Cũng trong quá trình trao đổi này là sự ra đời của các cuốn du ký, hồi ký, những ghi chép của các giáo sĩ và thương nhân nước ngoài về tình hình văn hóa – xã hội nước ta.. Đã có nhiều tá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ - -
NGUYỄN THỊ THU THỦY
TÌM HIỂU VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG Ở ĐÀNG NGOÀI THẾ KỶ XVII THÔNG QUA
NGUỒN TƯ LIỆU PHƯƠNG TÂY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Lịch sử Văn hóa
Người hướng dẫn khoa học
Th.S Nguyễn Văn Vinh
Trang 2Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình, cũng như bạn bè đã tạo điều kiện
và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân, nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự chỉ bảo của các thầy, cô cũng như của các bạn sinh viên
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
TÁC GIẢ KHÓA LUẬN
Nguyễn Thị Thu Thủy
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của thạc sĩ Nguyễn Văn Vinh Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
TÁC GIẢ KHÓA LUẬN
Nguyễn Thị Thu Thủy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
4 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu 5
5 Bố cụ khóa luận 5
Chương 1: Khái quát tình hình kinh tế - chính trị - xã hội ở Đàng Ngoài thế kỉ XVII 6
1.1 Tình hình chính trị - xã hội 9
1.2 Tình hình kinh tế 16
Tiểu kết chương I 22
Chương 2: Văn hóa Việt Nam ở Đàng Ngoài thế kỉ XVII qua khảo cứu tư liệu phương Tây 24
2.1 Vị trí, quy mô, diện tích Đàng Ngoài qua khảo cứu tư liệu phương Tây 24
2.2 Những nét văn hóa truyền thống tiêu biểu ở Đàng Ngoài 35
2.2.1 Văn hóa cung đình 35
2.2.1.1 Lễ lên ngôi của nhà vua 35
2.2.1.2 Lễ tang của nhà vua 40
2.2.1.3 Lễ tịch điền 47
2.2.1.4 Lễ xua đuổi tà ma khỏi vương quốc 51
2.2.1.5 Kiến trúc trong cung đình 54
2.2.2 Tổ chức chính quyền, pháp luật, quân đội 56
2.2.2.1 Quá trình hình thành Đàng Ngoài và sự phân chia quyền lực của chúa Trịnh-vua Lê 56
Trang 52.2.2.2 Tổ chức chính quyền 65
2.2.2.3 Pháp luật, quân đội 82
2.2.3 Văn hóa dân gian 82
2.2.3.1 Kiến trúc dân gian 82
2.2.3.2 Con người, phong tục, tập quán 84
2.2.3.3 Tôn giáo tín ngưỡng 106
Tiểu kết chương II 113
Kết luận 114
Danh mục tài liệu tham khảo 116
Phụ lục 118
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Có thể nói lịch sử dân tộc ta là lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm,
là lịch sử của những thăng trầm biến cố thịnh suy, hợp phân của lãnh thổ dân tộc, là lịch sử hàng ngàn năm xây dựng, gìn giữ, và bảo vệ những giá trị truyền thống
Mỗi người dân Việt Nam luôn mang trong mình niềm tự hào, kiêu hãnh
về những chiến công vẻ vang của dân tộc, về những anh hùng làm rạng danh non sông tổ quốc Và trên hết chúng ta tự hào rằng dân tộc ta là một dân tộc giàu truyền thống văn hóa
Con người là chủ thể của văn hóa và đến cuối cùng cái gốc của mỗi người cũng chính là văn hóa Vì vậy, tìm hiểu về truyền thống của dân tộc cũng chính là đi tìm cái gốc trong mỗi con người mỗi chúng ta
Văn hóa luôn luôn vận động, nó không phải là cái bất biến Chính vì vậy để hiểu về văn hóa truyền thống của dân tộc là cả một quá trình học tập
và tìm hiểu lâu dài Những biến đổi của tình hình chính trị-kinh tế-xã hội luôn
là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự biến đổi của văn hóa
Thế kỉ XVI-XVII, là giai đoạn đất nước ta có nhiều sự đổi thay từ chính trị đến kinh tế, xã hội Nó đánh dấu một thời kỳ mới của lịch sử dân tộc
Sự tồn tại của cục diện chính trị vua Lê – chúa Trịnh với nhiều biểu hiện và diễn biến phức tạp Không những vậy, cũng trong giai đoạn này sự trao đổi buôn bán với thương nhân nước ngoài diễn ra mạnh mẽ đặc biệt từ sau các cuộc phát kiến địa lý diễn ra vào thế kỷ XV Sự trao đổi buôn bán của
Trang 7Đại Việt nói chung và Đàng Ngoài nói riêng với các thương nhân nước ngoài như Bồ Đào Nha, Áo, Hà Lan, Anh, Pháp,v.v ngày càng phát triển
Cùng với quá trình trao đổi buôn bán hàng hóa là sự trao đổi về văn hóa Lúc này, cánh cửa của văn hóa dân tộc đã không còn đóng kín mà đã dần
hé mở Sự gõ cửa của các nước phương Tây đã làm thay đổi từ kinh tế đến đời sống xã hội của nhân dân Đại Việt nói chung và nhân dân Đàng Ngoài nói riêng Cũng trong quá trình trao đổi này là sự ra đời của các cuốn du ký, hồi
ký, những ghi chép của các giáo sĩ và thương nhân nước ngoài về tình hình văn hóa – xã hội nước ta
Những cuốn hồi ký, ghi chép đó trở thành nguồn tài liệu vô cùng quý giá đối với lịch sử dân tộc cũng như những người yêu thích nghiên cứu lịch sử Việt Nam
Là sinh viên Khoa Lịch sử luôn muốn tìm hiểu về quá khứ, cũng như những giá trị văn hóa của dân tộc dưới một góc nhìn đa chiều Vì vậy em xin
chọn đề tài:“Tìm hiểu văn hóa truyền thống Việt Nam ở Đàng Ngoài thế kỷ
XVII thông qua nguồn tư liệu phương Tây” làm đề tài nghiên cứu trong
khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
Trang 82.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu văn hóa Đàng Ngoài thế kỷ XVII thông qua nguồn tư liêu phương Tây cụ thể như sau:
Về thời gian: Đàng Ngoài thế kỷ XVII
Về không gian: Đàng Ngoài
Trong khóa luận của mình, tôi xin tập trung khai thác nguồn tài liệu từ
3 cuốn sách cơ bản sau:
+ Cuốn sách “Tập du ký mới và kỳ thú về vương quốc Đàng Ngoài” do
Lê Tư Hành dịch, Nxb Thế Giới, 2005 Cuốn sách phác họa những nét chấm phá về xã hội Đàng Ngoài khoảng giữa thế kỷ XVII với những chi tiết kỳ thú
và hữu ích về đời sống các tầng lớp thượng lưu và khối quần chúng bình dân Đại Việt; đồng thời đưa ra cái nhìn toàn cảnh về tự nhiên, văn hóa, các vấn đề phong tục, tập quán, tôn giáo… ở Đàng Ngoài
+ Cuốn sách “Tư liệu văn hiến Thăng Long-Hà Nội: tuyển tập tư liệu phương Tây”, do Nguyễn Thừa Hỷ biên soạn, Nxb Hà Nội, 2010 Cuốn sách giới thiệu một số bài viết của các tác giả người phương Tây viết về lịch sử Thăng Long - Hà Nội được chia làm hai giai đoạn: từ thế kỷ XVII đến 1882
và từ 1883 đến 1945
+ Cuốn sách “Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688” của William Dampier do Hoàng Anh Tuấn dịch, Nxb Thế Giới, 2011 Cuốn sách ghi lại những mô tả và nhận xét của tác giả về điều kiện tự nhiên, văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo, kinh tế, thương mại… của Đàng Ngoài Việt Nam hồi thế kỷ XVII
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu về văn hóa Đàng Ngoài, trong đó có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu của các thương nhân, giáo sĩ nước ngoài được các dịch giả dịch sang tiếng Việt như:
Trang 9+ Cuốn sách “Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài” của tác giả Alexandre
de Rhodes, do Hồng Nhuệ dịch, của Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1994 Cuốn sách nói về tình hình chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá và tôn giáo và tín ngưỡng của Vương quốc Đàng Ngoài thế kỷ 19 Quá trình truyền bá đạo thiên chúa vào Vương quốc đàng ngoài (Miền Bắc Việt Nam dưới thời vua Lê chúa Trịnh)
+ Cuốn sách “Văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam dưới nhãn quan học giả L Cadiere” của tác giả Đỗ Trinh Huệ, Nxb Thuận Hóa, 2000 Tác phẩm đề cập tới các khía cạnh về tôn giáo, văn hoá, tín ngưỡng Việt Nam dưới nhãn quan của Leopold Cadiere: tôn giáo người Việt; Đạo Khổng, Đạo Phật ở Việt Nam; Tế Nam Giao; Lăng Mộ
+ Cuốn sách “Tập du ký mới và kỳ thú về vương quốc Đàng Ngoài” do
Lê Tư Hành dịch, Nxb Thế Giới, 2005 Cuốn sách phác họa những nét chấm phá về xã hội Đàng Ngoài khoảng giữa thế kỷ XVII với những chi tiết kỳ thú
và hữu ích về đời sống các tầng lớp thượng lưu và khối quần chúng bình dân Đại Việt; đồng thời đưa ra cái nhìn toàn cảnh về tự nhiên, văn hóa, các vấn đề phong tục, tập quán, tôn giáo… ở Đàng Ngoài
