Bệnh nấm xảy ra ở nhiều loài cá nước ngọt và trứng cá, bệnh có thể gặp ở khắp mọi nơi trên thế giới và trứng của chúng, Saprolegnia sp là một trong những tác nhân gây bệnh nấm cá nghiêm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
VINH - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-*** -THỬ NGHIỆM KHẢ NĂNG KHÁNG
NẤM Saprolegnia KÝ SINH TRÊN CÁ CHÉP (Cyprinus carpio) CỦA MỘT SỐ HÓA CHẤT
TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
VINH - 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp vừa qua, tôi đã nhận được sự quan tâm,giúp đỡ của rất nhiều cá nhân và tập thể, qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắctới tất cả sự quan tâm và giúp đỡ đó
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến cô giáo Th.s Nguyễn ThịThanh người đã quan tâm chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian thực hiệnluận văn tốt nghiệp
Trong quá trình thực hiện luận văn tôi luôn nhận được sự quan tâm chỉ bảo tậntình của Ts Phan Thị Vân, Kỹ sư Nguyễn Thị Nguyện, Th.s Võ Anh Tú Tôi xinđược gửi lời cảm ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ đó
Tôi xin cảm ơn Trường Đại Học Vinh cùng toàn thể các thầy cô giáo khoaNông Lâm Ngư Trường Đại Học Vinh đã tham gia giảng dạy giúp đỡ tôi trong quátrình học tập của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo cùng toàn thể các cô, các anh, chị thuộcTrung tâm nghiên cứu quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thủysản khu vực miền Bắc - Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I, đã tạo cơ sở vật chất
và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nội dung đề tài tốt nghiệp.Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các bạn của tôi, những người đã động viên vàgiúp đỡ tôi trong suốt thời gian học xa nhà Lòng biết ơn sâu sắc nhất con xin gửitới bố mẹ cùng anh chị em trong gia đình, những người đã chăm sóc chu đáo, nuôidạy và dành cho con những tình cảm tốt đẹp trong cuộc sống
Vinh, tháng 07 năm 2011
Sinh viênTrần Thị Hiền
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm sinh học của nấm Saprolegnia sp gây bệnh trên cá nước ngọt 3
1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh nấm ở cá nước ngọt trên thế giới và ở Việt Nam 4
1.2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh nấm ở cá nước ngọt trên thế giới 4
1.2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh nấm ở cá nước ngọt tại Việt Nam 7
1.3 Tình hình nghiên cứu hoá chất để phòng trị bệnh do nấm trên cá nước ngọt 9
1.4 Một số đặc điểm của hóa chất thử nghiệm 10
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 13
2.2 Dụng cụ, môi trường nuôi cấy 13
2.3 Nội dung nghiên cứu 13
2.4 Phương pháp nghiên cứu 14
2.4.1 Phương pháp phân loại nấm 14
2.4.2 Phương pháp thử nghiệm khả năng ức chế, tiêu diệt nấm Saprolegnia sp bằng một số hóa chất trong phòng thí nghiệm 16
2.4.3 Phương pháp thử nghiệm khả năng chịu đựng của cá Chép với nồng độ hóa chất lựa chọn 18
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 18
2.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 18
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19
3.1 Kết quả phân lập và định danh nấm 19
3.2 Kết quả thử nghiệm hóa chất để ức chế, tiêu diệt nấm Saprolegnia sp trong phòng thí nghiệm 26
3.2.1 Kết quả sàng lọc nồng độ các loại hóa chất thí nghiệm 26
3.2.2 Kết quả thử nghiệm khả năng diệt nấm của hóa chất 29
Trang 53.3 Kết quả thử nghiệm khả năng chịu đựng của cá với nồng độ hóa chất có khảnăng diệt nấm 39
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40 TÀI LIỆU THAM KHẢ0 41
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
g
Bảng 3.1 Đường kính khuẩn lạc nấm sau thời gian nuôi cấy ở các mức nhiệt độ 20
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 9MỞ ĐẦU
Nuôi trồng thủy sản ngày càng có vị trí quan trọng trong ngành kinh tế củanước ta, theo hiệp hội xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) trong năm 2010,ngành thủy sản Việt Nam đã thiết lập kỷ lục mới với kim ngạch xuất khẩu trên 5 tỷUSD Cả nước đã xuất khẩu trên 1,35 triệu tấn thủy sản, trị giá trên 5,03 tỷ USD,tăng 11,3% về khối lượng và 18,4% về giá trị so với năm 2009, đây là một trong bangành có đóng góp lớn nhất cho kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam [26]
Trong những năm gần đây ngành thủy sản đã chủ động hơn trong việc tạo racon giống, xây dựng được quy trình sản xuất các loại cá theo ý muốn và đáp ứng đủnhu cầu con giống phục vụ cho nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên sự phát triển củacông nghệ sản xuất giống còn thiếu quy hoạch đồng bộ, kỹ năng về quản lý môitrường và dịch bệnh chưa đạt yêu cầu, trong những năm gần đây bệnh trên cá nướcngọt và trứng của chúng đã xuất hiện nhiều vùng trong cả nước gây nhiều tổn thấtcho phong trào nuôi cá nước ngọt
Nấm là một trong những tác nhân bệnh gây ảnh hưởng lớn về kinh tế trongcác trại sản xuất cá giống Bệnh nấm xảy ra ở nhiều loài cá nước ngọt và trứng cá,
bệnh có thể gặp ở khắp mọi nơi trên thế giới và trứng của chúng, Saprolegnia sp là
một trong những tác nhân gây bệnh nấm cá nghiêm trọng, gây ra tổn thất hàng triệu
đô la cho các trại sản xuất cá giống trên thế giới [23] Trong các loài cá nuôi phổbiến ở Việt Nam như cá Chép, cá Mè, cá trắm Cỏ, cá Trôi… đều có thể bị nhiễm
nấm, Saprolegnia sp kí sinh gây chết trứng các loài cá nước ngọt, đặc biệt là trứng
cá Chép (Cyprinus carpio) chịu ảnh hưởng rất lớn của loại bệnh này Trong thực tế
nếu không có biện pháp thích hợp để phòng trị bệnh thì hiệu quả của các đợt sinh
sản nhân tạo cá Chép thường rất thấp do tác hại của Saprolegnia sp gây ra [3].
