Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh ---oOo---Trần thị thủy phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 10 qua khảo sát ở trờng thpt chuyê
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
-oOo -Trần thị thủy
phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh
trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 10
(qua khảo sát ở trờng thpt chuyên phan bội
Trang 21.1 Xuất phát từ mục tiêu, nội dung chơng trình môn GDCD lớp10 8
1.3 Xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lợng dạy học môn GDCD vàthực trạng dạy học môn GDCD lớp 10 ở trờng THPT chuyên PhanBội Châu
19
Chơng 2: Thực nghiệm và giải pháp nhằm phát huy tính chủ
động, sáng tạo của học sinh trong dạy học môn GDCD lớp 10 ở ờng THPT chuyên Phan Bội Châu
tr-34
2.4 Các giải pháp nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinhtrong quá trình dạy học môn GDCD lớp 10
54
Trang 3Danh môc Nh÷ng tõ viÕt t¾t
Trang 4Lời cảm ơn
Với tình cảm chân thành nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo khoa Giáo dục Chính trị Trờng Đại học Vinh đã tận tình truyền đạt những tri thức quý báu, dìu dắt giúp đỡ tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ của khóa học.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thái Sơn, Phó khoa Giáo dục chính trị, Trờng Đại học Vinh, đã tận tâm giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hớng dẫn, đóng góp ý kiến quý báu cho tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Đào tạo Sau đại học Tr ờng Đại học Vinh, tập thể Hội đồng s phạm Trờng THPT chuyên Phan Bội Châu, bạn bè,
đồng nghiệp, học sinh, gia đình và ngời thân đã động viên, giúp đỡ và tạo
điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học và hoàn thành tốt luận văn của mình.
Vinh, tháng 12 năm 2009
Tác giả
Trần Thị Thủy
a Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc đang bớc vào giai
đoạn khẩn trơng, để đẩy nhanh tiến độ và đạt hiệu quả cao, đòi hỏi phải cónhững con ngời bản lĩnh, có năng lực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm.Ngời có học vấn hiện đại không chỉ lấy ra từ trí nhớ các tri thức dới dạng cósẵn đã lĩnh hội đợc trên ghế nhà trờng, mà còn phải có khả năng chiếm lĩnh,
sử dụng các tri thức mới một cách độc lập, có năng lực đánh giá các sự kiện,hiện tợng mới, các thông tin một cách thông minh, sáng suốt khi gặp trongcuộc sống, trong lao động và trong quan hệ với mọi ngời Nếu chúng ta vẫnduy trì cách học cũ theo lối “đọc – chép” một cách thụ động, thì chắc sảnphẩm của giáo dục sẽ khó đạt đợc yêu cầu trên
Điều 28, chơng II – Luật Giáo dục 2005 đã chỉ rõ: “Phơng pháp giáodục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học
Trang 5sinh: phù hợp với đặc điểm từng lớp học, từng môn học; bồi dỡng khả năng tựhọc, khả năng tự làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thứcvào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập chohọc sinh”[26; 17] Để thực hiện mục tiêu đó, đòi hỏi PPDH của tất cả các mônhọc phải phát huy đợc tính chủ động, sáng tạo của HS.
GDCD là môn học có vai trò quan trọng trong việc hình thành thế giớiquan, phơng pháp luận khoa học; giáo dục đạo đức lối sống; truyền đạt cáckiến thức kinh tế – xã hội, chủ trơng chính sách, pháp luật của nhà nớc Đây
là những tri thức đặc biệt quan trọng hình thành nên phẩm chất của con ngờimới xã hội chủ nghĩa
GDCD lớp 10 là một chơng trình với nhiều nội dung khó, trừu tợng, cótính thực tiễn cao: bao gồm những kiến thức cơ bản nhất của triết học Mác -Lênin trong phần: “Công dân với việc hình thành thế giới quan phơng phápluận khoa học” và các quan niệm, chuẩn mực đạo đức xã hội chủ nghĩa trongphần: “Công dân với đạo đức” Lợng kiến thức lớn đó chỉ đợc học trong 45phút mỗi tuần, nên rất khó để HS có thể tiếp thu và vận dụng vào thực tiễn nếukhông đổi mới cả cách dạy và học trên nhà trờng Vậy nên, không khó để giảithích vì sao hiện nay, phần lớn HS rất thiếu hiểu biết và thụ động khi nhìnnhận, đánh giá những sự việc, hiện tợng xảy ra trong đời sống Hơn nữa, mộtthực tế diễn ra hiện nay mà xã hội rất quan tâm là có rất nhiều HS, đặc biệt là
HS trung học đang xem nhẹ các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dântộc Số HS trốn học, gian lận trong thi cử, đánh nhau, uống bia rợu, ăn cắp vặt,vô lễ, vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng Theo kết quả điều tra khảo sátcủa Viện nghiên cứu và phát triển giáo dục Việt Nam năm 2008 cho thấy, tỉ lệnói dối cha mẹ của HS THCS là 50%, trong khi HS THPT là 64%; văng tụcchửi bậy ở THCS là 34%, trong khi đó HS THPT là 43%; không chấp hành Luật
an toàn giao thông của HS THCS là 35%, còn THPT là 70% Một trong nhữngnguyên nhân đó là do việc giáo dục đạo đức trong nhà trờng thờng chú trọng
đến nề nếp, kỉ cơng, nội quy, những bài học giáo huấn, mà không chú ý đếnhành vi, kĩ năng ứng xử thực tế Phơng pháp giáo dục đạo đức theo kiểu “tầmchơng trích cú” cha đa HS vào các xử lí tình huống thực tế rất sinh động củacuộc sống, cha phát huy đợc tính tích cực, sáng tạo của họ
Mặt khác, HS THPT, đặc biệt là HS lớp 10 là lứa tuổi mới lớn về tâm,sinh lý Các em luôn muốn khám phá những tri thức mới, những vấn đề mới,
Trang 6luôn muốn thử nghiệm những điều đợc tiếp nhận để khẳng định chính bảnthân mình Chính vì vậy, PPDH nói chung và môn GDCD nói riêng phải hớngtới mục tiêu phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS để phù hợp với đặc điểmtâm lý lứa tuổi.
Trờng THPT chuyên Phan Bội Châu là trờng chuyên của tỉnh Nghệ An
có vai trò to lớn trong việc đào tạo, bồi dỡng nhân tài không chỉ cho tỉnh nhà
mà còn phân bố trên phạm vi cả nớc Nhiệm vụ trọng tâm của nhà trờng là đàotạo ra những thế hệ HS vừa có đức, vừa có tài; tích cực, chủ động sáng tạotrong lĩnh hội tri thức cũng nh trong đánh giá giải quyết những vấn đề nảysinh trong thực tiễn Môn GDCD, đặc biệt là GDCD lớp 10 góp phần quantrọng làm nên mục tiêu đào tạo đó của nhà trờng
Với tính cấp thiết trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Phát huy tính chủ
động, sáng tạo của học sinh trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 10 (Qua khảo sát ở trờng THPT chuyên Phan Bội Châu – Nghệ An)” làm luậnvăn tốt nghiệp thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Phát huy tính tích chủ động, sáng tạo của HS trong giảng dạy từ lâu đã
đợc nhiều nhà giáo dục, nhà t tởng lớn trên thế giới quan tâm nghiên cứu
Từ thế kỷ thứ IV TCN nhà triết học Xôcrat là ngời đầu tiên đề xuất
ph-ơng pháp “gợi mở”, một phph-ơng pháp tự hào có khả năng “khai sinh ra” hoặcphát hiện ra những t tởng, chân lí có sẵn trong đầu óc con ngời mà họ cha hềbiết đến Hay nh Khổng Tử, một nhà triết học phơng Đông cũng là ngời đềxuất và sử dụng rất có hiệu quả các PPDH tích cực ông quan niệm, dạy điềugì thì phải bắt học trò tìm tòi, suy nghĩ, đào sâu, nâng cao tính tích cực, chủ
động của ngời học Đến thế kỷ XVII ở Châu Âu, trong tác phẩm “Lí luận dạyhọc vĩ đại” – năm 1638, Comski đã có công lớn trong việc hình thành phơngpháp trực quan trong dạy học Ông đã lý giải, đào sâu, mở rộng những kinhnghiệm dạy học trực quan đã có vào trong thời gian đó, vận dụng rộng rãi tínhtrực quan trong thực tiễn Điều đó chứng tỏ Comski đã quật mạnh vào lối dạykinh viện - một lối học nhồi nhét vào đầu thế hệ trẻ một mớ hổ lốn những từngữ, châm ngôn, ý kiến… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, học Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, họcvẹt, vu vơ, vô nghĩa và đòi hỏi học tập phải tự giác Ông nói: Với sự giúp đỡcủa GV phải làm cho trẻ ý thức rõ ràng điều đợc học trong đời sống hàng ngày
đã mang lại cho họ sự ích lợi nh thế nào
Trang 7Đến đầu thế kỉ thứ XX, John Dewey trong tác phẩm “Dân chủ và giáodục” – năm 1916, đã chủ trơng một nền giáo dục gắn lí thuyết với thực tiễn.Thực ra học đi đôi với hành không phải hoàn toàn mới, nhng ở John Dewey
nó dựa trên một quan niệm độc đáo Nếu trớc đây ngời ta quan niệm giáo dục
nh là quá trình truyền đạt tri thức và kinh nghiệm, hoặc là quá trình rửa tội,thanh lọc tâm hồn Thì với Dewey “Giáo dục chính là bản thân cuộc sống” Vìvậy nhà trờng không thể tách khỏi cuộc sống thực tiễn, và kiến thức không thể
đợc áp đặt từ bên ngoài Đây chính là cơ sở cho khẩu hiệu: “Hãy phá bỏ hàngrào nhà trờng” mà mục tiêu là đa nhà trờng hoà nhập với cuộc sống xã hội Vìgiáo dục chính là bản thân cuộc sống, nên nó phải là quá trình của chính ngờihọc chứ không phải bản thân ngời dạy Giáo dục là quá trình mà ngời học làtrung tâm
Nghiên cứu về PPDH tích cực, ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều tác giả
đề cập Các công trình đó đã trở thành nguồn tài liệu bổ ích cho đội ngũ GVmôn GDCD nâng cao chất lợng giảng dạy, điển hình nh:
“Phơng pháp dạy học và phát huy tính tích cực – một phơng pháp vôcùng quý báu” của cố thủ tớng Phạm Văn Đồng, đăng trên báo Nhân Dânngày 18/11/1994 Bài viết đã nhấn mạnh vai trò của việc lấy ngời học làmtrung tâm, và đề ra giải pháp phát huy tính tích cực của ngời học thông qua hệthống câu hỏi, những câu chuyện kể hấp dẫn,… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, học
Trong cuốn sách: "Dạy học và phơng pháp dạy học trong nhà trờng"của tác giả Phan Trọng Ngọ năm 2005 đã đi vào phân tích vai trò của cácPPDH tích cực, nêu lên khái niệm cũng nh các PPDH tích cực có thể vận dụng
đợc trong quá trình dạy học ở trờng phổ thông hiện nay
Liên quan đến đổi mới PPDH môn GDCD cũng có nhiều tác giả đề cậpnh: Cuốn sách "Phơng pháp dạy học môn Giáo dục công dân" của nhóm tácgiả Phùng Văn Bộ, Nguyễn Thị Kim Thu, Vơng Tất Đạt, Lê Văn Thứ, ĐinhVăn Đức, Dơng Minh Đức, Trần Thị Ngọc Oanh do PTS Vơng Tất Đạt chủbiên (Trờng Đại học S phạm Hà Nội I Hà Nội, 1994) đã giới thiệu tổng quát
về lý luận dạy học và các PPDH môn GDCD
Cuốn "Bồi dỡng nội dung và phơng pháp dạy học môn Giáo dục côngdân 10" của nhóm tác giả Vũ Hồng Tiến, Phùng Văn Bộ chủ biên (Nxb Đạihọc quốc gia Hà Nội 1999) thể hiện những nét đặc trng riêng về cách trình
Trang 8bày và phơng pháp tiếp cận bộ môn GDCD để GV có điều kiện lựa chọn vàvận dụng một cách có hiệu quả phù hợp với đối tợng HS.
