Chơng II: Chức năng cấu tạo và chức năng liên kết các đơn vị ngôn ngữ và ngôn từ của hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại…… ………... Đối tợng nghiên cứu Đối tợng nghiên cứu của khoá luận l
Trang 1mục lục
Trang
mở đầu……… …… 3
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu……… 3
2 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu……… 4
3 Nhiệm vụ của luận văn ……… 4
4 Lịch sử vấn đề……… 5
5 Phơng pháp nghiên cứu………
6 Bố cục khoá luận………
Phần nội dung…… ………
Chơng I: Miêu tả hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại 1.1 Dẫn nhập.………
1.2 Các xu hớng miêu tả hệ thống ngữ âm tiếng Việt……
1.3 Cách miêu tả của khoá luận……… …… ……
1.4 Miêu tả hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại………
1.4.1 Hệ thống vần mở………
1.4.2 Hệ thống vần nửa mở………
1.4.3 Hệ thống vần phức khép………
1.4.4 Nhận xét………
1.5 Tiểu kết ……… …… …… …… …… …… ………
Chơng II: Chức năng cấu tạo và chức năng liên kết các đơn vị ngôn ngữ và ngôn từ của hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại…… ………
1. Dẫn nhập…… …… …… …… …… ………
2. Chức năng cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ của vần cái tiếng Việt……… ………
2.1 Hệ thống vần mở…… … … …… …… …… ……
2.2 Hệ thống vần nửa mở … … …… …… …… ………
2.3 Hệ thống vần nửa khép …… …… …… …… ……
2.4 Hệ thống vần khép …… …… …… …… …… …
2.5 Tiểu kết………
3 Chức năng liên kết các đơn vị ngôn ngữ và ngôn từ của hệ thống vần cái tiếng Việt …… …… …………
3.1 Dẫn nhập………
3.2 Chức năng liên kết của vần cái trong cấu trúc hài âm của từ láy tiếng Việt …… …… …… …… …… ………
3.2.1 Sơ lợc về từ láy…… …… …… ………
Trang 23.2.2 C¸ch x÷ lý t liÖu…… …… …… ………
3.2.3 Cø liÖu thèng kª…… …… …… ………
3.2.4 NhËn xÐt…… …… …… ………
3.3 Chøc n¨ng liªn kÕt cña vÇn c¸i trong thµnh ng÷, tôc ng÷ tiÕng ViÖt … …… …… …… ……… ……
3.3.1 Giíi thuyÕt chung…… …… …… ………
3.3.2 Ph¬ng ph¸p thèng kª vµ x÷ lý t liÖu………
3.3.3 Cø liÖu thèng kª…… …… …… ………
3.3.4 NhËn xÐt…… …… …… …… …… …… …………
3.5 TiÓu kÕt ……… …… …… …… …… ……
PhÇn kÕt luËn … …… …… …… …………
Tµi liÖu tham kh¶o … …… …… …… ……
Trang 3vị ngôn ngữ ở cấp độ hình thái Từ đó ta có thể thấy âm tiết là một loại đơn vị
đặc biệt của hệ thống ngữ âm trong các ngôn ngữ này
- Nếu không kể thanh điệu thì âm đầu và vần là đơn vị cơ bản cấu tạo nên âm tiết và làm nên đặc điểm của ngữ âm tiếng Việt Giữa âm đầu và vần cái
có sự tơng phản và sự tơng phản âm thanh giữa hai đơn vị này tỏ ra hiển nhiên
Âm đầu và vần là hai đối hệ có vai trò, chức năng riêng; chúng là những thành tố trực tiếp cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt Nh vậy vần là một hệ thống độc lập có vị thế tơng đơng với âm đầu và thanh điệu, trực tiếp cấu tạo nên các đơn vị ngôn ngữ
- Tuy nhiên, trong thực tiễn, vần so với phụ âm đầu cha đợc nghiên cứu với t cách là một đơn vị ngữ âm cơ bản trong các công trình nghiên cứu và các quan niệm về vần cha thực sự đề cập đúng với t cách của nó Nhiều nhà nghiên cứu tuy chỉ ra đợc cấu trúc hai bậc của âm tiết và đã xếp vần vào bậc một cùng với thanh điệu và âm đầu Tuy nhiên họ lại tập trung vào miêu tả các đối hệ
là thanh điệu, âm đầu, âm chính và âm cuối Điều này cho thấy rằng phần vần ở
đây chỉ đợc xem xét nh một đơn vị phái sinh đợc thừa nhận mà không miêu tả
- Từ những vấn đề trên cho thấy vần trên thực tế vẫn còn những cách quan niệm cha nhất quán, cha đợc đề cập đúng t cách của nó đồng thời đối chiếu với thực tiễn nh phơng pháp đánh vần, phơng pháp đọc, nghệ thuật sử dụng ngôn
từ thì vần không thể không đợc xem xét và đề cập
1.2 Mục đích nghiên cứu
Trang 4Nghiên cứu hệ thống vần cái góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý thuyết cũng nh thực tiễn có liên quan đến vấn đề ngữ âm tiếng Việt Khoá luận của chúng tôi nhằm miêu tả và xác lập những đăc điểm cơ bản của hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại Trên tinh thần đó chúng tôi đề xuất một cách miêu tả mới
đối với hệ thống vần cái tiếng Việt và khảo sát hoạt động chức năng của chúng
2 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của khoá luận là hệ thống vần cái trong tiếng Việt hiện
đại, do đó bên cạnh việc miêu tả hệ thống vần cái khoá luận còn khảo sát hệ thống vần cái tiếng Việt trong một số đơn vị ngôn ngữ và ngôn từ nh từ đơn tiết tiếng Việt, từ láy, thành ngữ, tục ngữ, để làm rõ vị trí và chức năng của hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khoá luận là tìm hiểu và miêu tả hệ thống vần cái, làm rõ hai phơng diện chức năng cơ bản của hệ thống vần cái trong hệ thống cấu trúc hình thức (không xét mặt ngữ nghĩa) đó là: chức năng cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ và chức năng liên kết các đơn vị ngôn ngữ và ngôn từ
3 Nhiệm vụ của khoá luận
Khoá luận cung cấp một cách tiếp cận mới đối với hệ thống ngữ âm tiếng Việt và hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại Cách tiếp cận này dựa trên cơ sở lý thuyết của các nhà nghiên cứu đi trớc
Xác định cơng vị của vần cái trong cấu trúc âm tiết mà cụ thể khoá luận sẽ đề cập đến vai trò vị trí của vần cái trong cấu tạo âm tiết từ đó làm nổi bật các chức năng khác của vần cái
