1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu chức năng của đoạn miêu tả trong văn xuôi viết cho thiếu nhi

67 810 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 649,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì những lí do trên, việc nghiên cứu chức năng của đoạn miêu tả trong tác phẩm tự sự có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá cái hay, cái đẹp của tác phẩm đồng thời góp phần khẳng định

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

====***====

TRỊNH THỊ OANH

TÌM HIỂU CHỨC NĂNG CỦA ĐOẠN MIÊU TẢ TRONG VĂN XUÔI

VIẾT CHO THIẾU NHI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI – 2013

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

====***====

TRỊNH THỊ OANH

TÌM HIỂU CHỨC NĂNG CỦA ĐOẠN MIÊU TẢ TRONG VĂN XUÔI

VIẾT CHO THIẾU NHI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học

ThS, GVC LÊ KIM NHUNG

HÀ NỘI – 2013

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1.Trong tác phẩm tự sự, bên cạnh các yếu tố sự kiện, cốt truyện, nhân

vật thì miêu tả cũng là một trong những mảng ngữ nghĩa góp phần tạo nên nội

dung tác phẩm Các yếu tố miêu tả và biểu cảm giúp cho việc kể chuyện sinh

động, hấp dẫn hơn và đóng vai trò như một yếu tố định hướng giúp người đọc

hiểu, cảm và tìm ra phương pháp tiếp cận tác phẩm Việc sử dụng miêu tả

nhiều hay ít trong tác phẩm tự sự tùy thuộc vào phong cách tác giả, và

phương pháp sáng tác, phụ thuộc vào dụng ý nghệ thuật riêng của người nghệ

sĩ Do đó, miêu tả, biểu cảm trở thành một thủ pháp nghệ thuật

Vì những lí do trên, việc nghiên cứu chức năng của đoạn miêu tả trong

tác phẩm tự sự có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá cái hay, cái đẹp của

tác phẩm đồng thời góp phần khẳng định được nét độc đáo, phong cách riêng

của mỗi tác giả văn học

1.2 Văn học thiếu nhi từ lâu đã trở thành một bộ phận có vị trí đặc biệt

trong mỗi nền văn học dân tộc Nó được xem là hành trang quan trọng cho trẻ

em trên suốt đường đời, bởi lẽ những gì lưu giữ trong thời niên thiếu rất khó

phai mờ Véra C.Berclay khẳng định: “Trong trái tim mỗi trẻ em đều có cái

mà ta gọi là bản năng huyền diệu và sự kì lạ chính là trong khi nghe chuyện

mà em nhỏ giải được cơn khát cái huyền diệu, bởi vì, nhờ câu chuyện ấy, em

có thể ngao du trong thế giới của truyền thuyết và hút đầy bầu phổi không khí

phấn khởi của nó” Thực tế không ai không thừa nhận vai trò của văn học

thiếu nhi đối với việc bồi dưỡng tâm hồn, cao hơn là xây dựng tính cách cho

Trang 5

trẻ thơ Không ít người đã từng khẳng định: “Cuốn sách quan trọng nhất đời

ta chính là những cuốn đọc từ thời thơ ấu” (Mikhain) Nhờ có những đoạn

miêu tả mà những câu chuyện ấy đã làm sống dậy một không gian tràn ngập

âm thanh, màu sắc của thiên nhiên, cuộc sống thường ngày, khơi gợi lên kí ức

về một miền sâu thẳm của những câu chuyện cổ tích về thế giới con người

Rõ ràng văn học dành cho thiếu nhi là một bộ phận quan trọng, không thể

thiếu đối với hành trình đầu đời của bất cứ người nào Bởi vậy, còn trẻ em thì

vẫn còn văn học dành cho thiếu nhi, và còn rất cần những công trình nghiên

cứu về bộ phận văn học ấy

Mặt khác, trong vườn văn học viết cho thiếu nhi có nhiều tên tuổi như

Tô Hoài, Võ Quảng, Duy Khán, Phạm Hổ… Họ là những con chim sơn ca nổi

bật lên bằng giọng hót của mình Hiện nay, chúng ta cũng có những tác phẩm

hay cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Ngọc Thuần, Tạ Duy

Anh,…Đó là những tín hiệu mừng cho thấy nền văn học thiếu nhi Việt Nam

vẫn luôn âm ỉ, hứa hẹn một ngày bùng phát Trong những tác phẩm này, các

nhà văn đã sử dụng với mức độ khá lớn các đoạn miêu tả khiến cho tác phẩm

giàu chất thơ, sinh động và hấp dẫn hơn, đặc biệt rất gần gũi với lứa tuổi thiếu

nhi và được các em yêu thích Do đó tìm hiểu về chức năng của đoạn miêu tả

trong văn xuôi viết cho thiếu nhi là một điều hoàn toàn cần thiết để góp thêm

tiếng nói khẳng định một khía cạnh khác của văn học thiếu nhi

1.3 Nhiều tác phẩm viết cho thiếu nhi đã được chọn lọc và đưa vào giảng

dạy trong nhà trường Vì vậy việc tìm hiểu và nghiên cứu chức năng của đoạn

miêu tả trong văn học viết cho thiếu nhi có ý nghĩa thực tiễn quan trọng đối với

việc học tập cũng như giảng dạy sau này của bản thân Mặt khác, việc tìm hiểu

đề tài này giúp rèn được nhiều kĩ năng trong quá trình học tập

Trang 6

Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn như trên chúng tôi lựa

chọn, nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu chức năng của đoạn miêu tả trong văn

xuôi viết cho thiếu nhi”

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Việc nghiên cứu chức năng của đoạn miêu tả từ góc độ ngôn ngữ

Ngành “Ngôn ngữ học” trước đây mới chỉ dừng lại việc nghiên cứu ở

cấp độ câu mà ngữ pháp truyền thống cho là đơn vị ngữ pháp trực thuộc cao

nhất Sau này người ta thấy rằng cấp độ này không đáp ứng được những nhu

cầu thực tiễn của việc phân tích tác phẩm văn học và đã đi sâu vào việc

nghiên cứu ở cấp độ cao hơn - đó là cấp độ văn bản Lúc này thì “Ngôn ngữ

học văn bản thực sự làm một cuộc cách mạng vì nó đã đưa ngôn ngữ học lên

tầm một khoa học bao quát đối tượng của mình” Các nhà nghiên cứu đã đi

sâu tìm hiểu các khía cạnh của văn bản như: sự thống nhất của chủ đề văn

bản, các phương diện của hình thức văn bản, biện pháp tu từ văn bản… Đứng

ở góc độ ngôn ngữ thì chức năng của đoạn miêu tả trong tác phẩm tự sự là

một vấn đề lí thuyết rất mới mẻ Vấn đề này đã được một số nhà nghiên cứu

đề cập đến:

2.1.1 Giáo sư Đỗ Hữu Châu trong bài giảng “Ngữ nghĩa và các mảng

ngữ nghĩa trong tác phẩm tự sự” (chuyên đề giảng dạy cho hệ Thạc sỹ Ngữ

văn ĐHSP Hà Nội I) đã nêu và phân tích một số chức năng của đoạn miêu tả

trong tác phẩm tự sự như:

* Chức năng phân đoạn: Miêu tả được sử dụng để đánh dấu, chuyển

tiếp từ lốc sự kiện này sang lốc sự kiện khác Với chức năng này, đoạn miêu

tả có vai trò như một phương tiện liên kết

* Chức năng thư giãn: Miêu tả có tác dụng làm cho chuỗi sự kiện đi

chậm lại, kéo dài thời gian hoặc làm chậm đoạn mở nút

Trang 7

* Chức năng trang trí: Làm cho câu chuyện đẹp hơn, sinh động hơn và

gần với hiện thực ngoài đời hơn

* Chức năng tổ chức văn bản: Với chức năng này, đoạn miêu tả góp

phần đảm bảo sự liên kết logic giữa các sự kiện, làm cho sự kiện trở nên dễ

hiểu hơn Ngoài ra đoạn miêu tả còn làm tăng thêm tính có thể dự đoán được

của truyện Nói khác đi, đoạn miêu tả tạo bối cảnh và tạo tiền giả định để các

sự kiện tiếp theo xuất hiện

* Chức năng quy định: Miêu tả góp phần làm cho người đọc thấy được

những thông tin trực tiếp hay gián tiếp về sự kiện

2.1.2 Bên cạnh đó chương trình SGK Ngữ văn Trung học phổ thông đã

có những bài dạy về vai trò của yếu tố miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự:

* Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8 (tập 1), (Nguyễn Khắc Phi chủ biên)

NXB Giáo dục & Đào tạo, Hà Nội, 2004 khẳng định: “Trong văn bản tự sự,

rất ít khi các tác giả chỉ thuần kể người, kể việc mà khi kể thường đan xen các

yếu tố miêu tả và biểu cảm Các yếu tố miêu tả và biểu cảm làm cho việc kể

chuyện sinh động và sâu sắc” [11, Tr 74]