Cuốn "Góp phần dạy tốt, học tốt môn GDCD ở trờng THPT" do tiến sĩ
Nguyễn Đăng Bằng (chủ biên) cũng đã phân tích sự cần thiết phải đổi mớiPPDH học môn GDCD và cách thức đổi mới để đạt hiệu quả dạy học cao nhất
Gần đây nhất có các luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số nội dung liênquan đến đề tài nh: “Vận dụng các phơng pháp dạy học tích cực trong giảngdạy phần: “Công dân với việc hình thành thế giới quan, phơng pháp luận khoa
học" ở trờng THPT hiện nay" (Qua thực nghiệm một số trờng THPT ở Nghệ
An) của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân và "Vận dụng triết lý về con ngờitrong tục ngữ để dạy tốt phần: "Công dân với đạo đức" ở chơng trình GDCDlớp 10 THPT" của tác giả Nguyễn Văn Hải học viên Cao học 14 - chuyênnghành lý luận và phơng pháp giảng dạy Chính trị - Đại học Vinh năm 2008.Các đề tài đã đề cập đến việc đổi mới PPDH theo hớng phát huy tính tích cựccủa ngời học và đã vận dụng đợc một số PPDH tích cực vào giảng dạy mônGDCD lớp 10 Tuy nhiên, các đề tài mới đề cập khái quát đến việc phát huytính tích cực chứ cha đi sâu phân tích nguyên nhân, đề ra các giải pháp cụ thể
đối với GV và HS nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo cho HS trong quátrình dạy học Hơn nữa các đề tài này mới chỉ vận dụng PPDH tích cực vàomột phần của chơng trình GDCD lớp 10 chứ cha phải toàn bộ chơng trình
Trên cơ sở kế thừa thành quả của những ngời đi trớc và sự sáng tạo củabản thân trong nghiên cứu khoa học, đề tài luận văn thạc sĩ của tôi sẽ bổ sung
và mở ra một hớng nghiên cứu mới, góp phần vào bề dày lịch sử nghiên cứucủa đề tài.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài:
- Trớc hết đề tài đợc nghiên cứu để tác giả hoàn thành nhiệm vụ củakhoá học thạc sĩ chuyên ngành lí luận và phơng pháp giảng dạy bộ môn chínhtrị
- Hai là nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD nói riêng và nh làmột tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến đổi mới PPDH nói chung
Với mục đích nh vậy, đề tài sẽ phải giải quyết 3 nhiệm vụ cơ bản:
Trang 9Một là: Làm rõ lí do vì sao phải phát huy tính chủ động, sáng tạo của
HS để từ đó thấy rõ đợc sự cần thiết, tính tất yếu khách quan của việc đổi mớiPPDH bậc phổ thông nói chung và môn GDCD nói riêng trong đó có GDCD 10
Hai là: Tiến hành thực nghiệm dạy học một số tiết trong chơng trìnhGDCD lớp 10 ở trờng THPT chuyên Phan Bội Châu
Ba là: Trên cơ sở đó đề tài sẽ đa ra một số giải pháp nhằm phát huy tínhchủ động, sáng tạo của HS trong dạy học môn GDCD lớp 10
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu ở phạm vi phát huy tính chủ
động, sáng tạo của HS trong dạy học môn GDCD lớp 10 ở trờng THPT chuyênPhan Bội Châu – Nghệ An
Luận văn cũng đã khái quát đợc những nét lớn về đặc điểm trờng THPTchuyên Phan Bội Châu cũng nh chơng trình GDCD lớp 10 Từ đó, đã chỉ ranhững cơ sở dẫn đến việc phải phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS trongdạy học môn GDCD
Trên cơ sở đề xuất những giải pháp trong dạy học môn GDCD lớp 10theo hớng phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS, luận văn đã góp phần giúpcho GV dạy GDCD có hớng đổi mới PPDH khoa học, phù hợp, có thể đa lạihiệu quả cao trong dạy học bộ môn Qua đó, làm cho HS phát huy đợc tínhchủ động, sáng tạo của mình, có khả năng tự liên hệ mở rộng kiến thức để linhhoạt giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn
Với tất cả những đóng góp trên, tôi cho rằng đề tài có ý nghĩa và cónhững đóng góp nhất định cả về lý luận lẫn thực tiễn
Trang 107 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, đề tài có cấu trúcgồm 2 chơng:
Chơng 1: : Sự cần thiết phải phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học.
Chơng 2: Thực nghiệm và giải pháp nhằm phát huy tính chủ động, sáng
tạo của học sinh trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 10 ở trờng THPTchuyên Phan Bội Châu
Trang 11B Nội dung Chơng 1
sự cần thiết phải phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong dạy học môn Giáo dục
công dân lớp 10
1.1 Xuất phát từ mục tiêu, nội dung chơng trình môn GDCD lớp 10
1.1.1 Mục tiêu chơng trình GDCD lớp 10
Đất nớc đang bớc vào giai đoạn CNH, HĐH với mục tiêu đến năm
2020, sẽ từ một nớc nông nghiệp về cơ bản trở thành nớc công nghiệp theo ớng hiện đại, hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tố quyết định thắng lợicủa công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là con ngời, là nguồn lực ngờiViệt Nam phát triển về số lợng và chất lợng trên cơ sở mặt bằng dân trí đợcnâng cao Việc này phải đợc bắt đầu từ giáo dục phổ thông, mà bắt đầu từ việcxác định mục tiêu đào tạo nh là xác định những gì cần đạt đợc (đối với ngờihọc) sau một quá trình đào tạo Nói chung, phẩm chất và năng lực đợc hìnhthành trên một nền tảng kiến thức, kĩ năng đủ và chắc chắn Văn kiện Đại hội
h-đại biểu toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ: “Đổi mới toàn diện giáo dục và đàotạo, phát triển nguồn nhân lực chất lợng cao”, “đảm bảo đủ số lợng, nâng caochất lợng đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp bậc học Tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ phơng pháp giáo dục, phát huy tính tích cực, sáng tạo của ngời học”[10;95; 97] Trong Thông báo kết luận 242–TB/TW của Bộ chính trị về “Tiếp tụcthực hiện Nghị quyết Trung ơng 2 (khoá VIII), phơng hớng phát triển giáo dục
và đào tạo đến năm 2020” tiếp tục khẳng định nhiệm vụ và giải pháp của giáodục đào tạo nớc ta trong thời gian tới là: Nâng cao chất lợng giáo dục toàndiện, coi trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống cho HS, sinh viên, mởrộng quy mô giáo dục hợp lý Cấp uỷ Đảng chỉ đạo các cấp chính quyền, các
tổ chức đoàn thể tích cực tham gia cùng với các trờng học, các cơ sở đào tạolàm tốt công tác giáo dục HS, sinh viên trên cả ba mặt: Dạy làm ngời, dạychữ, dạy nghề, đặc biệt chú ý đến giáo dục nhân cách, lý tởng, phẩm chất đạo
đức, lối sống, lịch sử, truyền thống văn hoá của dân tộc và của địa phơngmình Ngăn chặn xu hớng mờ nhạt lý tởng cách mạng, xa rời định hớng xã hộichủ nghĩa; Đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nớc đối với giáo dục và đào tạo;
Trang 12Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lợng, đáp ứngyêu cầu về chất lợng; Tiếp tục đổi mới chơng trình giáo dục, tạo chuyển biếnmạnh mẽ về phơng pháp giáo dục; Tăng cờng nguồn lực cho giáo dục; Đảmbảo công bằng xã hội trong giáo dục; Tăng cờng hợp tác quốc tế về giáo dục
và đào tạo
Cấp THPT gồm 3 năm từ lớp 10 đến lớp 12, là cấp học cuối cùng củagiáo dục phổ thông, nối tiếp cấp THCS và có trách nhiệm hoàn thành việc đàotạo tiếp thế hệ HS đã qua các cấp học trớc đó của nhà trờng phổ thông Đây làcấp học vừa trực tiếp tạo nguồn cho bậc cao đẳng, đại học nói riêng, vừa gópphần quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nớc nói chung Nói cụ thể hơn, cấp học này một mặt, cầnchuẩn bị cho HS những tri thức và kĩ năng về khoa học xã hội, nhân văn, toánhọc, khoa học tự nhiên, kĩ thuật để họ có thể đợc tiếp tục đào tạo ở bậc họctiếp theo, mặt khác cần hình thành và phát triển cho họ những hiểu biết vềnghề phổ thông cần thiết cho cuộc sống, tham gia lao động sản xuất, xây dựngxã hội và khi có điều kiện có thể tiếp tục học lên Trên nền tảng đó mà pháttriển các hệ thống phẩm chất, năng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu xây dựng đấtnớc trong giai đoạn mới Mục tiêu chơng trình giáo dục cấp THPT đã đợcLuật Giáo dục quy định: “Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinhcủng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiệnhọc vấn phổ thông, có những hiểu biết thông thờng về kĩ thuật và hớngnghiệp, có điều kiện lựa chọn hớng phát triển và phát huy năng lực cá nhân,tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vàocuộc sống lao động”[26; 16]