+ Cuốn sách “Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792- 1793” do Nguyễn Thừa Hỷ dịch, Nxb Thế Giới, 2008 Tác giả viết về xứ Đàng Trong - Nam Hà vào thời điểm cuối thế kỉ 18 Khái quát về điạ lí, lịch sử, về cuộc chiến tranh giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn, phác thảo về các phong tục, tính cách, đời sống vật chất và tinh thần của những người dân bản xứ ở Turon - xứ Nam Hà - Đàng Trong của Việt Nam
+ Cuốn sách “Tư liệu văn hiến Thăng Long-Hà Nội: tuyển tập tư liệu phương Tây” do Nguyễn Thừa Hỷ biên soạn, Nxb Hà Nội, 2010 Cuốn sách giới thiệu một số bài viết của các tác giả người phương Tây viết về lịch sử
Trang 10Thăng Long - Hà Nội được chia làm hai giai đoạn: từ thế kỷ XVII đến 1882
và từ 1883 đến 1945
+ Cuốn sách “Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688” của William Dampier do Hoàng Anh Tuấn dịch, Nxb Thế Giới, 2011 Cuốn sách ghi lại những mô tả và nhận xét của tác giả về điều kiện tự nhiên, văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo, kinh tế, thương mại… của Đàng Ngoài Việt Nam hồi thế kỷ XVII
…
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài này, tôi chủ yếu thực hiện dựa trên nguồn tư liệu thu thập được từ thư viện quốc gia, thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong khóa luận sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp lịch
sử và phương pháp logic Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp khác như là: so sánh, tổng hợp, thống kê, phân tích…
Trang 11Chương 1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
Ở ĐẢNG NGOÀI THỂ KỈ XVII
Đầu thế kỉ XVI, nhất là sau khi Lê Hiến Tông mất, xã hội Đại Việt mất dần cảnh thịnh trị, kinh tế sa sút, nhân dân sống cực khổ, các thế lực phong kiến tranh chấp lẫn nhau mở đầu cho một giai đoạn mới của chế độ phong kiến Việt Nam – giai đoạn của những biến cố, khủng hoảng trên nhiều mặt từ tình hình chính trị, xã hội đến kinh tế Báo hiệu cho một thời kì đầy sóng gió của lịch sử phong kiến Việt Nam
Trước hết là hình ảnh của những ông “vua quỷ”, “vua lợn” như Lê Hiến Tông, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực Hiến Tông “vì ham nữ sắc quá nhiều” chết sớm, Lê Uy Mục sao nhãng việc triều chính, “đêm cùng cung nhân uống rượu
vô độ, ai say thì giết”, đến nỗi một viên sứ thần Trung Quốc đã phải gọi là
“vua quỷ” Vua mới là Lê Tương Dực lên ngôi cũng tỏ ra xa đọa không kém,
“hoang dâm vô độ” Xứ thần Trung Quốc nhận xét “nhà vua tính hiếu dâm như tướng lợn, loạn vong không còn lâu nữa”
Sự thối nát không chỉ ở Trung ương mà bọn quan lại địa phương mặc sức tung hoành nhũng nhiễu nhân dân, đến nỗi ở phố xá, chợ búa hễ thấy bóng quan thì dân vội đóng cửa, và tìm đường ẩn trốn Trong bài hịch của Lương Đắc Bằng có đoạn tố cáo bọn quan lại: “tước đã hết mà lạm thưởng không hết, dân đã cùng mà lạm thu không cùng, phú thuế thu đến tơ tóc mà dùng của như bùn đất”
Một bức tranh chính trị - xã hội đen tối Sự sa đọa từ chính quyền trung ương đến bọn quan lại địa phương là thời cơ thuận lợi cho sự nổi dậy của các thế lực phong kiến Một loạt các phong trào đấu tranh nổ ra làm lung lay đến
Trang 12tận gốc rễ của triều đình phong kiến vốn đã thối nat Đó là sự nổi dậy của nhóm Nguyễn Văn Lang và tôn thất nhà Lê ở Thanh Hóa năm 1509, hoạn quan Nguyễn Khắc Hài làm loạn, nhốt vua vào cung,uy hiếp triều đình Năm
1516, quận công Trịnh Duy Sản cùng bọn Lê Quảng Độ âm mưu giết vua và một số quan lại Trong triều vua quan âm mưu hãm hại lẫn nhau, ở địa phương các cuộc đấu tranh của nông dân nổ ra mạnh mẽ
Năm 1511, Thân Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng dấy quân nổi lên ở Kinh Bắc Trần Tuân nổi dậy ở Sơn Tây
Năm 1512, Nguyễn Nghiêm nổi dậy ở Sơn Tây, Hưng Hóa; Lê Hy, Trịnh Hưng, Lê Minh Triết nổi quân ở Nghệ An
Năm 1515, Phùng Chương nổi dậy ở vùng Tam Đảo; Đặng Hân, Đặng Ngật nổi dậy ở Ngọc Sơn (Thanh Hóa)
Đặc biệt là cuộc nổi dậy của Trần Cảo năm 1516, ông đã tự lập làm vua, đặt thiên hiệu là Thiên Ứng Không lâu sau thì bị quân triều đình dập tắt
Tình hình chính trị rối ren là thời cơ thuận lợi cho sự tranh đoạt vương quyền của các thế lực phong kiến Nhà Mạc đã được thành lập trong hoàn cảnh đó Dù đã cố gắng, song Mạc Đăng Dung luôn vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của các thế lực, đặc biệt là từ các cựu thần nhà Lê Sự chống đối ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt mà đỉnh điểm là hình thành nên cuộc chiến tranh giữa triều đình nhà Lê mới được thành lập ở Thanh Hóa với nhà Mạc mà sử gọi là chiến tranh Nam triều – Bắc triều Cuối năm 1583, cuộc chiến kết thúc với sự sụp đổ của nhà Mạc
Tình trạng Nam triều – Bắc triều chấm dứt chưa được bao lâu thì xảy ra
sự phân chia Đàng Trong – Đàng Ngoài Một cuộc chiến tranh mới lại bùng
nổ
Mầm mống của sự phân liệt bắt nguồn từ trong cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều Năm 1545, sau khi Nguyễn Kim bị mưu sát, Trịnh Kiểm được vua
Trang 13Lê đưa lên thay thế, chỉ huy mọi việc Để giữ vững quyền hành của mình, Trịnh Kiểm nhanh chóng tìm cách loại trừ các thế lực chống đối mình Trước tình hình đó, Nguyễn Hoàng xin vào đất Thuận Hóa với mục đích tránh được
âm mưu của Trịnh Kiểm, đồng thời xây dựng cơ nghiệp, chờ thời cơ báo thù
Tại đây ông đã gây dựng lên cơ nghiệp, thế và lực ngày càng mạnh Dần đối đầu với họ Trịnh Năm 1613, trước khi chết, Nguyễn Hoàng dặn lại con là Nguyễn Phúc Nguyên: “ Đất Thuận Quảng phía bắc có Hoành Sơn và Linh Giang, phía nam có núi Hải Vân và Thạch Bi, địa thế hiểm cố, thật là một nơi để cho người anh hùng dựng võ Nếu biết dậy bảo nhân dân, luyện tập binh sĩ kháng cự lại họ Trịnh thì gây được cơ nghiệp muôn đời”
Lối nghiệp cha, Nguyễn Phúc Nguyên đã dần tách khỏi sự phụ thuộc vào họ Trịnh Lấy cớ Nguyễn Phúc Nguyên không nộp thuế nữa, họ Trịnh đem quân vào đánh Thuận Hóa vào năm 1627 Cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn bắt đầu
Cuộc chiến tranh kéo dài gần nửa thế kỉ, hai bên đánh nhau 7 lần mà không có kết quả gì, lại tổn hao quân sĩ, nhân dân cực khổ vì vậy hai họ Trịnh – Nguyễn đành phải ngừng chiến tranh, lấy sông Gianh làm giới hạn chia cắt Đàng Ngoài – Đàng Trong
Như vậy, sự phân chia Đàng Trong – Đàng Ngoài là kết quả của một quá trình chanh chấp của các thế lực phong kiến Chiến tranh giữa các thế lực
đó là không tránh khỏi, song nó không thể giải quyết được xu thế phân liệt đã hình thành Sự phân liệt Đàng Trong – Đàng Ngoài kéo dài từ giữa thế kỉ XVI đến những năm cuối thế kỉ XVIII đã làm thay đổi khá nhiều tình hình kinh tế, chính trị, đời sống của nhân dân hai miền
Trong phần đầu bài viết này tôi xin tìm hiểu về tình hình chính trị, xã hội, kinh tế của Đàng Ngoài thế với những nét khái quát nhất
Trang 14Sau khi đánh thắng nhà Mạc, giành lại Thăng Long, họ Trịnh càng tự tôn và lấn át vua Lê, Trịnh Tùng đặt lệ chọn thế tử nối nghiệp ngang với thể thức của hoàng tộc Con cháu Trịnh Tùng lên làm chúa đều theo lệ xưng vương Năm 1664, Trịnh Tạc buộc vua Lê phải đặt thêm một chiếc ngai bên trái ngai vua để ngự trong các buổi chầu Trong thực tế, ngay từ thời Trịnh Tùng, vua Lê chỉ là một ông vua bù nhìn không còn quyền hành nữa Công việc hằng năm của vua Lê chỉ là dự lễ chầu và đón tiếp các sứ thần Mọi việc
hệ trọng trong nước đều do phủ chúa quyết định Giáo sư Pháp Alexandre de Rhodos sang truyền đạo ở nước ta khoảng 1624 – 1645 nói về Đàng Ngoài:
“Xứ này thực là một nước quân chủ thực sự, hơn nữa lại có hai vua Một gọi