* Sách Ngữ văn 9 (tập 1), (Nguyễn Khắc Phi chủ biên) NXB Giáo dục

& Đào tạo, Hà Nội, 2004 cũng có nhận xét: “Trong văn bản tự sự, sự miêu tả

cụ thể, chi tiết về cảnh vật, nhân vật và sự kiện có tác dụng làm cho câu

chuyện trở nên hấp dẫn, gợi cảm và sinh động” [12, Tr92]

Như vậy chúng ta có thể thấy vấn đề vai trò, chức năng của miêu tả

trong văn xuôi không chỉ là đối tượng nghiên cứu của các sách giáo trình Đại

học mà còn được chương trình sách giáo khoa phổ thông đề cập đến Điều đó

cho thấy đây là vấn đề đã được quan tâm, một vấn đề có ý nghĩa và mang tính

thời sự Vì vậy việc đi sâu, tìm hiểu chức năng của đoạn miêu tả trong tác

phẩm tự sự là cần thiết

Trang 8

Tuy đã được Giáo sư Đỗ Hữu Châu và chương trình sách giáo khoa

Trung học cơ sở đề cập đến, nhưng vấn đề chức năng của đoạn miêu tả trong

tác phẩm tự sự mới chỉ được dừng lại ở việc phân tích một số dẫn chứng tiêu

biểu minh họa cho vấn đề lí thuyết Vì vậy vấn đề này vẫn mang tính chất gợi

mở Trên cơ sở lí thuyết của Giáo sư Đỗ Hữu Châu, chúng tôi phân tích

những kết quả, ngữ liệu thống kê được trong những tác phẩm viết cho thiếu

nhi của nhiều tác giả nhằm làm rõ hơn vấn đề lí thuyết về chức năng của đoạn

miêu tả trong tác phẩm tự sự mà Giáo sư Đỗ Hữu Châu đã đề cập

2.1.3 Trước đó đã có một số khóa luận tốt nghiệp đại học nghiên cứu về chức

năng của đoạn miêu tả Nhưng những khóa luận này chủ yếu nghiên cứu chức

năng của đoạn miêu tả trong các tác phẩm viết cho người lớn như: Tìm hiểu

chức năng của đoạn miêu tả trong văn xuôi Thạch Lam của sinh viên Kim

Thị Hân, khóa 29 (2006), trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 hay Tìm hiểu

chức năng đoạn miêu tả trong tác phẩm tự sự của Nguyễn Minh Châu, Tô Thị

Hồng Nhung, khóa 31 (2008), trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Việc nghiên cứu chức năng của đoạn miêu tả trong các tác phẩm văn xuôi viết

cho thiếu nhi chưa được tác giả nào đề cập đến Vì vậy, tìm hiểu chức năng

của đoạn miêu tả trong văn xuôi viết cho thiếu nhi là một việc làm rất cần

thiết Tìm hiểu đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm tiếng nói khẳng định

một khía cạnh khác của văn học thiếu nhi

2.2 Việc nghiên cứu ngôn ngữ trong văn xuôi viết cho thiếu nhi

Văn học viết cho thiếu nhi từ lâu đã trở thành một bộ phận có vị trí đặc

biệt trong mỗi nền văn học dân tộc Nó được xem là hành trang quan trọng,

không thể thiếu đối với hành trình đầu đời của mỗi con người Lịch sử vấn đề

nhìn trên bình diện sâu, các công trình nghiên cứu về văn học thiếu nhi nước

ta không phải ít Các nhà nghiên cứu đã dành phần lớn thời gian, tâm huyết

của đời mình làm công việc phê bình những sáng tác văn học dành cho thiếu

Trang 9

nhi Tuy nhiên chúng ta buộc phải so sánh và thừa nhận rằng độ chênh lệch

giữa đầu tư nghiên cứu bộ phận văn học thiếu nhi so với việc nghiên cứu

những tác giả, tác phẩm viết cho người lớn là quá lớn Tác giả Lê Đình Vân

Nhi, trong công trình nghiên cứu “Đặc điểm truyện viết cho thiếu nhi” đã chỉ

rõ: “Có nhiều nguyên nhân khiến cho mảng nghiên cứu văn học thiếu nhi

thiếu bề rộng lẫn bề sâu so với các bộ phận nghiên cứu văn học khác Nhưng

có lẽ lí do lớn nhất là thiếu độc giả của phê bình văn học”

2.2.1 Năm 2002, Hội đồng Văn học thiếu nhi kết hợp với nhà xuất bản Từ

điển Bách khoa Hà Nội nuôi ý định làm một bộ sách nghiên cứu văn học thiếu

nhi Việt Nam gồm bốn tập: Tập một: Tổng quan về văn học thiếu nhi Việt

Nam; Tập hai: Thơ ca văn học thiếu nhi Việt Nam (tuyển); Tập ba: Văn xuôi

văn học thiếu nhi Việt Nam (tuyển); Tập bốn: Từ điển tác giả văn học thiếu

nhi Việt Nam Dự định tốt đẹp ấy đến hôm nay đã đem đến cho ngành nghiên

cứu văn học một thành quả tốt đẹp Đó là sự ra đời tập một của bộ sách

nghiên cứu văn học thiếu nhi với gần 500 trang giấy in Đây được xem là

công trình nghiên cứu về văn học trẻ em dày dặn nhất ở nước ta hiện nay

Năm 2003, “Giáo trình văn học trẻ em Việt Nam” của Lã Thị Bắc Lý

đã được nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội ấn hành để phục vụ cho sinh

viên các khoa Giáo dục Mầm non, Giáo dục đặc biệt Đây được xem là một

công trình nghiên cứu khá chuẩn cung cấp những kiến thức cơ bản về nền văn

học thiếu nhi Việt Nam và giới thiệu thêm những tinh hoa văn học trẻ em của

nước ngoài Đọc chương giới thiệu một số tác giả Việt Nam tiêu biểu, chúng

tôi nhận thấy người nhiên cứu đã thể hiện rõ công phu để nắm bắt được đặc

điểm, giá trị nổi bật trong những sáng tác của Võ Quảng, Tô Hoài từ mảng

thơ ca đến văn xuôi, từ nội dung đến nghệ thuật

2.2.2 Nghiên cứu về các tác phẩm văn xuôi viết cho thiếu nhi, các tác giả chủ

yếu tập trung về mặt thi pháp, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ văn

Trang 10

xuôi như bài viết: Đồng thoại trong văn học viết cho thiếu nhi in trên trang

mạng tôn vinh văn học dân tộc hay Đặc điểm truyện viết cho thiếu nhi của Lê

Đình Vân Nhi,… Cũng đã có một số khóa luận tốt nghiệp đại học, đặc biệt là

khóa luận thuộc chuyên ngành Tiếng Việt của các khoa Giáo dục Mầm non,

Giáo dục Tiểu học của các trường Đại học Sư phạm nghiên cứu về văn xuôi

viết cho thiếu nhi Các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu ở cấp độ từ và

câu như đề tài Giá trị sử dụng của câu đặc biệt trong tiểu thuyết “Quê nội”

và “Tảng sáng” của Võ Quảng của Nguyễn Thu Thảo, khóa 34 (2012),

trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; Hiệu quả nghệ thuật phương thức hoán dụ

trong hồi kí “Tuổi thơ im lặng” của nhà văn Duy Khán, Trương Thanh

Huyền, khóa 34 (2012), trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2…

Trong khóa luận tốt nghiệp Thạc sĩ với đề tài Ngôn ngữ đối thoại trong

truyện ngắn Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Thị Thu Hằng có đoạn viết: “Ngôn

ngữ của Nguyễn Nhật Ánh mang đậm màu sắc Nam Bộ… Trong tác phẩm của

mình, Nguyễn Nhật Ánh thường xuyên sử dụng tiếng lóng, tiếng địa phương…

Ngoài ra Nguyễn Nhật Ánh còn vận dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ, quán

ngữ để câu nói thêm đưa đẩy, ý nhị và sâu sắc hơn… Nhà văn viết bằng ngôn

ngữ giản dị, bình thường như ngôn ngữ thường ngày của trẻ Đôi chỗ cộc lốc

nhưng vẫn sắc bén, hàm súc, phù hợp với nội dung hiện thực đời thường”

Nghiên cứu về ngôn ngữ văn xuôi viết cho thiếu nhi Các bài viết đã

nêu lên những đóng góp to lớn của nhiều nhà văn viết cho thiếu nhi trong việc

sử dụng ngôn ngữ để tạo nên nét đặc sắc, sinh động, không chỉ hấp dẫn tuổi

thơ mà còn cuốn hút cả những độc giả là người lớn Các bài viết cũng cho

thấy phong cách riêng của từng tác giả

Hoàng Văn Sơn cũng từng viết: “Ngôn ngữ văn học của Nguyễn Nhật

Ánh rất sáng sủa, việc sử dụng tiếng địa phương, tiếng lóng rất có liều lượng,

góp phần tạo nên tính phổ cập của tác phẩm”