Làm sáng tỏ một số khía cạnh trong hoạt động chức năng của vần cái nh chức năng cấu tạo, chức năng liên kết các tín hiệu ngôn ngữ và ngôn từ, chức năng ngữ nghĩa
Trang 5Về vấn đề vần trong tiếng Việt có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến và
có những đánh giá và ý kiến khác nhau Nổi bật lên trong số này có các tác giả
Võ Bình[2],[3], Mai Ngọc Chừ[8],[9],[10],[11], Lê Anh Hiền[20], Phi Tuyết Hinh[21],[22],[24] Các tác giả này tiếp cận và khai thác vần trên nhiều bình diện nhng đều tập trung vào khía cạnh chức năng nh: giá trị biểu trng của khuôn vần trong từ láy và vần có t cách là vần thơ trong nghệ thuật ngôn từ Nh vậy tuy
đề cập đến khía cạnh chức năng nhng các công trình nghiên cứu của các tác giả này còn có một số vấn đề còn bỏ ngỏ Ví dụ: cách xác lập và miêu tả hệ thống vần cái tiếng Việt, cách mô tả vần cái, xét hoạt động hành chức của các vần cái trong các đơn vị từ đơn tiết, từ láy, thành ngữ, tục ngữ
vị ngôn ngữ, ngôn từ nh từ đơn tiết, từ láy, thành ngữ, tục ngữ Các đơn vị này
đ-ợc khảo sát thống kê theo các tiểu hệ thống của vần cái tiếng Việt để rút ra đđ-ợc những đặc trng và chức năng của chúng Quá trình khảo sát, thống kê này đợc dựa trên cơ sở các đơn vị vần thông qua các tài liệu: Từ điển vần[36], Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê[35] để rút ra đặc trơng về chức năng cấu tạo Các đơn
vị từ láy và thành ngữ, tục ngữ đợc khảo sát trên phơng diện hài âm và hiệp vần qua các tài liệu nh Từ điển từ láy tiếng Việt của Hoàng Văn Hành[38], Từ điển thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt[14] từ đó rút ra các đặc trng về chức năng liên kết
của vần cái
6 Bố cục của khoá luận
Trang 6Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo nội dung khoá luận có hai chơng :
Chơng I: Miêu tả hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại.
ChơngII: Chức năng cấu tạo và chức năng liên kết các đơn vị ngôn
ngữ và ngôn từ của hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại.
Trang 7, Phần nội dung
Chơng IMiêu tả hệ thống vần cái tiếng việt hiện đại
1.1 Dẫn nhập
Ngữ âm tiếng Việt là một hệ thống hết sức phong phú, đa dạng và phức tạp, chính vì thế đây là một vấn đề đợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của mình
Xoay quanh vấn đề này có nhiều ý kiến quan điểm khác nhau thể hiện những hớng tiếp cận, xác lập riêng đối với các đơn vị trong hệ thống này Mỗi hớng tiếp cận đặt ra những cách mô tả riêng cho các đơn vị ngữ âm cơ bản của tiếng Việt Các cách mô tả xác lập này mang tính khoa học và thuyết phục khác nhau, tuy nhiên tất cả các hớng mô tả xác lập này đã góp phần làm rõ diện mạo của hệ thống ngữ âm tiếng Việt một cách toàn diện hơn
Cũng nh các đơn vị ngữ âm khác, vần trong các công trình nghiên cứu cũng
đợc mô tả, xác lập theo nhiều hớng khác nhau Sau đây chúng tôi sẽ đề cập đến một số xu hớng tiêu biểu, đồng thời trình bày cách mô tả, xác lập hệ thống ngữ
âm tiếng Việt và hệ thống vần cái mà khoá luận sẽ tiến hành nghiên cứu theo ớng đó
h-1.2 Các xu hớng miêu tả hệ thống ngữ âm tiếng Việt
ảnh hởng của phơng pháp phân tích âm vị học vốn đợc áp dụng cho các ngôn ngữ châu Âu, một số tác giả đã xem hệ thống ngữ âm tiếng Việt nh là một
hệ thống các ngôn ngữ châu Âu Chính vì cách nhìn nhận này đã dẫn các nhà nghiên cứu đi đến xác lập hệ thống nguyên âm và hệ thống phụ âm đối với tiếng Việt
Các tác giả Lê Văn Lý (1948), N.B Emeneau (1951) là những ngời tiêu biểu cho quan điểm này, họ cho rằng lợc đồ âm tiết tiếng Việt là tổ hợp âm đoạn: phụ
âm-nguyên âm-phụ âm Tác giả Hoàng Tuệ(1962) hình dung lợc đồ âm tiết tiếng Việt thành C1.V.C2 (C1: âm đầu, C2: âm cuối, V: nguyên âm)
Trang 8Nh vậy, cái nổi bật trong hệ thống ngữ âm tiếng Việt là nguyên âm và phụ
âm Trong lúc đó vấn đề một thực tế tồn tại hiển nhiên đối với ngời bản ngữ đã không đợc đề cập đến đúng với t cách của nó Nếu xét một cách khách quan thì vần đã không tồn tại trong cách hình dung của các tác giả này
Một số tác giả khi nghiên cứu ngữ âm tiếng Việt đã tiếp thu các quan điểm của các nhà đông phơng học nh E.Polivanov, A.A.Dragunov đã xây dựng hệ…thống ngữ âm tiếng Việt theo cách riêng của mình Họ không chia hệ thống ngữ
âm tiếng Việt thành phụ âm-nguyên âm-phụ âm mà xác lập hệ thống bốn thành
tố trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt gồm: Âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối
Từ đây, quan điểm “bốn thành tố” có ảnh hởng rất lớn đối với các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và đợc thể hiện ở các giáo trình ngữ âm tiếng Việt giảng dạy
ở bậc đại học[12],[15],[37],[38],[40],[42] Đi theo hớng này, các tác giả đã chỉ ra cấu trúc tầng bậc của âm tiết tiếng Việt Ttrong tiếng Việt, âm tiết có cấu trúc hai bậc:
đơn vị phái sinh: hoặc thừa nhận mà không miêu tả (do kết quả phân tích cấu
Trang 9trúc âm tiết thành tầng bậc) hoặc hình dung nó nh một tổ hợp các thành tố thuộc các đối hệ âm đệm, âm chính, âm cuối mà thành.