là vua nhưng chỉ có danh mà thui, còn ông chúa kia thì có đủ quyền hành Vua chỉ ra mắt vào những ngày nhất định như ngày đại lễ đầu năm, ngoài ra vua chỉ ru rú trong một ngôi điện cổ kính, kéo dài cuộc đời nhàn tản vô vị, trong khi ông chúa cai quản tất cả công việc chiến tranh hòa bình” Tình trạng
Trang 15gian dối trong thi cử là một hiện tượng khá nổi bật Theo Lê Quý Đôn, vào đầu thời Lê – Trịnh “phép thi hương sơ lược, mang sách hoặc bài vở vào trường cũng không ngăn cấm” (Kiến văn tiểu lục) Từ năm 1660, lại còn nảy sinh nhiều tệ nạn khác như mua bài làm sẵn mang vào trường thi, chép lại bài
cũ, đút lót quan trường…kẻ bất tài mà đỗ đạt ngày một nhiều
Ngoài các khoa thi, họ Trịnh còn đặt phép tiến cử Những lúc thiếu tiền, thóc, chúa Trịnh ra lệnh bán quan tước cho nhà giàu Năm 1658, Trịnh Tạc quy định: ai nộp thóc thì tùy theo nhiều ít mà bổ quan chức theo thức bậc khác nhau Cho đến giữa thế kỉ XVIII, tình trạng mua quan bán tước trở nên phổ biến
Với cách lựa chọn quan lại như trên, số quan tăng lên gấp bội Những nhà chép sử đương thời thấy rằng số quan có thực quyền không quá 500, còn thì chỉ là hư vị, làm quan cầu may và chỉ lo bóc lột, nhũng nhiễu nhân dân Có năm chúa Trịnh bổ nhiệm một lúc 1238 viên quan trong kinh và ngoài các trấn Sử cũ chép: “bấy giờ chức quan nhũng lạm, phức tạp, một lúc cất nhắc
bổ dụng đến hơn 1000 người, làm quan cầu may, viên chức thừa thãi không còn phân biệt gì cả”
Số lượng quan lại nhiều mà đặc quyền của họ cũng rất lớn… Các quan cao cấp được cấp ruộng lộc, ruộng dưỡng liêm…, ngoài ra được cấp bổng lộc bằng tiền tùy theo cấp bậc hoặc kết quả thi cử
Một vấn đề đặt ra cho họ Trịnh là phải luôn luôn có một lực lượng quân
sự mạnh, đủ sức chấn áp mọi sự phản kháng Chế độ “ngụ binh ư nông” không còn tác dụng nữa vì tình hình ruộng đất, nhất là tịnh trạng ruộng đất công ở làng xã bị địa chủ cướp đoạt nghiêm trọng, không cho phép nhà nước tiếp tục thi hành chế độ đó
Ban đầu, họ Trịnh vẫn giữ năm phủ như thời Lê, sau lại đặt năm quân doanh, chia làm cơ, đội Quân lính chủ yếu tuyển ở vùng Thanh, Nghệ Trong
Trang 16cuộc duyệt binh năm 1595, lực lượng quân đội họ Trịnh có 12 vạn người Từ năm 1600 trở đi, họ Trịnh quy định: lính túc vệ ở kinh thành chỉ lấy người ở
ba phủ Thanh Hóa và 12 huyện thuộc Nghệ An Đây là bộ phận quân chủ lực, rất được chúa Trịnh ưu đãi, cấp cho nhiều ruộng tiền, nhân dân gọi là lính
“tam phủ” hay “ưu binh”
Tình trạng “vua Lê – chúa Trịnh” còn đè nặng lên đầu nhân dân bằng một bộ máy quan lại cồng kềnh Ở trung ương cơ quan hành chính cao nhất là ngũ phủ và phủ liêu gọi tắt là phủ đường Ban đầu, phủ đường được tổ chức thành 3 phiên, trông coi mọi việc quân sự, thu thuế trong kinh và ở các trấn; sau đổi thành 6 phiên, nắm quyền chi phối mọi mặt hoạt động của nhà nước quân chủ
Trong lúc đó phía triều đình vua Lê (tuy chỉ là bù nhìn) vẫn giữ nguyên
hệ thống quan lại cũ, với các chức tam thái, tam thiếu, và các thượng thư của sáu bộ
Nhằm nắm chắc quân đội, chúa Trịnh phong cho các con làm Tiết chế hay Nguyên soái, thống lĩnh toàn quân Rõ ràng là ở trung ương, mọi quyền hành thực sự đều nằm trong tay phủ chúa
Kế tục của nhà Lê sơ, cách lựa chọn quan lại của thời Lê – Trịnh vẫn chủ yếu thông qua khoa cử Những người đỗ đạt được bổ xung cất nhắc tùy khả năng và thái độ với phủ chúa Các khoa thi liên tiếp được tổ chức, ngay cả những năm tình hình xã hội không ổn định Tuy nhiên những người được phép thi hương phải được xét lí lịch từ cấp xã, huyện, châu Số người được dự thi cũng hạn chế tùy theo xã lớn hay nhỏ Số người được đỗ tiến sĩ cũng được quy định theo từng năm, nói chung mỗi kì thi chỉ lấy được dăm bảy tiến sĩ
Để đào tạo tướng giỏi, chúa Trịnh cho lập trường Giảng võ dạy binh pháp và mở các khoa thi võ, ai trúng tuyển thì được gọi là Tạo sĩ (ngang với Tiến sĩ) Với chính sách tuyển lựa quan lại như trên, các chúa Trịnh đánh
Trang 17nhau dai dẳng với quân của chúa Nguyễn ở Đàng trong và đàn áp các phong trào nông dân nửa đầu thế kỉ XVIII
Cùng với những biến đổi về tình hình chính trị của xã hội ở Đàng Ngoài, những thay đổi của tình hình thế giới, đặc biệt là của các nước tư bản sau các cuộc phát kiến địa lí diễn ra vào thế kỉ XV đã có những tác động mạnh mẽ đến xã hội phong kiến của Đàng Ngoài thời kì này
Trong các thế kỉ XVI – XVII, Tống Nho tiếp tục được nhà nước quân chủ bảo vệ, coi đó là nền tảng bảo vệ ý thức hệ của mọi tổ chức chính trị, kinh
tế, là kỉ cương của đời sống xã hội Tuy nhiên cùng với bước suy thoái của nhà nước quân chủ tập quyền từ đầu thế kỉ XVI, Nho giáo cũng mất dần tính lợi hại của một công cụ thống trị tinh thần
Trong bối cảnh đó, Phật giáo và Đạo giáo có xu hướng phát triển trở lại, thể hiên khá rõ nét trong ý thức tư tưởng và sinh hoạt tinh thần của vua chúa, quý tộc nói chung Sự phục hồi của Phật giáo, Đạo giáo song song với
sự suy đốn của Nho giáo là một mặt biểu hiện sự thoái hóa của toàn bộ cấu trúc quân chủ trung ương tập quyền Thực tế này càng rõ nét từ thế kỉ XVIII, khi phong trào nông dân bùng lên mạnh mẽ, đả kích trực tiếp vào Nhà nước quân chủ chuyên chế trên mọi lĩnh vực
Các thế kỉ XVI, XVII, vua chúa, quý tộc đua nhau tôn thờ đạo Phật, xây dựng chùa chiền, cúng ruộng vào chùa…việc trùng tu chùa cũ, xây cất chùa mới được tiến hành liên miên năm này qua năm khác
Trang 18Trong khoảng thế kỉ XVI, XVII, Đạo giáo cũng phát triển và được vua chúa sùng mộ Việc tu tiên luyện đan… rất thịnh hành trong thời kì này Sử
cũ chép những nhà tu tiên nổi tiếng như Phạm Viên ở Nghệ An “có phép thần thông biến hóa”, hoặc Nguyễn Hoãn (quê gốc ở Thanh Hóa), xuất thân tiến sĩ
và làm thượng thư bộ Lại, nổi tiếng về phép luyện đan…
Sự sùng mộ Phật giáo của vua chúa, quý tộc với không khí xây chùa thờ Phật phản ánh sự thoái hóa về tinh thần của tầng lớp thống trị vốn dựa trên nền tảng ý thức hệ Tống Nho Họ muốn tìm lối thoát tinh thần trong việc tụng kinh niệm Phật, mong tìm một chỗ dựa mới cho nhà nước quân chủ Mặt khác, trên đà suy thoái, vua chúa,quý tộc lợi dụng chùa chiền và những nơi danh thắng để thỏa mãn cuộc sống xa hoa và làm suy giảm ý chí đấu tranh chống áp bức cường quyền – một liều thuốc của bọn vua chúa cho nhân dân
Những cuộc phát kiến địa lí đã mở ra nhiều con đường buôn bán trao đổi giữa các châu lục, lúc này những con thuyền lớn của phương Tây đã cập bến đến những vùng đất mới, sự giàu có về tài nguyên là một trong những sức hút mãnh liệt của một số nước Châu Á đối với các nước phương Tây Song song với những mục đích kinh tế là những luồng tư tưởng văn hóa mới, tiêu biểu là Đạo Thiên Chúa đã theo nững con thuyền tới những miền đất mà họ cập bến trong đó có nước ta
Từ thế kỉ XVI, các giáo sĩ đã theo các thuyền buôn bắt đầu đến nước ta truyền đạo Đời sống cơ cực của các tầng lớp nhân dân dưới sự thống trị của các chính quyền quân chủ thời Mạc, Lê - Trịnh, Nguyễn cùng với những cuộc chiến tranh kéo dài hàng thế kỉ, đó là một môi trường thuận lợi cho đạo Thiên Chúa xâm nhập, nó như một liều thuốc tinh thần mới cho nhân dân, đồng thời
là một lớp vỏ ngụy trang cho những âm mưu thâm độc của các nước tư bản đối với nước ta
Trang 19Theo chân các thương nhân, các giáo sĩ Dòng Tên Bồ Đào Nha đã xây dựng những cơ sở truyền giáo ở Ma Cao, từ đó truyền bá đạo Thiên Chúa sang các nước Châu Á và tạo cơ sở đầu tiên ở Việt Nam Tuy nhiên, ở thế kỉ XVI, việc truyền đạo Thiên Chúa ở nước ta chỉ mới đạt những kết quả bước đầu Sang thế kỉ XVII, việc truyền giáo được xúc tiến mạnh hơn Năm 1615, các giáo sĩ Dòng Tên đã lập đoàn truyền giáo ở Đàng Trong Đến năm 1639,
ở Đàng Trong có 15.000 người theo đạo Thiên Chúa
