1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường THPT nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa vũng tàu

135 1,9K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Phần "Công Dân Với Đạo Đức", Chương Trình Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 10
Tác giả Mai Thị Mai
Người hướng dẫn PGS-TS. Nguyễn Lương Bằng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo Dục Công Dân
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Luật Giáo dục, điều 28.2., đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải pháthuy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HShọc sinh; phù hợp với từng đặcđiểm của từng lớp học,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-o0o -MAI THỊ -o0o -MAI

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG

DẠY HỌC PHẦN "CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC",

CHƯƠNG TRÌNH MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10

(QUA KHẢO SÁT TRƯỜNG THPT NGUYỄN DU, HUYỆN CHÂU ĐỨC,

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành Phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi xin cảm ơn sựgiúp đỡ nhiệt thành đến Lãnh đạo trường Đại học Vinh, Lãnh đạo trường Đại học SàiGòn Xin cảm ơn quý thầy, cô Khoa Giáo dục Chính trị trường Đại học Vinh đã truyềnđạt những tri thức quý báu, giúp tôi hoàn thành chương trình học và thực hiện luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS -TS NguyễnLương Bằng, Khoa Kinh tế trường Đại học Vinh, người đã động viên, giúp đỡ tôi trongsuốt thời gian thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo giảng dạy môn Giáo dục công dânTrường THPT Nguyễn Du, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã nhiệt tình hợptác và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi thực hiện luận văn

Xin cảm ơn gia đình và người thân, cảm ơn sự động viên khích lệ của bạn bè vàđồng nghiệp

TP Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2012 Tác giả

Mai Thị Mai

Trang 3

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

Bài giảng điện tử BGĐT

Cơ sở vật chất CSVCCông nghệ thông tin CNTTGiáo viên GV

Giáo dục công dân GDCDHọc sinh HS

Lớp đối chứng LĐCLớp thực nghiệm LTNPhương pháp dạy học PPDHPhương tiện dạy học PTDHTrung học phổ thông THPT

MỤC LỤC

Trang 4

Trang

A MỞ ĐẦU……… 1

B NỘI DUNG 10

Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”, CHƯƠNG TRÌNH MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 10

1.1 Cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 10

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng PPDH tích cực trong phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 tại trường THPT Nguyễn Du, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 36

Kết luận chương 1: 47

Chương 2: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”, CHƯƠNG TRÌNH MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 TẠI TRƯỜNG THPT NGUYỄN DU, HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 49

2.1 Chuẩn bị thực nghiệm 49

2.2 Nội dung thực nghiệm 50

Kết luận chương 2 77

Chương 3:QUY TRÌNH VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”, CHƯƠNG TRÌNH MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 78

3.1 Quy trình vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 78

3.2 Giải pháp vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân 10 93

Kết luận chương 3……… 105

C KẾT LUẬN……… 106

D.TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

E PHỤ LỤC 113

Trang 5

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ thế kỷ XXI phát triển như vũ bão, đóđược xem là sự bùng nổ về cách mạng tri thức và cách mạng thông tin Hệ thống côngnghệ cao ra đời, lực lượng sản xuất phát triển, làm cho xã hội biến đổi sâu sắc về mọimặt Cùng với sự phát triển mạng viễn thông toàn cầu giúp mỗi người trao đổi thôngtin một cách nhanh chóng, và dễ dàng tiếp cận với nguồn tri thức vô tận của nhân loại,

có thể xem nó là “Bách khoa toàn thư của loài người” Để thích ứng với điều đó, đòihỏi nền giáo dục và đào tạo của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, phảicải cách triệt để nền giáo dục để gấp rút đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng cho sự pháttriển của nền kinh tế Giáo dục nhằm đào tạo ra những con người có phẩm chất, bảnlĩnh vững vàng, có trách nhiệm với xã hội, giám nghĩ, giám làm, có tư duy độc lập,năng động sáng tạo, tiếp thu làm chủ tri thức mới, biết ứng dụng linh hoạt sáng tạo vàothực tiễn Đồng thời từ bỏ cách dạy thụ động, áp đặt, nặng nề, nhồi nhét kiến thức, màchú trọng vào phát triển trí tuệ, bồi dưỡng năng lực, phương pháp tiếp cận, giải quyếtvấn đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử, làm việc trong cộng đồng Chính vì vậy, ở nước ta đãtriển khai chiến lược cải cách giáo dục vào các năm 1950,1956,1980., Ttập trung vào

cải cách giáo dục ở bậc phổ thông, mà trọng điểm là cải cách chương trình, sách giáo

Trang 6

khoa theo hướng tinh giảnn, tập trung vào các kiến thức kỹ năng cơ bản, coi trọng thựchành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4khóa VII của Đảng (1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12/1996) được thểchế hóa trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục

và Đào tạo, đặc biệt chỉ thị số 14 (4- 1999)

Trong Luật Giáo dục, điều 28.2., đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải pháthuy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HShọc sinh; phù hợp với từng đặcđiểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năngvận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thúhọc tập cho HShọc sinh”

Nghị quyết số 40/2000/QH10 ngày 9/12/2000 của Quốc hội về đổi mới chươngtrình giáo dục phổ thông đã khẳng định tính tất yếu đổi mới nội dung chương trình,sách giáo khoa, phương pháp dạy và học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diệnthế hệ trẻ, Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/

QĐ – BGD ĐT ngày 5/5/2006 Thực hiện tinh thần của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đàotạo phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học đã đưa ra: “Phải pháthuy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HShọc sinh; phù hợp với đặc trưngmôn học, đặc điểm đối tượng HS học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho

HShọc sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiếnthức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệmhọc tập cho HShọc sinh”[64; tr.8]

Từ năm học 2006 – 2007 cả nước bắt đầu thực hiện theo triển khai của Bộ giáodục và Đào tạo về đổi mới nội dung, chương trình SGK, đẩy mạnh PPDHphương phápdạy học Đồng thời,và bắt đầu tổ chức bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên về PPDHphương pháp dạy học và sau đó đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học về đổi mới PPDHphương pháp dạy học ở các Tỉnh, Thành Phố do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức

Trang 7

Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳngđịnh: “Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi,kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coitrọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống,năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xãhội…”[438; tr 216].

Đặc biệt liên quan đến đề tài nghiên cứu phải nhắc đến các văn bản chỉ đạo như:Chỉ thị số: 3398/CT- BGDĐT, ngày 12 tháng 8 năm 2011, đã xác định một trongnhững nhiệm vụ của giáo dục phổ thông năm học 2011 - 2012 là điều chỉnh nội dungdạy học theo hướng giảm tải, tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục, PPDH và kiểmtra đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông cho tất

các các môn học Công văn số 5358/BGDĐT-GDTrH, hướng dẫn nhiệm vụ năm học

2011- 2012 là tiếp tục thực hiện đổi mới PPDH triệt để hơn, sâu rộng hơn đến từng cán

bộ quản lý, GV trung học và HS

Thực hiện yêu cầu đổi mới,trên Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

đã triển khai cho đội ngũ GVgiáo viên trong toàn tỉnh thực hiện đổi mới phương phápdạy họcPPDH., Kế hoạch được triển khai thực hiện giai đoạn đầu 54 năm (2006-2012), nội dung của việc đổi mới được thể hiện rõ nhất qua tiết dạy thao giảng, hộigiảng trong các nhà trường, đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HShọc sinh.,

Trong mỗi tiết dạy đổi mới phương pháp đã tạo nên sự hứng thú, niềm say mê, khámphá, tìm tòivui trong học tập của HShọc sinh, làm cho học sinh HS tự tin trình bàyquan điểm của mình trước đám đông và kích thích sự tư duy sáng tạo, nhu cầu tự họccủa học sinhHS Đồng thời cũng chính từ trong tiết dạy đã cho thấy giáo viên GV dầndần làm quen, vận dụng PPDHphương pháp dạy học tích cực vào dạy học Thực tế việcđổi mới PPDH phương pháp dạy học tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, trong thời gian quacòn nhiều bất cập và hạn chế, một bộ phận không nhỏ giáo viên GV chưa thực sự chịukhó, quyết tâm cải tiến PPDH, vẫn còn hiện tượng mà vẫn sử dụng tình trạng “đọc -chép” Trong các giờ dạy hoặc sử dụng công nghệ thông tin qua tiết dạy phần mềmPowerPoint bằng “trình chiếu - chép”, chưa chú trọng đến việc tạo hứng thú, kích thích

tư duy học sinh tiếp nhận, làm chủ kiến thức, mà chỉ là thụ động ngồi nghe, ghi chép,

Trang 8

nhớ lại những kiến thức của các thầy cô truyền đạt trong tiết dạy, cho nên phương phápchủ yếu là thuyết trình, diễn giải Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra cho các GVgiáo viên đangtrực tiếp giảng dạy, là cần phải không ngừng đổi mới PPDHphương pháp dạy học chophù hợp với đặc trưng môn học , Đổi mới nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng sáng tạo và rèn luyện thói quen vào khả năng tự học., Tinh thần hợp tác, kỹ năngvận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau và trong thực tiễn, tránh sự ỷ lại

và phụ thuộc vào GV giáo viên, đem lại niềm vui, sự yêu thích qua từng tiết học, bàihọc Qua những vấn đề thực tế nêu trênVì vậy, với vai trò là một người GV đang trựctiếp đứng lớp chúng tôi chọn đề tài: Vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” , chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10

làm đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học

Để vận dụng và tổ chức có hiệu quả quá trình giáo dục trong nhà trường phổ thông thìcác phương pháp giảng dạy – giáo dục là một thành tố vô cùng quan trọng, vì việc vậndụng hợp lý các phương pháp giáo dục đạo đức với các phương pháp dạy học, cácphương pháp đó là cách thức hoạt động chung và giao lưu giữa giáo viên, tập thể họcsinh và từng cá nhân học sinh nhằm lĩnh hội được nền văn hóa đạo đức của loài người

và của dân tộc để trở thành một nhân cách trọn vẹn Cho nên, giáo dục đạo đức cho HSluôn luôn được Đảng và nhà nước quan tâm Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XI của Đảng viết: “Môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, tráivới thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm

và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng longại”[43;169] Xuất phát từ quan điểm đó cho đến nay đã được của nhiều tác giả trong

và ngoài nước quan tâm nghiên cứu đã được công bố dưới góc độ khác nhau như:Sách, báo, tạp chí, luận văn thạc sĩ…Những công trình này được công bố ở hai góc độ,

