Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
==== ====
Nguyễn Thị Thanh Bình Đặc điểm Ngôn ngữ thơ lu quang vũ Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ Mã số: 60.22.01 luận văn thạc sĩ ngữ văn Ngời hớng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Mậu Cảnh Vinh – 2008 Mục lục Trang Mở đầu 1
1 Lớ do chọn đề tài 1
2 Mục đớch nhiệm vụ và đối tượng nghiờn cứu 2
3 Lịch sử vấn đề 2
4 Phương phỏp nghiờn cứu 8
Trang 25 Cấu trúc của luận văn 8
Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài 9 1.1 Thơ và ngôn ngữ thơ ca 9
1.1.1 Thơ là gì? 9
1.1.2 Ngôn ngữ thơ là gì? 11
1.1.3 Đặc trưng ngôn ngữ thơ 12
1.2 Lưu Quang Vũ và thơ Lưu Quang Vũ 19
1.2.1 Lưu Quang Vũ 19
1.2.2 Thơ Lưu Quang Vũ 21
Chương 2: Một số đặc điểm về thể thơ, vần nhịp và từ ngữ trong thơ Lưu Quang Vũ 25
2.1 Đặc điểm về thể thơ 25
2.1.1 Thể thơ 5 chữ 25
2.1.2 Thể thơ 7, 8 chữ 26
2.1.3 Thể thơ tự do 28
2.2 Đặc điểm về vần và nhịp 30
2.2.1 Đặc điểm về vần 30
2.2.2 Đặc điểm về nhịp 40
2.3 Một số đặc điểm về từ ngữ trong thơ Lưu Quang Vũ 45
2.3.1 Sử dụng từ láy mang lại hiệu quả nghệ thuật 46
2.3.2 Sử dụng lớp từ chỉ màu sắc 50
3.2.3 Sử dụng lớp từ chỉ không gian 56
2.4 Các cấu trúc thường gặp trong thơ Lưu Quang Vũ 61
2.4.1 Cấu trúc so sánh 61
2.4.2 Cấu trúc lặp 70
2.4.3 Cấu trúc câu hỏi tu từ 77
Chương 3: Một số đặc điểm ngữ nghĩa thơ Lưu Quang Vũ 82
3.1 Hình tượng thơ và đặc điểm cấu trúc hình tượng thơ 82
Trang 33.1.1 Khái niệm hình tượng thơ 82
3.1.2 Đặc điểm cấu trúc của hình tượng thơ 84
3.2 Những hình tượng thơ tiêu biểu trong thơ Lưu Quang Vũ 86
3.2.1 Hình tượng gió 86
3.2.2 Hình tượng lửa 93
3.2.3 Hình tượng quả chuông 99
3.2.4 Hình tượng "Em" trong thơ tình Lưu Quang Vũ 102
3.3 Đặc điểm ngữ nghĩa từ những hình tượng thơ của Lưu Quang Vũ 108
3.3.1 Tính cá thể hóa trong sáng tạo nghệ thuật 108
3.3.2 Tính đa nghĩa của các hình tượng thơ trong thơ Lưu Quang.Vũ 110
3.3.3 Tính biểu cảm của hình tượng thơ trong thơ Lưu Quang Vũ 110
Kết luận 112
Tài liệu tham khảo 114
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật nói chung và ngôn ngữ thơ ca nói
riêng mà cụ thể là tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ thơ của một tác giả là quá trình khám phá tìm hiểu ngôn ngữ trong hoạt động hành chức của nó Đây là một hướng đi cần thiết vừa mang tính chuyên sâu vừa mang tính liên ngành
Trang 41.2 Từ trước đến nay, khi nhắc đến Lưu Quang Vũ là biết đến một kịch
gia nổi tiếng của sân khấu kịch nói Việt Nam Anh đã để lại hơn 50 vở kịch vàđược đánh giá là “nhà viết kịch lớn nhất thế kỉ này (thế kỉ XX) của Việt Nam”.Với tư cách là một kịch gia, Lưu Quang Vũ đã khẳng định được vị trí vai trò vàảnh hưởng mạnh mẽ của mình trên “địa hạt sân khấu” hiện đại Việt Nam.Tháng 9 /2000, Lưu Quang Vũ vinh dự nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về vănhọc nghệ thuật bởi những đóng góp to lớn ấy của anh với nền sân khấu nước nhà.Nhưng ở con người tài hoa này “cốt cách thi sỹ vẫn là nét trội nhất” LưuQuang Vũ là một tài thơ “thuộc loại bẩm sinh” Ngay từ tập thơ đầu tiên in năm
1968 (Tập Hương cây in chung với tập Bếp lửa của Bằng Việt) đến khi cả hàng
trăm bài thơ của anh được công bố (sau khi sự ra đi đột ngột của anh, năm1988), bạn đọc yêu thơ đều bị hấp dẫn bởi một hồn thơ nồng nàn, đắm đuối mà
vô cùng chân thành, giản dị, không hề có sự cầu kỳ, chải chuốt câu chữ Đốivới anh,“thơ mới là nơi anh ký thác nhiều nhất” Đến với thơ, Lưu Quang Vũlặng lẽ miệt mài sáng tạo và đã tìm thấy niềm tin yêu cuộc đời theo cách riêngcủa anh Thể hiện điều ấy trong những thi phẩm của mình, Lưu Quang Vũ đãtạo nên một phong cách riêng, một giọng điệu riêng giàu sức ám ảnh trong thơViệt Nam hiện đại Thơ Lưu Quang Vũ xứng đáng được quan tâm nghiên cứumột cách nghiêm túc, đầy đủ, toàn diện để thấy được đóng góp của thơ anh đốivới nền văn học nước nhà (bên cạnh sự đóng góp to lớn của một kịch gia nổitiếng được hiển nhiên công nhận)
1.3 Chọn đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ”, chúng tôi mong
muốn được đưa ra một cái nhìn đầy đủ hơn, có hệ thống hơn về gương mặt thơđộc đáo của tác giả này, để thấy được, bên cạnh nhà soạn kịch tài năng còn làmột nhà thơ tài hoa Nghiên cứu thơ Lưu Quang Vũ, không chỉ mong muốn tìmhiểu phong cách một tác giả lớn mà còn góp phần tìm hiểu ngôn ngữ thơ ca củanền văn học hiện đại Việt nam mấy chục năm qua
2 Mục đích nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Trang 5Luận văn nằm làm sáng tỏ vấn đề sau:
a) Nêu những đặc điểm chính về ngôn ngữ thơ ở các phương diện hìnhthức, nội dung thơ Lưu Quang Vũ
b) Góp phần làm sáng tỏ phong cách thơ Lưu Quang Vũ, những đóng gópcủa thơ Lưu Quang Vũ trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đi vào giải quyết những nhiệm vụ sau đây:a) Khảo sát và tìm hiểu các phương diện hình thức: thể thơ, đặc điểm vần,nhịp, từ ngữ và các cấu trúc tiêu biểu
b) Tìm hiểu nghệ thuật vận dụng ngôn ngữ trong việc thể hiện các nộidung phản ánh, xây dựng hình tượng thơ tiêu biểu
c) Từ những đặc điểm về hình thức và nội dung trên, rút ra những đặcđiểm chung nhất về ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ
2.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thơ Lưu Quang Vũ dưới góc độngôn ngữ
Nguồn dẫn liệu mà chúng tôi khảo sát gồm 121 bài thơ tập hợp trong cuốn
Lưu Quang Vũ thơ và đời - Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội 1997
3 Lịch sử vấn đề
Ngoài 20 bài thơ in trong tập thơ Hương cây in chung với Bằng Việt năm
1968, thơ Lưu Quang Vũ chưa được công chúng chú ý nhiều Nhưng sau sự ra
đi đột ngột của anh cùng với vợ là thi sỹ Xuân Quỳnh, thơ anh được công bốrộng rãi với nhiều tập thơ được in Lúc đó, gương mặt thơ Lưu Quang Vũ mớiđược nhìn nhận đánh giá rõ nét hơn
Điểm các bài phê bình, giới thiệu, nghiên cứu về thơ Lưu Quang Vũ chúng
ta có thể tổng kết những nội dung sau:
Trang 63.1 Các bài nghiên cứu về thơ Lưu Quang Vũ tập trung chủ yếu vào việc
khẳng định tài năng thơ ca của anh và dự báo về vai trò của thơ Lưu Quang Vũvới thơ ca chống Mỹ
Trước hết phải kể đến ý kiến của Hoài Thanh, trong bài viết Một cây bút
có nhiều triển vọng đã đánh giá những vần thơ của Lưu Quang Vũ: “nó là vàng
thật, đúng nó là thơ”; “Lưu Quang Vũ có nhiều câu nhiều đoạn đúng là thơ, lại
có cả một bài thơ rất hay Năng khiếu của anh đã rõ Miễn anh đi đúng nhấtđịnh anh sẽ đi xa” [40, tr 22]
Trong bài viết Vĩnh biệt hai ngọn bút tài hoa, Anh Ngọc đánh giá: “Lưu
Quang Vũ là một trong những đỉnh cao của thơ ca chống Mỹ, và vẫn là hồn thơđược nhiều người ưu ái nhất” [42, tr 184] Còn Vũ Quần Phương trong bài
Đọc thơ Lưu Quang Vũ đã nhận thấy: “Đọc hết các bản thảo anh để lại, tôi thấy
thơ mới là nơi anh kí thác nhiều nhất và tôi tin nhiều bài thơ của anh sẽ thắngđược thời gian”; “Tôi thấy trước sau cốt cách thi sỹ vẫn là nét trội nhất trongtâm hồn của anh Tôi trộm nghĩ, về lâu dài sự đóng góp của Lưu Quang Vũ vềthơ còn lớn hơn về kịch” [40, tr 33] Phạm Tiến Duật đã khẳng định điều này
trong bài viết Nhớ tiếc hai tài năng: “Mặt tiềm tàng nhất trong anh là thơ” [40,
tr 188]; “Phần tâm huyết nhất mà Lưu Quang Vũ cảm thấy luôn mắc nợ cuộcđời là thơ” Lê Minh Khuê cũng đã có những đánh giá tương tự trong bài viết
Truyện ngắn Lưu Quang Vũ: “Vũ là của thơ”; “Bản thân anh cũng luôn đánh
giá thơ là quan trọng của đời anh” [40, tr 134] Nguyễn Thị Minh Thái trong
bài viết Thơ tình Lưu Quang Vũ đã cảm nhận rằng: “Trong tính cách sáng tạo
của con người tài hoa trẻ trung Lưu Quang Vũ thì thơ là hồn cốt thâm hậu nhất”[40, tr 92]; “Đi suốt chiều dài đời thơ Lưu Quang Vũ, tôi có cảm giác như đivào một kho báu Ở những câu thơ ta nhặt vô tình nhất cũng óng ánh một vẻ
đẹp riêng, không hiểu sao chỉ có ở thơ Lưu Quang Vũ - một vẻ đẹp trong vắt
của thi ca” [40, tr 95].
Trang 7Như vậy qua những đánh giá cảm nhận ở trên, ta thấy các nhà phê bìnhnghiên cứu đã khẳng định Lưu Quang Vũ trước hết và trên hết là một nhà thơtài hoa.