Trước đây, Xanh malachite là loại hóa chất đặc hiệu có tác dụng trong việc
phòng trị bệnh do Saprolegina sp gây ra Tuy nhiên, từ năm 2002 Xanh malachite bị
cấm sử dụng trong nuôi trồng thủy sản vì Xanh malachite được biết là loại hóa chất
có ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe con người, có thể gây đột biến gen và
Trang 10gây ung thư Ngoài xanh Malachite thì formalin cũng có tác dụng tốt trong việc xử lýnấm nhưng gần đây chất này cũng bị hạn chế sử dụng trong nuôi trồng thủy sản dochúng cũng là hóa chất làm ảnh hưởng đến sức khỏe động vật thủy sinh [16] Chính
vì vậy khi cá nhiễm nấm sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc trị bệnh
Trước tình hình đó việc nghiên cứu, tìm hiểu một số loại hóa chất có khảnăng diệt nấm trong nuôi trồng thủy sản an toàn hơn với động vật nuôi và conngười ngày càng trở nên cấp thiết hơn nhằm mục đích phát triển nuôi trồng thủysản bền vững
Xuất phát từ những lý do trên tôi thực hiện đề tài: “Thử nghiệm khả năng
kháng nấm Saprolegnia ký sinh trên cá Chép (Cyprinus carpio) của một số hóa
chất trong phòng thí nghiệm”.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được hóa chất với nồng độ phù hợp có khả năng diệt nấm Saprolegnia
ký sinh gây bệnh trên cá chép
Trang 11CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm sinh học của nấm Saprolegnia sp gây bệnh trên cá nước ngọt
Hình thái cấu tạo
Saprolegnia là nấm dạng sợi thuộc nhóm nấm bậc thấp, cấu tạo sợi nấm đa
bào nhưng không có các vách ngăn, có phân nhánh và chia làm 2 phần, một phầngốc bám chắc vào cơ thể cá, phần ngọn tự do ngoài môi trường nước Nấm có khảnăng sinh sản bằng nhiều hình thức khác nhau: Sinh sản dinh dưỡng bào tử, sinhsản vô tính bằng túi bào tử, sinh sản hữu tính bằng tiếp hợp Bào tử nấm có tiênmao, có thể vận động trong nước nên khả năng lây lan bệnh rất cao [9]
[29]
Trang 12+) Sinh sản sinh dưỡng
Bằng cách phát triển ở đầu mút của khuẩn ty hình thành các bào tử màng dày,các hạch nấm các tế bào này đứt ra khỏi cơ thể mẹ và phát triển thành sợi nấm mới [9].+ )Sinh sản vô tính
Trong quá trình sinh sản vô tính bắt đầu từ túi bào tử hình thành các bào tửđộng riêng biệt được giải phóng ra ngoài bơi vận động tự do trong môi trường sau
đó chuyển qua giai đoạn đứng yên để chuyến sang dạng bào tử hình quả thận vậnđộng sau một thời gian bào tử nảy mầm phát triển thành sợi nấm, khi chất dinhdưỡng đầy đủ đỉnh đầu sợi nấm phồng lớn các nguyên sinh chất bắt đầu tập trung ởphần đỉnh và xuất hiện vách ngăn, ngăn cách giữa nơi tập trung nguyên sinh chất vàphần ngoài sợi nấm để hình thành túi bào tử, hoàn thành quá trình sinh sản [9].+ )Sinh sản hữu tính
Trong sinh sản hữu tính giao tử đực và giao tử cái có thể cùng xuất hiện trênmột sợi nấm hay hai sợi nấm khác nhau tùy thuộc vào từng loài Giao tử đực hình trụ
có một số nhánh gọi là vòi thụ tinh có nhiều nhân và cũng được tách khỏi sợi nấm bằngvách ngăn Khi các giao tử đực bám vào túi noãn thì vách ở chỗ tiếp xúc tan đi, nhân vànội chất của túi tinh đổ sang túi noãn Nhân của noãn cầu kết hợp với một nhân của túitinh tạo thành hợp tử Hợp tử sau một thời gian nghỉ thì phát triển thành thể sinh độngbào tử Trong thể sinh động bào tử nhân phân chia giảm nhiễm và hình thành nên cácđộng bào tử, các động bào tử phóng thích ra phát triển thành sợi nấm [9]
1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh nấm ở cá nước ngọt trên thế giới và ở Việt Nam 1.2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh nấm ở cá nước ngọt trên thế giới
Trong các tác nhân gây bệnh cho động vật thủy sản thì nấm được coi lànguyên nhân đứng thứ 2 chỉ sau vi khuẩn, gây ra những tổn thất kinh tế trong nuôitrồng thủy sản, có thể gây ra những hậu quả nặng nề, trứng và cá bột bị nhiễm nấm
sẽ làm giảm đáng kể tỷ lệ trứng nở và cá giống Nhiều công trình nghiên cứu đã
khẳng định nấm Saprolegnia sp là một trong những loài nấm gây bệnh cơ hội nguy
hiểm cho các loài cá ở giai đoạn giống và cá trưởng thành, chúng tấn công khi sức
đề kháng của cá yếu, cá bị thương tổn, bị các tác nhân gây bệnh khác xâm nhập và
Trang 13các yếu tố môi trường thay đổi bất lợi cho cá Năm 1963, Monsma đã làm mộtchuỗi thí nghiệm gây nhiễm 4 giống nấm lên trứng và cá khỏe của 2 loài cá hồi nuôi
(Micropterus dolomieu và Lepomis pallidus) Kết quả là trứng và cá khỏe thí
