1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn giáo dục công dân lớp 12 (qua khảo sát ở trường THPT nam hà, TP biên hòa, tỉnh đồng nai) luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

96 958 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn giáo dục công dân lớp 12 (qua khảo sát ở trường THPT Nam Hà, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai)
Tác giả Trần Thị Thanh Hằng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thái Sơn
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn chính trị
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 554 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, việc giảng dạy môn GDCD ở các trường THPT của cả nước nói chung, và dạy học chương trình GDCD lớp 12 Công dân với pháp luật ở trường THPT Nam Hà cho thấy: Sự đổi m

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -

TRẦN THỊ THANH HẰNG

SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC

MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12

(Qua khảo sát ở trường THPT Nam Hà, TP Biên Hòa, Tỉnh

Đồng Nai)

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn chính trị

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thái Sơn

TP Hồ Chí Minh – 2012

Trang 2

HN-GD : hôn nhân gia đình

LL&PPDH : lý luận và phương pháp dạy học

Trang 3

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

5

5 Giả thiết khoa học 6

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn 7

8 Kết cấu của luận văn 7

B NỘI DUNG 8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12 8

1.1 Cơ sở lý luận của việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn GDCD lớp 12 8

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Nam Hà, TP Biên Hòa, T Đồng Nai 31

Kết luận chương 1 38

Chương 2: THỰC NGHIỆM SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT NAM HÀ 39

2.1 Chuẩn bị thực nghiệm 39

2.2 Nội dung thực nghiệm 40

2.3 Kết quả thực nghiệm 57

Kết luận chương 2 62

Trang 4

Chương 3.QUY TRÌNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC

MÔN GDCD LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT NAM HÀ 64

3.1 Quy trình sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Nam Hà 64

3.2 Một số giải pháp cơ bản để sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Nam Hà 72

Kết luận chương 3 86

C Kết luận 87

D Danh mục tài liệu tham khảo 89

E PHỤ LỤC 93

Phụ lục 1 93

Phụ lục 2 94

Trang 5

BGH và Thầy, Cô khoa sau đại học Trường ĐH Sài Gòn, BGH Trường THPT Nam Hà, tỉnh Đồng Nai đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thái Sơn, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài.

Tôi chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp cùng các bạn học viên lớp Cao học Giáo dục Chính trị đã dành nhiều tình cảm, giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành khoá học.

TP Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2012

Tác giả

Trần Thị Thanh Hằng

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bước vào thế kỷ 21 - thế kỷ mà tri thức và kĩ năng của con người được coi như làyếu tố quyết định sự phát triển xã hội, nền giáo dục phải đào tạo ra những con ngườithông minh, có trí tuệ phát triển, giàu tính sáng tạo và tính nhân văn Nghị quyết hội nghịlần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII về tiếp tục đổimới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã nhận định: "Con người được đào tạo thường thiếunăng động, chậm thích nghi với nền kinh tế xã hội đang đổi mới" [14; 2] Từ đó đã nêu

rõ một trong những quan điểm chỉ đạo để đổi mới sự nghiệp giáo dục là phải: "phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo những conngười có kiến thức văn hoá khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo

và có tính kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu CNXH, sống lành mạnh, đáp ứngnhu cầu phát triển đất nước những năm 90 và chuẩn bị cho tương lai"[14; 3] Để thựchiện được những mục tiêu trên, đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) ở trường THPT

là một trong những nhiệm vụ cấp bách mà Đảng và nhà nước ta quan tâm Nghị quyếtBan chấp hành Trung ương II khoá VIII nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ phương phápgiáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sángtạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến, phương tiện hiện đạivào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho họcsinh ” [15; 11]

Trong những năm qua, việc giảng dạy môn GDCD ở các trường THPT của

cả nước nói chung, và dạy học chương trình GDCD lớp 12 Công dân với pháp luật

ở trường THPT Nam Hà cho thấy: Sự đổi mới PPDH môn GDCD ở trường THPTđang được tiến hành, phát triển tương đối nhanh ở các trường thuộc khu vực thànhphố, song chuyển biến còn chậm ở các trường phổ thông ở khu vực nông thôn.PPDH môn GDCD vẫn nặng về sử dụng các PPDH truyền thống, việc sử dụng cácPPDH tích cực bước đầu được thực hiện song so với yêu cầu vẫn còn quá nhiềuvấn đề cần giải đáp cả về cơ sở lý luận lẫn thực tiễn vận dụng Nhằm nâng cao tínhtích cực của HS đối với kiến thức pháp luật, vận dụng những kiến thức đó vào

Trang 7

cuộc sống thực tiễn của chính bản thân HS thì người GV cần có sự kết hợp và sửdụng một cách linh hoạt các PPDH tích cực, qua đó mới có thể phát huy tính tíchcực về nhận thức của HS.

Nhằm khắc phục phần nào còn hạn chế, phát huy tính tích cực trong việcdạy học phần Công dân với pháp luật cho học sinh lớp 12 THPT, việc phântích các PPDH tích cực, chỉ ra phương thức sử dụng các PPDH một cách phùhợp trong mỗi giờ dạy nhằm phát huy, nâng cao hứng thú, sáng tạo của HS trởthành một yêu cầu cấp bách đối với GV bộ môn GDCD ở trường THPT tronggiai đoạn hiện nay

Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề, thời gian qua đã có nhiều công trình,

đề tài nghiên cứu về PPDH môn GDCD và đổi mới PPDH môn GDCD ở các phầnkhác nhau của chương trình GDCD THPT, nhưng vấn đề sử dụng các PPDH tíchcực trong việc giảng dạy một số kiến thức phần Công dân với pháp luật, chươngtrình GDCD lớp 12 ở một trường THPT trên địa bàn của một tỉnh miền Đông Nam

Bộ thì hầu như chưa có đề tài nào đề cập đến Vì vậy tác giả chọn vấn đề: "Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn giáo dục công dân lớp 12” (Qua khảo sát ở trường THPT Nam Hà, TP Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai) làm đề tài tốt nghiệp luận văn khoa học Giáo dục, chuyên ngành

LL&PPDH bộ môn Giáo dục chính trị

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao tính tích cực, chủđộng của học sinh trong dạy học là vấn đề luôn được các nhà giáo dục trong vàngoài nước quan tâm nghiên cứu

Nhiều nhà sư phạm tiền bối thời cổ đại đã nêu lên những tư tưởng mang nộidung của các phương pháp dạy học tích cực Khổng Tử (551-479)_người thầy giáo

vĩ đại của Trung Quốc, trong suốt cuộc đời dạy học của mình đã luôn yêu cầu họctrò phải tự tìm tòi, suy nghĩ, đào sâu và khám phá kiến thức, nhằm nâng cao tínhtích cực, chủ động của người học Nhà triết học Xôcrát (469 - 399 TCN) quanniệm rằng chỉ khi nào ham học, bạn mới trở thành người có học Ông luôn dạy học

Trang 8

trò của mình bằng cách đặt ra các câu hỏi gợi mở để từ đó học trò tự tìm hiểu,khám phá các kiến thức.

Nghiên cứu về việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực là một trongnhững nội dung quan trọng của quá trình đổi mới phương pháp dạy học trong giai

đoạn hiện nay, trong đó có thể kể đến Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông của tác giả Vũ Đình Bảy, Đặng Xuân Điều, Nguyễn Thành Minh (Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2010), Dạy và học môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông, những vấn đề lý luận và thực tiễn

của tác giả Nguyễn Văn Cư – Nguyễn Duy Nhiên (Nhà xuất bản Đại học sư phạm,

2008), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường của tác giả Phan Trọng Ngọ

(Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2005)

Cuốn sách Phương pháp dạy học môn giáo dục công dân của PGS Vương

Tất Đạt (Nhà xuất bản Hà Nội, 1994) một lần nữa đã khẳng định vị trí, vai trò môngiáo dục công dân ở trường THPT, vạch ra nhiệm vụ cơ bản của môn học và đưa

ra những nguyên tắc cần thiết và những phương pháp cơ bản trong việc giảng dạymôn giáo dục công dân

Bài viết Phương pháp và tư liệu giảng dạy môn giáo dục công dân của tác

giả Lê Đức Quảng, Phan Trọng Luận (Tạp chí Khoa học và giáo dục, 4/1998) đãnhấn mạnh các vấn đề với xu hướng dạy học “lấy người học làm trung tâm”, đồngthời, từ những thực trạng về giảng dạy, các tác giả đã phân tích và chỉ ra rằngphương pháp giảng dạy giáo dục công dân cần phải được đổi mới và khắc phụcnhững hạn chế

Thạc sỹ Đinh Văn Đức với bài viết “Đổi mới phương pháp dạy học môn giáo dục công dân - Nói và làm” [12, 57] đã nêu lên những vấn đề rất thiết thực

như: đổi mới phương pháp dạy học là gì và vận dụng vào bộ môn giáo dục côngdân, tuy nhiên lý luận trên chưa được vận dụng vào một trường cụ thể

Giáo dục công dân là môn học quan trọng trong chương trình giảng dạy ởtrường phổ thông Việc nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học môn này là mộtnhiệm vụ vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp

Trang 9

giáo dục, đào tạo con người Năm 2001, tập thể cán bộ giảng viên khoa Giáo dụcChính trị, Trường Đại học Vinh đã có công trình nghiên cứu và biên soạn cuốn sách

“Góp phần dạy tốt, học tốt môn GDCD ở trường trung học phổ thông”

Vấn đề áp dụng các PPDH nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy họcmôn GDCD cũng đã được nhiều học viên Cao học chuyên ngành lựa chọn làm đềtài nghiên cứu Tiêu biểu cho các công trình đó, có thể kể đến: luận văn thạc sỹkhoa học giáo dục, chuyên ngành LL & PPDH bộ môn GDCT, trường Đại học

Vinh, năm 2006 của Trần Thị Minh “ Kết hợp PPDH truyền thống và PPDH tích cực để nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD lớp 10”

Năm 2008, luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục, chuyên ngành LL & PPDH bộmôn GDCT, trường Đại học Vinh của Nguyễn Thị Kim Ngân, đã nghiên cứu về việc

“Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong phần “công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học” ở trường THPT hiện nay”.