3.2 Trong những bài nghiên cứu, phê bình cũng đã đi sâu vào tìm hiểu
cách thức thể hiện trong thơ Lưu Quang Vũ
Một yếu tố được các nhà phê bình rất chú ý đó là những biểu tượng của
thế giới nghệ thuật thơ Lưu Quang Vũ
Trong bài viết Lưu Quang Vũ một tâm hồn trở gió, tác giả Phạm Xuân
Nguyên đã phát hiện gió là một biểu tượng, biểu trưng cho toàn bộ thế giới thơLưu Quang Vũ, làm nên bản sắc của riêng thế giới nghệ thuật ấy Tác giả đãđưa ra những đánh giá: “Những trang thơ anh có rất nhiều gió” [40, tr 77];
“Như gió anh phóng túng tự do Dám sống đúng mình dám nghĩ đúng mìnhkhông thể yên ổn trong cái mực thước khuôn phép” [40, tr 78] “Như gió anhmuốn phơi bày mình ra”; “Như gió anh biết tự lật trở lại vấn đề để nhìn sự vật ở
bộ mặt thật của nó” [40, tr 79] “Như gió anh vô tư, cởi mở nói ra thật lòngnhững điều nhức nhối lương tâm người cầm bút”; “Như gió anh gã làm thơ davàng, từ nay biết khát những khoảng rộng nào, cần những ào ạt nào cho thơ vàđời” [40, tr.80] Với sự phát hiện về hình tượng “gió”, Phạm Xuân Nguyên đãdựng được chân dung tinh thần của nhân vật trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ:Mạnh mẽ, phóng khoáng, đầy khát vọng và bản lĩnh sáng tạo, là “người nổi giósớm trong thơ, như về sau nổi gió đầu trong kịch”
Vương Trí Nhàn lại khám phá một biểu tượng khác: “Mưa” - biểu tượng
này thường gắn với rất nhiều bài thơ tài hoa của Lưu Quang Vũ: “Trong các thi
sỹ đương thời, Vũ là người nhạy cảm với mưa, thân thuộc với mưa hơn ai hết”
“Ở anh, mưa cho thấy sự trôi qua của thời gian mà con người thấy bất lực,không sao níu kéo nổi Mưa làm cho hiện tại trở nên vô nghĩa và tương lai trởnên lờ mờ không xác định” [40, tr 69]
Còn trong bài viết Nỗi lao lung của một hồn thơ mới bước vào đời báo Văn nghệ 11/9/1993, Phan Trọng Thưởng chú ý đến biểu tượng “bầy ong” như
Trang 8hình bóng của tác giả: “Hình như anh cảm thấy sự đồng thân, đồng phận nào đógiữa mình với con ong: Sự cần mẫn, lam lũ, ý thức chắt chiu, tìm kiếm, nhỏnhoi giản dị” [56].
Có thể thấy rõ rằng, các nhà phê bình đã phát hiện thấy những biểu tượnggiàu sức biểu cảm - in dấu phong cách của riêng Lưu Quang Vũ
Yếu tố thứ hai về cách thức biểu hiện trong thơ Lưu Quang Vũ được nói
đến khá tập trung là giọng điệu.
Hoài Thanh đã nhận thấy “Câu thơ Lưu Quang Vũ thường ngọt ngào hiền hậu” Trong bài viết Đọc thơ Lưu Quang Vũ, Vũ Quần Phương đã chỉ ra ở Lưu
Quang Vũ một “giọng thơ đắm đuối” Ông cho rằng: “Đắm đuối là một đặcđiểm của suốt đời thơ Lưu Quang Vũ Vui hay buồn, tin cậy hay hoang mang…bao giờ anh cũng đắm đuối, đặc điểm này ít thấy ở các nhà thơ khác” [40, tr.36], “Đắm đuối là bản sắc cảm xúc của Lưu Quang Vũ Nó tạo nên sức lôi cuốn
ma quái của thơ anh” [40, tr 38]
Lưu Khánh Thơ, Bích Thu cũng dùng từ “đắm đuối” để nói về giọng điệu
thơ Lưu Quang Vũ Đề cập đến vấn đề này, Bích Thu trong bài Những bài thơ
sống với thời gian đã có nhận xét: “Thơ của Vũ lôi cuốn người đọc không ở sự
trau chuốt lời lẽ, ngôn từ với những kỹ xảo ngón nghề mà chính ở hồn thơ đắmđuối chân thành giản dị mà nồng nàn da diết” [40, tr.101] Lê Đình Kị trong
bài Hương cây - Bếp lửa - Đất nước đời ta, đã nêu ý kiến: “Thơ Lưu Quang Vũ
có một điệu tâm hồn riêng và không thể thiếu tâm tình” [40, tr.29] Cũng trongbài “Vĩnh biệt hai ngọn bút tài hoa”, Anh Ngọc đã có nhận xét: “Hồn thơ trànđầy mẫn cảm, đằm thắm đến ngọt lịm”; “Một thứ nhạc điệu đến du dương êm
ái đặc biệt”… [42, tr 184]
3.3 Một số bài nghiên cứu đã đề cập đến những nội dung lớn trong thơ
Lưu Quang Vũ
Về quê hương đất nước
Cũng trong bài Đọc thơ Lưu Quang Vũ, Vũ Quần Phương đã chỉ ra cái đặc
biệt của cảm hứng dân tộc trong thơ Lưu Quang Vũ, in đậm dấu ấn phong cáchcủa anh, là ở chỗ anh quan tâm đến “vẻ đẹp hùng vỹ của đất đai, vẻ đẹp óngánh của ngôn ngữ, đời sống trận mạc gian lao của người dân” [40, tr 47] “Anh
Trang 9còn yêu thương và ngợi ca nhân cách dân tộc” [40, tr 48], “Ngợi ca tầm vóc vĩđại và hi sinh cao cả của người dân” [40, tr 49] Tuy nhiên “sự ngợi ca này củaanh dễ lẫn vào giọng ca chung của cả nền thơ nếu anh không biết cá thể hóa nó.Anh đã cá thể hóa nó bằng bút pháp, bằng cái tài hoa của Lưu Quang Vũ cónhiều nét khác biệt” [40, tr 48].
Tác giả Phạm Xuân Nguyên trong bài Lưu Quang Vũ một tâm hồn trở gió
đã nhận ra: “Đất nước trong mắt anh là con thuyền xuyên gió mạnh Gió củachiến tranh gió của đói nghèo… Gió của đổ vỡ” [40, tr 82] và tác giả thấu hiểu:
“Anh muốn cắt cơn gió cho đất nước” [40, tr 83] để đi đến khẳng định cáiriêng của Lưu Quang Vũ: “Giữa dàn đồng ca hào hùng ca tụng đất nước thời trậnmạc, Lưu Quang Vũ riêng mình đau và lo lắng cho đất nước” [40, tr 85]
Về thơ cho người thân
Viết về mảng thơ này có bài của Lưu Khánh Thơ: Điểm tựa của tài năng,
tác giả đã khẳng định: “Ấn tượng về những ngày kháng chiến gian khổ đã in đậmnét trong tâm hồn cậu bé Lưu Quang Vũ, mà nổi bật lên vẫn là hình ảnh người
mẹ tần tảo một nắng hai sương…Những kỉ niệm ấy trở thành nguồn cảm hứng vàtrở đi trở lại trong các bài thơ sáng tác sau này của anh” [40, tr 304], “Biết baonhà thơ đã dành cho mẹ những lời đẹp nhất Đến lượt Lưu Quang Vũ anh lạithể hiện tình cảm của mình theo một cách riêng: giản dị, chân thành nhưngkhông kém phần tha thiết đằm thắm” [40, tr 305]
Vũ Quần Phương, Nguyễn Thị Minh Thái cũng có những bài viết giúpchúng ta hình dung toàn diện chân dung tinh thần của nhà thơ Lưu Quang Vũ
Về thơ tình
Lưu Khánh Thơ, Nguyễn Thị Minh Thái chú ý đặc biệt đến hình ảnh người
con gái trong thơ Lưu Quang Vũ Trở lại bài viết Thơ tình Lưu Quang Vũ,
Minh Thái cho rằng:“Em có thể là người tình, vừa có thể là nỗi khao khátkhông đạt đến, sự cứu rỗi linh hồn đau buồn của chàng, em mang những tên gọi
Trang 10khác nhau, đầy âu yếm và thương cảm” [40, tr 93] và Minh Thái đã đi đến kếtluận: “Cuối cùng con thuyền thơ của Lưu Quang Vũ đã cập bờ đạt tới hình ảnhhoàn hảo về nhân vật trữ tình Em trong tập thơ” [40, tr 94].
Lưu Khánh Thơ cũng có những cảm nhận tương tự: “Hình ảnh người congái trong thơ tình Lưu Quang Vũ thường rất đẹp Có thể đó là hạnh phúc hayđau khổ, là nước mắt hay nụ cười nhưng bao giờ anh nói về họ cũng bằngnhững lời nồng nàn say đắm nhất Có khi đó là một người tình cụ thể, cũng cókhi chỉ là một hình bóng mơ hồ, một nỗi khát khao không đạt đến, một sự cứurỗi tâm hồn cô đơn của anh Cũng không ít bài thơ tình nổi tiếng của anh bắtnguồn từ trí tưởng tượng, từ sự ước mơ về vẻ đẹp hoàn thiện của một ngườitình lý tưởng” [40, tr 59]
Phong Lê với bài: Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ tình yêu và số phận đã
nhận xét: Riêng về đối thoại tình yêu Quỳnh - Vũ trong thơ là một đối thoại đẹpbậc nhất trong thơ ca Việt Nam hiện đại [33]
Trong những bài viết của mình, các tác giả Vũ Quần Phương, Vũ QuangVinh, Phạm Xuân Nguyên đều có phát hiện chung về thơ tình Lưu Quang Vũ:Với Lưu Quang Vũ tình yêu là số phận Tình yêu trong thơ anh có nhiều cungbậc phong phú, nhưng bao trùm lên tất cả vẫn là sự cao thượng, là niềm tin ởcon người và tình yêu
Như vậy, có thể thấy rằng những bài viết, nghiên cứu về thơ Lưu Quang
Vũ, các nhà nghiên cứu phê bình đã có đóng góp nhất định trong việc phát hiệnnhững nét đặc sắc trong thơ của Lưu Quang Vũ Tuy nhiên, những bài viết đómới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một vài khía cạnh riêng lẻ chứ chưa có mộtchuyên luận nào, một công trình nghiên cứu nào về đặc điểm thơ Lưu Quang Vũ
ở góc độ ngôn ngữ Chính vì vậy chúng tôi đi vào phạm vi đề tài còn bỏ ngỏ này
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thống kê phân loại:
Trang 11Dùng khi khảo sát nguồn tư liệu và phân loại theo từng vấn đề cụ thể.
4.2 Phương pháp miêu tả đối chiếu:
Đi sâu miêu tả các kiểu cấu trúc tiêu biểu trong thơ Lưu Quang Vũ Đồngthời tiến hành đối chiếu giữa cách sử dụng ngôn ngữ của tác giả Lưu Quang
Vũ, với các tác giả khác để làm sáng tỏ đặc điểm riêng của thơ Lưu Quang Vũ
4.3 Phương pháp phân tích tổng hợp:
Từ việc phân tích tín hiệu thẩm mỹ, cấu trúc ngôn ngữ, chúng tôi đi đếnkhái quát những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung luận văn gồm có 3 chương:Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Một số đặc điểm về thể thơ, vần nhịp và từ ngữ trong thơ LưuQuang Vũ
Chương 3: Một số đặc điểm ngữ nghĩa thơ Lưu Quang Vũ
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Thơ và ngôn ngữ thơ ca
1.1.1 Thơ là gì?
Lịch sử phát triển của thơ ca bằng chính chiều dài của lịch sử phát triểnvăn học nhân loại Khi con người nhận thức được mối liên hệ giữa mình vớithực tại và có nhu cầu tự biểu hiện thì thơ ca xuất hiện Có thể nói, thơ là mộthình thức sáng tác văn học đầu tiên của loài người và trong một thời gian dàithuật ngữ thơ được dùng chỉ chung cho văn học
Vậy thơ là gì? Để trả lời câu hỏi này và tìm được một định nghĩa thâu tómđược toàn bộ bản chất của thơ ca không phải là dễ Xung quanh khái niệm vềthơ, từ trước tới nay đã có nhiều cách lý giải khác nhau, nhiều quan niệm khácnhau, trong đó nổi lên ba khuynh hướng sau:
Khuynh hướng thứ nhất là thần thánh hóa thơ ca, cho rằng bản chất củathơ ca và hoạt động sáng tạo thơ ca gắn với những điều thiêng liêng, huyền bí
Từ thời cổ đại, Platôn đã xem bản chất của thơ ca thể hiện trong linh cảm những cảm giác thiêng liêng nhất giữa thế giới cao xa của thần thánh và thếgiới con người Và nhà thơ là người trung gian có năng lực cảm giác và biểuđạt điều đó Trong khuynh hướng này, các nhà thơ lãng mạn phương Tâythường lý tưởng hóa thơ hoặc đối lập một cách cực đoan giữa thơ ca và hiệnthực cuộc sống Lamactin cho rằng: “Thơ là sự hiện thân cho những gì thầm kínnhất của con tim và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người và cho những hìnhảnh đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong thiên nhiên” Ở Việt Nam nửađầu thế kỷ XX, nhóm Xuân Thu Nhã Tập cũng đã có định nghĩa về thơ: “Thơ làcái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thúy, cao siêu” [Dẫn theo 26, tr 7] Thơ gầnvới trong, đẹp, thật “Thơ là đạo, là tôn giáo, là tình yêu” Chế Lan Viên tronglời tựa của tập Điêu Tàn đã cho rằng: “Làm thơ là sự phi thường” “Thi sỹkhông phải là người, nó là người Mơ, người Say, người Điên Nó là Tiên, là
Trang 13-Ma, là Qủy, là Tinh, là Yêu Nó thoát thực tại Nó xáo trộn dĩ vãng Nó ômtrùm tương lai Người ta không hiểu được nó, vì nó nói những cái vô nghĩa, tuyrằng những cái vô nghĩa hợp lý” [Dẫn theo 26, tr 9] Hay cực đoan hơn, HànMặc Tử cho rằng: “Làm thơ tức là điên” [Dẫn theo 26, tr 9].