đó là lý luận chung về phương pháp dạy học và các công trình nghiên cứu mang ýnghĩa thực tiễn về đổi mới phương pháp dạy học, vận dụng phương pháp dạy học tíchcực môn GDCD

Trang 9

Bản chất của con người đã được nhiều nhà tư tưởng, giáo dục ở phương Đông vàphương Tây, từ thời cổ đại đến nay đều được bàn đến Như Xôcrát (469-399) và Platôn(427-347) thì “cái thiện” là một ý niệm chung, phổ biến và bất biến là ý niệm cao nhấtđược coi là chúa sáng thế, là mặt trời sinh ra muôn vật Khổng tử (551- 479) và Mạnh

tử (372- 289) thì cho rằng con người ta sinh ra đã mang bản chất, mầm mống của cái

“thiện” “nhân chi sơ tính bản thiện” Người ta không ai là không thiện cũng như nướckhông lúc nào là không chảy xuống chỗ trũng (nhân vô hữu bất thiện, thủy vô hữu bấthạ) Rõ ràng các quan niệm trên đều cho thiện, ác như là những thuộc tính bản chất củacon người từ lúc mới sinh ra tính chất tiên thiên – tiền định Theo quan điểm đạo đứchọc Mác –Lênin thì ý thức của con người về thiện và ác không phải là sản phẩm trừutượng thuần túy có tính chất tiên thiên hoặc “mầm mống” di truyền Ngược lại, nó làkết quả phản ánh những điều kiện kinh tế - xã hội của một thời đại, một hoàn cảnh cụthể Ăng ghen chỉ ra rằng: “Tự giác hay không tự giác, rút cuộc người ta đều lấy nhữngquan điểm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tế đã tạo thành cơ sở cho địa vịgiai cấp của mình tức là những mối quan hệ kinh tế, trong đó người ta tiến hành sảnxuất và trao đổi” [1; 161] Còn Hồ Chí Minh đã khẳng định một quan niệm khoa học

về bản chất con người và tác dụng của giáo dục đối với con người, nhưng quan điểmgiáo dục của Hồ Chí Minh gần với nhận thức “nhân chi sơ tính bản thiện” Song, lạinhấn mạnh đến tác động của xã hội, ảnh hưởng của gia đình, nhanh chóng làm thay đổibản chất con người Do đó, cần phải có giáo dục, nhưng không phải để cho việc giáodục tự nhiên diễn ra mà phải tiến hành giáo dục có định hướng theo một chủ đích nhấtđịnh:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện,

Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền;

Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,

Phần nhiều do giáo dục mà nên”[27; 383]

Trong công tác giáo dục điều quan trọng là nhà giáo phải làm cho học sinh hàohứng, phấn khởi, tích cực tiếp nhận tự sự giáo dục Nhà giáo dục chỉ là người hướngdẫn, gợi mở cho học sinh chứ không thể thay thế được tính tích cực chủ động, sáng tạocủa học sinh như nhà triết học, người thầy vĩ đại của Trung Quốc thời kỳ cổ đại là

Trang 10

Khổng tử nói: “Trò nào không hỏi làm thế nào? Làm thế nào? Thì ta cũng chẳng làmthế nào được” Vì vậy, nhà giáo dục phải tìm mọi biện pháp động viên, khơi dậy tínhtích cực của chủ thể ông nói: “Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho,không bực mình vì không rõ được thì không bày vẽ cho Vật có bốn góc bảo cho biếtmột góc mà không suy ra ba góc khác thì không dạy nữa”

Ở Việt Nam tiêu biểu cho các công trình nghiên cứu về phương pháp dạyhọcTrường Đại Học Sư phạm Hà Nội đã có nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểuthuộc lĩnh vực dưới góc độ lý luận chung về phương pháp dạy học nhưvới các tác giảPhan Huy Ngọ: “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” tác giả đã đi sâunghiên cứu vấn đề lý luận dạy học, các phương pháp dạy học, kỹ thuật sử dụng phươngtiện dạy học trong nhà trường, điểm mạnh và hạn chế của các phương pháp dạy học,các phương pháp đánh giá kết quả [33; 183, 326] Cũng như; Trần Bá Hoành: “Đổimới phương pháp dạy học, chương trình SGK” tác giả nghiên cứu và trình bày lý luậnchung đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và SGK phổ thông [19; 7,176].Còn; Đặng Thành Hưng: “Tương tác và hoạt động của thầy trò trên lớp học” tác giả

đã chú trọng trình bày kỹ thuật sử dụng câu hỏi trong bài học, hành vi ứng xử của giáoviên, sử dụng lời nói trên lớp và trình bày bảng như một phương tiện ngôn ngữ viết trênlớp [20; 28, 46; ] Với Trần Bá Đoàn: “Lý luận cơ bản về dạy và học tích cực” tác giảnêu lên những vấn đề chung về thực trạng dạy và học hiện nay, sự cần thiết phải đổimới, những định hướng đổi mới theo phương pháp dạy và học tích cực [16; 3] , vànhiều công trình khác Từ sự nghiên cứu lý luận dạy học và nêu lên hệ thống các PPDHphương pháp dạy học dạy học theo hướng tích cực, chủ động của người học, khẳngđịnh vai trò trung tâm của người học trong quá trình dạy học, các tác giả đã có cáchviết khác nhau tạo ra sự đa dạng và phong phú về nội dung và phương pháp nghiêncứu

Liên quan đến nội dung của đề tài PGS TS Nguyễn Lương Bằng có một sốcông trình nghiên cứu như sau: Tiêu chí đánh giá, xếp loại đạo đức học sinh phổ thông

- một số vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay, Tạp chí Đại học Sài Gòn, Số 8 2012;Truyền thống đạo đức trọng nhân nghĩa và ảnh hưởng của nó đối với sinh viên hiện

nay, Tạp chí Giáo dục, Số 4 2006; Một số vấn đề đặt ra đối với môn Giáo dục công

Trang 11

dân từ thực tiễn dạy học bộ môn ở Nghệ An, Tạp chí Giáo dục, Số 66 2003 Luận văn

Có những công trình nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn về đổi mới phương pháp dạyhọc, vận dụng phương pháp dạy học tích cực môn GDCD, có những tác giả chưa đisâu vào nghiên cứu phương pháp dạy học, khi bàn tới các phương pháp dạy học đã đềcập tới các phương pháp dạy học thông dụng, nhưng tác giả đã có những kế thừa nhữngthành quả nghiên cứu lý luận của các tác giả đi trước để triển khai công trình của mìnhnhư các tác giả:

Th.S Nguyễn Thị Phương Hoa “Bài giảng phương pháp” tác giả trình bày kiến

thức đại cương về phương pháp dạy học, các đặc trưng của các phương pháp dạy học

và cách vận dụng phương pháp dạy học thông dụng ở các trường chuyên nghiệp và dạy

nghề; Th.S Nguyễn Thị Hồng Phước Dạy học theo hướng tính tích cực của học sinh

trong phần “Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học”

ở trường THPT hiện nay (Qua khảo sát trường THPT Thành Phố Cao Lãnh); Th.S Vũ

Thị Lan “Dạy học giải quyết vấn đề phát huy tính tích cực của sinh viên trong quá

trình dạy học” ; Th.S Phạm Thị Nga Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tính tích cực của học sinh trong phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT hiện nay;

Th.S Nguyễn Thị Kim Phụng Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm

nâng cao hiệu quả giảng dạy phần “Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học”(GDCD Lớp 10) (Qua khảo sát trường THPT Lấp Vò 1, Huyện Lấp Vò, Tỉnh Đồng Tháp); Th.S Nguyễn Thị Kim Ngân: Vận dụng các phươngpháp dạy học tích cực trong dạy phần “Công dân với việc hình thành thế giới quan,phương pháp luận khoa học” ở trường THPT hiện nay (Qua thực tế một số trườngTHPT tỉnh Nghệ An)

; Về cơ bản các công trình đã nêu trên rất sâu sắc, tuy nhiên các công trình đó

vẫn là cái chung trên bình diện rộng, nhưng đã cung cấp cho tôi về phương pháp lýluận làm cơ sở, tiền đề nghiên cứu luận văn, còn bản thân tôi là GV đang trực tiếp đứnglớp giảng dạy, tôi muốn đi tìm hiểu sâu hơn trong thực tiễn trên trường, tiết học cụ thể

chưa đề cập tới của bộ môn GDCD trong phạm vi nghiên cứu hẹp hơn là vận dụngPPDH tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo

Trang 12

dục công dân lớp 10 Vì vậy, những đề tài đó tôi sẽ có cái nhìn cụ thể hơn, giúp cho đềtài của tôi hoàn thiện hơn.

do đó tôi phải có trách nhiệm của mình vào việc khắc phục sự thiếu hụt đó.

