1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu chức năng của thanh điệu tiếng việt

105 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chức năng của thanh điệu tiếng Việt
Tác giả Đỗ Thị Hường
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hoài Nguyên
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ
Thể loại khóa luận
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

dẫu là tương đối cũng sẽ là chỗ dựa, là gợi ý cho các nhà âm vị học Việt về những thành phần âm vị học cùng với các nét khu biệt và các chế định âm vị học giữa chúng và đó còn là cơ sở đ

Trang 1

dỗ, trang bị kiến thức cho em trong suốt 4 năm học qua, giúp em có kiến thức

để hoàn thành khoá luận này

Khoá luận của em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được nhiều ý kiến, góp ý quý báu của các thầy cô và những người quan tâm đến vấn đề này

Em xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Đỗ Thị Hường

Trang 2

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

Trang

CHƯƠNG 1: NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN

Trang 3

1.2.3 Đặc điểm của từ đơn tiếng Việt 13

1.3.1 Các quan niệm về từ láy trong tiếng Việt 14

1.3.3.3 Phân loại dựa vào sự đồng nhất hay khác biệt trong thành

CHƯƠNG 2: CHỨC NĂNG CỦA THANH ĐIỆU

2.1 Sự phân bố của thanh điệu trong từ đơn tiết 25

2.1.2 Sự phân bố thanh điệu trong từ đơn tiết 28

Trang 4

CHƯƠNG 3: CHỨC NĂNG CỦA THANH ĐIỆU

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

1.1 Lâu nay, từ vựng (vốn từ) thường được hình dung gồm hai bộ phận cấu thành là từ và thành ngữ Bởi vậy, từ và thành ngữ đều được nghiên cứu trong từ vựng học Tuy nhiên, trên thực tế thì từ vẫn giữ vai trò trung tâm Từ

có thể phân chia làm nhiều loại từ theo những tiêu chí khác nhau Căn cứ vào mặt cấu tạo, từ được chia làm hai loại: từ đơn (theo phương thức từ hoá hình vị) và từ phức, trong đó, từ phức được chia làm hai loại: từ ghép (theo phương thức ghép) và từ láy (theo phương thức láy)

1.1.1 Là một ngôn ngữ đơn lập phân tiết tính, tiếng Việt có khả năng

và cần thiết lập bảng kết hợp giữa các đơn vị tạo thành âm tiết (từ đơn) Số lượng âm tiết có thể có trong sự hình dung lí thuyết cũng như được sử dụng làm thành từ thực tế là con số xác định và có thể tính toán được Tuy nhiên, con số các âm tiết lí thuyết cũng như được sử dụng làm thành từ thực dùng, theo thống kê của các nhà âm vị học Việt từ trước đến nay là có sự xê dịch tuỳ theo quan điểm và các thủ pháp thống kê của các tác giả Mỗi tác giả, khi nghiên cứu về âm vị học đều có con số riêng của mình về các loại âm tiết Sự khác nhau về số lượng âm tiết cũng như sự phân bố âm vị học trong âm tiết,

cụ thể là sự phân bố thanh điệu trong từ đơn có lẽ cần được khắc phục để tìm hiểu xem thực chất trong lời ăn, tiếng nói hàng ngày người Việt đã dựa trên số lượng âm tiết thực là bao nhiêu Nhưng sự đòi hỏi một số lượng tuyệt đối như

vậy là không tưởng vì ngôn ngữ là một “sinh thể”, một đối tượng sống; bởi

mỗi ngày trong giao tiếp có biết bao từ có nguy cơ bị mất đi và mất hẳn, có bao nhiêu từ đang nhú lên để một ngày nào đó trở thành thành viên trong vốn

từ của Việt ngữ Hệ quả tất yếu của việc mất đi hay nảy sinh các từ sẽ đi kèm với việc cấu tạo các mô hình vỏ từ tương ứng Như vậy, sự cố gắng để tìm một con số chính xác về số lượng các âm tiết (từ đơn) thực có trong tiếng Việt

dù là mục đích phải vươn tới nhưng có thể khó lòng đạt được Dẫu vậy, việc kiểm kê danh sách các âm tiết một cách chính xác vẫn là cần thiết và kết quả

Trang 6

dẫu là tương đối cũng sẽ là chỗ dựa, là gợi ý cho các nhà âm vị học Việt về những thành phần âm vị học cùng với các nét khu biệt và các chế định âm vị học giữa chúng và đó còn là cơ sở để tìm hiểu chức năng của thanh điệu trong

từ đơn

1.1.2 Về từ láy, gần đây có một xu hướng muốn chứng minh mối quan

hệ giữa âm và nghĩa của từ láy đôi đã làm nên đặc thù của từ láy tiếng Việt

Dĩ nhiên, sự chứng minh như vậy là cần thiết nếu thực sự có một mối quan hệ như thế tồn tại nhưng cũng cần phải tránh việc kết luận có thể đi tới một cực đoan rằng, các đặc điểm ngữ âm trong khu vực từ láy đôi là có tính chất của một đơn vị hai mặt như một tín hiệu ngôn ngữ bất kì nào Điều cực đoan như vậy có thể làm hạn chế các tư liệu ngữ âm ở khu vực láy và thậm chí sẽ đánh mất những mối quan hệ có quy luật giữa các luật âm thanh tạo nên vỏ từ láy

và các đặc điểm ngữ âm vốn có trong hệ thống ngữ âm tiếng Việt Nếu thừa nhận rằng trong tiếng Việt cũng như trong các ngôn ngữ cùng loại hình có tồn tại một cơ chế láy phổ biến thì rõ ràng việc đầu tiên là phải đi tìm sự thể hiện

cơ chế ấy về mặt ngữ âm trong các từ láy Đó là cơ chế thể hiện quá trình tạo sản vỏ âm thanh từ một cách thuần nhất và bị chi phối bởi các luật âm vị học đang hành chức trong tiếng Việt Công việc này cần tiến hành đầu tiên, bởi nhắc đến láy, người bản ngữ trực cảm đến các đặc điểm hình thức đặc thù của

nó Cơ chế láy sẽ đi kèm với việc cấu tạo các mô hình vỏ từ tương ứng trong tiếng Việt Bên cạnh đó, không thể có sự thống nhất ý kiến một cách đơn giản

mà vấn đề từ láy lại là một vấn đề phức tạp và tư liệu về hiện tượng này cho đến nay chưa thể nói được rằng chúng ta đã thu thập được một cách đầy đủ Như vậy, sự cố gắng để đi tìm một con số chính xác về số lượng các từ láy thực có trong tiếng Việt là mục đích phải vươn tới nhưng khó lòng có thể đạt tới Dẫu vậy, việc kiểm kê danh sách các âm tiết trong từ láy một cách chính xác vẫn là cần thiết và kết quả dẫu là tương đối cũng sẽ là chỗ dựa, là gợi ý cho các nhà âm vị học Việt về những thành phần âm vị học cùng với các nét khu biệt và các chế định âm vị học (chủ yếu là thanh điệu) giữa chúng

Trang 7

1.2 Theo truyền thống học phương Đông, các thành tố cấu tạo nên âm tiết cũng có thể được coi là các đơn vị âm vị học Do đó, chúng tôi thiết nghĩ

có thể phác hoạ hệ thống âm thanh tiếng Việt, tiến hành khảo sát sự phân bố thanh điệu trong vốn từ tiếng Việt Công việc này, ngoài việc đem lại lợi ích cho âm vị học tiếng Việt còn có lợi ích cho việc xác định loại hình ngôn ngữ

này, “Tiếng Việt là loại hình ngôn ngữ có thanh điệu” và phần nào làm sáng

tỏ khái niệm hình tiết (Syllabeme) trong nghiên cứu Việt ngữ ở cấp độ cao hơn Để đạt tới một âm vị học như vậy, ngoài việc tiếp thu thủ pháp âm vị học truyền thống, còn cần tới những tri thức khác mà âm vị học đương đại của những năm nửa sau thế kỉ XX đã đạt được Bên cạnh việc sử dụng các thủ pháp âm vị học, các khái niệm còn phải chứng minh trong quá trình phân tích, xét lại dựa vào các chứng cứ có được từ nguồn: a/ Từ sự nhất quán của các phép phân tích trên hệ thủ pháp âm vị học đã lựa chọn để làm việc b/ Từ các cấp độ khác nhau trong hệ thống ngôn ngữ c/ Từ sự phát triển lịch sử của hệ thống âm thanh tiếng Việt Xuất phát từ nhận thức trên, chúng tôi mạnh dạn bước đầu “Tìm hiểu chức năng của thanh điệu tiếng Việt” (trên tư liệu từ đơn tiết và từ láy đôi tiếng Việt)

2 Lịch sử vấn đề

Thanh điệu là yếu tố ngữ âm phủ lên đồng thời các âm vị đoạn tính khác nhưng lại có chức năng khu biệt giống như các âm vị đoạn tính khác Các thanh điệu tiếng Việt có chức năng khu biệt không khác gì phụ âm, nguyên âm nhưng khó lòng định vị được chúng trong âm tiết Nghiên cứu thanh điệu được khá nhiều người quan tâm vì đã có một số sách vở, tài liệu viết về thanh điệu Bước đầu khảo sát, chúng tôi thấy ở các tài liệu viết về thanh điệu thường đi theo một hướng nhất định, có thể kể ra ba hướng chính sau:

- Hướng thứ nhất: Ngôn ngữ học đồng đại miêu tả thanh điệu tiếng Việt, các phẩm chất ngữ âm của thanh điệu, xác lập và chỉ ra các tiêu chí của

nó Đó là các giáo trình viết về ngữ âm ĐH – CĐ như: Giáo trình ngữ âm

Trang 8

tiếng Việt, Vương Hữu Lễ, Hoàng Dũng, NXB ĐHSP, 1994; Ngữ âm tiếng Việt, Đoàn Thiện Thuật, NXB ĐHQGHN, 2002, Giáo trình ngữ âm tiếng Việt , dùng cho sinh viên Ngữ Văn, Nguyễn Hoài Nguyên, Trường Đại học Vinh,

Vinh 2000

- Hướng thứ hai: Dùng máy móc thực nghiệm khảo sát, xác lập các thông số để từ đó rút ra các kết luận về thanh điệu Theo hướng này có các tác giả: Vũ Bá Hùng, Hoàng Cao Cương, Vũ Kim Bảng

- Hướng thứ ba: Nghiên cứu thanh điệu theo hướng lịch đại, nghĩa là nghiên cứu nguồn gốc của thanh điệu, xác lập sự ra đời của thanh điệu Theo hướng này có các tác giả: Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Lợi