Theo xu hớng này trên thực tế vẫn còn những vấn đề cha nhất quán, chẳng hạn nh các đặc trng âm thanh đáng lẽ phải quy cho toàn bộ phần vần thì lại quy cho đối hệ này hay đối hệ kia Hoặc nh trong các vần mở (e,ơ, a) không làm gì
có sự đối lập giữa cái gọi là đơn vị ngắn và đơn vị dài Nhng trong đối hệ âm chính ngời ta xác định sự đối lập giữa nguyên âm ngắn và nguyên âm dài
Trên thực tế vần cùng với âm đầu và thanh điệu vẫn tồn tại nh một đơn vị ngữ
âm và đợc nhận diện rõ rệt trong các hoạt động ngôn từ nh cấu tạo từ láy, nói lái, gieo vần trong thơ ca Vần đã đợc thừa nhận trong phân tích cấu trúc âm tiết, mặt khác trong hoạt động thực tế vần bao giờ cũng có vị trí tơng đơng so với âm đầu, thanh điệu Trong việc học chữ Quốc ngữ hiện hành, vần có vai trò rất quan trọng bởi hầu hết các vần không chỉ thể hiện bằng một chữ cái duy nhất mà còn bằng nhiều chữ cái Đối với tiếng Việt, để việc phiên ghép các từ không thực hiện theo từng chữ cái một mà trớc hết phải phiên ghép các chữ cái thành vần tr-
ớc đã
Nh vậy, thực tiễn tạo chữ cũng nh đọc chữ đều phản ánh một thực tế là không thể bỏ qua đơn vị vần trong hệ thống ngữ âm tiếng Việt Tiếp nhận tởng của âm vận học truyền thống Trung Hoa về ngữ âm của một ngôn ngữ thuộc loại hình
đơn lập, và căn cứ vào những cứ liệu về từ lấp láy, về hoạt động nói lái, tác giả Nguyễn Quang Hồng[30] đã đi đến khẳng định khả năng chia tách âm tiết tiếng Việt thành hai phần là : âm đầu và vần cái
Khi đề cập đến vấn đề âm tiết tiếng Việt và sự phân chiết của nó, ông đã nêu lên những điểm có tính chất kết luận nh sau:
1/ Nếu nh gọi âm vị là đơn vị ngữ âm tự mình có thể mang nghĩa trong ngôn ngữ thì âm vị nh thế trong tiếng Việt chỉ có thể là một âm tiết nguyên vẹn
Trang 102/ Nếu nh coi âm vị là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất làm thành tố cấu tạo nên tín hiệu ngôn ngữ thì âm vị tơng ứng nh thế trong tiếng Việt là âm đầu và vần cái 3/ Nếu nh coi âm vị chẳng qua là một chùm đặc trng để khu biệt các tín hiệu ngôn ngữ thì những âm vị tơng ứng nh thế trong tiếng Việt không phải chỉ là thanh điệu, âm đệm mà cả một số những chùm đặc trng khác đồng thời hoặc không đồng thời để thể hiện trên từng phần của âm tiết là phần âm đầu và phần vần cái.
Từ đây có thể nhận thấy rằng về phơng diện lý thuyết sự phân chia cấu trúc
âm tiết trong các ngôn ngữ đơn lập thành hai hệ song hành là âm đầu và vần cái
đã đợc nhiều nhà nghiên cứu Đông phơng học xác nhận
1.3 Cách mô tả của khoá luận
Cách mô tả của khoá luận về ngữ âm tiếng Việt và hệ thống vần cái tiếng Việt đợc trình bày dới đây là theo mô hình lý thuyết của tác giả Nguyễn Quang Hồng[30] Dĩ nhiên cách miêu tả không nhằm bài trừ hay phản bác những cách miêu tả khác mà chỉ xây dựng một hớng tiếp cận bên cạnh những hớng khác về ngữ âm tiếng Việt
Khoá luận sẽ trình bày và miêu tả vần cái từ hai phía: 1-Từ đỉnh vần; 2- Từ phía kết vần Từ hai phía này sự miêu tả hớng đến các đặc trng ngữ âm của đỉnh
vần và kết vần, mặt khác các vần cái sẽ đợc giải quyết theo các tiểu hệ thống dựa trên những vấn đề sau đây
1.3.1 Khái niệm về vần và vần cái
Theo cách hiểu chung thì vần là bộ phận chủ yếu của âm tiết trong tiếng Việt,
là phần thứ hai của âm tiết sau phần âm đầu Tuy nhiên khái niệm vần đợc dùng
và hiểu khá rộng rãi, đôi khi rất xê dịch, trong các phát ngôn bình thờng, không hạn định trong phong cách khoa học Theo tác giả Nguyễn Quang Hồng cách hiểu “phần thứ hai” này phụ thuộc vào lời đáp “có” hay
Trang 11a Có đa vào phần thứ hai này yếu tố âm đệm hay không ?
b Có tính vào phần thứ hai này cả thanh điệu nữa hay không ?
Lấy âm tiết “ngoài” làm ví dụ ta sẽ có bốn đáp án:
âm tiết mà không bao hàm trong đó âm đệm và thanh điệu Nói cách khác vần
cái là đợn vị ngữ âm nằm trong cấu trúc đoạn tính của âm tiết bắt đầu từ đỉnh âm tiết đến cuối âm tiết [30] Nh vậy, khái niệm vần cái ở đây là đơn vị trong cấu trúc của âm tiết tiếng Việt Trong cách hiểu thuật ngữ thì vần cái là đơn vị ngữ
âm cơ bản nằm trong thành phần cấu trúc của âm tiết tiếng Việt không kể đến
âm đệm và đợc trừu tợng hoá khỏi thanh điệu Về mặt âm học, vần cái bao gồm những yếu tố âm sắc đợc thể hiện từ đỉnh âm tiết cho đến kết thúc âm tiết
1.3.2 Các tiểu hệ thống
Dựa vào hệ thống chữ quốc ngữ cũng nh dựa vào thực tế phơng ngữ chúng tôi xác lập đợc 124 vần cái có trong tiếng Việt hiện đại (So với Từ điển vần của Hoàng Phê thì có 115 vần ) 124 vần cái có trong tiếng Việt hiện đại không phải
là một hệ thống đơn giản mà bao gồm các tiểu hệ thống đợc xác lập theo nhiều hớng khác nhau:
Hớng xác lập từ đỉnh vần : Từ hớng đỉnh vần các vần cái đợc bắt đầu bằng những độ nâng khác nhau của lỡi :
- Độ nâng cao, ví dụ: i, , u.
- Độ nâng vừa, ví dụ: ê, ơ, ô.
- Độ nâng thấp, ví dụ: e, a, o.