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích

Đề tài nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng phương phápdạy PPDH học tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chương trình mônGiáo dục công dân lớp 10., Từ kết quả khảo sát, thực nghiệm của đề tài, đề xuất một sốgiải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Giáo dục công dân ở lớp 10 (Quakhảo sát tại trường THPT Nguyễn Du, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Phân tích và làm rõ tính tất yếu của việc vận dụng PPDHphương pháp dạy học

tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, thuộc chương trình môn Giáodục công dân lớp 10

- Chỉ ra những phương pháp dạy học PPDH tích cực phù hợp có thể vận dụngtrong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, thuộc chương trình môn Giáo dục côngdân lớp 10 qua một số bài dạy học cụ thể

- Tiến hành thực nghiệm tại trường THPT Nguyễn Du, huyện Châu Đức, tỉnh BàRịa - Vũng Tàu., Từ đó rút ra quy trình dạy học và đề xuất một số giải pháp cơ bản đểgóp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Giáo dục công dân lớp 10 nói chung và mônGiáo dục công dân lớp 10 ở trường THPT Nguyễn Du, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nói riêng

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Đề tài dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

về giáo dục, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các Văn kiện Đại hộiĐảng, Luật Giáo dục 2005 Trên cơ sở nội dung, chương trình SGK, môn GDCD vànhững tài liệu hướng dẫn giáo viên, các văn bản chỉ đạo dạy học của Bộ Giáo dục vàĐào tạo cùng với các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả trong thời gian gần đây vềvấn đề này

Trang 13

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài, ngoài sử dụng phương pháp luậnkhoa học Mác-Lênin, còn có các phương pháp mang tính đặc thù sau đây:

- Phương pháp logic - lịch sử.:

Phương pháp lịch sử là phương pháp nhằm tìm hiểu quá trình nghiên cứu việcvận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học trong những khoảng thờigian nhất định

Phương pháp logic được dùng để hệ thống các vấn đề nghiên cứu theo một trật

tự hợp lý, khoa học

- Phương pháp phân tích, tổng hợp.:

Phương pháp phân tích được sử dụng trong nghiên cứu nhằm phân tích lựa chọnphương pháp dạy học cho phù hợp với từng tiết dạy cụ thể, từng phần dạy học môngiáo dục công dân lớp 10, để tìm ra từng thuộc tính và bản chất của mỗi phương phápdạy học

Ngược lại với phương pháp phân tích là phương pháp tổng hợp Từ những kếtquả nghiên cứu đối với từng phương pháp dạy học cụ thể sẽ tổng hợp lại để có nhậnthức đầy đủ, đúng đắn và toàn diện về đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.: nhằm thu thập, phân tích và tổng hợp các tàiliệu liên quan việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học trong phần “công dân với đạo đức” thuộc chương trình môn GDCD lớp 10 đã từng được nghiên cứucủa các nhà khoa học, các luận văn thạc sĩ, các tạp chí, các sách tập huấn phương phápdạy học của các giáo viên và các Nghị quyết của Đảng và nhà nước ta chỉ đạo về đổimới phương pháp dạy học

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.: Ở phương pháp này, người nghiên cứu

sẽ thiết kế bảng câu hỏi để gửi cho người được điều tra, thăm dò ý kiến trả lời, sau đógửi lại phiếu trả lời cho người nghiên cứu Câu hỏi có hai dạng: trắc nghiệm và câu hỏimở

- Phương pháp phỏng vấn: là phương pháp thu thập số liệu trong đó người đượcphỏng vấn sẽ trả lời một số câu hỏi do người phỏng vấn đặt ra, nhằm tìm hiểu nhận

Trang 14

thức và thái độ học tập của học sinh với môn học GDCD lớp 10 và sự đổi mới phươngpháp dạy học của giáo viên, nhà trường trong thực hiện các văn bản, Nghị quyết, Chỉthị của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo về việc đổi mới phương pháp dạy học.

- Phương pháp quan sát, thực nghiệm: Nhằm kiểm tra giả thuyết nghiên cứubằng cách trực tiếp nghe nhìn (dự giờ, thực nghiệm giảng dạy)

- Phương pháp xử lý thông tin và phân tích số liệu.: Xử lý kết quả thực nghiệmtheo hai loại định lượng và định tính Thông tin sẽ được xử lý và phân tích dưới dạngvăn viết; trình bày bảng bằng phần mềm word, excel; trình bày dưới dạng biểu đồ

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Các phương pháp dạy học tích cực môn Giáo dục công dân THPT

- Khách thể nghiên cứu: Hhệ thống các phương pháp dạy học PPDH tích cực,các điều kiện dạy học môn Giáo dục công dân tại trường THPT Nguyễn Du, huyệnChâu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

- Mẫu nghiên cứu: Cchọn trường THPT Nguyễn Du, huyện Châu Đức, tỉnh BàRịa - Vũng Tàu làm khảo sát

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số phương PPDH phù hợp với phần thứhai “Công dân với đạo đức”, chương trình Giáo dục công dân lớp 10 và vận dụng vàodạy học một số bài của phần này

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số phương pháp dạy học tích cực phù hợpvới phần thứ hai của chương trình Giáo dục công dân lớp 10 “Công dân với đạo đức”

và vận dụng vào dạy học một số bài của phần này

6 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần “Công dân vớiđạo đức” thuộc chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 phù hợp thì hiệu quả dạy –học sẽ được nâng cao

7 Đóng góp của đề tài

Đề tài này Góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễncủa việc vận dụng các phương pháp dạy học PPDH tích cực trong phần “Công dân với

Trang 15

đạo đức”,chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10 ở các trường THPT trên địa bànhuyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.nói riêng và dạy học môn Giáo dục công dânnói chung

Kết quả nghiên cứu của đề tài làm tài liệu tham khảo, đóng góp cho việc nghiêncứu và dạy học môn Giáo dục công dân tại các trường THPT

87 Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn được trình bày thành 3 chương, 55 tiết mục

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNGPHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN

VỚI ĐẠO ĐỨC”, CHƯƠNG TRÌNH MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10

CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌCTÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”, TẠITRƯỜNG THPT NGUYỄN DU, HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNGTÀU

CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY

HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”,CHƯƠNG TRÌNH MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP10

B NỘI DUNG

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” , CHƯƠNG TRÌNH MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP

10 1.1 Cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”, chương trình môn Giáo dục công dân lớp 10

Trang 16

1.1.1 Phương pháp dạy học và phương pháp dạy học tích cựcnhững đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực

1.1.1.1 Khái niệm phương pháp

Khái niệm phương pháp xuất phát từ thuật ngữ Hi Lạp “Methodos” có nghĩa

chung nhất là con đường nghiên cứu, cách thức làm việc, phương tiện mà chủ thểphương pháp dạy học sử dụng tác động, chiếm lĩnh để tìm ra và chứng minh chân lý

Theo quan điểm của P Bêcơn (1561- 1626) nhà Triết học nổi tiếng người Anh

đã ví phương pháp như ngọn đèn lớn, soi sáng cho con người đi trong đêm tối Vì vậy,trong dạy học cần phải có phương pháp, phải làm cho HS tiếp thu kiến thức bằng conđường ngắn nhất, với sự nỗ lực của HS, dưới sự hướng dẫn giảng dạy của GV Kết quảtrong trường phổ thông được đánh giá không chỉ ở mặt nội dung mà còn cả về phươngpháp

G.Hêghen đưa ra định nghĩa về phương pháp và được Lênin nêu lên trong tácphẩm Bút ký triết học: “Phương pháp là hình thức vận động của nội dung sự vật Mỗi

sự vật đều có bản chất của nó và được thể hiện qua hình thức nhất định Hình thứckhông bao giờ tồn tại riêng, tách rời nội dung Đồng thời nội dung cũng không tồn tạitách rời hình thức vận động của nó Mỗi sự vật đều có phương pháp vận động riêng củamình” [33; 142]

Theo quan điểm của C Mác (1818-1883): “Phương pháp là sức mạnh tuyệt đối,duy nhất, cao nhất, vô cùng tận, không có vật thể nào có thể cưỡng lại nổi; đó là xu thếcủa lý tính đi đến chỗ tìm thấy lại, nhận thấy lại bản thân mình ở trong mọi sự vật” [24;122] Trong công tác giáo dục muốn đạt được hiệu quả thì GV phải được trang bị đầy

đủ cả về cơ sở lý luận khoa học lẫn kinh nghiệm thực tế Vì có kiến thức tốt chưa chắc

đã có phương pháp dạy học tốt, nhưng không thể có phương pháp giảng dạy tốt nếu

GV chưa nắm vững kiến thức cơ bản của bộ môn Theo GS.TS Nguyễn Văn Hộ:

“Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới một mục đích nhấtđịnh, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định” [18; 57]

Trang 17

Từ những quan niệm trên, chúng tôi đưa ra một định nghĩa về phương pháp như

sau: Phương pháp là cách thức làm việc của thầy và của trò để đạt được mục đích đặt

ra.

1.1.1.2 Khái niệm phương pháp dạy học

Cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học TheoIu.K.Babanxki “Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giảiquyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học ” [18; 62].Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy vàtrò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm thực hiện tốt nhiệm

vụ dạy học” [18; 62] Còn tác giả Phan Trọng Ngọ: “Định nghĩa chung nhất về phươngpháp dạy học là những con đường, cách thức tiến hành hoạt động dạy học”[33; 145].Theo tác giả Trần Kiều coi PPDH là những hành động, hoạt động của giáo viên

“Phương pháp dạy học là một hệ thống tác động liên tục của giáo viên nhằm tổ chứchoạt động nhận thức và thực hành của học sinh để học sinh lĩnh hội vững chắc cácthành phần của nội dung giáo dục nhằm đạt mục đích đã định” [50; 25] Nhóm tác giả

Hà Thế Ngữ, Phạm Thị Diệu Vân quan niệm: “Phương pháp dạy học là tổ hợp cáccách thức hoạt động của Thầy và Trò (trong đó Thầy đóng vai trò chủ đạo) được tiếnhành trong quá trình dạy học, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học” [35; 72] GS

TS Đặng Thành Hưng: “Phương pháp dạy học là những phương thức hoạt động trật tự

có liên quan qua lại của giáo viên và học sinh nhằm đạt những mục tiêu giáo dục” [21;1] Tuy nhiên, có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng nội dung của định nghĩa trênđều có một tư tưởng chung là: Phương pháp dạy học là sự tương tác trong tiến trìnhhoạt động của giáo viên và học sinh, do đó phương pháp dạy học được xem xét trongmối liên hệ giữa phương pháp với các nhân tố khác của quá trình dạy học (mục đích,nội dung, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra, đánh giá, ) Trên cơ sở nghiên cứunhững định nghĩa của nhiều nhà khoa học khác nhau, chúng tôi đã đưa ra định nghĩa

về phương pháp dạy học như sau:

Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động có trình tự, với sự tương tác giữa

giáo viên và học sinh nhằm đạt được mục đích của quá trình dạy học.