Năm 2009, luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục, chuyên ngành LL & PPDH

bộ môn GDCT, trường Đại học Vinh của Nguyễn Thị Hồng Thư cũng đã tập trung

nghiên cứu việc “Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực để dạy tốt phần

“công dân với những vấn đề chính trị – xã hội” ở chương trình GDCD lớp 11 THPT” Các đề tài luận văn trên đã đi sâu phân tích ưu nhược điểm của các

phương pháp dạy học tích cực và tập trung nghiên cứu việc vận dụng các phươngpháp dạy học tích cực vào các phần cụ thể trong chương trình dạy học môn GDCD

lớp 10 và lớp 11

Như vậy, từ những góc độ khác nhau, các tác giả đã đề cập đến một sốphương pháp dạy học môn GDCD ở trường trung học phổ thông, có tác giả đã kháiquát thực trạng dạy học môn GDCD ở trường trung học phổ thông với những bấtcập cần giải quyết và việc vận dụng các phương pháp tích cực trong dạy học mônGDCD ở trường trung học phổ thông

Các công trình nghiên cứu trên cũng đã đề cập đến nhiều khía cạnh trongđổi mới phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân, những giải pháp nhằmnâng cao hiệu quả giảng dạy bộ môn GDCD nói chung… nhưng đề cập đến việc

Trang 10

sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn

giáo dục công dân lớp 12 thì các tác giả chưa khai thác một cách trực tiếp Tuynhiên, các công trình nêu trên là nguồn tư liệu quí giá để tác giả nghiên cứu, làmphong phú thêm luận văn của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Xây dựng các giải pháp thiết thực, khả thi để sử dụng một cách linh hoạt cácPPDH tích cực nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD lớp 12

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hoàn đạt tới mục tiêu trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn việc vận dụng các PPDH tích cực trongdạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT

- Khảo sát thực trạng sử dụng các PPDH tích cực trong dạy học phần Công dân với pháp luật ở trường THPT Nam Hà, tỉnh Đồng Nai

- Thiết kế giáo án, thực nghiệm sư phạm nhằm xác định mức độ phù hợp,đánh giá tính khả thi và hiệu quả của việc kết hợp các PPDH tích cực trong tiến

trình dạy học đã soạn thảo nhằm nâng cao chất lượng dạy học phần Công dân với pháp luật.

- Xây dựng và đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả các

PPDH tích cực trong dạy học phần Công dân với pháp luật môn GDCD lớp 12.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Việc sử dụng các PPDH tích cực trong quá trình dạy học môn GDCD lớp 12

ở trường THPT Nam Hà, TP Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các phương pháp dạy học tích cực phù hợpvới chương trình GDCD lớp 12 và sử dụng vào dạy học ở một số bài học cụ thểcủa phần này ở trường THPT Nam Hà

5 Giả thuyết khoa học

Trang 11

Nếu sử dụng linh hoạt các PPDH tích cực phù hợp với trình độ nhận thức

của HS thì sẽ nâng cao được chất lượng và hiệu quả dạy học phần Công dân với pháp luật chương trình GDCD lớp 12.

6 Phương pháp nghiên cứu

* Nghiên cứu lý luận

- Các văn kiện của Đảng và nhà nước, của Bộ giáo dục và đào tạo có liênquan đến vấn đề nghiên cứu

- Các sách, bài báo về khoa học giáo dục phục vụ cho đề tài

- Các sách, bài báo về dạy học môn giáo dục công dân

- Các công trình nghiên cứu các vấn đề có nội dung liên quan trực tiếp đến

đề tài (các luận văn, các chuyên đề)

* Quan sát

Chủ yếu là dự giờ, quan sát việc dạy của GV và việc học của HS trong quátrình dạy học môn GDCD

* Thực nghiệm sư phạm

- Biên soạn giáo án, trao đổi với GV dạy thực nghiệm

- Tiến hành dạy thực nghiệm (So sánh các lớp thực nghiệm và các lớp đối chứng)

- Đánh giá hiệu quả sư phạm của việc dạy- học theo hướng đã nghiên cứu

* Phương pháp lôgic, lịch sử

* Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

* Phương pháp điều tra xã hội học

7 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

- Góp phần cụ thể hóa lý luận vào thực tiễn việc sử dụng các PPDH tích cựctrong dạy học GDCD nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD lớp 12 ởtrường THPT hiện nay

- Bổ sung tài liệu tham khảo cho GV GDCD THPT, sinh viên các trường

Đại học sư phạm và Cao đẳng sư phạm về tiến trình dạy học kiến thức phần Công dân với pháp luật theo hướng phát huy tính tích cực, tự chủ của HS; góp phần đổi

mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD ở trường THPT

Trang 12

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kếtcấu luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng các phương pháp dạyhọc tích cực trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12

Chương 2: Thực nghiệm sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằmnâng cao chất lượng dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 ở trường THPT Nam

Chương 3: Quy trình và một số giải pháp để sử dụng các phương pháp dạyhọc tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 ởtrường THPT Nam Hà

Trang 13

B NỘI DUNGChương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG

PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC

MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12 1.1 Cơ sở lý luận của việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 12

1.1.1 Phương pháp dạy học tích cực

1.1.1.1 Khái niệm phương pháp và phương pháp dạy học

- Khái niệm phương pháp

Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy lạp là “methodos” có nghĩa

là con đường, cách thức vận động của một sự vật, hiện tượng nhằm đạt được mụcđích Phương pháp hiểu theo nghĩa chung nhất và rộng nhất là những cách thức,thủ đoạn được chủ thể sử dụng để thực hiện mục đích nhất định Còn theo nghĩakhoa học, phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về cácquy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễnnhằm thực hiện mục tiêu nhất định Phương pháp vừa là sự đúc kết kinh nghiệm,vừa là khoa học, đồng thời nó còn là nghệ thuật đòi hỏi tính sáng tạo và mang dấu

ấn của chủ thể sử dụng phương pháp

Vấn đề phương pháp đã được đề cập sớm và khá nhiều trong triết học, trong

đó có hướng tiếp cận của Bêcơn (1561-1626), G.Heghen (1770-1831) và C.Mác(1818-1883) Các hướng tiếp cận này đều rất có ý nghĩa cho việc lựa chọn và sửdụng các phương pháp và phương tiện trong dạy học

Phương pháp là phạm trù gắn với hoạt động có ý thức của con người, phảnánh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Nó được Bêcơn vínhư “ngọn đèn” lớn, soi sáng cho con người trong đêm tối, dẫn lối cho các hoạtđộng của con người Vì vậy, có thể nói phương pháp là yếu tố quan trọng quyết

Trang 14

định đến sự thành công hay thất bại trong hoạt động nhận thức, hoạt động cải tạothực tiễn của con người.

Theo Hêghen, phương pháp là hình thức vận động của nội dung sự vật Mỗi

sự vật đều có bản chất của nó và được thể hiện qua những hình thức nhất định,hình thức không bao giờ tồn tại tách rời nội dung và đồng thời nội dung cũngkhông tồn tại tách rời hình thức vận động của nó Mỗi sự vật trong quá trình tồn tạiđều gắn với một hình thức vận động đặc trưng Vận dụng cách tiếp cận về phươngpháp của Hêghen vào dạy học cho ta phương pháp luận rất quan trọng Mỗi nộidung dạy học sẽ có một phương pháp đặc thù mang lại hiệu quả cao nhất mà khôngthể thay thế bằng các phương pháp khác Do đó, không thể nói rằng PPDH này tốt,PPDH kia không tốt mà cần phải xác định, với nội dung này thì phương pháp phùhợp với nó là gì Cách tiếp cận của Hêghen cho thấy, muốn xác định và sử dụngPPDH tối ưu thì trước hết phải trả lời câu hỏi dạy cái gì? Sau đó mới đến câu hỏidạy như thế nào? Tức là cách dạy phải luôn phù hợp với nội dung dạy học

Cũng về phương pháp, chúng ta tiếp thu chỉ dẫn của C.Mác theo một hướngkhác C.Mác cho rằng: Các thời đại kinh tế khác nhau không phải là ở chỗ chúngsản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào với tư liệu lao độngnào Cách tiếp cận này của C.Mác cho ta thấy trong dạy học, phương pháp có tínhđộc lập tương đối với nội dung và trình độ, hiệu quả của hoạt động dạy học đượcquyết định bởi phương pháp và phương tiện dạy học Ngoài ra, đối với một nộidung dạy học sẽ có nhiều phương pháp để triển khai, trong đó luôn có một phươngpháp tốt nhất Vì vậy, muốn đạt hiệu quả cao trong dạy học phải trả lời được câuhỏi: Phương pháp nào là tối ưu nhất? Phương tiện nào là tốt nhất trong quá trìnhchuyển tải nội dung bài dạy đến với người học

Nhà duy vật Pháp thế kỷ XVII René Descartes cũng đã nhấn mạnh rằng nếuthiếu phương pháp trong hoạt động thì người có tài cũng không thể đạt kết quả,còn nếu có phương pháp đúng thì người bình thường cũng làm được việc phithường

Trang 15

Cho đến nay, đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm phương phápnhưng nhìn chung, đa số các nhà khoa học đều thống nhất với định nghĩa: Phươngpháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức các quy luật khách quan

để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêunhất định nào đó đã được đặt ra