Năm 1627, một giáo sĩ người Pháp là Alexandre de Rhodes thành lập một đoàn truyền giáo ở Đàng Ngoài Đến năm 1639, số giáo dân ở Đàng Ngoài đã có khoảng 250.000 người Như vậy, từ giữa thế kỉ XVII, sau khi hội truyền giáo nước ngoài của Pháp thành lập (1668), các giáo sĩ Pháp đã lấn át dần thế lực của giáo sĩ người Bồ Đào Nha
Nhằm độc chiếm thị trường nước ta cho tư bản Pháp, năm 1649 Alexandre de Rhodes về La Mã vận động thành lập một đoàn truyền giáo tách khỏi sự bảo trợ của Bồ Đào Nha Sau đó, Alexandre de Rhodes trở về Pari cho xuất bản nhiều kí sự, bản đồ giới thiệu nước ta và tuyên truyền phương án của mình Chủ trương đó được giới tư bản Pháp ủng hộ, và năm 1668, hội truyền giáo nước ngoài của Pháp đã được thành lập, giữ quyền truyền đạo sang vùng Đông Nam Á, nam Trung Quốc, một phần Nhật Bản và Triều Tiên
Thiên Chúa giáo không phù hợp với ý thức hệ Tống Nho, vì vậy các Nhà nước quân chủ Đàng Trong, Đàng Ngoài đã nhiều lần ra lệnh cấm đạo, trục xuất giáo sĩ
Trên bước đương trưởng thành của dân tộc, Tiếng Việt cũng ngày càng phong phú và trong sáng Trên cơ sở đó, từ thế kỉ XVII, các giáo sĩ phương Tây vào nước ta truyền đạo đã dùng chữ cái Latinh ghi âm tiếng Việt để tiện việc biên soạn và ra giảng giáo lí Thiên Chúa Alexandre de Rhodes là giáo sĩ đầu tiên có nhiều đóng góp cho việc này Tiếng Việt latinh hóa đã ngày càng
Trang 20hoàn thiện dần, và chữ “quốc ngữ” xuất hiện từ đó Đương nhiên chữ quốc ngữ còn phải trải qua nhiều thử thách và thể nghiệm mới trưởng thành chữ viết chính thức của dân tộc, góp phần đắc lực truyền bá khoa học và phát triển văn hóa trong những thế kỉ sau, vượt quá ý định ban đầu của những người Latinh Hóa Tiếng Việt ở thế kỉ XVII
Sự suy thoái của nhà nước kéo theo sự suy thoái của các trật tự, thiết chế xã hội, và giáo dục, thi cử cũng không nằm ngoài quy luật đó
Triều đình Lê – Trịnh nói chung vẫn tiếp tục các quy chế giáo dục, thi
cử của thời Hồng Đức, có bổ xung chút ít Tuy nhiên, chất lượng học hành thi
cử ngày càng giảm sút Những nguyên tắc đạo đức và lễ giáo Tống Nho không còn tác dụng thuyết phục, trở thành hình thức suông Nội dung thi cử học tập nông cạn, khuôn sáo, mất hẳn tính sáng tạo Nhiều hiện tượng tiêu cực nghiêm trọng xảy ra công khai và ngày càng phổ biến trong học hành thi cử Trường thi trở thành nơi mua bán danh vị, việc thi cử trở thành mục đích thực dụng của mọi người…
Thuyết “chính danh định phận”, một nội dung quan trọng của ý thức hệ Nho giáo nhằm bảo vệ tôn ti trật tự của nhà nước cũng mất dần ý nghĩa Sức mạnh của đồng tiền đã làm rạn nứt thảm hại thành trì lễ giáo Tống Nho Có thể nói, triết lý “danh phận” nhường chỗ cho quan niệm “còn bạc còn tiền còn
đệ tử, hết cơm hết rượu hết ông tôi”
Sự suy thoái của cơ chế nhà nước quân chủ tập quyền kéo theo sự phân hóa về mặt ý thức hệ trong giai cấp thống trị cũng ngày một rõ rệt Trong giới
sĩ phu những người bất mãn với chính quyền, có điều kiện gần gũi với nhân dân, sự đồng cảm với quần chúng lao động khổ cực Tất cả được phản ánh trong các tác phẩm văn học của họ Thời kì này, văn học chữ Hán vẫn chiếm
ưu thế, bên cạnh đó văn học chữ Nôm đã phát triển mạnh hơn trước và chiếm
vị trí trọng yếu Tiêu biểu có các nhà thơ nổi tiếng đương thời như: Nguyễn
Trang 21Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ Nội dung của các tác phẩm, khuynh hướng ca tụng cảnh thái bình thịnh trị của văn học thế kỉ XV đã không còn nữa mà thay vào
đó là những tâm sự bi quan, bất lực, những trăn trở, nhức nhối của kẻ sĩ trước thế sự đảo điên Mặt khác, tư tưởng nhân đạo, khuynh hướng chữ tình trong văn học bắt đầu phát triển Đây cũng là một điểm mới trong văn học thời kì này
1.2 Tình hình kinh tế
Nông nghiệp:
Tình hình chính trị không ổn định đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển kinh tế của Đàng Ngoài mà trước tiên chúng ta có nhận thấy được sự ảnh hưởng tiêu cực đó trong nông nghiệp
Chiến tranh kéo dài đã tàn phá nghiêm trọng nền nông nghiệp của nhân dân, thêm vào đó nạn chiếm đoạt ruộng đất của nông dân ngày càng diễn ra trầm trọng Nhà Lê – Trịnh đặt phép “Bình lệ” lập thuế một lần rồi cứ thế mà thu, “sinh thêm không tính, chết đi không trừ” Bọn cường hào địa chủ nhân
đó tiếp tục hạch sách dân thường vốn đã nghèo khổ Trước tình hình như vậy, chúa Trịnh một lần nữa phải ban hành lại phép quân điền, theo đó làng xã phải thu hồi lại hết ruộng công Những người đã có ruộng lộc, ruộng tư đủ mức đều không được cấp ruộng công, việc phân cấp ruộng đất phải thực hiện theo quy chế chung Tuy nhiên, chính sách này của chúa Trịnh ban ra không còn mấy tác dụng nữa bởi lễ theo nhà sử học Phan Huy Chú nhận xét: “nước
ta duy có trấn Sơn Nam có rất nhiều ruộng công và đất bãi còn các nơi khác các hạng ruộng công không còn mấy” Việc chiếm đoạt ruộng đất công đã làm cho diện tích ruông tư ngày càng được mở rộng Trong xã hội hình thành nhiều loại địa chủ khác nhau: cung nhân, hoạn quan, quan lại, công thần, hào phú, với số ruộng đất trong tay rất lớn Thời kì này, chiến tranh loạn lạc đã ảnh hưởng tới đời sống tâm linh của người dân, hình thành nên một loại ruộng
Trang 22mới là “ruộng hậu” Để giữ vững số thu nhập hàng năm, khi số ruộng tư ngày càng nhiều lên, chúa Trịnh đã quyết định đánh thuế ruộng tư, ruộng làng xã
Nhà nước không còn quan tâm tới công tác đê điều thủy lợi cho người dân như trước, quan lại bớt xén tiền đắp đê, phòng lũ càng làm cho tình trạng mất mùa của nhân dân diễn ra trầm trọng hơn
Có thể nói, nông nghiệp – ngành kinh tế chính quyết định đến đời sống
ấm lo cho nhân dân đã không được nhà nước quan tâm như trước, thay vào đó
là hàng loạt những chính sách phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân Tất cả đã làm cho đời sống nhân dân ngày thêm đói khổ, báo hiệu cho một thời kì mất ổn định mới của đất nước
Thủ công nghiệp:
Sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, với những đòi hỏi về thị trường nguyên liệu rộng lớn là những nguyên nhân làm xuất hiện các cuộc phát kiến địa lí của thế giới vào đầu thế kỷ XV Các cuộc phát kiến này đã đem đến sự giao lưu văn hóa Tây – Đông Trong lúc đó thương nhân Trung Quốc, Nhật Bản cũng gia tăng hoạt động tại khu vực Đại Việt dần trở thành một địa điểm thương mại quan trọng của các thương nhân Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc Con đường buôn bán với nước ngoài ngày càng phát triển đó là điều kiện thuận lợi thúc đẩy thủ công nghiệp nước ta thời kì này
Có thể nói, thủ công nghiệp của Đàng Ngoài thời kì này rất phát triển, nhà nước cho lập nhiều xưởng lớn chuyên đúc súng, đóng thuyền các loại, làm đồ trang sức, giày dép, mũ áo cho vua chúa, quan lại
Thủ công nghiệp trong nhân dân cũng phát triển mạnh mẽ Khắp các làng xã, đâu đâu cũng hình thành những nghề thủ công, những thợ thủ công chuyên các nghề rèn, mộc, dệt vải, lụa, kéo tơ, làm gốm, làm giấy…
Làm gốm: vốn là một nghề truyền thống đã được hình thành và tồn tại hàng nghìn năm Nghề làm gốm phát triển ở nhiều nơi trên đất nước ta hình
Trang 23thành nên các làng gốm danh tiếng như Bát Tràng, Thổ Hà…Các loại bát đĩa
sứ, gốm tráng men của người Việt đã trở thành một loại hàng hóa được thương nhân nước ngoài ưa chuộng
Đặc biệt các sản phẩm tơ lụa nước ta thời kì này được các thương nhân nước ngoài ưa chuộng và mua với số lượng lớn Nổi tiếng lụa ở Đàng Ngoài
là làng La Khê Như Lê Quý Đôn nhận xét: “Huyện Từ Liêm và Đan Phượng…có nhiều bãi trồng dâu, nhân dân chăm về việc chăm tằm, dệt cửi Các xã Hạ Hội, Thiên Mỗ, Ỷ La, Trung Thụy và Đại Phùng có tài dệt lụa trìu, lĩnh, là Thăng Long và Phú Xuân là hai trung tâm dệt truyền thống với các phường Yên Thái, Bưởi, Trích Sài, Trúc Bạch, Nghi Tàm…”