Trang 18

1.1.1.3 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực

Tư tưởng nhấn mạnh vai trò tích cực chủ động của người học là chủ thể của quátrình học tập cũng đã có từ lâu Ở thế kỷ XVII, A.Kômenski đã viết: “giáo dục có mụcđích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách hãy tìm

ra phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn” [199; tr.30]

Ở nước ta, vấn đề phát huy tính tích cực chủ động của học sinh nhằm đào tạo nhữngngười lao động sáng tạo đã được đặt ra trong ngành giáo dục từ những năm 1960 Khẩuhiệu “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” cũng đã đi vào các trường sưphạm từ thời điểm đó [199; tr.30] Tư tưởng chỉ đạo đổi mới về phương pháp dạy họcPPDH được phát biểu dưới nhiều hình thức: “lấy học sinh làm trung tâm”, “phát huytính tích cực”, “phương pháp dạy học tích cực”, “phương pháp giáo dục tích cực”, “tíchcực hóa hoạt động học tập”, “ hoạt động hóa người học”, cùng với điều đó là nhiều lýthuyết dạy học của nhiều tác giả bàn về phương pháp dạy học tích cựcPPDH Nhưngquan niệm và cách trình bày, lý giải của các tác giả không phải đã hoàn toàn thống nhấtvới nhau về phương pháp dạy học tích cựcPPDH

Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiềunước, để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của người học

“Tích cực” trong phương pháp dạy học PPDH tích cực được dùng với nghĩa là

hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng với

theo nghĩa trái với tiêu cực

Tác giả Trần Bá Hoành: “ Phương pháp dạy học tích cực PPDH hướng tới việchoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vàophát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tíchcực của người dạy, đành rằng để dạy theo phương pháp dạy học PPDH tích cực thì giáoviên phải nỗ lực nhiều hơn so với dạy theo phương pháp thụ động” [199; tr 82,83]

Theo Theo tTác giả Nguyễn Hữu Châu: “Phương pháp dạy học tích cực gọi tắt làphương pháp tích cực có ý nghĩa khi người học là tác nhân tự nguyện, tích cực có ýthức về sự giáo dục của chính mình ” [138; tr.199]

Trang 19

TrongCó quan điểm Dạy và học tích cực của Dự án Việt – Bỉ cho rằngẳng: “Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HShọc sinh có nghĩa là phải thay đổicách dạy và cách học Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “ đọc – chép”,

giáo viên GV làm trung tâm sang cách dạy lấy HS làm trung tâm hay còn gọi là dạy vàhọc tích cực Trong cách dạy này HS là chủ thể hoạt động, giáo viên GV là người thiết

kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học.Dạy và học tích cực là điều kiện tốt khuyến khích sự tham gia chủ động, sáng tạo vàngày càng độc lập của HS học sinh vào quá trình học tập ”[4235; tr.2]

Còn cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “phương pháp dạy học mà cácđồng chí nêu ra, nói gọn lại là lấy người học làm trung tâm Người ta thường đặt ranhững câu hỏi, đưa ra những câu chuyện có tính hấp dẫn, khêu gợi, đòi hỏi, ngườinghe, người đọc, dẫu là người suy nghĩ kém cỏi cũng phải chịu khó, suy nghĩ, tìmtòi Phương pháp dạy học PPDH tích cực này có khả năng phát triển được những nănglực đang ngủ yên ở mỗi con người Phương pháp này giúp người ta phương pháp tựhọc và ham học Đó là cái quý báu nhất”[175; tr.5] Theo

Tác giả Nguyễn Thị Hồng Phước khẳng định: “Phương pháp dạy học tích cực làmột nhóm các phương pháp mà khi giáo viên vận dụng vào dạy học luôn hướng dẫn, tổchức cho học sinh thực hiện các hoạt động học tập để từng bước nắm vững các nộidung của chương trình, đạt được các mục tiêu của bài học [30; tr.26]

tTác giả Nguyễn Thị Kim Ngân khẳng định: “Phương pháp dạy học tích cực làmột nhóm các phương pháp mà khi vận dụng vào dạy học giáo viên luôn hướng dẫn tổchức cho HS học sinh thực hiện các hoạt động học tập để từng bước nắm vững các nộidung của chương trình, đạt được các mục tiêu của bài học [329; tr.11]

Tuy nhiên, hiện nay cũng đang có nhiều quan niệm, tư tưởng của các giáo dụctrong và ngoài nước tập trung làm rõ “Phương pháp dạy học tích cực” Mỗi một kháiniệm có sự tiếp cận khác nhau về cách diễn đạt Nhưng hầu hết các tác giả đều khẳngđịnh, phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạocủa người học

Trên cơ sở tham khảo một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, chúng

tôi đưa ra định nghĩa về phương pháp dạy học tích cực như sau:

Trang 20

Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp khơi dậy, phát huy tính chủ động sáng tạo tích cực của cả người dạy và người học, trong đó lấy người học làm trung tâm trên cơ sở phát huy vai trò định hướng, tổ chức của người thầy và kết hợp các phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm đạt được các mục tiêu của bài học.

1.1.1.4

Theo chúng tôi Phương pháp dạy học tích cực là sự kết hợp những yếu tố tích cực của phương pháp dạy học hiện đại và phương pháp dạy học truyền thống, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, Trong quá trình học tập

và chiếm lĩnh tri thức của nội dung, chương trình, đạt được các mục tiêu của bài học, dưới sự tổ chức, hướng dẫn chỉ đạo của giáo viên.

Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

Trong dạy và học tích cực, người học là chủ thể của hoạt động được cuốn hút vàocác hoạt động học tập do giáo viên GV thiết kế, tổ chức và hướng dẫn., Qua đó, họcsinh HS có thể tự khám phá và chiếm lĩnh nội dung bài học Học sinh HS sẽ hứng thú,thông hiểu, ghi nhớ những gì mà người học nắm được thông qua hoạt động chủ động,

nỗ lực của chính mình , chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được giáo viên

GV sắp đặt Thông qua các hoạt động do giáo viên GV tổ chức và hướng dẫn, học sinh

HS được đặt vào những tình huống của đời sống thực tiễn, được trực tiếp quan sát, tựlàm các thí nghiệm, thảo luận, tranh luận tập thể, ý kiến cá nhân được bộc lộ, khẳngđịnh hay bác bỏ, từ đó khơi dậạy trí tò mò và khả năng sáng tạo của học sinh HS đểlĩnh hội kiến thức, kỹ năng mới, nắm được cách thức giải quyết vấn đề để tìm ra chânlý

Dạy theo cách này thì giáo viên GV không chỉ là bậc thầy về việc truyền đạt trithức mà còn là người hướng dẫn hành động , Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Học đểhành; học và hành phải đi đôi Học mà không hành thì vô ích; hành mà không học thìhành không trôi chảy” [42; tr.104]

Nội dung và PPDH phải giúp cho từng học sinh HS biết hành động và tích cựctham gia các chương trình hành động của cộng đồng, thực hiện thầy chủ đạo, trò chủđộng: “Hoạt động làm cho lớp ồn ào hơn, nhưng là sự ồn ào hiệu quả”

Trang 21

- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Hoạt động tự học có vai trò quan trọng trong quá trình học tập của học sinhHS

Tự học là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động của học tập Chủ tịch HồChí Minh đã dạy: “Cách học tập: lấy tự học làm cốt” [26; 510] Nguyên Tổng Bí Thư

Đỗ Mười đã phát biểu: “Tự học, tự đào tạo là con đường phát triển suốt cuộc đời củamỗi con người, trong điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay và cả mai sau, đócũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam Chất lượng vàhiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khibiến được quá trình tự giáo dục, quy mô của giáo dục được mở rộng khi có phong tràotoàn dân tự học” [ ; tr ]

Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh chóng trong các lĩnh vực khoa học –công nghệ và thông tin tác động mạnh mẽ đến nhà trường, đòi hỏi nhà trường, giáoviên GV phải có phương pháp mới Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phươngpháp tự học Phương pháp tự học thực chất là người dạy giúp đỡ người học tự học, tựnghiên cứu, tự điều chỉnh bản thân để ngày càng tiến bộ Trong mỗi lần tự học, ngườihọc cố gắng chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng đã bộc lộ những mặt mạnh, mặt yếutrong quá trình tự học, đó cũng là cơ hội để người dạy giúp đỡ người học hiểu kỹ hơnkhả năng học tập của mình để người học phát huy những ưu điểm, khắc phục nhữngnhược điểm bằng những cách thích hợp.Vì vậy, giáo viên GV phải rèn luyện cho họcsinh HS phương pháp tự học để người học tự mình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảothông qua các hoạt động trí tuệ, hoạt động thực hành nhằm tích lũy kiến thức cho bảnthân người học từ kho tàng tri thức của nhân loại.,Đồng thời bBiến những kinh nghiệmnày thành những tri thức và vốn sống của cá nhân người học để giải quyết vấn đề đặt rathì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quảhọc tập sẽ được nâng cao Thói quen tự học được thể hiện mọi nơi, mọi lúc, học trênlớp, học ở nhà, học trong thư viện, học thực tiễn cuộc sống, học thông qua các phươngtiện thông tin đại chúng như sách, báo, truyền hình, Intersnet, thầy, cô và những ngườixung quanh

Trang 22

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.

