Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Chung tôi sử dụng hai phương pháp chuyên ngành cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp logic... Thị trấn có thuận lợitrong việc đi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LAO THỊ VIỆN
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI
CỦA THỊ TRẤN QUỲ HỢP, HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI
1986 ĐẾN 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SƯ
NGHỆ AN - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LAO THỊ VIỆN
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI
CỦA THỊ TRẤN QUỲ HỢP, HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI
1986 ĐẾN 2013
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SƯ
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN VŨ TÀI
NGHỆ AN - 2014
Trang 3Hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, trước hết em xin chân thành cảm
ơn sự dạy dỗ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch sử, trườngĐại học Vinh cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy vàgiứp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Trần vũ Tài, người đã địnhhướng, trực tiếp hướng dẫn và đóng góp ý kiến cụ thể cho kết quả cuối cùngđể em hoàn thành luận văn này
Cho phép em gửi lời cảm ơn đến Huyện ủy - UBND huyện Quỳ Hợp,UBND Thị trấn Quỳ Hợp, cùng các phong ban ngành, các hộ gia đình, cácchủ trang trại, các xí nghiệp tại khu vực nghiên cứu đã cung cấp số liệu, thôngtin giup tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn rằng những hạn chế và thiếusót trong luận văn là không thể tránh khỏi Vì vậy, em rất mong nhận được sựđóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo cùng toàn thể các bạn để luận vănnày được hoàn thiện hơn
Nghệ An, tháng 9 năm 2014
Tác gia
Lao Thị Viện
Trang 4MỞ ĐẦU 8
1 Ly do ch n t io đê a 8
2 L ch s nghiên c u v n i ư ư â đê 9
3 i t ng nghiên c u, ph m vi nghiên c u, nhi m v c a t iĐô ươ ư a ư ê u u đê a 11
4 Ngu n t li u v ph ng phap nghiên c uô ư ê a ươ ư 11
5 ong gop c a lu n v nĐ u â ă 12
6 K t c u lu n v nê â â ă 13
Chương 1 TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THỊ TRẤN QUỲ HỢP TRƯỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI 14
1.1 V i nét v i u ki n t nhiên - xã h i th tr n Qu H pa ê đ ê ê ự ộ i â ỳ ơ 14
1.1.1 i u ki n t nhiênĐ ê ê ự 14
1.1.2 i u ki n xã h iĐ ê ê ộ 18
1.2 Tinh hinh kinh t - xã h i Th tr n Qu H p tr c n m 1986ê ộ i â ỳ ơ ươ ă 24
1.2.1 Tinh hinh kinh tê 25
1.2.2 Tinh hinh xã h iộ 28
Ti u k t ch ng 1ê ê ươ 30
Chương 2 CHUYỂN BIẾN KINH TẾ CỦA THỊ TRẤN QUỲ HỢP TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2013 33
2.1 Th tr n Qu H p trong th i ki i m i t n ci â ỳ ơ ơ đô ơ đâ ươ 33
2.1.1 B i c nh l ch s m iô a i ư ơ 33
2.1.2 Đương l i i m i c a ng v s v n d ng c a ng b th tr n ô đô ơ u Đa a ự â u u Đa ộ i â Qu H pỳ ơ 34
2.2 Chuy n bi n kinh t Th tr n Qu H p t 1986 n 2013ê ê ê i â ỳ ơ ư đê 37
2.2.1 Chuy n d ch c c u kinh tê i ơ â ê 37
2.2.2 Nông nghi p - lâm nghi pê ê 39
2.2.3 Công nghi p v ti u th công nghi pê a ê u ê 51
2.2.4 Th ng m i, d ch v , v n t iươ a i u â a 55
2.2.5 Xây d ng c s h t ngự ơ ơ a â 60
Ti u k t ch ng 2ê ê ươ 64
Chương 3 CHUYỂN BIẾN XÃ HỘI CỦA THỊ TRẤN QUỲ HỢP TỪ NĂM 1986 ĐẾN 2013 67
3.1 Dân s - lao ng - vi c l mô độ ê a 68
3.2 V n hoa, giao d c, y tă u ê 74
3.2.1 V v n hoaê ă 74
3.3.2 V giao d cê u 77
3.3.3 V y tê ê 81
3.3 Th c hi n cac công tac xã h iự ê ộ 83
3.4 An ninh qu c phongô 85
Ti u k t ch ng 3ê ê ươ 88
KẾT LUẬN 90
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC
Trang 6HTX Hợp tác xã
UBND Uỷ ban nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa
CNXH Chủ nghĩa xã hội
Trang 7Biểu đồ:
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu kinh tế của Thị trấn Quỳ Hợp (cơ cấu %) 38
Bảng 2.1 Diện tích và năng suất lua giai đoạn 1991- 1995 44
Bảng 2.2 Diện tích và sản lượng một số cây ăn quả 46
Biểu đồ 2.2 Bình quân lương thực (kg/người/năm) 46
Bảng 2.3 Tổng số trâu, bò, lợn, hươu, dê của thị trấn trong năm 1991- 1995 .48
Bảng 2.4 Số lượng các cơ sở sản xuất, doanh thu thủ công nghiệp của thị trấn công nghiệp năm 1991 - 2013 55
Bảng 2.5 Hệ thống chợ trên địa bàn thị trấn năm 2013 57
Bảng 2.6 Tổng số vốn đầu tư xây dựng qua các năm 64
Bảng 3.1 Dân số trung bình của Thị trấn Quỳ Hợp 69
Bảng 3.2 Số lao động được giải quyết việc làm thông qua trung tâm giới thiệu việc làm của huyện, tỉnh năm 2000 - 2013 70
Bảng 3.3 Thành tích học tập của Trường tiểu học thị trấn giai đoạn 1991-1995 79
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kinh tế có mối quan hệ biện chứng trong sự vận động phát triển củamối quốc gia dân tộc Khi dánh giá về sự phát triển của một quốc gia dân tộc,chung ta dựa vào rất nhiều yếu tố, trong đó thành tựu kinh tế giữ vai trò quantrọng Vì vậy, tất cả các quốc gia dân tộc đều tìm cho mình một con đườngphù hợp vươn lên thành một quốc gia vững mạnh về kinh tế.Việt Nam cũngkhông phải là ngoại lệ
Năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giải phóng hoàn toànMiền Nam thống nhất đất nước Cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội tronghoàn cảnh bị các thế lực thù địch bao vây cấm vận.Việt Nam, một nước cònmang đầy thương tích của chiến tranh cũ để lại, phải gồng mình gánh chịu vếtthương mới do hai cuộc chiến tranh biên giới gây ra Trong khi đó, cả nướcthực hiện nhiệm vụ chiến lược xây dựng XHCN với điểm xuất phát thấp, trìnhđộ tổ chức, công tác quản lý còn nhiều hạn chế nên nửa đầu những năm 80củathế kỉ XX, nền kinh tế Việt Nam lâm vào khủng hoảng trầm trọng Để thoátkhỏi tình trạng đó, Việt Nam cần có những bước đi đột phá mới
Đại hội VI của Đảng là mốc đánh dấu quan trọng có ý nghĩa bước ngoặctrong đổi mới tư duy, lý luận kinh tế - xã hội: Đại hội xác định phát triển nềnkinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo.Trong sự phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế địa phương được ví như tế bàosống của quốc gia.Vì vậy, Hội nghị thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa
VI thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng do Đại hội lần thứ VI đề ra là: cầntăng cường chính sách trao đổi hàng hóa giữa Nhà nước và nông dân, mọi quanhệ trao đổi hàng hóa giữa Nhà nước và hợp tác xã theo nguyên tắc bình đẳngthuận mua vừa bán, bảo đảm củng cố liên minh công nông Như vậy, chiếnlược phát triển kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua có ý nghĩa trọng nên
Trang 9việc đầu tư phát triển kinh tế địa phương được đảng xác đinh là nhiệm vụ hàngđầu,mang tính lâu dài và tất yếu trên con đường phát triển đất nước.
Thị trấn Quỳ Hợp là một miền quê có lịch sử và truyền thống lâudài,trải qua chặng đường lịch sử truyền thống ấy ngày càng được trân trọng vàphát huy Từ khi có Đảng lãnh đạo,nhân dân thị trấn Quỳ Hợp một lòng theoĐảng làm cách mạng Bước vào thời kì đổi mới, đảng bộ và nhân dân thị trấnQuỳ Hợp đã tiếp nhận vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của đảng do đạihội VI tháng 12/1986 của Đảng đề ra
Thực tiễn của hơn 25 năm đổi mới thực hiện đường lối đổi của Đảng,thị trấn Quỳ Hợp đã có bước chuyển biến quan trọng về kinh tế cũng như tấtcả các mặt trong đời sống xã hội Sự chuyển biến đó khẳng định đường lốiđung đắn của Đảng cũng như sự vận dụng một cách chủ động, sáng tạo đườnglối của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của thị trấn Quỳ Hợp, nhằm thực hiện sựnghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa của thị trấn Quỳ Hợp nói riêng và huyệnQuỳ Hợp cũng như tỉnh Nghệ An nói chung
Tuy công cuộc xây dựngvà phát triển kinh tế - xã hội ở thị trấn QuỳHợp trong thời kì đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn song vẫn cònnhững hạn chế cần được tổng kết rut kinh nghiệm nhằm đưa ra những giảipháp thích hợp để phát huy ưu điểm và khắc phục hạn chế
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn vấn đề “Chuyển biến kinh tế - xã hội
của thị trấn Quỳ Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An trong thời kì đổi mới
1986 đến 2013”, làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cao học thạc sĩ, chuyên ngành
Lịch sử Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay vấn đế kinh tế - xã hội không chỉ được các nhà lãnhđạo mà các nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên và xã hội quan tâm
Vấn đề kinh tế - xã hội đã được đề cập tới trong các văn kiện củađảng từ văn kiện Đại hội lần thứ III,IV,V,VI,VII,VIII,IX,X.Trong nhữngvăn kiện đó,vấn đề kinh tế - xã hôi đã được nêu lên thành đường lối, mang
Trang 10tính định hướng cho sự phát triển.Trong đó, đáng chu ý có tài liệu: Đảngcộng sản Việt Nam (1991),chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hộiđến năm 2000.