Như vậy, các quan niệm trên đều coi quá trình sáng tạo thơ như là một cái
gì đó rất thần bí, thiêng liêng, nó đi liền với một thứ đạo - đạo sáng tác và coingười nghệ sỹ là người khác thường, siêu phàm
Khuynh hướng thứ hai cho rằng thơ gắn liền với đời sống, với thời đại, bảnchất của thơ ca được thể hiện trong việc gắn sứ mệnh của thơ với đời sống xãhội Cuộc sống chính là sân băng cho thơ cất cánh nhưng cũng là đích đi tới của
thơ ca Lưu Trọng Lư cho rằng: “Thơ là sự tập trung cao độ, là cốt lõi của cuộc
sống” Tố Hữu cũng đã nêu ra quan niệm của mình:“Thơ là biểu hiện tinh chấtcủa cuộc sống”, “Thơ chỉ trào ra khi trong tim ta cuộc sống đã tràn đầy” Haynhư đánh giá của Sóng Hồng: “Thơ là sự thể hiện con người và thời đại mộtcách cao đẹp nhất” Chính vì thơ gắn liền với cuộc sống nên thơ trở thành sợidây tình cảm ràng buộc mọi người với nhau, do vậy “thơ còn là tiếng nói triâm”, “thơ là chuyện đồng điệu”, nhờ đó thơ thể hiện được sắc màu muôn vẻcủa cuộc sống của con người và sứ mệnh của thơ là phục vụ cuộc sống
Khuynh hướng thứ ba là hình thức hóa thơ ca, xem bản chất của thơ thuộc
về những nhân tố hình thức Ở khuynh hướng này, các nhà nghiên cứu đã đánhgiá cao tính chất sáng tạo trong thơ là sáng tạo ngôn ngữ hoặc tổ chức kết cấuhơn là nhân tố nội dung Có nghĩa là bình diện đầu tiên, quan trọng nhất để xemxét bản chất thơ ca là cấu trúc ngôn ngữ thơ Jacobson - đại diện cho trường
phái cấu trúc chủ nghĩa châu Âu trong tiểu luận Thơ là gì? đã viết: “Nhưng tính
thơ được biểu hiện ra như thế nào? Theo cái cách từ ngữ được cảm nhận như là
từ ngữ chứ không phải như vật thay thế đơn giản của đối tượng được chỉ định,theo cách những từ ngữ những cú pháp, những ngữ nghĩa của chúng, hình thứcbên trong và bên ngoài của chúng không phải là các dấu hiệu vô hồn của hiệnthực mà còn có trọng lượng riêng, giá trị riêng” [22]
Trang 14Dưới góc nhìn của cấu trúc, giáo sư Phan Ngọc trong bài Thơ là gì cũng
đưa ra quan niệm:“Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt ngườitiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chứcngôn ngữ này” [36] Chữ “quái đản” được Phan Ngọc giải thích là khác lạ sovới thông thường
Tóm lại, mỗi khuynh hướng đã chọn cho mình con đường đi riêng nhưngtất cả đều nỗ lực kiếm tìm lời giải về bản chất của thơ ca và vai trò của ngườisáng tác trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Tuy vậy, các quan niệm đó vẫnchưa đưa ra một cách hiểu đầy đủ bao quát về thơ, chưa làm rõ được các đặctrưng riêng biệt của thơ ca
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về thơ, theo chúng tôi cách định nghĩa
của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ
điển Thuật ngữ văn học có thể xem là chung nhất, khái quát nhất cho tất cả
những quan niệm đã nêu trên:“Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộcsống thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ, bằng ngôn ngữ hàm súc,giàu hình ảnh và có nhịp điệu” [20, tr 210] Định nghĩa này đã bao quát đượcđầy đủ các tiêu chí về cả nội dung và hình thức nghệ thuật của thơ, hơn nữa nócòn chỉ ra được đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ để khu biệt với ngôn ngữtrong các thể loại văn học khác
1.1.2 Ngôn ngữ thơ là gì?
Văn học được gọi là nghệ thuật ngôn từ Cách sáng tạo và thưởng thứcmột tác phẩm văn chương chính là tư duy trên chất liệu ngôn ngữ Thơ là mộtthể loại thuộc về sáng tác văn học nghệ thuật, chính vì vậy ngôn ngữ thơ trước
hết phải là ngôn ngữ văn học “ngôn ngữ nghệ thuật được dùng trong văn học”
[19, tr 185] Nhưng thơ ca có cơ chế vận hành bộ máy ngôn ngữ rất độc đáo.Với một lượng đơn vị ngôn ngữ hữu hạn, thơ có khả năng biểu đạt cái vô hạn củacuộc sống, cái phong phú đa dạng, dồi dào của cảm xúc, tình cảm con người.Trên thế giới, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cũng đã chỉ ra sự khácnhau giữa ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thơ Jacobson đã từng nói rằng:
Trang 15“chức năng của thi ca đem nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu trêntrục kết hợp” [Dẫn theo 13, tr 83], ông đã nhấn mạnh cơ chế hoạt động củangôn ngữ thơ là cơ chế lựa chọn và cơ chế kết hợp Bên cạnh đó trên các
nguyên lý của F de Sassure trong giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, Jacobson
còn chỉ ra trong thơ hình thức ngữ âm là vô cùng quan trọng Ông nhấn mạnhcác yếu tố âm thanh như âm vận, điệp âm, điệp vận, khổ thơ… là những đơn vịthuộc bình diện hình thức Có thể nói, đây là những cơ sở xuất phát quan trọngtrong việc nhận diện ngôn ngữ thơ
Trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ, tác giả Nguyễn PhanCảnh cũng đã dựa vào lý thuyết hệ hình để xem xét thơ từ phương thức lựa chọnngôn từ trong các hệ hình, để tạo ra hiệu quả biểu đạt cao nhất [5, tr 51,70] Ôngcòn nêu ra lý thuyết trường nét dư Trong đó tác giả chỉ ra rằng để thiết lập nêncác tổ chức ngôn ngữ trên trục lựa chọn và trục kết hợp, nhà thơ phải sử dụngđến thao tác loại bỏ trường nét dư chính là quá trình hình thành thể thơ Nét dưđược loại bỏ càng nhiều thì hàm lượng thông tin càng cao và càng đòi hỏi ởngười tiếp nhận năng lực tiếp nhận các kết cấu “lạ” do việc loại bỏ các yếu tốngôn ngữ có hàm lượng thông tin thấp mà ra
Về cách tổ chức của ngôn ngữ thơ, Hữu Đạt đã diễn đạt một cách cụ thể là
“được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất với cách tổ chức ngônngữ có vần điệu và các qui luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ” [13, tr 25]
Từ những cách hiểu trên về ngôn ngữ thơ, ta có thể đi đến kết luận: Trongmột phạm vi hẹp của thể loại, ngôn ngữ thơ được hiểu là một chùm đặc trưngngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hóa, khái quát hóa hiện thực kháchquan theo tổ chức riêng của thơ ca
1.1.3 Đặc trưng ngôn ngữ thơ
Để làm rõ đặc trưng của ngôn ngữ thơ ta sẽ dựa vào ba bình diện sau:
1.1.3.1 Về ngữ âm
Thơ là tiếng nói của tâm hồn tình cảm con người Thế giới nội tâm của nhàthơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng cả âm thanh,
Trang 16nhịp điệu của từ ngữ ấy Trong thơ, các đặc trưng về ngữ âm được tổ chức mộtcách chặt chẽ, có dụng ý để tạo nên tính nhạc Vì vậy, tính nhạc được xem làđặc thù cơ bản của ngôn ngữ thơ ca và cũng là một đặc điểm nổi bật để phânbiệt với văn xuôi.
Tiếng Việt có sự phong phú về thanh điệu, số lượng các nguyên âm, phụ
âm, đó là cơ sở để tạo tính nhạc trong thơ Đặc biệt là sự phong phú về thanhđiệu đã tạo nên dáng vẻ riêng biệt của tính nhạc trong thơ Tiếng Việt
Khi khai thác tính nhạc trong thơ, chúng ta cần chú ý đến những đối lập sau:
- Sự đối lập về trầm bổng, khép mở các nguyên âm
- Đối lập về vang tắc giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanhtrong các phụ âm cuối
- Đối lập cao thấp, bằng trắc của các thanh điệu
Bên cạnh đó, hai yếu tố quan trọng góp phần tạo nên tính nhạc cho ngônngữ thơ ca là vần và nhịp (sự hòa âm và tiết tấu) Các yếu tố ngữ âm này là chấtliệu để tạo nên âm hưởng du dương, trầm bổng của ngôn ngữ thơ ca Tính nhạctrong ngôn ngữ thơ đã rút ngắn khoảng cách giữa thơ với âm nhạc Thật dễ hiểukhi những nhạc phẩm nổi tiếng có chất liệu lời được lấy từ thơ ca Và thật thú
vị khi đọc những bài thơ được phổ nhạc, ta nhận thấy sự hòa âm, tiết tấu là mộtyếu tố rất quan trọng làm nên sự thành công của thi phẩm ấy
* Vần
Điều kiện trước hết tạo nên tính nhạc của thơ phải kể đến sự hòa âm màvần là yếu tố quan trọng xây dựng nên sự hòa âm giữa các câu thơ “Vần là sựhòa âm, sự cộng hưởng nhau theo những qui luật ngữ âm nhất định giữa hai từhoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ, gợi tả nhấn mạnh sự ngừng nhịp”[10, tr 12] Đơn vị biểu diễn vần thơ trong tiếng Việt là âm tiết bao gồm: âmđoạn tính và siêu âm đoạn tính (thanh điệu) Xét về chức năng tạo nên sự tươngđồng, sự hòa âm thì các yếu tố cấu tạo nên âm tiết có vai trò không giống nhau:
“Ở đây thanh điệu, âm cuối rồi đến âm chính là những yếu tố giữ vai trò quyết
Trang 17định của sự hòa âm Vai trò thứ yếu thuộc về âm đệm và yếu tố cuối cùng là âmđầu” [10, tr 115].