nghiệm không bị nhiễm nấm Sau khi gây nhiễm không thành công tác giả tiến hànhthí nghiệm gây nhiễm nấm trên những con cá nuôi đã được tạo các vết thương nhântạo, kết quả là tất cả cá thí nghiệm đều bị nhiễm nấm [6] Nghiên cứu củaRechenbach - Klinke (1966) cho rằng nấm bậc thấp thường gây ra các bệnh trên cánước ngọt, khi cá đã bị suy nhược hoặc tổn thương mới bị mắc bệnh vì trên da cákhoẻ mạnh thì các bào tử nấm không thể nảy mầm được Trong số tác nhân gâybệnh thì Saprolegnia và Achlya là giống nấm thường hay bắt gặp nhất [8] Vào năm
1969, Willoughby đã tìm hiểu một số bệnh thường gây chết cá hồi ở Scotlen, Italia,
nguyên nhân chính là do một số loài Saprolegnia sp Bệnh thối mang ở cá hồi cũng
do Saprolegnia sp gây ra [15] Thí nghiệm gây nhiễm nấm Achlya và Saprolegnia trên cá Lebistes reticlatus, Xiphophorus helleri bị rạch vết thương trước khi gây
nhiễm của Norland và Tintigner (1973) cho thấy 75% cá bị nhiễm nấm trong lô thínghiệm [7] Tuy nhiên thí nghiệm của Nish (1976 & 1997) khi gây nhiễm nấm
Saprolegnia lên cá hồi đã khẳng định vết thương không phải là điều kiện chủ yếu
cho sự lây nhiễm nấm mà còn do một vài nhân tố khác làm suy yếu cơ chế phòngthủ tự nhiên của cá tạo điều kiện cho nấm xâm nhập như stress, mật độ nuôi dày hay
bị sốc nhiệt Ngoài ra khi bỏ đói cá hồi trưởng thành kết hợp với các nhân tố trêncàng làm cho cá dễ dàng bị nhiễm nấm Năm 1980, Nish và Hughes nhấn mạnh hơnnữa tầm quan trọng của stress trong việc gây nhiễm nấm trên cá [6] Có nhiều giống
loài nấm có khả năng gây bệnh trên cá như Branchiomyces, Democystidium,
Allomyces, Letolegnia, Achlya Tuy nhiên gây bệnh trên cá và trứng cá nước ngọt
thường là nấm thuộc bộ mốc nước (Saprolegniales) thuộc lớp nấm noãn (Oomycetes) Trong đó quan trọng là họ Saprolegniaceae rất phổ biến trong môi
trường nước cả ở dạng ký sinh và hoại sinh trên cá, Saprolegniaceae gây thiệt hạinghiêm trọng trên nhiều loài cá nước ngọt đặc biệt là giai đoạn ấp trứng [12]
Trang 14Theo Kishio Hatai và cộng sự (1980) cho rằng Saprolegnia sp là tác nhân
gây bệnh chính trong quá trình xảy ra dịch do sự nhiễm nấm xuất hiện trên cá hồinước ngọt và trứng của chúng tại một số trại sản xuất giống ở Hokkaido (Nhật Bản)
Nhiễm Saprolegnia sp là một trong những vấn đề quan trọng bởi chúng gây chết
với tỷ lệ lớn ở các ao nuôi cá hồi, nghiên cứu của Neish và Hughes (1980),
Alderman (1982) đã chỉ ra rằng Saprplegnia sp thường xuyên xuất hiện ở nhiều loài
cá hồi ở giai đoạn trưởng thành và trên trứng của chúng [17] Nghiên cứu của Hatai
và Hasbiai (1993) cho rằng các tác nhân gây bệnh nấm cá chủ yếu là nấm
Saprolegnia, Achlya do tốc độ phát triển nhanh trên bề mặt trứng đặc biệt là những
trứng không được thụ tinh từ đó làm lây nhiễm sang những trứng khác Đối vớinhững cá giống và cá trưởng thành khi bị sốc do điều kiện môi trường, nhiệt độ thấp
Saprolegnia có khả năng xâm nhập vào các cơ cá phá hủy cấu trúc mô cơ của cá.
Trong một nghiên cứu khác của chính tác giả cũng đã cho rằng bệnh nấm do
Saprolegnia sp đã gây chết cá với tỷ lệ chết cao, được ghi lại lần đầu tiên ở cá hồi
trong thủy vực nước ngọt tại một trại nuôi ở quận Myagnia, Nhật Bản Cũng tại đâyvào năm 1994, tác giả đã chỉ ra rằng tỷ lệ chết hàng năm ở cá hồi Coho
(Oncorhynchus kisutch Walbaum) do Saprolegnia parasitica Coker gây ra lên tới
50% [13] Willoughby (1994) cho rằng loài Saprolegnia sp gây ra hiện tượng
”winter kill”, xảy ra khi thời tiết lạnh, lúc đó bào tử động của Saprolegnia sp được
sinh sản nhanh hơn [27] Hatai và Yuasa (1995) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa
đặc điểm sinh học và khả năng gây bệnh của nấm Saprolegnia trên cá hồi vân đã định danh được 2 loài Saprolegnia parasitica và Saprolegnia diclina và khẳng định rằng sự nhiễm nấm Saprplegnia đặc biệt là S parasitica Coker, S diclina
Humphrey ngoài sức đề kháng của cá yếu, cá bị thương tổn, bị các tác nhân gâybệnh khác xâm nhập và các yếu tố môi trường thay đổi bất lợi cho cá thì sự nhiễm
nấm Saprolegnia ở cá nước ngọt còn có liên quan đến ký chủ đặc trưng, chúng chỉ
xảy ra trên những loài cá nhất định [24]
Tại Nepal nấm là tác nhân gây bệnh nghiêm trọng đối với giai đoạn ấp nở
trứng cá hồi, loài nấm thường gặp nhất đó là Saprolegnia sp, chúng xuất hiện như
Trang 15đám bông và lan nhanh trên toàn bộ cơ thể, khi bị bệnh nặng có thể gây chết cá [22].