Ngoài ra các nghề làm đường, nghề rèn sắt, nghề làm giấy, đúc đồng, khảm trai, mạ vàng… cũng rất phát triển Bên cạnh đó một số nghề thủ công mới như làm tranh dân gian, làm đồng hồ cũng xuất hiện
Nhìn chung, nghề thủ công nghiệp của nhân dân ở Đàng Ngoài thời kì này vừa được mở rộng, vừa được phát triển, đáp ứng mức độ nhất định nhu cầu của nhân dân trong nước và nhu cầu của thương nhân nước ngoài, đi sâu hơn vào nền kinh tế thị trường có tính quốc tế
Buôn bán trong nước:
Các chợ mọc lên ở khắp nơi, hầu như mỗi làng đều có chợ hoặc các cụm làng chia phiên trong tuần để họp chợ Một huyện có từ mười bốn đến
Trang 24hai hai chợ làng, chợ chùa, chợ huyện Một hiện tượng đáng lưu ý của sự phát triển nội thương đương thời là sự hình thành của các “làng buôn” như Đa Ngưu (Hưng Yên), Báo Đáp (Nam Định), Phù Lưu (Bắc Ninh), Đan Loan (Hải Dương)… Đây vốn là những làng nông nghiệp, nhờ vị trí địa lí thuận lợi
mà một số cư dân chuyển sang buôn bán tuy vẫn giữ cái gốc nhà nông
Buôn bán với thương nhân nước ngoài:
Ở thế kỉ XVII, việc buôn bán với thương nhân nước ngoài rất phát triển
Đầu tiên có thể kể đến đó là việc buôn bán với thương nhân Trung Quốc: Người Trung Quốc đến nước ta buôn bán từ rất lâu Hàng năm, thuyền buôn của họ từ Quảng Châu dong buồm xuống các cảng Vân Đồn, Vạn Ninh (Quảng Ninh) rồi vào phố Hiến (Hưng Yên), Vị Hoàng (Nam Định) Việc buôn bán của họ ngày càng phát triển
Hàng hóa do thương nhân Trung Quốc chở đến là: gấm, vóc, đoạn, giấy bút, các loại đồ đồng, đồ sức, bạc nén, chì, kẽm trắng, diêm sinh, khí giới Khi
ra đi họ mang theo hồ tiêu, đường, gỗ, quế, các loại hương liệu, yến sào, sừng
tê, ngà voi, tơ…
Vào cuối thế kỉ XVIII, khi các thương nhân ngoại quốc khác rút đi, các thương nhân Trung Quốc hầu như làm chủ Đại Việt
Với thương nhân Nhật Bản:
Từ thế kỷ XVI, người Nhật đã dong thuyền buôn bán với Đàng Trong rồi chuyển dần ra Đàng Ngoài Ban đầu người Nhật đáp thuyền đến buôn bán
và lập phố ở xã Phục Lễ (Nghệ An), rồi xin ra buôn bán ở Phố Hiến
Hàng hóa người Nhật thường mua là tơ lụa, đồ gốm, đường, quế, hương liệu các thứ họ đem sang là vũ khí, áo giáp, bạc Chúa Trịnh cũng có lúc trao đổi thư từ với chính quyền Nhật – thông qua các lái buôn, đặt quan hệ buôn bán
Trang 25Từ giữa thế kỉ XVII, do lệnh cấm của chính phủ Nhật, việc buôn bán với Đàng Ngoài thưa dần, mặc dầu hàng tơ lụa Việt vẫn được người Nhật ưa chuộng và mua lại của thương nhân Hà Lan
Buôn bán với thương nhân Bồ Đào Nha:
Thương nhân Bồ Đào Nha đến buôn bán với nước ta từ rất sớm, tuy nhiên chỉ tập trung ở Đàng Trong Đến giữa thế kỷ XVII, họ mới đến Đàng Ngoài xin buôn bán, sang đến thế kỷ XVIII, việc giao thương thưa dần do vấp phải sự cạnh tranh của thương nhân Hà Lan
Buôn bán với thương nhân Hà Lan:
Từ giữa thế kỷ XVII, việc buôn bán của thương nhân Hà Lan được thực hiện ở Đàng Ngoài Chúa Trịnh cho phép thương nhân Hà Lan đặt thương điếm ở Phố Hiến, từ đó họ mở rộng việc buôn bán Họ trở đến vũ khí, bạc, diêm sinh, lưu hoàng, diêm tiêu, hổ phách, vải lanh, len dạ… và chở đi các loại hàng tơ lụa, đồ sành sứ…
Với thương nhân người Anh:
Năm 1600, công ti Đông Ấn Anh thành lập, mở đầu việc buôn bán với các nước phương Đông Các năm 1613, 1616, phái đoàn đã đến Đàng Trong
và Đàng Ngoài dâng tặng phẩm, xin buôn bán, đến năm 1672, họ được phép lập thương điếm ở Phố Hiến Năm 1683, họ được chúa Trịnh cho phép lập thương điếm ở Kẻ Chợ (Thăng Long), đem các hàng như len dạ, đồ xa xỉ, súng đến bán và mua tơ lụa mang đi
Buôn bán với người Pháp:
Thương nhân Pháp đến buôn bán với nước ta khá muộn, đến năm 1681 mới được chúa Trịnh cho phép thành lập thương điếm và buôn bán ở Phố Hiến Họ bán hàng và mua tơ lụa, xạ hương trở về
Có thể nói, thế kỷ XVII, việc buôn bán với thương nhân nước ngoài đã phát triển và mở rộng hơn hẳn những thế kỉ trước, đánh dấu thời kỳ Đại Việt
Trang 26đi vào hướng buôn bán giao lưu quốc tế Sự khởi sắc của nền kinh tế hàng hóa làm cho nền kinh tế nước ta bớt đi tính chất tự túc tự cấp của một nền nông nghiệp thuần túy
Sự phát triển của kinh tế hàng hóa trong bối cảnh xã hội nước ta các thế
kỉ XVI – XVIII đã làm ảnh hưởng tới toàn bộ xã hội
Công thương nghiệp phát triển đã làm hình thành một số tụ điểm buôn bán có tính chất địa phương như Đồng Đăng, Kỳ Lừa (Lạng Sơn), Vân Đồn, Vạn Ninh, Đông Triều (Quảng Ninh), Vị Hoàng (Nam Định)… và đặc biệt làm cho các đô thị nước ta ở Đàng Ngoài thời kỳ này cực kì phát triển, trong
đó có thể kể đến Phố Hiến (Hưng Yên) và kinh đô Thăng Long
Thăng Long là kinh đô của Đàng Ngoài, là cố đô của nhiều triều đại phong kiến nước ta Từ thời Lê sơ đã có 36 phố phường sầm uất, đến thế kỉ XVII thăng Long càng phát triển mạnh, nhiều giáo sĩ, thương nhân Pháp, Hà Lan đã từng nhận xét: “Thành phố Kẻ Chợ có thể so sánh với nhiều thành phố
ở châu Á nhưng lại đông dân nhất vào những ngày mồng một và rằm âm lịch,
là những ngày phiên chợ… các con đường rộng bấy giờ trở thành trở thành chật chột đến nỗi chen chân qua đám đông người độ 100 bước trong khoảng nửa tiếng đồng hồ là một điều sung sướng Tất cả hàng hóa trong thành phố, mỗi thứ bán ở một phố riêng và các chợ đó còn chia ra làm một hai hoặc nhiều khi là nơi mà những người trong khu mới được mở cửa hàng”
Vào cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII, Phố Hiến đã nổi tiếng ở Đàng Ngoài, được nhân dân gọi là tiểu Tràng An và có câu:
“Thứ nhất Kinh kì, thứ nhì Phố Hiến”
Ở đây có hai mươi phường trong đó có tám phường làm nghề thủ công, triều đình Lê – Trịnh đã biến Phố Hiến thành trạm trung chuyển của thuyền buôn nước ngoài, vừa là nơi thu thuế kiểm tra hàng hóa của nhà nước Tuy
Trang 27nhiên, đến giữa thế kỷ XVIII, do sự đổi dòng của sông Hồng là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho Phố Hiến tàn lụi
Có thể nói, sự phát triển của kinh tế hàng hóa, sự len lỏi của đồng tiền vào trong đời sống của người dân, một mặt đã giúp đời sống của người dân được cải thiện, sự mở rộng tầm mắt cho giai cấp thống trị, đặc biệt nó còn góp phần mở các làng xã lâu nay quen đóng kín Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực
đó, sự phát triển của tiền tệ đã làm phá vỡ những nền tảng đạo đức tốt đẹp của nhân dân ta Đồng tiền đã chi phối mạnh mẽ đến đời sống của người dân đặc biệt là tầng lớp quan lại, bọn chúng thi nhau đục khoét nhân dân, bất chấp mọi thủ đoạn để kiếm tiền Tất cả đã làm đảo lộn xã hội, hệ tư tưởng Nho giáo đã suy thoái một cách trầm trọng Người dân ngày càng rơi vào tình trạng cùng khổ Mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên sâu sắc và bùng lên các hình thức đấu tranh trong nhân dân ở những thế kỉ sau
Bên cạnh đó, sự hình thành và hoạt động nhộn nhịp của các đô thị đã phần nào tác động đến tính chất của nền sản xuất cổ truyền nông nghiệp, tự túc, tự cấp đưa đến sự xuất hiện của một số mầm mống quan hệ sản xuất mới đặc biệt là trong công nghiệp khai mỏ và các làng thủ công nghiệp
Tiểu kết chương I
Như vậy, từ đầu thế kỷ XVI, tình hình nước ta đã có nhiều thay đổi, từ chính trị, xã hội đến kinh tế Sự khủng hoảng của tình hình chính trị đã kéo theo hàng loạt những mâu thuẫn xã hội chồng chéo lên nhau, mâu thuẫn này chưa được giải quyết thì những mâu thuẫn, khó khăn khác lại tiếp tục diễn ra Trong tình hình đó, sự du nhập của các luồng văn hóa mới sau các cuộc phát kiến địa lý đã làm thay đổi khá nhiều tình hình xã hội, nhận thức của người dân Sự phát triển mạnh mẽ của công thương nghiệp, hoạt động trao đổi buôn bán với thương nhân nước ngoài đã làm thay đổi khá nhiều bộ mặt của Đại