Tác giả Nguyễn Trọng Phuc (2000) trong cuốn “Một số kinh nghiện
của đảng cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo sư nghiệp đổi mới”,
NXB Chính trị quốc gia Hà Nộ; Tác giả Ngô Đình Giao (1998) “Chuyển
dịch cơ sở kinh tế theo hướngcông nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân”, NXB
Chính trị quốc gia Hà Nội Năm 2013 Ban chấp hành đảng bộ thị trấn Quỳ
Hợp cho xuất bản cuốn “Lịch sử Đảng bộ thị trấn Quỳ Hợp”, cuốn sách đã
phản ánh đầy đủ quá trình thành lập và sự nghiệp phát triển của nhân dân thịtrấn Quỳ Hợp
Năm 2004, Ban thường vụ huyện ủy đã cho xuất bản cuốn “Lịch sử
huyện Quỳ Hợp”, cuốn sách đã trình bày một cách đầy đủ về quá trình ra đời
và lãnh đạo nhân dân đấu tranh trong sự nghiệp cách mạng của đảng bộ QuỳHợp cũng như quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương từ năm 1963đến năm 2002
Các báo cáo hàng năm, báo cáo trong những nhiệm kì đại hội về tìnhhình kinh tế - xã hội của thị trấn Quỳ Hợp từ năm 1986 đến 2013; trong cácbáo cáo của UBND tỉnh Nghệ An, huyện ủy, UBND huyện Quỳ Hợp, UBNDthị trấn Quỳ Hợp đã tổng kết tình hình kinh tế của tỉnh, của huyện và cả thịtrấn Quỳ Hợp
Nhìn chung, các công trình trên đây ở những khía cạnh khác nhau đã đềcập đến những vấn đề của thị trấn Quỳ Hợp nói riêng và huyện Quỳ Hợp nóichung Song, cho đến nay chưa có một công trình nào đi sâu nghiện cứu về sựchuyển biến kinh tế - xã hội của thị trấn Quỳ Hợp trong thời kì đổi mới từnăm 1986 đến năm 2013 Trên cơ sở kế thừa kết quả của các công trình đó cả
về tư liệu và phương pháp tiếp cận, chung tôi cố gắng miêu tả, hệ thống, phântích, đánh giá một cách toàn diện về sự chuyển biến của kinh tế - xã hội Quỳ
Trang 11Hợp thời kỳ đổi mới Trên cơ sở đó, rut ra những nhận định, đánh giá khoahọc cũng như những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng và phát triểnkinh tế - xã hội thị trấn Quỳ Hợp hiện nay
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu chuyển biến của kinh tế - xã hội của thị trấn QuỳHợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An trong thời kì đổi mới từ 1986 - 2013
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài giới hạn trong thị trấn Quỳ Hợp, huyện QuỳHợp, tỉnh Nghệ An hiện nay
Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình Đảng bộ và nhândân thị trấn Quỳ Hợp, huyện Quỳ Hợp thực hiện công cuộc xây dựng và pháttriển kinh tế - xã hội từ năm 1986 đến năm 2013
3.3 Nhiệm vụ của đề tài
Thứ nhất: thông qua các nguồn tài liệu hiện có, tôi dựng lại bối cảnh
lịch sử, sự chuyển kinh tế - xã hội của thị trấn Quỳ Hợp từ năm 1986 đếnnăm 2013
Thứ hai: từ việc nghiên cứu sự chuyển biến kinh tế xã hội của thị trấn
Quỳ Hợp từ 1986 đến 2013, tôi rut ra được những thành công và hạn chếtrong lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới của Đảng
Thứ ba: từ những thành công và hạn chế rut ra những bài học kinh
nghiệm và đề xuất những kiến nghị thuc đẩy kinh tế - xã hội của thị trấn QuỳHợp ngày càng phát triển
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Đề hoàn thành đề tài này tôi đã sự dùng những nguồn tư liệu sau:
Tài liệu lưu trữ bao gồm: Văn kiện của đại hội Đảng toàn quốc, các chỉ
thị, nghị quyết của Đảng và nhà nước về kinh tế Ngoài ra, tôi còn dựa vào
Trang 12những văn kiện, những chỉ thị, nghị quyết, các báo cáo tổng kết của Đảng bộtỉnh Nghệ An, Đảng bộ huyện Quỳ Hợp, Đảng bộ thị trấn Quỳ Hợp từ năm
1986 đến năm 2013 Nguồn bảng biểu thống kê của các phòng, ban ngành liênquan như: Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Phòng tài nguyên vàmôi trường, Phòng thống kê của huyện Quỳ Hợp, Phòng thống kê của Ủy banthị trấn Quỳ Hợp
Tài liệu thành văn bao gồm các công trình đã xuất bản, các bài viết trên
các ấn phẩm, sách báo, tạp chí về kinh tế - xã hội huyện Quỳ Hợp của thị trấn
Quỳ Hợp Tư liệu điền dã gồm tư liệu có được thông qua việc điền dã, khảo
sát của tác giả về kinh tế - xã hội trên địa bàn trị trấn Quỳ Hợp
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận khi thực hiện đề tài là dựa trên lý luận của chủ nghĩaMác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
về kinh tế - xã hội và đường lối đổi mới của Đảng
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Chung tôi sử dụng hai phương pháp
chuyên ngành cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra,chung tôi còn sử dụng các phương pháp liên ngành như điều tra xã hội học,điền dã dân tộc học, phỏng vấn báo chí… nhằm đảm bảo tính khoa học củaquá trình phân tích, lí giải các vấn đề kinh tế - xã hội thị trấn Quỳ Hợp
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống quátrình chuyển biến kinh tế - xã hội của thị trấn Quỳ Hợp trong giai đoạn từ năm
1986 đến năm 2013
Việc tập hợp và xử lý các nguồn tư liệu, luận văn làm rõ những thànhtựu cũng như hạn chế trong quá trình chuyển biến kinh tế và tác động của nóđến xã hội của thị trấn trong thời kì đổi mới Từ đó, đề xuất những sáng kiếnnhằm khắc phục những hạn chế và phát huy thế mạnh của thị trấn trong lĩnhvực kinh tế - xã hội
Trang 13Luận văn còn cung cấp thêm nguồn tư liệu việc nghiên cứu và giảngdạy lịch sử địa phương.
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dungchính của luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Tình hình kinh tế - xã hội của thị trấn Quỳ Hợp trước thời
kì đổi mới
Chương 2: Chuyển biến kinh tế của thị trấn Quỳ Hợp từ năm 1986
đến năm 2013
Chương 3: Chuyển biến xã hội của thị trấn Quỳ Hợp từ năm 1986 đến
năm 2013
Trang 14Chương 1 TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THỊ TRẤN QUỲ HỢP
TRƯỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên - xã hội thị trấn Quỳ Hợp
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Địa lý hành chính
Trước tháng 4 năm 1963, vùng đất Quỳ Hợp nằm trong huyện lớn QùyChâu và một phần huyện Nghĩa Đàn Tên Qùy Châu có từ năm 1415 (tức nămVĩnh Lạc thứ XIII) Năm 1469, dưới thời vua Lê Thánh Tông, Châu Hoan vàChâu DiễN được sáp nhập thành Thừa tuyên Nghệ An, gồm 9 phủ, 25 huyệnvà 2 châu Vùng đất Qùy Châu được lập thành phủ Qùy Châu (bao gồm haihuyện Trung Sơn và Thuy Vân) Năm Minh Mệnh thứ 7 (1827) đổi TrungSơn thành huyện Quế Phong, năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) trích đất của 7tổng huyện Quỳnh Lưu và một tổng huyện Yên Thành, lập huyện NghĩaĐường (thuộc phủ Qùy Châu)
Phủ Qùy Châu gồm 3 huyện: huyện Nghĩa Đường (gồm có 8 tổng và
49 xã thôn); huyện Quế Phong (gồm 4 tổng,16 xã thôn); huyện Thuy Vân(gồm một phần đất của huyện Qùy Châu và Quỳ Hợp ngày nay, gồm 5 tổngvà 30 xã thôn) Năm 1887, nhà Nguyễn lại chia Nghệ An ra làm 5 phủ: AnhSơn, Diễm Châu, Tương Dương, Hưng Nguyên, Qùy Châu và 6 huyện: NamĐàn, Thanh Chương, Nghi Lộc, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn
Trong thời Pháp thuộc, toàn quyền Đông Dương ra nghị định(22.10.1907) củng cố lại vùng Qùy Châu, Nghĩa Đàn, đặt tại Hưng Nguyênmột sở đại diện cấp tỉnh (đến ngày 1.9.1908, được gọi là trạm Nghĩa Hưng).Ngày 3.3.1930,toàn quyền Đông Dương ra nghị định mới: nâng trạm NghĩaHưng lên thành đại lý Phủ Qùy với quyền hạn lớn hơn trước, kiểm sóat cảvùng Quế Phong, Qùy Châu, Quỳ Hợp, Tân Kì, Nghĩa Đàn ngày nay
Trang 15Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, chính phủ Việt Nam dân chủ Cộnghòa bỏ cấp phủ và tổng Phủ Qùy Châu được đổi thành huyện Quỳ Châu (cũ).Luc đó vùng đất Quỳ Hợp bây giờ thuộc huyện Qùy Châu cũ chỉ có hai xã là:Khủn Tinh và Chủng Láng, vùng đất thị trấn Quỳ Hợp ngày nay thuộc xãKhủn Tinh.