Trên cơ sở đó, môn GDCD THPT có mục tiêu là giúp HS có những hiểubiết cơ bản về thế giới quan, nhân sinh quan, hệ thống các giá trị đạo đức,pháp luật, thể chế chính trị và những phơng hớng phát triển kinh tế – xã hội,nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc;trên cơ sở đó nâng cao trách nhiệm công dân của HS, xác định vị trí của bảnthân với t cách là chủ thể phát triển của cá nhân, xã hội và tự nhiên
GDCD lớp 10 cùng với mục tiêu chung đó cũng đề ra mục tiêu riêng
t-ơng ứng với 2 nội dung của cht-ơng trình
Mục tiêu phần: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phơng pháp luận khoa học:
Trang 13Phần học này nhằm trang bị cho HS “những tri thức ban đầu về thế giớiquan duy vật, phơng pháp luận biện chứng để từ đó chống lại những quan
điểm duy tâm, siêu hình về thế giới, từng bớc hình thành t duy biện chứng duyvật – công cụ quan trọng để nhận thức và cải tạo thế giới” [4; 11]
Về kiến thức: Phân biệt đợc đối tợng nghiên cứu của triết học và các
môn khoa học cụ thể, mối quan hệ giữa chúng Trên cơ sở đó nhận thức đợcvai trò thế giới quan, phơng pháp luận của triết học
Hiểu đợc bản chất của thế giới là vật chất Vận động và phát triển theonhững quy luật khách quan là thuộc tính vốn có của thế giới vật chất, con ngời
có thể nhận thức và vận dụng đợc những quy luật ấy
Thấy đợc mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động của chủ thể với kháchthể qua các mối quan hệ: Thực tiễn với nhận thức, tồn tại xã hội với ý thức xãhội
Về kĩ năng: Bớc đầu làm quen với khoa học triết học, biết cách học các
phần có nội dung triết học trong SGK môn GDCD
Vận dụng đợc các tri thức triết học với t cách là thế giới quan, phơngpháp luận để phân tích các hiện tợng tự nhiên, xã hội thông thờng và các hiệntợng đạo đức, kinh tế, nhà nớc, pháp luật đợc học ở phần sau
Về thái độ: Tôn trọng những quy luật khách quan của tự nhiên, đời sống
xã hội và con ngời Tin tởng vào đờng lối chính trị, kinh tế – xã hội của Đảng
để ổn định phát triển đất nớc Khắc phục những biểu hiện duy tâm trong cuộcsống hằng ngày, phê phán các hiện tợng mê tín dị đoan và những luồng t tởng
độc hại trong xã hội
Có quan điểm phát triển, ủng hộ và làm theo cái mới, cái tiến bộ, thamgia tích cực và có trách nhiệm đối với các hoạt động cộng đồng
Mục tiêu phần: Công dân với đạo đức:
Về kiến thức: Nắm vững một số phạm trù cơ bản của đạo đức học Nắm
đợc các yêu cầu cơ bản về đạo đức của ngời công dân Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay
Về kĩ năng: Có kĩ năng phân tích, đánh giá các quan điểm, các hành vi,
hiện tợng đạo đức trong đời sống hằng ngày ở nhà, ở trờng và ngoài xã hội.Biết tự điều chỉnh, hoàn thiện bản thân theo các yêu cầu đạo đức xã hội
Về thái độ: Tin tởng và tôn trọng các giá trị đạo đức xã hội Có tình
cảm và niềm tin đối với các quan điểm đạo đức đúng đắn, dám phê phán các
Trang 14quan điểm, thái độ và hành vi đạo đức lệch lạc Có quyết tâm học tập, rèn
luyện, tự hoàn thiện bản thân theo các yêu cầu đạo đức của xã hội
Nh vậy, mục tiêu môn GDCD lớp 10 tuy cụ thể theo hai nội dung trên,nhng cũng nằm trong mục tiêu lớn của môn GDCD bậc THPT: “Góp phầncủng cố, phát triển hệ thống giá trị đạo đức, văn hoá, pháp luật, t tởng chínhtrị, lối sống mà học sinh đã đợc hình thành ở Tiểu học và Trung học cơ sở
Đồng thời, giúp họ nhận rõ trách nhiệm của thanh niên đối với sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc, trang bị cho họ phơng pháp luận đúng đắn để họ có
đủ bản lĩnh, đủ năng lực chủ động và tự giác xác định phơng hớng phát triểncủa bản thân sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông” [4; 6]
Không những thế, mục tiêu môn GDCD lớp 10 còn góp phần thực hiệnmục tiêu chung của giáo dục THPT: Góp phần củng cố, phát triển ở HS lí tởngsống đúng đắn, những phẩm chất và năng lực cơ bản của con ngời Việt Namthời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Những phẩm chất đạo đức, t tởng chính trị, lối sống phải là những giátrị của con ngời Việt Nam thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá thể hiện ở cảnhận thức, hành vi và tình cảm, niềm tin với t cách là một chủ thể của sự pháttriển nhân cách, phát triển xã hội Những năng lực cơ bản nh: sự tự hoàn thiệnbản thân, giao tiếp và ứng xử, tổ chức quản lí, hoạt động chính trị – xã hội,hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, định hớng lao động nghề nghiệp xã hội saukhi tốt nghiệp để thích ứng với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể trong quá trìnhphát triển của xã hội
Mục tiêu quan trọng đó càng làm cho quá trình tổ chức dạy học của GVtrở nên cần thiết hơn bao giờ hết Dạy học nh thế nào để HS không những hiểubài mà còn có kỹ năng vận dụng tốt kiến thức đã học vào cuộc sống? Dạy học
nh thế nào để HS không chỉ nắm vững kiến thức mà còn có thái độ, tình cảmtốt đẹp đối với nội dung môn học? Đây chắc hẳn không phải là một điều dễ.Nhng dù dạy học nh thế nào chúng ta cũng không thể phủ nhận một điều là,
để đạt đợc những mục tiêu trên không thể không phát huy tính chủ động, sángtạo của HS trong dạy học môn GDCD, trong đó có GDCD lớp 10
1.1.2 Nội dung chơng trình GDCD lớp 10
Nội dung chơng trình GDCD lớp 10 gồm có 2 phần:
Phần thứ nhất: Công dân với việc hình thành thế giới quan và phơngpháp luận khoa học Phần này gồm 2 nội dung cơ bản:
Trang 15- Một là: Những quan niệm duy vật biện chứng chung nhất về thế giới.
- Hai là: Một số quan điểm duy vật biện chứng về xã hội và con ngời.Hai mạch nội dung này có quan hệ mật thiết với nhau Hai mạch này đợc trìnhbày một cách liên tục: Chủ nghĩa duy vật biện chứng về tự nhiên, chủ nghĩaduy vật biện chứng về nhận thức, chủ nghĩa duy vật biện chứng về xã hội vàcon ngời Với cách trình bày này sẽ tránh đợc sự nhầm lẫn về tính thống nhấtcủa triết học Mác – Lênin Phần này là phần khó so với trình độ nhận thứccủa HS, nhng đợc sắp xếp học ngay ở lớp 10 vì theo logic, thế giới quan và ph-
ơng pháp luận phải đợc trang bị trớc, làm cơ sở lí luận cho các phần sau (đạo
đức, kinh tế, chính trị – xã hội và pháp luật)
Trớc đây, chơng trình thờng tập trung vào nghiên cứu môn triết học,
nh-ng chơnh-ng trình hiện nay lại tập trunh-ng vào vấn đề: Cônh-ng dân với việc hình thànhthế giới quan và phơng pháp luận khoa học Với quan niệm này, những nộidung của triết học đợc lựa chọn đa vào chơng trình tinh giản hơn, tập trunghơn, sát hợp với mục tiêu môn học lớp 10 và đặc biệt có tính thực tiễn caohơn; chỉ tập trung khai thác những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luậtnào phục vụ trực tiếp cho việc hình thành cơ sở ban đầu về thế giới quan, ph-
ơng pháp luận khoa học cho HS Đây cũng chính là cơ sở để thấy đợc sự cầnthiết phải phát huy tính chủ động sáng tạo của HS trong quá trình dạy họcmôn GDCD
Phần thứ hai: Công dân với đạo đức
Phần Công dân với đạo đức là một trong 5 phân môn của chơng trìnhmôn GDCD ở THPT và là một trong 2 phần của GDCD lớp 10 Phần Công dânvới đạo đức có vai trò quan trọng trong việc trang bị cho HS các hiểu biết vềnhững phạm trù đạo đức cơ bản của đạo đức học và trách nhiệm đạo đức củangời công dân trong giai đoạn hiện nay Đây cũng là phần tổng kết lại nhữngnội dung giáo dục đạo đức mà HS đã đợc học ở Tiểu học và THCS
Nếu nh phần đạo đức trong chơng trình trớc đây đề cập đến một số vấn
đề đạo đức nh: Chủ nghĩa yêu nớc và chủ nghĩa quốc tế, quan điểm và thái độ
đúng đắn đối với lao động, chủ nghĩa tập thể xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa nhân
đạo xã hội chủ nghĩa, tình bạn, tình đồng chí, tình cảm gia đình và truyềnthống đạo đức của dân tộc ta, thì phần đạo trong đức trong chơng trình GDCDlớp 10 hiện hành đề cập đến các giá trị đạo đức của ngời công dân trong giai
đoạn hiện nay Các giá trị đạo đức này đợc cấu trúc theo các mối quan hệ của
Trang 16HS đối với bản thân, tình yêu, hôn nhân, gia đình, cộng đồng, Tổ quốc vànhân loại So với trớc đây, nội dung chơng trình phần đạo đức lần này cụ thểhơn, gần gũi với cuộc sống HS hơn.