Trước hết, ta xét đến yếu tố siêu đoạn tính (thanh điệu) chức năng hòa âmcủa thanh điệu trong các vần thơ được biểu hiện chủ yếu ở chỗ: các âm tiết hiệpvần chỉ có thể mang thanh đồng loại tuyền điệu (cùng bằng hoặc cùng trắc) Đó
là nét cơ bản của vần thơ Việt Nam
Xét về các mặt âm đoạn tính của các âm tiết hiệp vần, đầu tiên phải kể đến
âm cuối.“Trong một âm tiết, giữa các yếu tố tạo nên phần vần thì âm cuối làyếu tố quyết định tính chất của nó rõ hơn cả” [10, tr 100] Âm cuối là cơ sở đểngười ta phân loại các vần (khép, nửa khép, mở, nửa mở), chính tính chất củanhững loại vần này giữ một vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự hòa âm.Với âm cuối, sự hòa âm của vần thơ sẽ được tạo ra khi hai âm tiết hiệp vần có
sự đồng nhất các âm cuối (phụ âm, bán nguyên âm và âm vị zê rô) hoặc đồngnhất về đặc trưng ngữ âm vang mũi (m, n, ng, nh), hoặc đồng nhất về đặc trưngngữ âm vô thanh (p, t, c)
Âm chính“là hạt nhân, là yếu tố quyết định âm sắc chủ yếu của âm tiết chonên âm chính cũng có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập vần thơ” [10, tr.105] Để góp phần vào sự hòa âm này, âm chính có một qui luật phân bố chặtchẽ trong các vần thơ: Các nguyên âm làm âm chính của hai âm tiết hiệp vầnphải hoặc đồng nhất hoàn toàn, hoặc đồng nhất về một đặc trưng nào đó (đặctrưng âm sắc (trầm hoặc bổng), đặc trưng về âm lượng (nhỏ, lớn)) Ngoài ra, cónhững trường hợp âm chính không cùng dòng, cùng độ mở cũng hiệp vần vớinhau Các âm tiết này hiệp vần là nhờ âm cuối giống nhau
Phụ âm đầu và âm đệm đều có chức năng tạo nên sự khác biệt cho vần thơ
để tránh lặp vần Thực tế, khi các âm tiết hiệp vần với nhau đã có sự hòa âm,đắp đổi của âm chính, âm cuối và thanh điệu thì sự xuất hiện của bất kì âm đầunào trong âm tiết cũng không ảnh hưởng đến sự hòa âm Từ đó, ta thấy rõ mộtđiều:“âm đầu có tham gia cùng với các thành phần khác để tạo nên sự hòa âmnhưng vai trò của nó không đáng kể” [10, tr 112] Còn âm đệm mức độ hòa âm
Trang 18rất thấp, có những khuôn vần mà sự có mặt của âm đệm không ảnh hưởng đến
sự phân loại của các vần thơ
Như vậy, tất cả các yếu tố cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt đều tham gia vàoviệc tạo nên sự khác biệt của vần thơ Việt Nam để tránh lặp vần Trong đó thanhđiệu, âm cuối, âm chính là những yếu tố chính quyết định âm hưởng chung củatoàn âm tiết và do đó quyết định đến sự hòa âm của các âm tiết hiệp vần
* Nhịp
Tiết tấu trong thơ ca là sự sáng tạo ra những khoảng cách tương tự về mặtthời gian Tiết tấu trong thơ chính là nhịp thơ “Nhịp thơ là cái được nhận thứcthông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chất chu kỳ, cách quãng hoặc luân phiêntheo thời gian của những chỗ ngừng, chỗ ngắt và của những đơn vị văn bản nhưcâu thơ (dòng thơ), khổ thơ thậm chí cả đoạn thơ” [11, tr 64] Như vậy, yếu tốquan trọng nhất tạo nên nhịp điệu chính là chỗ ngừng, chỗ ngắt theo một cáchthức nhất định khi phát âm
Trong thơ có hai kiểu nhịp: Ngừng nhịp ở cuối dòng và ngừng nhịp ởtrong dòng thơ
Nhịp thơ có tính mỹ học do con người sáng tạo ra để biểu hiện tư tưởng,tình cảm con người Do vậy, các trạng thái rung cảm, cảm xúc, đều ảnh hưởngđến việc lựa chọn nhịp của câu thơ, bài thơ Nhịp trong thơ khác với nhịp trongvăn xuôi V Tinianop phân biệt rõ nhịp điệu văn xuôi và thơ: “Trong văn xuôi(nhờ sự đồng thời của lời nói), thời gian được cảm thấy rất rõ, hiển nhiên đókhông phải là những tương quan về thời gian có thực giữa các sự kiện mà chỉ lànhững tương quan có tính ước lệ Trong thơ thì thời gian không thể cảm giácđược Các tiểu tiết của chủ đề và những đơn vị lớn của chủ đề đều được cânbằng bởi cấu trúc của thơ” [Dẫn theo 14] Trong một bài thơ, đơn vị để biểudiễn nhịp (ngắt nhịp) cơ bản nhất là câu thơ (dòng thơ) Vì trong câu thơ tậptrung mật độ dày đặc về cú pháp, về sự hòa âm… Trong mỗi dòng thơ lại cócách ngắt nhịp phụ thuộc vào thể thơ Từ nhịp chung của thể thơ ấy, người sáng
Trang 19tác sẽ có những cách sử dụng linh hoạt, nhất là trong thơ tự do, rõ nhất là loạithơ không vần.
Như vậy, cách tạo nhịp ngắt nhịp hết sức đa dạng, có nhiều kiểu, tùy câu,tùy đoạn, tùy bài thơ, thể thơ Nhịp trong thơ mang bản sắc của từng nhà thơtrong việc chọn nhịp
Người Việt ưa sự cân đối hài hòa, do vậy trong các thể thơ truyền thống,cách luật, nhịp chẵn thường chiếm ưu thế (ví dụ như thơ lục bát), sự xuất hiệnnhịp lẻ cũng là nhịp lẻ cân đối (trong câu có tiểu đối), sau đó mới đến nhịp lẻđộc lập Còn trong thơ tự do, khi những câu thơ gần với văn xuôi, không có vầnthì lúc ấy nhịp nổi lên, vai trò của nhịp đã tạo được sức ngân vang rất lớn chothơ Bản thân nhịp nhiều lúc cũng chứa nội dung trong đó: “Nhịp chẵn gợi lên
sự hài hòa, bình yên, tĩnh lặng, nhịp lẻ thường báo hiệu những tai ương, mắc
mớ uẩn khúc…” [18,tr 10] Đến đây ta có thể thấy rõ nhịp chính là năng lượng
cơ bản, là xương sống của bài thơ
Vần và nhịp là những đơn vị ngữ âm quan trọng của ngôn ngữ thơ Vần vànhịp nếu đặt đúng chỗ thì mang nghĩa Chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tương
hỗ lẫn nhau, bổ sung cho nhau: sự ngắt nhịp là tiền đề cho hiện tượng gieo vần,nhịp nâng cao hiệu quả hòa âm của vần, một chiều khác chính vần cũng có tácđộng trở lại nhịp.“Sự tác động này được biểu hiện khi có sự hỗ trợ của vần thìchỗ ngừng, chỗ ngắt trở nên rõ ràng hơn, lâu và đậm hơn, vần có khả năng nhấnmạnh sự ngừng nhịp” [10, tr 36], đặc biệt trong thơ tự do thì “vần trở thành mộttiêu chí rất quan trọng giúp người ta ngừng nhịp đúng chỗ” [10, tr 42]
Tóm lại, đặc trưng nổi bật của ngôn ngữ thơ ca là sự tổ chức âm thanh mộtcách hài hòa, có qui luật của chúng Vần và nhịp là hai yếu tố làm nên đặctrưng đó đồng thời nó có vai trò quan trọng trong việc tạo nên tính nhạc chothơ, để thơ ca có khả năng biểu đạt tinh tế những rung cảm, cảm xúc của tâmhồn mà bản thân nghĩa của từ ngữ không thể diễn đạt hết được Hơn nữa “nhạctính của một thi phẩm càng giàu, tức những tham số thanh học của ngôn ngữcàng có độ tin cậy cao, thì hiệu quả lưu giữ truyền đạt của thi phẩm càng lớn,
Trang 20sức sinh tồn của nó càng mạnh” [5, tr 152] Ki No Curajuki cũng đã nói: “Nếunhịp điệu vĩnh viễn trường tồn, thì làm sao thơ ca bị tiêu diệt được ?”
1.1.3.2 Về ngữ nghĩa
Ngôn ngữ thơ ca trước hết là một thứ ngôn ngữ được trau chuốt, tinh luyện
từ ngôn ngữ “nguyên liệu” - lời nói hàng ngày Do vậy, ngữ nghĩa trong thơ cakhông hoàn toàn đồng nhất với ngữ nghĩa của ngôn ngữ trong giao tiếp thôngthường và nó còn khác với cả ngữ nghĩa trong văn xuôi Mỗi từ khi được đưavào thơ đều trải qua sự lựa chọn của tác giả Những từ ngữ ấy hoạt động rất đadạng, linh hoạt biến hóa để đạt được tham vọng với diện tích ngôn ngữ nhỏnhất có thể chiếm lĩnh cả thế giới Trong văn xuôi không hạn chế về số lượngngôn từ, câu chữ còn trong thơ, tùy thuộc theo từng thể loại mà có những cấutrúc nhất định Dưới áp lực của cấu trúc, ngữ nghĩa của ngôn từ trong thơ nhiềukhi không dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa gốc mà còn mang những ý nghĩa mới,tinh tế đa dạng hơn nhiều Nó vừa phải đảm bảo tính chính xác, tính hình tượngvừa có tính truyền cảm để phát huy được hiệu quả nghệ thuật cao nhất Như tácgiả Mã Giang Lân đã nhận xét:“Một trong những nét độc đáo của hoạt độngsáng tạo thơ ca là việc bố trí chữ, tạo nghĩa mới cho chữ Cùng một chữ ấy nằmtrên một trục hình tuyến ngôn ngữ nhưng lại biểu hiện nhiều chiều của nghĩa Ởđây không chứa đựng với tư cách là từ đồng nghĩa mà là từ đa nghĩa Chính từ
đa nghĩa tạo nên độ sâu cảm xúc của thơ, tạo nên các tầng nghĩa và sự biến hóalinh hoạt của câu thơ, hình ảnh thơ, hình tượng thơ” [26, tr 21] Do vậy, ngữnghĩa trong thơ phong phú hơn nhiều so với ngữ nghĩa trong giao tiếp đờithường và trong văn xuôi
Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ giàu sức khơi gợi, từ ngữ trong thơ không chỉgọi tên sự vật, hiện tượng mà còn gợi ra nhiều liên tưởng, tưởng tượng trong tưduy người tiếp nhận Họ không chỉ tìm thấy ở từ ngữ và cấu trúc ngôn ngữ thơ
những thông tin “bề mặt” mà còn tìm thấy cả những “trầm tích” ngữ nghĩa của câu chữ Lúc này, ngôn ngữ thơ đã đạt đến độ hàm súc “ý tại ngôn ngoại” Và
người đọc có thể đồng sáng tạo cùng với người nghệ sỹ để tìm hiểu đến tận
Trang 21cùng sức mạnh biểu đạt của ngôn ngữ thơ Đó chính là điều cốt tử của thơ.