Nhìn chung, chưa có một công trình nào nghiên cứu thanh điệu độc lập với tư cách là thành tố tham gia hiệp vần, vai trò trong cấu tạo âm tiết, cấu tạo

từ và phân biệt ý nghĩa của từ, vai trò trong từ láy, thành ngữ Nói cách khác, các công trình đó chưa chỉ ra đầy đủ chức năng của thanh điệu Ở khoá luận này, chúng tôi bước đầu tìm hiểu chức năng của thanh điệu trong từ đơn tiết

và trong từ láy đôi tiếng Việt

3 Đối tƣợng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là chức năng của thanh điệu trong tiếng Việt trên tư liệu từ đơn tiết và từ láy đôi tiếng Việt

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi đặt ra cho khoá luận phải giải quyết những vấn đề sau:

- Dựa vào những kiến thức về từ vựng và ngữ pháp tiến hành thống kê

và xử lí tư liệu, xác lập danh sách từ đơn tiết, từ láy đôi tiếng Việt (theo quan điểm của người nghiên cứu) để làm việc

- Từ các tiêu chí khu biệt thanh điệu, bước đầu xác lập một toàn cảnh

về phân bố thanh điệu trong từ đơn tiết và từ láy đôi tiếng Việt, từ đó tìm hiểu chức năng của hệ thống thanh điệu trong từ đơn tiết và từ láy đôi tiếng Việt

Trang 9

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Để xác lập vốn từ tiếng Việt (cụ thể là từ đơn tiết và từ láy đôi tiếng Việt), chúng tôi xây dựng nguyên tắc và phương pháp thống kê từ đơn tiết và

từ láy đôi Từ các nguyên tắc và phương pháp làm việc, chúng tôi tiến hành

lựa chọn cuốn “Từ điển tiếng Việt”, 2008 do Hoàng Phê (chủ biên); “Từ điển

từ láy tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ, làm nguồn tư liệu gốc, đối chiếu với cuốn “Đại từ điển tiếng Việt” Nguyễn Như Ý (chủ biên),

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những nhiệm vụ mà khoá luận đề ra, chúng tôi chủ yếu

sử dụng các phương pháp, thủ pháp làm việc sau:

- Dùng phương pháp thống kê ngôn ngữ học để xác lập danh sách từ đơn, từ láy đôi và làm cơ sở ngữ liệu cho khoá luận

- Dùng các thủ pháp phân tích, miêu tả, tổng hợp để tiến hành thiết lập các hàm tương quan giữa cấu trúc và chức năng, sự phân bố thanh điệu trong

từ đơn, từ láy đôi

Ngoài các phương pháp trên, chúng tôi còn tận dụng ngữ cảm của người bản ngữ, những kiến thức về phương ngữ học, văn hoá dân gian để thực hiện đề tài

5 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận chưa thể và không thể giải quyết được tất cả những vấn đề cấu trúc âm vị học tiếng Việt, nhưng mọi cố gắng của khoá luận là nhằm miêu

tả sự phân bố thanh điệu và các thuộc tính âm vị học thanh điệu cùng với các nét của thanh điệu được thể hiện một cách tự nhiên trong việc tham gia cấu tạo từ đơn tiết, từ láy đôi để tạo tiền đề, cơ sở cho việc tìm hiểu chức năng của thanh điêu Những đặc điểm này góp phần tạo nên cơ sở quan trọng gợi ý cho việc giải thích các tương quan âm vị học có trong hệ thống âm vị tiếng Việt cả mặt lịch đại cũng như đồng đại

Trang 10

Các kết quả khi tìm hiểu vai trò của thanh điệu trong từ đơn tiết và từ láy đôi tiếng Việt góp phần vào nghiên cứu và giảng dạy từ đơn và từ láy Các kết luận bước đầu của khoá luận góp thêm hiểu biết về một lĩnh vực trung gian nằm giữa âm vị học và hình thái học – lĩnh vực hình âm vị học

6 Bố cục của khoá luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khoá luận được triển khai trong ba chương:

Chương 1: Những giới thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Chức năng của thanh điệu trong từ đơn tiết

Chương 3: Chức năng của thanh điệu trong từ láy đôi

Trang 11

Chương 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Thanh điệu trong tiếng Việt

âm nhưng khó lòng định vị được chúng trong âm tiết Người ta buộc phải thừa nhận giá trị khu biệt của thanh điệu, coi đó là âm vị đặc biệt – âm vị siêu đoạn tính

1.1.2 Khái niệm thanh điệu

Thanh điệu là một âm vị siêu đoạn tính, là sự nâng cao hay hạ thấp giọng nói trong một âm tiết có tác dụng khu biệt các từ có nghĩa khác nhau

Theo Đoàn Thiện Thuật: Nó được biểu hiện trong toàn âm tiết hay đúng hơn

là toàn bộ phần tính của âm tiết (bao gồm cả âm đầu, âm đệm, âm chính và

âm cuối) /Ngữ âm tiếng Việt, NXB ĐHQGHN, 2002, tr.100/ Các thanh điệu

tiếng Việt được ghi bằng các kí hiệu chữ viết: “\” (huyền) “?” (hỏi), “~” (ngã), “/” (sắc), “.” (nặng) Có những âm tiết khi ta viết không có dấu nhưng trong thực tế khi phát âm có một thanh điệu gọi là thanh ngang (không dấu)

như: “ta, đi, thôi, ” Nếu như ngữ điệu là đặc trưng của câu nói, trọng âm là

đặc trưng của từ thì thanh điệu là đặc trưng của âm tiết

1.1.3 Chức năng của thanh điệu

Thanh điệu có chức năng như một âm vị, nó tham gia vào việc cấu tạo các âm tiết, cấu tạo từ và phân biệt ý nghĩa của từ Nó là một yếu tố tạo nên

Trang 12

nét đặc trưng của tiếng Việt – một ngôn ngữ có thanh điệu khác với các ngôn ngữ không có thanh điệu

Nhờ có thanh điệu mà câu văn, câu thơ, lời nói tiếng Việt có tính nhạc điệu, truyền cảm Căn cứ vào độ cao và âm điệu của các thanh trong từ Việt

mà chúng ta xây dựng các quy tắc về âm luật trong thơ Chẳng hạn: Chúng ta phân biệt vần bằng, vần trắc và cách lập vần trong các thể thơ song thất lục bát, lục bát, thể thơ tứ tuyệt, thất ngôn tứ tuyệt Ngoài ra, các nhà thơ còn sáng tạo những sự kết hợp âm điệu của các thanh để tạo nên những biến thiên

đa dạng nhằm diễn tả nội dung, tư tưởng, tình cảm muôn màu, muôn vẻ của đời sống và làm cho tiếng Việt giàu và đẹp hơn

1.1.4 Các tiêu chí phân biệt thanh điệu

Các nét khu biệt của thanh điệu gồm âm vực và âm điệu

Căn cứ vào tài liệu ngữ âm học thực nghiệm, dựa vào sự phân tích các đường ghi của máy chụp tự động, các tác giả N.Đ.Ađrêep và M.V.Gordina đã xây dựng được biểu đồ các thanh điệu tiếng Việt

Nhìn chung, căn cứ vào độ cao, 6 thanh điệu tiếng Việt được chia làm hai nhóm:

- Nhóm thanh điệu cao gồm các thanh: /1/, /3/, /5/ (tức là gồm các thanh ngang, thanh ngã, thanh sắc)

- Nhóm thanh điệu thấp gồm các thanh: /2/, /4/, /6/ (tức là gồm các thanh huyền, thanh nặng, thanh hỏi)

Trang 13

Như vậy, nói đến thanh điệu, trước hết là nói đến âm vực Sự khu biệt giữa thanh này với thanh khác là sự khác nhau về âm vực Âm vực là một trong những tiêu chí thoả đáng âm vị học của thanh điệu

1.1.4.2 Âm điệu (đường nét)

Âm điệu là sự biến thiên cao độ theo thời gian và đặc trưng này dễ dàng nhận thấy trong thanh điệu Sự biến thiên của độ cao (đường nét) có thể bằng phẳng, có thể không bằng phẳng Thế đối lập này còn được gọi là biến điệu và không biến điệu

Căn cứ vào đường nét âm điệu, hệ thanh Việt chia làm hai nhóm:

- Những thanh có đường nét bằng phẳng (truyền thống gọi là thanh bằng) gồm: thanh ngang (không dấu) và thanh huyền

- Những thanh có đường nét không bằng phẳng (truyền thống gọi là thanh trắc) gồm thanh ngã, thanh hỏi, thanh sắc và thanh nặng

Trong các thanh trắc, có thể chia ra làm các thanh có đường nét gãy (gồm thanh hỏi, thanh ngã) và thanh có đường nét không gãy (gồm thanh sắc, thanh nặng)

Về đặc trưng biến điệu, lại có sự phân biệt giữa hướng đi lên và đi xuống Thanh sắc là thanh đi lên, thanh nặng là thanh đi xuống

Khi đánh giá, phân loại thanh điệu không ai không nhắc tới âm điệu Đường nét bằng phẳng hay không bằng phẳng, đi lên hay đi xuống thì mọi người đều thừa nhận Các thanh không dấu, huyền, sắc, ngã được đánh giá khá nhất trí Tuy còn có sự tranh cãi ở một vài thanh điệu nhưng rõ ràng có một điều không thể chối cãi được là các thanh điệu khu biệt nhau không phải chỉ về độ cao mà còn về sự biến thiên của nó tương ứng với thời gian Âm điệu hiển nhiên được kể như một tiêu chí khu biệt âm vị học

Như vậy, theo quan niệm truyền thống, các thanh điệu Việt có ba sự đối lập có giá trị âm vị học, đó là: 1/ cao – thấp, 2/ gãy – không gãy, 3/ đi lên –

đi xuống Theo chúng tôi, các thanh điệu còn được khu biệt bằng chất lượng thanh, tức là nét đồng chất và dị chất Đồng chất gồm các thanh: thanh ngang,

Trang 14

thanh huyền, thanh hỏi, thanh sắc Dị chất gồm các thanh: thanh ngã, thanh nặng

1.2 Khái niệm từ đơn

1.2.1.Các quan niệm về từ đơn

Từ là đơn vị cơ bản của từ vựng và ngôn ngữ nói chung Chính vì thế,

trong các đơn vị ngôn ngữ, “Từ là đơn vị duy nhất có thể đảm nhận nhiều chức năng nhất Chức năng cơ bản của từ là chức năng định danh, chức năng phân biệt nghĩa” / Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tỉếng Việt, NXB ĐH và

THCN, 1985, tr.19/ Trong nhiều năm, các nhà Việt ngữ học đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này và tuỳ tính chất của từng chuyên ngành mà vốn từ được bàn luận theo những chiều hướng và mức độ khác nhau Những kết quả đạt được