Ở miền Bắc Canada vào năm 2000 xảy ra một đợt bùng phát tự nhiên do nấm đã làmchết một số lượng lớn cá hồi vân và tác động đến sự sống của đàn cá Bệnh nấm cáđược gọi là Saprolegniosis, bệnh gây ra chất lượng thịt kém, cá nuôi và cá tự nhiênkém ăn [10] Moratada M A Hussein, Kishio Hatai và Tetsuichi Nomura (2001) đã
tìm thấy bệnh nấm Saprolegniosis ở trứng và cá hồi nuôi (Salmoinds) tại một trại sản
xuất giống ở Hokkaido, Nhật Bản Hầu hết các trường hợp ban đầu đều có biểu hiệnlâm sàng ở đặc điểm sinh học đó là sự phát triển của sợi nấm trên bề mặt cơ thể cáđặc biệt là ở đầu, vây và đuôi nhưng không thấy sự có mặt của nấm bên trong các cơquan nội quan Có 33 mẫu được phân lập từ những vết thương trên đều nhiễm nấm
thuộc họ Saprolegnia Căn cứ vào hình thái học và đặc điểm sinh học đã kết luận được 15 mẫu nhiễm Saprolegnia parasitica, 16 mẫu nhiễm Saprolegnia salmonis và
2 mẫu nhiễm Saprolegnia australis [17]. Năm 2001, nghiên cứu của Bazyli Czeczuga
và ctv đã tìm thấy 127 loài nấm nước, trong đó có 28 loài được biết là ký sinh trên cá
nước ngọt, chủ yếu là thuộc giống Saprolegnia, Achlya, Aphanomyces [12]
Vào năm 2003 Chukanhom & Hatai đã chỉ ra rằng bệnh do nấm thườngxuyên xảy ra ở giai đoạn trứng trên nhiều loài cá khác nhau Trong quá trình ấptrứng nếu bị nhiễm nấm thì trứng sẽ bị hỏng (ung) và tỷ lệ trứng hỏng đôi khi lênđến 80% - 100% [11] Theo tài liệu về hội chứng dịch bệnh lở loét ở cá trong chươngtrình dự án phát triển của FAO khẳng định rằng nấm luôn được coi là có vai trò quantrọng trong nguyên nhân tổng hợp của hội chứng dịch bệnh lở loét (EUS) Những
giống nấm có liên quan đến các biểu hiện của EUS như Saprolegnia, Achlya,
Aphanomyces, tuy nhiên Saprolegnia là phổ biến nhất có liên quan đến lở loét da.
Những cá đang ở giai đoạn sớm của bệnh hoặc ở giai đoạn vết thương đang lành thìkhó có thể phân lập được nấm [25]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh nấm ở cá nước ngọt tại Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam bệnh ở động vật thủy sản đã được đi sâu nghiên cứu,cùng với các tác nhân gây bệnh là virus, vi khuẩn, ký sinh trùng thì nấm cũng đãđược nghiên cứu nhiều
Trang 16Hà Ký (1967) đã kiểm tra thấy nấm thủy my trên trứng cá Chép tại trại nuôi
cá nước ngọt Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh và trại cá Thanh Liệt - Hà Nội Năm
1996 tại viện nghiên cứu NTTS I bộ môn Bệnh động vật thủy sản đã đi sâu nghiêncứu tác nhân gây bệnh nấm cho động vật thủy sản và đã phân lập được nấm gây
bệnh cho cá nước ngọt chủ yếu là Saprolegnia, Achlya, Aphanomyces [4]
Nguyễn Thị Hà (1997) trong “Điều tra nghiên cứu bệnh nấm ở cá trắm cỏ
Ctenopharygodon idellus nuôi ở vùng Tiên Sơn, Bắc Ninh” đã xác định được 3
giống nấm là Saprolegnia, Achlya, Branchiomyces Trong đó, nấm Saprolegnia nhiễm trên trứng là 52,5%, Achlya chiếm 47,5% thường thấy trên cá trắm cỏ bị bệnh đốm đỏ, lở loét Tỷ lệ nhiễm nấm Branchiomyces sp trên cá hương là 50%, cá
giống là 46,7% [6].Nghiên cứu của Bùi Quang Tề (1998) đã phân lập được 51 mẫu
cá nhiễm nấm từ 68 mẫu cá trắm cỏ thu từ các địa phương với tỷ lệ nhiễm 75%, từ
140 mẫu cá trắm cỏ nuôi ở Viện Nghiên cứu NTTS I đã phân lập được 114 mẫu cá
nhiễm nấm với tỷ lệ nhiễm 74,3% Các giống nấm đã phân lập được là Saprolegnia
sp, Achya sp, Aphanomyces sp, Phoma, Pythium…[1]. Theo điều tra của bộ mônBệnh cá Viện Nghiên cứu NTTS I từ năm 1999 - 2002 ở các tỉnh phía bắc và venbiển miền Trung kết quả ở các loài cá nước ngọt như trắm Cỏ, cá Chình, cá Trê, cá
Chép, Mirigal, phân lập được các giống chủ yếu là Aspergillus, Saprolegnia chúng
gây thiệt hại rất lớn cho người nuôi [6]
Các nghiên cứu của Đỗ Thị Hòa và ctv (2004) cho thấy tại Việt Nam đã xuấthiện hội chứng lở loét trên cá nuôi và cá tự nhiên ở hầu hết các địa phương khác
nhau từ năm 1990, Saprolegnia gây ra bệnh nấm thủy my trên cá nước ngọt, thường
phát triển vào mùa nhiệt độ thấp (18 - 25oC), gây chết trứng của các loài cá nước
ngọt, đặc biệt là trứng cá Chép (Cyprinus carpio), hiệu quả của các đợt sinh sản
nhân tạo cá Chép thường rất thấp do tác hại của nấm thuỷ my Trứng cá bị nhiễmnấm thuỷ my thường chết (ung), với nhân trứng chuyển sang màu trắng đục, nếukhông có tác động kịp thời có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ cá bột, hoặc đôi khi phảixoá bỏ hoàn toàn Ngoài ra còn gây bệnh trên nhiều loài cá nước ngọt như cá Chép,
cá Mè, cá Trắm Cỏ, cá Trôi [3]
Trang 17Theo nghiên cứu của Lê Văn Khoa (2006), đã khẳng định Saprolegnia là một
loài nấm gây bệnh phổ biến trong nuôi trồng thủy sản, gây bệnh nấm thuỷ my ở cánước ngọt, bệnh rất dễ lây lan, khó phát hiện và gây thiệt hại lớn cho người nuôi [5]
1.3 Tình hình nghiên cứu hoá chất để phòng trị bệnh do nấm trên cá nước ngọt
Trước đây cá nhiễm nấm Saprolegnia được điều trị bởi Xanh malachite,
một chất nhuộm hữu cơ được xem là rất hiệu quả để diệt các mầm bệnh.Willoughby và Roberts (1992), Schreier và ctv (1996), khi thực hiện kiểm tra hiệuquả các loại thuốc diệt nấm trên động vật thủy sản và đối với môi trường các tácgiả đã kết luận Xanh malachite và Formalin là những thuốc diệt nấm cá mạnh nhấttuy nhiên chúng có ảnh hưởng cấp tính trên hệ sinh thái thủy sản Còn Fitzpatrick
và cộng sự (1995) thì cho rằng với giải pháp 37% Formaldehyde có hiệu quả trong
điều trị Saprolegnia nhưng nó cũng gây độc và ảnh hưởng tới môi trường nuôi.