Nh vậy, nội dung chơng trình GDCD lớp 10 đã bám sát với mục tiêumôn học và làm cho các tri thức triết học, đạo đức học có định hớng rõ rệt,không bị dàn trải Nội dung chơng trình GDCD lớp 10 thể hiện đậm nét sự kếthợp hài hoà, hợp lí giữa chuẩn kiến thức, kĩ năng và thái độ ở từng bài Điềunày làm cho tri thức lí thuyết gắn chặt với thực tiễn, nhận thức gắn chặt vớihành vi trong cuộc sống, làm cho môn học có giá trị thực tiễn cao hơn
Hơn nữa, với bố cục nội dung nh trên và với cách trình bày hợp lí, nộidung chơng trình GDCD lớp 10 yêu cầu việc phát huy tính chủ động, sáng tạo,
tự giác của HS phải đợc coi trọng trên cả ba lĩnh vực: Nội dung môn học,
ph-ơng pháp giảng dạy và kiểm tra, đánh giá Nội dung đó vừa tạo điều kiện nhng
đồng thời cũng là một “áp lực” buộc HS phải đổi mới PPDH của mình cho phùhợp
So với trớc đây, nội dung chơng trình đã đợc tinh giản rất nhiều, có tínhthực tiễn cao hơn, không còn lí thuyết dài dòng khô cứng mang tính lí luậnnữa, cho nên HS đọc bài dễ hiểu hơn, do đó quá trình tiếp thu bài trên lớpnhanh hơn, hoạt động tự học, tự làm việc theo nhóm theo đó cũng dễ dànghơn Mặt khác, trong phần “Nội dung bài học” có rất nhiều câu hỏi, ví dụ,mẩu chuyện ngắn, câu nói trích dẫn,… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, học in nghiêng tạo điều kiện rất lớn để GV
áp dụng nhiều PPDH tích cực vào quá trình giảng dạy Tuy nhiên, cũng vớinội dung đó, nếu không đổi mới cách dạy học thì ngời GV sẽ rất khó dạy hay,
dễ gây nhàm chán cho HS, cho nên đó là một “áp lực” lớn đối với những GVngại đổi mới PPDH Vì vậy, đổi mới PPDH là một tất yếu đợc đặt ra cho mỗi
GV khi dạy học môn GDCD lớp 10 Nhng đổi mới nh thế nào để không đilệch đặc điểm, nội dung chơng trình đồng thời cũng đảm bảo yêu cầu đào tạonguồn nhân lực mới đáp ứng yêu cầu hội nhập, phát triển của đất nớc? Để đảmbảo mục tiêu trên, chỉ có thể đổi mới PPDH theo hớng phát huy tính chủ động,sáng tạo của HS Bởi chủ động, sáng tạo là hai yêu cầu quan trọng nhất củangời công dân thời đại mới, đồng thời đó cũng là cái đích hớng tới của bộGiáo dục - Đào tạo khi thực hiện đổi mới chơng trình GDCD các cấp họctrong đó có môn GDCD lớp 10
1.2 Xuất phát từ đặc điểm của học sinh lớp 10
Trang 17Trong một môi trờng thế giới đầy biến động và cạnh tranh gay gắt đếnvới từng cá nhân nh hiện nay Mỗi cá nhân sẽ cần phải ngày càng trở nên năng
động, tích cực, tự tin, quyết đoán hơn, sẽ không còn chỗ cho sự thụ động,trông chờ, ỷ lại, sẽ không còn chỗ làm việc ổn định để mà dựa dẫm Xu h ớngcủa những yêu cầu quan trọng đối với ngời lao động hiện nay và trong tơng laikhông phải là kinh nghiệm, học vấn hiểu theo nghĩa đợc đào tạo học thuật tạitrờng, lớp mà là năng lực sáng tạo, nghĩa là năng lực tiếp thu, sản xuất tri thứcmới có lợi của ngời lao động Một ngời lao động trong tơng lai phải là một ng-
ời ngoài việc trang bị đủ những kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng nghề
nghiệp cần thiết, còn phải có những phẩm chất cá nhân cao nh: có “kỹ năng
sống ” tốt và có “sức mạnh tinh thần” cao, bao gồm khả năng loại bỏ stress ra
khỏi công việc và cuộc sống trong lúc đang làm việc, hoạt động; khả năng làmchủ bản thân, khả năng quản lí cảm xúc, khả năng quản lí thói quen, hành vi;khả năng lãnh đạo và tự lãnh đạo, khả năng làm việc độc lập, khả năng phốihợp theo nhóm, khả năng giải quyết vấn đề và ra quyết định, khả năng giaotiếp và trình bày vấn đề, kỹ năng sử dụng kiến thức; khả năng vợt khó và ứngbiến linh hoạt với các tình huống xẩy ra trong thực tế cao; có sự chủ độngtrong công việc, có sự quyết đoán và tinh thần lạc quan, dám nghĩ, dám làm,dám chịu trách nhiệm; có khả năng chịu đựng áp lực công việc, có t duy lôgíc,
t duy phản biện tốt… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, học và thoát khỏi sự bảo thủ cố chấp, chi phối của cái tôitrong mỗi con ngời Tất cả những kỹ năng đó của một ngời lao động mới phải
đợc hình thành từ từ trong cuộc sống đặc biệt là trong quá trình học tập ở nhàtrờng trên cơ sở những PPDH tích cực mà GV sử dụng để phát huy tính chủ
động, sáng tạo của HS
Cũng trong thời đại hiện nay, HS lớp 10 có vốn sống và năng lực nhậnthức phát triển hơn so với độ tuổi
Trong môi trờng xã hội và khoa học công nghệ đang phát triển mạnh
mẽ hiện nay, ngời HS thờng xuyên tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin đadạng, phong phú từ các phơng tiện truyền thông khác nhau và luôn luôn chịu
ảnh hởng tác động từ nhiều phía: gia đình, nhà trờng, xã hội; từ các tổ chức
đoàn thể; từ bạn bè và những ngời thân… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, học Trong quá trình sống và tham giatích cực vào các loại hình hoạt động, giao lu, chính bản thân các em đã tíchluỹ ngày càng nhiều vốn sống và kinh nghiệm hoạt động cho bản thân Kếtquả nghiên cứu của các nhà tâm lí học trên thế giới và trong nớc những thập
Trang 18niên gần đây cũng khẳng định điều đó "So với trẻ cùng lứa tuổi ở các thế hệtrớc, học sinh phổ thông hiện nay có năng lực nhận thức phát triển hơn Do
ảnh hởng của giáo dục, với hệ thống các phơng pháp tích cực, dạy học có tácdụng thúc đẩy sự phát triển năng lực và phẩm chất trí tuệ của học sinh, đã tạonên sự biến đổi trong nhận thức của các em, giúp cho khả năng t duy cụ thể và
t duy trừu tợng của các em đều đợc phát triển"[32; 9] Thực tiễn dạy học ở cáctrờng THPT nớc ta hiện nay đã chứng tỏ điều đó
Từ những vấn đề trình bày ở trên, trong quá trình dạy học hiện nay, GVcần quan tâm khai thác vốn sống phong phú và đa dạng của HS và tính đếnkhả năng nhận thức của các em, không ngừng đổi mới nội dung, cải tiến ph-
ơng pháp và hình thức tổ chức hoạt động dạy học để có thể dạy cho các embiết phát huy tối đa tiềm năng và vốn sống của mình
Trong quá trình học tập, HS lớp 10 có xu hớng vợt ra khỏi nội dung trithức, kỹ năng do chơng trình quy định
"Trong điều kiện phát triển của các phơng tiện truyền thông, trong bốicảnh hội nhập, mở rộng giáo lu, HS đợc tiếp nhận nhiều nguồn thông tin đadạng, phong phú từ nhiều mặt cuộc sống, hiểu biết nhiều hơn, linh hoạt vàthực tế hơn so với các thế hệ cùng lứa tuổi trớc đây mấy chục năm"[4; 24] Xuhớng này thể hiện ở chỗ, các em HS không thoả mãn với những điều đã đợchọc theo chơng trình mà muốn làm phong phú vốn hiểu biết của mình bằngcách tự học, tự nghiên cứu để tìm tòi, phát hiện cái mới Nhất là đối với HSTHPT, các em muốn tìm những tri thức và phơng pháp mới đối với bản thâncác em Cụ thể là, trong quá trình học tập, các em luôn mong muốn đợc họcthêm, mở rộng, đào sâu kiến thức trong các bài học, trong sách báo, muốn tìmhiểu thực tế để làm sáng tỏ những điều đã học, muốn tìm hiểu và phát hiệnvấn đề bằng nhiều cách khác nhau nhằm chọn đợc các phơng án tối u, muốnvận dụng những hiểu biết của mình vào thực tiễn Xu hớng này xuất hiện donhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan ảnh hởng đến từng HS trong cuộcsống, học tập, lao động ở nhà trờng, gia đình và xã hội Trớc hết là vì năng lựcnhận thức của các em không ngừng đợc nâng cao, nhu cầu nhận thức ngàycàng phát triển nên không thoả mãn với nội dung học tập do chơng trình quy
định Mặt khác, còn do những yếu tố khách quan nh: sự tiến bộ khoa học côngnghệ; sự bùng nổ thông tin đợc phản ánh qua sách báo và phơng tiện thôngtin; ảnh hởng của đời sống xã hội; nhu cầu hành trang để lập thân, lập nghiệp
Trang 19trong tơng lai; những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của thế hệ trẻ Để đápứng xu hớng trên trong quá trình dạy học, GV phải biết cách tổ chức dạy họcmột cách linh hoạt, với sự kết hợp khéo léo các PPDH, các hình thức tổ chứcvui chơi, giao lu, gặp gỡ… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, học tạo điều kiện cho HS kiểm nghiệm và mở mangvốn hiểu biết của mình, giúp chúng thích ứng nhanh nhạy với cuộc sống saunày.