“Thơ phải được ý ở ngoài lời Trong thơ, hàm súc vô cùng thì mới là tôn chỉcủa người làm thơ Cho nên ý thừa hơn lời thì tuy cạn mà sâu, lời thừa hơn ý thìtuy công phu nhưng mà vẫn vụng Còn như lời hết mà ý cũng hết thì khôngđáng là người làm thơ vậy” Hiểu như vậy, chúng ta nhận thấy ngôn ngữ thơ trởthành một thứ gì đó chưa từng được nói hoặc chưa từng được nghe Và trongquá trình vận động của ngôn ngữ thơ ca cái biểu hiện và cái được biểu hiệnluôn xâm nhập và chuyển hóa vào nhau tạo ra cái khoảng không ngữ nghĩa vôcùng cho ngôn ngữ thơ Chính đặc trưng ngữ nghĩa này tạo nên sức hấp dẫn kì
lạ cho ngôn ngữ thơ Nó đòi hỏi người đọc đến với thơ bằng cả tâm hồn mình
để có thể cùng “vào mã” với người nghệ sỹ để “giải mã” những lớp ngữ nghĩa
tiềm tàng trong từng câu chữ
1.1.3.3 Về ngữ pháp
Cũng như phương diện ngữ âm, ngữ nghĩa, phương diện ngữ pháp của ngônngữ thơ cũng mang những nét hoàn toàn khác biệt với văn xuôi Như Phan Ngọc
đã nói, thơ là một “cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản” “Tổ chức ngôn ngữ
hết sức quái đản” ấy thể hiện rõ nhất ở phương diện ngữ pháp, bao gồm sự phânchia dòng thơ, câu thơ, những kiểu câu và cách sắp xếp từ ngữ trong thơ
Điều khác biệt trước tiên thể hiện ở sự phân chia dòng thơ Dòng thơ cókhi còn được gọi là câu thơ, nhưng trên thực tế dòng thơ không hoàn toàn trùngkhớp với câu thơ xét về cú pháp Dòng thơ có thể nhỏ hơn hoặc bằng, thậm chílớn hơn câu thơ và ngược lại Nghĩa là có những câu thơ bao gồm nhiều dòngthơ, có dòng thơ lại bao gồm nhiều câu
Cách lựa chọn từ ngữ nhiều lúc không theo trật tự bình thường, các thànhphần trong dòng, trong câu thơ thường bị đảo lộn Về cấu trúc cú pháp của câu
thơ, Nguyễn Lai đã nhận xét: “Cấu trúc cú pháp của câu thơ thường khó phân
tích theo nguyên tắc lô gíc của ngữ pháp thông thường như trong văn xuôi” [25,
tr 129] vì cấu trúc của ngôn ngữ thơ thường không bị ràng buộc bởi các quiđịnh chặt chẽ như câu trong văn xuôi và trong ngữ pháp thông dụng Người
Trang 22nghệ sỹ với những ý đồ nghệ thuật riêng của mình, có thể sáng tạo và sử dụngcác kiểu câu có cấu trúc “bất qui tắc” Đó là những câu “chệch” ra khỏi quĩ đạocủa trật tự tuyến tính thông thường mà các đơn vị ngôn ngữ luôn phải tuân thủ,bao gồm câu đảo ngữ, câu tĩnh lược, câu tách biệt, câu trùng điệp, câu vắt dòng,câu có sự kết hợp bất thường về nghĩa Ngoài ra còn có cách liên kết từ mang
tính “lạ hóa” tạo nên những tác động mạnh mẽ và những gợi mở phong phú
cho lời thơ Việc sử dụng phổ biến các kết cấu này không làm ảnh hưởng đếnquá trình tiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản thơ Ngược lại, chính điều đó đã tạo
ra, đem lại những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca, đem đến khảnăng vô tận của ngôn ngữ thơ trong việc chở tải những trạng thái tinh tế, bí ẩncủa thế giới và tâm hồn con người, làm nên sức ám ảnh của thơ
Có thể nói, ngữ pháp thơ ca là loại ngữ pháp đặc biệt độc đáo, đầy ma lựcđối với con người Khám phá ngữ pháp thơ ca là con đường ngắn nhất để chúng
ta tìm ra được phong cách riêng của mỗi nhà thơ, tìm ra được những dấu ấnsáng tạo mang tính cá nhân của người nghệ sỹ
Tóm lại, ta có thể dẫn ra đây ý kiến của Mã Giang Lân: “Thơ trước hết là
ngôn ngữ với màu sắc âm thanh, nhịp điệu, với những cấu trúc đặc biệt Mỗichữ đứng riêng có ý nghĩa riêng, nhưng trong trường hợp khác, trong nhữngcấu trúc khác sẽ có những ý nghĩa khác Mỗi chữ mỗi từ không chỉ là xác mà là
hồn, là độ sâu ngữ nghĩa, độ sâu của ngân vang, của cảm quan nghệ thuật” [26.
tr 149] Đúng vậy, qua ba đặc trưng về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ta thấyngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù, nó là sản phẩm thể hiện tàinăng, sự sáng tạo mang phong cách riêng của từng nhà thơ
1.2 Lưu Quang Vũ và thơ Lưu Quang Vũ
1.2.1 Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ sinh ngày 17/04/1948 tại Phú Thọ Quê gốc của anh ở ĐàNẵng Suốt cuộc đời Lưu Quang Vũ sống và gắn bó với Hà Nội Anh đã bộc lộ
Trang 23năng khiếu về văn học nghệ thuật từ thưở còn thơ bé, 13 tuổi cậu bé Vũ giànhgiải thưởng của thành phố cả về văn và họa.
Năm 17 tuổi, Lưu Quang Vũ nhập ngũ, được biên chế về binh chủngphòng không không quân Đây là giai đoạn có những đổi thay lớn trong cuộcđời Vũ Vũ làm rất nhiều thơ Chùm thơ đầu của Vũ được in trên tạp chí Văn
nghệ Quân đội với 3 bài thơ: Gửi tới các anh, Lá bưởi lá chanh, Đêm hành
quân Lưu Quang Vũ nhanh chóng được biết đến với tư cách là một nhà thơ trẻ
tài năng, xuất hiện trên văn đàn với tập thơ “Hương cây” in cùng với Bằng Việt trong tập “Hương cây - Bếp lửa” năm Vũ 20 tuổi.
1970 Lưu Quang Vũ xuất ngũ Vũ đã gặp nhiều trắc trở trong cuộc sốngnhưng anh vẫn tiếp tục viết truyện và làm thơ
Năm 1973, đánh dấu một sự kiện quan trọng trong cuộc đời của Vũ, anhkết hôn với nhà thơ Xuân Quỳnh Gắn bó cuộc đời với Xuân Quỳnh, anh khôngchỉ gắn bó với một người bạn đời mà còn có một người bạn thơ, cùng nhauvượt qua khó khăn, lận đận và xác định hướng đi đúng cho cuộc đời mình.Năm 1978, Lưu Quang Vũ làm biên tập ở Tạp chí sân khấu Đến năm
1979, cuốn Diễn viên và sân khấu của Lưu Quang Vũ (in chung với Xuân
Quỳnh và Vương Trí Nhàn) được xuất bản Cũng trong năm này, kịch bản đầu
tay Sống mãi tuổi 17 của anh ra đời và được nhà hát tuổi trẻ dàn dựng, tham gia
hội diễn sân khấu toàn quốc được trao giải Huy chương vàng Những năm tiếptheo, Vũ đã có những bước đi phi thường trong lĩnh vực sân khấu
Ngày 29/8/1988, Lưu Quang Vũ đột ngột qua đời trong một tai nạn xe hơiđáng tiếc cùng vợ và con trai Lưu Quỳnh Thơ
Lưu Quang Vũ ra đi đã để lại một sự nghiệp đồ sộ, bao gồm:
- Thơ:
1 Hương cây - Bếp lửa - tập thơ (in chung), Nxb Văn học 1968.
2 Mây trắng của đời tôi - tập thơ, Nxb Tác phẩm mới 1989.
3 Bầy ong trong đêm sâu - tập thơ, Nxb Tác phẩm mới 1993.
Trang 24Anh có 12 tập thơ đã được đặt tên, có cả những tập đã hoàn chỉnh: Cuốn
sách xếp nhầm trang, Cỏ tóc tiên… và những tập thơ còn dang dở Anh có hơn 20
năm sáng tác thơ và anh cũng dành rất nhiều trù liệu cho thơ Ngay từ đầu xuấthiện trên văn đàn, anh đã được đánh giá là một nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng.Thơ là nơi anh kí thác nhiều nhất, với thơ anh đã có một giọng điệu riêng,
đã ổn định một bản sắc thơ nhất quán Lưu Quang Vũ đã sống trong lòng bạnđọc yêu thơ với những câu thơ, bài thơ “không thể thay thế” Có thể nói chàngthi sỹ ấy đã kịp làm hết tất cả những gì có thể để dâng tặng cho đời
- Văn xuôi:
1 Mùa hè đang đến - Tập truyện ngắn, Nxb TPHCM 1983
2 Người kép đóng hổ - Tập truyện ngắn - Hà Nội
3 Một vùng mặt trận - Truyện vừa (in chung), Nxb Phụ nữ, 1980
4 Diễn viên và sân khấu - Tập chân dung diễn viên, sân khấu, 1979
Trong cương vị một nhà văn, Lưu Quang Vũ viết những truyện ngắn giàuchất thơ và hàm chứa nhiều chất kịch Còn những bài phê bình, giới thiệu sânkhấu anh viết rất hóm hỉnh có duyên, giàu hình ảnh, thể hiện sự tinh tế
- Kịch: 53 vở
Kịch Lưu Quang Vũ là những trăn trở về lẽ sống làm người và thấm đẫmchất thơ trong đề tài trong tư tưởng, tạo nên thành công và phong cách củariêng anh Lưu Quang Vũ được đánh giá là “nhà viết kịch lớn nhất thế kỉ nàycủa Việt Nam”
Ra đi ở tuổi 40, cuộc đời thật ngắn ngủi nhưng anh đã sống hết mình chonghệ thuật và đã có những đóng góp to lớn cho đời sống văn học nước nhà LưuQuang Vũ xứng đáng với phần thưởng cao quý nhà nước trao tặng năm 2000:Giải thưởng Hồ Chí Minh
1.2.2 Thơ Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ là nhà thơ trưởng thành trong hiện thực đời sống nhữngnăm chống Mỹ cùng với các gương mặt trẻ khác như: Xuân Quỳnh, Bằng Việt,
Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn
Trang 25Duy, Thanh Thảo… Ngọn lửa chiến tranh cách mạng đã rèn luyện cho họ mộtbản lĩnh vững vàng trong cuộc sống và nghệ thuật Trong sự thống nhất chungcao độ của cả một thế hệ nhà thơ chống Mỹ trẻ trung, khỏe khoắn, trong sángđầy tự tin, thơ Lưu Quang Vũ có một giọng điệu riêng không thể lẫn LưuQuang Vũ luôn thường trực ý thức về sự sáng tạo, về việc kiếm tìm con đườngnghệ thuật và cảm xúc trong thơ Dù là về dân tộc, về đất nước hay về chuyệncuộc đời truân chuyên của chính mình cũng luôn là những cảm xúc tha thiết,đầy lắng đọng với những dòng thơ “không che dấu sự thật lòng mình”.
Bên cạnh những thành công về kịch nói, Lưu Quang Vũ có ba tập thơ được
in gồm hàng trăm bài thơ:
- Hương cây - Bếp lửa - in chung với Bằng Việt (1968)
- Mây trắng của đời tôi (1989)
- Bầy ong trong đêm sâu (1993)
Sau này, những bài thơ tiêu biểu của Lưu Quang Vũ được tập hợp in trong
cuốn Lưu Quang Vũ - Thơ và đời gồm 121 bài.
