Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn -
Đặc điểm ngôn ngữ hồi ký vũ bằng qua mời chín chân dung nhà văn cùng thời
Khoá luận tốt nghiệp đại học Chuyên ngành: ngôn ngữ học
Trang 2
Ngời hớng dẫn: TS Nguyễn Hoài Nguyên
Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Dung
Lớp: 48A - Ngữ Văn
Vinh - 2011Lời Cảm ơn
Trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tôi nhận đợc sự giúp đỡcủa thầy, cô giáo trong khoa Ngữ Văn, của bè bạn, đặc biệt có sự hớng dẫn tậntình của thầy giáo - TS Nguyễn Hoài Nguyên Tôi xin đợc bày tỏ lòng biết
ơn chân thành tới thầy giáo Nguyễn Hoài Nguyên cùng các thầy, cô giáotrong khoa Ngữ Văn và tất cả các bạn
Trong một thời gian có hạn, trình độ và kinh nghiệm nghiên cứu còn ít
ỏi, luận văn này chắc chắn còn nhiều thiếu sót, đó là điều không thể tránhkhỏi Chúng tôi rất mong nhận đợc ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáocũng nh của tất cả các bạn
Một lần nữa chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 04 tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Phạm Thị Dung
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU………
1 Lý do chọn đề tài………
1 1 2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu……… 2
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu……… 5
4 Phương pháp nghiên cứu……… 6
5 Đóng góp của khóa luận……… 6
6 Cấu trúc khoá luận……… 6
Chương 1 Một số vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài………
1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật và đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật 1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật………
7 7 7 1.1.2 Đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật……… 8
1.2 Ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ hồi ký ………
1.2.1 Phân biệt ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thơ………
11 11 1.2.2 Đặc trưng ngôn ngữ văn xuôi……… 17
1.2.3 Hồi ký và ngôn ngữ hồi ký……… 19
1.3 Tiểu kết chương 1……… 20
Chương 2 Khảo sát các lớp từ trong hồi ký Mười chín chân dung nhà văn cùng thời………
2.1 Nhận xét về vốn từ trong hồi ký Mười chín chân dung nhà văn cùng thời………
21 21 2.2 Những lớp từ nổi bật trong hồi ký Mười chín chân dung nhà văn cùng thời………
2.2.1 Lớp từ Hán - Việt………
22 22 2.2.2 Lớp từ khẩu ngữ……… 27
2.2.3 Lớp từ láy……… 30
2.2.4 Sử dụng thành ngữ……… 35
2.3 Tiểu kết chương 2……… 38
Chương 3 Đặc điểm câu văn trong hồi ký Mười chín chân dung
Trang 4nhà văn cùng thời……… 39
3.1 Nhận xét chung về câu văn của Vũ Bằng trong hồi ký Mười chín chân dung nhà văn cùng thời……… 39
3.2 Những đặc điểm nổi bật của câu văn trong hồi ký Mười chín chân dung nhà văn cùng thời……… 39
3.2.1 Câu ghép……… 40
3.2.2 Câu đơn……… 42
3.2.3 Câu đặc biệt……… 44
3.3 Tiểu kết chương 3……… 47
KẾT LUẬN……… 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 50
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Vũ Bằng (1913 - 1984) là một trong những nhà văn tiêu biểu mởđường cho nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Trong suốt cuộc đời, Vũ Bằng đãđánh đổi tất cả để nhận về mình cái đích thực của cuộc sống nghệ thuật Hoạtđộng trước tác của ông liên tục và kéo dài hơn 50 năm gắn liền với hoàn cảnh
cá nhân hết sức đặc biệt Ông đã để lại sự nghiệp sáng tác phong phú trênnhiều lĩnh vực (báo chí, biên khảo, dịch thuật, sáng tác văn học…) với nhiềuthể loại (truyện ký, tạp văn…) Lĩnh vực nào ông cũng để lại dấu ấn và đây làmột cây bút tràn đầy nhiệt huyết với nghề, với văn hoá văn học dân tộc Thếnhưng, Vũ Bằng là nhà văn gặp nhiều trắc trở nhất trên con đường đến vớibạn đọc
Chọn đề tài này, chúng tôi muốn thông qua việc tìm hiểu những tácphẩm hồi ký của Vũ Bằng để hiểu hơn về ông và những đóng góp của ôngcho văn học nước nhà, đồng thời rút ngắn khoảng cách giữa bạn đọc với tácphẩm của ông
1.2 Trong sự nghiệp sáng tác của Vũ Bằng, ông từng công bố hàngchục tập tiểu thuyết, truyện dài, truyện ngắn, tiểu luận nhưng sở trường của
ông vẫn là hồi ký Với Vũ Bằng, tác phẩm gây ấn tượng mạnh là: Mười chín chân dung nhà văn cùng thời (Văn giá giới thiệu, sưu tầm và tuyển chọn).
Nghiên cứu về Vũ Bằng đã có nhiều công trình nghiên cứu nhưng ở
khoá luận này, chúng tôi đi vào nghiên cứu “Đặc điểm ngôn ngữ hồi ký Vũ
Bằng qua Mười chín chân dung nhà văn cùng thời” Chúng tôi muốn góp
phần đánh giá vị trí, đóng góp của nhà văn trong nền văn học nước nhà
Trang 62 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Sáng tác đầu tiên của Vũ Bằng là truyện ngắn Con ngựa già được Lãng
Nhân Phùng Tất Đắc phát hiện cho đăng trên mục Bút mới, báo Đông Tâynăm 1930 khi Vũ Bằng 16 tuổi đang học Lycée Albert Sarraut Liên tục từ đócho đến cuối đời, Vũ Bằng đã để lại một khối lượng tác phẩm khá lớn Nhưngđến nay, số lượng tìm được theo nhà văn Triệu Xuân là chưa đầy đủ
Do những nguyên nhân khác nhau, trước 1975 cuộc đời và sự nghiệpcủa nhà văn Vũ Bằng chưa được quan tâm một cách thích đáng Một phần docuộc đời thực của nhà văn có những vấn đề chưa được sáng tỏ Mặt khác, dohoàn cảnh đất nước chiến tranh, người ta dễ quên đi cái cá nhân của conngười để vươn tới cuộc sống lớn dân tộc nên khi nhắc đến nhà văn Vũ Bằngngười ta vẫn còn xa lạ Khi sự thật về cuộc đời nhà văn được sáng tỏ, độc giảquan tâm đến ông nhiều hơn và giới phê bình nghiên cứu đã bắt đầu tập trung
đi sâu nghiên cứu tác giả Vũ Bằng Theo thống kê của Văn Giá, tính đến năm
2000 chỉ có 26 bài viết về các lĩnh vực sáng tác của ông Từ đó đến nay cóthêm một số bài viết đăng trên các báo, t¹p chí và một số quyển sách vềnhững đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam hiện đại Có thể điểmqua những bài viết về sáng tác của tác giả trên hai mảng sau:
2.1 Những nghiên cứu mang tính tổng quan về sự nghiệp sáng tác của Vũ Bằng
Người đầu tiên đánh giá và giới thiệu Vũ Bằng trên mặt báo là Khái
Hưng, cây bút chủ chốt của Tự lực văn đoàn Năm 1937, khi tiểu thuyết Một
mình trong đêm tối của Vũ Bằng ra đời, Khái Hưng đã điểm tin trên báo Ngày
nay, công nhận đây là một quyển sách “không tầm thường chút nào”
Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (Nxb Tân Dân, Hà Nội, 1942)
đã xếp Vũ Bằng vào hàng các tiểu thuyết gia tả chân và ghi nhận Vũ Bằng có
cái nhìn riêng của mình với “ngòi bút dí dỏm, nhạo đời, hơi đá hoạt kê một
Trang 7chút” Từ đó đến năm 1969 mới có thêm một bài viết giới thiệu về Vũ Bằng
của Thượng Sỹ, đó là lời nói đầu cho cuốn Bốn mươi năm nói láo (cơ sở xuất
bản Phạm Quang Khai ấn hành tại Sài Gòn) khi cuốn sách được xuất bản lần
đầu tiên Năm 1970, Tạ Tỵ cho ra mắt cuốn Mười bốn khuôn mặt văn nghệ
(Nam Chi Tùng Thư xuất bản), Vũ Bằng được giới thiệu là một trong mười
khuôn mặt văn nghệ nổi bật lúc bấy giờ với bài viết Vũ Bằng - người trở về từ
cõi đam mê Ông khẳng định Vũ Bằng là một nhà văn Việt Nam thứ nhất đã
có cái nhìn vươn tới sự hoà đồng tiến bộ trong địa hạt tiểu thuyết Đánh giá vềcông trình khảo về tiểu thuyết của Vũ Bằng, Tạ Tỵ cho rằng đó là công trình
kết tinh sự trải nghiệm cuộc đời, sự tinh thông trong nghề nghiệp “mang đến
những giá trị hiển nhiên, xuyên qua 170 trang sách bởi phần trọng yếu nhất của nghề viết văn”.