- Khái niệm phương pháp dạy học

Dạy học là một lĩnh vực hoạt động đặc trưng diễn ra bởi quá trình giảng dạycủa giáo viên và quá trình học tập của học sinh Quá trình đó nhất thiết phải thôngqua phương pháp đặc thù gọi là phương pháp dạy học Như vậy, bản chất củaphương pháp dạy học chính là việc sử dụng hệ thống phương pháp giảng dạy vàphương pháp học tập nhằm thực hiện mục đích, yêu cầu đặt ra

Phương pháp dạy học không phải là một thực thể độc lập, tồn tại vì mụcđích tự thân mà chỉ là hình thức vận động của một hoạt động đặc thù: hoạt độngdạy học Vì vậy, phương pháp dạy học phải được xem xét theo nghĩa chung nhất lànhững con đường, cách thức tiến hành hoạt động dạy học Trong hoạt động dạyhọc, phương pháp được hiểu là cách thức tiến hành các hoạt động của người dạy vàngười học nhằm thực hiện một nội dung dạy học đã được xác định

Phương pháp dạy học không được rút ra từ ý muốn chủ quan của con người

mà bị quy định bởi nội dung, tri thức của môn học, hay nói cách khác, phươngpháp dạy học được quy định bởi nội dung của quá trình dạy học Trong quá trìnhgiảng dạy, người giáo viên phải căn cứ vào nội dung, đặc điểm tri thức của từngmôn, từng bài học cụ thể để lựa chọn những phương pháp phù hợp

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học, trong đó có thể

kể đến các cách định nghĩa sau:

Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của người giáo viên để truyềnthụ kiến thức, rèn luyện kỹ năng và giáo dục học sinh theo mục đích của nhàtrường

Phương pháp dạy học là cách thức hướng dẫn và chủ đạo của giáo viênnhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh, giúp học

Trang 16

sinh dể dàng lĩnh hội vững chắc nội dung học vấn, hình thành thế giới quan vànăng lực nhận thức.

Phương pháp dạy học là sự kết hợp các biện pháp và phương tiện làm việccủa giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học nhằm đạt tới mục đích của giáoviên

Tóm lại, phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của cả thầy vàtrò trong quá trình dạy học dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt các nhiệm

vụ dạy học

Từ cách tiếp cận trên, ta thấy PPDH quyết định đến sự thành công của quátrình dạy học Bài học có đem lại kết quả tốt hay không, có làm cho học sinh yêuthích những vấn đề đã học và có biết vận dụng chúng một cách năng động, sángtạo để giải quyết các vấn đề bức thiết của cuộc sống hay không là phụ thuộc phầnlớn vào PPDH mà người giáo viên lựa chọn trong quá trình dạy học

1.1.1.2 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực

Trong lịch sử giáo dục của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng, tưtưởng nhấn mạnh vai trò chủ động, tích cực của người học đã xuất hiện từ rất sớm.Chính vì vậy, khi bàn về các phương pháp dạy học tích cực, đã có rất nhiều tưtưởng, quan niệm khác nhau được các nhà giáo dục, nhà sư phạm đưa ra Tuy tiếpcận dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng hầu hết các tác giả đều cho rằng phươngpháp dạy học tích cực là phương pháp đề cao chủ thể nhận thức, chủ yếu phát huytính tự giác, tích cực, chủ động của người học Nghĩa là trong quá trình học tập,người học phải tập trung cao độ, chủ động tìm tòi khám phá nội dung học tập, chủđộng giải quyết các vấn đề phù hợp với khả năng hiểu biết của mình, đề xuất các ý kiếnsáng tạo và tự nguyện trình bày, diễn đạt ý kiến của mình

Phương pháp dạy học tích cực thực chất là PPDH hướng tới khả năng tích cực,chủ động, sáng tạo của người học chứ không phải hướng tới việc phát huy tính tíchcực của người dạy Khi vận dụng các PPDH tích cực, GV với vai trò là người hướngdẫn rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, phát huy sự tìm tòi độc lập của từng

HS hoặc thông qua thảo luận, thí nghiệm, thực hành, thâm nhập thực tế của học sinh

Trang 17

theo mục tiêu, nội dung của bài học GV là người tổng hợp các ý kiến của từng họcsinh và tập thể lớp học để xây dựng nội dung bài học.

Từ những cách tiếp cận khác nhau về PPDH tích cực, chúng ta có thể hiểucác PPDH tích cực là những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tíchcực, chủ động, độc lập và sáng tạo, hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạtđộng nhận thức của người học

1.1.1.3 Những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực có những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất: Dạy học lấy người học làm trung tâm

Người học luôn được đặt vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, giáo dục

vì học sinh chính là đối tượng của giáo dục, của dạy học, nhà trường tồn tại là vìhọc sinh

Phương pháp dạy học tích cực xem người học vừa là đối tượng, vừa là chủthể của quá trình giáo dục Trong khi các hoạt động khác thường hướng đến thayđổi đối tượng khách thể thì hoạt động học tập làm cho chính chủ thể hoạt độngthay đổi Bằng hoạt động học tập, người học tự hình thành và phát triển nhân cáchcủa mình, không ai có thể làm thay mình được Đã có thời kì người ta chưa đặtđúng vị trí của học sinh trong quá trình học tập thì nay cần phải đặt lại cho đúngvới vị trí vốn có của nó

Việc phát huy tính tích cực chủ động, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của mỗicác nhân học sinh không chỉ có ý nghĩa ngay trong quá trình học tập ở nhà trường

mà còn là hành trang để các em đóng góp có hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng đấtnước mai sau

Việc đề cao vai trò chủ động, sáng tạo của học sinh không phủ nhận hoặc hạthấp vai trò chủ đạo quyết định hiệu quả, chất lượng dạy học của giáo viên Giáodục nhà trường khác với các hình thức giáo dục khác ở chỗ nó được tiến hành có

kế hoạch dưới sự chỉ đạo của giáo viên

Thứ hai: Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

Trang 18

Khi vận dụng các PPDH tích cực vào quá trình dạy học, giáo viên vừa làngười cung cấp kiến thức cho học sinh, đồng thời cũng là người tổ chức, chỉ đạo vàhướng dẫn hành động cho học sinh Thông qua các hoạt động này, học sinh tựmình khám phá những điều mình chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thunhững tri thức đã được sắp đặt sẵn thông qua sự thuyết giảng của giáo viên Thậtvậy, những tri thức khoa học chỉ trở thành kiến thức thực sự cho học sinh khingười học tự mình chiếm lĩnh nó bằng sự chủ động, sáng tạo của mình.

Để tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của học sinh có hiệu quả thì đòihỏi người GV phải biết vận dụng các PPDH tích cực vào quá trình dạy học Nhữnghoạt động mà giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện phải được thiết kế trướctrong giáo án chứ không phải thực hiện một cách ngẫu hứng, tùy tiện Có như vậy,mục tiêu của quá trình dạy học, của môn học mới được đảm bảo

Thứ ba: Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Phương pháp tự học là một phương pháp học tập được rất nhiều nhà giáodục, sư phạm trong và ngoài nước coi trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị cha giàkính yêu của dân tộc Việt Nam – đã để lại cho chúng ta một bài học vô giá về tấmgương tự học, về ý chí kiên cường, quyết tâm tự học trong những điều kiện khókhăn nhất Người đã chỉ dạy cho chúng ta: “Về việc học phải lấy tự học làm cốt”.[22, 273]

Cốt lõi của phương pháp học tập chính là phương pháp tự học, nó là cầu nốigiữa học tập và nghiên cứu khoa học Một yếu tố quan trọng bảo đảm sự thànhcông trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học là khả năng phát hiện và giảiquyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Giáo viên không chỉ truyền thụ trithức sẵn có mà cần phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện khả năng nghĩ và làmmột cách tự chủ, tổ chức cho học sinh tự mình tìm ra tri thức đó, giúp học sinhkhông chỉ nắm được kiến thức mà còn nắm được phương pháp đi tới kiến thức

Rèn luyện phương pháp tự học thông qua các phương pháp dạy học tích cựcđòi hỏi học sinh phải làm việc nhiều hơn với sách giáo khoa, sách bài tập, sách thamkhảo, được thực hành các kỹ năng cơ bản như nghe, nói, đọc, viết trong quá trình tự

Trang 19

học ở nhà và qua các giờ học trên lớp với sự hướng dẫn của giáo viên Nội dung dạyhọc phải chú trọng tới các kỹ năng thực hành, vận dụng năng lực giải quyết các vấn

đề thực tiễn, hướng đến sự chuẩn bị thiết thực cho học sinh trong việc tìm kiếm việclàm, hòa nhập vào sự phát triển chung của cộng đồng

Thứ tư: Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác

“Học thầy không tày học bạn” là sự khẳng định vai trò của học tập cá thể,phối hợp với học tập hợp tác trong từng nhóm nhỏ, trong mỗi lớp học ở trườngTHPT hiện nay Tuy nhiên, trong học tập không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độđều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Những tri thức mà HS

tự khám phá dễ mang tính chủ quan, phiến diện vì vậy các em cần phải trao đổi,hợp tác với nhau để tri thức của cá nhân giảm bới tính chủ quan tăng tính kháchquan khoa học Đồng thời, thông qua học tập hợp tác, các kỹ năng giao tiếp, kỹnăng thuyết phục, kỹ năng nắng nghe tích cực, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ,

ý thức cộng đồng của mỗi HS được rèn luyện và phát triển

Dạy học thông qua hợp tác tạo nên sự quan hệ bình đẳng giữa các thành viên

và tạo môi trường học tập an toàn, thông qua đó hình thành ở HS những phẩm chấtcủa người lao động mới

Thứ năm: Kết hợp với đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò

Trong quá trình dạy học, đánh giá được xem là một kênh vô cùng quan trọng

để giúp GV nắm bắt được thực trạng học tập của HS, thông qua đó, GV có thể điềuchỉnh phương pháp giảng dạy của mình cho phù hợp với từng đối tượng HS nhằmđạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình dạy học Đối với PPDH tích cực, GVphải hướng dẫn HS biết cách tự đánh giá khả năng, sự hiểu biết của mình để điềuchỉnh cách học, đồng thời, GV phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để HS được thamgia đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá bản thân mình

Để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội,thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặplại các kỹ năng đã học mà cần khuyến khích phát triển trí thông minh, óc sáng tạo

Trang 20

trong việc giải quyết những tình huống thực tế Thông qua việc đánh giá, HSkhông chỉ được rèn luyện kĩ năng xem xét, phân tích vấn đề mà trên cơ sở đó tựđiều chỉnh cách học, điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp, là năng lực cầnthiết để góp phần vào sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bịcho HS.