Đến ngày 19.3.1963 Hội đồng chính phủ ra quyết định 52/CP chiahuyện Qùy Châu thành 3 huyện: Quế Phong, Qùy Châu, Quỳ Hợp Tên gọiQuỳ Hợp ra đời từ đó
Thị trấn Quỳ Hợp được thành lập theo quyết định số 128 - HĐBT(9.11.1963), trên cơ sở tách 600 hác ta đất của xã Châu Quang Thị trấn ra đờitrở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của huyện Quỳ Hợp Vịtrí của thị trấn Quỳ Hợp hiện nay được xác định như sau: phía Đông giáp xãThọ Hợp; phía Tây và phía Bắc giáp xã Châu Quang; phía Nam giáp xã ChâuĐình; phía Bắc giáp xã Yên Hợp và Liên Hợp [7; 4], [8; 4]
* Địa lý tự nhiên
Địa hình: từ kiến tạo của tự nhiên, thông qua quá trình cải tạo của conngười, địa hình của thị trấn Quỳ Hợp ngày nay khá bằng phẳng, xung quangcó nui đá vôi bao bọc, không có đèo cao, suối sâu Là trung tâm kinh tế, vănhóa, chính trị, kinh tế xã hội của toàn huyện Quỳ Hợp Thị trấn có thuận lợitrong việc đi lại, thông thương của nhân dân và giao lưu văn hóa giữa cácvùng miền
Đất đai: thị trấn Quỳ Hợp hiện nay có tổng diện tích 734,36 ha, trongđó: đất trồng cây hàng năm có 161,15 ha; đất rừng được khoanh nuôi có164,70 ha; đất ở của cư dân thị trấn có 60,71 ha; đất có mục đích công cộngcó67,34 ha; đất bằng chưa sự dụng 32,95 ha; đất sông suối và mặt nướcchuyên dùng có 34,17 ha; đất đổi nui chưa sử dụng có 66,24 ha và nui đákhông có rừng cây có 106,38 ha [4; 9]
Trang 16Cũng giống như vùng đất khác ở Quỳ Hợp, đất đai ở đây phần lớn làđất Feralit màu đỏ vàng hoặc vàng đỏ, phát triển trên phiến thạch sét, phiếnthạch mica với tầng đất dày có lớp đất mịn dày 40 đến 120 cm Đất đai ở đâythuộc vùng thấp của Quỳ Hợp nên thích hợp với việc trồng cây công nghiệpngắn ngày, cây ăn quả và các loại cây lương thực như mía, ngô, khoai, sắn…
Sông ngòi, khe suối: toàn bộ đất đai của thị trấn Quỳ Hợp nằm tronglưu vực sông Dinh (một nhánh của sông Hiếu) Sông Dinh ôm gọn thị trấnvào lòng từ cầu Nậm Tôn trải dài đến xã Thọ Hợp theo hướng từ Tây sangĐông, trên địa bàn thị trấn có ba khe suối nhỏ: Khe lạnh bắt nguồn từ tronghang đá chạy ra thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống về mùa mưa nướcchảy vào lòng hồ Thung Mây; khe Công an bắt nguồn từ dãy lèn đá phía Bắcthuộc khu vực bảo tồn thiên nhiên Pù Huống chảy về qua khối 1 rồi nhập vàokhe nước lạnh chảy ra rồi đổ ra sông Dinh Khe Mỏ nước bắt nguồn từ tronghang đá phía Bắc thị trấn, chảy vòng sát chân nui đi ra nhập vào khe Công an,hòa quyện với nhau rồi đổ ra sông Dinh Ba dòng khe này vào mùa khô khôngcó nước, chỉ vào mùa mưa lụt thì nước từ các lèn đá chảy xuống, nhập vàocác dòng khe, cung cấp nước mạch cho các giếng khơi và độ ẩm cho các loạicây trồng
Đồi nui: phía Bắc thị trấn Quỳ Hợp có dãy nui và lèn đá vôi chảy dài 3đến 4 km, là chỗ giáp ranh giữa các xã Thọ Hợp và Châu Quang
Khí hậu và thời tiết: Thị trấn cũng như các xã trong huyện Quỳ Hợpnằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có hai mùa rõ rệt
Mùa nóng: thời gian từ tháng 4 đến tháng 10 Nằm ở trung tâm củahuyện Quỳ Hợp nên thời tiết ở thị trấn vào mùa này rất nóng nực, nhiệt độvào ban ngày trung bình từ 300C đến 380C (có khi lên tới 400C Quỳ Hợp ítkhi có bão, chỉ có dông tố (nhất là tố) Tố thường xuất hiện vào mùa nóng.Năm 1975 trở về trước từ tháng 3 đến tháng 4 thường có lốc xoáy làm tung
Trang 17bay nhiều nóc nhà, đổ gãy nhiều cây cối Từ khi hồ Thung Mây được xâydựng đã góp phần quan trọng điều hòa khí hậu ở vùng đất này Lượng mưatrung bình của thị trấn hàng năm là 1829,2 mm, tập trung chủ yếu vào cáctháng 8, 9, 10 [4; 11].
Mùa này cũng thường có gió mùa Tây Nam khô nóng (còn gọi là gióLào), tập trung từ tháng 4 đến tháng 7, nắng nóng làm giảm nhiệt độ trongkhông khí, nhiệt độ có ngày lên đến 420C, gây ra không khí nóng bức, ngộtngạt khó chịu, thời tiết nắng nóng ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống và sảnxuất của người dân
Mùa lạnh: Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Mùa này thường có giómùa Đông Bắc gây khí hậu khô hanh và rét buốt Nhiệt độ trung bình là12,50C Ngoài ra, mùa lạnh thường có hạn hán kéo dài, ảnh hưởng đến sảnxuất và sinh hoạt của người dân
* Về giao thông, thủy lợi
Giao thông: mạng lưới giao thông chiếm vị trí quan trọng Nó khôngnhững phục vụ đắc lực cho nhu cầu đi lai của người dân mà còn tạo điều kiệnthuận lợi cho việc vận chuyển, thông thương hàng hóa cũng như giao lưu vănhóa giữa thị trấn và các vùng miền trong cả nước
Huyện Quỳ Hợp không có đường biển, đường sắt, đường hàng không,chỉ có đường bộ Thị trấn Quỳ Hợp có các tuyến đường cơ bản sau:
Đường tỉnh lộ 48C (trước đây gọi là đường 532) đi qua Thị trấn lênChâu Quang và thông thương với các huyện Qùy Châu, Quế Phong, TươngDương, Con Cuông, Anh Sơn và các huyện miền xuôi dọc đường 7
Đường huyện: tuyến thị trấn Quỳ Hợp - Hạ Sơn, tuyến này có chiều dài
22 km, đi qua các xã Châu Đình, Văn Lợi đến xã Hạ Sơn
Đường nội thị: hiện nay đường nội thị đã được bê tông hóa đến 98%đường liên khối xóm và đường đi tới các địa điểm sản xuất trên đia bàn Tất
Trang 18cả các đường đều được bê tông hóa sạch, đẹp, bê tông đi vào từng nơi trongcác khối và 3 tuyến đường nội thị do Công ty Kim loại màu đầu tư đã đi vàohoạt động [4; 12].
Thủy lợi: cũng như nhiều địa phương khác ở miền nui Nghệ An, trướccách mạng tháng Tám, ở Quỳ Hợp không có công trình thủy lợi nào đượcthiết kế hay do nhân dân tự làm Cả người Thái lẫn người Thổ làm nương rẫychủ yếu dựa vào tự nhiên Năm nào mưa thuận gió hòa mới được thu hoạch.Làm lua nước thì dựa vào các nguồn nước tự nhiên như sông, suối Khi hạnhán thì đồng bào “đào giếng”, dùng nước ngầm để tưới tiêu cho lua, cây màuvà dùng trong sinh hoạt hàng ngày Sau này, dựa vào những lợi thế từ tựnhiên, Nhà nước đã đầu tư xây dựng các hồ, đập, hồ nước, nhất là đập tràn đểtưới cho đồng ruộng Trong những công trình của huyện Quỳ Hợp nổi bật cóhồ Thung Mây
Hồ Thung Mây nằm ở trung tâm thị trấn Quỳ Hợp, là công trình vănhóa, du lịch được triển khai xây dựng từ mồ hôi, công sức, trí tuệ của tập thểđồng bào nơi đây Có thể nói hồ Thung Mây là tài sản, báu vật vô cùng quýgiá mà thiên nhiên ban tặng và được con người xây dựng, tôn tạo trên mảnhđất này
Ngoài công trình thủy lợi do huyện quản lý, ở huyện Quỳ Hợp cònđược dự án đầu tư Trạm nước sạch cung cấp toàn bộ nước sạch cho toàn bộdân cư trong khu vực
1.1.2 Điều kiện xã hội
Nhân dân thị trấn Quỳ Hợp có tinh thần yêu nước, đấu tranh bất khuấtchống giặc ngoại xâm Trải qua bao quá trình dài đấu tranh để tồn tại và pháttriển với truyền thống đoàn kết, tương than tương ái, tự lực tự cường, dũngcảm trước mọi thử thách của thiên nhiên và sự sự tàn bạo của kể thù, nhândân thị trấn Quỳ Hợp và huyện Quỳ Hợp cùng nhân dân cả nước viết lên
Trang 19trang sử vẻ vang trong quá trình giữ nước đó là di sản quý báu Truyền thốngđó vừa là cơ sở, vừa là yếu tố tinh thần để nhân dân thị trấn Quỳ Hợp tiếp tụcphát triển mọi mặt trong đời sống xã hội ngày nay.