Tập thơ Hương cây in năm 1968 Đây là tập thơ đầu tay của Lưu Quang
Vũ Tập thơ tập hợp những bài thơ anh viết lúc còn rất trẻ tuổi, có cả những bàithơ anh viết khi còn là học sinh Tập thơ xuất bản khi anh tròn hai mươi tuổi,lúc này Lưu Quang Vũ đã rời ghế nhà trường vào bộ đội, anh bộ đội khá nhiều
mơ mộng, mỗi bước đường hành quân, mỗi làng mạc đi qua đều gợi lên tronganh bao cảm xúc còn nhiều dấu vết của sách vở nhà trường: thiêng liêng, trongtrẻo đầy tin cậy
Trong tập thơ, Lưu Quang Vũ đã có những cảm nhận thật sâu sắc và cũng
vô cùng trong trẻo, tinh tế về quê hương đất nước Viết về quê hương đất nướcmột đề tài muôn thưở, nhưng Lưu Quang Vũ đã góp được tiếng nói riêng củamình “một tiếng nói nhỏ nhẹ mà sâu” Anh đã để tâm hồn mình hòa theo, quyệntheo bước đi của năm tháng trên đất nước diệu kỳ Một đất nước với muôn sắcmuôn hương của thiên nhiên, một đất nước với không khí rộn ràng đầy thanhsắc trong đêm lên đường ra mặt trận, một đất nước với không khí dựng xây,nhựa sống đang trào dâng rạo rực
Trang 26Tập thơ còn nói lên một nét sự thật của chiến tranh nhân dân Tất cả mọingười đều hướng về cuộc chiến, những con người lành như hạt lúa củ khoai đãđứng cả dậy hiên ngang đi vào cuộc chiến đấu mới Đằng sau những câu thơcủa Lưu Quang Vũ, thấp thoáng hình ảnh của những cô gái, giờ đây không còn
là những cô thôn nữ hiền lành chỉ biết trồng lúa trồng hoa mà nay chắc taysúng, góp phần nhỏ của mình trong cuộc chiến lớn lao
Hai tập di cảo thơ Mây trắng của đời tôi xuất bản năm 1989 và Bầy ong
trong đêm sâu xuất bản năm 1993, xét về thời gian xuất bản thì di cảo “Mây trắng của đời tôi” xuất bản trước, nhưng trong hành trình thơ của Lưu Quang
Vũ, gắn với cuộc đời anh thì di cảo Bầy ong trong đêm sâu lại tập hợp những bài thơ xuất hiện trước so với những bài thơ trong tập di cảo Mây trắng của đời
tôi Đó là vào khoảng những năm 1970 - 1973 Đây là khoảng thời gian trong
cuộc đời đa đoan, phiền phức của Vũ gặp nhiều khó khăn Lúc này, Lưu Quang
Vũ làm thơ như ghi nhật ký Mặc dù đây là những vần thơ tiếp nối Hương cây
nhưng những vần thơ ấy cho thấy một Lưu Quang Vũ khác, “Vũ của dằn vặt,đau xót, lầm lỡ cô đơn mà cũng là Vũ của những tha thiết muốn vượt lên trênmọi mệt mỏi, mọi hoài nghi để sống để tồn tại” [40, tr 64] Thơ Lưu Quang Vũlúc này có một sức chứa nội tâm rất lớn Trong tập thơ, ta nhận diện tâm hồnLưu Quang Vũ là một thể phức hợp những đối cực và nghịch lý Anh vừa tựchôn mình đằng sau những giới hạn lại vừa muốn phá vỡ tất cả những rào cảncủa định mệnh Và chính trong lúc anh đứng tách mình ra khỏi đám đông lại là
lúc anh tha thiết muốn hòa hợp với mọi người hơn ai hết: “Những bức tường
dựng đứng quanh tôi / Có những lúc tôi buông tay đuối sức / Nhưng từ đáy buồn tôi thăm thẳm / Một cái gì như nhựa thắm trong cây / Một cái gì trắng xóa tựa mây bay / Là hoa gạo trong lòng tôi chẳng tắt …” Lẫn lộn trong anh
một tâm trạng vừa tuyệt vọng vừa hi vọng, vừa hoài nghi vừa khao khát niềmtin, vừa tiếc nuối hương sắc dĩ vãng vừa ao ước vẻ đẹp của tương lai
Khi vượt qua được giai đoạn khủng hoảng của cuộc đời, những bài thơ
trong Mây trắng của đời tôi, anh viết ấm áp hơn, vui tươi hơn, cái ấm áp đời
Trang 27thường rất dễ thân với mọi người Nhưng mạch thơ trong thơ anh không hề đứtnối Giai đoạn trước kiến tạo cho giai đoạn sau Sức nặng của câu thơ yêu đờiđược bắt đầu từ câu thơ mất mát Ở giai đoạn này, ngòi bút của anh vừa đề cậpđến vấn đề nhỏ nhặt trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, mỗi bài thơ như một
bức kí họa sinh hoạt nhưng rất có hồn như bài Thằng Mí, Nhà chật, Buổi chiều
đón con… vừa vươn tới những vấn đề rộng lớn về đất nước quê hương, về ước
mơ khát vọng của con người tới một thế giới tốt đẹp như bài Đất nước đàn
bầu,Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Một thành phố khác một bến bờ khác… Đặc biệt, anh viết khá nhiều về tình yêu Thực ra thì không phải ở tập
thơ này anh mới thành công về địa hạt này, trong tập thơ Hương cây, anh đã có những bài thơ tình rất hay, rất trong trẻo ngọt ngào như Vườn trong phố, Hơi
ấm bàn tay…và có cả những bài thơ tình yêu cay đắng, xót đau của những năm
tháng tiếp theo Trải qua bao hạnh phúc lẫn niềm đau, thơ tình của anh đằm sâutình cảm của một người đàn ông trưởng thành nhưng rất chân thật, nồng nànnhư vốn dĩ tình yêu của muôn đời vẫn vậy
Dõi theo chặng đường thơ của Lưu Quang Vũ, thơ anh cũng là đời anh Vàmột điều dễ nhận thấy, dường như đối với Lưu Quang Vũ, niềm đam mê thơ cacòn lớn hơn cả kịch trường Anh lặng lẽ miệt mài sáng tạo để có được nhữngvần thơ đích thực với nghệ thuật đằm chín cùng thời gian, sống trong lòng bạnđọc Có thể nói, những tập thơ của anh với hôm qua còn phải bàn bạc nhưngvới hôm nay thì có thể được khẳng định và tồn tại Anh xứng đáng là gươngmặt thơ đầy cá tính, độc đáo của nền thơ ca hiện đại Việt Nam
Tiểu kết
Nhiệm vụ cơ bản của chương 1là xác định những cơ sở lý thuyết liên quanđến đề tài, chúng tôi đã điểm qua các khái niệm như: thơ, ngôn ngữ thơ, đặctrưng ngôn ngữ thơ và chúng tôi đã phác thảo, nhận diện gương mặt thơ LưuQuang Vũ qua các chặng đường thơ
Nội dung trên là những tiền đề và định hướng cần thiết cho việc nghiêncứu đề tài ở góc độ ngôn ngữ, tạo cơ sở cho việc triển khai phần quan trọng củaluận văn ở chương 2 và chương 3
Trang 28Chương 2MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ THỂ THƠ, VẦN NHỊP VÀ TỪ NGỮ
TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ
2.1 Đặc điểm về thể thơ
Lịch sử phát triển của các thể thơ Việt Nam gắn với sự phát triển của mộtnền văn học Nói đến thể thơ Việt Nam phải nói đến các thể thơ truyền thốngcủa dân tộc có nguồn gốc từ văn học dân gian phát triển lên hoặc các thể thơ dunhập từ nước ngoài nhưng đã được Việt hóa để phù hợp với qui luật ngôn ngữcũng như tâm lí người Việt
Qua cách phân loại các thể thơ, ta nhận thấy cơ sở của việc xác định thểthơ là số tiếng và vần
Căn cứ vào số âm tiết trong dòng thơ, người ta đã chia ra nhiều thể thơ 3chữ, 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ, lục bát, thể thơ tự do (có số tiếng khôngđều nhau)
Căn cứ vào vần luật có hai loại: Thơ cách luật (thơ có qui tắc và luật lệ ổnđịnh) và thơ không cách luật (thơ tự do về số tiếng, số câu, vần…)
Trong số lượng 121 bài thơ của Lưu Quang Vũ được khảo sát, chúng tôinhận thấy Lưu Quang Vũ sáng tác trên các thể thơ 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ,lục bát và thơ tự do nhưng chủ yếu vẫn là thơ 5 chữ, 7,8 chữ, và thơ tự do, đặcbiệt là thơ tự do chiếm số lượng lớn Cụ thể: Thơ 5 chữ: 6 bài chiếm 4%; Thơ 6chữ: 1 bài chiếm 0,8%; Thơ lục bát: 1 bài chiếm 0,8 %; Thơ 7,8 chữ: 29 bàichiếm 24%; Thơ tự do: 84 bài chiếm 69,4 %
2.1.1 Thể thơ 5 chữ
Thể thơ 5 chữ là hình thức quen thuộc của thơ hiện đại Việt Nam Thể thơ
5 chữ được các nhà thơ hiện đại Việt Nam kế thừa những tinh hoa của hát dặm
và thơ ngũ ngôn (Đường luật) nhưng đồng thời có sự sáng tạo phá cách, tạonhiều vần điệu Ngắt nhịp có sự kết hợp hài hòa cả 2/3 và 3/2 Thơ 5 chữthường hợp với giọng kể tâm tình
Trang 29Qua khảo sát, trong 121 bài thơ của Lưu Quang Vũ trong tập Lưu Quang
Vũ thơ và đời có 6 bài thơ 5 chữ, chiếm 4 % Tuy số lượng ít ỏi nhưng Lưu
Quang Vũ đã có những bài thơ hay Thơ 5 chữ của Lưu Quang Vũ thường thểhiện giọng điệu tâm tình thủ thỉ Có những bài thơ như một câu chuyện nhỏ,một lời giãi bày tâm sự nỗi lòng Anh kể về những hồn nhiên thơ trẻ của đứacon thân yêu, về niềm vui bình dị mỗi chiều đón con và cả những tâm sự lo âu,
mong ước của người cha về tương lai của con mình (Thằng Mý)
Thơ 5 chữ của Lưu Quang Vũ không nhiều, không cầu kỳ gọt giũa nhưng
đã để lại trong lòng người đọc những vần thơ đầy ắp vẻ đẹp của thiên nhiên và
vẻ đẹp hào hùng của thủ đô Hà Nội trong những ngày chống Mỹ (Chiều…).
Thường thơ 5 chữ bao giờ cũng gợi lên nhịp êm ái, thong thả, cảm xúcthường dàn trải đều đặn nhưng trong thơ Lưu Quang Vũ cảm xúc thường được
đẩy lên ở cung bậc cao nhất, đặc biệt là trong những bài thơ tình (Thơ tình viết
về người đàn bà không tên II).
Do vậy, đọc thơ 5 chữ của Lưu Quang Vũ, ta thấy có sự đối lập giữa dunglượng ngắn ngủi, nhỏ hẹp của câu chữ với sự tràn trề mãnh liệt của tình cảm,cảm xúc
Tóm lại, thơ 5 chữ của Lưu Quang Vũ vừa có sự phong phú đa dạng củacuộc sống thiên nhiên vừa có độ dài rộng và sâu lắng của nội cảm Đó chính là
sự khám phá sáng tạo của riêng anh
2.1.2 Thể thơ 7, 8 chữ
Thể thơ 7 chữ trong thơ ca hiện đại có xuất xứ từ thơ cổ điển thất ngôn vàĐường luật thất ngôn bát cú Hình thức gồm nhiều khổ, mỗi khổ 4 câu là phổbiến hơn cả Nhịp thơ quen thuộc là 3/4 và 4/3
Thể thơ 8 chữ được xem là một sáng tạo của phong trào Thơ mới “Thựcchất thể thơ 8 chữ có nguồn gốc từ thể thơ ca dân tộc - thể hát nói nhưng có sự
sáng tạo nâng cao” [26 Tr 96] Câu thơ 8 chữ thường ngắt nhịp 5/3, 3/5 hoặc
3/2/3 Vần trong thơ 8 chữ thường sử dụng vần chân bao gồm các dạng vầnchân giãn cách, ôm, hỗn hợp
Trang 30Trong thơ Lưu Quang Vũ, số lượng các bài thơ làm theo thể thơ này là 29
bài chiếm 23,9 % Ngoài 1 bài thơ Mùa xuân lên núi có số chữ ổn định là 7 chữ
còn lại tất cả các bài thơ ở thể thơ này có số chữ giao động từ 7 - 10 chữ Tuynhiên, số dòng 9 chữ, 10 chữ thậm chí có 11 chữ không nhiều (chỉ có 1 đến 2câu) trong một bài Còn đa số các câu còn lại chỉ dừng lại ở 7,8 chữ Tuy có sựphá cách và biến thể như vậy, nhưng điều quan trọng những bài thơ này vẫnmang đậm âm hưởng trang trọng của thể thơ 7 chữ và sự thiết tha, sôi nổi,phóng khoáng của thể thơ 8 chữ
Đa phần trong bài thơ 7, 8 chữ của Lưu Quang Vũ có cấu trúc các khổ thơphổ biến gồm 4 câu
Đây là một thể thơ Lưu Quang Vũ tâm đắc và sử dụng khá thành công vànhuần nhuyễn Cảm hứng trong thơ được mở rộng hơn, tạo nên chất trữ tìnhvừa sâu lắng, nhuần nhị vừa mãnh liệt, đắm đuối, và đó chính là bản sắc hồnthơ của Lưu Quang Vũ
Ở thể thơ này, anh đã có những bài thơ hay về quê hương, đất nước nhữngngày tháng chống Mỹ gian khổ nhưng thật đẹp đẽ, hào hùng Lưu Quang Vũ đãkhai thác triệt để điệu sôi nổi tha thiết, đầy phóng khoáng của thể thơ 8 chữ đểthể hiện được không khí rạo rực, rộn rã niềm vui của đất nước đầy thanh sắctrong một đêm hành quân ra mặt trận Ở “địa hạt”này, Lưu Quang Vũ thể hiệntình yêu đối với dân tộc, đất nước theo cách riêng của mình Anh hướng ngòibút vào việc khám phá vẻ đẹp của tiếng nói quê hương xứ sở Anh đã thấy đượctrong cái bình dị của tiếng nói dân tộc mình là thẳm sâu sức mạnh của hồn vănhóa Việt Đó chính là sức mạnh gọi kêu, lay tỉnh lương tâm, tình cảm con
người (Đêm hành quân, Tiếng Việt).