HS THPT (độ tuổi 16 – 18) ham hiểu biết, có trình độ t duy phát triển,
đã hình thành và phát triển các kĩ năng học tập, thói quen tự học từ các lớp
d-ới Căn cứ vào quy luật phát triển nhận thức và hình thành các đặc điểm tâm líthì từ những lớp cuối cấp THCS, HS đã bộc lộ thiên hớng, sở trờng và hứngthú đối với những lĩnh vực kiến thức, kĩ năng nhất định Một số HS bộc lộ khảnăng ham thích toán học, các môn khoa học tự nhiên; số khác lại thích thú vănchơng và các môn khoa học xã hội, nhân văn khác Ngoài ra còn có những HSthể hiện năng khiếu trong các lĩnh vực nh: nghệ thuật, thể dục thể thao… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, học Nếugiáo dục theo kiểu đồng loạt hiểu theo nghĩa là chỉ với một chơng trình duynhất, cách tổ chức dạy học duy nhất… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, học sẽ làm hạn chế đến sự phát triển nóitrên của ngời học
Nh vậy ở lứa tuổi này nảy sinh một yêu cầu và cũng là một quá trình: sựlĩnh hội độc lập các tri thức và phát triển kỹ năng Đó là yêu cầu đặt ra chongành Giáo dục nói chung và cho môn GDCD nói riêng Ngời GV trong quátrình dạy học phải làm thế nào để khơi dậy những điểm mạnh vốn có của HS:
đó là sự ham học hỏi, muốn khám phá bản thân và thế giới, tính độc lập, sángtạo… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, học Đồng thời, trong quá trình đó ngời GV cũng cần khéo léo, linh hoạt tổchức các hoạt động dạy học để vừa thu hút các em tham gia nhng cũng vừakhông làm tính tự ái – một đặc điểm thuộc tâm, sinh lí của lứa tuổi này bị
ảnh hởng Để có một cách dạy học phù hợp với đặc điểm HS lớp 10 nh trênthì ngời GV tất yếu phải đổi mới PPDH theo hớng phát huy tính chủ động,sáng tạo của HS trong quá trình dạy học Bởi chỉ có hớng đổi mới này mớiphát huy những điểm mạnh và hạn chế những điểm yếu về tâm sinh lí của
HS THPT, đem lại hiệu quả dạy học cao nhất
1.3 Xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lợng dạy học môn GDCD
và thực trạng dạy học môn GDCD lớp 10 ở trờng THPT chuyên Phan Bội Châu
1.3.1 Xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lợng dạy học môn GDCD
Trang 20Sự nghiệp đổi mới giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nớc đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa chất lợng giảng dạy vàhọc tập ở tất cả các môn học, bậc học, trong đó, môn GDCD ở bậc THPT giữmột vai trò quan trọng.
Trong nhà trờng hiện nay, môn GDCD đợc giảng dạy với nhiều nộidung giáo dục xã hội cần thiết cho HS nh: Giáo dục quyền trẻ em, giáo dục kĩnăng sống, giáo dục văn hoá, kinh tế, giáo dục các vấn đề chính trị - xã hội,pháp luật, giáo dục môi trờng, giáo dục giới tính, sức khoẻ, sinh sản vị thànhniên, giáo dục an toàn giao thông, phòng chống ma tuý, phòng chống HIV –AIDS Bộ môn GDCD hớng HS vơn tới những giá trị cơ bản của ngời côngdân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc Tuy nhiên,trên thực tế, chất lợng dạy, học môn GDCD hiện nay còn rất nhiều vấn đề cầnbàn Thực trạng đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân:
Trớc hết, vị trí của môn GDCD trong hệ thống các môn học ở nhà trờng
phổ thông còn bị xem nhẹ Chúng ta đang chứng kiến sự xuống cấp về đạo
đức, sự vi phạm pháp luật ngày càng tăng của lứa tuổi học trò Đó có lẽ chủyếu là do ý thức, thái độ về đạo đức, pháp luật của các em cha cao Trong khi,môn GDCD trong nhà trờng phổ thông có nhiệm vụ trực tiếp giáo dục các emnhững điều này Nhng không ít HS và phụ huynh cho đây là môn “phụ” (thậmchí là rất phụ), không cần thiết lắm Ví dụ, không ai đánh giá GV môn GDCD
là “giỏi” hay “không giỏi”, nhiều tỉnh không tổ chức GV giỏi, HS giỏi mônGDCD, nhiều sở Giáo dục - Đào tạo không có chuyên viên môn này, cha baogiờ môn GDCD đợc chọn thi tốt nghiệp… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, học Vì vậy, HS học với tinh thần uể oải,
đối phó, hầu nh không lắng nghe, học bài, ghi bài, phát biểu; thực hành, kiểmtra thì chép tài liệu, GV cũng rất nản, hầu nh chỉ xem việc lên lớp đơn thuần
là nghề để “kiếm cơm”, không có hứng thú, say mê, không chịu khó học hỏi,trau dồi chuyên môn… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, học
Vì môn học GDCD không nằm trong các môn thi tốt nghiệp và đại họcnên HS không quan tâm, hứng thú với môn học này, tình trạng học chay, dạychay ngày càng phổ biến ở gia đình, không ít phụ huynh HS đã khuyên bảocác em là nên đầu t vào các môn chính ( Toán, Lý, Hoá… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, học) chứ không nên đầu
t nhiều vào các môn phụ (Công nghệ, GDCD… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, học)
HS phải học theo quy định của chơng trình, theo sự giảng dạy “góigọn” của GV, vâng lời cha mẹ, vô tình các em đã xem môn GDCD là môn
Trang 21phụ Khi đợc hỏi có “sợ” môn GDCD không thì các em bảo là không sợ vì nó
là môn phụ, cứ học thuộc lòng vài dòng thầy ghi trong vở là có thể có điểmkhá, giỏi rồi Từ suy nghĩ dẫn đến hành động không chú tâm đến môn GDCD,
do đó không hình thành đợc ý thức, thái độ ứng xử phù hợp Vì vậy việc viphạm các chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực pháp luật lại càng tiếp diễn
Thứ hai, chất lợng dạy học môn GDCD cha đợc nâng cao còn do xuất
đến yêu cầu HS vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề, tìnhhuống thực tế… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, học
Sách và tài liệu tham khảo cho GV môn GDCD còn ít về chủng loại,nghèo nàn về nội dung, cha đáp ứng đợc nhu cầu của GV
Môn học nhàm chán là do chơng trình và SGK vẫn còn nặng về lýthuyết, mang tính hàn lâm và khô cứng, HS ít đợc hoạt động trong giờ học.Phần học triết, GV phải tập trung để giải thích nhiều hơn là HS phải hoạt
động Hơn nữa, thời lợng giảng dạy không đủ để chuyển tải khối lợng kiếnthức, giáo cụ ít đợc hỗ trợ… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, họclàm cho tầm quan trọng của môn học đang bị coinhẹ, bởi với HS thì “môn không thi là môn phụ”, còn GV thì mang tâm trạng
“dạy cho xong” do chơng trình quá nặng Chỉ trong thời gian ngắn, GV khóchuyển tải hết nội dung kiến thức, chứ cha nói đến việc hình thành thái độứng xử Trong khi việc chuyển từ kiến thức thành ý thức, thái độ là một quátrình lâu dài đòi hỏi phải có sự nỗ lực của học sinh dới sự hớng dẫn, sửa saicủa GV và ngời lớn
Thứ ba, nguyên nhân cơ bản nhất đó là xuất phát từ phía GV.