Từ 1991 - 1997, có rất nhiều bài viết đăng trên các báo: Văn nghệ, SàiGòn, Phụ nữ thứ bảy Thành phố Hồ Chí Minh… về Vũ Bằng Song các bàiviết này chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một số khía cạnh trong tác phẩm củaông hoặc kể lại ấn tượng về Vũ Bằng để minh oan, chiêu tuyết cho ông Năm
2000, nhà văn Triệu Xuân sưu tầm và tuyển chọn các tác phẩm của Vũ Bằng
bằng 3 tập Tuyển tập Vũ Bằng với bài giới thiệu Nhà văn Vũ Bằng, người lữ
hành đơn côi.
Với công trình Vũ Bằng - bên trời thương nhớ (Nxb VHTT ấn hành, Hà
Nội, 2000) của Văn Giá, chúng ta mới có được cái nhìn tương đối hệ thống vàtoàn diện về Vũ Bằng Trong công trình này, ngoài bài viết thân phận và danhtiết giới thiệu khá kỹ về cuộc đời, tác phẩm của Vũ Bằng, Văn Giá còn trích
in những bài viết có giá trị về Vũ Bằng và tác phẩm của ông, chủ yếu là về
Thương nhớ mười hai Sau đó là phần sưu tầm các truyện ngắn của Vũ Bằng
trước và sau cách mạng Nh÷ng trang cuối dành để giới thiệu thư mục tácphẩm, thư mục nghiên cứu Vũ Bằng Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu
Trang 8một cách hệ thống về con người, tác phẩm Vũ Bằng Song như tác giả của nó
đã nói, đó mới chỉ là nét “phác thảo bước đầu về Vũ Bằng”.
Năm 2006, nhà văn Triệu Xuân đã sưu tầm, biên soạn và giới thiệu các
tác phẩm của Vũ Bằng trong Vũ Bằng toàn tập (trọn bộ 4 tập), Nxb Văn học.
Tập 1: Những tác phẩm thuộc thể ký Tập 2 và tập 3: Truyện ngắn, truyện dài.Tập 4: tạp văn, biên khảo Trong tập 4 có sử dụng một số bài viết về Vũ Bằng
đã in trong các tập sách Mười chín chân dung nhà văn cùng thời do Văn Giá sưu tầm, tuyển chọn, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2002; Mười bốn gương mặt nhà
văn đồng nghiệp, Nguyễn Ánh Ngân sưu tầm, Nxb Hội nhà văn, 2004 và Tạp văn Vũ Bằng, Nguyễn Ánh Ngân sưu tầm, giới thiệu, Nxb Hội nhà văn, 2003.
Cuối tập 4 có phần phụ lục dành in những bút tích, kỷ niệm… của Vũ Bằng,của người thân, bè bạn đối với cố nhà văn Vũ Bằng
2.2 Những bài nghiên cứu về tác phẩm ký của Vũ Bằng
Có thể thấy rằng việc nghiên cứu về ký của Vũ Bằng chưa được sâurộng Đó đây xuất hiện những bài viết ngắn về ký của ông với từng tác phẩmriêng biệt chứ chưa có một cách hệ thống về chúng
Trong lời giới thiệu cuốn hồi ký Cai, Vương Trí Nhàn cho rằng: “có
thể nói trong cuộc đời viết đông viết tây, viết xuôi viết ngược đủ thứ của VũBằng, Cai đánh dấu một sự chín đầy trọn vẹn của ngòi bút Cái mức chín đẹp
trước đó ông chưa đạt tới mà phải mấy chục năm sau, tới Thương nhớ mười
hai ông mới có dịp lặp lại ” và tìm thấy trong tác phẩm văn xuôi này một
giọng điệu khó lẫn với người khác Nhà văn Triệu Xuân đánh giá Cai “là một
trong những tác phẩm có giá trị của Vũ Bằng”.
Năm 1969, trong lời giới thiệu tập hồi ký Bốn mươi năm nói láo (cơ sở
xuất bản Phạm Quang Khai ấn hành tại Sài Gòn), Thượng Sỹ nhận xét: “Vớimột lối diễn tả giản dị, thân mật, chan chứa tính cách trào lộng, Vũ Bằng đãphác họa lại thật độc đáo, thật sinh động những khuôn mặt của mấy thế hệ
Trang 9làm báo, những nhân vật nổi danh một thời, đã làm nên lịch sử và đã đi vào
lịch sử…” Với Miếng ngon Hà Nội, người ta nhắc đến nó bên cạnh những tác phẩm ký, tuỳ bút viết về nền văn hoá ẩm thực khá tiêu biểu như: Hà Nội băm
sáu phố phường của Thạch Lam; Phở, Cốm… của Nguyễn Tuân; Những nẻo đường Hà Nội của Băng Sơn.