Người xưa có câu: “Một cây làm chẳng nênlên non, ba cây chụm lại thànhnên

hòoàn núi cao”,

để khẳng định vai trò học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác trong hoạt độngnhóm nhỏ, trong mỗi lớp học ở trường THPT hiện nay Khi vận dụng PPDH phươngpháp dạy học tích cực vào dạy học thì giáo viên GV thiết kế bài học thành một chuỗicác hoạt động độc lập Tuy nhiên trong một lớp học, tư duy và trình độ kiến thức củamỗi học sinh HS không đồng đều nên giáo viên GV cần động viên, khuyến kích, tạo cơhội và điều kiện cho học sinh HS tham gia thảo luận, tranh luận trong tập thể một cáchtích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội tri thức Từ đó, để

mỗi HS học sinh được bộc lộ khả năng của mình trong các hoạt động hợp tác thông quacác nhóm nhỏ từ 4 đến 6 HShọc sinh Đồng thời giáo viên GV phải chú ý khai thác vốnkiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng đã có ở học sinhHS; tạo niềm vui, hứng khởi, nhucầu, hành động và thái độ tự tin trong học tập của người học, từ đó giúp các em từngbước xây dựng tinh thần tập thể, tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong nhóm nhỏ.Hiệu quả học tập sẽ tăng lên, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuấthiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung trongnhóm., Tính cách năng lực của mỗi cá nhân lúc đó được bộc lộ, được uốn nắn, khôngthể có hiện tượng ỷ lại; phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ, ý thứccộng đồng được nâng lên

- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trong quá trình dạy học, đánh giá luôn có vai trò quan trọng là một nhân tố cấuthành của quá trình dạy học, là biện pháp phản hồi thông tin., Từ đó điều chỉnh hoạtđộng học của trò mà còn và đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng,và điều chỉnhhoạt động dạy của thầycho phù hợp với mục tiêu, góp phần phát triển trí tuệ, rèn luyện,

củng cố hệ thống tri thức và các phương pháp học tập, kính thích học sinh luôn vươntới đạt kết quả cao

Trước đây quan niệm giáo viên GV giữ vai trò độc quyền đánh giá học sinhHS Nhưng

tTrong phương pháp dạy học PPDH tích cực, bên cạnh việc đánh giá kết quả học tập

Trang 23

của người học qua các bài kiểm tra dưới nhiều hình thức khác nhau, đồng thời giáoviên GV còn phải bồi dưỡng, hướng dẫn phát triển kỹ năng cho học sinh HS khả năng

tự đánh sản phẩm học tập của mình, đánh

giá lẫn nhau và kể cả phương pháp dạy học PPDH của chính giáo viênGV, để họcsinh HS tự điều chỉnh cách học, giáo viên GV điều chỉnh cách dạy sao cho hiệu quảnhất

Để đảm bảo dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học thì việc kiểmtra, đánh giá theo yêu cầu tái hiện những kiến thức, lặp lại các kỹ năng đã học một cáchmáy móc Ngược lại, kiểm tra, đánh giá, phải mà chú trọng đến sự phát triển trí thôngminh, sáng tạo, năng lực tự học của họcHS sinh., Khuyến kích người học vận dụng linhhoạt các kiến thức, kỹ năng đã học vào trong việc giải quyết những tình huống thực tế,làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ trước những vấn đề nóng bỏng của đời sống cánhân, gia đình và cộng đồng

Với sự trợ giúp của các thiết bị kỹ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là mộtcông việc nặng nhọc đối với giáo viênGV, mà cònlại có thể thu được nhiều thông tin

từ phía người học đó là bài tập trắc nghiệm, tiết dạy thực hành, thí nghiệm, viết bài thuhoạch , phương pháp này đang được các trường THPT áp dụng

Tóm lại, với bốn đặc trưng của PPDH tích cực đã thể hiện tính ưu việt của nó Vìvậy, để dạy học có hiệu quả thì giáo viên GV cần nắm rõ bốn đặc trưng của phươngpháp dạy học tích cực PPDH tích cực

So sánh phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học tích cực như sau:

Phương pháp dạy học truyền thống

Phương pháp dạy học

tích cực Quan

niệm

- Học là quá trình tiếp thu vàlĩnh hội tri thức, qua đó hìnhthành kiến thức, kỹ năng, tưtưởng và tình cảm

- Học là quá trình phát triểnnội lực vốn có của người học làm cho người học có đượcphương pháp, kĩ năng, thói

Trang 24

quen, ý chí tự học bằng cáchtìm tòi, khám phá, thu nhận

và xử lý thông tin từ môi trường xung quanh

Bản chất - Dạy là quá trình truyền thụ tri

thức, kỹ năng và chứng minh

chân lý theo cách của GV

- Dạy là quá trình tổ chứchoạt động nhận thức cho HS.

Dạy HS tìm ra chân lý

Mục tiêu - Chú trọng cung cấp tri thức,

kỹ năng, kỹ xảo

- Học để đối phó với thi cử Tri

thức được truyền đạt đã quy định

trong chương trình và sách giáo

khoa

- Hướng dẫn cho người họcsớm thích ứng với đời sống

xã hội hòa nhập và pháttriển cộng đồng, xã hội

- Tôn trọng nhu cầu và lợiích khả năng của HS

Nội dung - Trong sách giáo khoa và sách

+ Yêu cầu của chương trìnhquy định

+ Tình huống thực tế, hoàncảnh xung quanh

+ Nhu cầu xã hội+ Những vấn đề học sinhquan tâm

Chỗ ngồi cố định, GV đối diện

với cả lớp

Chỗ ngồi linh hoạt như: Học

ở lớp, ở phòng thí nghiệm,

Trang 25

thức tổ

chức

học theo nhóm được chútrọng, học cá nhân, học đôibạn, học thực tế

- Người dạy truyền thụ một

chiều độc thoại hay phát vấn

- Người dạy giảng - Người học

ghi nhớ, học thuộc lòng Người

dạy độc quyền đánh giá cho

điểm

- Người dạy là thầy dạy, dạy

chữ, dạy nghề và dạy người

- Dạy học hướng tập trungvào người học, đề cao vai tròchủ động, tự lực tích cực củangười học Người học tựmình tìm ra kiến thức dưới

- Người dạy là thầy học cáchdạy cho người học, tự họcchữ, tự học nghề, tự học làmngười

Ưu điểm - Dễ chuyển tải đến người học

một khối lượng thông tin cần

thiết cho số lượng lớn HS

- Trong một khoảng thời gian

- Phát huy tính chủ động,tích cực nhận thức của HS

và chú trọng đến sự pháttriển cá thể, giúp HS hứng

Trang 26

ngắn, GV có thể cung cấp cho

người học một khối lượng thông

tin rất phong phú, được cấu trúc

theo một logic chặt chẽ

- HS tiếp thu bằng con đường

ngắn nhất và ghi chép được đầy

đủ nội dung của bài học

- Trong một khoảng thời gian

ngắn, GV có thể cung cấp cho

người học một khối lượng thông

tin rất phong phú được GV cô

động và chắt lọc từ kho tàng tri

thức và cấu trúc theo một logic

chặt chẽ

- Cung cấp cho người học

khuôn mẫu và phương pháp

nhận thức, phương pháp tổng

hợp, cấu trúc tài liệu học tập,

giúp người học có phương pháp

nhận thức

- Dạy học truyền thống không

đòi hỏi sử dụng nhiều phương

tiện nên đỡ tốn thời gian và

công sức cho GV

thú học tập

- Chú trọng thực hành kỹnăng giao tiếp với mọingười

- Rèn luyện cho HS ý thứcđược bản thân về quá trình

tự học, tự nghiên cứu vànắm vững các phương pháplàm việc trí tuệ để hiểu, ghinhớ tài liệu học tập, hìnhthành kỹ năng, kỹ xảo vàthực hiện việc kiểm tra lĩnhhội kiến thức

- Mọi người học đều phảisuy nghĩ, chia sẻ, học hỏi vàgiúp đỡ lẫn nhau, bình đẳng

và tự tin hơn, chủ động giảiquyết vấn đề

- Không khí lớp học luôn sôinổi

Hạn chế - Thu được rất ít thông tin phản

hồi từ phía người học

- Mức độ lưu giữ thông tin của

người học rất ít, do trí nhớ ngắn

hạn, trí nhớ làm việc của người

nghe thường xuyên bị quá tải

- Tính cá thể hóa trong dạy học

- Đòi hỏi GV phải gia công

về tự lực tài liệu và tốnnhiều thời gian, công sứcđầu tư cho bài giảng

- Phải có đủ phương tiện vàthiết bị dạy học phù hợp đểđáp ứng quá trình dạy học

Trang 27

thấp, do giảng viên phải dùngmột số biện pháp chung cho cảlớp.

- Học sinh gần như thụ độngtiếp nhận thông tin, ít có cơ hộithể hiện và áp dụng các ý tưởngcủa mình đối với tài liệu họctập, không phát huy được tínhtích cực chủ động sáng tạo củangười học

- HS sau khi tập trung vàosuy nghĩ, bàn bạc, trao đổiphải tự đưa ra kết luận vàghi bài dưới sự hướng dẫncủa GV

- GV thì phải biết áp dụngcác PPDH và PTDH mộtcách linh hoạt, phù hợp vàotừng nội dung của bài họcmới đạt hiệu quả

Tác giả Thái Duy Tuyên “Dạy học nêu vấn đề là một tư tưởng dạy học chủtrương làm cho học sinh HS nắm kiến thức trên cơ sở tổ chức, hướng dẫn họ, tìm tòinghiên cứu chứ không phải bị động chờ thầy giáo truyền thụ cho”[40; 86] Nêu lênđược vấn đề cần nghiên cứu , mà quan trọng là vấn đề phải hay, phải lý thú, hấp dẫn,

Trang 28

lôi cuốn các em học sinh, làm cho các em say sưa học tập, tìm tòi, khám phá cái mới.Chính vì vậy, giáo viên GV phải tìm cách tác động vào tâm lý xúc cảm, tình cảm củacác emcủa học sinh, phải vận dụng kinh nghiệm, kiến thức, khoa học, nghệ thuật và

phải trổ hết tài năng sư phạm của mình

Sau khi thu hút các em học sinh vào quá trình học tập, nghiên cứu, thì phảihướng dẫn các em giải quyết vấn đề, cần lựa chọn vấn đề lựa chọnvừa phải phải vừasức HS để HS , hợp lý, sao cho nỗ lực tối đa các em có thể tự lực giải quyết được vấn

đề nêu ra và thu nhận được kiến thức, kinh nghiệm mới., Làm được như vậy khôngnhững các em sẽ nắm được kiến thức một cách bền vững và sâu sắc, mà còn giúp các

em biết phương pháp, có kỹ năng và thói quen nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo, nhữngphẩm chất của con người hiện đại

- Dạy học nêu vấn đề thì đòi hỏi giáo viên GV tạo ra tình huống có vấn đề giớithiệu vấn đề một cách lý thú và tổ chức, hướng dẫn các em HS tự học tập một cáchkhoa học và hiệu quả., giáo viên phải khéo léo kết hợp nhuần nhuyễn nhiều PPDHkhác Vì vậy, dạy học nêu vấn đề và giải quyết vấn đề là hệ thống gồm nhiều phươngpháp như: Kể chuyện, phát vấn, diễn giảng…

Dạy học nêu vấn đề là một tư tưởng về phương pháp dạy học, ứng với nó

là một hệ thống các phương pháp dạy học

Vấn đề ở đây tức là câu hỏi, tình huống, bài toán Cho dù vấn đề biểu thị dưới dạng câuhỏi hay bài toán, …Hoạt động tư duy chỉ diễn ra khi con người đứng trước một vấn đềnào đó Vấn đề được biểu thị bằng những câu hỏi hay bài toán Thí dụ tôi có thể muamột máy tính này ở đâu? Đây là một câu hỏi để diễn