Hớng xác lập từ kết vần
Trang 12Căn cứ vào sự tơng phản âm thanh giữa đỉnh vần và kết vần chúng ta sẽ xác lập đợc hai tiểu hệ thống là:
+ Vần đơn, là những vần có cấu âm đơn giản, không có sự tơng phản giữa
đỉnh vần và kết vần bởi nó mang toàn bộ đặc trng âm thanh của chính nguyên
phụ âm tính, (ví dụ: an, om, anh, ang, úc, út )… Hệ thống vần khép lại tiếp tục phân làm hai hớng dựa vào tiêu chí mũi hay không mũi (miệng) của kết vần Nếu kết vần là các phụ âm mũi ta có vần khép tắc-mũi hay còn gọi là nửa khép ( ví dụ: in, am, ong )… ; nếu kết vần là các phụ âm tắc miệng ta có các vần khép tắc-miệng hay còn gọi là vần khép ( ví dụ: át, úc, ốc, ách).
1.4 Miêu tả hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại
Hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại đợc miêu tả theo các tiểu hệ thống sau:
Trang 13- Đặc trng về dòng Có hai dòng : dòng trớc (i, ia, ê, e) và dòng sau (, ơ, a, o,
ô, u, a, ua)
- Đặc trng về dáng môi : Tròn môi (u, ô, o, ua); không tròn môi ( , ơ, a, a)
Trong mỗi dòng trớc và sau, tròn môi và không tròn môi đều có một vần đơn phân biệt với các vần đơn còn lại bằng một đặc trng động trong cấu âm, đó là hoạt động chuyển sắc Đây là những trờng hợp mà lâu nay ta gọi là nguyên âm
đôi: ia, a, ua.
Trang 14• Nhóm 1: Các vần đợc phân biệt với nhau theo ba độ nâng cao, vừa, thấp của lỡi
- Độ nâng cao có các vần ; iu, iêu, u, ơu, i, ơi, ui, uôi.
- Độ nâng vừa có các vần : êu, âu, ơu, ây, ơi, ôi.
- Độ nâng thấp có các vần: eo, ao, ay, ai, oi.
• Nhóm 2: Các phần phân biệt theo dòng và theo dáng môi (tròn hay không tròn) cụ thể:
- Các vần dòng trớc-KTM: in, iêu, êu, eo.
- Các vần dồng sau-KTM: u, ơu, ơi, ơi, âu, ơu, ay, ơi, au, ao, ay, ai.
- Các vần dòng sau-TM: ui, uôi, ôi, oi
+ Từ phía cuối vần : phân thành hai nhóm:
• Nhóm một: theo đặc trng về dòng (vị trí trớc- sau của lỡi) Ta có nhóm các vần có kết âm dòng sau-TM : iu, iêu, êu, eo, ơu, âu, ơu, ao, au.
• Nhóm hai: theo đặc trng về môi (tròn hay không tròn), ta có các vần có kết
âm dòng trớc-KTM: i, ơi, ây, ơi, ay, ai, ui, uôi, oi, ôi.
Ngoài ra còn có nhóm đặc trng quan trọng khác là độ chạm ( hay dạng tiếp hợp ), giữa đỉnh vần và kết vần Đó là khái niệm chặt-lỏng diễn ra trong cấu âm của các vần phức Trong các vần phức, quá trình cấu âm giữa đỉnh vần và cuối vần có thể diễn ra theo những phơng cách khác nhau, đó là kết thúc chặt hay lỏng của vần Chẳng hạn ui là vần chặt còn iêu là vần lỏng.
Trang 15§é n©ng Sau trßn m«i Tríc kh«ng trßn m«i Cuèi vÇn
Trang 16Từ phía cuối vần: từ hớng miêu tả này, các vần khép đợc phân biệt theo hai
Ví dụ: inh, ich, ng, ức, ông, ôc, ôông, ôôc, ong, oc, oong, ôc …
+ Nhóm hai: theo phơng thức cấu âm, các vần khép đợc phân thành hai tiểu
Trang 171.4.4 Nhận xét
Qua những vấn đề trên, chúng ta thấy rõ hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại mang những đặc trng riêng, đợc mô tả ở những khía cạnh rõ nhất, cụ thể nhất
Đồng thời qua đó ta thấy một số nét nổi bật sau:
+ Thứ nhất về số lợng: nếu xem vần cái cùng với âm đầu và thanh điệu là những đơn vị ngữ âm cơ bản thì vần cái có số lợng phong phú hơn âm đầu và thanh điệu(124 vần cái so với 22 phụ âm đầu và 6 thanh điệu)
TắcVang Điếc Vang Điếc Vang Điếc
Trang 18+ Mỗi vần cái tiếng Việt đợc miêu tả theo các chùm đặc trng khu biệt riêng.
- Các vần đợc phân biệt theo cách kết vần, trên cơ sở đó đợc chia làm bốn tiểu
hệ thống : vần mở, nửa mở, nửa khép, vần khép
- Trong cùng một loại vần (một tiểu hệ thống) các vần đợc phân biệt theo các nhóm đặc trng khu biệt đỉnh vần theo đó các vần cùng loại kết vần khu biệt với nhau theo các đặc trng nguyên âm tính: độ nâng của lỡi: cao, vừa, thấp; dòng: tr-
ớc, sau; dáng môi: tròn môi, không tròn môi
- Đối với vần phức các vần cùng loại khu biệt theo đặc trng bán phụ âm hoặc phụ âm tính ở kết vần, chẳng hạn các vần nửa mở tiếp tục đợc phân biệt theo hai nhóm đặc trng:
Bán phụ âm cao - dòng trớc KTM i ) và bán phụ âm cao - dòng sau TM
(-u )
- Một nhóm đặc trng thể hiện sự chuyển tiếp giữa đỉnh vần và kết vần đợc biểu hiện ở độ tiếp xúc chặt hay lỏng của vần cái Sự đối lập chặt lỏng chỉ có thể thực hiện đợc là nhờ sự tơng phản âm thanh giữa kết vần và đỉnh vần
1.5 Tiểu kết
Nh vậy cùng với âm đầu, thanh điệu vần cái là đơn vị ngữ âm cơ bản cấu thành âm tiết tiếng Việt Xét về mặt lý thuyết và thực tiễn thì vần cái phải đợc nhìn nhận nh một thực thể ngữ âm hiển nhiên, một bộ phận tồn tại song song với
Trang 19Chơng IIChức năng cấu tạo và chức năng liên kết các đơn vị ngôn ngữ và ngôn từ của hệ thống vần cái tiếng Việt
hiện đại
1 Dẫn nhập
Trang 201.1 Khi bàn về chức năng của các đơn vị ngôn ngữ ngời ta thờng nói đến hai phơng diện: phơng diện cấu trúc hình thức và phơng diện ngữ nghĩa ở phơng diện cấu trúc hình thức, vần cái sẽ đợc xem xét nó đóng vai trò gì so với đơn vị khác trong quan hệ tạo lập các đơn vị lớn hơn hay nhỏ hơn mà thông thờng là lớn hơn Chẳng hạn các âm vị tạo lập nên các hình vị (âm tiết), các từ tạo lập nên câu …