đã trở thành những kiến thức giáo khoa không chỉ dùng cho sinh viên ngành ngữ văn mà còn phổ biến đến tận các chương trình phổ thông cơ sở Khái niệm từ bao gồm: từ đơn, từ phức, từ ghép, từ láy và các đơn vị tương đương với từ đã được các nhà ngữ học bàn thảo khá đầy đủ Ở đây chúng tôi chỉ quan tâm và xem xét từ đơn

Ngay từ những năm đầu thế kỉ XX, các tác giả Nguyễn Hiệt Chi, Lê

Thước đã bàn đến từ đơn: “Từ có thân từ trùng với căn tố, nghĩa là từ mà trong thành phần cấu tạo không thể tách ra thành tố phụ Từ trong tiếng Việt chỉ do một hình vị (âm tiết, tiếng) có ý nghĩa tạo nên Ví dụ: học, làm, nhà, ruộng, đẹp, cao, ” /Các tác giả, Sách mẹo tiếng Nam, Lê Văn Tâm xuất bản,

1935/

Tác giả Nguyễn Văn Tu lại cho rằng: “Một từ đơn âm tiết là tổ hợp âm thanh gồm một đơn vị hay nhiều đơn vị với thanh điệu kết hợp chặt chẽ với nhau làm thành một âm tiết, diễn đạt một nội dung không thể chia nhỏ và có chức năng ngữ pháp nhất định” /Nguyễn Văn Tu, Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, NXBGD, 1986/

Theo tác giả Hồ Lê: “Trước hết cần phải phân ra từ đơn và từ ghép Từ đơn là từ do một nguyên vị có khả năng dùng độc lập tạo thành Từ ghép là từ

Trang 15

gồm hai nguyên vị trở lên”, /Hồ Lê, Vấn đề cấu tạo thành tiếng Việt hiện đại,

NXBKHXH, 1976/

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Từ đơn là những từ một hình vị Về mặt ngữ nghĩa, chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ”,

NXBGD, 1981/

Tập thể tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến

cũng cho rằng: “Phương thức dùng một tiếng làm một từ sẽ cho ta các từ đơn (còn gọi là từ đơn tiết) Vậy từ đơn ở đây được hiểu là những từ được cấu tạo bằng một tiếng Ví dụ: tôi, bác, nhà, cây, đi, chạy, vui, buồn, vì, nếu, đã, ừ, nhỉ, nhé, /Các tác giả, Cơ sở ngôn ngữ học đại cương và tiếng Việt,

NXBĐH và THCN, 1990/

Xung quanh định nghĩa về từ đơn, có thể dẫn ra rất nhiều định nghĩa khác Tiếp sau, chúng tôi trình bày quan niệm của các nhà Việt ngữ học mà khoá luận lựa chọn để giải quyết vấn đề

1.2.2 Quan niệm về từ đơn khoá luận lựa chọn

Trong khó luận này, chúng tôi dựa trên khung lí thuyết về từ và các đơn

vị cấu tạo từ tiếng Việt của hai giáo sư Nguyễn Thiện Giáp và Nguyễn Tài Cẩn

1.2.2.1 Quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp

Trong cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ học”, NXBGD, 1997, phần viết về từ vựng, tác giả cho rằng trong tiếng Việt, những tiếng như: bố, mẹ, ba, bốn, đây, đâu, đó, và, với, nhà, cây, đi, cười, đẹp, à, ừ, nhỉ, nhé, đều được coi là

từ đơn Lí do là: chúng đều là những cấu trúc có tính hoàn chỉnh, không thể xen thêm một đơn vị nào vào giữa; vừa có tính độc lập, có thể tách rời khỏi các đơn vị khác một cách dễ dàng Về mặt ngữ âm, chúng đều là những âm tiết cấu tạo theo đúng nguyên tắc ngữ âm tiếng Việt Về mặt chính tả, chúng được viết liền thành một khối theo đúng quy tắc chính tả hiện hành Chúng

Trang 16

đều biểu thị những sự vật, hiện tượng và những quan hệ của thực tại như: nhà, cây, đi, cười, Nói một cách khác là các từ này có một ý nghĩa từ vựng mà ta

chỉ ra được Người ta gọi đó là các thực từ Lại có những đơn vị chỉ có chức năng dẫn xuất và chức năng biểu hiện mà không có chức năng định danh như:

và, với, tuy, sẽ, nhưng, Nói một cách khác, các từ này chỉ có chức năng ngữ

pháp thuần tuý mà không có ý nghĩa từ vựng Người ta gọi các từ này là các

hư từ Mỗi lớp từ như vậy là một hệ thống lớn Mỗi hệ thống lớn lại bao hàm nhiều hệ thống nhỏ Chẳng hạn, trong lớp thực từ ta có thể tập hợp các từ có

cùng một ý nghĩa chung thành các nhóm khác nhau: 1/ Nhóm 1: ăn, ngủ, đi, đến, đổ, biểu thị ý nghĩa hành động, trạng thái 2/ Nhóm 2: nhà, áo, xe, bút, sách, biểu thị ý nghĩa sự vât, hiện tượng 3/ Nhóm 3: đẹp, xấu, to, dài, cao, thấp, biểu thị tính chất, đặc điểm Người ta gọi nhóm 1 là nhóm động từ,

nhóm 2 là nhóm danh từ, nhóm 3 là nhóm tính từ Cứ theo cách như vậy, ta có thể tách các nhóm này thành các nhóm nhỏ hơn nữa Như vậy, một nhóm lớn bao giờ cũng bao gồm nhiều nhóm con theo những thứ bậc và trình tự nhất định Bên cạnh đó, còn có những đơn vị chỉ dẫn xuất tình thái, cảm xúc nào

đó trong thực tại chứ không có chức năng định danh như: à, ôi, ái, , những đơn vị như: tôi, nó, đấy, nọ, kia, vẫn có ý nghĩa và ý nghĩa đó chỉ bộc lộ

trong những hoàn cảnh nhất định Như vậy, ý nghĩa của những đơn vị (tiếng) đang xét rất đa dạng, trong bất cứ trường hợp nào ta cũng thấy sự gắn bó không tách rời giữa mặt hình thức vật chất với mặt nội dung ý nghĩa

Các đơn vị như trên đều tham gia vào cấu tạo câu nói Tuỳ theo tính chất, ý nghĩa của mình, chúng có thể đảm nhận những chức năng ngữ pháp

khác nhau ở trong câu Những đơn vị như: bàn, đi, ăn , đẹp, tốt, có thể làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ Những đơn vị như: những, các, vẫn, đều, mãi, luôn

đi kèm với những đơn vị biểu thị sự vật, hành động, tính chất, bổ sung thêm ý

nghĩa cho những đơn vị đó Những đơn vị như: của, để, vì, bởi, nên, và, với,

mà, thì, làm chức năng liên kết các từ, nhóm từ hay mệnh đề trong câu Còn các đơn vị như: à, ôi, hả, ơi, đem lại cho câu nói một tình thái nào đó

Trang 17

Những đặc trưng của cả phương diện vật chất lẫn mặt chức năng ý nghĩa trên đây đã làm cho những đơn vị đang xét trở thành một loại đơn vị thực tại, hiển nhiên nhất đối với mỗi người nói tiếng Việt, tức là chúng trở thành từ đơn tiếng Việt

1.2.2.2 Quan niệm của GS Nguyễn Tài Cẩn

Trong tiếng Việt, có một loại đơn vị xưa nay người ta thường xuyên gọi

là “tiếng”, “tiếng một” hay là “chữ”, ví dụ: ăn, học, nhà, cửa, cao, rộng, và,

đã, sẽ, , gọi loại đơn vị này là “tiếng”, “tiếng một”, tức là căn cứ vào ngữ âm; còn gọi là “chữ”, tức là căn cứ vào mặt văn tự (chữ viết) Trong tiếng

Việt, mỗi tiếng bao giờ cũng phát ra một hơi, nghe thành một tiếng và có mang một thanh điệu nhất định Trong quan niệm của chúng tôi, mỗi một tiếng như thế chính là một đơn vị gốc – một hình vị - của ngữ pháp tiếng Việt

Như vậy, tiếng là đơn vị có đủ cả hai đặc trưng: “đơn giản về mặt tổ chức và

có giá trị về mặt ngữ pháp” (Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt,

NXBĐHQGHN, 1997)

Nói: “tiếng là đơn vị đơn giản nhất về mặt tổ chức” là vì: xét ở góc độ

ngữ pháp, mỗi tiếng làm thành một chỉnh thể, không thể xé ra thành những bộ

phận nhỏ hơn được nữa Còn nói: “tiếng có giá trị về mặt ngữ pháp” là vì:

trong tiếng Việt, mỗi tiếng bao giờ cũng giúp ta giải thích được, phân tích được tổ chức bên trong của những đơn vị trực tiếp lớn hơn nó Do đó, khi chúng ta tiến hành khảo sát, mỗi tiếng bao giờ cũng có thể tách rời khỏi những tiếng bên cạnh bằng những đường ranh giới ngữ pháp Tiếng còn có khả năng giải thích về mặt ngữ nghĩa Tiếng cũng có khả năng giải thích mặt đơn thuần hình thức Tác dụng của tiếng về mặt hình thái đơn thuần thể hiên

rõ nhất khi khảo sát các hiện tượng tách, hiện tượng lặp và hiện tượng iếc hoá

1.2.3 Đặc điểm của từ đơn tiếng Việt

Từ đơn tiếng Việt có những đặc điểm sau đây:

- Từ và các hình vị tiếng Việt đều có vỏ ngữ âm là âm tiết Trong các ngôn ngữ Ấn – Âu, từ có thể đơn tiết, có thể đa tiết Trong tiếng Việt, mỗi từ

Trang 18

đơn là một âm tiết Như vậy, từ của tiếng Việt trùng với hình vị Đây là một đặc điểm khác biệt giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ Ấn – Âu, những ngôn ngữ

mà từ có thể gồm nhiều hình vị Do đó, từ đơn tiếng Việt còn được gọi là từ đơn tiết

- Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm (chẳng hạn: lời – nhời, trời – giời, trăng – giăng, nhăn – răn, ), biến thể từ vựng - ngữ nghĩa: các ý nghĩa khác nhau của các từ: chân, ăn, bạc nhưng không có biến thể hình thái học

Dù đứng trong câu hay đứng riêng lẻ, một mình bao giờ chúng cũng giữ nguyên một hình thức Đây là một điều khác hẳn với các ngôn ngữ Ấn – Âu