Trang 11

Nói tới ngôn ngữ trong Dế Mèn phiêu lưu kí, nhà phê bình Vũ Nho

Ninh nhận xét: “Nhà văn Tô Hoài chẳng những quan sát tinh tế, miêu tả sinh

động từng loài vật như: Bọ Ngựa, Kiến Chúa, Châu Chấu Voi,… mà ngôn

ngữ kể chuyện cũng cuốn hút Ngoài những từ ngữ hóm hỉnh, ý nhị, nhà văn

còn sáng tạo ra không ít những từ mới mang thương hiệu Tô Hoài”

Nhà văn Nguyễn Kiên trong Một tấm lòng vì tuổi thơ (1983) dường

như đã phát hiện ra nét nổi bật của ngòi bút Võ Quảng: “Chúng ta có một Võ

Quảng thơ và một Võ Quảng văn xuôi, và thường trên những trang sách hay

nhất của anh, cái chất thơ và chất văn xuôi của Võ Quảng dẫn nhập vào

nhau, hỗ trợ nhau, tạo nên một vẻ đẹp riêng Võ Quảng”

Giáo sư Phong Lê khi đi Vào thế giới thu nhỏ trong “Quê nội” và

“Tảng sáng” của Võ Quảng đã nhận ra: “Một giọng điệu chầm buồn, và đôi

khi như có gì hiu hắt nữa, cứ bám riết, và hằn in lên nửa cuộc đời của số

không ít nhân vật truyện, nơi phía bên kia bóng tối chế độ cũ, mà bản lề là

Cách mạng tháng Tám 1945 Và từ đó mà tỏa rộng và loang dần ra một niềm

vui, một sự bâng khuâng và đôi khi như rạo rực của một cuộc đổi đời đã diễn

ra từ mùa thu năm ấy”

Nhà văn Đoàn Giỏi cũng tạo được dấu ấn riêng khi sử dụng ngôn ngữ

mang đặc trưng của vùng Nam Bộ Nguyễn Thị Xuân trong Tiếng vọng những

mùa qua, nhận định về tác giả “Đất rừng phương Nam”: “Có những mảnh

đất sinh ra những nhà văn, và ngược lại, có nhà văn từ trang viết đã biến

miền quê riêng của mình thành miền quê chung thân thuộc trong tâm tưởng

bao người… với Đoàn Giỏi, tôi nghĩ rằng ông đã đón nhận cái hạnh phúc đó

Ông đã đem đến cho bạn đọc cả những hiểu biết và tình cảm về một vùng đất

mà lúc đó xa lạ, hoang sơ trong hình dung mọi người … Ông đã xây dựng

nhân vật lòng đầy nghĩa khí mà tinh tế và giàu văn hóa” (Đoàn Giỏi, Đất

rừng và phương Nam)

Trang 12

Qua việc tìm hiểu trên, chúng ta có thể thấy rằng, việc nghiên cứu ngôn

ngữ trong văn xuôi viết cho thiếu nhi từ góc độ ngôn ngữ mới chỉ dừng lại ở

việc minh họa lí thuyết, hoặc chỉ điểm qua ở một vài tác giả mà chưa đi sâu,

và nếu có cũng chỉ là gợi mở

Từ những định hướng về cơ sở lí luận của các nhà nghiên cứu, chúng

tôi đi sâu tìm hiểu đề tài: “Tìm hiểu chức năng của đoạn miêu tả trong văn

xuôi viết cho thiếu nhi” Hi vọng đề tài này sẽ góp thêm tiếng nói khẳng định

một khía cạnh khác của văn học thiếu nhi

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Qua việc khảo sát và nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu chức năng của

đoạn miêu tả trong văn xuôi viết cho thiếu nhi” chúng tôi hi vọng góp phần bổ

sung và khẳng định rõ hơn một vấn đề lí thuyết của Ngôn ngữ học Đó là vấn

đề chức năng của đoạn miêu tả trong tác phẩm tự sự

3.2 Đề tài góp phần kết luận về chức năng của đoạn miêu tả trong văn

xuôi viết cho thiếu nhi nói riêng và văn xuôi nói chung

3.3 Khảo sát đề tài này, tư liệu và hướng nghiên cứu của nó sẽ là

những tài liệu cần thiết phục vụ cho nhiệm vụ học tập hôm nay cũng như

trong công việc giảng dạy sau này, đặc biệt sẽ góp phần vào việc bồi dưỡng

cho bản thân năng lực phân tích và cảm thụ văn chương

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Muốn đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện một số nhiệm vụ sau:

4.1 Tập hợp các vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài

4.2 Khảo sát, thống kê, phân loại chức năng các đoạn miêu tả trong các

tác phẩm viết cho thiếu nhi

4.3 Phân tích đoạn miêu tả, xem xét chức năng và hiệu quả sử dụng

của nó, từ đó rút ra kết luận

Trang 13

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu: Đoạn miêu tả và chức năng của đoạn miêu

tả trong văn xuôi viết cho thiếu nhi

5.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Tuyển tập Tô Hoài, NXB Văn học

- Tuổi thơ im lặng, Duy Khán, NXB Văn học

- Đất rừng phương Nam, Đoàn Giỏi, NXB Văn học

- Tiểu thuyết Quê nội và Tảng sáng của Võ Quảng, NXB Văn học

- 365 câu chuyện mẹ kể con nghe, NXB Đồng Nai

- Cái Tết của Mèo con, Nguyễn Đình Thi, NXB Văn học

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi thực hiện một số phương pháp nghiên

cứu sau:

6.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp thống kê, phân loại được thực hiện để có nguồn ngữ liệu

về đoạn miêu tả nhằm phục vụ cho việc khảo sát, phân tích, tìm hiểu đối

tượng nghiên cứu

6.2 Phương pháp phân tích

Phương pháp này dùng để xác định chức năng của đoạn miêu tả trong

các tác phẩm văn xuôi viết cho thiếu nhi

7 Bố cục khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục và Tài liệu tham khảo, khóa

luận gồm hai chương chính:

- Chương 1: Cơ sở lí thuyết

- Chương 2: Chức năng của đoạn miêu tả

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1.Một số vấn đề về văn tự sự

1.1.1 Khái niệm về văn tự sự

1.1.1.1 Khái niệm tự sự

“Tự sự là dùng lời nói hay lời văn làm cho sống lại một câu chuyện, tức

là một câu chuyện có sự chuyển động, sự diễn biến từ thời điểm này sang thời

điểm khác, có bắt đầu, có phát triển, có kết thúc, có sự tham gia, sự hoạt động

của con người” [3, Tr 5]

1.1.1.2.Bản chất và ý nghĩa của văn bản tự sự

Tác giả Đỗ Ngọc Thống trong cuốn sách Làm văn, NXB Đại học Sư

phạm, đã xác định bản chất của tự sự và văn bản tự sự là miêu tả sự kiện (kể

chuyện, trần thuật)

Khái niệm tự sự vốn có nội hàm rộng, nhưng thường được hiểu theo hai

nghĩa: thứ nhất, tự sự như là một trong ba phương thức miêu tả, phản ánh đời

sống trong văn học; thứ hai, tự sự là một loại hình văn học bên cạnh loại trữ

tình và kịch

Với nghĩa thứ nhất, tự sự dùng để chỉ phương thức miêu tả, phản ánh của

văn học mà ở đó thiên về miêu tả sự kiện, kể chuyện Phương thức thiên về miêu

tả sự kiện (kể chuyên, trần thuật) này chủ yếu dùng trong tác phẩm tự sự

Với nghĩa thứ hai, tự sự chỉ một loại tác phẩm văn học (tác phẩm tự sự,

phân biệt với tác phẩm trữ tình và tác phẩm kịch) Nó bao gồm thần thoại, sử

thi, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện thơ, tiểu thuyết,

truyện vừa, truyện ngắn và các loại kí tự sự,… Phạm vi của tác phẩm tự sự rất

Trang 15

đa dạng Nó có thể được viết bằng văn xuôi như tiểu thuyết, truyện ngắn, viết

bằng văn vần như anh hùng ca, truyện thơ Có tác phẩm nằm trong thể loại kí

như kí sự, phóng sự,…

Tuy vậy, dù hiểu theo nghĩa nào, thì “miêu tả sự kiện” hay “kể chuyện”

đều được xem như tiêu chí quan trọng nói lên bản chất của tự sự và văn bản

tự sự

Với mục đích chủ yếu là kể, thuật, trình bày sự việc, nhân vật,… văn tự

sự cũng như văn miêu tả, có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống tinh thần của

con người Thông qua việc mô tả sự kiện, tái hiện bức tranh đời sống, văn tự

sự nhất là truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, giúp ta nhận thức đầy đủ, sâu

sắc hơn bản chất đời sống, xã hội, con người

1.1.2 Văn bản tự sự và văn bản miêu tả

Trong thực tế rất ít khi người ta chỉ thuần túy làm văn miêu tả Miêu tả,

như một bài văn độc lập có lẽ chỉ tồn tại trong nhà trường (với ý nghĩa rèn

cho học sinh một số kĩ năng như quan sát, miêu tả, người, vật, cảnh chung

quanh mình) Còn nói chung, văn miêu tả thường được xem như một công cụ,

một kĩ năng để làm văn bản tự sự (một kiểu văn bản tổng hợp)