Nhà văn Triệu Xuân trong bài viết Nhà văn Vũ Bằng, người lữ hành
đơn côi đánh giá cao Thương nhí mười hai: “Có người bạn thân trong lúc
đàm đạo văn chương quay sang hỏi tôi: “Sắp sang thế kỉ XXI rồi nếu chỉ đượcphép mang 10 cuốn sách văn học vào thế kỷ mới, ông mang những cuốn
nào?” tôi trả lời ngay: “Một trong những cuốn tôi mang theo là Thương nhớ
mười hai của Vũ Bằng” Và theo ông” “Thương nhớ mười hai là một trong
những áng văn bất hủ về đất nước, quê hương”
Trong những năm gần đây, một số khoá luận, luận văn tốt nghiệp đã
chọn Vũ Bằng làm đối tượng nghiên cứu Chẳng hạn, Ngôn ngữ hồi ký Vũ
Bằng trong Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo, luận văn thạc sĩ
Ngữ văn của Nguyễn Thị Thu Huyền, Trường Đại học vinh, 2010…
Khái quát lại về tác phẩm ký của Vũ Bằng, các tác giả mới chỉ dừng lại
ở mức độ là những bài viết ngắn, lời tựa, lời bạt, chưa có công trình nào
nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ hồi ký Vũ Bằng qua Mười chín chân dung
nhà văn cùng thời Chúng tôi chọn đề tài này với mong muốn bước đầu khám
phá, khảo sát đặc điểm ngôn ngữ hồi ký Vũ Bằng cũng như những đóng gópchính của ông trong nền văn học nước nhà
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hồi ký: Mười chín chân dung nhà văn cùng thời
- Ngoài ra, khoá luận còn so sánh hồi ký của Vũ Bằng với tác phẩm ký
của Tô Hoài như hồi ký Cát bụi chân ai.
Trang 103.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát, miêu tả các lớp từ tiêu biểu trong hồi ký của Vũ Bằng
- Khảo sát, miêu tả đặc điểm câu văn trong hồi ký Vũ Bằng
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Thủ pháp phân tích tổng hợp
5 Đóng góp của khóa luận
- Qua hồi ký Mười chín chân dung nhà văn cùng thời thể hiện cá tính
6 Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung khoáluận được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài.
Chương 2: Khảo sát các lớp từ trong hồi ký Mười chín chân dung nhà văn cùng thời.
Chương 3: Đặc điểm câu văn được sử dụng trong hồi ký Mười chín chân dung nhà văn cùng thời.
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật và đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học Vì vậy, văn học
là loại hình nghệ thuật ngôn từ M.Gorki khẳng định: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ
nhất của văn học” Bất kỳ một tác phẩm văn học nào cũng đều phản ánh cuộc
sống, con người thông qua hình thức ngôn ngữ Dĩ nhiên là so với lời ăn tiếngnói hàng ngày thì ngôn ngữ trong tác phẩm văn học (ngôn ngữ nghệ thuật)không còn là hiện tượng ngôn ngữ mang chức năng giao tiếp thông thường
mà đã được đưa vào một hệ thống giao tiếp khác, mang chức năng khác
Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trongvăn học Ngôn ngữ tự nhiên là chất liệu của ngôn ngữ văn học nhưng đến lượtmình nó lại góp phần nâng cao, làm phong phú ngôn ngữ tự nhiên
Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học mang tính hình tượng Có thể xemđây là đặc điểm đầu tiên của ngôn ngữ nghệ thuật Trong thực tế cuộc sốngthì lời nói hàng ngày (khẩu ngữ) có khi rất bóng bẩy, văn hoa, chẳng hạn nhưngôn ngữ của nhà ngoại giao, nhưng phải hiểu nó một cách thực tế, phải tìmhiểu xem tác giả là ai, nói trong trường hợp nào, nhằm mục đích gì… bởi vì,trong khẩu ngữ, tác giả của lời nói (khẩu ngữ) và chủ thể lời nói là một Trongngôn ngữ nghệ thuật thì lại khác, ở đây ngôn ngữ là ngôn ngữ của một chủ thểhình tượng và sức mạnh ngôn ngữ nằm ở tầm vóc khái quát của chủ thể ấy, ởkhả năng đại diện cho tư tưởng, lương tâm thời đại, cho giai cấp, cho thế hệ…Căn cứ chủ yếu phân biệt ngôn ngữ văn học với các hình thái của các hoạtđộng ngôn ngữ chính là ở chỗ, ngôn ngữ văn học là hoạt động ngôn ngữ mangtính thẩm mỹ Nó được sử dụng để phục vụ nhiệm vụ trung tâm là xây dựng
Trang 12hình tượng văn học và giao tiếp nghệ thuật Vì vậy, tính hình tượng, tính thẩm
mỹ là thuộc tính bản chất, xuyên thấm vào các thuộc tính khác, quy địnhnhững thuộc tính ấy… Chẳng hạn: khi nhân vật Hộ trăn trở, giằng xé và đưa
ra những nhận xét, những suy nghĩ của mình như “Văn chương chỉ dung nạp
những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có…” hay: “kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thoả mãn lòng ích kỷ, kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình…” (Đời thừa, Nam Cao) Thì cái quan trọng đó là lời của nhân
vật Hộ chứ không phải là lời của Nam Cao Như vậy, tính hình tượng củangôn ngữ bắt nguồn từ chỗ đó là ngôn ngữ của một chủ thể thẩm mỹ Văn học
có tầm khái quát nhất định, nhờ đó mà ngôn ngữ của một người dễ đi vàolòng người, trở thành ngôn ngữ của muôn người Nó còn bắt nguồn từ sựtruyền đạt, sự vận động, động tác nội tại của toàn bộ hiện thực khách quan(cảnh vật, con người) được tái tạo trong tác phẩm
Tóm lại, ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ văn học) là ngôn ngữ mẫumực đã được chuẩn hoá, phục vụ cho tất cả các lĩnh vực giao tiếp giữa ngườivới người và giữ vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển tư duy, pháttriển tâm lý, trí tuệ và toàn bộ các hoạt động, tinh thần của con người, còn gọi
là “ngôn ngữ chuẩn, ngôn ngữ tiêu chuẩn” Ngôn ngữ văn học được xem làmột trong những hình thức tồn tại chủ yếu của ngôn ngữ, một trạng thái ngônngữ tiêu biểu với những đặc điểm khác biệt là: tính đa chức năng về mặt biểuđạt; đặc tính tinh luyện và chuẩn mực về cấu trúc; và nguồn gốc phương ngữcủa ngôn ngữ văn học…
1.1.2 Đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật
Mỗi một bộ môn nghệ thuật đều có chất liệu riêng Đối với văn học,ngôn từ được xem là chất liệu xây dựng nên hình tượng nghệ thuật, cho nên,văn học được xem là nghệ thuật ngôn từ Chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ
Trang 13trong văn bản nghệ thuật được thể hiện ở chỗ tín hiệu ngôn ngữ trở thành yếu
tố tạo nên hình tượng Muốn thực hiện được chức năng thẩm mỹ phải cónhững đặc trưng chung: tính cấu trúc, tính hình tượng, tính cá thể hoá, tính cụthể hoá
1.1.2.1 Tính cấu trúc
Mỗi văn bản nghệ thuật tự thân nó là một cấu trúc Các thành tố nhưnội dung, tư tưởng, tình cảm, hình tượng và các thành tố hình thức diễn đạtkhông những phụ thuộc lẫn nhau mà còn phụ thuộc vào hệ thống nói chung
Sự lựa chọn, cấu tạo và tổ hợp những thành tố này bị quy định bởi chức năngthẩm mỹ của các tác phẩm Tính cấu trúc của tác phẩm là tính chất theo đó,các yếu tố trong một tác phẩm phải gắn bó qua lại với nhau, giải thích chonhau và hỗ trợ cho nhau để đạt tới hiệu quả diễn đạt Tất cả các yếu tố đó nằmtrong một hệ thống, làm cho văn bản có kết cấu chặt chẽ, logic từ đó tác độngđến người đọc một cách mạnh mẽ Chỉ cần bỏ đi một từ hay thay bằng một từkhác là đủ làm hỏng cả một câu thơ, phá tan nhạc điệu của nó, từ đó làm chocâu văn, câu thơ lủng củng khó hiểu và có sự mâu thuẫn với toàn văn bản
Tính cấu trúc của ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật là một phạm trùliên kết tất cả các phương tiện ngôn ngữ hết sức đa dạng trong tác phẩm thànhmột chỉnh thể nghệ thuật Các phạm trù đó theo Viện sĩ V.V.Vinogơrađôp làphạm trù “hình tượng tác giả” Phạm trù hình tượng tác giả có thể hiểu làngười sáng tạo ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm và là người đại diện bởi ýđịnh thẩm mỹ, bởi chủ đề, tư tưởng tác phẩm
1.1.2.2 Tính hình tượng
Trong ngôn ngữ học, đặc biệt là trong phong cách học, tính hình tượngtheo nghĩa rộng nhất có thể xác định là thuộc tính của lời nói truyền đạt khôngchỉ thông tin logic mà cả thông tin được tri giác một cách cảm tính nhờ hệthống những hình tượng ngôn từ Còn bản thân hình tượng ngôn từ đầu tiên
Trang 14có thể được xác định là mảnh đoạn của lời nói, mang thông tin hình tượngkhông tương đương với ý nghĩa của những yếu tố lấy tách riêng ra của mảnhđoạn đó cộng lại Một từ trong tác phẩm nghệ thuật không được coi là ngangbằng như từ của ngôn ngữ thực hành, vì trong văn bản nghệ thuật từ có haibình diện có mối quan hệ tương quan đồng thời cả với những từ của ngôn ngữvăn hoá nói chung và những yếu tố của văn bản nghệ thuật nói riêng.
1.1.2.3 Tính cá thể hoá
Tính cá thể hoá của ngôn ngữ nghệ thuật ngôn từ được hiểu là dấu ấnphong cách tác giả trong ngôn ngữ nghệ thuật Dấu ấn phong cách tác giảthuộc về đặc điểm bản chất, thuộc về điều kiện bắt buộc của ngôn ngữ nghệthuật Nó không được đặt ra với ngôn ngữ phi nghệ thuật
Tính cá thể hoá của tác phẩm được thể hiện ngay ở ngôn ngữ tác giả
Đó là sự vận dụng sở trường, thị hiếu, tập quán, tâm lý, xã hội, cá tính màhình thành giọng nói riêng, cái của ngôn ngữ tác giả kể, dẫn truyện hoặc nói
về mình Đối với nhà văn, mỗi người có một giọng điệu riêng nhằm khẳng
định phong cách Sêkhôp đã nhận định: “Nếu tác giả nào không có cái riêng
của mình thì người đó sẽ không bao giờ là nhà văn cả”.
Tóm lại, tính cá thể hoá là cái độc đáo, đặc sắc không lặp lại, cái riêngcủa tất cả các yếu tố trong sáng tác, lối nghĩ, lối cảm, lối thể hiện, những đặcđiểm trong cách sử dụng từ ngữ, ngữ pháp, kết cấu đoạn mạch trong biệnpháp tu từ Ngôn ngữ riêng của một nhà văn, bút pháp riêng của một nhà vănkhông phải là sự kiện rời rạc bao gồm một số lượng đổi mới ở các cấp độ Nó
là một sự đi chệch của một cái toàn thể có hệ thống so với “cái toàn thể ngônngữ chung”
1.1.2.4 Tính cụ thể hoá
Ngôn ngữ nghệ thuật có một thuộc tính chung nhất là sự cụ thể hoáhình tượng nghệ thuật Sự cụ thể hoá hình tượng nghệ thuật là bình diện khái
Trang 15niệm của ngôn ngữ sang bình diện hình tượng Sự cụ thể hoá này có tính chấttổng hợp, nó được diễn đạt trong một hệ thống hoàn chỉnh của phương tiệnngôn ngữ thuộc các cấp độ khác nhau, vốn góp phần vào việc tác động đến trítưởng tượng của người đọc, kích thích người đọc, làm hiện ra trước mắt ngườiđọc bức tranh phong phú, sinh động, các biến cố hiện lên trong từng giaiđoạn, từng vận động, từng trạng thái trong sự biến đổi liên tục.
Tính cụ thể hoá trong ngôn ngữ nghệ thuật là thuộc tính rộng lớn nhấtcủa lời nói nghệ thuật Nó giải thích bản chất sự tác động của từ ngữ nghệthuật đến người đọc Chức năng của tính cụ thể là giải thích đặc trưng của lờinói nghệ thuật như là đặc trưng của hoạt động sáng tạo, nhằm giải thíchnhững bí mật của quy luật sáng tạo nghệ thuật Sự cụ thể hoá trong nghệ thuậtđược thực hiện nhờ cách lựa chọn và tổ chức các phương tiện ngôn ngữ sangbình diện hình tượng của tác phẩm có thể ở tất cả các cấp độ ngôn ngữ
1.2 Ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ hồi ký
1.2.1 Phân biệt ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thơ
1.2.1.1 Sự khác nhau trong hình thức tổ chức ngôn từ
Ngôn từ theo tư duy của phong cách học truyền thống chỉ biết có mình(tức ngữ cảnh của mình), đối tượng của mình, sắc thái biểu cảm của mình vàngôn ngữ thống nhất và duy nhất của mình Một ngôn ngữ khác nằm ngoàingữ cảnh của nó chỉ được nó biết đến như một hiện tượng ngôn ngữ trungtính, một lời không của ai cả, một khả năng phát ngôn đơn thuần Lời nói trựctiếp - như cách hiểu của phong cách học truyền thống - trong cuộc hành trìnhđến với đối tượng của mình chỉ vấp phải những lực cản của bản thân đốitượng, nó không vấp phải sự kháng cự cốt yếu và thiên hình vạn trạng củanhững lời nói khác, không ai cản trở, không ai phản bác nó
Trang 16Ngôn từ trong tác phẩm văn xuôi tự sự có hình thức tổ chức theo lời môphỏng của ngôn ngữ tự nhiên: cách sử dụng từ ngữ, cách kết hợp các kiểucâu, thậm chí các yếu tố ngữ âm đặc biệt (biến thể tự do)…