Ở các ngôn ngữ này, từ có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau

- Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn bó chặt chẽ với nhau ở trong từ tiếng Việt Vì vậy, ý nghĩa của từ tiếng Việt thường có tính trừu tượng, khái quát Chỉ khi kết hợp với các từ khác, ý nghĩa của nó mới được cụ thể hóa Ở các ngôn ngữ biến hình, ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp được biểu thị bằng những bộ phận khác nhau của từ

1.3 Khái niệm từ láy

1.3.1 Các quan niệm về từ láy trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt có hai phương thức cấu tạo từ cơ bản: phương thức ghép và phương thức láy Phương thức ghép tạo ra các từ ghép, còn phương thức láy tạo ra các từ láy Từ láy khác với từ ghép không những về phương thức cấu tạo mà còn về những đặc điểm riêng của nó cả ở hình thức lẫn nội dung ý nghĩa Từ láy, vì thế có một giá trị đặc biệt trong tiếng Việt, góp phần làm nên bản sắc của tiếng Việt – một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập

Trong mấy thập kỉ qua, từ láy đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

và cũng đã có nhiều tên gọi khác nhau xung quanh khái niệm từ láy: “từ phản điệp” (Đỗ Hữu Châu, 1962), “từ lắp láy” (Hồ Lê, 1976), “từ lấp láy” (Nguyễn Nguyên Trứ, 1970), “từ láy âm” ( Nguyễn Tài Cẩn, 1975, Nguyễn Văn Tu, 1976), “từ láy”, (Hoàng Tuệ, 1978; Đào Thản, 1970; Hoàn Văn

Hành, 1979, 1985; Nguyễn Thiện Giáp, 1985; Đỗ Hữu Châu, 1981, 1986;

Trang 19

Diệp Quang Ban, 1989), “từ ngữ kép phản phúc” ( Lê Văn Lý, 1972),… Sự

tồn tại nhiều tên gọi khác nhau về cùng một khái niệm cho thấy quan niệm của các nhà nghiên cứu về từ láy hoàn toàn không giống nhau

Nếu liệt kê toàn bộ các loại từ mang các tên gọi như trên và gọi chúng

bằng cái tên chung là “từ láy”, thì bộ mặt của từ láy hiện ra sẽ rất bề bộn

Nhưng trải qua mấy chục năm nghiên cứu, quan niệm về các lớp từ này đã xích lại gần nhau hơn Có thể thấy hai cách nhìn nhận khác nhau đối với hiện tượng láy

Cách nhìn thứ nhất coi láy là ghép Đó là các tác giả: Lê Văn Lý (1972); Thompson (1965); Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê (1963); Nguyễn Văn Tu (1976), Nguyễn Tài Cẩn (1975); Nguyễn Thiện Giáp (1985); Mai Ngọc Chừ (1990); Hồ Lê (1976) Trong đó, một quan niệm về từ láy, có

lẽ vào loại rộng nhất là quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn Theo quan niệm đó thì từ láy là “loại từ ghép, trong đó, theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay, các thành tố trực tiếp phải có sự tương ứng với nhau về hai mặt: mặt yếu

tố siêu âm đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa vần và âm cuối vần) […] Sở dĩ trong định nghĩa phải nói “theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay” là vì có nhiều tổ hợp vốn trước đây thuộc vào kiểu ghép nghĩa, nhưng hiện nay đứng trên diện đồng đại mà xét thì

đã chuyển sang thành kiểu láy âm” (Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt,

1975, tr 109 – 111) Tuy là quan niệm rộng nhất hiện nay về từ láy, nhưng theo quan niệm đó thì các loại từ như sau cũng bị loại ra khỏi phạm vi của lớp

từ này Đó là: 1/ Những từ mà hai yếu tố chỉ có sự láy lại ở riêng thanh điệu

(kiểu như: tình cờ, vững chãi, bẩn thỉu) như quan niệm của Lê Văn Lý về từ

ngữ kép phản phúc 2/ Những từ mà chỉ có sự láy lại ở riêng âm chính trong

hai yếu tố (kiểu như: ton hót, tun hút, vườn tược, tạp nham, kín mít,…) 3/

Những tổ hợp mà sự láy lại chỉ là cách lặp của lời nói, không có khả năng tạo

đơn vị ngôn ngữ (kiểu như: vâng vâng, dạ dạ, phải phải, có có,…) Ngoài ra,

một số nhà nghiên cứu cũng muốn đưa ra khỏi phạm vi từ láy những loại từ

Trang 20

sau: 1/ Những từ vốn là từ ghép, nhưng một trong hai yếu tố hiện không còn

rõ nghĩa, như: chùa chiền, tuổi tác, sân sướng, hỏi han,…; 2/ Những từ vốn là

từ gốc Hán như: hỗn độn, hùng hổ, hàn huyên, lưỡng lự, bàng hoàng,…; 3/ Những từ là danh từ định danh sự vật như: chuồn chuồn, ba ba, bươm bướm, cào cào, chôm chôm, tu hú, thằn lằn,…; 4/ Những tổ hợp thực chất chỉ là sự lặp lại của một đơn vị từ vựng như: người người, ngày ngày, ai ai, bàn biếc, học hiệc,… Ngoại trừ những trường hợp trên, từ láy bao gồm những từ được

tạo ra bằng phương thức láy, trong đó mỗi từ nhiều nhất là có một tiếng gốc

Cách nhìn thứ hai coi láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hóa Cách nhìn này thể hiện ở nhận định cho rằng trong từ láy có sự chi phối của luật hài âm, hài thanh Theo Hoàng Tuệ, từ láy nên được xem xét về mặt

cơ trình cấu tạo của nó nữa, chứ không thể về mắt cấu trúc mà thôi: “Nên hiểu rằng láy, đó là phương thức cấu tạo những từ mà trong đó có một sự tương quan âm – nghĩa nhất định Tương quan ấy có tính chất tự nhiên, trực tiếp trong trường hợp những từ như gâu gâu, cu cu,… Nhưng tương quan ấy tinh

tế hơn nhiều, được cách điệu hóa trong những từ như lác đác, bâng khuâng, long lanh,… Sự cách điệu hóa ấy chính là sự biểu trưng hóa ngữ âm (…) Cho nên, láy là một sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hóa” (Hoàng Tuệ, Về những từ gọi là “từ láy” trong tiếng Việt, 1978, tr 23)

Thừa nhận láy là sự hoà phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hoá thì chính

là đã “coi láy là một cơ chế” Quá trình cấu tạo từ láy là một quá trình phức

tạp Cơ trình này quán xuyến cả mặt ngữ âm và ngữ nghĩa Cơ trình cấu tạo từ láy chịu sự chi phối của xu hướng hoà phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hoá

(Hoàng Văn Hành, Từ láy trong tiếng Việt, 1985 tr 56) Tác giả Phi Tuyết Hinh nhấn mạnh thêm: “Quan hệ ngữ âm trong từ láy không nên giải thích một cách chung chung mà nên hiểu có quan hệ ngữ âm trong từ láy là sự lặp lại một hình thức ngữ âm nào đó (phụ âm đầu, hoặc vần, hoặc toàn bộ âm tiêt) giữa các thành tố của từ láy” (1983, tr 57)

Trang 21

Do có hai cách nhìn khác nhau đối với hiện tượng láy trong tiếng Việt tất yếu dẫn đến những định nghĩa khác nhau về từ láy Nếu coi láy là ghép thì

từ láy âm là từ ghép mà các thành tố kết hợp với nhau theo quan hệ ngữ âm

(Nguyễn Tài Cẩn, 1975) Đó là: “từ ghép láy âm ( ) được tạo thành bằng việc ghép lại hai từ tố hoặc hai âm tiết có quan hệ ngữ âm trên cơ sở láy âm, trên cơ sở láy lại bản thân các âm tiết chính hoặc các từ tố chính” (1976, tr

68) Ngược lại, nếu coi láy là sự hoà phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hoá thì những tác giả ủng hộ quan điểm này thừa nhận láy được cấu tạo từ phương

thức cấu tạo từ đặc biệt Hoàng Tuệ coi “Từ láy là những từ đa tiết mà giữa các âm tiết có quan hệ ngữ âm” (Hoàng Tuệ, 1978, tr 21) Đỗ Hữu Châu coi

“Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm: Nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” (1981, tr 38) Nguyễn Thiện Giáp lại coi: “Từ láy là những cụm từ cố định được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi về ngữ âm nào đó của từ đã có Chúng vừa có sự hài hoà về ngữ âm, vừa có giá trị biểu cảm, gợi tả” (1985, tr 91) Mặc dù cũng xem láy là phương thức tạo từ nhưng Diệp Quang Ban lại xem “Từ láy là một kiểu từ phức (từ đa tiết) được tạo ra bằng phương thức hoà phối ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa” (1989, tr 33)

Xung quanh định nghĩa về từ láy có thể dẫn ra nhiều định nghĩa khác Tiếp sau, chúng tôi xin trình bày quan niệm của các nhà Việt ngữ học mà khoá luận lựa chọn để giải quyết vấn đề

1.3.2 Quan niệm về từ láy khoá luận lựa chọn

Trong khoá luận này, chúng tôi dựa trên khung lí thuyết về từ láy và các đơn vị cấu tạo từ láy tiếng Việt của Hoàng Văn Hành và Hà Quang Năng

Trong cuốn “Từ láy – những vấn đề còn bỏ ngỏ” (NXBKHXH, 1998)

với vấn đề từ láy trong tiếng Việt, tác giả Hà Quang Năng đã thừa nhận:

Trang 22

“Trong tiếng Việt cũng như trong các ngôn ngữ cùng loại hình có một cơ chế láy với tư cách là một phương thức tạo từ thì rõ ràng cơ chế này được thể hiện trước hết ở mặt ngữ âm của các từ láy” Như vậy, đó là cơ chế thể hiện

quá trình tạo vỏ âm thanh từ một cách thuần nhất và bị chi phối bởi chính các luật âm vị học đang hành chức trong ngôn ngữ này Trong cảm thức và sự hiểu biết người bản ngữ, từ láy được xác định trước hết là nhờ đặc điểm về hình thức ngữ âm Cái được quan tâm trong từ láy là các thành tố tạo nên nó Không nên và cũng không thể tìm mọi cách để xác định cho bằng được thành

tố gốc và thành tố láy trong tất cả mọi từ láy tiếng Việt Đơn vị được sử dụng trong cơ chế láy để sản sinh ra các từ láy theo những quy tắc nhất định, đơn vị

đó chính là tiếng (âm tiết) Từ láy là từ đa tiết (thường gồm hai âm tiết) được tạo ra bằng phương thức hoà phối ngữ âm giữa các âm tiết tạo ra một tổng thể ngữ nghĩa có giá trị biểu trưng và sắc thái hoá