Với đặc thù là trung tâm kinh tế của huyện nên thương mại và dịch vụ,trồng hoa màu, cây công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thịtrấn Quỳ Hợp, nhân dân thị trấn Quỳ Hợp trồng các loại cây lương thực vàhoa màu như: ngô, khoai, sắn, lạc… Trồng các loại cây công nghiệp như: câymía, cây cam, cây chè
Ngoài trồng trọt, nhân dân thị trấn Quỳ Hợp còn đẩy mạnh chăn nuôigia suc như: trâu, bò, dê, lợn, gà, vịt… để cung cấp nguồn thực phẩm, sức kéovà phân bón cho đồng ruộng Cùng với sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi,Quỳ Hợp còn đẩy mạnh việc trồng cây lâu năm nhằm cung cấp cho cácnghành công nghiệp trong và ngoài tỉnh như: tre, nứa, keo, gỗ…
Các gia đình người Kinh, Thái, Thổ ở thị trấn Quỳ Hợp đều biết làmmột số nghề thủ công Hầu hết đàn ông đều biết làm nhà, đan lát, làm đồ dùngcho nghề lua nước, làm lua nước, khai thác lâm sản, đánh cá Một số biết sốbiết làm đồ gốm, rèn sắt, làm đồ trang sức, làm nỏ, sung kíp… phụ nữ biếtlàm nghề dệt vải, dệt thổ cẩm…
Chợ phiên là nơi giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng đã có từ xưa,như chợ Định thị trấn Ngày nay kinh tế, thương mại và dịch vụ phát triển,đưa thị trấn Quỳ Hợp xứng đáng là trung tâm thương mại lớn nhất cả huyện
Đặc điểm dân cư: từ năm 1960 trở về trước, vùng đất thuộc thị trấnhiện nay rất hoang vu và rậm rạp Vị trí trung tâm thị trấn luc bấy giờ còn làvùng trũng, tên gọi là Tủng khoỏng (nay là hồ Thung Mây)
Vào giữa thế kỉ XX khu vực Tủng Khoỏng và cả địa bàn thị trấn QuỳHợp vẫn chưa có người cư tru Rừng nui với nhiều loại cây quý hiếm phủ dày,che chở cho động vật hoang dã nơi đây Trong số những động vật này cónhiều loại được ghi trong sách đỏ của Việt Nam
Trang 20Mãi đến năm 1960, một số đồng bào ở bản Tổng Hốc và bản Điếmthuộc xã Châu Đình qua làm rẫy Đến đây ta thấy có suối Tạt Lạn chảy từ PhảChón ra vỡ hoang một đám ruộng nhỏ mà sau này gọi là Na Buộc Mư gầnruộng Na Lưm của bản Tồng Hốc Luc đầu, đồng bào làm choi để canh giữhoa màu, sau đó, một số hộ sang ở, dần dàn hình thành một bản nhỏ, độ dăm
ba nóc nhà, gọi là bản Na Lưm Bản Na Lưm ở phía sau UBND huyện QuỳHợp luc bấy giờ
Năm 1960, có một số hộ ở chợ Bãi vào làm lán tạm tru để khai thác củi,nứa Năm 1961 tỉnh Nghệ An có chủ trương điều 500 đoàn viên,thanh niên ởmiền xuôi gồm các huyện: Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, HưngNguyên… lên Quỳ Hợp để khai thác vùng kinh tế mới Nông trang 12 - 9gồm có 5 đội: 3 đội ở địa bàn Thị trấn, đó là đội 12 - 9 Hai, đội 12 - 9 Ba, vàđội 12 - 9 Bốn Đội 12 - 9 Một ở Châu Đình và đội 12 - 9 Năm ở ChâuQuang Cứ thế, theo thời gian, người đến đây sinh cơ lập nghiệp ngày mộtđông Cửa hàng bách hóa, cửa hàng lương thực, cửa hàng thực phẩm, cửahàng ăn uống… lần lượt ra đời Tất cả cửa hàng này đều nằm trong xã KhủnTinh cũ và do UBND huyện Quỳ Hợp quản lý
Đến năm 1963, từ lâm trường Khủn Tinh chuyển thành lâm trường QuỳHợp, các công nhân được công ty công nghiệp rừng sông Hiếu điều động vềlâm trường Quỳ Hợp để cùng với tổng đội công trình công nghiệp rừng sônghiếu làm đường chuẩn bị cho việc khai thác gỗ
Năm 1964, Đảng và nhà nước có chủ trương kêu gọi kiểu bào về nước.Trong thời gian này, kiều bào ở Thái Lan về vùng đất thị trấn Quỳ Hợp (saunày gọi là xám Liên Châu) Cũng năm 1964, tỉnh Nghệ An có chủ trương đưangười miền xuôi lên định cư khai hoang vùng đất này, từ đây mới bắt đầuhình thành cư dân thị trấn Quỳ Hợp
Năm 1973, sau thất bại nặng nề trên các chiến trường buộc đế quốc MĩPhải rut quân về nước Đầu năm 1974, nhận thấy đây là địa bàn có tính chiến
Trang 21lược, rất thích hợp cho việc xây dựng trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa,quốc phòng của huyện, các đồng chí lãnh đạo của huyện đã bàn bạc, thốngnhất và trình lên Ban chấp hành Huyện ủy ra nghị quyết thành lập trung tâmcủa huyện Quỳ Hợp Nghị quyết của Huyện ủy được Hội đồng nhân dânhuyện Quỳ Hợp tán thành Năm 1975, gần 4000 thanh niên nam nữ thuộc các
cơ quan, công, nông, lâm, xí nghiệp và các xã trong huyện làm lễ ra quân,khai phá, cải tạo vùng đầm Tủng Khoỏng để xây dựng trung tâm huyện QuỳHợp Riêng bãi lầy của Tủng Khoỏng được đào vét, sữa sang lại thành một hồnước đẹp đẽ, sạch sẽ
Sau khi đã hoàn thành mặt bằng, quy hoạch xây dựng đường phố,cơcấu tổ chức các cơ quan của đảng, chính quyền và các đoàn thể, quy hoachdân cư và quy hoạch xây dựng cơ sở vật chất ban đầu được tiến hành Tiến độxây dựng cơ sở vật chất được đẩy mạnh hơn khi chính phủ có Quyết định chothành lập thị trấn
Ngày 9.11.1983, thị trấn Quỳ Hợp được thành lập theo quyết định số
128 - ngày 9.11.1983 của HĐBT Luc thành lập thị trấn chỉ có một Hợp tác xãnông nghiệp Quang Thắng với 3 đội sản xuất nông nghiệp được phân thành 6xóm theo thứ tự từ xóm 1 đến xóm 6, với dân số gồm 169 hộ,977 người (chủyếu là người Kinh và người Thái) Đến ngày 31.12.2001, sau khi đã trải quanhiều lần thay đổi đơn vị xóm, thị trấn Quỳ Hợp chính thức có 20 khối xóm,với 11.026 nhân khẩu (trong đó có 519 người Thái) Đến nay (2012) có 2.924hộ với 12,452 nhân khẩu (trong đó, nữ có 6.544 người chiếm tỉ lệ 52,55 %dânsố), có 8.116 người trong độ tuổi lao động (lao động nữ có 4.040 người,chiếm tỉ lệ 51 %) [4; 17]
Dân số thị trấn Quỳ Hợp hội tụ các miền Bắc, Trung, Nam về đây lậpnghiệp, chủ yếu là các cán bộ, công nhân viên chức chiếm 2/3, số còn lại làtiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, may mặc, sữa chữa cơ khí,…, một
Trang 22số ít làm sản xuât nông nghiệp thuộc nông trang 12 - 9 Ngoài ra, còn có cánbộ, công nhân, nhân viên của các cơ quan kinh tế, xí nghiệp như: công ty Kimloại màu Nghệ Tĩnh, Mỏ thiếc Quỳ Hợp, xí nghiệp quặng thiếc, xưởng cơ khí,xí nghiệp hóa chất, nhà máy nước sạch,cơ quan liên doanh khai thác đá ViệtNhật… ngoài lâm trường Quỳ Hợp, sự có mặt của công Kim loại màu NghệTĩnh đã làm thay đổi cơ cấu dân cư của thị trấn Quỳ Hợp Số lượng côngnhân có luc lên đến 2.500 người vào những năm 1985, 1987 Hiện nay cóngười dã chuyển đi nơi khác, có người đang công tác, có người đã nghỉ hưu.