đạt một vấn đề là muốn biết một địa điểm mua máy tính, nhằm giải quyết mâuthuẫn giữa nhu cầu cần có một máy tính và khả năng thực tế là không có

thì cũng là một hình thức diễn đạt một vấn đề, một mâu thuẫn đang nảy sinhtrong thực tế PPNVĐ rất phù hợp trong dạy học phần “Công dân với đạo đức”,chương trình lớp 10 và là PPDH đang được các trường THPT khuyến khích GV sửdụng trong các tiết dạy, đặc biệt trong tiết thao giảng cấp trường

Trang 29

Chẳng hạn, Bài toán cũng là một hình thức diễn đạt một vấn đề, một mâu thuẫnđang nảy sinh trong thực tế Bài toán là một hệ thống thông tin gồm hai bộ phận:

Bộ phận thứ nhất là điều kiện gồm tất cả các thông tin đã cho một cách tườngminh hay tiềm ẩn, nghĩa là sẽ phát hiện ra sau những biến đổi nhất định của các điềukiện có liên quan đến bài toán

Bộ phận thứ hai là yêu cầu gồm những thông tin mà bài toán phải đòi hỏi phảitìm ra

gGiải một bài toán cần phảilà hoạt động trí óc, đa dạng và phức tạp, nhưng suyđến cùng thì đó là một quá trình phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quáthóa, lập luận…các điều kiện, để tìm mối liên hệ giữa các điều kiện, các yêu cầu, có thểgiải quyết những mâu thuẫn giữa điều kiện, yêu cầu Đối với bài toán phức tạp cần làmsáng tỏ những thông tin ở dạng tiềm ẩn từ những điều kiện đã biết, cần phát hiện ranhững mối liên hệ mới và hình thành những mâu thuẫn mới nhưng bớt phức tạp hơn đểlàm sáng tỏ yêu cầu cần đạt tới bài toán

“Một bài toán khó là bài toán mà thường có mối liên hệ tường minh giữa điềukiện và yêu cầu chỉ có ít, còn những liên hệ tiềm ẩn, những mâu thuẫn cần lý giải lạinhiều Sự khám phá các điều kiện tiềm ẩn chính là quá trình chứng minh, bổ sung hoànchỉnh hoặc bác bỏ giả thuyết ban đầu., Bởi vì, nhờ làm sáng tỏ các điều kiện tiềm ẩn

đó, mà tư duy con người có thể nhìn thấy rõ hơn mối liên hệ thực của điều kiện và yêucầu, nhờ đó mà việc giải bài toán sẽ đúng hướng và phát hiện được các yêu cầu cầntìm”.[40; 88]

Trong tiến trình dạy học, Trong qua trình dạy học khâu việc khó khăn nhất là lúcđầu đưa các em từ chỗ đang vui chơi mà hướng sự chú ý các em vào việc học tập,nghiên cứu hoặc đang chú ý một công việc khác mà lôi cuốn các em vào việc học,nhanh chóng hướng sự chú ý các em vào vấn đề nghiên cứu đó là khởi động được hoạtđộng tư duy của các em (Tình huống khởi đầu) Để giải quyết được vấn đề này, các nhàtâm lý học đã cho rằng cần đưa các em vào một trạng thái tâm lí được gọi là “Tìnhhuống có vấn đề”

Tình huống có vấn đề là một trạng thái tâm lý xuất phát ở người học có đặctrưng cơ bản sau:

Trang 30

Vấn đề nghiên cứu đã được người học tiếp nhận, được các em chú ý và ghi vào

bộ nhớ của các em thì phụ thuộc vào yếu tố nội dung, hoạt động của học sinh trongviệc giải quyết vấn đề được đặt ra, kết quả hoạt động, đánh giá kết quả, công cụ,phương tiện trực quan, đặc

điểm tâm lý của học sinh, am hiểu văn hóa của vùng, miền, ngôn ngữ, yếu tố tinhthần với hình thức, cấu trúc được tổ chức sư phạm và kinh nghiệm của quá trình dạyhọc , Chẳng hạn trong quá trình dạy học, giáo viênGV kiểm tra bài đã học cũ hoặc ,

kể chuyện, ra câu đố, …sẽ kích hoạt kinh nghiệm chủ thể HS hướng vào môi trườngdạy học chính những vấn đề trên sẽ gây được sự chú ý, lôi cuốn của học sinh HS

Tuy nhiên, người học chưa tìm được cách giải quyết, trong đầu người họcđang ở trạng thái mơ mơ, ảo ảo, nó kích thích trí tòa mò, lòng ham hiểu biết của conngười, làm cho người học thích tìm hiểu, nghiên cứu, những trở ngại cần khắc phục đểtìm cách giải quyết (tình huống học tập)

Qua đó ta thấy, tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lí độc đáo của học sinh khigặp phải chướng ngại nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm và có nhu cầu giải quyếtmâu thuẫn đó, không phải bằng tái hiện hay bắt chước mà bằng sự tìm tòi, sáng tạo tíchcực, đầy hưng phấn đầu tiên và khi tới đích thì lĩnh hội được phương pháp giành kiếnthức và cả niềm vui sướng của sự phát triển Ý tưởng học tập và ghi nhớ được thay thếbởi ý tưởng hoạt động và thể nghiệm của học sinh trong những tình huống giáo dục(nội dung của môn học, tình huống khởi đầu, hoạt động của học sinh trong việc giảiquyết vấn đề được đặt ra, kết quả hoạt động hoặc sản phẩm hoạt động, đánh giá kếtquả) Vì vậy, vấn đề nêu ra trong dạy học có thể là một câu hỏi, một luận đề phải chứngminh, lý giải hay bác bỏ Vấn đề bao giờ cũng đòi hỏi giải quyết Vấn đề học tập đặt rakhi giảng bài, tọa đàm khi học sinh nghiên cứu

Như vậy, PPNVĐ là hoạt động có chủ đích của người GV bằng cách tổ chức,hướng dẫn HS, tìm tòi, nêu lên được vấn đề cần nghiên cứu, tạo điều kiện cho HS lĩnhhội tri thức và xác định cách thức giải quyết, hình thành năng lực sáng tạo của HS

Trang 31

Vì vậy Để có thể nêu tình huống vấn đề, giáo viên GV phải nắm vững bản chấtcủa vấn đề, nắm vững nội dung bài học Nếu không như vậy, giáo viên GV chỉ có thểnêu ra câu hỏi mà học sinh HS chỉ cần đọc sách giáo khoa là có thể trả lời một cách dễdàng, không đòi hỏi phải có hoạt động tư duy Dạy học nêu vấn đề không phải là nhưvậy mà Yêu cầu đặt ra đối với việc vận dụng phương pháp nêu vấn đề PPNVĐ và giảiquyết vấn đề trong môn GDCD đòi hỏi GV giáo viên phải tiến hành các bước sau:

Bước 1: - Đặt vấn đề:

Giáo viên GV nêu vấn đề cho HS suy nghĩcần giải quyết GV hướng dẫn cho cảlớp hoặc cho từng nhóm nhỏ; học sinh HSphát hiện , nhận dạng và thảo luận vấn đềcần giải quyết với sự giúp đỡ của GV

Bước 2: - Giải quyết vấn đề:

GV hướng dẫnTrên cơ sở nhiệm vụ được giao, học sinh HS tiến hành nghiêncứu, tìm hiểu, đặt ra các chứng cứ, số liệu… để tìm ra cách giải quyết vấn đề đượcgiao, HS tự lực suy nghĩ, sáng tạo và tìm ra các giải pháp khác nhau để giải quyết vấn

đề và lựa chọn giải pháp tối ưuuư nhất, cho kết quả tốt nhất

Bước 3: - Kết luận vấn đề:

Giáo viên GVtổ chức cho học sinh, cho các nhóm trình bày kết quả của nhómmình của vấn đề đã được làm rõ, Cả lớp cùng thảo luận, so sánh kết quả và đánh giákết quả của từng cá nhân hay của cả nhóm, GV kết luận vấn đề đã được giải quyết và

Trang 32

- GV cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề HS phát hiện và xác định vấn đề nảysinh, tự lực đề xuất các giải thuyết và lựa chọn giải pháp HS thực hiện cách giải quyếtvấn đề GV và HS cùng đánh giá.

- HS tự lực phát hiện vấn đề nãy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc của cộngđồng, lựa chọn vấn đề phải giải quyết HS giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng,hiệu quả, có ý kiến bổ sung của GV khi kết thúc [2;15] Quá trình nghiên cứu và thửnghiệm, chúng tôi nhận thấy tùy theo nội dung bài học và trình độ HS, GV có thể vậndụng phương pháp dạy học PPNVĐ theo các mức độ đã nêu trên cho phù hợp Tuynhiên, khi vận dụng, cho dù ở mức độ nào thì GV luôn phải có sự chuẩn bị chu đáo,trước các tình huống và cảm xúc của HS khi trả lời các câu hỏi, khi giải quyết các vấnđề

Vận dụng PPNVĐ vào dạy học môn GDCD cần lưu ý một số điểm như sau:

- Dạy học nêu vấn đề có tác dụng tốt trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thứccủa HS

- Vấn đề nêu ra phải phù hợp với trình độ HS với mục tiêu chương trình, mục tiêubài học, tiết học và gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với trình độ HS, huy độngđược vốn sống, kiến thức của HS, tránh tầm thường hóa hoặc thô thiển hóa dẫn đến

làm mất định hướng chính trị

- Mất nhiều thời gian, phải có tâm huyết, công sức và sự chuẩn bị kỹ lưỡng

- Phải phát huy được khả năng độc lập, suy nghĩ, năng lực tư duy sáng tạo của ngườihọc, vận dụng các tri thức của bản thân vào giải quyết vấn đề trong học tập , cũng nhưtrong thực tiễn

- Phải kết hợp nhuần nhuyễn với các phương pháp khác.