GDCD lâu nay đợc xem là môn mạng nặng tính lí thuyết, đặc biệt làGDCD lớp 10 Điều này là một cản trở trong quá trình đổi mới PPDH của GV.Nhiều GV còn quá lệ thuộc và SGK, quen với cách dạy thụ động: thầy “đọc’,trò “chép” khiến giờ học trở nên khô khan Đây chính là nguyên nhân làm cho
HS cảm thấy chán khi học môn GDCD và từ đó làm cho vị trí môn học càngkhông đợc coi trọng Đó là cha kể đến thực trạng ở nhiều trờng hiện nay do
Trang 22thiếu GV GDCD nên GV các môn văn, lịch sử, ngoại ngữ, thậm chí thể dục… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, học
đợc phân dạy thêm môn GCDD làm cho chất lợng giảng dạy môn học càngxuống cấp trầm trọng
Mặt khác, cũng có nhiều GV đã chủ động đổi mới PPDH, tuy nhiênviệc đổi mới chỉ thực hiện một cách “nửa vời”, làm một cách đối chiếu, khi cótiết kiểm tra, hoặc thao giảng, sau đó lại thôi Hoặc đổi mới một cách hìnhthức mà không hoặc ít quan tâm đến hiệu quả tiết dạy Có ngời nặng về phôdiễn, trình bày một tiết dạy rất hay với giáo án điện tử, hình ảnh, âm thanh bắtmắt, sinh động nhng HS không phối hợp đợc các giác quan nghe, đọc, viết;tốc độ truyền thụ quá nhanh nên nhiều em không theo kịp bài, không nắm đợcnội dung bài học
Thời gian gần đây có nhiều GV rất sáng tạo, biến giờ dạy GDCD thànhgiờ học hấp dẫn, lôi cuốn HS Những GV đó đã bám sát các yêu cầu trongSGK, SGV, tìm tòi, thiết kế những bài giảng sinh động, gần gũi với lứa tuổi,
đối tợng HS thay vì việc truyền đạt kiến thức một chiều thì tạo ra tình huống
để HS giải quyết, tranh luận, chia sẻ quan niệm, suy nghĩ
Với những GV có tâm huyết nh thế, giờ học GDCD không hề khô cứng,khó hiểu và không nhàm chán GV giỏi là những ngời biết cách bù đắp thêmcho SGK Làm đợc nh vậy HS sẽ thấy bài học chính là cuộc đời, là cuộc sốngxung quanh mình Điều chỉnh PPDH, đánh giá là giải pháp cần thiết để khắcphục những bất cập trong việc dạy học môn GDCD, đa môn học này gần với
đời sống
Từ thực tiễn chất lợng dạy học môn GDCD nh trên, chúng ta có thểkhẳng định rằng, chất lợng dạy học cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp, quantrọng nhất ở khả năng đổi mới PPDH của GV Đổi mới phải toàn diện, nhấtquán, tâm huyết và đặc biệt là phải có hớng đổi mới phù hợp Đó là đổi mớiPPDH theo hớng phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình dạyhọc, chống lại thói quen học tập thụ động theo kiểu: Thầy giảng – trò nghe,thầy hỏi – trò trả lời, thầy đọc – trò ghi chép và học thuộc Quá trình dạyhọc một bài GDCD phải là quá trình HS đợc cuốn hút vào các hoạt động do
GV thiết kế, tổ chức, chỉ đạo, để thông qua đó, các em có thể tự khám phá vàchiếm lĩnh nội dung bài học HS sẽ hứng thú, thông hiểu và ghi nhớ những gìcác em đã nắm đợc qua hoạt động chủ động, nỗ lực, sáng tạo của chính mình
Trang 23Chiến lợc phát triển giáo dục 2001 – 2010 (Ban hành kèm theo quyết
định số 201/2001/QĐ - TTG ngày 28/12/2001 của Thủ tớng Chính phủ), ởmục 5.2 ghi rõ: Đổi mới và hiện đại hoá phơng pháp giáo dục, chuyển từ việctruyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hớng dẫn ngời học chủ
động t duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho ngời học phơng pháp tựhọc, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có t duy phân tích, tổnghợp, phát triển năng lực của mỗi cá nhân, tăng cờng tính chủ động, tính tựchủ của HS, sinh viên trong quá trình học tập… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, học
Nh vậy, việc đổi mới PPDH ở trờng THPT đợc diễn ra theo bốn hớngchủ yếu:
Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của HS
Bồi dỡng phơng pháp tự học
Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Tác động đến tình cảm, đem đến niềm vui, hứng thú học tập cho HS.Trong đó, hớng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự giác của
HS là cơ bản, chủ yếu, chi phối đến ba hớng sau
Để đáp ứng xu thế đổi mới đó của giáo dục - đào tạo, PPDH của cácmôn học trong nhà trờng, trong đó có môn GDCD cũng buộc phải thay đổicho phù hợp Sự thay đổi đó tất yếu phải thay đổi theo hớng phát huy tính chủ
động, sáng tạo của HS trong quá trình dạy học Bởi chỉ có hớng đổi mới đómới có thể tạo ra một sản phẩm giáo dục đáp ứng đợc yêu cầu của sự nghiệp
đổi mới đất nớc ta hiện nay
1.3.2 Thực trạng dạy học môn GDCD lớp 10 ở trờng THPT chuyên Phan Bội Châu
Một số đặc điểm của trờng THPT chuyên Phan Bội Châu.
Ra đời ngày 15/10/1974 – trờng THPT chuyên Phan Bội Châu trởthành trờng chuyên sớm nhất của miền Bắc, có trụ sở tại thành phố Vinh –tỉnh Nghệ An Trong thời kì đầu, trờng chỉ có hai lớp chuyên toán và chuyênvăn đợc tuyển chọn từ HS 2 trờng cấp III Thanh Chơng và Đô Lơng Niên học
đầu tiên 1974 – 1975 có hơn 100 HS với gần 40 thầy cô giáo, cán bộ côngnhân viên chức do thầy Đinh Văn Thông làm hiệu trởng Khoá đầu tiên tốtnghiệp có 51 HS, trong đó có 27 HS vào đại học trong nớc và 23 HS đi dự học
ở nớc ngoài Cho đến năm học 2008 – 2009, trờng có 33 lớp với hơn 1000
HS của 11 môn chuyên Mỗi năm trờng tổ chức 1 kì xét tuyển lấy khoảng 385
Trang 24HS vào 11 lớp chuyên bao gồm: Toán (A1), Tin (A2), Lý (A3), Hoá (A4),Sinh (A5), Văn (C1), Sử (C2), Địa (C3), Pháp văn (C4), Anh văn (C5), Ngavăn (C6)
Trờng đợc Nhà nớc trao tặng ba Huân chơng Lao động, trong đó Huânchơng hạng nhất nhận vào năm 2005, hai lần nhận cờ thi đua xuất sắc củaChính phủ Năm học 2008 – 2009, trờng vinh dự đón nhận danh hiệu: “Trờngchuẩn quốc gia” và hiện nay đang hớng tới mục tiêu xây dựng “Đơn vị anhhùng trong thời kì đổi mới”
Đội tuyển học HS giỏi năm 2008, trong tổng số 66 HS của trờng dự kỳthi HS giỏi quốc gia, có 49 HS đạt giải, gồm 2 giải nhất, 10 giải nhì, 23 giải ba
và 14 giải khuyến khích Theo thống kê, đã có hơn 700 HS đạt giải trong các
kỳ thi chọn HS giỏi quốc gia, trên 7300 HS trờng Phan Bội Châu đã đậu vàhọc tại các trờng đại học trong và ngoài nớc Có hơn 100 ngời có học vị Tiến
sĩ (số liệu năm 2005) hiện đang công tác trong nớc và nớc ngoài
Đội ngũ GV, cán bộ công nhân viên nhà trờng luôn đoàn kết, có tinhthần trách nhiệm cao Nhiều GV có tinh thần tự học, tự bồi dỡng để cập nhậtkiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lợng
đào tạo Hiện nay số GV có học vị thạc sĩ: 53; đang tham gia chơng trình đàotạo tiến sĩ: 2 và đào tạo thạc sĩ là 10 GV
Phơng hớng, nhiệm vụ trong năm học tới của nhà trờng là: Tổ chức tốtcuộc vận động 2 không với 4 nội dung, cuộc vận động “Học tập và làm theotấm gơng đạo đức Hồ Chí Minh”; nâng cao chất lợng toàn diện và chất lợng
HS giỏi; tập dợt nghiên cứu khoa học và tham gia viết bài trên các tạp chíchuyên nghành; xây dựng đội ngũ; xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị tr-ờng học; đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo của Lãnh đạo nhà trờng, nâng caochất lợng hoạt động của Tổ bộ môn
Những thành tích trên đã chứng tỏ trờng THPT chuyên Phan Bội Châu
đang trở thành một trong những đơn vị hàng đầu của tỉnh và cả nớc về chất ợng đào tạo nhân tài Đây cũng là cơ sở quan trọng đặt yêu cầu cho mọi mônhọc nói chung và môn GDCD nói riêng trong quá trình dạy học phải phát huytính chủ động, sáng tạo của HS
l-Thực trạng dạy học môn GDCD lớp 10 ở trờng THPT chuyên Phan Bội Châu
Trang 25Đợc thành lập từ lâu, nhng do đặc thù là một trờng chuyên nên mônGDCD mới đợc đa vào dạy học ở trờng khoảng trên 10 năm trở lại đây Trớc
đây, GV dạy GDCD chủ yếu là GV các môn khác kiêm nhiệm nh: văn, sử, địa
và thể dục Năm 1997, môn GDCD mới có GV chuyên ngành về dạy Cho đếnnay, trờng đã có 3 GV chuyên dạy môn GDCD đợc đào tạo đại học chính quy
và cả GV đang tiếp tục hoàn thành trình độ thạc sĩ
Tuy không phải là môn chuyên, nhng GDCD là một môn học luôn đợcnhà trờng coi trọng và đề cao vai trò Cùng với các môn học khác, môn họcnày đã và đang góp phần hoàn thành tốt mục tiêu đào tạo của nhà trờng Các
GV bộ môn cũng rất quan tâm đến việc bồi dỡng, trau dồi chuyên môn,nghiệp vụ, tăng cờng thao giảng, dự giờ thăm lớp, đổi mới PPDH nhằm làmcho môn GDCD thực sự là niềm yêu thích đối với HS trờng chuyên Nhữngkết quả đó thể hiện cụ thể ở các kết quả điều tra, khảo sát dới đây:
Nhận thức và thái độ của HS về vai trò môn GDCD:
Do đầu vào của HS ở trờng THPT chuyên Phan Bội Châu có sự chênhlệch và đặc điểm môn chuyên ở từng khối học đòi hỏi đối tợng HS khác nhau,cho nên HS của trờng sẽ đợc phân thành hai ban: ban tự nhiên gồm các lớp từA1 đến A5 và ban cơ bản gồm các lớp từ C1 đến C6 Nhìn chung HS ở khối tựnhiên có trình độ và năng lực nhận thức cao hơn, nhanh nhạy trong nắm bắt,tiếp thu kiến thức hơn so với HS khối cơ bản
Chúng tôi đã điều tra, khảo sát 140 HS khối 10, của cả 7 môn chuyên(70 HS ban tự nhiên: Toán, Tin, Lý, Hoá, Sinh; 70 HS ban cơ bản: Văn, Sử,
Địa, Anh, Pháp, Nga) để tìm hiểu nhận thức của HS về vai trò, vị trí của mônGDCD và thái độ đối với môn học Phần đông HS nhận thức đúng vai trò, vịtrí của môn GDCD trong nhà trờng, tuy nhiên mức độ này có sự chênh lệchgiữa hai khối Thái độ học tập nh trên ảnh hởng rất lớn đến chất lợng học tậpmôn GDCD, bởi nếu HS có thái độ, động cơ học tập đúng đắn sẽ chủ động,sáng tạo hơn trong quá trình học làm cho kết quả học tập cao hơn
Bảng 1: Nhận thức của HS về vai trò môn GDCD và thái độ đối với môn học Khối tự nhiên:
TT Nội dung câu hỏi và các phơng án trả lời Tổng hợp
ý kiến
Tỉ lệ %
Trang 261 Theo em, môn GDCD là môn học nh thế nào?