Nhìn chung, lực lượng lao động ở thị trấn Quỳ Hợp khá đông, có sứckhỏe và chủ yếu là lực lượng công nhân, viên chức làm công ăn lương,vàcông nhân trong các nhà máy xí nghiệp đóng trên địa bàn
So với các xã khác ở Quỳ Hợp, thị trấn Quỳ Hợp có lượng người Kinhvào loại đông, chiếm đến 99% dân số của thị trấn Trong đại gia đình các dântộc ít người ở Quỳ Hợp, Thái là dân tộc có số lượng đông nhất so với tổng sốdân các dân tộc thiểu số ở Quỳ Hợp và chiếm 37,58% so với tổng dân số củatoàn huyện dân tộc Thổ chiếm 13,34% dân số toàn huyện Tuy nhiên ngườiThái và người Thổ ở thị trấn Quỳ Hợp chỉ chiếm từ 30 - 40 hộ dân mà thôi
Người Thái ở Quỳ Hợp có hai nhóm chính: Tày Mường, và Tày Thanh.Những người Thái ở thị trấn Quỳ Hợp tổ tiên của họ có nguồn gốc từ nhómTày mường di cư từ Vân Nam (Trung Quốc) qua Lào sang Thanh Hóa rồixuống Nghệ An (khoảng 300 năm trước đây) [23; 5]
Người Thổ ở Quỳ Hợp (cũng như Nghĩa Đàn, Tân Kì) đa số là ngườiKinh rồi đến gốc Mường, gốc Thái
Người Thái, người Thổ ở thị trấn Quỳ Hợp chủ yếu là các cán bộ côngnhân viên chức nghỉ hưu, nhỏ lẻ đang sinh sống và làm việc trên địa bàn thịtrấn Các hộ người Thái và người Thổ ở thị trấn không nhiều,họ sống trải đềukhắp 20 khối xóm của thị trấn, họ sống hòa đồng với người Kinh, cùng đilại,sinh hoạt và làm việc theo ngành nghề và địa bàn cư tru
Trang 23Người Kinh ở thị trấn Quỳ Hợp cũng giống như các địa phương kháctrong cả nước đều có tục thờ cung tổ tiên Trong mỗi gia đình đều dành chỗsang trọng nhất làm nơi thờ cung tổ tiên Cũng giống như người Kinh, ngườiThái cũng coi trọng việc thờ cung tổ tiên Mỗi gia đình đều đặt bàn thờ ở nơitrang trong nhất, ngày mất của ông bà,cha mẹ,tổ tiên được coi là ngày kiêngkỵ: kiêng đi xa, kiêng làm nhà, cưới hỏi, liên hoan, người Thái coi đó là nhàđể tưởng nhớ đến công ơn của các vị tổ tiên đã khuất Vì lẽ đó mà người Tháirất chu đáo trong việc bày đặt các lễ vật, lựa chọn các loại đồ thờ cung Ngàytết của người Kinh, Thái, Thổ ở thị trấn Quỳ Hợp là ngày đoàn tụ gia đình,mọi người cùng nhau chuc mừng năm mới Người Thái thường tổ chức lễ hội
“sấm ra”khi có tiếng sấm đầu mùa xuất hiện Lễ hội thể hiện quan niệm biết
ơn trời đất, mong ước cho mùa màng bột thu, cuộc sống no đủ
Ngoài những tín ngưỡng ở trên, người Thái Thị trấn vẫn còn giữ đượctập quán uống nước chè xanh, uống rượu cần
Ngày nay, sự giao thao văn hóa giữa người Thái, người Kinh, người Thổ
ở thị trấn được thể hiện rất đậm nét, đa dạng, người Kinh cũng như người Tháiđều hướng đến mục tiêu làm cho cuộc sống ngày một phồn vinh và hạnh phuc
Về văn hóa dân gian: văn hóa nghệ thuật của người Thái ở Thị trấncũng phong phu và đa dạng như người Kinh: đa dạng về thể loại trữ tình, dầytính nghệ thuật Về thể loại có Nhuôn, Khắp, suốt, ví,… các trò chơi dân giannhư: chơi đu, kéo co, ném còn, nhảy sạp, bắn cung, khắc luống…
Ngày nay các cộng đồng dân cư của thị trấn đều cùng nhau xây dựngcác mối quan hệ xã hội, quan hệ hôn nhân và gia đình theo tiêu chí của nềnvăn hóa mới trên cơ sở tự do, bình đẳng Mọi công dân đều sống trong mốiquan hệ khối xóm thân mật và gần gũi Đảng, chính quyền và nhân dân và cácmặt trận luôn phấn đấu vì một xã hội văn minh, mọi người dân đều đượcchăm sóc tốt về vật chất và tinh thần
Trang 241.2 Tình hình kinh tế - xã hội Thị trấn Quỳ Hợp trước năm 1986
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, mà đỉnh cao là chiếndịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thuc cuộc kháng chiến chống Mỹ trường kìcủa dân tộc ta, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước Cách mạng nước
ta bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn đất nước độc lập, thống nhất, tiếnlên chủ nghĩa xã hội
Phấn khởi và tự hào trước những thắng lợi của dân tộc, thực hiện cácchỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của tỉnh, đảng bộ và nhân dân các dân tộchuyện Quỳ Hợp nói chung và nhân dân thị trấn Quỳ Hợp nói riêng đã hănghái, bắt tay vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, góp phần cùng nhândân huyện Quỳ Hợp thu được nhiều thành tựu trong công cuộc xây dựng vàbảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Ngày 25.4.1976, cùng với cử tri của cả nuớc, nhân dân thị trấn đã nônức tham gia cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội Tháng 12.1976, đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng được tổ chức Đại hội quyết định đổi tênnước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đổi tên Đảng thành Đảngcộng sản Việt Nam, khẳng định đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cảnước Đường lối này được thực hiện bằng chủ trương thực hiện kế hoạch nhànước năm năm lần thứ hai 1976 - 1980
Để xác định mục tiêu, phương hướng cũng như biện pháp lãnh đạotrong tình hình mới, qua các kỳ đại hội Đảng bộ huyện Quỳ Hợp từ khóa 9đến khóa 12 đã tiếp thu, tổng hợp ý kiến của các đại biểu, từ đó đề ra phươnghướng công tắc mới nhằm phát huy những thành tích đã đạt được, khắc phụcnhững khó khăn,đưa Quỳ Hợp từng bước đi lên
Thực hiện mục tiêu của Đại hội Đảng lần thứ IV và Đại hội Đảng bộhuyện Quỳ Hợp, cán bộ Đảng và nhân dân thị trấn Quỳ Hợp bắt tay vào côngcuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng cơ sở vật
Trang 25chất ban đầu cho chủ nghĩa xã hội với tinh thần “tất cả cho sản xuất,tất cả đểxây dựng chủ nghĩa xã hội, tất cả vì tổ quốc giầu mạnh, vì hạnh phuc củanhân dân.”
Với quyết tâm và nỗ lực của toàn thể cán bộ đảng viên và nhân dân thịtrấn trong giai đoạn 1976 - 1985, nhân dân thị trấn đạt được một số kết quảnhất định trên tất cả các lĩnh vực
1.2.1 Tình hình kinh tế
Ngay sau khi Thị trấn đươc thành lập, Đảng bộ thị trấn đã lãnh đạonhân dân xây dựng kinh tế
Nông nghiệp:
Thời kì thực hiện Kế hoạch Nhà nước năm năm lần thứ II (1976-1980), tuy có đạt được một số thành tựu nhất định nhưng cả nước nói chungvà Quỳ Hợp nói riêng vẫn nảy sinh nhiều bất cập Đó là sự mâu thuẫn giữaquy mô hợp tác xã toàn xã với năng lực quản lý của Ban quản trị dẫn đến sựbất cập của cơ chế quản lý sản xuất và phân phối trong các hợp tác xã Mặtkhác, giai đoạn này do sự cấm vận của Mỹ việc kéo dài cơ chế bao cấp khiếncho đời sống của mọi tầng lớp nhân dân nói chung hết sứ khó khăn Nền kinhtế thị trưởng đang có ở miền Nam lại đang trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt độngkinh tế của cả nước Một trong những tiêu cực nảy sinh là sự bất hợp lý trongviệc phân chia sản phẩm cua hợp tác xã theo công điểm và sự phân phối cáchàng hóa, nhất là các mặt hàng thiết yếu trong hệ thống thương nghiệp Tất cảnhững điều đó ảnh hưởng lớn đên tư tưởng của người nông dân khiến nhiềungười không còn mặn mà với đồng ruộng
Để giải quyết tình trạng trên, sau khi làm thí điểm ở một số nơi, ngày13.1.1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị 100 về khoán sản phẩmcuối cùng đến nhóm và người lao động trong nông nghiệp Cơ chế quản lýmới trong nông nghiệp của Đảng đã góp phần tháo gỡ sự bế tắc trong tình
Trang 26hình sản xuất nông nghiệp ở nước ta Chỉ thị 100 ra đời đã phát huy đượctinh thần làm chủ của người nông dân, lợi ích giữa nhà nước - tập thể -người lao động được đảm bảo hơn trước Do đó, đã thu hut sự hưởng ứngcủa đông đảo bà con nhân dân Đây là nhân tố mới thuc đẩy sự phát triểncủa sản xuất nông nghiệp.
Cuối tháng 3.1982, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảngđược tổ chức tại thủ đô Hà Nội Đại hội đã tập trung đánh giá và rut ra nhiềubài học về quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn 1976- 1980đồng thời xác định rõ đường lối kinh tế trong thời giai tới
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V thành công, toàn Đảng, toàn quânhăng hái đưa nghị quyết Đại hội vào cuộc sống Ở Quỳ Hợp, Đại hội đảng bộhuyện Quỳ Hợp lần thứ XII được tiến hành vào đầu năm 1982 đã đề raphương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1983 - 1985 với mục tiêu là:
“Phải tập trung vào mặt trận hàng đầu là sản xuất nông nghiệp, giải quyết
vấn đề lương thực, thực phẩm trải trên địa bàn huyện…, có hàng tiêu dùng thiết yếu,và hàng xuất khẩu khá hơn, nhanh chóng tạo ra vành đai thực phẩm, đáp ứng nhu cầu của khu công nghiệp phát triển, từ đó mà chăm lo tốt cho đời sống của nhân dân” (trích văn kiện đại hội) [4; 62].
Tháng 3 năm 1984, Đại hội Đảng bộ thị trấn lần thứ nhất nhiệm kỳ
1984 - 1987 được tổ chức với sự tham tham dự của 90 đảng viên trong toànthị trấn Đại hội đã đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1984-
1987 của toàn thị trấn theo tinh thần Nghị quyết lần thứ XII của huyện QuỳHợp là: tập trung vào mặt trận hàng đầu là sản xuất nông nghiệp, giải quyếtvấn đề lương thực, thực phẩm trên địa bàn thị trấn và chăm lo tốt đời sống củanhân dân
Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, nhân dân thị trấn đã tổ chức nhiều cuộchọp cấp Thị, hợp tác xã đến các đội sản xuất nhằm quán triệt những nội dung,
Trang 27mục đích và yêu cầu của chỉ thị 100 về khoán sản phẩm đến nhóm và ngườilao động trong nông nghiệp Đồng thời, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức cho phùhợp với yêu cầu tình hình mới.