Như vậy, tiếng là đơn vị cơ bản, hoạt động trong cơ chế láy để tạo ra từ

láy Bên cạnh đó, tác giả còn nhấn mạnh: “Đối với láy, cái quyết định diện mạo của chúng chính là hình thức ngữ âm đặc thù do sự hoà phối âm thanh của các tiếng

Từ thực tế từ láy tiếng Việt, tác giả nhìn nhận theo 3 hướng:

1 Phân chia thành hai loại từ láy: từ láy xác định được thành tố gốc và từ láy không xác định được thành tố gốc Từ láy xác định được thành

tố gốc là từ mà nghĩa của nó được xác định nhờ cấu trúc của bản thân nó, trên

cơ sở nghĩa từ vựng của thành tố gốc, kiểu: đẹp đẽ, vuông vắn, khoẻ khoắn,

Từ láy không xác định được thành tố gốc là từ mà các thành tố tạo nên nó hoàn toàn không có nghĩa hay nghĩa của nó không thể giải thích được nhờ cấu

trúc của bản thân nó, kiểu: đủng đỉnh, lẽo đẽo, văng vặc, bâng khuâng, nhí nhảnh, thao láo,

2 Về nguyên lí cấu tạo từ láy thì trong thành phần cấu tạo của

nó, chỉ có thể có tối đa một thành tố có ý nghĩa và có khả năng hoạt động như một đơn vị độc lập (đối với loại từ láy xác định được thành tố gốc) Như vậy,

Trang 23

vấn đề từ láy gốc Hán trong tiếng Việt kiểu: đáo để, quy củ, hùng hổ, có nên

đặt vấn đề hay không khi về xuất xứ cả hai yếu tố đều có nghĩa nhưng hầu như không có khả năng hoạt động độc lập? Bởi điều này trái với nguyên lí cấu

từ láy nhưng nội dung, ý nghĩa không có đặc trưng biểu trưng do sự hoà phối

ngữ âm tạo ra Đó là những từ thuộc loại: ba ba, chôm chôm, cào cào, đu đủ,

Coi láy là một cơ chế, với tư cách là một phương thức cấu tạo từ là một quá trình diễn ra như sự hoạt động của một hệ thống những quy tắc chi phối việc tạo ra những từ đa tiết mà các tiếng của chúng nằm trong thế vừa điệp

vừa đối, tác giả Hoàng Văn Hành cho rằng: “Từ láy là những từ được tạo bằng phép trượt để nhân đôi từ tố gốc dưới sự chi phối của quy tắc đối và điệp thể hiện ở quá trình biến đổi ngữ âm hoặc kết hợp khuôn vần trong từ láy” (Hoàng Văn Hành, 1979) hoặc “ Từ láy nói chung là những từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan

hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp vừa đối, hài hoà với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị biểu trưng hoá” (Hoàng Văn Hành, 1991)

1.3.3 Phân loại từ láy

Từ láy cấu tạo theo phương thức hoà phối ngữ âm Vì thế, khi xem xét

từ láy, mặt ngữ âm cần phải được coi là dấu hiệu cơ bản Với tư cách là phương tiện tạo nên tính hình tượng, giá trị biểu trưng, sự hoà phối ngữ âm trong từ láy phải có quy luật rõ ràng Quy luật của sự hoà phối ngữ âm này không chỉ thể hiện ở những chỗ giống nhau mà còn thể hiện ở những chỗ

Trang 24

khác nhau đều đặn giữa các thành tố trong từ láy Từ láy tiếng Việt thường được phân loại dựa trên hai cơ sở: 1/ Số lượng âm tiết trong từ láy 2/ Sự đồng nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo của các thành tố trong từ láy do cách phối hợp ngữ âm tạo nên

Căn cứ theo số lượng tiếng trong từ láy thì trong tiếng Việt có các kiểu

từ láy hai tiếng, từ láy ba tiếng, từ láy bốn tiếng mà trong truyền thống nghiên cứu từ láy thường gọi là từ láy đôi, từ láy ba, từ láy tư Với cách phân loại này, từ láy đôi chiếm vị trí hàng đầu không chỉ vì nó chiếm số lượng lớn nhất trong tổng số từ láy tiếng Việt mà còn điều quan trọng hơn, ở từ láy đôi, các đặc trưng cơ bản thể hiện bản chất hiện tượng láy cả ở bình diện thể hiện bằng

âm thanh lẫn bình diện ngữ nghĩa đều được bộc lộ đầy đủ

1.3.3.1.Phân loại dựa vào số lượng thành tố

a Từ láy đôi

Xét về mặt ngữ âm, từ láy đôi là một kiến thức đồng chất gồm hai âm tiết, gọi tắt theo thứ tự là âm tiết 1 (AT1) và âm tiết 2 (AT2) có liên hệ với nhau bằng sự nhắc lại (láy lại) một vài đặc trưng ngữ âm học nào đó ở các bộ phận tạo thành âm tiết Căn cứ vào sự đồng nhất hay khác biệt trong các thành phần tạo nên các thành tố do sự phối hợp ngữ âm mà có, các từ láy đôi được phân loại thành: từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận

a.1 Từ láy hoàn toàn

Từ láy hoàn toàn là những từ có sự đồng nhất, tương ứng hoàn toàn

giữa các thành phần cấu tạo của hai thành tố như: ào ào, đùng đùng, lăm lăm, Tuy nhiên, láy hoàn toàn không phải là sự lặp lại âm thanh nguyên

vẹn, mà là sự lặp lại âm thanh có biến đổi theo những quy tắc hoà phối ngữ

âm chặt chẽ và có tác dụng tạo nghĩa Sự biến đổi ngữ âm ở từ láy hoàn toàn biểu hiện ở các mức độ khác nhau:

- Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng giống hệt nhau về thành phần cấu tạo chỉ khác nhau về trọng âm, thể hiện ở độ nhấn mạnh và độ kéo dài trong phát

Trang 25

âm Trọng âm thường rơi vào tiếng thứ hai của từ láy, ví dụ: khăng khăng, ngầu ngầu, kìn kìn,

- Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng có sự khác nhau về thanh điệu, do hiện tượng phát âm lướt nhẹ ở tiếng đầu nên xảy ra hiện tượng biến thanh

theo những quy luật chặt chẽ như: đo đỏ, mơn mởn, hây hẩy, chầm chậm,

Sự khác biệt về thanh điệu được thể hiện theo hai dấu hiệu: 1/ Đối lập bằng - trắc: thanh bằng gồm thanh ngã, thanh huyền, thanh nặng; thanh trắc gồm thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang 2/ Đối lập âm vực cao thấp theo quy luật cùng âm vực Sự phối hợp thanh điệu như trên hình thành quy luật hài thanh

Đối các thanh điệu bằng - trắc cùng âm vực như: nhẻm nhẻm → nhem nhẻm, trắng trắng → trăng trắng, mởn mởn → mơn mởn, Biến thanh là hình thức tăng cường sự hoà phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hoá Bên cạnh những

từ láy này, còn có những từ láy hoàn toàn biến thanh không theo những quy

luật vừa nêu như: khít khịt, rát rạt, sát sạt,

- Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng có sự khác nhau về âm cuối do hiện tượng phát âm lướt nhẹ ở tiếng đầu tiên nên có thể xảy ra hiện tượng biến vần

theo quy luật chặt chẽ: các phụ âm tắc và vô thanh p, t, k (thể hiện bằn chữ c

và ch) sẽ chuyển thành các phụ âm vang mũi cùng cặp m, n, ng (thể hiện bằng chữ nh và ng), ví dụ: chiếp chiếp → chiêm chiếp, bịp bịp → ìm bịp, sát sát

Từ láy âm là những từ láy, trong đó, âm đầu được láy lại Trong từ láy

âm, vần của hai âm tiết là khác biệt nhau Xét các vần trong số gần 3200 từ

Trang 26

láy, chúng tôi thấy một số lượng lớn các từ có âm chính tương ứng với nhau theo quy luật: luôn luôn có sự luân phiên giữa các nguyên âm khác dòng, cùng độ mở, các nguyên âm trầm luân phiên với các nguyên âm bổng, ở cùng một âm lượng Ví dụ:

[ô – ê]: gồ ghề, vỗ về, hổn hển, xộc xệch, bồng bềnh,

[u – i]: mụ mị, rung rinh, đủng đỉnh, xúm xít,

[ê – a]: ê a, hể hả, xuềnh xoàng, đểnh đoảng,

[i – a]: hỉ hả, hi ha, rỉ rả, xí xoá,

Một số khuôn vần trong từ láy có khả năng sản sinh cao, tạo thành hàng loạt từ có đặc trưng ngữ nghĩa riêng Ví dụ:

[ấp]: bấp bênh, cấp kênh, gập ghềnh, khấp khểnh,

[ăn]: lăn tăn, vuông vắn, xinh xắn, đỏ đắn, chín chắn,

[ang]: dở dang, bẽ bàng, nhỡ nhàng, giỏi giang,

Ngoài một số quy tắc biến vần trong từ láy âm vừa nêu trên, còn rất nhiều từ láy âm hiện nay vẫn chưa xác định được quy tắc biến đổi các thành phần khác nhau trong phần vần giữa hai âm tiết Chẳng hạn: những từ mà hai

tiếng đều không có nghĩa như: lung linh, ti toe, đủng đỉnh, thướt tha, hay những từ trong đó một tiếng có nghĩa và tự nó hoạt động như một từ: cập kênh, nồng nàn, lớn lao, thêm thắt,

a.2.2 Từ láy vần

Từ láy vần là những từ láy, trong đó, phần vần trùng lặp ở cả hai âm

tiết, còn phụ âm đầu khác biệt nhau Ví dụ: lác đác, bả lả, luẩn quẩn, lò dò, lẩm cẩm, Cả hai yếu tố trong từ láy phải giống nhau hoàn toàn ở phần vần

và thanh điệu phải phù hợp với luật “cùng âm vực” ( Từ tiếng Việt, hình thái, cấu trúc,từ láy, chuyển loại, tr 85)