Nh vậy, về phơng diện này sẽ có hai khía cạnh tìm hiểu là khía cạnh cấu tạo (xây dựng) và khía cạnh liên kết (gắn nối) các đơn vị ngôn ngữ và ngôn từ Còn ở phơng diện ngữ nghĩa, chức năng của đơn vị ngôn ngữ đó sẽ đợc biểu hiện qua vai trò của nó trong việc thể hiện ý nghĩa hay khu biệt nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ, ngôn từ Vần cái tiếng Việt nh chúng tôi đã trình bày ở chơng thứ nhất của khoá luận là đơn vị ngữ âm cơ bản và việc tìm hiểu chức năng của nó sẽ không nằm ngoài phạm vi xem xét các khía cạnh đã nêu trên
1.2 Đề cập đến khía cạnh chức năng của vần cái tiếng Việt, năm 1990 tác giả Phi Tuyết Hinh[24] đã lấy “giá trị biểu trng của khuôn vần trong từ láy tiếng Việt” làm đối tợng nghiên cứu cho luận án khoa học của mình Trong công trình này, tác giả đã dựa vào mối quan hệ liên tởng từ sự tơng ứng giữa đặc điểm ngữ
âm của khuôn vần với ấn tợng ngữ nghĩa do khuôn vần tạo ra trong từ láy Nhvậy, khi xử lí đề tài này, tác giả Phi Tuyết Hinh đã đề cập đến một trong những khía cạnh chức năng của khuôn tiếng Việt, đó là chức năng thể hiện nghĩa Các khía cạnh chức năng khác của vần cái tiếng Việt cho đến nay vẫn cha đợc một nhà nghiên cứu nào khảo sát một cách tỉ mỉ có hệ thống trong các công trình nghiên cứu của mình
1.3 Nếu ở chơng một của khoá luận, chúng tôi đã trình bày hệ thống vần cái tiếng Việt với t cách là đơn vị ngữ âm cơ bản trong hệ thống cấu trúc và nhận diện nó là thành tố trực tiếp (cùng với âm đầu, thanh điệu và âm đệm) trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt Do vậy ở khoá luận này, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu một
Trang 21vài khía cạnh chức năng của vần cái tiếng Việt, đó là chức năng cấu tạo các đơn
2 Chức năng cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ của vần cái tiếng Việt
Từ thực tế cho ta thấy hàng loạt các cứ liệu về từ láy, nói lái, hiệp vần trong thơ chứng minh rằng, cùng với phụ âm đầu, vần cái là bộ phận đ… ợc chia tách một cách hiển nhiên từ cấu trúc âm tiết tiếng Việt
Xem xét vần cái từ chức năng tạo lập các tín hiệu ngôn ngữ trớc hết là nói
đến vần cái tham gia cấu tạo các tín hiệu đơn tiết với t cách là vật liệu xây dựng Với mục đích nh vậy để biết trên thực tế vần cái đợc sử dụng với tỉ lệ, tần suất
nh thế nào trong toàn bộ vốn từ đơn tiết của tiếng Việt, chúng tôi dựa vào khảo sát Từ điển tiếng Việt và Từ điển vần của tác giả Hoàng Phê[36] làm cứ liệu để
phân loại và so sánh
Qua khảo sát Từ điển vần của Hoàng Phê chúng tôi thống kê đợc 115 vần
hiện diện trong 6612 từ đơn tiết tiếng Việt Tuy nhiên theo chúng tôi, số lợng vần cái đợc xác lập dựa trên sự phân biệt tối đa mà chữ Quốc ngữ đã phản ánh và trong cách phát âm phơng ngữ là 124 vần
Trong 115 vần cái đợc thống kê trong Từ điển vần của Hoàng Phê xét từ phía
kết vần gồm có 12 vần mở, 19 vần nửa mở, 42 vần nửa khép và 42 vần khép Các vần này làm thành các tiểu hệ thống khá rõ ràng và phong phú đặc biệt là biểu hiện khả năng cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ của vần cái trong các tiểu hệ thống
2.1 Hệ thống các vần mở
Vần mở ở đây đợc xem xét theo tính chất kết thúc của vần Vần mở là những vần
đợc kết thúc bằng chính nguyên âm tạo đỉnh Hệ thống vần mở bao gồm 12 vần
2.1.1 Cứ liệu thống kê
Trang 2212 vần mở có mặt trong 1312 từ đơn tiết tiếng Việt chiếm 19.8% so với tổng
số Trong 12 vần mở có đến 9 vần nguyên âm thuần sắc và 3 vần nguyên âm chuyển sắc Để thấy đợc khả năng và tần suất xuất hiện của vần mở ta có bảng vần mở cùng các chỉ số cho biết số từ đơn tiết mà trong đó mỗi vần xuất hiện nh sau:
2.1.2 Nhận xét
Nhìn một cách tổng thể thì các âm tiết chứa vần mở là nguyên âm dòng trớc
có số lợng lớn nhất: 428 từ Trong khi đó số âm tiết chứa vần mở là nguyên âm dòng sau KTM là 441 từ, và số âm tiết chứa vần mở là nguyên âm dòng sau TM
là ít nhất 388 từ Tuy nhiên nếu xét trong nội bộ từng dòng (trớc - sau KTM, sau TM), thì ta có thể xác định các vị trí nh là các tiêu điểm trong hệ thống, đó là các
tần số xuất hiện vào loại nhiều nhất: Dòng trớc i:158 từ,
e:144 từ; dòng sau-KTM: ơ:122 từ, a:157 từ; dòng sau TM: u:109 từ, o:111
từ Từ số liệu trên ta có thể hình dung một khung các vần ở vị trí tiêu điểm nh
Trang 23Ngoài ra trong 12 vần mở thì 3 vần nguyên âm chuyển sắc có khả năng xuất hiện ở các từ đơn tiết hạn chế hơn so với các nguyên âm thuần sắc khác ở phía tr-
ớc và phía sau cùng một dòng
Vần mở ia có 57 từ đơn tiết (so với i:158 từ và ê: 123 từ) ,a có trong 69 từ
đơn tiết(so với :75 từ và ơ: 122 từ), ua có trong 57 từ đơn tiết (so với u: 109 và ô:
109 từ) nh vậy các vần là nguyên âm thuần sắc giữ một vai trò chủ đạo khi tham gia cấu tạo các tín hiệu đơn tiết, trong khi đó các vần mở chuyển sắc chỉ giữ vai trò thứ yếu
Một phơng diện khác là trong ba độ nâng của lỡi: cao-vừa-thấp thì các độ nâng thấp thì có khả năng xuất hiện trong từ đơn tiết nhiều hơn trong các từ đơn tiết so với các độ nâng khác (Độ nâng thấp vần e:144 từ, vần a: 175 từ, vần o:
111 từ hoặc cùng một độ nâng thấp a- e- o thì độ nâng thấp nhất là a với 175 từ
xuất hiện nhiều hơn so với hai độ nâng thấp cao hơn a là e: 144 từ và o: 111 từ).