Tuy ranh giới giữa miêu tả và tự sự không thật rõ, hoặc không phải bao

giờ cũng rõ rệt, nhưng xét trên đại thể, tự sự khác với miêu tả ở chỗ tự sự về

bản chất là kể lại, thuật lại sự việc, câu chuyện, theo một quá trình diễn biến

nào đó Sự việc, câu chuyện thì có bắt đầu, có phát triển, có kết thúc Còn

miêu tả là tả lại, “vẽ” lại bằng lời một cảnh, một người, một vật Như vậy, khi

kể chuyện, người ta phải làm rõ diễn biến sự việc, hoặc chú ý làm rõ các quan

hệ, trạng thái đời sống theo quá trình biến đổi đa dạng, phức tạp của nó

Trang 16

Văn tự sự tất nhiên khi cần có sử dụng đến miêu tả Nhưng bản thân sự

việc miêu tả, ngay cả trong trường hợp chiếm một tỉ lệ rất lớn trong văn bản,

chưa thành văn tự sự

1.1.3 Đặc điểm của văn bản tự sự

Có thể xác định rõ đặc điểm chung của văn bản tự sự qua mấy nét cơ

bản sau đây:

Thứ nhất, tự sự hay văn bản tự sự dùng lời kể và lời miêu tả của người

kể chuyện để thông báo về thời gian, địa điểm, gọi ra đặc điểm của nhân vât, sự

kiện, phân tích tâm trạng, tình huống nhằm làm hiện lên bức tranh đời sống

Lời kể và lời miêu tả chiếm một bộ phận lớn và giữ vai trò chủ đạo trong lời

văn nghệ thuật của văn bản tự sự Trong khi tái hiện các sự kiện, biến cố, nhân

vật, lời kể và lời miêu tả trong văn bản tự sự đồng thời có nhiệm vụ thuyết

minh, bình phẩm, đánh giá về các sự kiện, biến cố, nhân vật,… đó Và, lời kể

đương nhiên cũng có chức năng tái hiện lại cả lời nhân vật

Thứ hai, văn bản tự sự có sự kiện, biến cố, cốt truyện trong khi các loại

văn bản khác không có hay không cần đến các yếu tố này Cốt truyện, nếu có,

được tổ chức thành chuỗi biến cố xảy ra liên tiếp, cái này tiếp sau cái kia, xô

đẩy nhau tới đỉnh điểm buộc phải giải quyết và kết thúc Sự kiện trong văn

bản tự sự luôn được xem như là tiêu chí quan trọng để nhận diện loại văn bản

này Văn bản tự sự được xây dựng trên cơ sở đan kết các sự kiện tạo nên

mạch chính cho tác phẩm - cũng là mạch quy luật của đời sống, bộc lộ bản

chất của các tính cách, các hiện tượng đời sống

Thứ ba, văn bản tự sự, nhất là văn bản truyện, có khả năng thể hiện

nhân vật trong thế giới nghệ thuật của nó một cách linh hoạt, đa dạng, đầy

đặn Nhân vật ở đây, có thể được miêu tả toàn bộ hay một phần cuộc đời, có

thể được miêu tả một cách kĩ càng từ chân dung ngoại hình cho đến những

Trang 17

suy tư thầm kín bên trong, từ hành trạng cho đến quá trình phát triển, từ một

vài đến nhiều mặt hoạt động trong quan hệ đời sống Theo đó, hệ thống chi

tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự cũng thường dày đặc, đa dạng hơn

Thứ tư, văn bản tự sự rất giàu các hình thức ngôn ngữ và thường kết

hợp hài hòa, linh hoạt các hình thức văn bản khác (miêu tả, biểu cảm,…)

Trong văn bản tự sự có ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật; có lời

đối thoại, độc thoại nội tâm Trong đó lời của người kể chuyện vẫn luôn là

thành phần quan trọng nhất

Các đặc điểm nổi bật trên đây tạo cho văn bản tự sự những ưu thế đặc

biệt trong việc mô tả, phản ánh những bức tranh đời sống hết sức sâu, rộng

1.2 Một số vấn đề về văn miêu tả

1.2.1 Khái niệm “miêu tả”

“Miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc màu sắc, đường nét, nhạc điệu để làm

cho người khác hình dung được hình thức các sự vật hoặc hình dáng, tâm

trạng trong khung cảnh nào đó” [14, Tr 1123]

Nhà văn Phạm Hổ viết: “Miêu tả giỏi là khi đọc những gì chúng ta

viết, người đọc như nhìn thấy cái đó hiện ra trước mắt mình: một con người,

một con vật, một dòng sông…Người đọc còn có thể nghe được cả tiếng nói,

tiếng kêu, tiếng nước chảy Thậm chí còn ngửi thấy được mùi hôi, mùi sữa,

mùi hương hoa, hay mùi rêu, mùi ẩm mốc,…”

1.2.2 Văn miêu tả và các thể văn khác

Trong cuốn Văn miêu tả và kể chuyện, nhà văn Phạm Hổ khi giới thiệu

một số đoạn văn, tập hợp chúng trong phần trích chọn đã phải thừa nhận rằng:

“Muốn chia văn miêu tả riêng, văn kể chuyện riêng, nhưng không thể làm

được Vì chỉ có một đôi đoạn văn thuần là miêu tả, hoặc thuần là kể chuyện,

còn phần lớn, cả hai thể loại đều đan xen lẫn vào nhau”

Trang 18

Trong nhà trường phổ thông phân ra văn miêu tả và kể chuyện (tự sự)

chẳng qua là để học sinh nhận rõ các thao tác kể và tả, từ đó mà luyện tập cho

nhuần nhuyễn từng thao tác, sau đó phải biết kết hợp từng thao tác này trong

một bài viết Quả thật, các đoạn văn miêu tả và kể chuyện không tồn tại độc

lập mà chúng “xen lẫn vào nhau”, là “phương tiện” của nhau

Các yếu tố miêu tả và biểu cảm làm cho ý nghĩa của truyện càng thêm

thấm thía và sâu sắc Nó cũng giúp tác giả thể hiện được thái độ trân trọng và

tình cảm yêu mến của mình đối với nhân vật và sự việc Tất nhiên nói như thế

không có nghĩa là các yếu tố tự sự không quan trọng Ngược lại nếu bỏ hết

các yếu tố kể chỉ để lại các câu văn miêu tả và biểu cảm thì không có chuyện

Bởi vì cốt truyện là do sự việc và nhân vật cùng với những hành động chính

tạo nên Các yếu tố miêu tả và biểu cảm chỉ có thể bám vào sự việc và nhân

vật mới phát triển được Nòng cốt của đoạn văn tự sự là sự việc và nhân vật

chính Các yếu tố miêu tả, biểu cảm phải dựa vào sự việc và nhân vật chính để

phát triển Những yếu tố này kết hợp, đan xen, thậm chí nhiều khi như hòa lẫn

trong một đoạn văn Tuy vậy các yếu tố miêu tả nhiều hay ít cũng chỉ tập

trung làm sáng tỏ cho sự việc cũng như nhân vật chính mà thôi

Có thể nói ít khi miêu tả chỉ là tả thuần túy, vì cảnh vật luôn gắn với sự

việc, con người Cảnh vật thường thông qua cách nhìn nhận, suy nghĩ và hành

động của con người, đúng như nhà văn Tô Hoài đã viết: “Nói miêu tả, dễ

tưởng miêu tả chỉ là tô vẽ phong cảnh trời nắng, trời mưa, chớp bể mưa

nguồn và thiên nhiên: cây vườn, bãi cỏ, con sông… không, hàng đầu miêu tả

là chú trọng sự việc, con người”