1.1.2 Các phương pháp dạy học tích cực được vận dụng trong chương trình Giáo dục công dân lớp 12

Hiện nay, có rất nhiều PPDH tích cực có thể sử dụng vào tất cả các bài dạytrong chương trình GDCD ở cấp THPT Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, tácgiả chỉ nghiên cứu một số PPDH tích cực phù hợp với nội dung chương trìnhGDCD lớp 12 hiện nay

án giải quyết vấn đề liên quan đến nội dung bài học

Phương pháp động não đúng như tên gọi của nó, thích hợp với các hoạt độngdạy học hướng đến mục đích phát triển ở người học những phẩm chất hoạt độngđộc lập, đặc biệt là khả năng sáng tạo Mặt khác, kết quả của hoạt động động não

là những ý tưởng, các giải pháp mới mẻ của người học được hình thành, thông qua

đó, GV có thể thu thập được nhiều điều bổ ích

Phương pháp động não có thể được tiến hành theo các bước sau:

- Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặctrước nhóm

- Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt

- Liệt kê tất cả các ý kiến lên bảng hoặc giấy khổ lớn, không bỏ sót ý kiếnnào, trừ trường hợp trùng lặp

Trang 21

- Phân loại các ý kiến, làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng.

- Tổng hợp ý kiến của học sinh và rút ra kết luận

Ưu điểm của phương pháp động não:

Với phương pháp động não, GV dể dàng soạn thảo câu hỏi và dể thực hiện,không tốn kém, đồng thời huy động được tối đa trí tuệ của tập thể trong quá trìnhtìm kiếm thông tin để trả lời Tạo được không khí sôi nổi nhờ quá trình tham giaphản hồi một cách tích cực của người học để cải tạo không khí học tập trầm lặng,buồn tẻ

Nhược điểm:

Có thể mất nhiều thời gian nếu lớp học đông, các ý kiến trả lời có thể tảnmạn hoặc lạc đề Hiệu quả của phương pháp mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp ýtưởng chứ chưa bồi dưỡng được năng lực tư duy phân tích, chứng minh, tổng hợpcủa học sinh

1.1.2.2 Phương pháp xử lý tình huống (phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình)

Phương pháp xử lý tình huống là một phương pháp dạy học, trong đó HS tựlực nghiên cứu một tình huống cụ thể trong thực tiễn và giải quyết vấn đề do tìnhhuống đặt ra dưới sự hướng dẫn của GV

Tình huống là một hoàn cảnh thực tế, câu chuyện có thật hoặc được hư cấu,

mô phỏng theo tình huống thường xảy ra trong thực tiễn có chứa đựng những mâuthuẫn, xung đột Người học sau khi tiếp nhận phải đưa ra một số quyết định trên cơ

sở cân nhắc các phương pháp giải quyết khác nhau

Các bước tiến hành:

- HS tiếp nhận và tự phân tích sơ lược về tình huống.

- Nghiên cứu, tìm các phương án giải quyết và thảo luận (tìm hiểu, nghiên

cứu, khảo sát, điều tra )

- GV đưa ra một hay nhiều câu hỏi gợi ý có liên quan đến tình huống để

hướng dẫn HS trả lời

Trang 22

- Quyết định trong nhóm về phương án giải quyết, các nhóm trình bày và

bảo vệ quyết định của nhóm

- GV điều khiển công việc tranh luận của HS về vấn đề liên quan đến tình

huống thực tế, tổng hợp ý kiến và rút ra kết luận

Ưu điểm của phương pháp tình huống:

Nội dung tri thức của bài học được thực tiễn hóa, gắn lý thuyết với thực tiễnthông qua những tình huống gần gũi với HS Tạo điều kiện để rèn luyện, bồidưỡng những phẩm chất của tư duy như: phê phán, sáng tạo, khả năng giao tiếp,quyết đoán, ra quyết định Tích cực hoá hoạt động của người học nhờ quá trìnhthường xuyên tiếp cận với các tình huống thực tế, đồng thời dễ tạo được không khítranh luận thoải mái và khai thác trí tuệ của tập thể

Phương pháp này đòi hỏi cao với GV Nhiệm vụ truyền thụ tri thức của GV

là thứ yếu, GV cần làm việc với tư cách là người tổ chức, điều khiển quá trình họctập Và nó cũng đòi hỏi cao đối với HS Hình thức quen thuộc là lĩnh hội tri thứcđược sắp xếp sẵn một cách hệ thống từ GV không còn phù hợp nữa mà HS phảibiết tự mình vận dụng tri thức một cách sáng tạo

HS có thể bị lạc đề nếu tình huống điển hình của GV đưa ra không phù hợphoặc câu hỏi định hướng sai mục đích

1.1.2.3 Phương pháp thảo luận nhóm

Thảo luận nhóm là PPDH trong đó lớp học được chia thành những nhómnhỏ để bàn bạc, trao đổi, thảo luận về một vấn đề học tập và đưa ra ý kiến chungcủa nhóm về vấn đề đó Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp HStham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho HS có thể chia sẻkiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến nội dung

Trang 23

bài học.

Thực chất, thảo luận nhóm là phương pháp mà ở đó, giáo viên tổ chức chohọc sinh được trao đổi, tranh luận trong nhóm nhỏ với nhau về những vấn đề củanội dung bài học, qua đó đạt được mục đích dạy học

Trong quá trình đổi mới PPDH hiện nay, thảo luận nhóm là PPDH đượcnhiều GV sử dụng trong quá trình giảng dạy và được HS hưởng ứng khá nhiệt tình,qua đó, tăng cường học tập cá nhân phối hợp với học tập hợp tác, thu được kết quảcao trong việc kích thích tư duy HS, tạo điều kiện để HS thể hiện mình

Phương pháp thảo luận nhóm có thể tiến hành theo các bước sau:

- GV nêu chủ đề thảo luận, chia nhóm phân công vị trí làm việc, giao câu

hỏi, yêu cầu thảo luận của mỗi nhóm và quy định thời gian

- Các nhóm tiến hành thảo luận.

- Đại diện của từng nhóm lên trình bày kết quả thảo luận của nhóm Các

nhóm khác lắng nghe, chất vấn trao đổi và bổ sung ý kiến

- GV tổng kết các ý kiến.

Ưu điểm của phương pháp thảo luận nhóm:

Trong số PPDH đang được sử dụng, phương pháp thảo luận nhóm có nhiều

ưu thế trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục mới hiện nay

Kiến thức mà HS thu nhận được không chỉ là kết quả của hoạt động riêngbiệt của cá nhân mà thu nhận được thông qua quá trình cọ xát hợp tác, vì thế kiếnthức của HS sẽ giảm bớt tính chủ quan, phiến diện và tăng tính khách quan khoahọc

Kiến thức trở nên sâu sắc bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh do được giao lưu,học hỏi giữa các thành viên trong nhóm

Giúp HS phát triển năng lực giao tiếp thông qua sự cộng tác làm việc trongnhóm, giúp HS phát triển năng lực giao tiếp như biết lắng nghe, chấp nhận và phêphán ý kiến của người khác, biết trình bày và bảo vệ ý kiến của mình trong nhóm

Tăng cường sự tự tin cho HS HS được liên kết với nhau qua giao tiếp xãhội, các em sẽ mạnh dạn hơn và ít sợ mắc sai lầm

Trang 24

Phát triển phương pháp làm việc thông qua quá trình tự làm việc và làm việctheo nhóm, giúp HS rèn luyện phương pháp làm việc có khoa học.