Nh vậy hệ thống vần mở hạn chế (12 vần) nhng lại có mặt trong một khối ợng từ đơn tiết khá lớn(1312 từ) Điều đó cũng có nghĩa rằng các vần mở giữ một vai trò quan trọng và có khả năng cấu tạo một khối lợng lớn các đơn vị ngôn ngữ đợc biểu hiện rõ nhất ở từ đơn tiết tiếng Việt
Trang 24
2.2.2 Nhận xét
Theo khảo sát Từ điển vần của Hoàng Phê thì hệ thống vần mở chỉ có 19 vần,
nhng nếu dựa vào chữ Quốc ngữ và cách phát âm địa phơng thì hệ thống vần mở lại xuất hiện thêm vần “ơu” tạo nên vần thứ 20
Trong số 1352 từ đơn tiết đợc cấu tạo bởi các vần nửa mở thì các từ đơn tiết nửa mở kết thúc bằng bán phụ âm -i có số lợng là 770 từ chiếm gần bằng 58,6%
tổng số; các từ đơn tiết nửa mở kết thúc bằng bán phụ âm -u có số lợng
là 544 từ, chiếm gần bằng 41,4% còn lại
Xét từ phía đỉnh vần, chúng tôi thấy rằng các vần nửa mở có đỉnh vần là nguyên âm dòng sau-KTM tham gia cấu tạo các từ đơn tiết có số lợng lớn nhất là
676 từ, trong khi đó các vần nửa mở có đỉnh vần là nguyên âm dòng trớc chỉ có
272 từ, các vần nửa mở có đỉnh vần là nguyên âm dòng sau TM là 332 từ
Điều này có thể đợc giải thích bởi quy tắc kết hợp giữa đỉnh vần và kết vần trong
âm tiết tiếng Việt: các nguyên âm đỉnh vần dòng trớc không kết hợp với vần là bán nguyên âm -i, các nguyên âm đỉnh vần thuộc dòng sau-TM không kết hợp đ-
ợc với vần là bán nguyên âm -u, còn các nguyên âm đỉnh vần dòng sau-KTM ,
ơ, a không bị ràng buộc bởi quy tắc đó (quy tắc dung hoà).
Trong 20 vần nửa mở thì vần xuất hiện ít nhất trong các từ đơn tiết tiếng Việt
là vần i (chỉ xuất hiện bốn từ: chửi, ngửi, cửi, gửi) vần xuất hiện nhiều nhất là
Trang 25độ nâng vừa (êu, âu, uơ, ây, ơi, ôi) và cuối cùng là độ nâng thấp (eo, ao, ay, ai, oi).
Mặt khác từ phía đỉnh vần các nhóm vần tăng theo thứ tự nh sau: Các vần dòng sau-TM, các vần dòng trớc-KTM và cao nhất là các vần dòng sau-KTM
Nh vậy qua số liệu thống kê hệ thống vần nửa mở gồm 20 vần xuất hiện trong1352 từ đơn tiết chiếm một số lợng khá lớn trong tổng số từ đơn tiết tiếng Việt (20,3%) Điều này chứng tỏ vần nửa mở có tần số xuất hiện khá cao trong việc cấu tạo các đơn vị đơn tiết tiếng Việt
2.3 Hệ thống vần nửa khép (khép tắc-mũi)
Hệ thống các vần nửa khép là những vần đợc kết thúc bằng các phụ âm mũi(vang), nếu ghi âm theo chữ quốc ngữ gồm 46 vần chiếm một số lợng khá lớn trong hệ thống vần cái tiếng Việt hiện đại
tắc-3.1 Cứ liệu thống kê
Hệ thống vần nữa khép gồm 46 vần tham gia cấu tạo 2733 từ đơn tiết tiếng Việt chiếm 41,18% tổng số từ đơn tiết mà chúng tôi khảo sát thu thập đợc từ Từ
điển tiếng Việt của Hoàng Phê Nếu so với từ điển vần của các tác giả này thì
vần nửa khép chỉ tồn tại có 43 vần do các vần nh : êng, ơng và ôông không xuất
Vần ăm: 82 từVần em: 44 từ Vần am: 76 từ
Vần in: 45 từ Vần n: 1 từ
Vần iên: 110 từ Vần ơn: 26 từ
Trang 26Vần ân: 126 từVần ên: 45 từ Vần ơn: 66 từ
Vần ăn: 97 từVần en: 91 từ Vần an:135 từ
có âm cuối tơng ứng:
- Kết thúc bằng -m: có 666 từ
- Kết thúc bằng -n: có 959 từ
- Kết thúc bằng -nh: có 296 từ
Nếu ta xem xét theo số liệu thống kê sẽ thấy một số vần có tần số xuất hiện
nh vần m chỉ xuất hiện trong một từ là “hừm” và vần n chỉ xuất hiện trong một từ
là “chn”
Các vần nửa khép có đỉnh là nguyên âm dòng sau-KTM có mặt trong 1213 từ
đơn tiết, chứng tỏ nó có tần số xuất hiện cao nhất trong khi đó vần là nguyên âm dòng trớc trong 736 từ đơn tiết và đỉnh vần là nguyên âm dòng sau-TM có trong
762 từ
Tuy nhiên vần cái là vần nửa khép có đỉnh vần là nguyên âm dòng sau-KTM thì kết vần là -n cho ta số lợng thống kê lớn nhất: 461 từ so với 336 từ kết thúc
bằng -m và 416 từ kết thúc bằng -ng.