1.2.3 Đặc điểm của văn bản miêu tả

1.2.3.1.Quan sát trong văn miêu tả

Bất kì sự tưởng tượng nào dù phong phú và kì vĩ đến đâu cũng đều bắt

đầu từ thực tế, gằn với đời sống thực tế Muốn có sự từng trải và sự hiểu biết

Trang 19

thực tế cần phải quan sát Những trang văn miêu tả hay, có hồn và sống động

là những trang văn của những người biết quan sát, có tài quan sát và chịu khó

quan sát Nhà văn Tô Hoài sở dĩ làm đắm say nhiều thế hệ thiếu nhi bằng

những trang miêu tả về hoạt động, tính nết, “phong tục” của những chú Dế

Mèn, Dế Trũi, đại vương ếch Cốm, thầy đồ Cóc,… là do ông đã gắn bó, bầu

bạn và say mê quan sát cái thế giới rất nhiều cây cỏ và các loài vật trên bãi

sông trước cổng làng ông

Quan sát không chỉ là quan sát hành động bề ngoài mà nhiều khi còn

phải quan sát bên trong để hiểu và thể hiện được những diễn biến nội tâm của

nhân vật Trong trường hợp này nhà văn phải nhập thân vào nhân vật

Muốn viết được, nhất thiết “phải biết quan sát để ấn sâu thêm trí nhớ,

giúp sức cho tưởng tượng” Nhà văn Tô Hoài đã khẳng định: “Muốn quan sát

tốt còn phải lựa chọn cho mình một điểm nhìn, góc nhìn hợp lí Khi viết một

văn bản tự sự hay miêu tả, bao giờ người viết cũng phải xuất phát từ một vị trí,

đóng vai một người nào đó để quan sát, miêu tả, thuật lại câu chuyện Người ta

gọi điểm nhìn là vị trí, cương vị mà người kể sử dụng khi kể lại câu chuyện”

1.2.3.2 Liên tưởng và tưởng tượng trong văn bản miêu tả

Liên tưởng và tưởng tượng đóng vai trò rất quan trọng trong sự hình

thành và phát triển tài năng, tâm hồn, nhân cách của con người V.I.Lênin đã

có lần cho rằng: “nếu không có tưởng tượng thì không chỉ không có các nhà

thơ, nhà văn và tác phẩm văn học, mà thậm chí còn không có cả các bài toán

vi phân và tích phân nữa…”

Đối với việc viết văn nói chung và làm văn miêu tả nói riêng, tưởng

tượng đóng vai trò rất quan trọng Nhờ có tưởng tượng mà tất cả các những

hình ảnh, màu sắc, âm thanh… đều có thể được tái hiện trước mắt chúng ta

trong điều kiện chúng không nhất thiết phải xuất hiện

Văn miêu tả nhằm dựng người, dựng cảnh, dựng không khí, giúp người

đọc hình dung ra sự vật, sự việc một cách sinh động, cụ thể Vì thế khi viết

Trang 20

văn miêu tả, người ta thường dùng liên tưởng, ví von, so sánh… Nhờ có liên

tưởng, so sánh mà văn miêu tả khơi gợi được trí tưởng tượng, kích thích được

óc sáng tạo của người đọc Hầu như giở bất cứ một trang văn miêu tả hay nào,

chúng ta cũng sẽ dẫn ra được những liên tưởng so sánh thú vị Đó là những so

sánh, liên tưởng vừa gần gũi vữa quen thuộc, lại vừa rất bất ngờ, mới lạ khiến

người đọc không khỏi ngẫm nghĩ, ngỡ ngàng thậm chí kinh ngạc

1.2.3.3 Thái độ và tình cảm của người viết trong bài văn miêu tả

Văn miêu tả cố nhiên phải có mục đích tái hiện đối tượng, song, mỗi

người một vẻ Tâm hồn người viết bao giờ cũng được thể hiện đằng sau “bức

tranh” cảnh, vật, con người Đọc một tác phẩm miêu tả, dù tả cảnh, tả người hay

tả tâm trạng, người đọc vẫn cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của người viết

1.2.3.4 Ngôn từ trong văn bản miêu tả

Một trong những yếu tố quan trọng giúp nhà văn diễn đạt thành công

những cung bậc tình cảm và sắc thái hiện thực là bởi hệ thống từ gợi hình ảnh

và cảm giác vô cùng đa dạng, phong phú

Văn miêu tả cũng rất hay dùng và dùng rất có kết quả các biện pháp tu

từ như nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ,… Với các biện pháp tu từ này, con người và

cảnh vật tìm thấy chỗ hòa đồng trong nhau: cảnh vật trở nên có hồn giống như

con người, và tâm hồn con người thì hòa tan vào cảnh vật

*Trong văn miêu thường có nhiều dạng như văn tả cảnh, văn tả người,

tả cây cối, tả loài vật, tả cảnh sinh hoạt Ở đề tài nghiên cứu này chúng tôi chủ

yếu chọn những đoạn miêu tả cảnh thiên nhiên trong một số tác phẩm văn

xuôi viết cho thiếu nhi

Trang 21

1.3 Các mảng ngữ nghĩa trong tác phẩm tự sự và chức năng của đoạn

miêu tả

1.3.1 Các mảng ngữ nghĩa trong tác phẩm tự sự

Giáo sư Đỗ Hữu Châu trong bài giảng chuyên đề “Ngữ nghĩa và các

mảng ngữ nghĩa trong tác phẩm tự sự” đã chỉ ra ba mảng ngữ nghĩa của

truyện gồm:

*Các sự kiện:

Sự kiện là những tình tiết của truyện, là cái làm nên cốt truyện Cốt

truyện và các sự kiện là yếu tố đảm bảo cho truyện có tính bền vững và có

khả năng truyền từ người này sang người khác; từ thế hệ này sang thế

hệ khác

Nếu thay đổi hoặc lược bỏ sự kiện thì sẽ làm thay đổi toàn bộ nội dung

của truyện và sẽ biến thành một truyện khác Chính vì thế, sự kiện là một

mảng ngữ nghĩa trong tác phẩm tự sự

* Bình luận của người kể:

Bình luận của người kể góp phần thể hiện vai trò của người kể Nếu tác

phẩm có lời bình luận thì vai trò của người kể được thể hiện một cách trực

tiếp Đó là vai trò dẫn dắt sự kiện hoặc bình luận, đánh giá sự kiện

*Đoạn miêu tả:

Tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện và gắn liền với cốt truyện

là một hệ thống các nhân vật được khắc họa nhiều mặt Cốt truyện được triển

khai, nhân vật được khắc họa thông qua các chi tiết nghệ thuật phong phú, đa

dạng như: các sự kiện, xung đột, ngoại cảnh, ngoại hình nhân vật, hoạt động

nội tâm Để tổ chức các chi tiết nghệ thuật, tác giả dùng lời để giới thiệu, giải

thích, thuyết minh các sự việc xảy ra, biểu hiện cách cảm nhận, cách đánh giá

của tác giả đối với sự việc

Trang 22

Trong tác phẩm tự sự ngoài cốt truyện, nhân vật và lời kể thì miêu tả

cũng là một trong những mảng ngữ nghĩa góp phần tạo nên nội dung tác

phẩm Đoạn miêu tả có vai trò như một yếu tố định hướng giúp người đọc

hiểu và cảm nhận tác phẩm sâu hơn

Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 8 (tập 1), NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004 đã

nêu rõ: “Trong tác phẩm tự sự rất ít khi các tác giả chỉ thuần kể người, kể việc

mà khi kể thường đan xen các yếu tố miêu tả và biểu cảm Các yếu tố miêu tả và

biểu cảm làm cho việc kể chuyện sinh động và hấp dẫn hơn [11, Tr 74]

Việc sử dụng nhiều hay ít đoạn miêu tả trong tác phẩm tự sự tùy thuộc

vào phong cách tác giả và đặc trưng phương pháp sáng tác

1.3.2 Chức năng của đoạn miêu tả

Căn cứ vào những kết quả khảo sát cụ thể trong bài giảng “Ngữ nghĩa

và các mảng ngữ nghĩa trong tác tác phẩm tự sự” (chuyên ngành giảng dạy

cho hệ Thạc sĩ Ngữ văn ĐHSP Hà Nội 1), Giáo sư Đỗ Hữu Châu đã nêu ra

các chức năng cơ bản của đoạn miêu tả trong tác phẩm tự sự như sau:

+ Chức năng phân đoạn: miêu tả được sử dụng để đánh dấu, chuyển

tiếp từ lốc sự kiện này sang lốc sự kiện khác Với chức năng này đoạn miêu tả

có vai trò như một phương tiện liên kết

+ Chức năng thư giãn: miêu tả có tác dụng làm cho chuỗi sự kiện đi

chậm lại, kéo dài thời gian hoặc làm chậm đoạn mở nút của truyện

+ Chức năng trang trí: làm cho câu chuyện đẹp hơn, sinh động hơn và

gần với hiện thực ngoài đời hơn

+ Chức năng tổ chức: với chức năng này, miêu tả góp phần đảm bảo sự

liên kết lôgic giữa các sự kiện làm cho sự kiện trở nên dễ hiểu hơn Ngoài ra

đoạn miêu tả còn làm tăng thêm tính có thể dự đoán được của truyện Nói khác

đi, miêu tả tạo bối cảnh và tạo tiền giả định để các sự kiện tiếp theo xuất hiện

Trang 23

+ Chức năng quy định: miêu tả góp phần làm cho người đọc thấy được

những thông tin trực tiếp hay gián tiếp về sự kiện

Giải thích một cách bản chất và sâu xa, sở dĩ đoạn miêu tả trong tác

phẩm tự sự có thể thực hiện được các chức năng trên là do ưu thế của hình

thức giao tiếp bằng ngôn ngữ Khác với các loại hình nghệ thuật khác, tác

phẩm văn học thông qua các yếu tố ngôn ngữ được sử dụng có khả năng định

hình bằng văn tự và có thể lưu giữ Khi viết tác phẩm, nhà văn đồng thời giao

tiếp với độc giả, trình bày tất cả các suy nghĩ, đánh giá, tư tưởng của mình với

độc giả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua ngôn ngữ, nhờ ngôn ngữ