Sự khác biệt về phụ âm đầu ở từ láy vần rất đa dạng Tư liệu thống kê cho thấy từ láy vần đã hình thành những cặp phụ âm đầu phối hợp với nhau theo quy luật: Trong mỗi cặp, hai phụ âm đầu phải khác nhau về phương thức

và bộ vị cấu âm Đáng chú ý là có đến một nửa số từ láy kiểu này có phụ âm

Trang 27

đầu l- ở AT1 (641/1307 từ) Đây là một phụ âm bên đối lập với tất cả phụ âm

còn lại, nên có thể phối hợp gần hết với tất cả phụ âm đầu khác trong việc cấu tạo từ láy vần

b Từ láy ba

Từ láy ba trong tiếng Việt có khoảng bốn chục từ Đó là những đơn vị gồm ba tiếng có sự hoà phối ngữ âm với nhau Các từ láy ba trong tiếng Việt đều có một đặc điểm chung, đó là: trong ba âm tiết tạo nên từ láy ba luôn luôn

có một âm tiết có nghĩa, có khả năng sử dụng độc lập, thường được nhà nghiên cứu gọi là tiếng gốc Vậy, từ láy ba là kết quả của hai lần lặp lại tiếng gốc bằng cách thay đổi thanh điệu theo những quy luật nhất định Quy tắc biến đổi thanh điệu ở từ láy ba thường gặp : Tiếng thứ hai của từ láy ba thường mang thanh bằng (phổ biến là thanh huyền, thanh ngang ít hơn) Tiếng

thứ nhất và thứ ba phải đối lập với nhau về bằng / trắc: tẻo tèo teo, cỏn còn con, tỉnh tình tinh, hoặc đối lập nhau về âm vực cao / thấp: khít khìn khịt, sát sàn sạt, tuốt tuồn tuột, Tuỳ yếu tố gốc có thanh điệu bằng hay trắc, ở âm

vực thấp hay cao mà nó có thể ở vị trí thứ nhất hay thứ ba sao cho phù hợp với khuôn thanh điệu đã nêu

c Từ láy tư

Láy tư là những từ gồm bốn tiếng trong thành phần cấu tạo của nó Hầu hết các công trình nghiên cứu từ láy đều cho rằng từ láy tư thường được tạo ra trên cơ sở của từ láy đôi bộ phận Nhưng khi đi vào nghiên cứu cụ thể thì còn

có những ý kiến khác nhau khá nhiều Theo tác giả Nguyễn Tài Cẩn, láy tư là

“loại từ láy xây dựng trên cơ sở láy đôi” (1975, tr 31); còn Hoàng Văn Hành lại cho rằng láy tư là “kết quả của phép nhân đôi từ láy đôi dưới sự chi phối của quy tắc điệp và đối” (1985,tr 65 - 66) Láy là sự hoà phối ngữ âm có tác

dụng tạo nghĩa Bản thân sự hoà phối ngữ âm đòi hỏi tính cân đối nên dễ hiểu,

từ láy tư được xây dựng trên từ láy đôi khi mà những từ láy đôi gồm hai tiếng

có quan hệ hoà phối ngữ âm với nhau có tác dụng tạo nghĩa, trong đó, mỗi tiếng có thể không có nghĩa, không hoạt động độc lập hoặc chỉ có một tiếng

Trang 28

có nghĩa, hoạt động độc lập (yếu tố gốc) Chẳng hạn: hấp tấp > hấp ta hấp tấp, hớt hải > hớt ha hớt hải, hùng hổ > hùng hùng hổ hổ,

1.3.3.2 Phân loại dựa vào tính chất thành tố

Dựa vào tính chất của thành tố có thể phân từ láy thành hai loại: Từ láy xác định được thành tố gốc và từ láy không xác định được thành tố gốc Từ láy không xác định được thành tố gốc là những từ láy mà các thành tố tạo nên

nó hoàn toàn không có nghĩa hay nghĩa của nó không thể giải thích được nhờ

cấu trúc của bản thân nó, kiểu như: đủng đỉnh, trùng trình, vằng vặc, bâng khuâng, nhí nhảnh, thao láo, Từ láy xác định được thành tố gốc là những từ

có một thành tố trong từ có hình thức đồng nhất với một đơn vị từ vựng tự nhiên có nghĩa tồn tại độc lập ở bên ngoài từ láy (đó là thành tố gốc) Chẳng

hạn: sạch sẽ, dễ dàng, nhỏ nhắn, lạch cạch, bối rối, trăng trắng, tim tím, 1.3.3.3.Phân loại dựa vào sự đồng nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo của các thành tố

Khi ta căn cứ vào sự đồng nhất hay khác biệt trong các thành phần cấu tạo nên các thành tố do sự phối hợp ngữ âm mà có, các từ láy đôi được phân loại thành từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận (đã trình bày ở trên)

1.4 Tiểu kết

Trên đây là những vấn đề lí thuyết, là tiền đề để có thể xác lập danh sách từ đơn tiết, từ láy đôi làm cơ sở cho việc tìm hiểu chức năng của thanh điệu trong tiếng Việt, cụ thể là chức năng của thanh điệu trong từ đơn tiết và

từ láy đôi tiếng Việt Tiếp theo, ở chương 2, chúng tôi tập trung tìm hiểu chức năng của thanh điệu trong từ đơn tiết tiếng Việt

Trang 29

Chương 2 CHỨC NĂNG CỦA THANH ĐIỆU TRONG TỪ ĐƠN TIẾT

TIẾNG VIỆT 2.1 Sự phân bố của thanh điệu trong từ đơn tiết

2.1.1 Việc lựa chọn từ đơn cho thống kê

2.1.1.1 Mục đích

Từ đơn là lớp từ trung tâm trong vốn từ của tiếng Việt, là đơn vị đầu tiên hình thành nên các loại từ khác Bởi vậy, khi nghiên cứu về từ của tiếng Việt không thể không nhắc đến vai trò và vị trí của từ đơn Chính vì vị trí, tính chất quan trọng của lớp từ này nên việc có thêm một khảo sát nữa trong danh mục các công trình đã nêu ở trên cũng là một lẽ thường tình Xét về mặt cấu tạo, từ là đơn vị được hình thành nhờ việc kết hợp các hình vị lại với nhau Hình vị là đơn vị được hình thành nhờ việc kết hợp các âm vị lại với nhau Như vậy, từ đơn là từ do một đơn vị tạo thành Hình vị này có thể có ý nghĩa từ vựng hoặc ý nghĩa ngữ pháp

Đa số từ đơn trong tiếng Việt đều nằm trong vốn từ cơ bản của tiếng

Việt, có từ lâu đời Đó là các từ như: cha, mẹ, tay, chân, cơm, nước, ăn, uống, cười, nói, nhưng, và, nhỉ, , có những tíếng gốc Hán hoặc gốc châu Âu (chủ

yếu là gốc Pháp) được Việt hoá cao độ cũng tham gia vào loại từ này như:

tim, gan, buồng, buồn, cồn, xăng, xăm, lốp, và những tiếng Hán Việt không

có từ đồng nghĩa thuần Việt cạnh tranh như: tuyết, bút, cao, thấp, học, đáp, Vì những lẽ trên, việc lựa chọn từ đơn tiết còn cho biết thêm đôi điều

về nguồn gốc cũng như lịch sử tiếng Việt Trong số từ thuần Việt thì 60 % đơn vị là từ đơn tiết Hầu hết từ thuần Việt là những từ thông dụng, gọi tên những sự vật, hiện tượng, hoạt động gần gũi trong đời sống hàng ngày

Chính kết cấu đặc biệt là hình vị trùng với âm tiết đã khiến cho âm tiết tiếng Việt khác biệt so với các ngôn ngữ Châu Âu Ở đây, tiếng là một loại hình vị đặc biệt: một hình tiết Tiếng còn có đặc trưng của một đơn vị gốc và

Trang 30

có thể vận dụng độc lập như một từ Điều lí thú nữa là mô hình cấu tạo từ ghép từ các từ đơn tiết Tiếng Việt là ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập phân tiết tính, khôg có biến hoá hình thái Vì lẽ đó, tiếng đã được coi là đơn vị ngữ

âm học cơ bản của tiếng Việt và việc lựa chọn từ đơn tiết trong quá trình khảo sát này cũng là hiển nhiên Mặt khác, nều âm tiết có chức năng nhận diện thì âm vị có chức năng khu biệt Đối với người bản ngữ, họ dễ dàng nhận

ra các âm tiết hơn là các từ Từ đó, có thể nói rằng, khi chọn từ đơn để khảo sát sẽ thấy được những đặc trưng cơ bản của cấu trúc âm tiết tiếng Việt

Nếu xuất phát từ âm vị rồi dùng phương pháp tổng hợp để xây dựng thành các kiểu đơn vị thì tiếng là đơn vị hình thành đầu tiên trong quá trình làm việc Trước nó, chúng ta chưa thể tổng hợp nên một đơn vị nào khác Ngược lại, nếu đi từ câu nói rồi dùng phương pháp phân tích để tách ra các kiểu đơn vị thì tiếng là đơn vị cuối cùng có thể tìm ra được Chính đặc điểm này cùng với sự tồn tại của từ đơn mà chúng tôi đã chọn từ đơn làm đơn vị cơ bản trong việc khảo cứu này Tuy nhiên, chúng tôi không có ý định khảo sát lại một lần nữa những vấn đề về tỉ lệ cũng như những khu vực choán lấp của vốn từ này trong cấu trúc từ vựng – ngữ pháp tiếng Việt mà chỉ coi đây là những luận đề khá tin cậy về cơ sở từ vựng – ngữ pháp đặng rút ra được một điều gì đó bổ ích và thú vị xét trên bình diện thuần ngữ âm học cũng như tìm cách giải thích chúng dựa trên những thành tựu gần đây nhất của ngôn ngữ học thế kỉ XX

2.1.1.2 Các nguyên tắc làm việc

So với từ trong các ngôn ngữ Ấn – Âu thì từ và hình vị trong tiếng Việt đều có chung vỏ ngữ âm là âm tiết Đặc biệt, mỗi từ là một âm tiết nên từ đó

mà suy ra âm tiết tiếng Việt trùng với hình vị Ở đây, chúng tôi chọn cơ sở dữ

liệu là những đơn vị đơn tiết Đó là những “chỉnh thể nhỏ nhất có nghĩa dùng

để tạo câu noi, mó có hình thức của một âm tiết, một “ chữ viết rời”” ( Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb ĐH và THCN, H.)