Tuy nhiên Xanh malachite đã bị cấm sử dụng trên thế giới do những ảnh hưởngcủa nó gây ra và gần đây Formalin cũng đã bị hạn chế sử dụng trong nuôi trồngthủy sản Điều này dẫn đến gặp nhiều khó khăn trong việc phòng trị các bệnh
nhiễm nấm Saprolegnia do đó nhu cầu cấp thiết là tìm ra các phương pháp thay
thế để kiểm soát bệnh Saprolegniosis xảy ra trên trứng cá và cá nước ngọt [16]
Đã có nhiều nghiên cứu về các hợp chất để tìm ra các chất có hiệu quảtrong phòng trị nấm và không ảnh hưởng đến chất lượng nở của trứng, cá giống,
cá nuôi và trên hệ sinh thái Năm 1997 Kishio Haitai và các cộng sự của ông đãthử nghiệm nước Hydrogen Peroxide (H2O2 ) ở tỷ lệ hoạt tính là 31% để diệt nấm
ở trứng cá hồi (Rainbow trout) kết quả cho thấy ở nhiệt độ 13oC trong thời gian 60phút, H2O2 ở nồng độ độ 1500 µg/ml gây hại cho trứng cá hồi cầu vồng Đặc biệtkhi dùng H2O2 ở nồng độ 250 - 1000µg/ml có khả năng ức chế, kìm hãm và tiêu
diệt sự phát triển của nấm Saprolegnia sp, hạn chế gần như hoàn toàn sự nảy mầm của các bào tử nấm Khi dùng để trị bệnh do Saprolegnia sp gây ra trên trứng cá
hồi ở nhiệt độ 13 sau thời gian 60 phút cho kết quả rất khả quan, tỷ lệ nở của các
lô thí nghiệm có dùng thuốc với nồng độ 250, 500 và 1000 µg/ml có tỷ lệ nởtương ứng là 37,4%, 46,6%, và 67,6% trong khi ở lô đối chứng là 7,8% Khi xử lý
Trang 18bằng H2O2 với nồng độ 500µg/ml H2O2 trong 60 phút ở 20oC đã có tác dụng ứcchế giai đoạn zoosporic trong quá trình phát triển của nấm và với nồng độ1000µg/ml H2O2 trong 60 phút ở 20oC thì ức chế quá trình sinh dưỡng của nấm.Trị bệnh với 1000µg/ml H2O2 trong 60 phút ở 13oC là có hiệu quả nhất để kiểm soátlây nhiễm nấm Nó hạn chế sự nhiễm nấm và làm tăng tỷ lệ nở của trứng cá hồi Nhưvậy H2O2 là một loại thuốc có tác dụng diệt nấm ở động vật thủy sản, tuy vậy tùy theođiều kiện nhiệt độ nước mà lựa chọn nồng độ phù hợp [3], [19], [16], [14]
Niulubol Kitancharoen, Kisshio Hatai và ctv (1997) đã nghiên cứu hiệu quả
kháng nấm Saprolegnia ở trứng cá Hồi Họ đã chứng minh trong 1 giờ ở nhiệt độ
13oC nồng độ tối đa của NaCl không gây độc đối với trứng cá hồi là 25ppt.Nghiên cứu này cho thấy rằng với nồng độ NaCl 25ppt trong 1 giờ, 2 lần trongmột tuần thì trứng bị nhiễm nấm giảm và tăng tỷ lệ nở của trứng cá hồi Tiếp tụctrị bệnh với NaCl ở nồng độ lần lượt là 3ppt, 5ppt, 7ppt thì tỷ lệ nở của trứng đềugiống nhau, nhưng khi trị bệnh với NaCl ở nồng độ 3ppt, 5ppt thì hiệu quả diệtnấm kém, ở nồng độ 7ppt khả năng diệt nấm là rất tốt [18]
Theo nghiên cứu của Hussein và các cộng sự (2001) kết luận rằng việc sửdụng H2O2 là một hợp chất hướng tới cộng đồng nuôi trồng thủy sản và đưa lại lãisuất ngày càng tăng Hợp chất này được coi là tương thích với môi trường và làmột hướng đi hiệu quả trong việc điều trị bệnh cho cá nuôi, là thuốc diệt nấm, diệtkhuẩn, diệt ký sinh trùng trên trứng cá và cá nuôi [14]
1.4 Một số đặc điểm của hóa chất thử nghiệm
Hydrogen Peroxide (H2O2)
H2O2 là một hợp chất hóa học có tính oxi hóa cao có khả năng làm mất hoạttính của các men trong tế bào sinh vật và tiêu diệt nó H2O2 thường được sử dụngnhư là chất khử trùng để làm sạch vết thương của người và H2O2 cũng đã được sửdụng trong nuôi trồng thủy sản để điều trị một số bệnh bao gồm cả ký sinh trùngbên ngoài, vi khuẩn, nấm và các bệnh ở các giai đoạn khác nhau của cá nuôi.Dùng H2O2 có thể làm tăng hàm lượng oxy hòa tan trong nước
H2O2 → H2O + [O]
Trang 19Gần đây H2O2 đã được FDA chấp nhận là có thể được sử dụng để phòng trịbệnh trong nuôi trồng thủy sản mà không gây hại đến động vật nuôi, môi trườngsinh thái cũng như không gây hại trong sản phẩm sử dụng H2O2 là một hóa chấttương đối rẻ để sử dụng trong nuôi trồng thủy sản [21].