Từ kết quả điều tra đó, chúng tôi tiếp tục tiến hành điều tra mức độ chủ
động, sáng tạo học tập của HS đối với môn GDCD trớc và sau giờ lên lớp
Bảng 2: Mức độ chủ động, sáng tạo học tập của HS trớc và sau giờ lên lớp: Khối tự nhiên:
Mức độ
Hình thức
Thờngxuyên
Trang 27động, sáng tạo trong học tập cũng không cao Do thái độ học tập đúng đắn nên
HS khối cơ bản có mức độ chủ động, sáng tạo học bài cao hơn so với HS khối
tự nhiên do đó, kết quả học tập của HS khối này theo đó cũng cao hơn khối tựnhiên Điều tra kết quả học tập môn GDCD năm học 2008 - 2009 của 125 HSlớp 10 khối tự nhiên và 125 HS lớp 10 khối cơ bản cho thấy:
Khối cơ bản: Tỷ lệ HS giỏi(>8 điểm) có 78 em chiếm 62.4%, 37.6% HS khá.Khối tự nhiên: Tỷ lệ HS giỏi có 68 em chiếm 54.4%, 45.6% HS khá
Nh vậy, kết quả học tập cao không chỉ dựa vào trình độ nhận thức màcòn phụ thuộc vào mức độ chủ động, sáng tạo của chủ thể trong quá trình họctập Vậy làm thế nào để tăng cờng hơn nữa tính chủ động, sáng tạo học tậpmôn GDCD của HS, đặc biệt là HS khối tự nhiên để đạt kết quả học tập cao là
Trang 28một vấn đề cấp bách đối với GV dạy học GDCD ở trờng THPT chuyên PhanBội Châu.
Thực trạng dạy học môn GDCD ở trờng THPT chuyên Phan Bội Châu.Những ngày đầu mới thành lập, với mục tiêu là đào tạo những HS cónăng khiếu, chuyên sâu về một môn khoa học cụ thể nên lúc bấy giờ, ngoàinhững môn chuyên đầu tiên nh văn, toán, trờng Phan Bội Châu không dạythêm môn học nào khác
Thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện do bộ Giáo dục - Đào tạo đặt racho giáo dục phổ thông, lúc này, ngoài những môn chuyên vốn có, trờng PhanBội Châu mới có thêm các môn học khác nh GDCD, thể dục, công nghệ… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, họcTuy nhiên, khoảng thời gian này, thực trạng dạy học môn GDCD ở đây cònnhiều điều bất cập Vì đội ngũ GV ít (chỉ có 1 GV cho gần 30 lớp), lại khôngphải là GV đào tạo chính quy để giảng dạy GDCD mà là GV văn chuyển sang,cho nên chất lợng dạy học rất thấp Những giờ học GDCD đã đợc "văn họchóa" bởi những câu chuyện thời sự, chuyện cời với mục tiêu cho "xong giờdạy" mà không cần biết HS có nắm đợc bài hay không Có những lúc thiếu
GV do HS đợc tuyển sinh đông, GV chủ nhiệm cũng đồng thời kiêm nhiệmdạy cả môn GDCD Giờ học lúc này trở thành giờ "đọc - chép", thậm chí GVkhông dạy mà giao phó toàn bộ cho HS làm việc bởi chính GV cũng khôngbiết dạy thế nào vì họ không nắm đợc nội dung kiến thức! Chính thực trạnggiảng dạy nh thế cho nên, một thời gian rất dài, môn GDCD ở trờng THPTchuyên Phan Bội Châu dờng nh bị "quên lãng", trở thành môn "phụ" theo
đúng ý nghĩa của nó HS không biết môn học này học để làm gì, vì sao lạiphải học, nội dung của nó ra sao và đơng nhiên, tính chủ động, sáng tạo cho
HS của GV cũng cha bao giờ hình thành
Vào năm 1994, thực hiện chủ trơng của Sở Giáo dục - Đào tạo Nghệ An
về chuẩn hóa đội ngũ GV THPT, trờng chuyên Phan Bội Châu mới bắt đầutiếp nhận GV GDCD đào tạo chính quy đúng chuyên nghành và phải đến năm
2004, số GV GDCD của trờng mới đủ chuẩn là 3 GV Cũng từ đây, thực trạngdạy học môn GDCD tại trờng THPT chuyên Phan Bội Châu có sự nâng cao rõrệt về chất lợng Các GV không chỉ đảm bảo chuẩn, khoa học về việc truyền
đạt kiến thức mà đã có sự thay đổi rất lớn về PPDH Những PPDH truyềnthống trớc đây dần đợc bổ sung, đổi mới bằng các PPDH tích cực Giờ họcGDCD trở nên sôi động, lôi cuốn HS hơn, nhờ đó, môn GDCD đã khẳng định
Trang 29đợc vị trí, tầm quan trọng của mình trong chính HS và góp phần vào các thànhtích đạt đợc của nhà trờng.
Bảng 3: Kết quả điều tra việc phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS trong
dạy học môn GDCD ở trờng THPT chuyên Phan Bội Châu đối với GV:
Mức độ
Hình thức
Không sửdụng
Để phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS thì trớc hết GV phải thực
sự là ngời chủ động, sáng tạo trớc, trong và sau quá trình lên lớp dạy học.Chính vì thế chúng tôi đã tiến hành điều tra thực trạng mức độ chủ động, sángtạo của 3 GV GDCD trờng chuyên Phan Bội Châu trớc và sau giờ lên lớp, kếtquả đạt đợc nh sau:
Bảng 4: Mức độ chủ động, sáng tạo của GV dạy học môn GDCD trớc và sau
giờ lên lớp
Mức độ
Hình thức
Khôngbao giờ
Luôn đọc tài liệu tham
khảo trớc khi soạn
giáo án
%
Trang 30Thay đổi PPDH sau
Tham khảo giáo án, tài
liệu liên quan trên
Trang 31Luận văn cũng đã đi vào phân tích đặc điểm tâm, sinh lí của HS THPT,thấy rõ những đặc điểm riêng có ở lứa tuổi này ảnh hởng trực tiếp đến việc đổimới PPDH môn GDCD Và chúng tôi rút ra kết luận: chỉ có phát huy tính chủ
động, sáng tạo của HS trong quá trình dạy học mới là hớng đổi mới phù hợpvới đặc điểm tâm, sinh lí ở lứa tuổi này
Đồng thời, luận văn đã điều tra, đánh giá chất lợng dạy học môn GDCDcũng nh thực trạng dạy, học môn GDCD trong thời gian qua ở trờng THPTchuyên Phan Bội Châu, nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó Từ đó cho thấy,chất lợng dạy, học môn GDCD cha đạt hiệu quả cao là do GV đổi mới PPDHcha đúng hớng nên cha phát huy đợc tính chủ động, sáng tạo của HS
Phơng hớng đổi mới PPDH đang là một vấn đề thời sự đặt ra cho mọi
GV, mọi trờng học và mọi cấp nghành Giáo dục – Đào tạo trong nớc cũng
nh trên thế giới Bắt kịp vời vấn đề thời sự đó, luận văn đã đi vào giải quyếtvấn đề cơ sở lí luận của việc cần thiết phải đổi mới PPDH học theo hớng pháthuy tính chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình dạy học nói chung và mônGDCD nói riêng
Chơng 2 Thực nghiệm và giải pháp nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy
-2.1.2 Giả thuyết thực nghiệm
Trang 32Nếu việc phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS trong dạy học mônGDCD lớp 10 nâng lên thì theo đó, kết quả học tập cũng cao hơn Chúng tôitiến hành thực nghiệm để chứng minh giả thiết đó Nếu thành công thì sẽ tiếnhành vận dụng vào quá trình dạy học môn GDCD trong toàn tỉnh Nghệ An.
Đồng thời có thể nghiên cứu và vận dụng vào dạy học môn GDCD cho HS cáctrờng THPT trong cả nớc
2.2 Kế hoạch thực nghiệm
- Địa bàn thực nghiệm
Thực nghiệm s phạm đợc tiến hành tại trờng THPT chuyên Phan BộiChâu - Thành phố Vinh - Nghệ An
- Thời gian tiến hành thực nghiệm
Đợc tiến hành trong học kỳ I năm học 2009 - 2010, gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Lên kế hoạch thực nghiệm, chọn bài để thiết kế giáo án
- Giai đoạn 2: Tổ chức dạy thực nghiệm tại trờng THPT chuyên PhanBội Châu, tiến hành điều tra, khảo sát kết quả thực nghiệm đối chứng
- Giai đoạn 3: Xử lý, phân tích số liệu thống kê kết quả thực nghiệm đểrút ra các giải pháp nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS
2.3 Nội dung thực nghiệm
2 3.1 Thiết kế giáo án một số tiết trong chơng trình GDCD lớp 10
Qua nghiên cứu và để phù hợp với thời gian hoàn thành luận văn, chúngtôi lựa chọn 2 tiết thuộc 1 bài trong chơng trình GDCD lớp 10 để thiết kế giáo
án thực nghiệm và đối chứng là:
Tiết 1: bài 7: Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức(2 tiết)Tiết 2: bài 7: Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức(2 tiết)
* Đối với giáo án thực nghiệm:
Chúng tôi thiết kế giáo án theo hớng phát huy tính chủ động, sáng tạocủa HS, áp dụng những PPDH tích cực, phơng tiện dạy học hiện đại, khuyếnkhích năng lực tự học, tự t duy của HS
* Đối với giáo án đối chứng:
Trang 33Đợc nghiên cứu và lựa chọn ở hai tiết dạy học nh tiết dạy học thựcnghiệm Tuy nhiên, chúng tôi lên kế hoạch soạn bài dạy theo những PPDHtruyền thống, không áp dụng các phơng tiện hay PPDH để phát huy tính chủ
động, sáng tạo của HS và tiến hành dạy học trên cơ sở giáo án đã thiết kế
1 thiết kế giáo án thực nghiệm số 1
Bài 7 : thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
II Tài liệu và phơng tiện dạy học
- Bao gồm: SGK, SGV GDCD 10, bài tập tình huống, các vật thực, máy
vi tính, máy chiếu, phiếu học tập
- Để chuẩn bị cho tiết học này, GV hớng dẫn HS đọc trớc bài trongSGK; su tầm những câu ca dao, tục ngữ nói lên sự không thống nhất giữa nộidung và hình thức của con ngời, sự vật, sự việc trong cuộc sống ở các sách
"Tục ngữ Việt Nam", Châu Nhiên Khanh, NXB Đồng Nai, 2000; "Ca dao ViệtNam", Châu Nhiên Khanh, NXB Hà Nội, 2002
- Ngoài ra, chúng tôi còn hớng dẫn HS tìm hiểu những vật thực, gần gũitrong cuộc sống hằng ngày để chuẩn bị tốt cho tiết học
III Tiến trình dạy học
1 Kiểm tra bài cũ:
Thời gian: 3 phút
Thiết kế trên phần mềm ứng dụng
Trang 34Đánh dấu X vào nội dung em cho là đúng: Những việc làm nào sau đâycủa HS phù hợp với quan điểm phủ định biện chứng?