Trang 28Việt thời kỳ này, mở ra con đường buôn bán, giao lưu quốc tế, phá bỏ nền kinh tế bó hẹp, mang nặng tính chất tự cấp tự túc trước đây của người dân
Có thể nói, thế kỷ XVII là một thế kỷ với nhiều biến chuyển sâu sắc của xã hội Đại Việt Nó đặc biệt không chỉ ở cục diện chính trị hai miền, mà còn là thế kỷ nước ta bắt đầu có những tiếp nhận với những luồng văn hóa, tư tưởng mới từ phương Tây Sự tiếp nhận này không chỉ diễn ra một phía mà ngay cả những thương nhân, những người truyền giáo cũng tiếp nhận văn hóa nước ta theo nhiều cách khác nhau tùy vào sự nhận thức, hiểu biết của mỗi người Theo chân những con thuyền, tới nước ta – một miền đất mới, bên cạnh những mục đích về kinh tế, những nhà thương nhân cũng là những người đi khám phá những điều kỳ thú mà trước nay họ chưa từng biết đến Tất cả đã được họ ghi chép, tổng hợp lại thành các hồi ký, nhật ký Và giờ đây, những cuốn hồi ký, nhật ký này trở thành nguồn tài liệu lịch sử vô cùng quan trọng, chứa đựng nhiều giá trị lịch sử mà không phải công trình nghiên cứu nào cũng có thể mang lại Một lần nữa chúng ta hãy cùng tìm hiểu xem những cuốn du ký này đã ghi chép, đã tổng hợp được những gì về tình hình nước ta vào thế kỷ XVII Chúng ta cùng tìm hiểu chương II
Trang 29Chương 2 VĂN HÓA VIỆT NAM Ở ĐÀNG NGOÀI THỂ KỶ XVII
QUA KHẢO CỨU TƯ LIỆU PHƯƠNG TÂY
Dưới góc nhìn của các thương nhân, những nhà truyền giáo, Đàng Ngoài hiện lên với nhiều điều kì lạ và thú vị Tất cả mọi thứ nơi đây đều hấp dẫn những con người ưa mạo hiểm Tuy họ nhìn Đàng Ngoài với con mắt cá nhân, chủ quan của mình nhưng đó cũng là cách để chúng ta thấy được hình ảnh của một phần đất nước chúng ta thời kì này như thế nào qua cách nhìn của thế giới
Có thể nói, mỗi nơi họ đặt chân tới, mỗi điều họ được tiếp xúc, tất cả đã được phản ánh rất sinh đông, hấp dẫn Những điều đó đã được những thương nhân, giáo sĩ ghi chép và tổng hợp lại trong các cuốn hồi ký, tác phẩm của mình Đó thực sự là những nguồn tài liệu vô cùng quý giá đối với lịch sử nước ta
Trước tiên chúng ta hãy cùng tìm hiểu, vị trí, quy mô, diện tích Đàng Ngoài qua khảo cứu tư liệu phương Tây
2.1 Vị trí, quy mô, diện tích Đàng Ngoài thế kỷ XVII qua khảo cứu tư liệu phương Tây
Vào thế kỷ XVII, có rất nhiều các nhà du hành phương Tây tìm đến Đàng Ngoài - Đại Việt để nghiên cứu và viết những chuyên khảo về vùng đất này và Jean Baptiste Tavernier cũng cũng là một trong số đó Nhưng ông lại đặc biệt hơn các tác giả khác ở một điểm: ông chưa một lần đến Đại Việt, chưa một lần đến Đàng Ngoài Những điều được ghi chép lại trong tác phẩm
“Tập du kí mới và kỳ thú về vương quốc Đàng Ngoài” chủ yếu dựa vào nội dung bản thảo những ghi chép của em trai mình là Daniel Tavernier Tác
Trang 30phẩm đã cho ta nhìn toàn cảnh về địa lí, văn hóa, phong tục, tập quán ở Đàng Ngoài
Trong chương II của cuốn hồi ký, ông đã có những ghi chép, nhận xét
về vị trí quy mô, diện tích Đàng Ngoài như sau:
Ông viết: “chẳng nên lấy làm lạ rằng những bậc tiền bối của chúng ta lại biết rất ít về vương quốc này, nếu người ta chú ý tới điểm là xưa kia xứ này là một bộ phận đáng kể phụ thuộc vào Trung Quốc Những dân tộc này cũng như dân tộc Trung Hoa bao giờ cũng chỉ ở trong biên giới của mình, chẳng hề màng tưởng đến buôn bán với các dân tộc khác mà họ khinh bỉ và coi là những kẻ dã man đến từ một thế giới khác Nhưng ngày nay, họ thấy nhiều người ngoại quốc đến tìm họ ngay ở xứ sở của mình thì họ bắt đầu hiểu rằng những dân tộc khác cũng văn nhã như họ; và họ nảy ra ý muốn đi buôn bán với các xứ khác, như tôi đã thấy họ ở Batavia và Bantam giao lưu với mọi người một cách rất lương thiện
Người ta cứ tưởng rằng khí hậu vương quốc này rất nóng, thật ra khí hậu rất ôn hòa vì có nhiều dòng sông chảy khắp xứ, bao giờ cũng tương đối mát mẻ, và vì có mưa trong mùa mưa, điều thường xảy ra trong tất cả các miền nhiệt đới như tôi đã nhận xét trong cuộc viễn du ở các xứ Ấn Độ Vì vậy, cho nên thật không khó khăn gì mà tin rằng đó là xứ phì nhiêu, có khí hậu tốt và do đó là một trong những xứ đông dân nhất
Phía đông vương quốc này giáp với tỉnh Quảng Đông, là một trong những tỉnh tốt nhất của Trung Quốc
Phía Tây, xứ này giáp với vương quốc Brama (Miến Điện)
Phía Bắc tiếp giáp với hai tỉnh khác của Trung Quốc là Vân Nam và Quảng Tây
Phía Nam là Đàng Trong và vịnh lớn cùng tên.” [11, tr25-26]
Trang 31Tavernier cũng phân tích rõ hơn về tình hình khí hậu của Đàng Ngoài:
“Không khí rất êm dịu và ôn hòa, hình như suốt năm chỉ là một mùa xuân bất tận Chẳng có tuyết, chẳng có băng, cây cối không bao giờ trụi lá, bệnh dịch hạch, bệnh thống phong, bệnh sỏi gan và những bệnh khác rất phổ biến ở châu Âu thì hầu như ở Đàng Ngoài không có
Ở Đàng Ngoài suốt năm chỉ có hai loại gió kế tiếp nhau, gió Bấc và gió Nồm, mỗi đợt gió thổi trong 6 tháng Gió Bấc làm đất đai mát mẻ, đến nỗi không có gì thú vị hơn là lưu trú ở Đàng Ngoài trong lúc này Gió Nồm bắt đầu thổi từ cuối tháng Giêng đến hết tháng bảy dương lịch, hai tháng sau cùng
là mùa mưa Chỉ có điều tai hại là ở xứ này cũng như những nơi khác ở các
xứ Ấn Độ, cứ thường bảy 7 năm lại xảy ra một mùa gió bão thổi rất dữ dội làm đổ nhà, cây cối và thiệt hại rất ghê ghớm Thường thì bão chỉ thổi trong
24 giờ mà thôi Những cơn bão không gây tai hại gì lắm ở vùng biển Nhật Bản, Trung Quốc, Đàng Trong, Đàng Ngoài và Manila nhưng ít khi nổi lên và diễn ra dữ dội ở những vùng biển khác
Những nhà chiêm tinh học ở vùng này tin rằng, thứ gió mạnh mẽ ghê ghớm đó là do hơi bốc lên từ những mỏ quặng của Nhật Bản Vì thứ gió đó đột nhiên trở nên hung dữ cho nên mỗi khi một con tàu đang đi ngoài biển gặp nó thì thủy thủ chẳng có biện pháp gì hơn là cắt luôn cột buồm để tránh bị gió cuốn trôi
Trong cái xứ đẹp đẽ và rộng lớn ấy to gần bằng nước Pháp, có nhiều tỉnh mà chúng ta không biết mấy về địa danh, vì những người Đàng Ngoài không phải là những nhà địa lý học và cũng chẳng mấy hiếu kỳ để ghi chép những Biên niên về quốc gia của họ Nhưng những người khôn khéo nhất trong đám người Đàng Ngoài mà tôi gặp ở Batavia quả quyết với tôi rằng cả thẩy có đến 20 nghìn thị trấn và làng mạc trong vương quốc Họ còn nói thêm rằng con số đó có thể còn nhiều hơn Người Đàng Trong là láng giềng của họ cũng vậy
Trang 32Người Đàng Ngoài ưa thích ở trên nước hơn là ở trên cạn Cho nên, phần nhiều sông ngòi đầy những thuyền bè được dùng thay cho nhà ở của họ
Thuyền rất sạch sẽ ngay cả khi họ nuôi gia súc ở trong đó.” [11, tr 25-27]
Như vậy, Tavernier bước đầu đã có những nhận xét, đánh giá về quy
mô, vị trí của Đàng Ngoài, song ông chưa đưa ra được con số cụ thể về diện tích Đàng Ngoài Không chỉ có những ghi chép về vị trí quy mô, diện tích mà những biểu biết của ông về tự nhiên, khí hậu nơi đây khá phong phú Tuy nhiên có ghi chép còn còn mang tính chất phóng đại quá mức, thiếu căn cứ khi ông cho rằng “người Đàng Ngoài ưa thích ở trên nước hơn là ở trên cạn Cho nên, phần nhiều sông ngòi đầy những thuyền bè được dùng thay cho nhà
ở của họ” Nhận xét này của ông cũng đã bị Samuel Baron phê phán trong tác phẩm của mình Có thể hiểu được sự phóng đại, thiếu căn cứ của Tavernier ở một số ghi chép là do sự hạn chế khi ông chưa một lần đến Đàng Ngoài, chưa một lần tận mắt chứng kiến đời sống sinh hoạt của người dân nơi đây Những
gì ông viết dựa trên nguồn tư liệu ghi chép lại của em trai mình là nhà du hành Daniel Tavernier Chính vì vậy, những hạn chế này là điều khó tránh khỏi