Bên cạnh đó, có những bài thơ 8 chữ thể hiện cảm động tình cảm đối với
những người thân: mẹ, vợ, con (Gửi mẹ, Gửi em và con.) Có lẽ thành công hơn
cả là những bài thơ viết về tình yêu Chính sự phá cách tháo gỡ, đắp đổi của thểthơ 8 chữ đã giúp anh thả sức tung bút, tạo nên phong cách riêng không dễ lẫn.Cái muôn sắc muôn hương của cung bậc tình yêu được Lưu Quang Vũ thể hiện
Trang 31tự nhiên, da diết Với anh tình yêu là sự sống, là lý do tồn tại trên cõi đời “anhyêu em và anh tồn tại” Với anh tình yêu là một món quà kì diệu mà cuộc đờiban tặng anh, để rồi anh “mãi mãi biết ơn đời”.
Không chỉ có vậy, đến với thơ 8 chữ của Lưu Quang Vũ, ta còn thấu hiểuđược cả thế giới tâm hồn của anh một tâm hồn mãnh liệt, phóng khoáng, giàu
yêu thương, nhân hậu, lạc quan và tin yêu cuộc đời (Gió và tình yêu thổi trên
đất nước tôi).
Nếu như Xuân Quỳnh thành công ở thể thơ 5 chữ thì ở Lưu Quang Vũ takhông thể không công nhận sự thành công ở thể thơ 8 chữ Thể thơ 8 chữ đãgóp phần thể hiện những cảm hứng lớn trong thơ Lưu Quang Vũ, tạo nên mộtgiọng điệu thơ riêng: “đắm đuối”, như Vũ Quần Phương đã nhận xét: “Đắmđuối đó là một đặc điểm của suốt đời thơ Lưu Quang Vũ” [40, tr 36]
2.1.3 Thể thơ tự do
Đặc điểm nổi bật của thơ tự do là không tuân theo những qui tắc về cáchluật Thơ tự do xuất hiện ngay từ khi phong trào Thơ Mới ra đời và ngày càngđược khẳng định vị trí của mình trong nền thơ hiện đại với nhiều tìm tòi mới.Thơ tự do phóng túng trong cách biểu đạt, nhịp điệu khoáng đạt, được cấutạo bằng những câu thơ tự nhiên, đa dạng về tổ chức kết cấu, có số lượng từ ngữ
co giãn linh hoạt Về mặt hình thức, thơ tự do có thể có vần nhưng nó không trởthành một qui tắc chặt chẽ mà nhịp điệu lại nổi lên như một yếu tố chủ đạo.Nhịp điệu ở đây không do các yếu tố cách luật xác định (như trong thơ Đườngluật, thơ Lục bát…) mà do những qui tắc nội tại, cảm xúc của nhà thơ
Sự phát triển của thơ tự do là để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thơ ca phải đisâu vào các đề tài rộng lớn của cuộc sống, bắt nhịp với hơi thở thời đại Thơ tự
do không phải là hình thức định trước của các nhà thơ khi sáng tác, mà là mộthình thức được nhà thơ tìm đến với độ chín của tâm hồn, tìm thấy ở đó sự diễn
tả phù hợp nhất cho những trạng thái tinh vi của đời sống tinh thần tình cảm,cho những đối tượng mà mình tâm đắc nhất
Với những ưu thế ấy của thơ tự do, Lưu Quang Vũ đã có những vận dụngtrong sáng tác của mình Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy thể thơ tự do Lưu
Trang 32Quang Vũ sáng tác với số lượng lớn gồm 84 bài / 121 bài chiếm 69,4 % Ở thểthơ này, anh cũng đã cón nhiều bài thơ xuất sắc, in đậm dấu ấn phong cách thơLưu Quang Vũ.
Trong 83 bài thơ tự do chúng tôi khảo sát, có 54 bài thơ có hiện tượng phốixen câu thơ, dòng thơ dài ngắn khác nhau, dòng thơ có thể là 3,4,5 chữ, cũng cóthể kéo dài đến 13, 14 chữ Còn lại 30 bài thì có 26 bài cốt 8 và 4 bài cốt 5.Thực tế số lượng chữ trong bài thơ tự do chưa phải là điều kiện tiên quyếtthể hiện sự sáng tạo của nhà thơ trong thể thơ này, mà điều đáng nói chính là ởcách tổ chức sắp xếp sao cho đạt được hiệu quả cao nhất Trong thơ Lưu Quang
Vũ có nhiều đoạn thơ vận dụng sự co duỗi nhịp nhàng không hạn định số lượng
âm tiết trong một dòng thơ, câu thơ đã có được hiệu quả diễn đạt đáng ghi nhận:
“Vẫn đang là mùa xuân tấp nập/ Tiếng người, tiếng xe, tiếng cuộc đời náo động /
Ai một mình im lặng/ Có lẽ nào / Khi cánh cửa cuối cùng khép lại / Chẳng có gì ngoài cõi hư vô” (Buổi chiều ấy) Với 2 câu thơ kéo dài 9 âm tiết gợi lên sự sôi
động tự nhiên của cuộc đời, đoạn thơ đột ngột thu hẹp lại với dòng thơ 3 chữ đểdiễn tả nỗi đau đớn lặng người của đứa con trước sự mất mát không gì bù đắp
nổi Cuộc đời vẫn trôi qua với bao “náo động” nhưng với đứa con lúc này đã mất cha Ngơ ngác, bàng hoàng, thảng thốt trong tận cùng của đau thương: Có
lẽ nào? Câu hỏi như một nốt lặng của tâm trạng, gợi lên bao xót xa trong lòng
người đọc
Như vậy có thể thấy, hình thức câu thơ phối xen, dài ngắn khác nhau trongthơ tự do Lưu Quang Vũ đã có sự chi phối của mạch cảm xúc và tạo ra đượcnhịp điệu riêng giàu sức ám ảnh Đó là thứ nhịp điệu bên trong, thứ nhịp điệucủa tâm hồn tình ý
Rất nhiều bài thơ tự do của Lưu Quang Vũ có sức lan tỏa được gợi lên từnhịp điệu Đó là sự đột phá của cảm xúc đã tạo nên một cách thức biểu hiệnmới Có nhiều bài thơ tự do của anh kết hợp nhiều thể thơ cùng một lúc Bài
thơ Đất nước đàn bầu là bài thơ hợp thể giữa cốt 5 và cốt 8 Chính sự thay đổi
nhịp điệu của cốt 5 và cốt 8 giữa các khổ thơ, đoạn thơ đã tạo nên những cung
Trang 33bậc khác nhau lúc trầm bổng, lúc thiết tha sôi nổi, lúc dứt khoát mạnh mẽ… giúpngười đọc cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của đất nước suốt chiều dài lịch sử
Chính cấu trúc mở và phức hợp của bài thơ tự do có một vai trò quan trọngtrong việc phản ánh hiện thực cuộc sống Do vậy, cảm hứng thế sự xuất hiệnsớm trong thơ tự do Lưu Quang Vũ Chất hiện thực bề bộn của cuộc sống đượctăng cường đưa vào thơ Có những bài thơ tự do của anh mang dáng dấp củamột câu chuyện dài, câu chuyện về cuộc đời anh, của những người xung quanh
anh như trong bài Những người bạn khuân vác Điều đáng nói, bao giờ anh
cũng kết hợp rất nhuần nhuyễn giữa yếu tố tự sự với yếu tố trữ tình cho nênnhững bài thơ tự do của anh tuy dài nhưng cảm xúc vẫn liền mạch Đằng saunhững vần thơ thế sự, ta nhận ra tấm lòng của Lưu Quang Vũ gắn bó thiết thavới cuộc đời, dẫu cuộc đời ấy có cay cực
Một đặc điểm nữa trong thơ tự do của Lưu Quang Vũ là sự xuất hiện củacâu thơ vắt dòng Tuy không nhiều nhưng nó góp phần làm cho ý thơ phát triển
tự nhiên, liền mạch hoặc tạo nên sự ngắt nhịp độc đáo, tăng hiệu quả diễn đạt:
Thương trái tim nhiều vất vả lo buồn Trái tim lỡ yêu người trai phiêu bạt Luôn mắc nợ những chuyến đi, những giấc mơ điên rồ, những ngọn lửa không có thật
(Thư viết cho Quỳnh trên máy bay)
Khi em ngẩng đầu lên, anh biết đêm đã xuống Gió thổi qua biển lớn và mưa rơi trên
những vòm lá rậm.
…Khi em nhắm mắt lại, anh biết những con ngựa
hoang đang đi trên đồng cỏ
(Vần thơ tình viết về một người đàn bà không tên)
2.2 Đặc điểm về vần và nhịp
2.2.1 Đặc điểm về vần
Ở chương một đã trình bày, vần là một trong những yếu tố quan trọng đểtạo nên tính nhạc cho thơ Hiện tượng hiệp vần trở thành phổ biến, tồn tại một
Trang 34cách hiển nhiên trong thơ ca Nó trở thành một phương tiện để chở tải nội dung
tư tưởng, cảm xúc của nhà thơ
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa vần: “Một phương tiện tổ chức văn
bản thơ dựa trên cơ sở lặp lại không hoàn toàn các tiếng ở những vị trí nhấtđịnh của dòng thơ nhằm tạo nên tính hài hòa và liên kết của dòng thơ và giữa
các dòng thơ” [20, tr 292] Trong chuyên luận Vần thơ Việt Nam dưới ánh
sáng ngôn ngữ học, tác giả Mai Ngọc Chừ cũng đã đưa ra một định nghĩa về
vần khá đầy đủ và chặt chẽ: “Vần là sự hòa âm, sự cộng hưởng nhau theonhững qui luật ngữ âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuốidòng thơ và thực hiện những chức năng nhất định như liên kết các dòng thơ,gợi tả nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [10, tr 16]
Hai định nghĩa về vần ở trên đều cho thấy vần là một hiện tượng hòa âm
và có những chức năng nhất định Chúng ta có thể nhận thấy trong thơ vần thựchiện các chức năng sau:
(1) Vần có chức năng tổ chức, liên kết các dòng thơ
(2) Vần có chức năng tách biệt, phân cách ranh giới giữa các dòng thơ vànhấn mạnh nhịp
(3) Vần tạo cho người đọc tâm thế “chờ đợi vần” đối với các tiếng xuấthiện sau ở vị trí nhất định nhằm làm nổi bật ý nghĩa của từ hiệp vần
(4) Vần tạo nên âm hưởng và tiếng vang cho thơ
Trong thơ vần được xem xét trên các phương diện sau: theo vị trí các tiếnghiệp vần, theo mức độ hòa âm giữa các tiếng hiệp vần, theo đường nét củathanh điệu trong các tiếng hiệp vần và theo cách kết thúc của âm tiết gieo vần.Trong khuôn khổ của luận văn này chúng tôi xem xét theo hai căn cứ: Vần căn
cứ vào vị trí của tiếng hiệp vần và vần căn cứ vào mức độ hòa âm
2.2.1.1 Vần căn cứ vào vị trí của các tiếng hiệp vần
Căn cứ vào vị trí của các tiếng hiệp vần, thơ Việt Nam có hai loại vần: Vầnchân và vần lưng
Trang 35- Vần chân (Cước vận): là vần mà tiếng được gieo vần và tiếng hiệp vầnnằm cuối dòng thơ.