Trong tác phẩm tự sự, đặc điểm ngôn ngữ của các phong cách chứcnăng thuộc phạm vi lời nói phi nghệ thuật đều có thể được mô phỏng mà tổchức lại để thực hiện chức năng thẩm mỹ Các yếu tố của phong cách sinhhoạt hàng ngày, phong cách hành chính, phong cách khoa học hay phong cáchbáo có thể gia nhập vào trong hình thức tổ chức ngôn từ của tác phẩm vănxuôi tự sự Quá trình này đi liền với các yếu tố ngôn từ thuộc phạm vi phongcách này nhưng vẫn lưu giữ được những thành tố cơ bản trong màu sắc tu từhọc của chúng, đồng thời tăng cường giá trị và hiệu quả tu từ theo nhữnghướng nhất định tuỳ thuộc vào chủ thể và đối tượng biểu hiện Tiêu biểu nhất
là đặc trưng này theo M.Bakhtin là thể loại tiểu thuyết
Nếu như ngôn ngữ trong tác phẩm văn xuôi tự sự có một tổ chức rấtgần với các dạng của lời nói trong các chức năng phi nghệ thuật thì thơ trữtình lại có chức năng thuộc phạm vi này Đặc điểm này được xuất phát từ yêucầu biểu hiện thế giới nội tâm, thế giới tinh thần theo xu hướng nội cảm hoá,chủ quan hoá Điều này được biểu hiện rõ hơn cả trong các thể thơ cổ điển với
sự quy định hết søc chặt chẽ về niêm luật: số câu, số tiếng trong bài thơ, cáchgieo vần phối thanh ngắt nhịp… Tất cả tạo thành tính nhạc của thơ - chỉ trongthơ, cái mặt vật chất cấu âm của ngôn từ mới trở thành một chất liệu quantrọng Để tạo nên sự trùng điệp về âm thanh cũng như về ngôn ngữ, tạo điểmnhấn theo R.Jakovson trong thơ có hiện tượng “chiếu trục tuyển lựa chọn lêntrục kết hợp”, tức là các yếu tố trên trục đồng vị, trên trục hệ hình có thể đượcxuất hiện trong một thế tương quan nhất định trên trục cú đoạn tạo ra hìnhtượng âm thanh lặp lại, những cấu trúc ngữ âm mang tính biểu trưng
Trang 171.2.1.2 Sự khác nhau trong các kiểu kết cấu lời nói của ngôn ngữ văn xuôi tự
sự và thơ trữ tình
M.Bakhtin đã nhận định: “Nếu vấn đề trung tâm của lý thuyết thơ là
biểu tượng của thơ ca, thì vấn đề trung tâm của lý thuyết văn xuôi nghệ thuật
là vấn đề ngôn từ song điệu được đối thoại hoá từ bên trong với tất cả các kiểu và các dạng thức phong phú của nó” [3,139].
Do mô phỏng hình thức tổ chức của lời nói tự nhiên trong các tác phẩmvăn xuôi tự sự còn có sự tổng hoà của các kiểu lời nói (lời nói trực tiếp, lờinói gián tiếp, nửa trực tiếp, tương ứng với lời nhân vật, lời người kể chuyện
và những kiểu lời nói trung gian), có sự pha trộn giọng điệu và các hình thứccấu trúc ngôn từ: Đối thoại, độc thoại nội tâm, nhại giọng… Tất cả các cấutrúc lời nói này đều có vai trò nhất định và tương tác với nhau trong kết cấulời nói của toàn bộ tác phẩm
Ngược lại, trong thơ trữ tình chỉ có một kiểu lời nói duy nhất thống lĩnhtoàn bộ thế giới nghệ thuật: kiểu lời độc thoại trực tiếp của nhân vật trữ tình(hoá thân chủ thể trong tác phẩm) khác với văn xuôi tự sự, sự tương tác chứcnăng trong ngôn ngữ thơ trữ tình tạo nên tính biểu tượng - một đặc điểm nổi
bật của thể loại này: “Tính song nghÜa của biểu tượng thơ ca không bao giờ
dẫn đến tính song điệu của nó Ngược lại, tính song nghĩa thơ ca luôn tự thoả mãn với một tiếng nói và một hệ thống điệu thức Tính đa nghĩa của biểu tượng thơ ca đòi hỏi phải có một tiếng nói thống nhất và đồng nhất với bản thân mình và tiếng nói ấy đơn độc hoàn toàn trong lời nói của mình Chỉ cần
để cho tiếng nói của người khác, giọng điệu người khác, một quan điểm nào khác xâm nhập vào trong hoạt động của biểu tượng, tức thì bình diện của thơ
ca bị phá vỡ và biểu tượng bÞ thuyên chuyển sang bình diện văn xuôi”.
[3,138]
Trang 18- Vai trò của các kiểu lời nói và tính đa thanh của ngôn ngữ trong tácphẩm văn xuôi.
Phải khẳng định một điều chắc chắn rằng: tính chất đa thanh (phứcđiệu, song điệu) của ngôn ngữ văn xuôi tự sự hiện đại xuất phát từ chính tínhphức tạp và đa diện của đời sống, từ sự giao lưu tất yếu của các luồng tưtưởng, các quan niệm triết học, tôn giáo, xã hội trong đời sống con người Nóphản ánh không phải cuộc đối thoại của cá nhân riêng biệt mà là cuộc tròchuyện, cuộc tranh luận, thậm chí “đối đầu” trong “đối thoại” của cả một thờiđại và hơn thế của các thời đại Điều này được thể hiện từ sự tổng hoà của cáclời nói khác nhau với những chức năng đặc trưng và thống nhất, tác phẩm tự
sự luôn hướng tới sự biểu hiện những cách nhìn, những quan điểm khác nhauthông qua những giọng điệu khác nhau trong các cấu trúc lời nói của nó Nếunhư tính ước lệ trong sử thi, truyện cổ dân gian, truyền kỳ - không tạo ra khảnăng biểu hiện những giọng điệu khác ngoài giọng đơn tuyến, duy nhất trongvăn bản, cũng như không cho phép trình bày những quan điểm khác nhau(một cách tiềm tàng, tiềm ẩn) thì trong tự sự văn xuôi hiện đại luôn có nhữngcấu trúc lời nói bộc lộ những điểm nhìn, những tư tưởng trái ngược nhau
Trong các kiểu lời nói của tác phẩm văn xuôi tự sự, lời dẫn chuyện lànhân tố cơ bản có chức năng liên kết toàn bộ các kiểu lời nói, các cấu trúc lờinói khác nhau trong tác phẩm Vấn đề lời dẫn luôn liên quan đến các kiểu vai
kể (chủ quan hoá, khách quan hoá…) Nhưng dù được chủ quan hoá haykhách quan hoá, các vai kể trong tác phẩm tự sự đích thực đều mang tính ước
lệ, đều đại diện cho một cách nhìn, một tư tưởng nhất định có mối quan hệmật thiết với hình tượng tác giả, nhưng không bao giờ đồng nhất hoàn toàn lời
kể và phát ngôn chủ thể là phá vỡ cấu trúc lời nói mang tính tự sự, chuyển nósang phạm vi trữ tình Lời kể khi ấy đóng vai trò bộc lộ trực tiếp những mụcđích hàm nghĩa và biểu cảm của tác giả
Trang 19So với sự phát ngôn đích thực của tác giả trong văn bản tự sự, hầu hếtcác yếu tố trong cấu trúc lời kể chỉ mang tính tương đối, phát ngôn đích thựccủa chủ thể là phát ngôn hàm ẩn, được biểu hiện gián tiếp thông qua sự tươngtác giữa các cấu trúc ngôn từ trong tác phẩm.