Tìm hiểu, ghi chép về Đàng Ngoài không chỉ có Tavernier mà còn có rất nhiều nhà thương nhân, truyền giáo khác trong đó có thể kể đến Samuel Baron Ông là một trường hợp đặc biệt khi mang trong mình dòng máu Âu –
Á Bố của ông là Henrick Baron một thời kỳ làm trưởng thương điếm Công ty Đông Ấn Hà Lan, còn mẹ ông là một người phụ nữ Đàng Ngoài Là người sống nhiều năm ở Đàng Ngoài, am hiểu nhiều điều về nơi đây, tất cả phần nào đảm bảo cho độ uy tín và tin cậy của cuốn sách “Miêu tả vương quốc Đàng Ngoài” được ông viết năm 1683 Tác phẩm đã được dịch từ nguyên bản tiếng anh và đăng trong bộ Tổng tập nghìn năm văn hiến Thăng Long, tập 4
Trang 33Cuốn sách là một chuyên khảo khá toàn diện, viết về nhiều mặt văn hóa, chính trị, đời sống của nhân dân Đàng Ngoài, với trữ lượng thông tin về Thăng Long – Kẻ Chợ rất lớn Điều đặc biệt trong tác phẩm của mình, có một phần ông phê phán cách nhận thức của Tavernier về một số điểm ông cho là không chính xác thông qua sự hiểu biết của mình
Khi viết về vị trí, quy mô, diện tích xứ Đàng Ngoài, ông đã đưa ra nhiều nhận xét, phê phán nhận thức của Tavernier, cho rằng nó thiếu chính xác, và không đúng đắn
Ông viết: “Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi những người tiền nhiệm của chúng ta đã không có hiểu biết gì về vương quốc này sớm hơn, như họ am tường về xứ Trung Hoa, bởi sự khám phá xứ Đàng Ngoài diễn ra muộn hơn nhiều so với việc thám hiểm nước Trung Hoa Người Bồ Đào Nha không những đã phát hiện ra xứ Đàng Ngoài sơm hơn mà còn phái cả tàu đến đó để kinh doanh
Hiển nhiên là xứ Đàng Ngoài trước đây từng là một tỉnh của Trung Quốc và người Đàng Ngoài đến nay vẫn còn triều cống hoàng đế Trung Hoa Nhưng đó không phải là lý do để chúng ta chậm có những hiểu biết về xứ Đàng Ngoài, nhất là khi mà vương quốc này đã hoàn toàn do các bậc quân vương người bản xứ cai trị liên tục từ hơn bốn trăm năm nay Có vẻ như lý do thực sự là ở chỗ người Đàng Ngoài trước đây chưa từng đi ra nước ngoài buôn bán Họ phần nào bị ảnh hưởng từ người tàu về tính cách kiêu hãnh, coi các dân tộc khác là man di Họ học người tàu cách tổ chức triều chính, học nghiệp, chữ viết…nhưng bản thân họ lại thù ghét người Tàu
Tôi không hiểu tại sao Tavernier cho rằng nhiều người tin rằng xứ Đàng Ngoài ở vào khu vực khí hậu rất nóng, khi vương quốc này nằm ở dưới đường chí tuyến và có một vùng quá lên phía bắc Mặc dù vậy, ông quả quyết thời tiết ở đây khá ôn hòa nhờ có nhiều sông lớn tưới tiêu cùng với lượng mưa
Trang 34theo mùa Sự thật là xứ này thường có mưa vào các tháng năm, sáu, bảy, tám giúp làm ẩm đất nhưng không vì thế mà làm gió dễ chịu hơn Trái lại, khí hậu
trong hai tháng bảy và tám nóng không chịu nổi.” [13, tr137-138]
“Xứ Đàng Ngoài tiếp giáp với Quảng Châu về phía đông bắc, tiếp giáp với vương quốc Lào và xứ Bowes về phía Tây, tiếp giáp với hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây của Trung Quốc về phía bắc, tiếp giáp với vương quốc Đàng Trong về phía nam và đông nam Khí hậu ôn hòa từ tháng chín đến tháng ba, đôi khi lạnh vào các tháng một và hai dù không bao giờ có tuyết và băng giá Các tháng bốn, năm, sáu thường không lành bởi mưa, mù trời và mặt trời chói lọi Các tháng sáu, bảy, tám là thời điểm cực nóng trong năm Gió ở đây thổi theo hai hướng bắc nam và nam bắc, mỗi hướng đều sáu tháng
Từ tháng năm đến tháng tám là mùa đẹp nhất ở Đàng Ngoài khi cây cối sum suê, ruộng đồng tươi tốt, phong cảnh trông thật đẹp mắt
Những trận gió lớn ở đây được đám thủy thủy gọi là bão, người vùng này gọi là Tanffoons, hoàng hành dữ dội nhất ở đây và không theo chu kỳ ổn định nào: có khi 5 hoặc 6 năm 1 lần, có khi 8 hoặc 9 năm Cho dù loại gió bão này không được gọi cùng tên Tanffoons ở các vùng biển khác ở phương Đông, nhưng với sức tàn phá dữ dội như thế có thể nói loại bão ở vùng vịnh Benganl và duyên hải Coromandel vốn được biết tới tên gọi Tượng Phong chẳng kém bão ở vùng Đàng Ngoài là mấy Hậu quả của loại bão này đối với đám thủy thủ thường rất thảm khốc Tôi không thể tìm một nhà thiên văn học nào ở Đàng Ngoài hỏi về xuất xứ của các trận bão trên, vậy nên tôi không thể khẳng định rằng chúng được hình thành do những luồng khí thoát ra từ các vùng khai mỏ của Nhật Bản
Về diện tích của Đàng Ngoài, Tavernier đã rất sai lầm khi cho rằng Đàng Ngoài có diện tích tương đương nước Pháp Những người trải nghiệm ở Đàng Ngoài khẳng định vương quốc này chỉ nhỉnh hơn nước Bồ Đào Nha một
Trang 35chút, dù dân số có thể nhiều hơn gấp 4 lần Tavernier cũng không mô tả cụ thể
về giới hạn đường biên giới cũng như diện tích của Đàng Ngoài
Có một số đảo thuộc về vương quốc nằm trong vịnh Đàng Ngoài (vịnh Bắc Bộ), hòn đảo lớn nhất được người địa phương gọi là Twon Bene còn người Hà Lan gọi là đảo Rovers (đảo Kẻ Cướp) Hòn đảo này nằm ở vĩ độ 15 phút bắc, dài 1,5 lý, rộng tối đa nửa lý Phần lớn địa hình cao, cách bờ khoảng
1 lý, khe nước giữa đảo và đất liền tàu thuyền có thể qua lại nhưng người điều khiển tàu phải cẩn trọng đi cách đảo khoảng một tầm súng để đảm bảo luồng sâu khoảng 6, 7 hoặc 7,5 sải nước ở phía tây của hòn đảo có hai vịnh nhỏ Vịnh ở phía bắc có bãi ngọc trai nhỏ nhưng chẳng ai dám đến mò ngọc nếu không được vua cấp phép Cả hai vịnh đều có nước ngọt chất lượng rất tốt, tốt nhất mà chúng tôi từng thử ở đây Mũi phía tây nam của hòn đảo là một rặng đá ngầm nhô ra biển khoảng 100 mét, lộ rõ khi thủy triều xuống quá nửa ngoài mỏm đá đó ra, các lối đi còn lại khá an toàn
Phía tây bắc là một vụng biển đẹp, sâu chừng 3,5 đến 4 sải, đấy biển là đất sét mềm Nơi đây tập trung nhiều tầu thuyền đánh cá thuộc về ngôi làng ngay gần đó – tôi ước tính khoảng 300 đến 400 người, phần lớn là ngư dân
Trên đảo có một đồn canh, thu lơi lớn cho vương quốc bởi tất cả tàu thuyền buôn bán – dù đi đến tỉnh Tingway (Thanh Hóa) hoặc Guian (Nghệ An) hay đi từ đây về phía bắc đều phải dừng ở đây để nộp phí: tàu to khoảng 1,5 đôla kèm theo quà biếu, các loại thuyền khác thì tùy theo định mức Nguồn thu hàng năm của trạm kiểm soát này chắc chắn không dưới 1 triệu đôla
Đất đai trên đảo khô cằn và nhiều sỏi đá, không tốt để canh tác Không
có nhiều gia súc; người dân ở đây nói rằng có khá nhiều sơn dương sống ẩn nấp trên những vách đá và lùm cây trên đảo Vì thế thóc gạo và thực phẩm đều phải mang từ các vùng khác đến Nếu có quy chế tốt thì cuộc sống nơi
Trang 36đây sẽ đầy đủ, trong khi chỉ cần một số vốn đầu tư nhỏ cũng có thể biến nơi đây thành một cảng tốt
Về thành phố và thị trấn, ngoại trừ Kẻ Chợ, Đàng Ngoài có quá 2 hoặc
3 thành thị trong toàn vương quốc Làng xóm thì nhiều, ngoài khả năng tính toán của tôi, cũng chưa có ai đưa ra nhận định về số lượng làng cả Kẻ Chợ là thủ đô của xứ Đàng Ngoài, nằm ở vĩ độ 21 bắc, cách biển chừng 40 lý Quy
mô của Kẻ Chợ sánh ngang nhiều thành thị khác ở Châu Á trong khi dân số của kẻ Chợ lớn hơn rất nhiều, nhất là vào phiên chợ ngày 1 và 15 âm lịch hàng tháng khi người dân cùng với hàng hóa từ các làng ven đô đổ về đây nhiều không đếm xuể Những con phố ngày thường vốn rộng rãi và quang đãng giờ đây trở nên chật chội đến nỗi chỉ nhích được 100 bước trong vòng
30 phút đã là tốt lắm rồi Các loại hàng hóa khác nhau được quy định bán ở những con phố riêng; mỗi con phố gồm cư dân của một hoặc hai ba làng Những người dân ở các con phố tổ chức hàng bán theo phường hội ở các thành thị Châu Âu Triều đình, cung điện của vua, tướng lĩnh, hoàng thân quốc thích và các vị đại thần đều đóng ở đây và chiếm một diện tích khá lớn trong thành phố Tôi chỉ có thể nói rằng kiến trúc ở đây khá giản tiện, một số làm bằng gỗ, còn lại được dựng bằng tre nứa và trát đất trông rất tuềnh toàng, lèo tèo một vài ngôi nhà gạch vốn là thương điếm của người ngoại quốc Kỳ