Nhược điểm:

Dạy học theo phương pháp thảo luận nhóm đòi hỏi nhiều thời gian Thờigian 45 phút của một tiết học cũng là trở ngại gây khó khăn trên con đường đạtđược thành công cho công việc nhóm

Hoạt động nhóm không phải bao giờ cũng mang lại kết quả như mongmuốn, nếu tổ chức và thực hiện kém thì bải giảng sẽ không đạt được kết quả tốt

Thảo luận nhóm nhưng chưa được luyện tập sẽ dễ gây ra hỗn loạn Thí dụ cóthể xẩy ra một HS phụ trách nhóm theo kiểu độc đoán, các thành viên trong nhómkhông làm bài mà quan tâm đến vấn đề khác Giữa các nhóm có thể phát sinh sựđối địch và giận dữ

Sự thụ động hoặc hăng hái quá mức của các nhóm sẽ gây khó khăn cho sựđiều khiển của GV

1.1.2.4 Phương pháp đóng vai

Đóng vai là một PPDH, trong đó GV tổ chức cho người học thực hành, “làmthử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là PPDHnhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện

cụ thể mà người học vừa thực hiện hoặc quan sát Việc “diễn” không phải là phầnchính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận và rút ra nội dungbài học sau phần diễn ấy

Các bước tiến hành:

- GV nêu chủ đề, chia nhóm, giao tình huống yêu cầu đóng vai cho từng nhóm.Trong đó có quy định rõ về thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi nhóm

- Các nhóm thảo luận về công tác chuẩn bị và tiến hành đóng vai

- Lớp thảo luận, nhận xét Thông thường thì thảo luận bắt đầu về ứng xử củacác nhân vật cụ thể hoặc tình huống mà vở diễn đặt ra, nhưng sẽ mở rộng phạm visang những vấn đề khái quát hơn gắn với nội dung bài học

- GV tổng hợp các ý kiến và rút ra kết luận

Trang 25

Ưu điểm của phương pháp đóng vai:

HS được rèn luyện thực hành kỷ năng ứng xử và bày tỏ thái độ của mìnhtrong quá trình học tập trên lớp trước khi thực hành trong thực tiễn

Tạo ra được tâm lý hứng thú và sự chú ý cho HS, tạo điều kiện làm pháttriển óc sáng tạo của HS

Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của HS theo hướng tích cực một cách

tự giác GV có thể thấy ngay sự tác động có hiệu quả của HS qua vai diễn

Nếu tình huống đóng vai được lặp đi, lặp lại giữa các nhóm có thể gây nên

sự nhàm chán đối với học sinh

1.1.2.5 Phương pháp vấn đáp (đàm thoại)

Vấn đáp (đàm thoại) là một PPDH mà trong đó việc truyền thụ và lĩnh hội trithức mới giữa GV và HS thông qua hệ thống những câu trả lời từ những yêu cầu,gợi ý do GV nêu ra

Như vậy, phương pháp vấn đáp là quá trình tương tác giữa GV và HS, đượcthực hiện thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời tương ứng về một chủ đề nào

đó được GV và HS đặt ra Kết quả dưới sự dẫn đắt của GV, HS thể hiện được suynghĩ của mình và lĩnh hội được kiến thức

Căn cứ vào mục đích và tính chất của hoạt động nhận thức, có thể phân chiaphương pháp vấn đáp ở ba dạng: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích – minh họa,vấn đáp tìm tòi – phát hiện

- Vấn đáp tái hiện: GV đặt ra những câu hỏi và chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiếnthức đã biết để trả lời Những câu trả lời này chỉ thường dựa vào trí nhớ mà khôngcần phải suy luận, không mất nhiều thời gian Các câu hỏi thường không khó hiểu,

Trang 26

HS không phải chuẩn bị trước ở nhà, những kiến thức đó đã có sẵn trong trí óc, HSchỉ cần tái hiện lại và trả lời theo những yêu cầu của câu hỏi.

- Vấn đáp giải thích – minh họa: Nhằm mục đích làm sáng tỏ, chứng minhmột nội dung tri thức nào đó Thực hiện dạng này, GV lần lượt nêu ra những câuhỏi kèm theo những ví dụ minh họa để HS dể hiểu, dể nhớ Phương pháp này đặcbiệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện và thiết bị dạy học

- Vấn đáp tìm tòi: Đây là dạng vấn đáp phổ biến trong dạy học GDCD vàđòi hỏi cao nhất tính chủ động, sáng tạo của HS Với dạng vấn đáp này, GV dùngmột hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lí để hướng dẫn HS từng bước phát hiện rabản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang nghiên cứu, tìm hiểu Vớiphương pháp này, GV là người tổ chức, hướng dẫn để HS tự lực phát hiện kiếnthức mới, qua đó HS được rèn luyện phương pháp tư duy, kỹ năng trong nhận thức

và có được niềm vui của sự khám phá

Ưu điểm của phương pháp vấn đáp:

Phương pháp vấn đáp đã khắc phục được điểm yếu của phương pháp thuyếttrình nhờ có sự tương tác giữa GV và HS thông qua việc truyền thụ và lĩnh hội.Việc cùng tham gia giải quyết các vấn đề giữa GV và HS đã khắc phục được lốitruyền thụ một chiều của phương pháp thuyết trình

Kích thích được tư duy năng động, sáng tạo của HS nhờ quá trình tự lực tìm

ra bản chất vấn đề dưới sự gợi ý, hướng dẫn của GV

GV dể dàng đánh giá được năng lực nhận thức và mức độ tiếp thu tri thứccủa HS Đó là thông tin quan trọng để GV điều chỉnh PPDH của mình

Rèn luyện cho HS một số thao tác tư duy lôgic như: phân tích, tổng hợp,khái quát, chứng minh, diễn giải

Nhược điểm:

Phương pháp này phụ thuộc nhiều vào năng lực và thái độ của HS Bên cạnh

đó, việc nảy sinh nhiều tình huống ngẫu nhiên trong quá trình đàm thoại dể gâychệch hướng so với chủ đề ban đầu Sử dụng phương pháp này sẽ mất nhiều thờigian xây dựng hệ thống câu hỏi, nhất là trong vấn đáp tìm tòi Quá trình sử dụng

Trang 27

phương pháp này có thể bị biến thành cuộc tranh luận tay đôi giữa GV và một sốHS.

1.1.2.6 Phương pháp nêu vấn đề

Dạy học nêu vấn đề xuất phát từ luận điểm cho rằng con người chỉ tích cực

tư duy khi ở vào hoàn cảnh có vấn đề nảy sinh, khi con người phát hiện ra mâuthuẫn của lý thuyết hay thực tế mà tư duy cũ không thể giải quyết được một cáchtốt nhất

Phương pháp nêu vấn đề là PPDH, trong đó GV giúp HS xem xét, phân tíchnhững tình huống có vấn đề và xác định những cách thức giải quyết tình huống đónhằm tiếp thu tri thức, rèn luyện kỹ năng và hình thành tư tưởng thái độ

Phương pháp nêu vấn đề không chỉ nhằm mục đích truyền thụ tri thức mớicho người học mà thông qua đó xây dựng phương pháp tư duy khoa học, hìnhthành và phát triển thói quen, năng lực nắm bắt những tri thức mới và vận dụngchúng vào thực tiễn

Các bước tiến hành dạy học nêu vấn đề:

Bước 1: Đặt vấn đề: GV đưa ra vấn đề cần giải quyết cho HS suy nghĩ GV

hướng dẫn HS nhận dạng và thảo luận HS tìm cách giải quyết vấn đề của GV đưara

Trong quá trình học, HS được tiếp cận và lĩnh hội tri thức của môn GDCDmang tính lý luận và khái quát cao, kiến thức trừu tượng khô khan và khó hiểu, vìthế ngoài việc GV đặt ra vấn đề cho HS suy nghĩ thảo luận thì HS cũng có nhữngnội dung chưa hiểu nên cũng đặt ra vấn đề cho GV và các bạn HS giải quyết

Bước 2: Giải quyết vấn đề: GV hướng dẫn HS tiếp cận vấn đề, xem xét cácchi tiết liên quan đến vấn đề, định hướng cho HS suy nghĩ để tìm ra cách giảiquyết Về phía HS, HS phải suy nghĩ độc lập, khoa học, phát huy tối đa những trithức có sẵn và năng lực sáng tạo để giúp quá trình giải quyết vấn đề nhanh chóng

và chính xác HS tự mình tìm tòi cách giải quyết sẽ cảm thấy thích thú và làm chobài học sinh động và hấp dẫn hơn

Trang 28

Bước 3: Kết luận vấn đề: GV tổ chức cho học sinh, cho các nhóm trình bàykết quả của vấn đề đã được làm rõ, liệt kê tất cả các giải pháp và đánh giá kết quảcác giải pháp, so sánh kết quả các giải pháp và lựa chọn giải pháp tốt nhất, chínhxác nhất đồng thời GV phải khen ngợi HS và đề xuất vấn đề mới.

Ưu điểm của phương pháp nêu vấn đề:

Học sinh nắm vững được tri thức mới và các phương pháp lĩnh hội khácnhau về tri thức đó Đồng thời, phát triển tư duy sáng tạo, bồi dưỡng lòng ham học

và khả năng tự học của HS

Rèn luyện năng lực thích ứng với cuộc sống hiện đại thông qua kỹ năng biếtđặt ra và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập và trong cuộcsống thực tế

GV kiểm tra, đánh giá năng lực của HS thông qua các hoạt động học tập nhưtiếp cận và xử lý tình huống, xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề, trình bày, lýgiải các bài toán nhận thức

Nhược điểm:

Để vận dụng tốt PPDH nêu vấn đề còn phụ thuộc rất nhiều vào trình độ,năng lực vận dụng phương pháp của GV cũng như trình độ nhận thức của HS Bêncạnh đó, khi sử dụng phương pháp này, GV sẽ cần nhiều thời gian trong quá trìnhchuẩn bị bài giảng và triển khai bài giảng trên lớp

1.1.3 Tính tất yếu khách quan của việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 12

1.1.3.1 Cơ sở triết học

Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, bản chất con người là tổng hòanhững mối quan hệ xã hội, bản chất ấy được hình thành và thể hiện ở những conngười hiện thực Là những con người cụ thể sống trong điều kiện cụ thể, nhữngmặt khác nhau tạo nên bản chất con người, ngoài ra tất cả các mối quan hệ xã hộiđều góp phần hình thành nên bản chất con người Trong các yếu tố hình thành nênbản chất con người, giáo dục có ý nghĩa vô cùng quan trọng Bởi vì sự nhận thứccủa con người là sự nhận thức có tính tích cực, năng động, sáng tạo trên cơ sở thực

Trang 29

tiễn Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làmcho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn Hoàn cảnh đó chính là toàn

bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng pháttriển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáodục Thông qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách tích cực và tác độngtrở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệứng xử, hành vi con người, sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy,các quy luật nhận thức hướng con người tới hoạt động vật chất