Acid acetic hay còn gọi là etanoic, là một axít hữu cơ (Acid Cacboxylic), mạnhhơn acid cacbonic Phân tử gồm nhóm methyl (-CH3) liên kết với nhóm carboxyl (-COOH) Acid acetic được dùng khá nhiều trong NTTS và Acid acetic là một trong 18hóa chất không phải kháng sinh và được FDA cho phép sử dụng trong nuôi trồng thủysản [28]
PVP - Iodine
Polyvinyl - Pyrvidone Iodine (PVP - Iodine) là một hợp chất hóa học baogồm Polyvinylpyrrolidone và Iodine Có nồng độ hoạt chất từ 9,0% đến 12%Iodine, PVP - Iodine có tác dụng sát trùng mạnh, có khả năng diệt khuẩn, nấm và kýsinh trùng gây bệnh ở động vật thủy sản Trong nước Iodine có thể chuyển hóathành các dạng khác nhau và Iodine thẩm thấu qua vách và màng tế bào của vikhuẩn, nấm, nguyên sinh động vật, virus làm mất khả năng hoạt tính của các mentrong tế bào và tiêu diệt chúng Trong số các dạng khác nhau của Iodine thì chỉ có
I2, HOI và I- là có tác dụng tốt để khử trùng, trong đó I2 và HOI có tác dụng diệtkhuẩn mạnh [9]
Trong nuôi trồng thủy sản PVP - Iodine được sử dụng như chất khử trùng ởtrại giống và ngoài ao nuôi, để trị các loại bệnh do nấm, nguyên sinh động vật hay
vi khuẩn tác động bên ngoài cơ thể động vật nuôi, pha loãng rồi tạt xuống ao vớinồng độ PVP - Iodine 30% là 1,0 mg/L, 3 ngày/lần [9]
Castellani
Castellani là dung dịch dạng lỏng thành phần bao gồm acid phenic,resorcinol Castellani có tính sát khuẩn tại chỗ, bôi tại chỗ để phòng và chống bộinhiễm Từ trước tới nay Castellani chỉ được dùng để chữa viêm da, nấm da bộinhiễm ở người mà ít được sử dụng rộng rãi trong nuôi trồng thủy sản
Trang 20 Viên sủi VICATO khử trùng (TCCA)
Viên sủi VICATO khử trùng có thành phần chính là Tricloisocyanuric acid(TCCA) là một hợp chất hóa học, tan nhiều trong các dung môi phân cực lớn nhưclorua, axit vô cơ đặc, khi tan trong nước nó hình thành HCLO có tính diệt trùngmạnh là một loại thuốc sát trùng thông dụng nhất [2]
Trong nuôi trồng thủy sản TCCA được dùng để khử trùng cho ao đầm nuôi.TCCA có tác dụng khử trùng nước ao nuôi tôm, với nồng độ 1ppm TCCA có tácdụng diệt được một số vi sinh vật trong nước, nồng độ 5 - 15ppm TCCA có khảnăng diệt toàn bộ vibrio trong nước.ở nồng độ 5 - 10ppm TCCA có tác dụng làmgiảm vi khuẩn tổng số trong nước 20 - 24 lần, ở nồng độ 15ppm đã diệt hết vi khuẩntrong nước Trong ao nuôi cá ở nồng độ 0,2 - 0,4 ppm TCCA có thể làm giảm đáng
kể vi sinh vật gây bệnh cho cá đặc biệt là vi khuẩn gây bệnh cho cá thuộc nhóm
Aeromonas spp [2].
Trang 21CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Nấm Saprolegnia phân lập từ trứng cá Chép (Cyprinus carpio).
- Cá Chép khỏe mạnh không mang mầm bệnh có khối lượng 3g - 5g, chiềudài 3 - 5cm để làm thí nghiệm
Vật liệu nghiên cứu
Các hóa chất thử nghiệm: Acid acetic, Castellenin, Hydrogen Peroxide
(H2O2), PVP - Iodine, Viên sủi VICATO khử trùng (TCCA)
2.2 Dụng cụ, môi trường nuôi cấy
Dụng cụ và trang thiết bị
- Dụng cụ: Đèn cồn, panh, dao, kéo, găng tay, đĩa peptri đựng môi trường, lamen, lam lõm, các dụng cụ thử nghiệm khả năng chịu đựng của cá trong các hóachất
- Thiết bị: Buồng cấy vô trùng, tủ ấm, tủ lạnh, tủ sấy dụng cụ, nồi hấp tiệttrùng, kính hiển vi
Môi trường nuôi cấy
Môi trường GY agar (1% Glucose, 0,25% Yeast extract, 1,5% Agar)
Môi trường GY broth (1% Glucose, 0,25% Yeast extract)
Môi trường nghèo dinh dưỡng nhân tạo APW (Autoclave Pond Water) sửdụng nước ao đã lọc thô bằng màng lọc, lọc lại giấy lọc thấm, đổ vào bình thuỷ tinhpha nước cất (Tỷ lệ nước ao và nước cất là 1: 2) Sau đó cho vào nồi hấp khử trùng
121oC trong thời gian 15 phút
2.3 Nội dung nghiên cứu
Nuôi cấy, phân lập nấm Saprolegnia sp ký sinh trên trứng cá Chép (Cyprinus
carpio).
