chính, gian chính rộng 2,10m x 6,30m, haigian hồi mỗi gian rộng 1,27m x 6,30m, nền láng xi măng, mái lợp ngói mũihài Bờ dải của nóc đắp “lưỡng long chầu nguyệt”, giữa bờ mái đắp lân chầu,bốn bờ mái đắp đầu đao cong vút Giữa các trụ mặt tiền nhà Hạ điện khắc cặpcâu đối:

Nam Giới, Long Ngâm lăng miếu xưa tiền nhân xây dựng

Mai Lâm, Mai Phụ di tích này hậu duệ bảo tồn

Và: Hiển hách anh linh thiên cổ thánh

Uy phong lẫm liết nhất phương thần [45; 6]

Tạm dịch: Ngài là vị thánh ngàn năm anh linh hiển hách

Ngài là vị thần uy phong lẫm liệt ở một vùng.

Trong nhà Hạ điện gian chính giữa bài trí hương án, trên đó đặt bàn thờbộ đỉnh hương và thân đèn bằng đồng, lư hương và bình hoa bằng sứ cùngmâm chè, đài trản bằng gỗ Hai bên bàn thờ đặt giá cắm binh khí, bức cuốnthư và đôi câu đối:

Phạt Bắc bình Nam uy tứ hải

Phù vương sáng quốc lịch tam triều.[45; 6]

Trang 40

Tạm dịch: Đánh bắc dẹp Nam uy lừng bốn biển

Giúp vua mở nước trải ba triều.

Nhà Trung điện cũng bố trí tương tự nhà Hạ điện, điểm nổi bật của nhàTrung điện là còn giữ được các đồ thờ cổ quý giá như: lư hương hình chữnhật bằng kẽm, mộc chủ và mâm thờ cộng đồng bằng sơn son thiếp vàng còngiữ nguyên bản

Nhà Thượng điện, có kết cấu kiến trúc nhỏ hơn cũng được bố trí ba gian.Gian giữa trên cao đặt tượng thờ Lê Khôi, trong tư thế ngồi xếp bằng trênngai đặt trong khảm thờ lồng kính và đặt trên bàn thờ Ở gian bên trái đặttượng thờ quan thánh đế đặt trên khảm gỗ trong lồng kính Gian bên trái thờTam tòa thánh mẫu gồm ba pho tượng bằng gỗ đặt trong khảm thờ lồng kính.Hiện tại trong đền thờ Mai Lâm còn lưu giữ hơn 50 sắc phong của các triềuđại phong kiến phong cho Lê Khôi và làng Mai Lâm

Như vậy, đến với Lộc Hà, dọc theo núi Nam Giới mem theo sông cửaSót có tới ba ngôi đền thờ: “Nhân thần – thần Lê Khôi, Thiên thần – Thánhmẫu Liễu Hạnh, và Nhiên thần – thần cá Voi, kết hợp với núi Quỳnh Viên vàsông biển ở đây tạo thành một quần thể di tích thắng cảnh hùng vĩ vừa mangyếu tố văn hóa tâm linh, vừa mang yếu tố văn hóa du lịch biển, vừa là du lịchsinh thái, với không gian biển trời non xanh, nước biếc thơ mộng” [22; 39]

2.1.2 Đền Cả (Xã Ích Hậu)

Nguồn gốc lịch sử

Đền Cả hay còn gọi là đền Lớn hoặc đền Tam tòa đại vương, nằm ở xãÍch Hậu huyện Lộc Hà Đền Cả được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấpQuốc gia năm 1992

Sau khi đất nước thoát khỏi ngàn năm Bắc Thuộc, công cuộc phục hưngđất nước của các vương triều phong kiến Đại Việt thu được nhiều thành tựurực rỡ Trong buổi đầu của thời kỳ độc lập các vương triều phong kiến rất

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1992
2. Ban chấp hành đảng bộ huyện Can Lộc (2005), Lịch sử đảng bộ huyện Can Lộc, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đảng bộ huyện Can Lộc
Tác giả: Ban chấp hành đảng bộ huyện Can Lộc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
3. Ban chấp hành đảng bộ huyện Thạch Hà (1997), Lịch sử đảng bộ huyện Thạch Hà, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đảng bộ huyện Thạch Hà
Tác giả: Ban chấp hành đảng bộ huyện Thạch Hà
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
5. Đặng Duy Báu (chủ biên, 2000), Lịch sử Hà Tĩnh (tập 1), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Hà Tĩnh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
6. Đặng Duy Báu (chủ biên, 2000), Lịch sử Hà Tĩnh (tập 2), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Hà Tĩnh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
7. Nguyễn Trọng Bằng (2007), Khảo sát địa danh ở huyện Thạch Hà, Luận văn Thạc sỹ Ngữ văn – Lưu tại thư viện Nguyễn Thúc Hào, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát địa danh ở huyện Thạch Hà
Tác giả: Nguyễn Trọng Bằng
Năm: 2007
8. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1990
9. H. Le. Breton (2005), An tĩnh cổ lục, Nguyễn Đình Khang, Nguyễn Văn Phú dịch, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: An tĩnh cổ lục
Tác giả: H. Le. Breton
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2005
10. Nguyễn Đổng Chi (1995), Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1995
11. Phan Huy Chú (1960), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1960
12. Phan huy chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan huy chú
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1992
13. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các Triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2001
14. Ngô Thị Kim Doan (2004), Văn hóa làng xã Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa làng xã Việt Nam
Tác giả: Ngô Thị Kim Doan
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2004
15. Cao Xuân Dục (1993), Quốc triều hương khoa lục, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều hương khoa lục
Tác giả: Cao Xuân Dục
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
16. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
17. Thái Kim Đỉnh (2004), Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh, Nxb Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh
Tác giả: Thái Kim Đỉnh
Nhà XB: Nxb Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật
Năm: 2004
18. Thái Kim Đỉnh (2000), Làng cổ Hà Tĩnh (tập 1), Nxb Sở văn hóa thông tin và Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật, Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng cổ Hà Tĩnh
Tác giả: Thái Kim Đỉnh
Nhà XB: Nxb Sở văn hóa thông tin và Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật
Năm: 2000
19. Thái Kim Đỉnh (2005), Lễ hội dân gian ở Hà Tĩnh, Sở văn hóa thông tin Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội dân gian ở Hà Tĩnh
Tác giả: Thái Kim Đỉnh
Năm: 2005
20. Trần Hồng Đức (1998), Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam
Tác giả: Trần Hồng Đức
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1998
21. Bùi Đức Hạnh (1998), Địa danh Can Lộc, Luận văn Thạc sỹ Ngữ văn – Lưu tại thư viện Nguyễn Thúc Hào, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh Can Lộc
Tác giả: Bùi Đức Hạnh
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh chạm khắc ở Đền Cả xã Ích Hậu – huyện Lộc Hà – tỉnh Hà Tĩnh - Tìm hiểu một số di tích lịch sử   văn hóa tiêu biểu ở huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh
nh ảnh chạm khắc ở Đền Cả xã Ích Hậu – huyện Lộc Hà – tỉnh Hà Tĩnh (Trang 125)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w