GDCD là một môn học có đặc điểm tri thức mang tính khái quát hóa, trừutượng hóa cao Chương trình GDCD tập trung khá nhiều nội dung liên quan đếncác phân môn khác, chứa đựng kiến thức của các môn khoa học khác nhau Vì vậytrong quá trình giảng dạy môn GDCD lớp 12, GV cần phải biết sử dụng các PPDHtích cực để đưa những nội dung vốn dĩ rất khái quát ấy vào thực tiễn cuộc sống,giúp HS dể dàng nắm bắt tri thức và vận dụng nó vào thực tế, đồng thời bảo đảmđược tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình giảng dạy và học tậpmôn GDCD Trên cơ sở từng bước tiếp cận và nắm vững hệ thống kiến thức cơbản của môn GDCD, HS sẽ dần dần có những hiểu biết cơ bản để hình thành chobản thân thế giới quan đúng đắn và phương pháp luận khoa học Từ xuất phát điểm

ấy, HS sẽ vận dụng nhằm nâng cao hiệu quả quá trình hoạt động nhận thức và hoạtđộng thực tiễn của bản thân

1.1.3.2 Cơ sở tâm lý – Giáo dục học

GDCD là một trong những môn học có vai trò quan trọng, góp phần đào tạocác thế hệ học sinh thành những người lao động xã hội chủ nghĩa vừa hồng vừachuyên, đáp ứng nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Đối với môn GDCD, “mục tiêu dạy người” luôn được xác định là quan trọngnhất Chính vì vậy, môn GDCD luôn ở vị trí hàng đầu trong việc định hướng, pháttriển nhân cách của học sinh Mỗi HS là một chủ thể của sự phát triển nhân cách,phát triển xã hội

Trang 30

Đất nước ta trong trong giai đoạn hội nhập và phát triển, tuy nhiên, sự ảnhhưởng từ mặt trái của nền kinh tế thị trường đến một bộ phận HS là không nhỏ Sự

du nhập ồ ạt các nền văn hóa từ nước ngoài mà thiếu sự chọn lọc, định hướng đãlàm ảnh hưởng xấu đến đạo đức học đường Tình trạng suy thoái đạo đức của một

bộ phận học sinh, sinh viên đã đặt ra cho xã hội và ngành giáo dục nhiệm vụ làphải nhanh chóng có những biện pháp, giải pháp kịp thời để điều chỉnh những suynghĩ, nhận thức lệch lạc của HS theo đúng chuẩn mực đạo đức xã hội chủ nghĩa

Và ở đây, vai trò của ngành giáo dục được đặt lên hàng đầu Giáo dục đạo đức lànhiệm vụ của tất cả các môn học ở bậc THPT nhưng nhiệm vụ của môn GDCDđược đặt lên trên hết Tuy nhiên, thực trạng dạy và học môn GDCD hiện nay vẫnchưa đáp ứng được yêu cầu đó Quá trình dạy và học môn GDCD ở các trườngTHPT cần phải được đổi mới trên nhiều phương diện để thực hiện tốt nhiệm vụcủa môn học, để hướng HS đi đúng quỹ đạo của nền đạo đức xã hội chủ nghĩa

Kết quả nghiên cứu tâm – sinh lí của HS và điều tra xã hội học gần đây trênthế giới cũng như ở nước ta cho thấy HS phổ thông có những thay đổi trong sựphát triển tâm – sinh lí, đó là sự thay đổi có gia tốc Trong điều kiện phát triển củacác phương tiện truyền thông, trong bối cảnh hội nhập, mở rộng giao lưu, HS đượctiếp nhận nhiều nguồn thông tin đa dạng, phong phú từ nhiều mặt của cuộc sống,hiểu biết nhiều hơn, linh hoạt và thực tế hơn so với các thế hệ cùng lứa tuổi trướcđây Học sinh lớp 12 (độ tuổi 17,18) có đặc điểm tâm lý là ham hiểu biết, có trình

độ tư duy phát triển, đã hình thành và phát triển các kỹ năng học tập, thói quen tựhọc Trong học tập, HS không thỏa mãn với vai trò của người tiếp thu thụ động,không chỉ chấp nhận các giải pháp đã có sẵn được đưa ra Như vậy, ở lứa tuổi này,

HS nảy sinh một yêu cầu và cũng là một quá trình: sự lĩnh hội độc lập các tri thức

và phát triển kỹ năng Đó là yêu cầu đặt ra cho ngành Giáo dục nói chung và chomôn GDCD nói riêng Người GV trong quá trình dạy học phải làm thế nào để cóthể khơi dậy những điểm mạnh vốn có của HS lớp 12, đó là sự ham học hỏi, muốnkhám phá bản thân và thế giới, tính độc lập, chủ động và sáng tạo

Trang 31

Để hình thành và phát triển phương thức học tập tự lập, tự giác, phát huytính tích cực của HS, GV phải sử dụng đồng thời nhiều PPDH tích cực một cáchlinh hoạt nhằm phát huy tích tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập,phù hợp với hoàn cảnh dạy và học ở nước ta hiện nay Bởi chỉ có hướng đổi mớinày mới phát huy những điểm mạnh và hạn chế những điểm yếu về đặc điểm tâm

lí của HS lớp 12, đem lại hiệu quả dạy học cao nhất

1.1.34.3 Định hướng đổi mới nội dung và phương pháp dạy học

Cùng với các môn học khác trong chương trình giáo dục phổ thông, mônGDCD đang được tiến hành đổi mới Nội dung, mục tiêu, nhiệm vụ của môn họcđang có những điều chỉnh, thay đổi nhằm bắt kịp với sự phát triển của thời đại.Đáp ứng yêu cầu mới của xã hội, quá trình dạy và học môn GDCD hiện nay khôngchỉ dừng lại ở việc truyền thụ và tiếp thu tri thức ở mặt lý thuyết, mà còn đi sâuphân tích những giá trị thực tiễn của môn học

Định hướng đổi mới PPDH đã được đặt ra từ cuộc cải cách giáo dục lần thứ

tư của thế kỷ trước (1980), nhưng cho đến nay, việc sử dụng các PPDH tích cựcvẫn chưa có sự thay đổi, chuyển biến nhiều, phổ biến vẫn là những PPDH truyềnthống với cách dạy thầy đọc, trò chép, thầy giảng, trò nghe Và chính cách dạy đó

đã tạo ra một bộ phận không nhỏ học sinh thụ động, kém năng động, sáng tạo, cótính ỷ lại, thiếu kỹ năng giải quyết những vấn đề thực tiễn

Chính vì lẽ đó, có thể nói, đổi mới PPDH là xu hướng chung của giáo dụchiện nay Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trongNghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1 - 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII(12 - 1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trongcác chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 - 1999) LuậtGiáo dục, điều 28, khoản 2, 2005 chỉ rõ: "Phương pháp giáo dục phổ thông phảiphát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặcđiểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làmviệc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đếntình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh" [8, 17]

Trang 32

Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủđộng, chống lại thói quen học tập thụ động, phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng, sáng tạo của người học, khắc phục tình trạng dạy học “thầy thuyết trình, tròthụ động nghe, ghi chép”, rèn luyện cho HS kỹ năng vận dụng kiến thức để giảigiải quyết những tình huống trong học tập và thực tiễn cuộc sống đặt ra, nhằm đápứng yêu cầu của cuộc sống, giúp người học có thể tự tin, nhạy bén trước nhữngthay đổi của cuộc sống, giúp ích cho chính bản thân HS và cho sự phát triển của xãhội.

1.1.3.4 Nội dung chương trình môn giáo dục công dân lớp 12

Cùng với các môn khoa học cơ bản trong chương trình giáo dục phổ thông ởnước ta hiện nay, môn GDCD có vai trò quan trọng trong việc đào tạo, phát triểnnguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước

Toàn bộ chương trình GDCD lớp 12 được trình bày với tên gọi “Công dânvới pháp luật” Đây là sự phát triển tiếp nối phần pháp luật ở môn GDCD cấp trunghọc cơ sở, cung cấp những hiểu biết cơ bản về bản chất, vai trò, vị trí của pháp luậtnhằm giúp HS có thể chủ động, tự giác điều chỉnh hành vi của mình và đánh giáđược hành vi của người khác theo quyền hạn và nghĩa vụ của công dân trong giaiđoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Nội dung chương trình GDCD lớp 12 được cấu trúc thành 9 bài với thờilượng được phân phối như sau:

Bài 1: Pháp luật và đời sống (3 tiết)

Bài 2: Thực hiện pháp luật (3 tiết)

Bài 3: Công dân bình đẳng trước pháp luật (1 tiết)

Bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xãhội (3 tiết)

Bài 5: Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo (2 tiết)

Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản (4 tiết)

Bài 7: Công dân với các quyền dân chủ (3 tiết)

Trang 33

Bài 8: Pháp luật với sự phát triển của công dân (2 tiết)

Bài 9: Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước (4 tiết)

Nhiệm vụ của môn GDCD lớp 12 đó là phải giúp cho HS hiểu được bản chấtgiai cấp, xã hội của pháp luật; mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật với kinh tế,chính trị, đạo đức Giúp HS nhận biết được vai trò và giá trị cơ bản của pháp luậtđối với sự tồn tại và phát triển của mỗi công dân, Nhà nước và xã hội Từng bướchiểu được một số nội dung cơ bản của pháp luật liên quan đến việc thực hiện vàbảo vệ quyền bình đẳng, tự do, dân chủ và phát triển của công dân

Về mục tiêu, chương trình GDCD lớp 12 nhằm giúp HS:

- Về kiến thức: Hiểu được bản chất và vai trò của pháp luật đối với sự pháttriển của công dân, đất nước, nhân loại Hiểu quyền và nghĩa vụ của công dântrong các lĩnh vực của đời sống xã hội Thông qua đó, biết được trách nhiệm củacông dân trong việc thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng; pháp luật, chínhsách của nhà nước; hiểu trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm tham gia phát triển kinh

tế của công dân

- Về kĩ năng: Vận dụng được kiến thức đã học để phân tích, đánh giá cáchiện tượng, các sự kiện, các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống phù hợp với lứa tuổi.Đồng thời, biết lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với các giá trị xãhội Qua đó, biết bảo vệ cái đúng, cái tốt, cái đẹp và đấu tranh phê phán đối với cáchành vi, hiện tượng tiêu cực trong cuộc sống phù hợp với khả năng của bản thân

- Về thái độ: Tin tưởng vào đường lối chủ trương của Đảng, tôn trọng phápluật, chính sách của Nhà nước và các quy định chung của cộng đồng, của tập thể

Có hoài bão và mục đích sống cao đẹp, trân trọng, tin tưởng ở lẽ phải và sự côngbằng; có ý thức trách nhiệm trong việc xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân

Tự giác sống, học tập theo pháp luật, chủ động góp phần phòng chống các biểuhiện vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội

Nội dung kiến thức lớp 12 là những khái niệm, bản chất của pháp luật, giúp

HS nhận biết được vai trò của pháp luật đối với sự tồn tại và phát triển của mỗicông dân, Nhà nước và xã hội Đây là phần kiến thức mà nội dung của nó gắn chặt

Trang 34

với các sự kiện và chất liệu của cuốc sống hiện thực Mục đích của dạy học bộmôn là nhằm tạo ra sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, lời nói và hành vi.Chính vì vậy, việc sử dụng các PPDH tích cực chính là những thực hành bước đầu

để gắn lý thuyết về những chuẩn mực con người cần đạt tới với đời sống sinh độngđược kiểm chứng và khẳng định Có như thế, nội dung bài học không còn là nhữngtri thức khô khan, xa lạ với học sinh mà là những kiến thức thiết thực, những tìnhhuống và bài học sống động, gắn bó với các em trong cuộc sống hằng ngày

1.1.3.5 Vai trò của việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong việc nâng cao tính tích cực của học sinh trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 12

Học tập là quá trình nhận thức tích cực, ở đó tính tích cực không chỉ tồn tạinhư một trạng thái cụ thể mà còn là kết quả của quá trình tư duy, là mục đích cầnhướng tới của quá trình dạy học, nó có tác dụng nâng cao không ngừng hiệu quảhọc tập của HS

Tính tích cực học tập của HS thể hiện ở chỗ HS vui vẻ, tích cực thực hiệnyêu cầu của GV; lắng nghe và theo dõi mọi hành động của GV, thực hiện đầy đủ,nhanh chóng, chính xác những yêu cầu của GV; kiên trì, nhẫn nại vượt qua khókhăn khi giải quyết các nhiệm vụ nhận thức; khẩn trương khi thực hiện các hànhđộng tư duy; biết tái hiện kiến thức khi cần và vận dụng được khi gặp tình huốngmới

Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực học tập của HS là các phươngpháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo củangười học, hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức củangười học, đồng thời hướng tới việc tổ chức cho HS học tập thông qua các hoạtđộng, tạo mọi điều kiện để người học tham gia các hoạt động học tập một cách tựgiác, tích cực, chủ động

Sử dụng PPDH tích cực trong dạy học môn GDCD lớp 12 có tác dụng nângcao tính tích cực trong nhận thức của HS, giúp HS phát huy được tính năng động,

Trang 35

sáng tạo, kích thích năng lực tư duy, tìm tòi, khám phá tri thức và phát huy vai tròchủ động, tích cực học tập của HS.

Khi vận dụng các PPDH tích cực, GV đóng vai trò là người hướng dẫn, tổchức, rèn luyện cho HS phương pháp tự học, phát huy sự tìm tòi độc lập của ngườihọc, giúp HS thực hiện các hoạt động học tập để từng bước nắm vững nội dungcủa chương trình và các mục tiêu mà bài học đặt ra

Phương pháp dạy học tích cực được sử dụng một cách linh hoạt sẽ mang lạihiệu quả cao trong giảng dạy môn GDCD, đặc biệt là phần “Công dân với phápluật” Nội dung kiến thức pháp luật vốn khô khan, nếu giáo viên biết khéo léo sửdụng các PPDH tích cực sẽ giúp HS phát huy được tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩnăng ứng xử, gây hứng thú và sự chú ý trong giờ học, khích lệ sự thay đổi thái độ,hành vi của HS theo chuẩn mực đạo đức xã hội Hơn nữa, xét về tâm lý lứa tuổi,

HS lớp 12 đang trong độ tuổi 17, 18, có nhận thức về xã hội, biết quan sát và nhậnxét những tình huống xảy ra xung quanh mình, vì thế, các em có thể phối hợp rấttốt với GV trong quá trình sử dụng các PPDH tích cực

Bên cạnh đó, sử dụng PPDH tích cực trong dạy học sẽ giúp HS tiếp thuđược những kiến thức pháp luật một cách tự nhiên, gần gũi, giúp HS rèn luyện đạođức, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật, hình thành kỹ năng vận dụng kiếnthức pháp luật vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễncuộc sống

Dạy học môn GDCD phải xem việc truyền thụ tri thức phù hợp với đặc điểmtâm sinh lý HS, đó là nguyên tắc cơ bản để đổi mới việc dạy học Chỉ thông quađổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh thì mới có thể hìnhthành nên ở các em thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những phẩm chấtđạo đức cũng như kỹ năng và thái độ cần thiết cho HS, gắn hoạt động dạy học vớihoạt động xã hội, hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động thực tiễn khác

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Nam Hà, Thành phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai

Trang 36

1.2.1 Khái quát về trường THPT Nam Hà

Trường THPT Nam Hà thành lập năm 1970 trên vùng đất mang tên Cù LaoPhố thuộc địa bàn xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Cù Lao Phố

là một cù lao nhỏ nằm trên con sông Đồng Nai hiền hòa, nơi chứa đựng những ditích lịch sử như đền Nguyễn Hữu Cảnh, chùa Đại Giác Cổ Tự Kinh phí xây dựngtrường do nhân dân địa phương tự đóng góp Đầu tiên trường có tên gọi là trườngTrung học Tỉnh hạt Hiệp Hòa – Biên Hòa Năm học đầu tiên, trường có 6 lớp họcvới 4 phòng học Đến năm học 1975 – 1976, trường đổi tên thành trường cấp 2-3Hiệp Hòa Năm học 1976-1977, do tỉnh Đồng Nai kết nghĩa với tỉnh Hà Nam Ninhnên trường được đổi tên thành trường THPT Nam Hà theo quyết định số3614/QĐ.CT-UB của chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai Năm 2001, trườngđược Tỉnh đầu tư xây dựng mới hoàn toàn

Quá trình hình thành và phát triển của trường trong 40 năm qua với chặngđường đầy thử thách, khó khăn nhưng cũng có rất nhiều thuận lợi, đặc biệt là trongcông cuộc đổi mới của đất nước, được sự quan tâm của Tỉnh Đồng Nai và Sở Giáodục – Đào tạo Đồng Nai, cộng với sự nỗ lực của tập thể sư phạm nhà trường,trường THPT Nam Hà đã có những bước tiến mạnh mẽ Trường duy trì được sự ổnđịnh về chất lượng giáo dục Hàng năm, tỉ lệ HS đậu tốt nghiệp và trúng tuyển vàocác trường đại học thuộc diện cao so với các trường trong tỉnh

Tập thể GV đa số là trẻ và nhiệt tình năng động, có tinh thần tự học, tự bồidưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, số GV có trình độ đạt chuẩn là 100% vàtrên chuẩn là 4 GV, có 7 GV đang tham gia chương trình đào tạo thạc sỹ, tập thể GVluôn tích cực đổi mới, cải tiến PPDH, ứng dụng có hiệu quả CNTT vào quản lý vàgiảng dạy Đội ngũ GV, công nhân viên luôn đoàn kết, có tinh thần trách nhiệm caotrong công việc, luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ đúng thời gian, kỳ hạn Hội cha mẹ

HS cũng luôn quan tâm, sát cánh cùng Ban giám hiệu nhà trường để kịp thời giúp

đỡ và tạo điều kiện về vật chất lẫn tinh thần cho các em HS để giúp các em học tốt

HS đầu vào theo hình thức xét tuyển nên cũng đạt được trình độ nhất định Nội quycủa nhà trường được thực hiện rất nghiêm túc nên đa số HS rất ngoan và lễ phép

Trang 37

Với những nỗ lực phấn đấu của Ban giám hiệu, của tập thể cán bộ giáo viên,học sinh và hội cha mẹ học sinh, trong thời gian qua trường đã được tặng thưởngnhiều danh hiệu: bằng khen của UBND Tỉnh Đồng Nai, Trung ương Hội Khuyếnhọc Việt Nam, Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai, Tỉnh Đoàn Đồng Nai, Thành ủyBiên Hòa, Hội Chữ Thập đỏ Tỉnh, Công đoàn ngành, Trên cơ sở những thành tựuđạt được, Trường đang phấn đấu để trở thành trường đạt chuẩn quốc gia vào năm2012-2013 với quy mô 32 lớp và 1300 học sinh nhằm đáp ứng nhu cầu học tập củacác em học sinh trong thành phố Biên Hòa và các khu vực lân cận

Bên cạnh những thuận lợi và kết quả đạt được, trường vẫn còn có những khókhăn, hạn chế nhất định Năm học 2011- 2012, trường có số lượng là 1293 HS.Tuy đầu vào có xét tuyển nhưng chất lượng HS chưa cao, trình độ HS không đồngđều, cơ sở vật chất còn yếu kém, phòng học còn thiếu nên HS phải học hai ca.Điều này làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của GV, đến chất lượng giảng dạy của Thầy

và Trò

Giáo viên nữ của trường khá đông, tuổi đời đang còn trẻ nên số GV nghỉ hộsản nhiều Bên cạnh đó, một số GV đi học thạc sỹ nên cũng rất khó khăn cho nhàtrường trong quá trình phân công chuyên môn giảng dạy