Có thể khẳng định rằng phần lớn các tiếng trong tiếng Việt đều có tính chất cố

Trang 31

định Ngoài ra, thỉnh thoảng ta còn gặp những trường hợp phải dựa vào bối cảnh cụ thể mới xác định được tính chất độc lập của từ Đây chính là quá trình đơn tiết hoá của tiếng Việt và chính sự rút gọn là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này Nếu một từ nào đó có dạng rút gọn thì thường thường từ dạng nguyên ban đầu dần dần nhường chỗ cho dạng rút gọn Các nhà ngữ học đã chứng minh rằng, trong ngôn ngữ, những từ thông dụng thường có xu hướng

ngắn hơn những từ không thông dụng Chẳng hạn: kilôgam = lô: 2 lô bột; Lênin = Lê: chủ nghĩa Mác – Lê; cử nhân = cử: ông cử; tú tài = tú; cậu tú, cần kiệm = kiệm; kiệm lời

Chúng tôi thống kê được 270 từ có gốc gác từ quá trình từ đơn tiết hoá

như vậy trong 5884 mục từ đơn trong [Từ điển tiếngViệt, Hoàng Phê (chủ

biên), 2008]

Về nguồn gốc, các từ đơn không chỉ thuộc lớp từ thuần Việt mà còn thuộc lớp từ vay mượn bao gồm gốc Hán và gốc Châu Âu (chủ yếu là gốc Pháp) Ở đây, chúng tôi chỉ coi những từ gốc Châu Âu là những từ đơn tiết khi: 1/ Chúng được nói (đọc), theo cách nói đọc của người Việt: bỏ trọng âm, thêm thanh điệu chuyển các tổ hợp phụ âm thành các âm khác cho phù hợp

với cách phát âm của tiếng Việt Chẳng hạn: gác, xăng, xăm, lốp, 2/ Người

Việt có ý thức Việt hoá âm đọc của các từ châu Âu bằng cách rút ngắn độ dài

của các từ Chẳng hạn: van, phanh, bom, xu, xếp, kem, 3/ Chúng được viết

thành một từ liên tục, không có khoảng cách ở giữa các yếu tố cấu tạo từ mà

được viết liền thành một khối và được Việt hoá Chẳng hạn: gan, xoong,

Những trường hợp không được Việt hoá như trên chúng tôi không thu thập trong bản từ đơn của mình

2.1.1.3 Phương pháp thống kê tư liệu

Chúng tôi xác định cách thức tiến hành lựa chọn từ đơn tiết cho đề tài nghiên cứu như sau:

Dựa vào từ điển, [Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), 2008] có

đối chiếu với các từ điển khác và tài liệu tham khảo chính, chúng tôi tiến hành

Trang 32

và lựa chọn một danh sách từ đơn để làm việc Trước khi bước vào thống kê, chúng tôi buộc phải tiến hành kiểm tra lại toàn bộ các danh sách đã được các nhà từ vựng học và ngữ pháp học thừa nhận để cuối cùng đi đến một danh sách của mình cốt là không để sai lệch nhiều lắm so với nguyên tắc nhưng vẫn giữ được nguyên tắc làm việc của mình đã đề ra Chính vì thế, cách tiến hành của chúng tôi dựa trên phương pháp thống kê ngôn ngữ học lựa chọn các mục từ phù hợp các yêu cầu của đề tài này

Như vậy, để có được bản danh sách từ đơn làm ngữ liệu cho đề tài chúng tôi sử dụng một loạt từ điển tiếng Việt và những công trình về từ vựng học tiếng Việt cũng như ngữ pháp học tiếng Việt được xuất bản từ trước đến nay Sự chép lại một danh sách như vậy, cho phép có được một cái nhìn toàn cảnh về từ đơn tiếng Việt Chúng tôi gọi đó là danh sách cơ sở và dữ liệu thô

2.1.2 Sự phân bố thanh điệu trong từ đơn tiết

2.1.2.1 Kết quả thống kê

Tuân thủ các nguyên tắc đã đề ra, tiến hành lựa chọn và xác lập từ đơn

trong cuốn [Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), 2008] chúng tôi đã

chọn ra được 5884 mục từ thoả mãn định nghĩa và cách phân loại của chúng tôi về từ đơn

Hệ thống thanh điệu có 6 thanh Tần số xuất hiện các thanh tiếng Việt được sắp xếp ở bảng sau:

Bảng 1: Sự phân bố thanh điệu trong từ đơn tiết tiếng Việt

TT Thanh điệu Tần số xuất hiện Tỉ lệ %

Trang 33

2.1.2.2 Nhận xét

Theo quan niệm truyền thống, các thanh sắc và nặng ở những âm tiết kết thúc bằng các phụ âm mà chữ quốc ngữ ghi lại là p, t, ch, c được coi là những thanh riêng Thi pháp học phương Đông gọi những thanh này là các thanh nhập Để tiện lợi trong miêu tả, chúng tôi cho rằng hai thanh này, chỉ là những biến thể của thanh sắc và nặng trong hệ thống thanh điệu tiếng Việt

Nhìn vào bảng 1, chúng ta dễ dàng nhận thấy sự tách biệt giữa những thanh có tần số xuất hiện cao và những thanh có tần số xuất hiện thấp vẫn là đặc trưng cơ bản của hệ thống thanh điệu tiếng Việt phân bố trong từ đơn Ở đây, có thể xác định vị trí đầu bảng của thanh sắc Thanh sắc có tần số xuất hiện cao nhất 1581 lần, chiếm 26,87% Sự vượt trội của thanh sắc trong tương quan với những thanh khác có thể thấy: đây là thanh điệu phân bố rộng và nó

ưa thích với mọi loại âm tiết (mở, nửa mở, khép, nửa khép) Đứng ở vị trí tiếp theo là hai thanh: thanh nặng và thanh ngang Thanh nặng có tần số xuất hiện

là 1167 lần, chiếm 19,83 %; thanh ngang xuất hiện 1114 lần, chiếm 18,95 % Cũng như thanh sắc, thanh nặng có thể xuất hiện trong mọi loại âm tiết Còn thanh ngang, như đã biết, thanh ngang là thanh thuộc loại không dấu trong hệ thanh Việt, là thanh ưa thích, dễ phát âm nên nó dễ dàng xuất hiện trong từ đơn với tần số khá lớn Cách thanh sắc một khoảng khá xa là thanh huyền, có tần số xuất hiện là 947 lần, chiếm 16,09 % Có thể hiểu rằng thanh huyền cũng là thanh phát âm khá dễ dàng nhưng nó lại được phân bố trong từ đơn khá khiêm tốn Hai thanh có tần số xuất hiện thấp nhất là thanh hỏi và thanh ngã Chúng ta biết rằng, thanh hỏi và thanh ngã là những thanh có tần số xuất hiện rất thấp trong vốn từ vựng chung nên ở đây, chúng có tỉ lệ thấp là lẽ thường tình Thanh hỏi xuất hiện 644 lần, chiếm 10,94 %; còn thanh ngã đứng

ở vị trí cuối bảng với 431 lần xuất hiện, chiếm 7,32 % Như ta đã biết, trong

hệ thống thanh điệu tiếng Việt, thanh hỏi và thanh ngã là hai thanh có âm điệu không bằng phẳng (gãy) Diễn biến của hai thanh này hết sức phức tạp, đặc biệt là thanh ngã (có sự đổi hướng, lên xuống đột ngột) Do đó, hai thanh này

Trang 34

không được ưa thích (vì khó phát âm) nên được phân bố trong từ đơn tiếng Việt ở vị trí rất khiêm tốn

Từ những điều nêu trên, chúng ta nhận thấy sự phân bố của các thanh cho chúng ta biết đôi điều về hoạt động trên trục tuyến tính của các thanh điệu Việt Xét toàn cục (trong cách nhìn hệ thống) những thanh ít đánh dấu hơn có

xu hướng được ưa thích hơn

2.1.3 Các nét âm vị học của thanh điệu trong từ đơn

2.1.3.1 Các nét khu biệt của thanh điệu tiếng Việt

Thanh điệu tiếng Việt gồm hai tiêu chí là cao độ và đường nét Trước hết dựa vào tiêu chí đường nét, chúng ta có sự đối lập giữa nét [+bằng phẳng] / [-bằng phẳng] Nét [+bằng phẳng] gồm hai thanh: thanh ngang và thanh bằng Nét [-bằng phẳng] lại tiếp tục phân chia thành nét [+uốn] gồm thanh ngã, thanh hỏi, đối lập là nét [-uốn] gồm thanh sắc và thanh nặng Dựa vào tiêu chí cao độ, chúng ta tiếp tục có các đối lập: nét [+bằng phẳng] bao gồm [+cao]: thanh ngang, [-cao]: thanh huyền; nét [-bằng phẳng] bao gồm [+cao]: thanh ngã, thanh sắc, [-cao]: thanh hỏi, thanh nặng Từ sự phân tích trên ta có:

Trang 35

[+ cao] [-cao] [+cao] [-cao]

Trang 36

Từ bảng 2, ta có thể biểu diễn âm vị học theo hướng giảm dần của thanh điệu trong từ đơn bằng sơ đồ sau:

64,97

53,13

46,87 46,7

18,270

có tần số các thanh xuất hiện như nhau, nhưng nét [- uốn] với 2748 lần, chiếm 46,70%; còn nét [+uốn] với 1075 lần, chiếm 18,27% Có lẽ, nét [+uốn] là nét phức tạp nhất (về đường nét) nên không được ưa thích, ít được phân bố trong

từ đơn tiếng Việt

2.2 Thanh điệu với chức năng khu biệt nghĩa trong từ đơn tiết

2.2.1 Tiểu dẫn

Ở phần này, sau khi thống kê và xử lí số liệu thô, chúng tôi xác lập sự phân bố thanh điệu trong từ đơn tiết tiếng Việt cùng là các nét âm vị học của chúng Tiếp theo, nhiệm vụ chủ yếu mà chúng tôi phải giải quyết là xác lập

Trang 37

giá trị thực tế của các thanh điệu trong chức năng khu biệt tín hiệu đơn tiết trong tiếng Việt trên cơ sở thống kê định lượng Thực hiện công việc này, chúng tôi đặt ra mình trả lời các câu hỏi sau: a/ Trong tiếng Việt hiện đại có bao nhiêu tín hiệu đơn tiết tối thiểu ở dạng từ điển? b/ Trong số các tín hiệu đơn tiết tối thiểu ấy, có bao nhiêu đơn vị từ đơn tiết tham gia vào sự đối lập

với các từ đơn tiết khác chỉ bằng thanh điệu (Ví dụ: ma/ má/ mạ )? c/ Trong

số các từ đơn tiết có sự đối lập về thanh điệu thì số lượng và tỉ lệ từng thanh

là bao nhiêu? Để thực hiện công việc đã đề ra, từ tư liệu thô (tức là các mục từ đơn tiết thống kê trong từ điển), chúng tôi tiến hành xác lập tư liệu để làm việc theo quy ước sau đây:

1/ Những mục từ trong từ điển ở dạng đơn tiết phù hợp với cấu trúc âm tiết tiếng Việt Theo đó, các mục từ đơn tiết tuy không hẳn được sử dụng độc

lập cũng được thống kê (Chẳng hạn: vô, bất, phi ), nhưng không thống kê những mục từ đơn tiết ngoại lai (Chẳng hạn: fax, séc, )