Trang 27Nh vậy nếu so sánh hệ thống vần nửa khép với vần nửa mở và vần nửa mở ta
sẽ thấy hệ thống vần nửa khép có khả năng tham gia vào các từ đơn tiết nhiều hơn (vần mở: 1338 từ; vần nửa mở:1352 từ; vần nửa khép: 2733 từ) Mặt khác số lợng của hệ thống này cũng đồ sộ hơn hai hệ thống trớc (46 vần so với 12 vần
mở và 20 nửa mở vần), tuy nhiên xét theo “tiêu điểm” thì hệ thống vần khép lại không có vần nào tham gia vào từ đơn tiết hơn hai hệ thống trớc
(vần cái có khả năng tham gia vào nhiều từ đơn tiết nhất ở vần mở là vần i: 198
từ, vần nửa mở là vần ai:161 và vần nửa khép là vần ang :144 từ).
Nh vậy, hệ thống vần nửa khép có khả năng tham gia cấu tạo các từ đơn tiết tiếng Việt, điều này đợc thể hiện qua sự có mặt của các vần cái trong hơn 2712
từ đơn tiết tiếng Việt
2.4 Hệ thống các vần khép (tắc- miệng)
2.4.1 Cứ liệu thống kê
So với các vần nửa khép (khép tắc-mũi) các vần khép (tắc-miệng) lại giữ một
vị trí khiếm tốn khi phân loại cao thấp về số lợng từ đơn tiết mà các tiểu hệ thống vần cái tham gia cấu tạo Nếu các từ có mặt trong các tiểu hệ thống là vần mở:
1312 từ, vần nửa mở: 1352 từ, vần nửa khép là: 2712 thì các vần khép là 1277 từ chiếm 19,3% trong tổng số từ đơn tiết mà chúng tôi khảo sát
Chỉ số xuất hiện của các vần khép trong các từ đơn tiết tiếng Việt đợc hình thành qua bảng sau:
Trang 28Vần ăt: 47 từVần et: 50 từ Vần at: 56 từ Vần ot: 38 từ
đỉnh vần là nguyên âm dòng sau-KTM (, ơ, a, a) xuất hiện trong nhiều từ đơn
tiết nhất 537 từ, trong khi đó các vần khép có đỉnh vần là nguyên âm dòng trớc
có trong 392 từ, đỉnh vần là nguyên âm dòng sau -TM là 348 từ Từ số liệu thống
kê chúng tôi nhận thấy các vần khép dòng sau-KTM kết thúc bằng -t là các vần
có tần số xuất hiện nhiều nhất trong việc cấu tạo từ đơn tiết: 219 từ
Nếu xét từ phía kết vần (cách kết vần bằng -p, -t, -ch, -c) thì có thể thấy rằng,
các vần khép có kết vần là -t (phụ âm đầu lỡi) có mặt trong nhiều từ đơn tiết
nhất: 520 từ Trong khi đó, kết vần bằng các yếu tố khác có số lợng từ đơn tiết ít hơn cụ thể nh:
Trang 29Nh vậy với con số 1275 từ có vần khép xét trong tơng quan các con số 1312
từ có trong vần mở, 1352 từ có trong vần nửa mở và cao nhất là 2712 từ có trong vần nửa khép, chúng tôi nhận thấy rằng các vần khép có phần khiêm tốn nhất khi tham gia cấu tạo các từ đơn tiết tiếng Việt Sở dĩ các vần khép ít tham gia vào cấu tạo các từ đơn tiết hơn các loại khác là do sự chi phối của ngữ âm tiếng Việt Các vần khép trong tiếng Việt (kết thúc bằng -t, -p, -ich, -c) chỉ có thể đợc kết
hợp hai thanh điệu sắc (/) và nặng(⋅) mà không có khả năng kết hợp với 4 thanh
điệu còn lại của tiếng Việt là: thanh ngang (không có kí hiệu Quốc ngữ), thanh huyền(\), thanh hỏi(?), thanh ngã(~) Điều này kéo theo sự hạn chế khi các vần cái khép tham gia vào các âm tiết hay các từ đơn tiết cụ thể Đây cũng là nguyên nhân làm cho số lợng từ đơn tiết do các vần khép tạo nên cũng hạn chế đáng kể
2.5 Tiểu kết
2.5.1 Dựa vào số liệu thống kê của Từ điển vần, chúng tôi đã xác lập đợc
115 vần cái tiếng Việt và 6612 từ từ đơn tiết đợc tạo nên bởi các vần cái đó ở các phần trên chúng tôi đã làm công việc khảo sát cụ thể để có đợc những con số phản ánh tần số xuất hiện của mỗi vần trong các từ đơn tiết tiếng Việt Đây chính
là khả năng tham gia tạo lập âm tiết của vần cái, song tuỳ từng vần cụ thể mà khả năng đợc biểu hiện nhiều-ít khác nhau Từ thực tế cùng với cứ liệu khảo sát, thống kê có thể nêu lên một số kết luận sau:
Các vần cái đợc sử dụng để tạo lập âm tiết (từ đơn tiết) có tần số cao nhất là:
+ Các vần mở là nguyên âm dòng trớc: i, ê, e và vần mở là tiêu điểm phân bố
ở cả ba dòng: Dòng trớc, dòng sau KTM, dòng sau TM: i- a- u.
+ Các vần nửa mở đặc biệt là các vần nửa mở có kết âm -i, các vần nửa khép
và khép có đỉnh vần là nguyên âm dòng sau KTM
+ Các vần có kết âm đầu lỡi: -t, -n trong hệ thống các vần nửa khép và khép.
Trong nội các vần mở, các vần chuyễn sắc nh ia, a, ua có vị trí thứ yếu so
với các vần thuần sắc khi tham gia cấu tạo âm tiết
Trang 30 Các vần nửa khép có tần số xuất hiện cao nhất chiếm gần bằng 41% còn các vần khép có tần số xuất hiện thấp nhất là gần bằng 19,3%, lý do hạn chế là bởi quy luật kết hợp thanh điệu.