- Vần lưng (Yêu vận): là vần mà tiếng hiệp vần nằm giữa dòng thơ
Trong thơ Lưu Quang Vũ, vần chân được sử dụng ở các thể thơ: 5 chữ, 7,
8 chữ, thơ tự do, bao gồm nhiều kiểu dạng phong phú: Vần liền (hay còn gọi làvần chân liên tiếp), vần gián cách, vần ôm
* Vần liền: là các âm tiết hiệp vần liên tiếp giữa các dòng thơ.
Khảo sát 2390 cặp vần, chúng tôi thấy có 1999 cặp vần liền chiếm 83%.Điều đó cho thấy vần liền trong thơ Lưu Quang Vũ chiếm số lượng rất lớn, thểhiện vai trò chủ đạo trong việc liên kết các dòng thơ Vần liền tạo nên sự liềnmạch trong cảm xúc của chủ thể trữ tình, ý thơ được gắn kết với nhau một cáchchặt chẽ Sở dĩ vần liền xuất hiện nhiều và chiếm ưu thế bởi trong thơ LưuQuang Vũ có đến 69 % bài thơ viết theo thể thơ tự do, mà một kiểu dạng củavần chân được sử dụng nhiều, phổ biến nhất trong thể thơ này là vần liền
Một đặc điểm nổi bật trong việc sử dụng vần liền của thơ Lưu Quang Vũ
đó là những biến thái linh hoạt Có khi vần được gieo liên tục trong suốt khổthơ theo mô hình AA - A
Trang 36Có khi vần được gieo liên tiếp theo từng cặp với mô hình AA, BB
(Phố huyện)
Mô hình gieo vần AA,BB xuất hiện phổ biến trong thơ tự do Lưu Quang
Vũ Điều đáng chú ý ở đây là các âm tiết tham gia hiệp vần có sự luân phiênbằng trắc, lần lượt cặp vần mang thanh trắc (hoại - lối) rồi đến cặp vần mangthanh bằng (sông - đông), rồi lại quay về thanh trắc (cộc - được)…Kiểu sử dụngvần và thanh điệu như vậy làm cho ý thơ, lời thơ tuôn chảy nhịp nhàng nhưtừng con sóng nối tiếp nhau
* Vần cách: các âm tiết hiệp vần cách nhau một dòng thơ, 2 dòng thơ, cókhi cả một đoạn thơ
Qua khảo sát, trong 2390 cặp vần chân có 224 cặp vần cách chiếm 9,3 %
Mô hình vần cách điển hình là ABAB (Tức là các âm tiết hiệp vần xen kẽ nhauliên tục và dòng nào cũng có tiếng hiệp vần) thường được sử dụng trong khổthơ 4 câu Vần giãn cách trong thơ Lưu Quang Vũ thường xuất hiện ở nhữngbài thơ có số tiếng cố định như thể thơ 5 chữ, 8 chữ hoặc những bài thơ tự do
có cốt 5 và cốt 8 có chia khổ từ 4 đến 6 câu
Vần cách với sự gieo vần xen kẽ liên tiếp giữa các dòng thơ đã giúp chocâu thơ có sự hòa quyện cân xứng giữa hình thức biểu hiện và cảm xúc của nhàthơ, làm cho ý thơ lan tỏa một cách tự nhiên:
Trang 37Trong thành phố có một vườn cây mát Trong triệu người có em của ta
Buổi trưa nắng bầy ong đi kiếm mật Vào vườn rồi ong chẳng biết lối ra
(Vườn trong phố)
Có khi trong khổ 4 câu chỉ có một cặp vần (BACA):
Tối đen thành phố đêm lưu lạc
Máy bay giặc rít ở trên đầu
Ba đứa da vàng ngồi uống rượu
Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu
(Đêm Đông chí ngồi uống rượu cùng bác Lâm và bác Khánh)
Bên cạnh đó, một đặc điểm đáng lưu ý trong việc sử dụng vần cách trongthơ anh, đó là câu cuối của khổ thơ trên thường hiệp vần với câu đầu của khổthơ dưới Khảo sát 120 bài thơ có chia khổ, trong đó có 115 bài thơ có sự hiệpvần như trên Sự hiệp vần giãn cách giữa các khổ thơ đã góp phần nối kết mạch
ý của cả bài thơ Do vậy, đọc thơ Lưu Quang Vũ, người đọc luôn có cảm giácmiên man, cuồn cuộn trong dòng chảy của cảm xúc và sự kiện:
Trong thành phố có một vườn cây mát ………
Vào vườn rồi ong chẳng nhớ lối ra
* Vần ôm: thực chất là sự phối hợp hai kiểu vần liên tiếp và vần giãn cách,
do vậy mô hình phân bố cơ bản của nó là ABBA (các âm tiết cuối của dòng đầu
Trang 38và dòng cuối khổ thơ hiệp vần với nhau và các âm tiết ở giữa khổ thơ hiệp vầnvới nhau).
Trong thơ Lưu Quang Vũ có 167 cặp vần ôm / 2390 cặp vần chiếm 6,9%.Tuy sử dụng không nhiều nhưng vần ôm trong thơ Lưu Quang Vũ được sửdụng khá thành công Nó vừa gợi sự toàn vẹn của những dòng thơ vừa tạo nên
sự cuộn chặt của dòng cảm xúc Do vậy, khổ thơ vừa có sức lan tỏa vừa có sựlắng sâu, đằm chín:
Rừng rậm đèo cao anh đã vượt lên Theo tiếng gọi con tàu ngày bé dại Vườn không níu được bước chân trở lại Nhưng lá còn che mát suốt đường anh
(Vườn trong phố) Anh như con sông muốn chảy ngược dòng
Khi tuyệt vọng không muốn làm em khổ Anh bỏ nhà ra đi như ngọn gió
Ngọn gió âm thầm quằn quại vẫn yêu em (Không đề)
Ngoài ra, vần ôm còn có trường hợp âm tiết cuối dòng thứ hai bắt vần với
âm tiết cuối của dòng 3, còn hai âm tiết cuối của dòng đầu và dòng cuối không
bị ràng buộc trong qui định hiệp vần Chính sự hiệp vần này làm cho cảm xúcđược thể hiện lắng đọng nhưng đồng thời mạch thơ lại được mở rộng:
Có thể nói, vần chân trong thơ Lưu Quang Vũ được vận dụng linh hoạtsáng tạo, tạo nên âm hưởng cho lời thơ và góp phần biểu đạt cảm xúc
b Vần lưng
Còn gọi là yêu vận, là vần mà tiếng hiệp vần nằm giữa dòng thơ Đây làmột nét đặc sắc của vần thơ Việt Nam Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đãnhận xét “Thơ ta khác thơ Trung Quốc ở chỗ thiên về vần lưng” Vần lưngđược thể hiện rõ trong thơ Lục bát, tuy nhiên nó cũng được thể hiện rõ trongcác thể thơ khác, tạo nên sự hài hòa và sức liên kết chặt chẽ giữa các dòng thơ
Trang 39Trong thơ Lưu Quang Vũ, vần lưng chiếm 485 / 2875 cặp vần, tỷ lệ 17%.Với dung lượng khiêm tốn nhưng vần lưng cũng đã phát huy được hiệu quảtrong việc tạo nhạc điệu trong thơ và sức gợi cảm cho tứ thơ.
Trong tập Lưu Quang Vũ thơ và đời chỉ có một bài thơ Lục bát Cánh đồng
vàng thu, vần lưng được gieo ở tiếng thứ 6 của dòng bát theo đúng truyền thống
hiệp vần của thơ Lục bát nói chung Còn trong các thể thơ khác, vần lưng cũngxuất hiện, được gieo rất linh hoạt, vị trí được phân bố theo nhiều dạng khácnhau Có khi là vần chân gieo xuống vần lưng:
Như hai dòng sông gặp gỡ đổi phù sa
Nhập luồng nước hòa vào nhau màu sắc Trao cảm thương hai bàn tay nắm chặt
Nghe máu mẹ cha chuyển giữa mỗi tay mình (Hơi ấm bàn tay)
Ngoài vần chân “sắc - chặt” thì vần chân “sa” ở câu 1 thả xuống vần lưng
“hòa” ở câu 2 góp phần gợi lên sự giao cảm tuyệt vời của tình yêu đôi lứa Cókhi cả hai tiếng hiệp vần đều nằm giữa dòng thơ:
Giữa bao la đường sá của con người Thành phố rộng hồ xa chiều nổi gió
Ngày chóng tắt cây vườn mau đổ lá
Khi tàu đông anh lỡ chuyến đi dài Chỉ một người ở lại với anh thôi
Lúc anh vắng người ấy thường thức đợi Anh yên lòng bên lửa ấm yêu thương
(Và anh tồn tại)
Các tiếng hiệp vần “la - xa”, “lỡ - ở” giữa dòng thơ có tác dụng nhấn mạnh
sự ngắt nhịp của các dòng thơ, đồng thời tô đậm ý nghĩa của tiếng hiệp vần
Trang 402.2.1.2 Vần căn cứ vào mức độ hòa âm
Theo mức độ hòa âm giữa các tiếng hiệp vần trong thơ Việt Nam hiện đại,
có 3 loại vần: Vần chính, vần thông, vần ép
Vần chính: là loại vần có mức độ hòa phối âm thanh cao nhất Nó tạo nên
âm hưởng tốt nhất cho ngôn ngữ thơ Trong vần chính, hai âm tiết hiệp vần phảiđảm bảo các yêu cầu sau: thanh điệu giống nhau hoặc đồng nhất ở đặc trưngtuyền điệu, âm chính phải giống nhau, âm cuối (nếu có) phải giống nhau, âmđệm có thể có hoặc vắng, phụ âm đầu (nếu có) phải khác nhau (trong cặp âmtiết hiệp vần chính phụ âm đầu có thể giống nhau ở trong hai trường hợp sauđây: Hai âm tiết hiệp vần thanh điệu không giống nhau mà chỉ đồng nhất ở đặctrưng tuyền điệu hoặc hai âm tiết đó phải thuộc hai từ khác nghĩa nhau)
Vần thông: tuy độ hòa âm không bằng vần chính nhưng vần thông cũngtạo nên âm hưởng tốt cho thơ Trong vần thông, hai âm tiết hiệp vần có mốiquan hệ âm vị học tương đối chặt chẽ: thanh điệu hoặc đồng nhất hoặc đồngnhất đặc trưng tuyền điệu (cùng bằng hoặc cùng trắc), âm chính trong các cặpvần hoặc đồng nhất đặc trưng âm sắc hoặc đồng nhất đặc trưng về âm lượng,
âm cuối hoặc giống nhau hoặc cùng nhóm (cùng nhóm phụ âm mũi m,n,ng,nhhay cùng nhóm phụ âm tắc vô thanh: p,t,c,ch)
Vần ép: mức độ hòa âm của vần ép kém hẳn so với vần thông và vầnchính Theo truyền thống thơ ca Việt Nam, vần ép được xem là ngoại lệ vì tínhkhông phổ biến của nó Nhưng trong thơ ca Việt Nam hiện đại, vần ép trở nênthông dụng hơn Nó được xem là xu thế mở rộng vần của thơ ca Việt Nam hiệnđại Do đó hiện nay, vần ép được xem như loại vần chính thức của thơ ca.Trong vần ép, âm chính khác nhau về cả âm lượng lẫn âm sắc, còn âm cuốihoặc trùng nhau hoặc cùng nhóm âm mũi, hoặc phụ âm tắc và bán nguyên âm
u, i Tuy mối quan hệ âm vị học của các cặp vần lỏng lẻo nhưng vẫn có sự trùnglặp của âm cuối nên ở vần ép có sự hòa âm nhất định cho ngôn ngữ thơ