Theo M.Bakhtin, lời nói của nhân vật chính trong tiểu thuyết nhữngnhân vật ít nhiều có tính độc lập về mặt tư tưởng - ngôn từ, có nhãn quan củamình - vốn là tiếng nói của người khác, bằng ngôn ngữ khác, đồng thời có thểkhúc xạ những ý chí của cả tác giả và do đó đến một mức độ nhất định có thểđược coi là ngôn ngữ thứ hai của tác giả Như vậy, ngay trong lời đối thoạitrực tiếp của tiểu thuyết vẫn chứa đựng khả năng đối thoại hoá từ bên trongvới phát ngôn của tác giả (hoà đồng hoặc đối lập hay biểu hiện cùng một lúc
cả hai quan hệ này)
- Kết cấu lời nói và tính biểu tượng trong ngôn ngữ thơ trữ tình
Do cách tổ chức hình thức ngôn từ đặc biệt, hoàn toàn xa lạ với cácphong cách ngôn từ tự nhiên, kết cấu lời nói trong tác phẩm trữ tình là một kếtcấu đơn tuyến, loại trừ những điểm nhìn, những giọng điệu, những quan điểm
khác nhau trong cấu trúc lời nói: “Thế giới thơ ca, dù có được nhà thơ phô
diễn trong đó bao nhiêu mâu thuẫn và xung đột, bế tắc chăng nữa, bao giờ cũng được soi sáng bằng một ngôn ngữ thống nhất và miễn phải bàn cãi Mọi mâu thuẫn, xung đột, hoài nghi đều ở lại trong đối tượng, trong suy nghĩ, cảm xúc Tóm lại, trong chất liệu chứ không chuyển sang ngôn ngữ Trong thơ ca, lời về những mối hoài nghi phải như là lời không thể hoài nghi”
[3,104]
Vậy, ngôn ngữ trong tác phẩm văn xuôi (bao gồm cả ngôn ngữ trongtuỳ bút, ký) của đời sống hàng ngày về dung lượng thường rộng lớn hơn,phong phú hơn và cũng bề bộn hơn nhiều lần cái mà nhà thơ có khả năngchứa đựng Về tổ chức, ngôn ngữ trong văn xuôi đi sát cuộc sống, nó có khả
Trang 20năng đề cập và mang trong nội dung những tính chất đa dạng của đời sốngqua sự chọn lọc, tuyển lựa theo quy luật điển hình hoá nghệ thuật Ngôn ngữtrong văn xuôi là tiếng nói trong tự nhiên giàu chất liệu và sức sống, đó làtiếng nói gọn gàng khúc chiết của tư duy vừa nghệ thuật hoá lại vừa giữ được
sự dễ hiểu, rõ ràng, giản dị của hoạt động trong đời sống thường nhật Puskin
đã nhận xét: “Sự chính xác, gọn gàng là phong cách đầu tiên của tiểu thuyết,
truyện ngắn, ký, tuỳ bút…” Trong ý tưởng và trong cấu trúc của câu văn
xuôi, tính logic thì thâm nhập vào một cách rõ rệt, có tác dụng làm cho nộidung tác phẩm được bộc lộ một cách trực tiếp Mối quan hệ giữa những thànhphần trong một câu theo một trình tự cấu tạo thông thường về cú pháp, tínhchính xác, minh bạch của sự phô diễn, mối liên hệ nhân quả giữa những suynghĩ và cảm xúc, tính xác định, xác thực của những biểu tượng và hình ảnh…thường là những đặc điểm của ngôn ngữ trong tác phẩm văn xuôi Đây cũng
là những đặc điểm khác biệt cơ bản giữa ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thơ
1.2.1.3 Sự giao thoa giữa tự sự và trữ tình về mặt ngôn ngữ
Việc xem xét hiện tượng giao thoa giữa các thể loại có thể đem lại chochúng ta một cái nhìn rõ rệt hơn về đặc trưng của cách tổ chức ngôn từ trong
tác phẩm tự sự và trữ tình Mười chín chân dung nhà văn cùng thời là tác
phẩm được viết theo thể hồi ký, bằng ngôn ngữ văn xuôi
Sự khác nhau trong hình thức tổ chức ngôn từ của văn xuôi tự sự và thơtrữ tình so với ngôn ngữ phi nghệ thuật nói chung đã quy định vai trò của hìnhthức này trong sự biểu hiện đối tượng cũng như trong quá trình tiếp nhận củangười đọc Hình thức đặc biệt của thơ trữ tình khiến cho cái tôi được nội cảmhoá không chỉ là ý nghĩa, cảm xúc được biểu hiện mà còn chính là bản thânngôn từ Cũng như vậy, người đọc thơ không chỉ lĩnh hội cái điều mà nhà thơmuốn nói mà còn tiếp nhận trọn vẹn, nội cảm hoá trọn vẹn hình thức ngôn từcủa bài thơ Ngược lại, do cách tổ chức mô phỏng lời nói phi nghệ thuật văn
Trang 21xuôi không thể cung cấp cho chúng ta một sự lĩnh hội tuyệt đối như vậy Vớihầu hết người đọc thông thường, cái ý nghĩa được biểu hiện trong văn xuôi tự
sự là mục đích duy nhất, ngôn từ chỉ đóng vai trò như chất liệu có tính tươngđối, chính vì thế P.Valery đã nhận định quá trình tiếp nhận tác phẩm văn xuôi:
“Bản chất văn xuôi là tan biến đi, nghĩa là bị hư mất, tan nát, tiêu huỷ, khôngcưỡng lại được, hoàn toàn bị thay thế bằng hình ảnh để dẫn đến một ý nghĩacủa nó theo quy ước ngôn ngữ… vũ trụ (trong văn xuôi) là một mục đích,mục đích đạt rồi, lời nói tiêu tan, còn trong vũ trụ thơ, âm hưởng đi trướcnguyên do và hình ảnh, chẳng những tiêu tan theo mục đích mà còn được vannài ở lại”
Trong thơ ca, hình thức tổ chức ngôn từ không chỉ là phương tiện mà
còn được coi như mục đích: “Hình thức thơ ca vừa là con tàu vừa là mỏ neo.
Nó đồng thời là sự trôi nổi và neo đậu, chứa đựng sự tràn đầy một lúc bất cứ cái gì là ly tâm và hướng tâm trong cả tâm hồn và thể xác” [10,189].
1.2.2 Đặc trưng ngôn ngữ văn xuôi
Ngôn ngữ văn xuôi là một bộ phận của hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật
“một thứ ngôn ngữ đặc biệt, thứ ngôn ngữ được xây dựng chồng lên trên các ngôn ngữ tự nhiên với tư cách là hệ thống thứ hai” (I.M.Lotman,15,tr.49),
được hình thành từ ngôn ngữ tự nhiên nhưng ngôn ngữ nghệ thuật còn là kếtquả của quá trình chọn lọc, gọt giũa từ nhằm diễn tả một nội dung ý nghĩa nào
đó mang tính nghệ thuật I.M.Lotman nói: “Trong văn bản có tính nghệ thuật
ngôn từ thì không chỉ ranh giới giữa các kí hiệu là khác nhau mà bản thân khái niệm ký hiệu cũng khác nhau” [15,49].