2.5.2 Đối chiếu 115 vần đợc sử dụng trong thực tế (theo Từ điển vần của
Hoàng Phê) với 124 vần cái mà chúng tôi đã xác lập dựa trên sự phân biệt tối đa
mà chữ Quốc ngữ phản ánh cũng nh trong thực tế phơng ngữ thì có 9 vần sau đây
ở dạng tiềm tàng tức không tham gia cấu tạo các âm tiết (từ đơn tiết) thực tế:
2.5.3 Theo số liệu thống kê, có thể nhận thấy các vần cái có kết vần là -i, -n, -t là các vần có khả năng tham gia cấu tạo các từ đơn tiết với số lợng nhiều hơn cả Điều đáng quan tâm là cả ba cách kết vần này đều có cấu âm đầu lỡi Phải chăng, có thể coi đây là đây là một căn cứ để đặt ra một vấn đề là ngời Việt
có kiểu cấu âm thiên về phía trớc đầu lỡi, tức cách cấu âm cạn chứ không phải sâu vào trong nh các ngôn ngữ khác
Nh vậy “cùng với âm đầu và thanh điệu, vần cái là đơn vị ngữ âm cơ bản cấu thành âm tiết tiếng Việt”[33] Từ trớc tới nay vần cái cha đợc xem xét đánh giá một cách đầy đủ về vai trò chức năng của chúng, nhng qua những vấn đề trên không thể không khẳng định rằng vần cái là đơn vị ngữ âm cơ bản cấu thành âm tiết tiếng Việt nó mang chức năng quan trọng là cấu tạo nên các đơn vị ngôn ngữ cho tiếng Việt
Trang 31tiếng Việt
3.1 Dẫn nhập
3.1.1 Không những vần cái là những viên gạch, là vật liệu xây dựng các tín hiệu đơn tiết (tức là vần cái thực hiện chức năng cấu tạo các tín hiệu ngôn ngữ ở cấp độ lớn hơn) mà còn đợc tìm hiểu với t cách là những yếu tố có tác dụng ghép nối các đơn vị ngôn ngữ xét trong quan hệ giữa âm tiết này với âm tiết khác Nh vậy vần cái tiếng Việt thực hiện chức năng liên kết các đơn vị ngôn ngữ và ngôn
từ, tức là đang thực hiện một khía cạnh ở chức năng tạo lập
3.1.2 Cùng với âm đầu và thanh điệu vần cái là đơn vị ngữ âm cơ bản tạo thành
âm tiết tiếng Việt Các âm tiết đợc cấu thành lại trong mối quan hệ lớn hơn, ở cấp độ lớn hơn nh từ láy, cụm từ cố định, thành ngữ, tục ngữ Từ láy và thành…ngữ , tục ngữ là các loại đơn vị ngôn ngữ và ngôn từ mà các yếu tố trong đó đợc liên kết gắn nối bằng các phơng diện ngữ âm bên cạnh các phơng tiện liên kết khác Các phơng tiện liên kết ngữ âm không gì khác, đó là phụ âm đầu, thanh
điệu và vần cái Chức năng liên kết của các phơng tiện ngữ âm này đợc thể hiện
nh thế nào, trong đó các vần cái giữ vai trò ra sao so với với phụ âm đầu và thanh
điệu? Chúng tôi sẽ tiếp thu xem xét, làm rõ điều này qua cứ liệu về từ láy và thành ngữ-tục ngữ tiếng Việt
3.1.3 ở khoá luận này chúng tôi chỉ đề cập chức năng này của hệ thống vần cái tiếng Việt thông qua khảo sát, thống kê các đơn vị từ láy, các đơn vị thành ngữ-tục ngữ Các vấn đề này đợc xem xét qua nguồn t liệu chính đó là Từ điển
từ láy của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Văn Hành chủ biên và cuốn Từ điển thành ngữ - tục ngữ của các tác giả Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào
Đồng thời qua đó làm rõ vai trò và chức năng liên kết của hệ thống vần cái tiếng Việt đối với các đơn vị ngôn ngữ và ngôn từ của tiếng Việt
Trang 323.2 Chức năng liên kết của vần cái trong cấu trúc hài âm của từ láy tiếng Việt
Láy là một phơng thức tạo từ đặc sắc của tiếng Việt, đó là phơng thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình vị cơ sở theo những quy tắc nhất định Trong phần này của khoá luận ngời viết chỉ đề cập từ láy ở một khía cạnh riêng đó là xem xét chức năng liên kết của vần trong cấu trúc hài âm của từ láy tiếng Việt
đối chiếu Để tiến hành thống kê thu thập t liệu chúng tôi dựa vào Từ điển từ láy tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Văn Hành chủ biên, NXB khoa học
xã hội tái bản 1997
Vần trong từ láy là một yếu tố rất quan trọng nó không những là yếu tố diễn
đạt tinh tế, sinh đông mà còn là phơng tiện liên kết của từ láy thông qua cấu trúc
Trang 33giữa các yếu tố tơng ứng của các âm tiết và có tác dụng biểu trng hoá Vì thế trong quá trình khảo sát chúng tôi sẽ tiến hành phân loại từ láy theo kết vần (mở, nửa mở, nửa khép, khép) từ đó làm nổi bật những vấn đề trên, đặc biệt là làm rõ
chức năng của hệ thống vần cái đối với đơn vị ngôn ngữ này
3.2.3 Cứ liệu thống kê
Dựa vào Từ điển từ láy tiếng Việt chúng tôi thu thập đợc 4222 từ láy bộ phận
trong tổng số 5800 từ láy tiếng Việt Trong 4222 từ láy bộ phận thì có 3006 từ láy phụ âm đầu, còn số các từ láy vần là 1216 từ
Danh sách các từ láy vần song tiết đợc phân loại theo từng vần cái tham gia liên kết đợc chúng tôi ghi theo chữ Quốc ngữ nh sau:
a Vần mở: Trong 1216 từ láy vần có 271 từ láy vần mở chiếm 19,4% tổng số
[4] Vần e gồm 23 từ: bè hè, ke ne, bè nhè, kè ne, bè he, loe toe, chè lè, kè
né, lè tè, le the, lè thè, lè nhè, le the, lẻ tẻ, oẻ hoẹ, tè he, thẻ mẻ, le te, lẽ thẽ, tè
le, loe xoe, lèo xoè, loé choé.
[5] Vần gồm 16 từ: chứ bự, chứ lứ, bứ xứ, cự lự, bự sự, bự xự, lừ đừ, lứ dứ,
lừ khừ, lữ khữ, lừ rừ, ử nử, ứ h, khự nự, lử khử, lừ đừ, lừ khừ, t lự.
[7] Vần a gồm 4 từ: thừa bửa, thừa la, thừ mứa, la tha.
[8] Vần ơ gồm 48 từ: bơ phơ, bờ lơ, chờ vờ, bờ phờ, bở ngỡ, bơ hơ, bờ sờ,
bớ ngớ, chơ hơ, bơ lơ, bờ thờ, bợ ngợ, chơ ngơ, bơ vơ, bơ ngơ, chơ vơ, lờ mờ, lỡ
cỡ, tờ mờ, lơ vơ, lơ chơ, lờ ngờ, lớ ngớ, tở mở, xơ lơ, xơ rơ, xớ rơ, trơ vơ, tơ mơ, lơ mơ, thớ lợ, thờ ơ, sơ hở, ơ hờ, mờ ơ, lớ quớ, lớ rớ, lớ xớ, lờ vờ, lờ rờ, lờ phờ, lơ xơ, lờ đờ, lớ mớ, lờ mơ, lờ nhờ, lơ ngơ, lơ phơ.