Trong quá trình tiến hành khoán sản phẩm trong nông nghiệp, các hợptác xã ở thị trấn đã nghiêm tuc thực hiện 8 khâu trong quá trình sản xuất.Trong đó 5 khâu thuộc về trách nhiệm dầu tư của hợp tác xã đó là: giống,phân bón, làm đất, phòng bệnh trừ sâu bệnh, thủy lợi; 3 khâu do người laođộng thực hiện đó là: gieo trồng, chăm bón, cuối cùng là thu hoạch và giaonộp sản phẩm theo định mức Hợp tác xã định trước lượng giống, phân bón,thuốc trừ sâu bệnh trên từng loại cây trồng và từng loại đất cụ thể Ngoài ra,thị trấn khuyến khích bà con khai hoang, mở rộng diện tích trên những vùngđất hoang hóa, đồi nui mà không phải nộp sản phẩm trong một thời gian nấtđịnh để tăng thu nhập Do vậy, đã tạo được sự phấn khởi cho người dân
Trước khi thực hiện cơ chế khoán mới, các Hợp tác xã sản xuất nôngnghiệp chỉ huy động được 60 -70 % lao động chính váo sản xuất tập thể vớithời gian 5 đến 6 giờ/ngày, chất lượng và năng suất lao động thấp Việc thựchiện cơ chế khoán theo Chỉ thị 100 cùng với việc ổn định nghĩa vụ đóng gópvà thu mua theo hợp đồng 2 chiều và giá thỏa thuận đã kết hợp hài hào lợi íchcá nhân, lợi ích tập thể và nhà nước Người lao động phấn khởi làm việckhông kể giờ giấc và quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, hiệu quả công việc.Cùng với việc thực hiện các chủ trương trên, việc điều chỉnh quy mô hợp tácxã và đội sản xuất cho hợp lý cũng được tiến hành tích cực, làm cho cán bộquản lý hợp tác xã và các đội trưởng có điều kiện bám sát đồng ruộng để chỉđạo, hướng dẫn xã viên sản xuất tốt hơn Các hộ xã viên nhận khoán sảnphẩm đã phát huy được quyền làm chủ kinh tế của mình, chủ động trong sảnxuất vừa hoàn thành vượt mức nhiệm vụ nhận khoán với hợp tác xã vừa tíchcực phát triển kinh tế gia đình theo khả năng của mình khi tiếp cận thị trường
Trang 28Chăn nuôi
Bên cạnh những chuyển biến về trồng trọt, phong trào chăn nuôi cũngcó những bước phát triển mới, đặc biệt là chăn nuôi hộ gia đình So với nhữngnăm trước, đàn gia suc, gia cầm đều tăng
Chăn nuôi từng bước trở thành ngành chính trong nông nghiệp Thị trấnđã đẩy mạnh một bước việc cải tạo giống lợn trên nền lợn Móng Cái và phổbiến cách chăm sóc mang lại hiệu quả kinh tế cao Hàng năm, công tác chovật nuôi được tổ chức tốt nên hạn chế được dịch bệnh, bảo vệ và nâng cao sựtăng trưởng cho trâu, bò, lợn, gà,… Do đó, số lượng đàn gia suc, gia cầm liêntục tăng
Về sản xuất tiểu công nghiệp: Huyện ủy đã ra các Nghị quyết 14, 21 vềphát triển công nghiệp và điều chỉnh quy mô các hợp tác xã nông nghiệp Khuvực thị trấn đã xuất hiện gạch, ngói và sản xuất vôi… đã đáp ứng được nhucầu xây dựng cơ bản, phục vụ sản xuất và đời sống Nhiều hộ gia đình đầu tưvốn để mua sắm các phương tiện như ô tô vận tải, cưa xẻ, xay xát, sản xuấtgạch ngói, nung vôi, sản xuất chế biến nông sản [4; 53]
1.2.2 Tình hình xã hội
Văn hóa, giáo dục: Tuy đời sống kinh tế địa phương tăng trưởng chưa
cao, nhưng hoạt động văn hóa, giáo dục vẫn duy trì dều đặn Trong các xómngười dân vẫn giữ nếp sống cũng như các phong trào tập quán của ông cha tatrước đây Việc cưới,việc tang, mừng nhà mới… được tiến hành đơn giảnkhông tốn kém Tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau được phát huy NgườiKinh hay người Thái, người Thổ đều sống bình đẳng, chan hòa, yêu thươngnhau,cùng góp sức xây dựng quê hương ngày càng phát triển
Giáo dục tiếp tục được phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng Chấtlượng dạy và học đứng tốp đầu của cả huyện Tỷ lệ học sinh đậu tốt nghiệpđạt 90 - 95%.Số học sinh học trung học phổ thông hàng năm tăng Năm 1983
Trang 29trường Mẫu giáo thị trấn được thành lập trên cơ sở tách ra từ trường mẫu giáoChâu Quang 1 và các nhà trẻ trực thuộc các đơn vị xí nghiệp như: nhà trẻ cửahàng ăn uống, nhà trẻ thương nghiệp; nhà trẻ bệnh viện, nhà trẻ lâm trường…Những năm đầu thành lập các nhà trẻ không có hiệu trưởng chỉ có chủ nhiệmnhà trẻ Hiệu trưởng đầu tiên của trường mẫu giáo Thị trấn là bà Nguyễn thịHòa, bà Hoàng Thị Sâm làm phó hiệu trưởng Từ khi thành lập trưởng mẫugiáo thị trấn luôn thực hiện tốt chương trình 26 tuần cho trẻ mẫu giáo để chămsóc và giáo dục trẻ tuổi mẫu giáo Cũng trong năm 1983 trường cấp I và cấp
II thị trấn cũng được tách ra từ trường cấp I,cấp II Châu Quang, chính thứcchăm lo công tác giáo dục trên địa bàn thị trấn Sự phát triển của hệ thốnggiáo dục trong năm 1984 đến 1985 trong khi tình hình kinh tế đang khó khănchồng chất là bằng chứng phản ánh tinh thần hiếu học của người dân thị trấn.Đồng thời thể hiện sự quan tâm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thịtrấn tới sự nghiệp “trồng người” Tuy nhiên giáo dục thị trấn giai đoạn nayvẫn còn nhiều hạn chế như: số lượng giáo viên đạt chuẩn còn thấp, chất lượngmũi nhọn cũng như số lượng học sinh giỏi cấp huyện,cấp tỉnh còn ít, thị trấnvừa mới thành lập không lâu nên sự quân tâm và đầu tư cho sự nghiệp giáodục có mức độ vừa phải, cơ sở phòng học và trang thiết bị còn thiếu, đời sốngcủa giáo viên gặp nhiều khó khăn đã ảnh hưởng không đến tư tưởng và chấtlượng dạy học
Về hoạt động thể dục thể thao: huyện Quỳ Hợp thường tổ chức thi đấubóng đá, bóng chuyển giữa các địa phương Hưởng ứng hội thi hàng năm củahuyện, phong trào luyện tập bóng đá, bóng chuyển ở các địa phương cơ sởthuộc khu vực thị trấn ngày càng diễn ra sôi nổi hơn
Công tác y tế, dân số và kế hoạch hóa gia đình cũng đã có nhữngchuyển biến tích cực Dựa vào nguồn kinh phí của địa phương, xã đã đầu tư,sữa chữa, xây thêm một số phòng làm việc cũng như đầu tư thêm trang thiết
Trang 30bị cho trạm xá Được sự quan tâm của Đảng ủy và Uỷ ban nhân dân xã ChâuQuang, các y, bác sỹ đã không ngừng được học tập, nâng cao tay nghề gópphần vào công tác chăm lo sức khỏe ban đầu cho nhân dân Hoạt động vệ sinhphòng bệnh được toàn dân tích cực hưởng ứng Một số dịch bệnh được ngănchặn kịp thời Đội ngũ cán bộ y tế có trình độ chuyên môn từ y tá đến bác sỹcho Trạm xá được tăng cường đảm bảo công tác khám và điều trị cho bệnhnhân Cuộc vận động kế hoạch hóa gia đình được triển khai từ giữa năm
1984, tuy chưa thực sự đạt hiệu quả cao, tỷ lệ dân số hàng năm vẫn cao nhưngTrạm xá đã tiến hành đặt vòng tránh thai cho nhiều chị em phụ nữ
Các đoàn thể quần chung được củng cố và hoạt động có hiệu quả Hộiphụ nữ đảm nhiệm vai trò vận động chị em sinh đẻ có kế hoạch, nuôi conkhỏe, dạy con ngoan, tham gia các hoạt động xã hội, phòng chống các tệ nạnxã hội Đoàn thanh niên trở thành lực lượng xung kích trong mọi hoạt độngcủa địa phương, từ các chiến dịch thủy lợi đến khắc phục hậu quả thiên tai,đoàn thanh niên đều phát huy vai trò của mình Các lớp đối tượng đoàn, côngtác kết nạp đoàn viên mới giới thiệu đoàn viên ưu tu cho Đảng được tổ chứcthường xuyên Mặt trận tổ quốc là trung tâm của khối đại đoàn kết toàn dânđã phát động nhiều phong trào lao động sản xuất, xây dựng đời sống văn hóamới, vận động nhân dân tích cực thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế xãhội của địa phương Công tác xây dựng Đảng luôn được chu trọng, việc giớithiệu đoàn viên ưu tu cho Đảng vẫn được tiến hành nhưng than trọng hơn bởigiai đoạn này còn nhiều biến động xã hội nên tư tưởng của một bộ phận đảngviên và nhân dân lao động dễ bị dao động, đặc biệt là sau khủng hoảng về giá-lương-tiền [4; 55]
Tiểu kết chương 1
Đảng bộ và chính quyền thị trấn đã tranh thủ| sự lãnh đạo của huyện ủy,sự chỉ đạo, hướng dẫn của các ban ngành huyện trong việc phát triển kinh tế -
Trang 31xã hội, ổn định đời sống nhân dân, hoàn thành nghĩa vụ nhà nước, giữ vững
an ninh chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội là những tiền đề quan trọngđể thị trấn Quỳ Hợp tiếp tục đi lên trong những năm tiếp theo
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Đảng bộ và nhân dân thị trấnvẫn còn nhiều hạn chế trong phát triển kinh tế - xã hội Yếu kém trong việcthực hiện cơ chế khoán mới trong nông nghiệp Luc đầu do các cấp ủy Đảng,chính quyền và cán bộ quản lý của Hợp tác xã chưa chuyển biến kịp về nhậnthức, tư tương, lại thiếu kinh nghiệm thực tế nên công việc triển khai cònchậm Khi chuyển hướng sang tổ chức và cách quản lý mới thì phương hướngsản xuất, kinh doanh của hợp tác xã bị đảo lộn, Ban quản trị lung tung trongviệc điều hành áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất còn bị hạnchế Trình độ nhận thức, năng lực công tác của các cán bộ, Đảng viên chủathực sự theo kịp yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, một sốđảng viên tỏ ra thiếu gương mẫu, sa sut về phẩm chất, đạo đức Những hạnchế đó cùng với tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạpđã làm cho đời sống của nhân gặp nhiều khó khăn, một bộ phận nhân dângiảm sut lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng,chính quyền
Tình hình xã hội chuyển biến chậm, thị trấn Quỳ Hợp vẫn là một địaphương nghèo, cơ sở hạ tầng kém, trình độ dân trí chưa cao, lực lượng sảnxuất kém phát triển, lao động đơn giản, phân công lao động trong xã hội chưacó chuyển biến đáng kể, đời sống vật chất và tinh thần của người dân còn gặpnhiều khó khăn
Từ những đặc điểm kinh tế, xã hội với những thuận lợi và khó khăn đóđã có tác động trực tiếp đến kinh tế - xã hội trong thời kì đổi mới, thực hiệncông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đó là những thử thách đối với Đảngbộ và chính quyền địa phương cần khắc phục Bởi vậy trong giai đoạn tiếptheo việc lãnh đạo nhân dân vượt qua những khó khăn từng bước đưa kinh tế-xã hội phát triển đi lên cần giải quyết một số vấn đề:
Trang 32Lãnh đạo các phòng ban cần tổ chức một cách đồng bộ, cần chu trọngcông tác bồi dưỡng, đạo tạo đội ngũ cán bộ đặc biệt là cán bộ quản lý, có biệnpháp tích cực để củng cố phát triển kinh tế - xã hội.
Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, thâm canh cây lương thực, gắn vớiđổi mới cây trồng mùa vụ, đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất Kiên trì thựchiện chủ trương đổi mới cơ cấu cây trồng, đưa giống lua năng suất vào sảnxuất Phải phát triển gia suc, gia cầm ngang hàng với trồng trọt, chăn nuôitrâu bò phụ vụ sức kéo kết hợp với chăn nuôi gia suc sinh sản, lấy thịt
Phát triển và đẩy mạnh hơn nữa việc kinh doanh, dịch vụ để phục vụđầy đủ cho nhu cầu của người dân
Mặc dù còn nhiều hạn chế song những thành quả mà Đảng bộ và nhândân thị trấn Quỳ Hợp đạt được trong thời kì trước đổi mới đã tạo nên những
cơ sởcần thiết và quan trọng cho phép thị trấn tiếp tục bước vào thời kì đổimới Đó cũng là những thử thách lớn của Đảng bộ thị trấn trên con đường xâydựng quê hươngtheo đường lối đổi mới của Đảng trong giai đoạn tiếp theo
Trang 33Chương 2 CHUYỂN BIẾN KINH TẾ CỦA THỊ TRẤN QUỲ HỢP
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2013
2.1 Thị trấn Quỳ Hợp trong thời kì đổi mới đất nước
2.1.1 Bối cảnh lịch sử mới
Từ giữa những năm 1980 của thế kỉ XX, thế giới có những thay đổi vàbiến động lớn Đó là sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kĩthuật đã gây nên những tác động lớn, làm thay đổi mối quan hệ giữa cácnước, các nước tư bản như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật…, kịp thời điều chỉnh cơcấu sản xuất hợp lý và đẩy mạnh ứng dụng khoa học - kĩ thuật, nên đã vượtqua khủng hoảng và phát triển đi lên Trong khi đó cuộc khủng hoảng toàndiện vẫn tiếp tục diễn ra ở Liên Xô và các nước XHCN, sự khủng hoảng ngàycàng trầm trọng dẫn tới sự sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và sự tanrã của Liên Xô vào những năm cuối thấp kỉ 80, đầu thập kỉ 90 gây tác độngtiêu cực đến tình hình nước ta
Trải qua hai nhiệm kì đại hội IV và V của Đảng, thực hiện chủ trươngđường lối xây dựng xây dựng CNXH, nhân dân ta đã giành được nhiều thànhtựu to lớn, quan trọng đặt cơ sở bước đầu cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệtổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Điều đó được thể hiện trong toàn Đảng,toàn quân, toàn dân vừa làm, vừa tìm tòi thử nhiệm hướng đi mới Song cáchmạng Việt Nam gặp không ít những khó khăn, thử thách, sản xuất nôngnghiệp đạt năng suất thấp, nạn khan hiếm lượng thực diễn ra triên miên Sảnxuất nông nghiệp được nhà nước bao cấp nên luôn trong tình trạng “lãi giả, lỗthật” Cùng với hậu quả nặng nề của 30 năm chiến tranh đã làm cho đời sốngkinh tế của tầng lớp nhân dân giảm sut nghiêm trọng Sau thất bại của đợtđiều chỉnh giá - lương - tiền,đại đa số nhân dân không thể duy trì cách làm,
Trang 34cách nghĩ như trước nữa Đồng thời những cơ quan lãnh đạo nhà nước củaĐảng và Nhà nước cũng thấy rõ không thể tiếp tục duy trì những chủ trương,chính sách không còn phù hợp với thực tế.
Đứng trước tình hình đó, đổi mới là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối vớinước ta, đồng thời là vấn đề phù hợp với xu thế của thời đại với phương châm
“nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đung sự thật”, Đại hội toàn quốc lần thứ VIcủa Đảng cộng sản Việt Nam tháng 12/1986 đã đề ra đường lối đổi mới toàndiện nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, đi vào ổn định và phát triển.Đồng thời đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử quan trọng, mở đầu cho côngcuộc đổi mới toàn diện đất nước
2.1.2 Đường lối đổi mới của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ thị trấn Quỳ Hợp
Các hợp tác hóa nông nghiệp được xây dựng theo mô hình hợp tác hóa
- tập thể hóa đã không tạo ra được động lực thuc đẩy sản xuất phát triển Hạnchế cơ bản này đã bộc lộ ngay từ thời kì xây dựng thí điểm nhưng quá trìnhhợp tác hóa nông nghiệp vẫn được đẩy mạnh, thậm chí được phát động, đượctổ chức thực hiện như một phong trào cách mạng của quần chung trong chiếntranh cách mạng, việc tán thành và gia nhập hợp tác xã nông nghiệp khôngchỉ là biểu hiện của thái độ đồng tình với mô hình kinh tế mà được coi như ýthức chính trị của mỗi cá nhân đối với đường lối xây dựng XHCN của Đảng
Trong suốt thời kì tồn tại của mô hình hợp tác xã nông nghiệp, tập thểhóa, vấn đề cải tiến quản lý luôn luôn được đặt ra nhưng đều theo hướng mởrộng quy mô hợp tác xã, kết quả của công tác quản lý càng làm cho đặc trưngtập thể hóa của mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp đậm nét hơn và nhưvậy càng cải tiến, mô hình tổ chức sản xuất càng không phù hợp với trình độphát triển của lực lượng sản xuất
Xuất phát từ tình hình thực tế, và những đặc điểm kinh tế - xã hội củađất nước, trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh
Trang 35Việt Nam và những kinh nghiệm trong những năm đầu cả nước thống nhất đilên xây dựng CNXH, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra chủ trươngđổi mới nhằm mục đích ổn định, phát triển kinh tế xã hội, đưa đất nước thoátkhỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu.
Theo quan điểm của Đảng ta, đổi mới đất nước trong quá trình đi lênchủ nghĩa xã hội không phải là thay đổi mục tiêu của chủ nghĩa xã hội mà làmcho mục tiêu đó được thực hiện hiệu quả bằng những quan điểm đung đắn vềchủ nghĩa xã hội, với những hình thức, bước đi và biệ pháp thích hợp Đổimới toàn diện đồng bộ từ kinh tế, đến tư tưởng văn hóa xã hội Đổi mới kinhtế không thể đi đôi với đổi mới chính trị nhưng trọng tâm là đổi mới về kinhtế Đổi mới về chính trị phải tích cực nhưng vững chắc, mang lại kết quả thựctế, không gây mất ổn định chính trị, không làm phương hại đến toàn bộ côngviệc đổi mới
Phát triển kinh tế - xã hội theo quan điểm đổi mới ở Việt Nam là quátrình giải phóng sức lao động, khởi dật và phát huy mọi tiêm năng, động viênvà tạo điều kiện cho mọi người Việt Nam phát huy ý thức tự lực, tự cường,cầm kiệm và xây dựng bảo vệ tổ quốc, ra sức làm giàu cho mình và cho đấtnước Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinhtế, đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người
Giải quyết đung đắn các mối quan hệ về lợi ích, nhất là đảm bảo lợi íchchính đáng của người sản xuất, trước hết là đối với người trồng lua, khôngngừng cải thiện đời sống nhân dân lao động, góp phần tích lũy cho sự nghiệpxây dựng chủ nghĩa xã hội
Phát triển kinh tế - xã hội gắn với việc mở rộng dân chủ, đề cao phápchế, xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa
Trên cơ sở quán triệt chủ trương, đường lối đổi mới của Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ VI (1986) và Đại hội Đảng bộ huyện Quỳ Hợp lần thứ XIII
Trang 36Ban Thường vụ Đảng ủy thị trấn đã tổ chức Hội nghị học tập quán triệt Nghịquyết Đại hội Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ Tĩnh lần thứ XI,Nghị quyết Đảng bộ huyện Trên cơ sở đó xác định hướng đi, những mục tiêucụ thể, kế hoạch và những giải pháp để thực hiện thắng lợi đường lối đổi mớicủa Đảng.