Vận dụng phương pháp nêu vấn đề có những ưu điểm sau:

* Ưu điểm:

Một là, - tTạo ra môi trường lý tưởng cho người học, bộc lộ sự hiểu biết của mìnhmột cách tích cực và tự giác Đồng thời GV , tổ chức hoạt động học tập để HS nắmvững được tri thức và các phương pháp lĩnh hội khác nhau để đạt hiệu quả., biến quá

trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Thành ngữ Việt Nam có câu“trăm nghe không

bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”.

Trang 33

-

Hai là: PPNVĐ giúp nNgười học tiếp nhận tri thức một cách chủ động, là có cơhội để HS thể hiện khả năng của bản thân trong việc và áp dụng kiến thức đã học vàogiải quyết vấn đề các tình huống thực tiễn đặt ra

Ba là, PPNVĐ - giúp người học phát huy Tăng cường khả năng độc lập suy nghĩ,

phát triển năng lực tư duy, sáng tạo, và kỹ năng vận dụng các tri thức của bản thân vàogiải quyết các vấn đề học tập và trong thực tiễn Đồng thời PPNVĐ còn tăng cường sựhiểu biết và hợp tác giữa các thành viên trong nhóm thông qua việc hợp tác giải quyếttình huống, thông qua đó GV có thể kiểm tra, đánh giá được năng lực của HS thôngqua các hoạt động học tập

- Nâng cao niềm tin và khả năng của bản thân trong việc giải quyết các tình huống trong quá trình học tập cũng như trong thực tiễn

- Tăng cường hiểu biết và sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm thông qua việc hợp tác giải quyết tình huống.

Ngoài những ưu điểm trên PPNVĐ còn có những hạn chế như sau: Hạn chế:

Để xây dựng một tình huống có vấn đề, đòi hỏi giáo viên GV phải có nhiều kinhnghiệm về chuyên môn cũng như kỹ năng vận dụng phương pháp dạy họcPPDH, đó làviệc không hề đơn giản đối với mọi GV và mọi bài học; hơn nữa PPNVĐ còn ; đòi hỏingười học phải nắm vững tri thức liên quan đến vấn đề cần giải quyết

Một điều cần lưu ý khi GV sử dụng PPNVĐ, thì người dạy và nNgười học mấtnhiều thời gian để giải quyết những vấn đề, rút ra các tri thức cần thiết Vì vậy, cáctình huống GV tạo ra phải điển hình và chính xác, nếu không

nNgười học dễ bị lạc hướng trong quá trình giải quyết vấn đề

Tóm lại: Phương pháp dạy học PPNVĐ nêu vấn đề là phương pháp dạy học dạy họcPPDH mới, phù hợp với thời đại bùng nổ thông tin, giúp người học rèn luyện tính tícnhcực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập Tuy nhiên, không có phương pháp dạyhọc PPDH nào là tối ưu cho mọi trường hợp, nên việc nghiên cứu kỹ nội dung bài

Trang 34

giảng, đặc điểm riêng của từng môn học và đối tượng người học để có sự kết hợp đadạng các phương pháp dạy học PPDH khác.

1.1.2.2 Phương pháp vấn đáp

Phương pháp vấn đáp là phương pháp dạy học trong đó giáo viên đặt ra những câu hỏi,kích lệ và gợi mở để học sinh dựa vào kiến thức đã học mà trả lời nhằm rút ra nhữngkiến thức mới hay củng cố hoặc kiểm tra, Qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bàihọc và là một trong những phương pháp được nhiều GV áp dụng ở nhiều môn họckhác nhau và trong dạy học môn GDCD lớp 10 như sau

“Phương pháp vấn đáp là quá trình tương tác giữa người dạy với người học, được thựchiện thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời tương ứng về một chủ đề nhất địnhđược người dạy và người học đặt ra Kết quả là dưới sự dẫn dắt của người dạy, ngườihọc thể hiện được suy nghĩ, ý tưởng của mình; khám phá và lĩnh hội được đối tượnghọc tập’’[17; tr 209]

1.1.2.3

Phương pháp vấn đáp là PPDH trong đó GV đặt ra những câu hỏi và gợi mở để

HS dựa vào kiến thức đã học mà trả lời, qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học và làmột trong những phương pháp được nhiều GV áp dụng ở nhiều môn học khác nhau

Theo tác giả Phan Trọng Ngọ: “Phương pháp vấn đáp là quá trình tương tác giữangười dạy với người học, được thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lờitương ứng về một chủ đề nhất định được người dạy và người học đặt ra Kết quả làdưới sự dẫn dắt của người dạy, người học thể hiện được suy nghĩ, ý tưởng của mình;khám phá và lĩnh hội được đối tượng học tập’’[33; 209]

Như vậy, phương pháp vấn đáp PPVĐ là một kĩ thuật dạy học của GV khéo léođặt câu hỏi dựa vào những hiểu biết về kiến thức, kinh nghiệm của HS để GV đưa ra,

GV sẽ căn cứ vào nội dung bài học khéo léo đặt câu hỏi để học sinh căn cứ vào nhữngđiều đã biết về kiến thức, kinh nghiệm đã có ở bản thân hoặc sau khi xem phim đọc tàiliệu GV đưa ra những câu hỏi để HS trả lời, tìm ra những kiến thức mới nhằm lĩnhhội nội dung bài học

nhằm sáng tỏ vấn đề, tìm ra những tri thức mới, nhằm củng cố mở rộng, đào sâunhững tri thức đã tiếp thu được của học sinh

Trang 35

Căn cứ vào mức độ, tính chất của hoạt động nhận thức có thể phân loại thành baphương pháp vấn đáp cơ bản như sau:

* Vấn đáp tái hiện: Đó là khi GV đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến

thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận, không mất nhiều thời gian.,

Các câu hỏi thường không khó hiểu, HS không phải chuẩn bị trước ở nhà, những kiếnthức đó đã định hình sẵncó sẵn trong trí nhớóc, HS chỉ cần tái hiện lại và trả lời theoyêu cầu của câu hỏi

* Vấn đáp giải thích - minh hoạ: Thực chất đây là hình thức nhằm mục đích làm

sáng tỏ một nội dung vấn đề nào đó trong bài học, GV nêu những câu hỏi kèm theonhững ví dụ minh họa để HS dễ hiểu, dễ nhớ cho người học Phương pháp này đặc biệt

sẽ phát huy được hiệu quả cao khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn

* Vấn đáp tìm tòi: Là khi GV dùng một hệ thống câu hỏi để hướng dẫn HS từng

bước phát hiện những nội dung của bài học, những quy luật, bản chất của vấn đề đangnghiên cứu, tìm hiểu Với PPVĐ GV là người tổ chức, hướng dẫn để HS tự lực pháthiện kiến thức mới và qua đó rèn luyện các kỹ năng trong nhận thức

Để áp dụng phương pháp vấn đáp PPVĐ, GV cần tổ chức cho HS học tập theo cácbước như sau:

- GV nêu câu hỏi cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc cho từng nhóm để HS suy nghĩ

- GV khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến

- GV hoặc lớp trưởng liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu của các thành viên trong lớp lênbảng hoặc trên tờ giấy khổ lớn (A0, A3, A4…) không loại trừ một ý kiến nào kể cả các

ý kiến chưa chính xác trừ trường hợp trùng lặp, hoặc cho HS trả lời vào phiếu học tập

- Phân loại các ý kiến HS đã trả lời

- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và khẳng định những ý kiến đúng đắn

- GV tổng hợp ý kiến của HS và tạo điều kiện cho HS bổ sung ý kiến hoặc nêu các thắcmắc của mình nếu chưa hiểu vấn đề

* Phương pháp vấn đáp PPVĐ có thể vận dụng để lý giải những vấn đề trongphần triết học, đạo đức, pháp luật, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước.,

Trang 36

Song đặc biệt phù hợp với các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc trong đời sống thực tếcủa HS và vận dụng các kiến thức liên môn đã được học qua các môn học khác nhau,các kiến thức ở các phần, các bài đã học trước đó.

Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp vấn đáp PPVĐ trong môn GDCD nhưsau:

- Giáo viên GV phải biết lựa chọn bài học nào, phần kiến thức nào của bài nên sử dụngphương pháp này

- Phần câu hỏi giáo viên GV định sử dụng phải được chuẩn bị trước, có hệ thống liênquan chặt chẽ với nhau., Với mỗi câu hỏi đưa ra, GV luôn có những dự kiến phương ántrả lời của học sinh để có thể chủ động thay đổi hình thức, cách thức, mức độ hỏi, cóthể dẫn dắt qua câu hỏi phụ nhằm tránh sự đơn điệu, nhàm chán, bế tắc

- Cần tránh cách vấn đáp theo kiểu thầy giáo hỏi, học sinh HS đọc nguyên văn mộtđoạn trong sách giáo khoa để trả lời

- Những ví dụ, bảng biểu, sơ đồ, tranh ảnh , hay những đoạn phim dùng để minh họa,

giáo viên GV phải chuẩn bị trước và dự kiến thời điểm sử dụng hợp lý, mang lại hiệuquả cao nhất Nếu có sự hỗ trợ của phương tiện nghe nhìn hay công nghệ thông tin, GVphải biết cách sử dụng để tránh mất thời gian

- Phải kết hợp nhuần nhuyễn với các phương pháp khác

- Các ý kiến phát biểu nên ngắn gọn, tất cả các ý kiến đều cần được GV hoan nghênh,chấp nhận

- GV nên nhấn mạnh kết quả sự tham gia chung của HS sau mỗi phần, mỗi nội dung đểđộng viên, khuyến khích sự nhiệt tình của HS trong học tập

- Trong quá trình dạy học, việc phân loại 3 phương pháp vấn đáp PPVĐ chỉ là tươngđối, mang tính lý thuyết, quá trình thực hiện tùy theo nội dung bài học các câu hỏi vấnđáp có thể được thực hiện đan xen với nhau nhằm hướng tới mục tiêu bài dạy học

Phương pháp dạy học vấn đáp có rất nhiều ưu điểm nổi bật như sau:

Một là, PPVĐ đã phát huy * Ưu điểm:

- Điều khiển được hoạt động tư duy của học sinhHS, kích thích tính tích cựchoạt động nhận thức của học sinh người học và

Trang 37

bBồi dưỡng cho học sinh HS năng lực diễn đạt bằng lời những vấn đề vềkhoa học một cách chính xác, đầy đủ, ngắn gọn, nhớ lâu về tài liệu.