Vì vậy bất cứ yếu tố nào khi đưa vào tác phẩm nghệ thuật đều trở thành chi

tiết nghệ thuật Đoạn miêu tả trong tác phẩm tự sự cũng là một chi tiết nghệ

thuật và nó có thể thực hiện tất cả các chức năng của mình với vai trò định

hướng giao tiếp

*Tiểu kết: Trong tác phẩm tự sự, bên cạnh các yếu tố sự kiện, cốt

truyện, nhân vật, thì miêu tả cũng là một trong những mảng ngữ nghĩa góp

phần tạo nên nội dung tác phẩm Các yếu tố miêu tả và biểu cảm giúp cho

việc kể chuyện sinh động, hấp dẫn hơn và đóng vai trò như như một yếu tố

định hướng để người đọc tiếp cận tác phẩm Vì vậy, việc nghiên cứu chức

năng của đoạn miêu tả trong tác phẩm tự sự có ý nghĩa quan trọng trong việc

đánh giá cái hay, cái đẹp của tác phẩm, đồng thời góp phần khẳng định nét

độc đáo, phong cách riêng của mỗi tác giả văn học

Những cơ sở lí luận về Phong cách học văn bản và Ngữ dụng học nêu

trên là tiền đề lí luận để chúng tôi xem xét và xử lí đề tài

Trang 24

Chương 2 CHỨC NĂNG CỦA ĐOẠN MIÊU TẢ 2.1 Kết quả khảo sát, thống kê, phân loại

2.1.1 Bảng tổng hợp kết quả thống kê

Chúng tôi tiến hành khảo sát trong một số tác phẩm viết cho thiếu nhi

của một số nhà văn như: Dế Mèn phiêu lưu kí, O Chuột của Tô Hoài; Quê nội,

Tảng sáng của Võ Quảng; Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi; Cái Tết của

Mèo con của Nguyễn Đình Thi; Cuộc chia tay của những con búp bê của

Khánh Hoài; Tuổi thơ im lặng của Duy Khán; và 365 câu chuyện mẹ kể con

nghe, NXB Đồng Nai Bằng thao tác phân tích, phân loại chúng tôi nhận thấy:

đoạn miêu tả trong các tác phẩm viết cho thiếu nhi được sử dụng theo năm

chức năng cơ bản, ở mỗi loại này lại chia thành các loại nhỏ hơn Nó được thể

hiện ở bảng thống kê sau:

STT Chức năng của đoạn miêu tả Số lần xuất

hiện

Tỷ lệ phần trăm (%)

+ Cảnh vật tương đồng với đối tượng

+ Cảnh vật đối lập với đối tượng

- Đoạn miêu tả có vai trò như một nhân vật

3 Chức năng quy định thái độ, cách đánh

4

Chức năng phân đoạn

- Chức năng phân đoạn cụ thể

- Chức năng phân đoạn trừu tượng

Trang 25

Tổng: 97 100%

2.1.2.Nhận xét sơ bộ kết quả khảo sát, thống kê, phân loại

Hầu hết các tác phẩm thuộc đối tượng khảo sát đều xuất hiện đoạn

miêu tả với các yếu tố trữ tình và tự sự đan xen Việc sử dụng đoạn miêu tả

khiến cho tác phẩm trở nên sinh động không chỉ cuốn hút thiếu nhi mà cả

người lớn cũng say mê

Kết quả thống kê cho thấy, trong tất cả các đoạn miêu tả, đoạn miêu tả

với chức năng thẩm mĩ được sử dụng nhiều nhất, tiếp đến là đoạn miêu tả với

chức năng tổ chức văn bản Đoạn miêu tả với chức năng phân đoạn được sử

dụng ít nhất

Cụ thể, đoạn miêu tả với chức năng thẩm mĩ thống kê được 39 phiếu

trong tổng số 97 phiếu (chiếm 40,2%) Sở dĩ đoạn miêu tả với chức năng

thẩm mĩ chiếm tỉ lệ nhiều nhất là do “văn học là nhân học”, văn học cung cấp

cái hay cái đẹp Vì vậy với đoạn miêu tả đây cũng là chức năng quan trọng

nhất Lứa tuổi thiếu nhi vốn nhiều mộng mơ và nhạy cảm cho nên các em đặc

biệt yêu thích những trang văn tả cảnh và thiên nhiên tươi đẹp Những đoạn

văn miêu tả có tác dụng đánh thức các giác quan, khơi gợi trí tưởng tượng và

khả năng liên tưởng để các em say mê khám phá thế giới và con người Nhờ

có chức năng thẩm mĩ mà tác phẩm trở nên sinh động và có sức hấp dẫn riêng

đối với lứa tuổi thiếu nhi

Đoạn miêu tả với chức năng phân đoạn được sử dụng ít nhất Loại này

thống kê được 7 phiếu (chiếm 7,2%) trong tổng số 97 phiếu Có thể thấy,

chức năng phân đoạn, đặc biệt là chức năng phân đoạn trừu tượng rất khó

phát hiện, vì vậy bạn đọc phải có khả năng phân tích và cảm thụ văn chương

thì mới có thể phát hiện ra cái hay cái đẹp của tác phẩm Mặt khác, các tác

phẩm văn xuôi viết cho thiếu nhi, bạn đọc phần lớn là trẻ em, cho nên tác giả

Trang 26

đặc biệt lưu ý đến trình độ tiếp nhận để phù hợp với đối tượng tiếp nhận Vì

thế, đoạn miêu tả với chức năng phân đoạn trong văn xuôi viết cho thiếu nhi

được sử dụng với tỉ lệ thấp nhất

Kết quả thống kê cũng cho thấy, hầu hết các đoạn miêu tả thuộc đối

tượng khảo sát đều không chỉ đơn thuần tả cảnh mà có sự đan xen với các yếu

tố trữ tình và tự sự Các đoạn miêu tả này có thể nằm ở đầu hoặc cuối tác

phẩm (đoạn miêu tả với chức năng phân đoạn, đoạn miêu tả với chức năng dự

báo,…), cũng có thể nằm ở giữa tác phẩm (đoạn miêu tả với cức năng thẩm

mĩ, đoạn miêu tả với chức năng ngụ tình,…) Bên cạnh đó, trong một tác

phẩm có sự đan xen của nhiều đoạn miêu tả với các chức năng khác nhau

Nhờ đó mà tác phẩm trở nên sinh động và có sức hấp dẫn riêng đối với lứa

tuổi thiếu nhi

Qua thống kê chúng tôi nhận thấy, tác giả Tô Hoài sử dụng nhiều nhất

các đoạn miêu tả (39 phiếu), chiếm gần một nửa tổng số 97 phiếu Các tác giả

khác như Võ Quảng, Duy Khán, Đoàn Giỏi sử dụng đoạn miêu tả với số

phiếu gần ngang bằng nhau Có sự khác nhau đó ít nhiều là do phong cách

của từng tác giả Tô Hoài ưa khám phá, ông hay viết về những việc đời

thường, việc thường, người thường Trong những tác phẩm của mình, ông

thường miêu tả cảnh vật và cuộc sống đúng như ý nghĩa đời thường của nó

Bên cạnh đó, còn do mục đích sáng tác và đặc điểm thể loại của tác phẩm

“Kí” ghi lại chân thực những điều mắt thấy tai nghe, đặc biệt trong Dế Mèn

phiêu lưu kí, với tài quan sát tinh tế, Tô Hoài đã miêu tả một cách sinh động

thế giới các loài vật Có lẽ vì thế mà tác phẩm đã làm say mê nhiều thế hệ

thiếu nhi So với thể loại kí thì truyện ngắn, tiểu thuyết thiên về các yếu tố sự

kiện, cốt truyện và nhân vật, cho nên ở các thể loại này các đoạn miêu tả được

tác giả sử dụng ít hơn

Trang 27

Nói tóm lại, với sự quan sát tinh tế, tỉ mỉ, ngôn ngữ đa dạng, giàu hình

ảnh và mang dấu ấn riêng, các đoạn miêu tả được sử dụng với nhiều chức

năng khác nhau đã mang lại những hiệu quả biểu đạt cao cho các tác phẩm

Điều này sẽ được làm rõ trong phần “Phân tích kết quả thống kê”

2.2 Phân tích kết quả thống kê

2.2.1 Đoạn miêu tả với chức năng thẩm mĩ

Đối với tác phẩm nghệ thuật chức năng thẩm mĩ là chức năng quan

trọng nhất, Lí luận văn học từng đề cập đến: “Chức năng thẩm mĩ của văn

nghệ bộc lộ ở chỗ nó làm nhiệm vụ thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ, phát triển

năng lực và thị hiếu thẩm mĩ của con người”