Trên tinh thần đổi mới, trước hết là đổi mới về tư duy (nhất là tư duykinh tế), đổi mới tổ chứ và cán bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo, thực hiện bachương trình kinh tế (lương thực, thực phẩm, sản xuất các mặt hàng tiêu dùngvà sản xuất hàng xuất khẩu), quốc phòng, an ninh, văn hóa xã hội và công tácxây dựng Đảng
Đồng thời, Thường vụ Đảng ủy đánh giá đung việc thực hiện Chỉ thị
100 trong giai đoạn 1984 - 1985 và xây dựng phương án khoán gọn cho xãviên với 5 nguyên tắc: thực hiện đung nguyên tắc tài vụ, tư liệu sản xuất vớinội quy quản lý, kiểm kê, quyết toán công khai; thực hiện định mức kinh tế kỹthuật cây, con công khai từ đầu vụ; xác định rõ nhiệm vụ giữa Hợp tác xã -cán bộ - xã viên; quy định rõ lợi ích nhà nước - hợp tác xã - xã viên; thực hiệnhợp tác xã hợp đồng thanh toán đến hộ xã viên [4; 72]
Bên cạnh đó Đảng bộ thị trấn còn xác đinh kinh tế gia đình đóng vai tròquan trọng, lâu dài trong cơ cấu sản xuất nên cần được giứp đỡ, hướng dẫnphát triển đến từng hộ dân, việc khoán sản phẩm đến nhóm và người lao độngtrong nông nghiệp là một hình thức quản lý thích hợp vì khi khoán theo nhómngười lao động họ sễ tham gia vào sản xuất một cách tich cực hơn chứckhông còn ỷ lại như thời kỳ hợp tác hóa, vì thế năng suất và sản lượng tănghơn so với lối làm ăn cũ
Nhận thức rõ điều này, dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, Đảng bộ thịtrấn đã đi sâu tổng kết để phổ biến kinh nghiệm những điền hình tốt, phát huyvai trò điều hành, chỉ đạo của tập thể, phân bố lao động vào ngành nghề, sữa
Trang 37chữa ngay tình trạng ‘khoán trắng” bằng các biện pháp quản lý có hiệu quả từhợp tác xã và nhà nước, nhất là việc bảo đảm điều kiện sản xuất, cung ứng vật
tư, kĩ thuật và dịch vụ, đặc biệt coi trọng việc xây dựng định mức khoán hợplý giữa trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề và các dịch vụ khác để thuc đẩymạnh mẽ sự phân công hợp tác lao động trong từng cơ sở và từng khu vựckhối xóm
Đảng bộ thị trấn coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đẩy mạnh thâmcanh và phát triển nông nghiệp toàn diện, cùng với nông nghiệp việc pháttriển tiêu thủ công nghiệp và dịch vụ cũng được quan tâm đẩy mạnh, việc đầu
tư các cơ sở hạ tầng cũng được chu trọng hơn Xuất phát từ yêu cầu kháchquan của nền kinh tế huyện và thế mạnh của huyện, đòi hỏi Đảng bộ phải cósự chuyển hướng thực sự trong bố trí sản xuất, từ đó đổi mới cơ cấu đầu tư vànguồn lao động nhằm giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động
Sự vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng không chỉ thể hiện ởcác văn kiện của các Đại hội Đảng bộ của huyện Quỳ Hợp nói chung và củaĐảng bộ thị trấn nói riêng mà còn thể hiện ở các nghị quyết của Hội đồngnhân dân cấp huyện và thị trấn cùng các chương trình, đề án phát triển kinh tếcủa Đảng bộ thị trấn Quỳ Hợp
2.2 Chuyển biến kinh tế Thị trấn Quỳ Hợp từ 1986 đến 2013
2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sau 27 năm thực hiện đường lối đổi mới do đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ VI (12.1986) đề ra, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng Nềnkinh tế có sự tăng trưởng và phát triển mạnh Đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân được nâng cao, vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốctế và khu vực được cải thiện đáng kể
Cùng với xu hướng chung của cả nước, cơ cấu kinh tế của thị trấn QuỳHợp đã chuyển dịch theo hướng tích cực đung với chủ trương của Đảng và
Trang 38nhà nước trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn làgiảm tỷ trọng nhóm ngành nông - lâm - ngư nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp
- xây dựng và thương mại, du lịch và dịch vụ
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu kinh tế của Thị trấn Quỳ Hợp (cơ cấu %)
Trang 392.2.2 Nông nghiệp - lâm nghiệp
* Về nông nghiệp:
- Trồng trọt:
Thực tế của nền kinh tế nước ta cho thấy, nông nghiệp có vai trò cực kìquan trọng đối với công cuộc và bảo vệ tổ quốc Trong kháng chiến chốngxâm lược trước đây cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, mặc dù cònnhững vấp váp, sai lầm trong tổ chức chỉ đạo kinh tế nói chung và đối vớinông nghiệp nói riêng, song Đảng và Nhà nước ta luôn có những chủ trương,chính sách mới đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân
Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Trung ương và căn cứ vào thực tế địaphương, Đại hội Đảng bộ huyện Quỳ Hợp lần thứ XIII (25.9.1986) đã đề raphương hướng phát triển kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn 1986 - 1990.Ban Thường vụ Đảng ủy thị trấn đã họp hội nghị tổ chức học tập quán triệtnhững chủ trương chính sách của Đảng đó là: nêu cao tinh thần tự lực, tựcường, chủ động sáng tạo, khai thác tốt tiềm năng lao động, đất đai, ngànhnghề, cở sở vật chất, kĩ thuật Tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo sự phát triểnnông nghiệp toàn diện, khẳng định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu Pháttriển mạnh công nghiệp, thiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề để phục vụđắc lực cho nông nghiệp Trước hết giải quyết vững chắc vấn đề lương thực,thực phẩm
Thực hiện và triển khai có hiệu quả những chủ trương mang tính đổimới của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI (12.1986) và phươnghướng nhiệm vụ của huyện Quỳ Hợp (25.9.1986) Đảng bộ thị trấn đã xácđịnh rõ phương hướng của thị trấn trong thời kỳ này là tập trung mọi khảnăng vào nhiệm vụ hàng đầu là phát triển nông nghiệp toàn diện, ra sức thâmcanh lua vừa mở rộng sản xuất màu để có đủ lượng thực đảm bảo nhu cầu ăncủa nhân dân và có một phần dự trữ
Trang 40Sau hai năm thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng do Đại hội VI đề
ra về cơ bản ngành trồng trọt vẫn mang tính độc canh cây lua Trước tình hìnhnhư vậy ngày 5.4.1988, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp để đánh giá tìnhhình sản xuất nông nghiệp, đề ra nghị quyết 10 về đổi mới kinh tế nôngnghiệp Cơ chế khoán 10 ra đời Đây là bước đột phá thứ hai Sau khoán 10,tạo ra sự đổi mới căn bản và đồng bộ cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp.Trên cơ sở đánh giá toàn bộ kinh tế và quản lý nông nghiệp, chỉ ra nhữngnguyên nhân chủ quan và khách quan làm cho nông nghiệp trì trệ Nghị quyết
10 của Bộ chính trị đã xác định rõ, có hệ thống những việc đang cần đổi mớitrong quản lý kinh tế nông nghiệp
Nghị quyết cho rằng đổi mới kinh tế nông nghiệp phải đạt yêu cầu thựcsự giải phóng sức sản xuất gắn với việc sắp xếp tổ chức lại sản xuất với cảitạo xẫ hội chủ nghĩa, tăng cường cơ sở vật chất, kĩ thuật, đưa kĩ thuật tiến bộvào sản xuất nông nghiệp Phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinhtế, các vùng, các ngành Từng bước đủa nông nghiệp sản xuất lớn xã hội chủnghĩa nhằm giải quyết nhu cầu cơ bản về lương thực,thực phẩm, tăng thêmnguyên liệu cho công nghiệp, phục vụ tốt ba chương trình kinh tế lớn, lươngthực,thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu, xâydựng và bảo vệ môi trường sinh thái, không ngừng mở rộng thị trường nôngthôn công nghiệp phất triển, gắn công nghiệp với nông nghiệp và giao thôngvận tải thành cơ cấu kinh tế thống nhất Giải quyết đung đắn các mối quan hệ
về lợi ích, nhất là đảm bảo lợi ích chính đáng của người sản xuất, trước hết làđối với người trồng lua, không ngừng cải thiện đời sống nhân dân lao động,góp phần tích lũy cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Mở rộng dân chủ,
đề cao pháp chế, xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa [14; 7]
Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã tiến một bước dài trong việc định lạivị trí kinh tế hộ gia đình và vai trò, quyền lợi của người lao động trong hệ liên