Trang 22 Thử nghiệm khả năng ức chế, tiêu diệt nấm Saprolegnia bằng một số hóa
chất với các nồng độ (NĐ) khác nhau
Thử nghiệm khả năng chịu đựng của cá Chép giống với nồng độ và thời gian
sử dụng một số hóa chất có thể diệt được nấm Saprolegnia sp.
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp phân loại nấm
Phân loại nấm theo phương pháp hình thái học của Kishio Haitai (1992) vàWillioughby (1994)
Hình 2.1 Quy trình phân loại nấm
Phương pháp thu mẫu
Trứng cá chép có dấu hiệu bị nhiễm nấm được thu tại phòng Di truyền vàchọn giống Viện nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 1 đưa về phòng thí nghiệmkiểm tra dưới kính hiển vi nếu phát hiện sự có mặt của sợi nấm sẽ tiến hành rửatrong nước cất khử trùng 3 lần trước khi nuôi cấy để nghiên cứu tiếp theo
Phương pháp phân lập nấm
Trứng cá Chép (Cyprinus carpio) bị nhiễm nấm
Phân lập nấm Nuôi cấy thuần chủng
Đặc điểm sinh sảnĐặc điểm hình thái
Hình thái, kích thước sợi nấm
Các đặc điểm đặc trưng của khuẩn
lạc
Các hình thức sinh sản
Phân loại đến loài
Trang 23Mẫu nấm được cấy vào môi trường GY agar có bổ sung 2 loại kháng sinh làPeniciline và Streptomycine để diệt vi khuẩn (lưu ý phải hơ dụng cụ cấy trên ngọnlửa đèn cồn trước khi cấy mẫu), sau đó giữ ở nhiệt độ 20ºC trong tủ ấm theo dõi sựphát triển của nấm trong 24 giờ, 48 giờ, 96 giờ Sau khi khuẩn lạc nấm phát triển sẽđược nuôi cấy thuần chủng bằng phương pháp nuôi cấy một bào tử.
Phương pháp nuôi cấy nấm thuần chủng (phương pháp nuôi cấy một bào tử)
Sau khi nấm đã phát triển, cắt một miếng môi trường có nấm đặt vào môitrường tăng sinh GY broth sau 24 - 48 giờ rồi cấy chuyển nấm vào môi trườngnghèo dinh dưỡng nhân tạo (APW) để nấm sinh bào tử động Sau 24 - 48 giờ có bào
tử động dùng micropipet hút 15 - 20μl dung dịch có chứa bào tử động cho vào môitrường GY agar mới, dùng dụng cụ trang đều dung dịch có chứa bào tử động nuôicấy ở nhiệt độ 200C, theo dõi thường xuyên sự phát triển của khuẩn lạc nấm khithấy xuất hiện các khuẩn lạc riêng rẽ, chọn một khuẩn lạc riêng rẽ vào môi trườngnuôi cấy mới, khuẩn lạc được chọn là khuẩn lạc thuần chủng phục vụ cho phân loại,lưu giữ giống và các nghiên cứu cơ bản khác
Phương pháp phân loại nấm
Dựa vào các đặc điểm hình thái sợi nấm, kích thước, các đặc điểm đặc trưngcủa một số khuẩn lạc nấm trên môi trường nuôi cấy và các hình thức sinh sản vôtính, sinh sản hữu tính để phân loại đến loài
+) Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng của khuẩn lạc nấm
- Từ khuẩn lạc nấm thuần dùng ống hình chữ T bằng kim loại có đườngkính 5mm để cắt khối nấm hình tròn nhỏ, sau đó dùng đầu kim khử trùngchuyển khối thạch hình tròn có đường kính 5mm vào vị trí trung tâm của đĩamôi trường, nuôi ở 3 mức nhiệt độ 15oC, 20 oC, 25oC, mỗi mức nhiệt độ lặp lại
3 lần Tiến hành đo kích thước khuẩn lạc hằng ngày cho đến khi khuẩn lạc nấmphát triển đầy đĩa môi truờng
- Đo đường kính khuẩn lạc nấm: Dùng bút viết kính kẻ 2 đường thẳng vuônggóc cắt nhau ở vị trí trung tâm của khối nấm, tiến hành đo đường kính khuẩn lạcnấm tại 4 vị trí mép rìa khuẩn lạc trên 2 đường thẳng
Trang 24- Tốc độ tăng trưởng của khuẩn lạc nấm được xác định bằng đường kínhtrung bình của khuẩn lạc qua các lần lặp đo được hằng ngày, so sánh đưa ra kết quả.
+) Phương pháp xác định hình thái sợi nấm
- Từ đĩa GY agar có khuẩn lạc nấm thuần phát triển, dùng dao giải phẩu cắtmột khối nấm nhỏ (khoảng 0,5cm2) thả vào đĩa Petri có chứa 25ml môi trường GYBroth nuôi cấy ở 20oC trong 1 ngày
- Dùng kéo cắt sợi nấm trong môi trường GY Broth rửa qua nước APW khửtrùng 2 - 3 lần sau đó thả vào đĩa Petri chứa nước APW
- Dùng panh đưa sợi nấm trong môi trường APW lên lam kính lõm, đậylamen quan sát dưới kính hiển vi ở các độ phóng đại khác nhau (10X & 40X)
- Quan sát các đặc điểm hình thái của sợi nấm, túi bào tử, bào tử, sự hìnhthành bào tử, phương thức giải phóng bào tử, sự vận động của bào tử
+) Phương pháp xác định kích thước hiển vi của nấm
- Tiến hành đo kích thước: Đường kính sợi nấm, bào tử, túi bào tử
- Mỗi yếu tố tiến hành đo 50 lần, tính kích thước trung bình của mỗi yếu tố
2.4.2 Phương pháp thử nghiệm khả năng ức chế, tiêu diệt nấm Saprolegnia sp
bằng một số hóa chất trong phòng thí nghiệm
Quá trình xác định nồng độ của hóa chất thí nghiệm diệt nấm Saprolegnia sp
được thể hiện ở sơ đồ sau:
Nấm Saprolegnia đã được phân loại
H2O2Castellenin
Acid aceticĐối chứng
Trang 25Hình 2.2 Sơ đồ nghiên cứu thử nghiệm khả năng diệt nấm của hóa chất
Thí nghiệm 1: Thí nghiệm sàng lọc các nồng độ hóa chất
Thí nghiệm được bố trí ở các đĩa peptri đã được khử trùng
Bước 1: Hóa chất thí nghiệm gồm Acid acetic, Castelleni, H2O2 và PVP Iodine được pha loãng bằng nước cất khử trùng theo tỷ lệ 100%, 50%, 25%, 15%,5%, mỗi nồng độ lặp lại 3 lần Nghiệm thức đối chứng không bổ sung hóa chất
-Bước 2: Nấm thuần Saprolegnia được nuôi cấy ở môi trường tăng sinh GY
broth Sau 24 giờ dùng kéo, panh vô trùng cắt nhỏ sợi nấm rồi rửa sạch trong nướccất khử trùng 3 lần Cho sợi nấm vào dung dịch có chứa hóa chất ở những nồng độtương ứng được pha loãng ở bước 1 với thời gian thử nghiệm là 5 phút, 10 phút,
20 phút, 30 phút, 40 phút, 50 phút, 60 phút
Bước 3: Sợi nấm ngâm trong dung dịch hóa chất với thời gian thử nghiệm tương
ứng được lấy ra và nuôi cấy trên môi trường GY agar Để trong tủ ấm ở nhiệt độ 20oC Đọc kết quả: Trong quá trình tiến hành thí nghiệm thường xuyên quan sát,thu mẫu và kiểm tra Xác định nồng độ thấp nhất của hóa chất thử nghiệm có khả
năng ức chế sự phát triển của nấm Saprolegnia sp để làm thí nghiệm thứ 2.