2/ Các từ đơn tiết đồng âm không có giá trị khu biệt về âm vị học nên

chúng tôi cũng không đưa vào danh sách thống kê (Chẳng hạn: (hòn) đá, đá (bóng), ác (quạ), ác (độc), )

2.2.2 Kết quả thống kê và nhận xét

2.2.2.1 Kết quả thống kê

a Từ quy ước làm việc như trên, chúng tôi tiến hành xác lập danh sách các đơn vị đơn tiết, tính đến tần số và tỉ lệ của các thanh điệu trong vai trò chức năng khu biệt nghĩa của các từ đơn tiết Kết quả, trong tiếng Việt văn hoá có 5434 tín hiệu đơn tiết tối thiểu, nghĩa là có 5434 từ đơn tiết làm thành mục từ trong từ điển Trong 5434 từ đơn tiết chúng tôi thống kê được trong từ điển tiếng Việt [Hoàng Phê (chủ biên), 2008] có 694 đơn vị, chiếm 12,8 % là không có sự đối lập với các từ đơn tiết khác bằng thanh điệu Nghĩa là, với

694 khuôn tiếng trong tiếng Việt chỉ thể hiện với một thanh điệu duy nhất Ví dụ:

“cắt”, chỉ có “cắt”, chứ không có: cặt, cẳt,

Trang 38

“chơi”, chỉ có “chơi”, không có: chời, chởi, chợi,

“dâng”, chỉ có “dâng”, không có:dầng, dấng, dậng,

“gàn”, chỉ có “gàn”, không có: gán, gạn,

“gạch”, chỉ có “gạch”, không có “gách”,

“tởm”, chỉ có “tởm”, không có: tờm, tơm, tợm,

“cuỗm”, chỉ có “cuỗm”, không có: cuôm, cuồm,

Như vậy, 694 đơn vị đơn tiết trên, thanh điệu không thực hiện chức năng khu biệt các tín hiệu đơn tiết trong tiếng Việt Hay nói cách khác, không có sự đối lập âm vị học trong 694 từ đơn tiết trong tiếng Việt về thanh điệu Vậy là, khi nói đến chức năng khu biệt nghĩa của thanh điệu là điều hiển nhiên nhưng

chúng ta cũng phải nhận thức rằng cái “hiển nhiên” ấy không phải được thể

hiện trong tất cả mọi trường hợp Tuy nhiên, thanh điệu thực hiện chức năng khu biệt nghĩa trong các tín hiệu đơn tiết tiếng Việt với một số lượng và tỉ lệ

rất lớn, cụ thể trong 4740 đơn vị chiếm gần 87,2 % Chẳng hạn: ba/ bà/ bả/ bã/ bá/ bạ; bay/ bày/ bảy/ bạy; cang/ càng/ cáng/ cạng; an/ án,

Với tỉ lệ 87,2% tín hiệu đơn tiết tiếng Việt có sự khu biệt âm vị học ở thanh điệu chứng tỏ thanh điệu tiếng Việt thực hiện chức năng khu biệt nghĩa trong từ đơn tiết tiếng Việt một cách rộng rãi, đều khắp

b Nếu căn cứ vào số lượng và tần số xuất hiện cũng như tỉ lệ phần trăm trên

5434 đơn vị đơn tiết để đánh giá vai trò chức năng của từng thanh điệu tiếng Việt thì chúng ta có thể hình dung qua bảng sau:

Thanh điệu

Kết quả Ngã Hỏi Huyền Ngang Nặng Sắc

Tổng cộng

Tỉ lệ % 6,55 10,47 16,04 19,02 20,09 27,71 100,00

Nhìn vào bảng thống kê trên ta thấy trật tự tôn ti thể hiện vai trò chức năng của thanh điệu tiếng Việt là khác nhau Đứng đầu bảng là thanh sắc, tiếp

Trang 39

theo sau là thanh nặng Sở dĩ hai thanh này tham gia đối lập về thanh điệu với

số lượng và tỉ lệ rất lớn là vì chỉ hai thanh này mới xuất hiện trong các từ đơn tiết có kết vần là phụ âm tắc – miệng /p, t, c, k/ (p, t, ch, c) Gần với thanh sắc

và thanh nặng là thanh ngang, còn thanh ngã, thanh huyền chức năng khu biệt trong các tín hiệu đơn tiết tiếng Việt thấp nhất Nếu không tính các tín hiệu đơn tiết kết thúc bằng /p, t, c, k/ chỉ xuất hiện thanh sắc và thanh nặng thì ta sẽ

có kết quả khác Các tín hiệu đơn tiết kết thúc bằng các phụ âm tắc – miệng gồm 1168 đơn vị, chiếm gần 21,49%; nếu trừ số này ra (5434 – 1168) ta còn

4266 đơn vị Chức năng khu biệt các tín hiệu đơn tiết trong 4266 đơn vị của các thanh điệu tiếng Việt như sau:

1 Thanh ngang : 1039, chiếm 24,35 %

2.2.2.2 Nhận xét

Bằng phương pháp thống kê định lượng, chúng ta có thể nhận thức đầy

đủ hơn về chức năng khu biệt của các thanh điệu tiếng Việt Rõ ràng là các thanh điệu tiếng Việt giữ vai trò tích cực trong chức năng khu biệt tín hiệu đơn tiết trong tiếng Việt Có thể khẳng định chức năng của thanh điệu ở hai khía cạnh sau đây:

1/ Nếu trọng âm từ trong các ngôn ngữ châu Âu chỉ có giá trị khu biệt các đơn vị từ vựng đa tiết thì thanh điệu tiếng Việt tham gia vào sự khu biệt

Trang 40

các đơn vị từ vựng đơn tiết trong tiếng Việt Do tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập – âm tiết tính điển hình nên thanh điệu luôn gắn chặt với âm tiết, là thành phần bắt buộc phải có mặt trong mọi âm tiết Việt Do đó, cái quan trọng trong ngữ điệu của câu tiếng Việt là tiết tấu, cường độ và trường độ có thể ảnh hưởng đến thanh điệu, làm cho ý nghĩa của từ, của câu có thể biến đổi Nhờ những đặc điểm này mà người Việt dễ dàng nhận ra sự khác biệt cơ bản của

những đơn vị từ vựng kiểu “ca/ cà/ cá/ cả”, hay “an/ án/ ” một cách dễ

dàng

2/ Nếu trọng âm có trong các ngôn ngữ châu Âu chỉ góp phần khu biệt

nghĩa của một số từ lẻ tẻ (chẳng hạn: Myká: “sự đau khổ”, Mýka: “bột mì”

trong tiếng Nga) thì thanh điệu tiếng Việt tham gia khu biệt nghĩa của tín hiệu đơn tiết (từ đơn tiết) tiếng Việt một cách rộng rãi Thanh điệu tiếng Việt chỉ

có 12,8% là không có giá trị khu biệt (các đơn vị từ vựng đơn tiết không đối lập với từ đơn tiết khác bằng thanh điệu), còn 87,2% - một tỉ lệ khá lớn, chứng tỏ vai trò, chức năng của thanh điệu tham gia vào sự khu biệt các đơn

vị đơn tiết trong tiếng Việt

Thực hiện chức năng khu biệt các đơn vị đơn tiết tiếng Việt, các thanh điệu gánh vác nhiệm vụ với mức độ khác nhau Nếu tính chung tất cả các tín hiệu đơn tiết có sự khu biệt nhờ đơn vị thanh điệu thì vai trò của các thanh điệu được sắp xếp theo trật tự từ cao xuống thấp như sau: 1/ Thanh sắc, 2/ Thanh nặng, 3/ Thanh ngang, 4/ Thanh huyền, 5/ thanh hỏi, 6/ Thanh ngã Nhưng con số trên có sự xê dịch ít nhiều tuỳ thuộc vào đối tượng thống kê và cách tính toán cụ thể, song quang cảnh chung mà chúng tôi xác lập trên đây là

có giá trị chân thực Các kết quả này bổ ích không những giúp chúng ta có cơ

sở đánh giá vai trò chức năng của hệ thống thanh điệu Việt trong hệ thống ngôn ngữ mà còn là những thông số cần thiết để tham chiếu khi chúng ta tìm hiểu vai trò chức năng của thanh điệu trong lời nói, trong ngôn từ trên văn bản

Ngày đăng: 16/10/2021, 17:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Sự phân bố thanh điệu trong từ đơn tiết tiếngViệt TT Thanh điệu Tần số xuất hiện  Tỉ lệ %  - Tìm hiểu chức năng của thanh điệu tiếng việt
Bảng 1 Sự phân bố thanh điệu trong từ đơn tiết tiếngViệt TT Thanh điệu Tần số xuất hiện Tỉ lệ % (Trang 32)
Bảng 2: Bảng phân bố âm vị học thanh điệu trong từ đơn - Tìm hiểu chức năng của thanh điệu tiếng việt
Bảng 2 Bảng phân bố âm vị học thanh điệu trong từ đơn (Trang 35)
Từ bảng 2, ta có thể biểu diễn âm vị học theo hướng giảm dần của thanh điệu trong từ đơn bằng sơ đồ sau:  - Tìm hiểu chức năng của thanh điệu tiếng việt
b ảng 2, ta có thể biểu diễn âm vị học theo hướng giảm dần của thanh điệu trong từ đơn bằng sơ đồ sau: (Trang 36)
Nhìn vào bảng thống kê trên ta thấy trật tự tôn ti thể hiện vai trò chức năng của thanh điệu tiếng Việt là khác nhau - Tìm hiểu chức năng của thanh điệu tiếng việt
h ìn vào bảng thống kê trên ta thấy trật tự tôn ti thể hiện vai trò chức năng của thanh điệu tiếng Việt là khác nhau (Trang 38)
Bảng 3: Bảng phân bố thanh điệu trong từ láy đôi tiếngViệt - Tìm hiểu chức năng của thanh điệu tiếng việt
Bảng 3 Bảng phân bố thanh điệu trong từ láy đôi tiếngViệt (Trang 46)
- Tần số thanh điệu trong từ láy âm đầu được thể hiện qua bảng sau:     AT2  - Tìm hiểu chức năng của thanh điệu tiếng việt
n số thanh điệu trong từ láy âm đầu được thể hiện qua bảng sau: AT2 (Trang 50)
- Tần số của thanh điệu trong từ láy vần được thể hiện qua bảng sau:      AT2  - Tìm hiểu chức năng của thanh điệu tiếng việt
n số của thanh điệu trong từ láy vần được thể hiện qua bảng sau: AT2 (Trang 52)
PHỤ LỤC 1: BẢNG TỪ ĐƠN TIẾNG VIỆT - Tìm hiểu chức năng của thanh điệu tiếng việt
1 BẢNG TỪ ĐƠN TIẾNG VIỆT (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w