a Luôn đổi mới phơng pháp học tập
GV chiếu hình ảnh HS trong giờ thực hành môn hóa học
Hỏi: Các giờ thí nghiệm, thực hành có ý nghĩa gì đối với ngời học?HS: Trả lời cá nhân
GV: Bài học hôm nay sẽ giúp các em hiểu về vai trò của hoạt động thựctiễn đối với nhận thức Trong tiết này chúng ta sẽ tìm hiểu nhận thức là gì,hiểu biết nhận thức của con ngời bắt nguồn từ thực tiễn, luôn có ý thức học đi
đôi với hành
3 Giảng bài:
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung bài học
Hoạt động1: Đàm thoại gởi mở tìm hiểu
các quan niệm về nhận thức để rút ra kết
luận: Quan điểm nhận thức của Triết
học Mác - Lênin là khoa học nhất
GV: Hỏi: - Qua tìm hiểu SGK, cho biết
lịch sử triết học đã từng hình thành
những quan niệm nhận thức nào?
- Nhận xét những quan niệm
nhận thức đó?
(Với cách đặt câu hỏi vấn đáp nh thế
này, HS sẽ chủ động hơn trong việc tự
tìm ra kiến thức cần phải ghi nhớ mà
GV không cần giải thích nhiều).
Sau khi HS trả lời, GV kết luận:
Hoạt động 2: Chơi trò "bịt mắt đoán
vật"
GV: Mời hai HS đại diện 2 dãy và 2
trọng tài tham gia trò chơi Nếu nhìn
b Hai giai đoạn của quá trình nhận thức
Trang 35thấy vật hoặc đợc đồng đội nhắc sẽ vi
phạm luật Trong thời gian 2 phút, đội
nào đoán nhiều vật nhất sẽ thắng cuộc
Sau trò chơi GV hỏi:
- Dựa vào đâu mà các bạn đoán đợc vật?
- Việc đoán nh trên cho ta những hiểu
GV: Chuẩn bị các phiếu học tập (mỗi
bàn một phiếu) mỗi phiếu 1 câu hỏi với
2 nội dung sau:
Phiếu 1: Tìm hiểu thuộc tính bên trong
của thanh sắt? Dựa vào cơ sở nào mà
em biết đợc những thuộc tính đó?
Phiếu 2: Tìm hiểu thuộc tính bên trong
của quả cam? Dựa vào cơ sở nào mà em
biết đợc những thuộc tính đó?
HS: làm việc trong 5 phút
GV: Sau khi hết thời gian sẽ gọi đại diện
bất kỳ của các bàn trả lời, bàn khác bổ
sung Kết luận: Giai đoạn nhận thức có
đầu bài học).
- Là giai đoạn nhận thức có đợc do
sự tiếp xúc trực tiếp của các giácquan lên SV, HT, cho ta nhữnghiểu biết về đặc điểm bên ngoàicủa chúng
(Câu hỏi này sẽ khuyến khích t duy độc lập sáng tạo của HS, bởi các em phải vừa hiểu bài, vừa phải có sự suy luận mới có thể trả
lời chính xác)
* Nhận thức lý tính:
( Phiếu học tập là một hình thức của PP thảo luận và vấn đáp, giúp cho tất cả các HS trong lớp đều có cơ hội trả lời, thể hiện ý kiến cá nhân, phát huy đợc năng lực t duy
độc lập, sáng tạo của các em)
Trang 36kết luận, ghi bảng.
GV: Tổ chức cho HS làm bài tập tình
huống sau: Trong các tri thức dới đây,
tri thức nào thuộc HTLT, tri thức nào
thuộc NTCT?
a ớt màu đỏ, hình thon dài, cay
b.Cấu trúc và tính chất hóa học của
đ-ờng
c Mùa thu trời nắng vàng, se lạnh
d Dự báo đờng đi và cờng độ của bão số
nhận thức của con ngời về quả cam (phụ
lục) sau đó đặt câu hỏi:
- Trình bày lại quá trình hình thành nhận
thức về quả cam của con ngời qua sơ đồ
SV, HT
(Việc xen kẽ bài tập tình huống theo hình thức trắc nghiệm nh thế này không những tạo không khí lớp học sôi nổi mà còn giúp HS vận dụng kiến thức vào cuộc sống)
Kết luận: Cần kết hợp hai giai
đoạn của quá trình nhận thức đểhiểu chính xác về sự vật, hiện t-ợng
(Phơng pháp này cũng rất hiệu
quả trong việc phát huy t duy sáng tạo của HS, bởi nó đợc thiết kế trên phần mềm ứng dụng với các hiệu ứng sinh động giúp HS dễ phát hiện vấn đề hơn).
c Nhận thức là gì?
- Nhận thức là quá trình phản ánh
SV, HT của thế giới khách quanvào bộ óc ngời để tạo nên nhữnghiểu biết về chúng
Trang 37sở để NTLT sâu sắc và toàn diện hơn về
SV, HT NTLT là bớc phát triển về chất
so với NTCT, nhờ đó con ngời mới hiểu
biết thế giới khách quan
GV: Đa ra hai tình huống để HS thảo
luận lớp
Tình huống 1: Một bạn HS mới nghe
nói không tốt về ngời bạn mới quen,
nên vội vàng kết luận ngay là bạn đó
PP nêu và giải quyết vấn đề, qua
đó, làm cho HS khắc sâu kiến thức
và gắn nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống)
*Bài học thực tiễn:
- Để đánh giá đúng SV, HT phảitrực tiếp tiếp xúc, phân tích kỹ,không nên đoán mò, "nhìn mặt bắthình dong"
- Muốn học giỏi ở trên lớp phải tậptrung cao độ, không làm việcriêng,… Ông đã kịch liệt phê phán lối học giáo điều, học
4 Củng cố: Cho HS chơi trò chơi ô chữ để tìm ra ô chữ hàng dọc là nội
dung chính của tiết học: Nhận thức
Trang 38(Với trò chơi này không những kích thích HS học tập chủ động, sáng tạo, lôi cuốn, giảm căng thẳng mà còn giúp các em nhớ lại những kiến thức bài cũ trớc đó.)
5 Hoạt động nối tiếp:
- Hớng dẫn HS làm bài tập 1, 2 trong SGK Su tầm các câu ca
dao, tục ngữ nói về vai trò của thực tiễn cuộc sống đối với nhận thức của conngời ở 2 tài liệu đã giới thiệu ở tiết 1
- Đọc và tìm ý nghĩa câu chuyện kể về nhà bác học Galile phần
"T liệu tham khảo" SGK GDCD lớp 10, trang 4
Phụ lục: sơ đồ về quá trình nhận thức quả cam
L ợng đ ờng
tròn nh
nh ẵn thơm ngọt
Nhậ n thức lý tính
Trình bày quá trình nhận thức quả cam theo
sơ đồ d ới đây?
Nhận thức toàn diện về quả
cam
Thế nào là nhận thức ?
thiết kế giáo án thực nghiệm số 2
Bài 7: thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Trang 39- Có ý thức tìm hiểu thực tế và khắc phục tình trạng chỉ học lý thuyết
mà không thực hành, luôn vận dụng những điều đã học vào cuộc sống
II Phơng tiện dạy học
- Máy chiếu, tranh ảnh, phim t liệu, bài tập tình huống, phiếu trắcnghiệm
- Các tài liệu liên quan mà GV đã hớng dẫn HS tìm hiểu ở tiết học trớc
III Tiến trình dạy học.
1 Kiểm tra bài cũ :
Trang 40?Hãy nối các ô ở cột trái với một số ô ở cột phải sao sao
cho phù hợp?
g Lúa có nhiều tinh bột, điều kiện trồng phải có
n ớc, trồng theo mùa vụ nhất định.
e Cây lúa có màu xanh, rễ chùm, có bông, nhìều hạt, hạt có vỏ trấu.
d Dựa a trên sự tiếp xúc trực tiếp của các cơ quan cảm giác lên SV - HT.
Nhận thức
lí tính
c Dựa trên các tài liệu do nhận thức cảm tính
đem lại, nhờ các thao tác của t duy nh phân tích, so sánh, khái quát hoá.
Nhận thức
c m tính
b Tìm ra bản chất, quy luật của SV - HT.
a Đ a lại cho chúng ta hình ảnh bên ngoài của
SV - HT.
2 Khởi động:
Cho HS tìm hiểu ý nghĩa câu tục ngữ: "Đi một ngày đàng học một sàng
khôn" GV chốt lại và dẫn vào bài.
3 Giảng bài.
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung bài học
Hoạt động 1: Đàm thoại gợi mở tìm hiểu
khái niệm thực tiễn
GV: Chiếu lên màn hình 2 hình ảnh và 1
đoạn phim:
- Ngời nông dân đang cày ruộng
- Nhóm sinh viên đang nghiên cứu khoa
học
2 Thực tiễn là gì?
a Khái niệm