Thí nghiệm 2: Xác định các nồng độ diệt nấm tối thiểu
Từ kết quả thí nghiệm 1, xác định được nồng độ thấp nhất ức chế khả năngphát triển của nấm Nồng độ này được pha ở những nồng độ khác nhau từ 100ppm
- 1500ppm (tùy từng loại hóa chất) dùng để tiến hành thí nghiệm 2 Riêng vớiTCCA theo chỉ dẫn của nhà sản xuất và điều kiện thí nghiệm cho phép thử nghiệmvới 2 hình thức ở nồng độ 4ppm - 8ppm trong thời gian 10 phút, 30 phút, 60 phút
và nồng độ 0,2ppm - 0,6ppm trong thời gian 2 giờ, 12 giờ, 24 giờ
Sau khi pha loãng nồng độ hóa chất, cho sợi nấm vào hóa chất thử nghiệm ởnhững nồng độ đã được pha loãng với thời gian thử nghiệm là 10 phút, 30 phút, 60phút, mỗi nồng độ lặp lại 3 lần Các nghiệm thức đối chứng không bổ sung hóachất Sau 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày, 5 ngày, 7 ngày đọc kết quả
Trang 26Những nồng độ thấp nhất mà sau 7 ngày nấm không thể phát triển được lànồng độ diệt tối thiểu
2.4.3 Phương pháp thử nghiệm khả năng chịu đựng của cá Chép với nồng độ hóa chất lựa chọn
Sau khi lựa chọn được nồng độ diệt tối thiểu của hóa chất tiến hành thửnghiệm khả năng chịu đựng của cá chép với nồng độ hóa chất lựa chọn Mỗi nồng
độ hóa chất lựa chọn tiến hành thí nghiệm lặp lại 3 lần Thí nghiệm được bố trítrong các xô có thể tích 5 lít, số lượng cá là 15 con/xô
Sau khi nuôi thuần cá trong điều kiện thí nghiệm, kiểm tra cá và cho hóa chất
ở các nồng độ có khả năng diệt nấm vào làm thí nghiệm Trong quá trình tiến hànhthí nghiệm thường xuyên quan sát, kiểm tra và đưa ra kết quả
2.5 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học, có sự hỗ trợ củaphần mềm SPSS 16.0
2.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ 01/03 đến 30/06/2011
Địa điểm thu mẫu: Thu mẫu từ trứng cá Chép tại phòng Di truyền và chọn
giống - Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 1 - Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Địa điểm phân tích mẫu: Phòng thí nghiệm Bệnh cá thuộc trung tâm nghiên
cứu quan trắc cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thủy sản khu vực miềnBắc - Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 1 - Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Trang 27A B
C
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả phân lập và định danh nấm
Đặc điểm của khuẩn lạc
Khuẩn lạc nấm trên môi trường nuôi cấy có màu trắng, tản nấm rộng, sợinấm phát triển dày đặc, nổi trên bề mặt môi trường có màu trắng bông
Khuẩn lạc nấm tăng trưởng nhanh trên môi trường GY agar, ở 20oC tốc độtăng trưởng trung bình 31,5mm/ngày Sau 72 giờ nuôi cấy đường kính khuẩn lạcnấm đạt 94,67mm (hình 3.1)
Hình 3.1 Tốc độ tăng trưởng của
khuẩn lạc nấm
Trang 28Bảng 3.1 Đường kính khuẩn lạc nấm sau thời gian nuôi cấy ở các mức nhiệt độ
Nhiệt độ Đường kính khuẩn lạc (mm)
(Số liệu hiển thị là TB±SE, trên cùng một cột các chữ cái a, b biểu thị sự sai khác
có ý nghĩa thống kê của các nhiệt độ (p<0,05))
Hệ sợi nấm phân lập có khả năng sinh trưởng trong khoảng nhiệt độ 15oC - 25oC(p<0,05) Trong 3 mức nhiệt độ 15oC, 20oC, 25oC thì nấm sinh trưởng tốt nhất ở 20oC,khuẩn lạc nấm đạt đường kính 94,67mm sau 72 giờ nuôi cấy, và có xu hướng giảm khinhiệt độ tăng lên 25oC (p<0,05)
Hình 3.2 Đặc điểm hình thái sợi nấm
A - Sợi nấm khi soi tươi; B - Sợi nấm trên môi trường APW;
C - Sợi nấm trên môi trường GY broth
Sự hình thành túi bào tử