Ngôn ngữ nghệ thuật được sản sinh ra từ ngôn ngữ tự nhiên, xuất phát
từ yêu cầu nghệ thuật, thông qua tài năng sáng tạo của nhà văn Ngôn ngữnghệ thuật sau khi ra đời có thể trở lại tham gia vào ngôn từ toàn dân, làm nógiàu có lên, phong phú thêm và đẹp hơn Ngôn ngữ nghệ thuật đảm nhËn chức
Trang 22năng tạo nên hệ thống mã ngôn ngữ thứ hai, là kết quả của một quá trình sángtạo đặc biệt của người nghệ sĩ Bằng chất liệu ngôn từ, nhà văn sáng tạo ramét thế giới riêng trong tác phẩm của mình Tác phẩm văn học ra đời mangđậm dấu ấn cá nhân và truyền tải đến người đọc một lớp ý nghĩa riêng, mộtgiá trị thẩm mỹ riêng theo ý đồ của tác giả.
Là một bộ phận của ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ văn xuôi được xéttrong sự khu biệt với ngôn ngữ trữ tình và ngôn ngữ kịch Ngôn ngữ văn xuôivừa mang đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật vừa có những điểm khác biệt sovới hai thể loại trên
Ngôn ngữ trong tác phẩm trữ tình thấm đẫm cảm xúc, là sản phẩm của
sự thăng hoa cảm xúc của chủ thể sáng tạo, là nơi thể hiện những rung động,những tình cảm của tâm hồn Tiêu biểu cho tác phẩm trữ tình là thơ, một thểloại có ngôn ngữ trau chuốt, được đẽo gọt, được tôi luyện, được nhào nặn kỹcàng, giàu tính hình tượng Ngôn ngữ trữ tình thường giàu tính nhạc, thể hiện
ở vần, nhịp và sự cân đối nhịp nhàng giữa các câu văn trong tác phẩm Dovậy, tác phẩm trữ tình thường dễ đi vào và lắng động trong tâm hồn ngườiđọc
Yêu cầu cao nhất của tác phẩm kịch là làm rõ những hành động, khắchoạ nhân vật thông qua việc tạo ra những xung đột kịch Ngôn ngữ trong tácphẩm kịch thường mang kịch tính thiên về hành động, chủ yếu là ngôn ngữđối thoại nhằm khắc họa tính cách nhân vật Yếu tố người dẫn chuyện haychủ thể trữ tình trong kịch có thể có nhưng rất mờ
Ngôn ngữ văn xuôi là thứ ngôn ngữ khách quan và yên tĩnh Đó vừa làngôn ngữ trần thuật (của người kể chuyện), ngôn ngữ của nhân vật (trong tácphẩm), ngôn ngữ của cái tôi trữ tình (cái tôi cảm xúc)… đan xen, hoà quyệnvào nhau tạo nên những nét quen và lạ, làm nên sự khác biệt với ngôn ngữ trữtình và kịch Ngôn ngữ văn xuôi dàn trải, khoan thai, nhà văn có thể mang thứ
Trang 23ngụn ngữ tự nhiờn ngoài cuộc đời vào tỏc phẩm mà vẫn tạo ra được hiệu quảthẩm mỹ nhất định Thoạt nhiờn, tưởng chừng như ngụn ngữ văn xuụi ớt đượctrau chuốt, gọt giũa bởi tỏc phẩm văn xuụi đề cập đến mọi vấn đề, mọi khớacạnh phức tạp của cuộc sống Đặc biệt hơn, những đề tài càng phức tạp, gaigúc càng giành được sự quan tõm của người viết cũng như bạn đọc.
1.2.3 Hồi ký và ngụn ngữ hồi ký
1.2.3.1 Hồi ký
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lờ Bỏ Hỏn, Trần Đỡnh Sử, Nguyễn
Khắc Phi đồng chủ biờn), “Hồi ký là một thể loại thuộc thể ký kể lại nhữngbiến cố xảy ra trong quỏ khứ mà tỏc giả là người tham dự hoặc chứng kiến.Xột về phương diện quan hệ giữa tỏc giả với sự kiện được ghi lại về tớnhchớnh xỏc của sự kiện, về gúc độ và phương thức diễn đạt hồi ký cú nhiều chỗgiống nhật ký Cũn về phương diện tư liệu, về tớnh xỏc thực khụng cú hư cấuthỡ hồi ký lại gần với văn xuụi lịch sử, tiểu sử khoa học
Khỏc với sử gia và nhà viết sử, người viết hồi ký chỉ tiếp nhận ghi chộpphần hiện thực mà tỏc giả nhỡn rừ hơn cả dựa trờn những ấn tượng và hồi ứcriờng trực tiếp của mỡnh Hơn nữa bản thõn người viết hồi ký luụn luụn được
mụ tả trỡnh bày ở bỡnh diện thứ nhất
Hồi ký thường khú trỏnh khỏi tớnh phiến diện và ớt nhiều chủ quan vềthụng tin, tớnh khụng đầy đủ của sự kiện, song sự khụng đầy đủ của nú do sựdiễn đạt sinh động trực tiếp của tỏc giả lại cú giỏ trị như một tài liệu xỏc thựcđỏng tin cậy
Thể loại hồi ký ra đời từ rất sớm, thời kỳ Hy Lạp từ thế kỷ V TCN[7,152]
Như vậy, hồi ký là một loại văn tự sự Gulaiep cũng núi: “Hồi ký là
một biến thể của loại tự sự” nhằm kể lại những người thật việc thật với những
đặc điểm riờng biệt trong mức độ và tớnh chất hư cấu, trong vai trũ của người
Trang 24trần thuật cùng với mối liên hệ giữa người trần thuật với đặc điểm, kết cấucủa cốt truyện.