Nhu cầu về cái đẹp là nhu cầu rất quan trọng Phuxich từng khẳng định:

“Cuộc sống không có tiếng hát như sự sống không có ánh sáng mặt trời” Dù

ở đâu, làm gì, khi nào, con người cũng luôn luôn có xu hướng vươn lên cái

đẹp Ở ta có câu nói: “Đói cho sạch, rách cho thơm” Lời người xưa dạy

không phải chỉ là nói về đạo lí, mà còn có ý nghĩa mĩ học sâu sắc Ý nghĩa

thẩm mĩ của tác phẩm là ở chỗ nó hấp dẫn, vừa mắt, vui tai, để nhờ đó, người

đọc, người xem tiếp nhận được dễ dàng hơn nội dung tư tưởng mà nhà văn

định thể hiện, đồng thời hướng con người đến những giá trị chân, thiện cao

quý nhất Ở đây, sáng tạo thẩm mĩ đã trở thành bản chất nghệ thuật, bởi vậy,

nói như nhà phê bình Nga Bêlinxki: “Cái đẹp là điều kiện không thể thiếu

được của nghệ thuật, nếu thiếu cái đẹp thì không có và không thể có nghệ

thuật Đó là một định lí”

Cuốn sách Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên có viết: “Nghệ

thuật thực hiện chức năng thẩm mĩ bằng nhiều cách Trước hết nó thỏa mãn

nhu cầu thẩm mĩ của người đọc, người xem bằng việc phản ánh cái đẹp vốn

có trong thiên nhiên, trong đời sống Việc truyền đạt này không mang tính

Trang 28

chất tự nhiên chủ nghĩa mà thường gắn liền với quá trình điển hình hóa, chọn

lọc, khái quát kĩ lưỡng, vì vậy cái đẹp trong hiện thực đi vào nghệ thuật

thường được nhân lên rất nhiều Nhờ có nghệ thuật mà một phong cảnh, một

sự vật, một con người trở thành đẹp hai lần: một lần trong đời sống mà một

lần trong tác phẩm Mỗi lần chúng đều có những vẻ đẹp riêng, sức hấp dẫn

riêng, cũng do vậy mà thế giới thẩm mĩ làm giàu có hơn lên và con người lại

có thêm cái đẹp để thưởng thức”

Có thể nói, nghệ thuật chính là nơi nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ của con

người, nơi giữ gìn và phát triển chất nghệ sĩ vốn có trong mỗi tâm hồn, khơi dậy

và tiếp sức cho những rung động về cái đẹp, nơi giữ cho tâm hồn con người

không chai sạn đi mà luôn luôn mới mẻ, nhạy cảm với cái đẹp của từng chiếc lá,

giọt sương, một ánh trăng, một tia nắng, và do đó mà cũng không bao giờ nguội

lạnh, thờ ơ với số phận con người, luôn luôn căm phẫn, đau đớn, xót xa vì cái

xấu, cái ác và tha thiết yêu thương, hướng về cái tốt, cái đẹp

Vì vậy với đoạn miêu tả đây cũng là chức năng quan trọng nhất Chức

năng thẩm mĩ được thể hiện cụ thể ở hai mặt là đoạn miêu tả với chức năng

trang trí và đoạn miêu tả với chức năng thư giãn Nhờ có chức năng này mà

tác phẩm trở nên sinh động và hấp dẫn đối với lứa tuổi thiếu nhi

Qua thống kê phân tích chúng tôi thấy rằng đoạn miêu tả với chức năng

thẩm mĩ chiếm đa số những đoạn văn miêu tả mà các tác giả sử dụng trong

các tác phẩm viết cho thiếu nhi của mình Chúng tôi đã thống kê được 39 lần

sử dụng đoạn miêu tả với chức năng này Trong đó đoạn miêu tả với chức

năng trang trí chiếm 25 phiếu (25,8%), đoạn miêu tả với chức năng thư giãn

chiếm 14 phiếu (14,4%) Để hiểu rõ hơn vấn đề này chúng ta cùng đi vào tìm

hiểu từng chức năng trong những đoạn miêu tả tiêu biểu của một số tác phẩm

viết cho thiếu nhi

Trang 29

2.2.1.1 Đoạn miêu tả với chức năng trang trí

Trang trí là “trình bày, bố trí các vật có hình khối, đường nét, màu sắc

khác nhau sao cho tạo ra một sự hài hòa làm đẹp mắt một khoảng không gian

nào đó” [10, Tr 1023]

Trong tác phẩm tự sự để làm cho câu chuyện đẹp hơn, hấp dẫn hơn,

gần với đời sống thực hơn và làm cho tác phẩm có chất thơ hơn, các nhà văn

đã sử dụng những đoạn miêu tả với chức năng trang trí

Những tác phẩm viết cho thiếu nhi cuốn hút tuổi thơ và bạn đọc nói

chung do có cốt truyện hấp dẫn, nhân vật sống động, ngôn ngữ có duyên, tự

nhiên, giàu chất thơ; các sự kiện và chi tiết có khả năng tạo ấn tượng mạnh

hoặc mang tính hài hước; đặc biệt là việc sử dụng những trang văn đẹp với

một tỉ lệ cao những đoạn miêu tả với chức năng trang trí Khảo sát trong một

số tác phẩm viết cho thiếu nhi chúng tôi nhận thấy đoạn miêu tả với chức

năng trang trí được sử dụng 25 lần (25,8%)

Đoạn miêu tả sau đây trong tác phẩm Đất rừng phương Nam có chức

năng như vậy:

“Buổi sáng đất rừng thật là yên tĩnh Trời không gió, nhưng không khí

vẫn mát lạnh Cái lành lạnh của hơi nước sông ngòi, mương rạch, của đất ẩm

và dưỡng khí thảo mộc thở ra từ bình minh Ánh sáng trong vắt, hơi gợn một

chút óng ánh trên những đầu hoa tràm rung rung, khiến ta nhìn cái gì cũng

có cảm giác như là nó bao qua một lớp thủy tinh.”

[8, Tr 134]

Đất rừng phương Nam là truyện viết cho thiếu nhi thành công nhất của

Đoàn Giỏi Không chỉ thiếu nhi say mê mà người lớn cũng yêu thích tác phẩm

này Câu chuyện kể về cậu bé An, trong lúc theo gia đình chạy giặc đã bị lạc

Em lang thang phiêu bạt khắp miền Tây Nam Bộ, từ Tiền Giang đến mũi Cà

Trang 30

Mau Qua đôi mắt của cậu bé An, từng vùng đất, từng con người của đất rừng

phương Nam hiện lên lung linh, hùng vĩ, chưa bị bàn tay con người tàn phá

Những cánh rừng tràm bạt ngàn, hoang sơ, dòng sông mênh mông, chim cá

đầy đàn…

Đoạn văn trên tiêu biểu cho vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng, hoang sơ,

mang những đặc trưng của vùng Nam Bộ với hệ thống kênh rạch chằng chịt

Đất rừng hiện lên chưa bị bàn tay con người tàn phá nên còn giữ được vẻ đẹp

thanh khiết, không khí trong lành như vừa được gột rửa, thứ ánh sáng ban mai

trong vắt, óng ánh trên những đầu hoa tràm Hàn Mặc Tử trong “Đây thôn Vĩ

Dạ” đã từng miêu tả thứ ánh sáng tinh khôi và vẻ đẹp của nhà vườn Huế:

“…Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc…”

Nhưng đó là thiên nhiên của xứ Huế, còn đoạn văn trên thiên nhiên lại

mang những đặc trưng của đất rừng phương Nam Đoàn Giỏi sử dụng ngôn

ngữ giàu hình ảnh và biện pháp so sánh độc đáo: bầu không khí được cảm

nhận “như bao qua một lớp thủy tinh” đã làm tăng thêm trí tưởng tượng cho

độc giả

Một đoạn miêu tả khác trong tác phẩm Đất rừng phương Nam:

“Thuyền chúng tôi cứ xuôi theo dòng nước Hai bên bờ sông, hết lá dừa

nước thì đến gai chà là Rừng cây chà là với những ngọn san sát giao nhau, mặt

trời phải khổ sở lắm mới chiếu xuyên qua được những tàu gai dày đặc, để lọt

một vài đốm sáng xuống mặt đất sình lầy đen kịt Nhiều con rắn mai gầm

khoang đen khoang vàng nằm khoanh như những đống dây thừng, nghếch mồm

lên gốc cây chà là mọc sát mé nước đã bị sét đánh cháy thành than Đôi khi tôi

quơ mái chèo gạt lên mình rắn mà nó cũng không thèm chạy Hết rừng chà là lại

đến đồng cỏ Bốn mặt chân trời, sắc cỏ nối liền với sắc trời xanh biếc Loài cỏ

cao xứ nhiệt đới cao lấp mất đầu người, mọc lưu niên trên những đầm lầy, bất

Trang 31

cứ mùa nào cũng vươn thẳng ngọn xanh reo hát dưới mặt trời Lâu lâu, gió từ

biển thổi vào lướt chạy vi vu trên đầm cỏ; gió chạy đến đâu, cỏ rạp mình cúi

xuống đến đó, làm cho cánh đồng cứ gợn lên như sóng nổi”