Trang thiết bị và đồ dùng dạy học của nhà trường đã tuy đã được đầu tưnhiều hơn trước nhưng vẫn chưa đủ Đồ dùng dạy học cho một số môn học chưađáp ứng được yêu cầu Bên cạnh đó một số GV khai thác và sử dụng đồ dùng dạyhọc chưa hợp lý nên hiệu quả chưa cao Hiện tại, trường mới chỉ có một số phònghọc có trang bị máy chiếu để phục vụ giảng dạy nên GV mỗi khi dạy bài giảng cósử dụng công nghệ thông tin thì phải chuyển đổi phòng học, gây tình trạng ồn ào,lộn xộn và mất thời gian Trình độ ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạycủa GV chưa cao, chưa được tiến hành thường xuyên nên cũng ảnh hưởng đến việcnâng cao chất lượng dạy, học của trường Vì vậy, trong thời gian tới, để đổi mớiPPDH, nâng cao chất lượng đào tạo đòi hỏi cần phải có sự cố gắng của GV và cảHS

HS của trường đa số là con em của người lao động có hoàn cảnh khó khăn

Trang 38

Bên cạnh đó, trường nằm trên địa bàn là cù lao, phải đi qua cầu sắt (cầu dùngchung cho xe lửa và xe máy, xe đạp) để đến trường nên sẽ khó khăn cho các emtrong quá trình đi lại vì thường xuyên bị kẹt xe trên cầu, vì thế khó tập trung trongnhững đợt tiến hành hoạt động giáo dục.

Về tình hình chất lượng đội ngũ GV của trường: trong năm học 2011- 2012,đội ngũ cán bộ, GV, công nhân viên nhà trường là 77, trong đó: BGH: 3, giáo viên:

64, công nhân viên: 10 Số GV đạt chuẩn là 60 người, trên chuẩn là 4 người Giáoviên của trường đa số là trẻ, nhiệt tình, năng động, có tinh thần cầu tiến, ham họchỏi Hiện tại trường có 7 GV đang theo học chương trình đào tạo sau Đại học Bộmôn GDCD có 4 GV, trong đó có 1 GV làm công tác quản lý, 1GV đạt danh hiệu

GV giỏi Tỉnh, 1 GV Giỏi Trường, 1 GV đang theo học thạc sỹ Nhìn chung độingũ GV GDCD của trường đều được tạo tạo chính quy, có chuyên môn, nghiệp vụtốt, nhiệt tình trong công tác, luôn quan tâm đến HS, có ý thức giáo dục HS trởthành công dân tốt, có ích cho xã hội Hàng năm GV được tham gia học chuyên đềthay sách, bồi dưỡng chính trị, tập huấn bồi dưỡng các PPDH tích cực, chuyên đềtích hợp các kiến thức môi trường, giao thông, giáo dục giới tính, bồi dưỡng cácphần mềm soạn giảng giáo án điện tử do nhà trường và Sở Giáo dục và Đào tạo tổchức Tất cả những yếu tố đó tạo điều kiện cho GV nâng cao chuyên môn, nghiệp

vụ và điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện đổi mới PPDH và sử dụng cácphương tiện thiết bị dạy học hiện đại

Cơ sở vật chất, trang thiết bị của trường: trường có 24 phòng học, 03 phòngmáy vi tính, 01 hội trường, 02 phòng thí nghiệm, 01 thư viện, 01 phòng y tế, 01phòng giáo viên, 01 phòng Đoàn thanh niên, 01 phòng truyền thống, 01 phòng đồdùng dạy học của tổ Sử - Địa - Công dân

Về tình hình chất lượng học sinh: Trường có 3 khối lớp (10,11,12) với tổng

số lớp là 30, tổng số học sinh là 1293 HS Trong những năm vừa qua tình chấtlượng học sinh của trường đã có nhiều tiến bộ cả về mặt học lực và mặt hạnh kiểm,cũng như ý thức và thái độ Kết quả tổng kết năm học 2011-2012 của 1293 HStrường THPT Nam Hà về học lực và hạnh kiểm:

Trang 39

Bảng 1.1: Kết quả đánh giá học lực của HS trường THPT Nam Hà năm học2011-2012

Học lực Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém Không tổng kết

(Nguồn: Báo kết tổng kết năm học 2011-2012 của trường THPT Nam Hà) Bảng 1.2: Kết quả đánh giá hạnh kiểm của HS trường THPT Nam Hà nămhọc 2011-2012

(Nguồn: Báo kết tổng kết năm học 2011-2012 của trường THPT Nam Hà)

1.2.2 Thực trạng của việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn giáo dục công dân ở trường THPT Nam Hà

Trong mục tiêu giáo dục chung nhằm đào tạo những công dân phát triểntoàn diện, trường THPT Nam Hà luôn chú trọng giáo dục học sinh không chỉ giỏi

về tri thức mà còn phải nâng cao trình độ nhận thức, luôn biết gắn trách nhiệm củacông dân với vận mệnh của đất nước

Đa số giáo viên giảng dạy ở trường đều luôn có ý thức đổi mới phương phápdạy học, biết sử dụng các phương pháp dạy học tích cực bên cạnh các PPDHtruyền thống, đã biết cách phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của họcsinh, trong đó, GV đóng vai trò là người hướng dẫn, còn HS là chủ thể chiếm lĩnhtri thức một cách sáng tạo

Trong quá trình dạy học, GV đã biết vận dụng các PPDH tích cực phù hợpvới tiết học, bài học và đối tượng HS, đồng thời, tiến hành đổi mới kiểm tra, đánhgiá HS nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD ở trường, từng bước khẳngđịnh vị trí của bộ môn GDCD trong nhà trường, tạo niềm tin, sự say mê, yêu thíchhọc tập bộ môn cho HS, hướng tới các mục tiêu giáo dục bộ môn

Bên cạnh những thuận lợi thì quá trình vận dụng các PPDH tích cực tronggiảng dạy môn GDCD ở trường THPT Nam Hà còn gặp phải những khó khăn nhấtđịnh:

Trang 40

Trường THPT Nam Hà hiện có 4 giáo viên giảng dạy môn GDCD, trong đó

có một giáo viên làm công tác quản lý (Hiệu trưởng, chỉ dạy 2 lớp), vì vậy, nhìnchung số lượng giáo viên phụ trách môn GDCD còn mỏng, thiếu

Trong quá trình giảng dạy, ở một số bài học, tiết học mặc dù không nhiềusong vẫn còn tồn tại tình trạng GV chưa nhận thức đầy đủ về PPDH mới, chưahiểu thấu đáo bản chất của các PPDH tích cực nên khi vận dụng vào bài giảng, GVkhông tránh khỏi sự lúng túng, khó triển khai, khả năng kết hợp PPDH với nhauchưa nhuần nhuyễn cũng như kỹ năng tổ chức dạy học

Ngoài ra, công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng đối với GV giảng dạy mônGDCD chưa được quan tâm đúng mức, vì môn GDCD không thi tốt nghiệp, khôngảnh hưởng đến chỉ tiêu tốt nghiệp của trường, nên ít được quan tâm Từ chỗ khôngđược quan tâm, lại bị coi là GV dạy môn phụ nên GV tỏ ra mặc cảm, không thiếttha đầu tư cho việc dạy học Vì vậy vẫn còn một số GV sử dụng các PPDH truyềnthống theo thói quen Mặt khác, một số GV không biết sử dụng kết hợp các PPDHtruyền thống với các PPDH mới

Trong quá trình dạy học, GV cũng gặp không ít khó khăn như thiếu phươngtiện, thiết bị dạy học, phòng học đặc trưng của bộ môn, sự không đồng đều về chấtlượng của HS Những khó khăn đó cũng làm cản trở hay hạn chế hiệu quả của bàigiảng khi GV thực hiện các PPDH tích cực

Kết quả thăm dò ý kiến của 4 GV trong việc vận dụng các PPDH tích cựcvào dạy học môn GDCD ở trường THPT Nam Hà năm học 2011-2012 đã cho thấyviệc sử dụng PPDH tích cực vào dạy học môn GDCD đang là một thách thứckhông dể gì khắc phục, vượt qua trong thời gian ngắn (xem bảng 1.3)

Bảng 1.3: Ý kiến của giáo viên bộ môn GDCD về việc sử dụng PPDH tíchcực trong dạy học

Ngày đăng: 20/12/2013, 18:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3: Ý kiến của giáo viên bộ môn GDCD về việc sử dụng PPDH tích cực trong dạy học - Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn giáo dục công dân lớp 12 (qua khảo sát ở trường THPT nam hà, TP biên hòa, tỉnh đồng nai) luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 1.3 Ý kiến của giáo viên bộ môn GDCD về việc sử dụng PPDH tích cực trong dạy học (Trang 40)
Bảng 2.1 Kết quả bài kiểm tra số 1 - Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn giáo dục công dân lớp 12 (qua khảo sát ở trường THPT nam hà, TP biên hòa, tỉnh đồng nai) luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.1 Kết quả bài kiểm tra số 1 (Trang 61)
Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả điểm kiểm tra 15 phút lần 1 và lần 2 của các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng tại trường THPT Nam Hà - Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn giáo dục công dân lớp 12 (qua khảo sát ở trường THPT nam hà, TP biên hòa, tỉnh đồng nai) luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả điểm kiểm tra 15 phút lần 1 và lần 2 của các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng tại trường THPT Nam Hà (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w