1.2.3.2 Một số đặc điểm của ngôn ngữ hồi ký
Hồi ký là kể lại về cuộc đời thực tại, về người thật, việc thật, thườngđược viết như là sự phản ứng với những biến cố thời sự, nóng bỏng đang đặt
ra trong cuộc sống Vì thế mà ngôn ngữ hồi ký phải đảm bảo tính xác thực,tôn trọng sự kiện của cuộc đời thực Về mặt này những mặt mơ hồ, cẩu thả dù
là rất nhỏ cũng phải trả giá đắt Sự thuyết phục lay động của ngôn ngữ hồi kýtrước hết ở tính sự kiện
Ngôn ngữ ở thể loại hồi ký phải thể hiện được mối quan hệ giữa “tínhtruyện và nghiên cứu” Trong thể loại này vừa có sự tham gia của truyện vừatham gia của tư duy nghiên cứu Những yếu tố của truyện tựu trung là nhữnghình ảnh có hồn (những truyện sinh động, những nhân vật sống, những bứctranh có không khí )… Còn tư duy nghiên cứu chủ yếu cung cấp những dữliệu, những tri thức nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức của con người
Ngôn ngữ thể loại hồi ký thể hiện được sự “nhức nhối của trí tuệ” Tácgiả viết về những điều mình trông thấy, từng trải, nghiền ngẫm; hơn thế, cònphải tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu, lý giải nguyên nhân của các sự kiện Sứcthuyết phục của hồi ký đối với người đọc là ở chỗ đó Một bài ký hay, thuyếtphục là một bài ký mà ở đó ngôn ngữ thể hiện tính xác thực, phản ánh được
sự nóng hổi, tính thời sự của vấn đề mà mình hướng tới
1.3 Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 chúng tôi đã ®i vào giới thuyết các vấn đề lý thuyếtliên quan đến đề tài, đó là: ngôn ngữ nghệ thuật và đặc trưng ngôn ngữ nghệthuật; ng«n ng÷ v¨n xu«i và ngôn ngữ hồi ký Với việc giới thuyÕt như thế sẽcung cấp cho chúng ta một điểm tựa lý thuyết, một góc nhìn khi tiếp cận thểloại hồi ký nói chung và việc nghiên cứu đề tài khoá luận này nói riêng
Trang 25Chương 2 KHẢO SÁT CÁC LỚP TỪ TRONG HỒI KÝ
MƯỜI CHÍN CHÂN DUNG NHÀ VĂN CÙNG THỜI
2.1 Nhận xét về vốn từ trong hồi ký Mười chín chân dung nhà văn cùng
thời
Trong hồi ký Mười chín chân dung nhà văn cùng thời, Vũ Bằng đã sử
dụng từ ngữ một cách sáng tạo để dựng lại chân dung, tính cách hay một phần
số phận con người, cuộc đời của mười chín nhà văn cùng thời Trên nhữngtrang hồi ký của mình, Vũ Bằng không chỉ sử dụng những từ có sẵn mà ôngluôn có ý thức về ngôn từ và sử dụng chúng một cách linh hoạt, độc đáo Kho
từ vựng đó của Vũ Bằng không phải ở dạng tĩnh tại mà luôn luôn vận động
Vũ Bằng rất tinh tế khi sử dụng từ láy, từ Hán - Việt, khẩu ngữ, thành ngữ
Trong hồi ký Mười chín chân dung nhà văn cùng thời, Vũ Bằng đã làm nổi
bật, nhấn mạnh được vấn đề ông muốn nói tới Đó là việc dựng lại chân dungcủa các nhà văn, nhà thơ cùng thời với ông như: Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,Nguyễn Tuân, Vũ Đình Long, Tam Ích, Ngô Tất Tố, Tô Hoài, Tản Đà,Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Ngọc Phách, Tú Mỡ, Văn Cao… với những thăngtrầm trong cuộc sống đời thường và trong sự nghiệp Độc giả cảm nhận ở đóhình ảnh đẹp đẽ, tâm hồn cao đẹp, những sự đồng cảm sẻ chia với lớp nhà văn
mà họ yêu thích, kính trọng Bằng vốn từ ngữ phong phú của mình, Vũ Bằng
đã dựng nên một hồi ký chân dung mà dấu ấn của nó trong văn nghiệp của VũBằng cũng như trong nền văn học Việt Nam là rất lớn Càng đọc, càng đi sâutìm hiểu hồi ký của Vũ Bằng ta càng thấy cuốn hút, thấy hấp dẫn
Qua khảo sát và thống kê hồi ký Mười chín chân dung nhà văn cùng
thời, chúng tôi đã thu được kết quả về khả năng sử dụng từ ngữ linh hoạt
Trang 26trong ngôn ngữ của tác giả Dưới đây chúng tôi đã tiến hành phân loại với sốliệu tổng quát như sau:
Từ ngữ trong hồi ký Mười chín
chân dung nhà văn cùng thời Lượt xuất hiện Tỉ lệ (%)
Bảng 2.1 Bảng thống kê lớp từ sử dụng trong hồi ký
Mười chín chân dung nhà văn cùng thời
Qua bảng thống kê phân loại chúng ta nhận thấy, Vũ Bằng sử dụng lớp
từ Hán - Việt chiếm số lượng lớn nhất với 4.678 lượt từ (chiếm 61,34%), tiếpđến là lớp từ láy với 1.435 lượt từ (chiếm 18,82%) và lớp từ khẩu ngữ với1.309 lượt từ (17,16%) Cuối cùng là thành ngữ cũng được sử dụng nhiềutrong hồi ký với 204 lượt từ (chiếm 2,68%)
2.2 Những lớp từ nổi bật trong hồi ký Mười chín chân dung nhà văn
cùng thời
2.2.1 Lớp từ Hán - Việt
2.2.1.1 Khái niệm từ Hán - Việt
Tác giả Nguyễn Văn Tu cho rằng: “Những từ gốc Hán mà người ta
thường gọi là từ Hán - Việt gồm một hệ thống những từ Hán cần thiết cho việc giao tế lúc đó nhất là trong ngôn ngữ Việt… Những từ gốc Hán nói chung là mượn ở văn ngôn trong thời đại khoa cử [19].
Hiện nay, trong giới nghiên cứu Việt ngữ học, có hai cách nhìn khácnhau về xác định từ Hán - Việt:
Loại ý kiến thứ nhất, dựa vào khái niệm “Từ vay mượn” (những từ xét
về nội dung (ngữ nghĩa) và hình thức (vỏ ngữ âm và cấu tạo) đều có nguồn
Trang 27gốc là từ của tiếng nước ngoài) để phân biệt hai hiện tượng: vay mượn từ vàvay mượn yếu tố Cho nên, từ Hán - Việt phải được xem thuộc loại từ vaymượn, đó là những từ xét về hình thức và nội dung đều có nguồn gốc là từtiếng Hán.
Ví dụ: trung, nghĩa, thần, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, minh quân, quân tử…Nếu người Việt mượn các yếu tố của tiếng Hán để tạo ra các từ trong tiếngViệt thì những từ này chỉ được xem là từ vay mượn yếu tố chứ không phải là
từ Hán - Việt Ví dụ: các từ được cấu tạo trong tiếng Việt, so sánh từ tương đương trong tiếng Hán:
Tiếng Việt Tiếng HánThiếu tá
Bác sĩ
Y tá
…
Thiếu hiệuĐại phu
Hộ sĩ
…Loại ý kiến thứ hai, không phân biệt vay mượn từ và hiện tượng vaymượn yếu tố nên đã cho rằng từ Hán - Việt bao gồm những từ do người Việtmượn từ của người Hán và cả lớp từ do người Việt mượn yếu tố Hán - Việtcấu tạo nên trong tiếng Việt (không có trong tiếng Hán) Có nghĩa là, từ Hán -Việt bao gồm cả hai loại từ như trên
Theo chúng tôi, từ Hán - Việt là những từ người Việt vay mượn
tiếng Hán và đọc theo dạng ngữ âm đời Đường, tức là theo cách đọc Hán
- Việt.
2.2.1.2 Lớp từ Hán - Việt trong hồi ký Mười chín chân dung nhà văn cùng thời
Sau khi khảo sát hồi ký Mười chín chân dung nhà văn cùng thời, chúng
tôi đã thống kê được 4.678 lượt tác giả dùng từ Hán - Việt (chiếm 61,34%)