[10, Tr 214]

Lại là sự quan sát tinh tế, giàu hình ảnh và liên tưởng, đặc biệt là việc sử

dụng biện pháp tu từ nhân hóa: “mặt trời phải khổ sở lắm mới chiếu xuyên

qua được những tàu gai dày đặc”; cỏ “vươn thẳng ngọn xanh reo hát dưới mặt

trời”, “rạp mình cúi xuống”; gió “lướt chạy vi vu trên đồng cỏ”, biện pháp so

sánh: “nhiều con rắn khoang đen khoang vàng nằm khoanh như những đống

dây thừng”, gió làm cho cánh đồng cỏ “cứ gợn lên như sóng nổi” đã làm cho

tác phẩm thêm sinh động, hấp dẫn Qua đoạn miêu tả này thiên nhiên hiện lên

vô cùng tươi đẹp mang những đặc trưng của đất rừng phương Nam Theo

chiếc thuyền của cậu bé An và Cò chạy dọc theo dòng kênh những rừng cây

chà là hiện ra bạt ngàn và những đồng cỏ xanh biếc nối liền tận chân trời Lá

dừa nước, gai chà là mọc dày đặc không để lọt một khe sáng Thiên nhiên nơi

đây vẫn còn giữ nguyên vẻ đẹp hoang sơ, huyền bí của nó và đang đợi bàn tay

con người đến khai phá

Nhờ có những đoạn miêu tả này mà tác phẩm như đẹp hơn, lung linh

hơn Tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, hoang sơ của vùng

Nam Bộ Do đó Đất rừng phương Nam được đông đảo các em thiếu nhi và cả

người lớn say mê

Truyện đồng thoại Dế Mèn phiêu lưu kí có nhiều đoạn văn rất đẹp tả

thiên nhiên và nhiều loài động vật Chúng ta hãy đọc đoạn văn sau đây:

“Mùa thu mới chớm nhưng nước đã trong vắt Trông thấy cả hòn cuội

trắng tinh nằm dưới đáy Nhìn hai bên ven sông, phong cảnh đổi thay đủ điều

ngoạn mục Cỏ cây và những làng gần, núi xa luôn luôn mới Những anh

Gọng Vó đen xạm, gầy và cao, nghênh cặp chân gọng vó đứng trên bãi lầy

nhìn theo hai tôi, ra lối bái phục Những ả Cua Kềnh cũng giương đôi mắt lồi

Trang 32

tình tứ và âu yếm, ngó theo hai tôi với muôn vẻ quý mến Đàn Săn Sắt và

Thầu Dầu thoáng gặp đâu cũng lăng xăng cố bơi theo bè hoan nghênh váng

cả mặt nước”

[15, Tr 56]

Đoạn văn miêu tả cảnh thiên nhiên tươi đẹp, nước mùa thu trong vắt có

thể nhìn thấy tận đáy sông Nguyễn Khuyến đã từng có câu thơ viết về nước

mùa thu tương tự như thế: “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo” Tô điểm cho

cảnh đẹp đó là thế giới các loài vật được Tô Hoài miêu tả rất sinh động:

những anh Gọng Vó, những ả Cua Kềnh, đàn Săn Sắt, Thầu Dầu, mỗi loài

một hình dáng, hành động giống hệt như con người Đoạn văn cũng cho thấy

tài năng của Tô Hoài trong việc vận dụng vốn ngôn ngữ phong phú để đưa

màu sắc, âm thanh, hương vị của cuộc sống vào tác phẩm của mình một cách

riêng biệt và sống động Có lẽ vì thế mà tác phẩm trở nên cuốn hút và hấp

dẫn, trở thành tác phẩm tiêu biểu nhất của văn học thiếu nhi Việt Nam từ đó

đến nay

Câu chuyện cổ tích Chuyện kể về nàng tiên cá cũng có nhiều đoạn văn

miêu tả sinh động:

“Gian phòng khiêu vũ thật rộng lớn, tường và trần toàn bằng một thứ

thủy tinh trong suốt Hàng trăm con ngao khổng lồ xanh, những con tôm hùm

đỏ xếp thành hai hàng dọc, ánh sáng tỏa ra trong phòng từ những viên ngọc

trai to lớn được treo khắp nơi trên tường trông thật rực rỡ Hàng ngàn con cá

lớn nhỏ, vẩy đỏ, vẩy bạc, vẩy vàng bơi tung tăng theo điệu nhạc Nhất là khi

công chúa út cất cao tiếng hát du dương, quyến rũ của mình, nàng là người

hát hay nhất dưới thủy cung, chẳng có buổi tiệc nào mà thiếu tiếng hát của

nàng được.”

[20, Tr 228]

Cảnh ở dưới thủy cung được miêu tả rất sinh động, gần gũi với thế giới

loài người Các loài như ngao, tôm hùm, cá rực rỡ, lung linh nhiều màu sắc

Trang 33

cùng tham gia lễ hội khiêu vũ, “tung tăng theo điệu nhạc” Tác giả dân gian

đã đưa độc giả vào một thế giới kì diệu, huyền ảo Qua đó chắp cách cho

những ước mơ và những liên tưởng thú vị tuyệt vời của lứa tuổi thiếu nhi

Câu chuyện cổ tích vì thế mà có sức hấp dẫn lạ thường

2.2.1.2 Đoạn miêu tả với chức năng thư giãn

Thư giãn tức là “làm cho cơ bắp ở trạng thái thả lỏng tạo nên cảm giác

tinh thần thư thái, thoải mái” [10, Tr 970] Trong văn tự sự bên cạnh việc

phân chia, liên kết các sự kiện để tác phẩm có nội dung thông báo hoàn chỉnh,

tạo nên sự liền mạch, nhà văn còn sử dụng các đoạn miêu tả đan xen giữa các

sự kiện Nó làm cho chuỗi sự kiện đi chậm lại, kéo dài thời gian của truyện

hoặc làm chậm đoạn mở nút của truyện Những đoạn miêu tả như vậy sẽ giúp

người đọc thư thái, cảm nhận và tìm hiểu những giá trị mà tác phẩm mang lại

Giáo sư Đỗ Hữu Châu gọi những đoạn miêu tả đó là những đoạn miêu tả có

chức năng thư giãn

Hầu hết các tác phẩm viết cho thiếu nhi mà chúng tôi thống kê được đều

có đoạn miêu tả với chức năng thư giãn Nó được đưa vào tác phẩm với những

dụng ý riêng, đặc biệt nó gây bất ngờ và hấp dẫn lứa tuổi thiếu nhi Qua khảo

sát chúng tôi nhận thấy đoạn miêu tả với chức năng thư giãn trong các tác

phẩm viết cho thiếu nhi chiếm 14 phiếu (14,4%) Tuy nhiên mỗi đoạn miêu tả

lại cho thấy dụng ý nghệ thuật và phong cách cá nhân của từng tác giả

Trong truyện cổ Em bé bán diêm có sử dụng đoạn miêu tả với chức

năng này:

“Diêm bén lửa thật nhạy, em nhìn say đắm ngọn lửa từ lúc xanh lam,

dần chuyển sang biếc, trắng ra, rực hồng chạy dọc theo que gỗ, sáng chói lên

trông thật xinh đẹp tuyệt vời

Ngày đăng: 30/11/2015, 21:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Bình - Cù Đình Tú - Nguyễn Thái Hòa (1982), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Võ Bình, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
2. Trần Thanh Đạm (2002), Làm văn 10, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn 10
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
3. Nguyễn Thái Hòa (1997), Dẫn luận phong cách học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận phong cách học
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
4. Nguyễn Thái Hòa (2000), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2000
5. Đinh Trọng Lạc (1994), Phong cách học tiếng Văn bản, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Văn bản
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
6. Đinh Trọng Lạc (1994), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
7. Phan Trọng Luận (2000), Làm văn 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn 1
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
8. Phương Lựu (chủ biên), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: NXB Giáo dục
9. Hoàng Phê (chủ biên) (2005), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2005
10. Nguyễn Khắc Phi (2004), Ngữ văn 8 - Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 8 - Tập 1
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
11. Nguyễn Khắc Phi (2004), Ngữ văn 9 - Tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 9 - Tập 2
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
12. Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), Làm văn, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
13. Bùi Minh Toán, Ngôn ngữ với văn chương, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ với văn chương
Tác giả: Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
14. Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt
Tác giả: Cù Đình Tú
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1983
15. Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.1. Bảng tổng hợp kết quả thống kê - Tìm hiểu chức năng của đoạn miêu tả trong văn xuôi viết cho thiếu nhi
2.1.1. Bảng tổng hợp kết quả thống kê (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w