vĩ nhất là bức tường ba lớp bao bọc khu thành cổ và các cung điện Những phế tích còn lại minh chứng cho sự kiên cố cùng với những chiếc cổng lớn và chắc chắn được ốp đá cẩm thạch Chu vi cung điện lên đến 6 hoặc 7 dặm, những lâu đài, cửa cổng, sân vườn đều thể hiện vẻ đẹp nguy nga tráng lệ Một lực lượng quân đội hùng hậu đóng trong thành phố, sẵn sàng ứng phó mọi tình huống xảy ra Kho quân dụng được đóng ngay tại bờ sông, gần cồn cát Người địa phương gọi sông này là Songkoy (sông Cái) Con sông này bắt nguồn từ Trung Quốc, chạy dài vài trăm dặm trước khi chảy qua thành phố
Trang 37Kẻ Chợ và đổ ra biển ở vịnh Hải Nam qua 8 hoặc 9 cửa, tất cả các cửa đều đủ
độ sâu để các thuyền cỡ nhỏ có thể đi lại Con sông mang lại nguồn lợi lớn cho thành phố này bởi tất cả hàng hóa đều được vận chuyển bằng đường sông đến trung tâm của vương quốc thông qua một số lượng lớn thuyền buôn hoạt động ngược xuôi khắp vương quốc Tuy nhiên, những người buôn bán này đều có nhà cửa ở quê hương chứ không phải sống lênh đênh trên thuyền như
ông Tavernier mô tả, tất nhiên trừ khi họ đi buôn chuyến.” [13, tr138-142]
Có thể nói, hơn 10 năm sống ở Đàng Ngoài là một khoảng thời gian vô cùng quý báu Nó đủ dài để S.Baron có những hiểu biết rất chi tiết, cụ thể về nơi đây Những ghi chép của ông không chỉ dừng lại ở vị trí, quy mô trên đất liền mà những hòn đảo nằm trong vịnh Bắc Bộ cũng được ông phản ánh khá chi tiết
Trong số những nhà du hành Châu Âu đến thăm và mô tả về vương quốc Đàng Ngoài cuối thời trung đại như Samuel Baron, Tavernier chúng ta không thể không nhắc tới Wiliam Dampier – người được coi là một trong những nhà du hành vĩ đại nhất của thời đại khi ông đã đi vòng quanh thế giới
3 lần và nhiều chuyến đi giữa các lục địa Âu – Mỹ, Âu – Á trong khoảng 40 năm làm nghề đi biển
Năm 1688, ông đã đến Đàng Ngoài, ông đã kỳ công tìm hiểu, nghiên cứu quan sát và học hỏi để viết nên cuốn du ký nổi tiếng “Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài” Cũng giống như những tập du ký mà chúng ta đã tìm hiểu, “Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688” cung cấp cho chúng
ta một cách nhìn nhận, đánh giá khá toàn diện về điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội nước ta thời kỳ này Chương II của cuốn du ký là những ghi chép khá phong phú của ông về nhiều mặt, trong đó có những ghi chép về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý nơi đây
Trang 38Ông viết: “Vương quốc Đàng Ngoài giáp Trung Quốc ở phía bắc và đông bắc, giáp Lào ở phía tây, giáp Đàng Trong và biển về phía nam và phía đông Biển cả nằm ven theo một phần duyên hải của vương quốc này Tôi không biết cụ thể về các đường biên và các vùng giáp ranh vì tôi đến Đàng Ngoài bằng đường biển, sau đó đi thẳng tới Kẻ Chợ Nhưng căn cứ vào số tỉnh mà nó có thì có thể tin rằng đây là một vương quốc khá lớn Phần giáp biển của vương quốc này là một vùng bằng phẳng, không có núi non ngoại trừ núi Voi và vài hòn núi thấp chạy kế tiếp từ đó ra đến cửa sông Domea Khoảng 60 dặm sâu vào trong đất liền đất đai vẫn còn bằng phẳng, thậm chí
khoảng 40 dặm nữa đến gần Kẻ Chợ địa hình cũng chẳng lên cao là bao” [6,
ở trung tâm vương quốc Ba tỉnh còn lại là Tenan, Teneboa và Ngeam nằm gần biên thùy hơn
Tỉnh Tenan (có lẽ là tỉnh Hải Ninh) là tỉnh ở quá về phái đông nhất, giáp Trung Quốc về phía đông nam, giáp đảo Hải Nam và biển về phía nam
và tây nam, giáp tỉnh Đông về phía tây bắc Tenan là một tỉnh nhỏ, nguồn lợi chính là gạo
Tỉnh Đông trải dài từ Tenan đến tỉnh Bắc, cũng giáp Trung Quốc về phía đông, giáp một phần tỉnh nam và tỉnh Kẻ Chợ về phía tây, giáp biển về phía nam Đây là một tỉnh rất lớn, đất đai rất trũng, phần lớn là cù lao, nhất là miền phía đông nam giáp biển và tỉnh Tenan Ở đây biển xâm thực vào trong tạo thành một cái vịnh Có rất đông dân chài sống gần biển Sản phẩm tỉnh
Trang 39Đông sản xuất ra nhiều nhất là gạo Ở đây cũng có những bãi cỏ chăn nuôi tốt cùng với nhiều gia súc Phố hiến là thủ phủ của tỉnh này và là nơi đặt dinh cơ của quan tổng trấn
Tỉnh Nam là hòn cù lao tam giác do biển tạo ra Con sông Domea ở phía đông ngăn nó với tỉnh Đông, con sông Rokbo ở phía tây ngăn nó với Tenan và mặt phía nam giáp biển Tỉnh này là một vùng rất thấp và bằng phẳng, sản xuất ra rất nhiều gạo Ở đây cũng có những bãi chăn nuôi rộng và
có nhiều dân chài sống ven biển
Teneboa (Thanh Hóa) nằm ở phía tây Rokbo, phía bắc giáp tỉnh Tây, phía tây giáp đảo Hải Nam và phía nam giáp biển Tỉnh này cũng là một vùng trũng, có nhiều nhất là gạo và gia súc Ơ đây cư dân buôn bán hải sản khá lớn như người ta thường làm trên khắp các vùng duyên hải
Tỉnh Ngeam (Nghệ An) có Teneboa ở phía đông, giới hạn ở phía nam
và phía tây là Đàng Trong, phía bắc giáp tỉnh Tây Đây là một tỉnh khá lớn, giàu thóc lúa và gia súc Ở đây lúc nào cũng có binh lính canh giữu biên giới
để đề phòng người Đàng Trong xâm lấn
Tỉnh Tây giáp Ngeam ở phía nam, vương quốc Lào ở phía tây, tỉnh kẻ Chợ ở phía đông và ở phía bắc là tỉnh Bắc Đoa cũng là một tỉnh lớn rất đẹp, giàu có về tài nguyên gỗ và bãi cỏ chăn nuôi Sản phẩm đặc biệt của tỉnh này
là sơn sống và người ta cũng chăn ở đây một số lớn tơ tằm để kéo tơ
Tỉnh Bắc là một xứ to và là miền bắc của toàn vương quốc, phía tây giáp với vương quốc Lào, phía đông và phía bắc giáp với Trung Quốc, phía tây bắc giáp vương quốc Bao Về phía nam, nó giới hạn bởi ba trong số những tỉnh chính của vương quốc là tỉnh Tây, tỉnh Kẻ Chợ và tỉnh Đông Vì tỉnh Bắc rộng cho nên tính chất đất đai rất khác nhau Phần rộng nhất của nó là một vùng thôn quê, nơi cố nhiều núi cao có chứa vàng Voi có ở trong các vùng núi của tỉnh này, các vùng khác trong tỉnh sản xuất ra sơn sống và tơ tằm…
Trang 40Tỉnh Kẻ Chợ - trung tâm của vương quốc – nằm ở giữa các tỉnh Đông, tây và Nam Đây là một vùng đất rất đẹp và trù phú Đất đai màu vàng hay màu xám và có khá nhiều gỗ Hai mặt hàng chính của thương mại là sơn sống
và tơ tằm có rất nhiều ở đây; gạo có chút ít Có thể nói rằng không một tỉnh nào trong số các tỉnh này thiếu những thứ ấy tuy rằng tỉnh nọ không đầy đủ
bằng tỉnh kia do tính chất thổ nhưỡng khác nhau.” [6, tr38-40]
Có thể nói, mỗi một nhà du hành có cách nhìn, phản ánh khác nhau Có những cách nhìn khá chi tiết, tỉ mỉ, cụ thể, cũng có cách nhìn khái quát điều
đó phụ thuộc vào khả năng của mỗi nhà du hành Song một điều không thể phủ nhận là những cách nhìn đó đem lại cho chúng ta sự hiểu biết sâu sắc hơn
về Đàng Ngoài thời kỳ này Đó là những cái nhìn khách quan nhưng cũng mang đầy tính chủ quan của cá nhân người viết
2.2 Những nét văn hóa truyền thống tiêu biểu ở Đàng Ngoài
2.2.1 Văn hóa cung đình
2.2.1.1 Lễ lên ngôi của nhà vua
Trong “Tập du ký mới và kỳ thú về vương quốc Đàng Ngoài”, Tavernier viết: “Năm 1645, con trưởng của nhà vua được phong làm thái tử
để nối ngôi, ngày sinh nhật của thái tử, nhà vua đã tổ chức tất cả các loại trò chơi trong triều Vì nhà vua rất yêu quý thái tử nên đã cho một số tiền lớn hơn tất cả các khoản chi tiêu, gồm một nghìn đĩnh vàng và năm nghìn thỏi bạc Trong ngày hôm đó, nhà vua và thái tử ban ân điển rộng rãi, nhất là cho những người góa bụa nghèo túng và tù nhân
Khi vua băng hà, do có nhiều con trai, người ta đưa người con nào khi ông còn sống đã được chọn và được tấn phong để nối ngôi lên làm vua Ngày thứ ba sau khi vua mất, chúa cùng với các quan, các tướng lĩnh, các đại thần trong triều và tất cả các quan trấn thủ tới phòng của thái tử Đưa cho thái tử một cái áo bào, sau đó mời thái tử lên mình voi, để rước về một cái sân rộng