Hai là, PPVĐ g Giúp GV thu được tín hiệu ngược lại từ phía học sinh HS

một cách nhanh gọn, để GV kịp thời điều chỉnh hoạt động của mình và họcsinhHS Thông qua đó GV vừa có vai trò chỉ đạo nhận thức của toàn học sinh

HS trong lớp học, vừa chỉ đạo nhận thức của HS

Phương pháp dạy học vấn đáp có rất nhiều ưu điểm nhưng cũng có những hạn chế như sau: * Hạn chế:

GV khi dạy PPVĐ - nNếu vận dụng không khéo vấn đáp tái hiện, sẽ mấttốn nhiều thời gian của cả người dạy và người học, mà không phát triển được trí tuệcủa học sinhHS Cho nên, khi GV sử dụng PPVĐ, GV đặt câu hỏi phải có tính mụcđích, liên quan trực tiếp với nội dung của bài học và câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu vàđầy đủ đúng trọng tâm để nhấn mạnh điểm chốt; nếu quá nhiều câu hỏi sẽ mất thờigian, ảnh hưởng kế hoạch lên lớp

Ngoài ra - PPVĐ Nếu quá nhiều câu hỏi sẽ mất nhiều thời gian, ảnh hưởng

kế hoạch lên lớp

- Vấn đáp có thể trở thành đối thoại giữa giáo viên GV và một vài học sinhHS,không thu hút toàn lớp tham gia vào hoạt động chung Vì vậy, khi GV gọi HS trả lờinên tránh gọi HS nhiều lần, bỏ quên một số HS khác và đặt câu hỏi phải vừa sức đểduy trì nhịp điệu cần thiết của phương pháp đàm thoại và bảo đảm tính cá biệt trongdạy học

Tóm lại: Phương pháp vấn đáp PPVĐ được sử dụng phổ biến trong dạy học ở nước tahiện nay, tạo hứng thú cho người học, kích thích tính tích cực, độc lập suy nghĩ, giúpngười học tiếp thu bài nhanh, buổi học trở nên sinh động và hấp dẫn

1.1.2.4. Phương pháp thảo luận nhóm

1.1.2.5

Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp dùng lờinói trong đó GV gợi mở, động viên và tổ chức cho HS thamgia trao đổi ý kiến chung của nhóm mình về một vấn, trên cơ

Trang 38

sở đó rút ra kết luận, kiến thức mới, xác định và làm sáng tỏvấn đề liên quan đến nội dung bài học.

Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp dạy học mà trong đó nhóm lớn(lớp học) được chia thành những nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong lớp đều đượclàm việc và thảo luận về một chủ đề cụ thể và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình vềvấn đề đó [3316; tr 223] PPTLN là phương pháp có nhiều ưu thế trong việc tăngcường học tập của cá nhân phối hợp với học tâp hợp tác giúp người học hiểu bài sâuhơn, phù hợp với những vấn đề trong phần đạo đức, pháp luật, các chủ trương chínhsách của Đảng, Nhà nước

Khi vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào dạy học, GV cần tổ chức cho HSđược trao đổi, tranh luận với nhau về những vấn đề nội dung bài học, qua đó để đạtđược mục đích dạy học

Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, thảo luận nhóm làphương pháp được nhiều GV lựa chọn thực hiện, HS hưởng ứng khá nhiệt tình Làphương pháp dạy học có nhiều ưu thế trong việc tăng cường học tập của các cá nhânphối hợp với học tập hợp tác Qua đó thực hiện cũng thu được kết quả cao trong việckích thích tư duy HS, tạo điều kiện để HS thể hiện mình

Phương pháp thảo luận nhóm PPTLN có thể tiến hành theo 2 cách là thảo luậnlớp và thảo luận theo nhóm nhỏ Trong phạm vi đề tài nghiên cứu chúng tôi chỉ tậptrung làm rõ hình thức thảo luận nhóm nhỏ trong một lớp học

Dựa vào nội dung bài học, GV chuẩn bị các câu hỏi thảo luận, chia HS theonhóm nhỏ từ 6 - 12 em và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm thảo luận 1 – 2 câu hỏi Mọi ýkiến của các thành viên nêu lên trong nhóm phải được bàn bạc thống nhất Sau khi thảoluận, mỗi nhóm cử một người lên trình bày kết quả trước cả lớp Sau phần trình bàycủa mỗi nhóm, GV hướng dẫn, điều khiển để cả lớp được đóng góp ý kiến bổ sung Hệthống câu hỏi của các nhóm chính là cấu trúc nội dung của bài học, hoặc một phần củabài học

Là một trong những phương pháp dạy học PPDH tích cực, phương phápthảo luận nhóm PPTLN nếu được sử dụng rộng rãi sẽ giúp cho HS tham gia một cáchchủ động vào quá trình học tập, khuyến khích tính tích cực ngay cả với những học sinh

Trang 39

HS rụt rè, nhút nhát trong học tập, tạo cơ hội để các em được tự thể hiện mình, HS cóthể chia sẻ kinh nghiệm, ý kiến hay cùng giải quyết một vấn đề, một tình huống về triếthọc, đạo đức… trong chương trình môn GDCD Phương pháp này đòi hỏi người họctích cực động não, cho phép mọi thành viên trong nhóm được phát huy tối đa khả năngcủa bản thân trong hoạt động hợp tác, cộng tác, tương tác với mọi thành viên khác,được tạo mọi điều kiện để tham gia trực tiếp vào quá trình dạy học, được thể hiện quanđiểm của mình.

Áp dụng phương pháp thảo luận nhóm PPTLN vào dạy học môn GDCD cầnphải theo các bước sau:

- GV giới thiệu chủ đề cần thảo luận và nêu các câu hỏi có liên quan đến chủ đề, thờigian thảo luận

- GV chia số HS của lớp thành các nhóm, chỉ định hoặc yêu cầu các nhóm bầu nhómtrưởng, thư ký và trong nhóm thư ký ghi lại những điểm chính của cuộc thảo luậnnhóm mình để trình bày trước cả lớp Học sinh HS cần luân phiên nhau làm “nhómtrưởng” và “thư ký”, đại diện cho nhóm trình bày kết quả thảo luận dưới nhiều hìnhthức: bằng lời, giấy khổ lớn, bảng phụ, bản trong hoặc phiếu học tập

- GV tổ chức cho các nhóm tiến hành thảo luận các nội dung đã được giao trong thờigian quy định

- Cử đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận trước lớp Các nhóm khác lắng nghe,chất vấn, trao đổi, bổ sung ý kiến

- Trong thời gian học sinh thảo luận, GV cần đi vòng quanh các nhóm và lắng nghe ýkiến của học sinhHS, giúp đỡ, gợi ý nếu cần thiết

- Giáo viên tổng kết các ý kiến theo nhóm nhỏ

Đây là một phương pháp dạy học PPDH khó, mới được đưa vào dạy học trongcác trường phổ thông., Quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn do trong một lớp họctrình độ của các nhóm khác nhau, khi vận dụng chiếm nhiều thời gian của tiết học., Vìvậy, đòi hỏi GV phải có kinh nghiệm trong việc tổ chức dạy học Khi vận dụng PPTLNphương pháp thảo luận nhóm cần lưu ý:

Trang 40

- Đưa ra câu hỏi thảo luận phải sát với nội dung bài học và phù hợp với trình độ HS,không được thảo luận khái niệm, định nghĩa hay những nội dung đã được trả lời đầy đủtrong SGK

- Cách chia nhóm phải hết sức linh hoạt, luôn thay đổi để tạo điều kiện cho mỗi HSđược giao lưu với tất cả HS trong lớp học và quy định rõ thời gian thời gian thảo luậncủa các nhóm

- GV phải đi lại, quan sát hoạt động của các thảo luận, lắng nghe ý kiến của học sinh

HS để kịp thời giúp đỡ hoặc nhắc nhở một số học sinh HS có biểu hiện thiếu tập trungkhông muốn đóng góp ý kiến Cần khích lệ mọi HS cùng tham gia đóng góp ý kiến,không được chê bai một ý kiến nào

- Kết quả thảo luận của các nhóm phải được trình bày trên bảng hoặc treo xung quanhtường lớp học để HS có cơ hội quan sát, ghi nhớ những điều mỗi em cần biết

- GV phải nhắc nhở học sinh HS chuẩn bị bài trước ở nhà, sau khi thảo luận xong, HSchỉ bổ sung thêm những ý còn thiếu vào bài, có như vậy mới đảm bảo thời gian chomột tiết học

- Chỉ sử dụng phương pháp thảo luận nhóm PPTLN ở những phần có nội dung khó,trọng tâm của bài học, chiếm nhiều thời gian của tiết dạy học dễ làm “cháy” giáo án

- GV không nên sử dụng PPTLN hai lần trong một tiết học

Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong qua trình dạy học có rất nhiều ưu điểm nổi bật như sau:

* Ưu điểm:

- Một là, PPTLN tTăng cường khả năng giao tiếp giữa học sinh HS với à GVgiáoviên, giữa học sinh HS với học sinh HS trong nhóm, kỹ năng chia sẻ, kỹ năng thuyếtphục người nghe Trong lớp, HS sẽ được trao đổi, hợp tác với nhau, để bộc lộ hiểubiết, quan điểm của mình về nội dung, phương pháp học tập, cũng như trong lĩnh vựckhác; giúp họ có nhiều cơ hội rèn luyện các khả năng diễn đạt cách thức tư duy, ýtưởng của mình

Hai là, PPTLN đã tạo yếu tố, kích thích thi đua giữa các thành viên trong nhóm

và giữa các nhóm, đặc biệt là trong việc học tập các chủ đề có tính sáng tạo cao và

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình   dạy học - Vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường THPT nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa   vũng tàu
nh dạy học (Trang 25)
Bảng 2: Kết quả điều tra mức độ chủ động, sáng tạo của GV dạy học môn GDCD trước và sau giờ lên lớp - Vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần công dân với đạo đức, chương trình môn giáo dục công dân lớp 10 (qua khảo sát trường THPT nguyễn du, huyện châu đức, tỉnh bà rịa   vũng tàu
Bảng 2 Kết quả điều tra mức độ chủ động, sáng tạo của GV dạy học môn GDCD trước và sau giờ lên lớp (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w