1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảng tho sáng tác bằng tiếng việt của hồ chí minh

84 836 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảng thơ sáng tác bằng tiếng Việt của Hồ Chí Minh
Tác giả Trương Văn Hoà
Người hướng dẫn PGS.TS Phan Mậu Cảnh
Trường học Đại học sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 489,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Yêu quý và thiết tha học tập, tìm hiểu thơ văn của Bác nói chung, mảng thơ tiếng Việt nói riêng, chúng tôi chọn đề tài: Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảng“Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảng

Trang 1

Lời cảm ơn

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ tậntình của các thầy, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, đặc biệt là PGS.TS PhanMậu Cảnh – ngời đã trực tiếp hớng dẫn đề tài khoa học này

Qua đây, chúng tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đối với các thầy cô đãgiảng dạy và hớng dẫn, xin cảm ơn gia đình, các bạn đồng nghiệp đã gợi ý,

động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện để chúng tôi hoàn thành Luận văn này

Với khuôn khổ của một Luận văn Thạc sĩ, những vấn đề nêu ra mớichỉ đợc giải quyết ở chừng mực nhất định, tất yếu sẽ không tránh khỏi thiếusót Tác giả mong đợc sự góp ý, chỉ bảo chân tình của quý thầy, cô giáo vàquý vị

2 Mục đích, đối tợng và nhiệm vụ của luận văn 6

Trang 2

2.2 Mục đích nghiên cứu 6

3.2 Quá trình sáng tác, quan điểm sáng tác và phong cách văn

thơ của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh

2.4.2 Thể thơ tự do trong thơ tiếng Việt Hồ Chí Minh 39

3 Một số đặc điểm tổ chức vần, nhịp trong thơ tiếng Việt Hồ

Trang 3

3.1.7 Giá trị biểu cảm của vần trong thơ tiếng Việt Hồ Chí Minh 48

3.2.5 Giá trị biểu cảm của nhịp trong thơ tiếng Việt Hồ Chí Minh 62

4 Một số cấu trúc thờng gặp trong thơ tiếng Việt Hồ Chí Minh

66

4.2 Cấu trúc so sánh trong thơ tiếng Việt Hồ Chí Minh 69

tiếng Việt của Hồ Chí Minh 77

2 Các nội dung thể hiện trong thơ tiếng Việt Hồ Chí Minh 772.1 Những bài thơ có nội dung tuyên truyền, cổ động 772.2 Những bài thơ có nội dung chúc mừng, thăm hỏi, động viên 832.3 Những bài thơ thể hiện tình cảm yêu thơng của Bác 89

Trang 4

Minh, thơ ca không phải là hoạt động chính của Ngời, tuy vậy Bác đã để lạicho đời một sự nghiệp văn chơng lớn lao về tầm vóc, phong phú, đa dạng vềthể loại và đặc sắc về phong cách sáng tạo Sự nghiệp văn thơ của Ngời cóthể chia làm ba mảng: văn chính luận, truyện và ký và thơ ca.

1.2 Thơ ca chiếm một vị trí quan trọng trong sự nghiệp cách mạng vàsáng tác của Hồ Chí Minh ở mảng thơ ca, ngoài tập Nhật ký trong tù gồm

133 bài, thì mảng thơ sáng tác bằng tiếng Việt có một vị trí quan trọng cầntìm hiểu Bởi vì, trên con đờng hoạt động cách mạng, Bác đã làm thơ và quathơ, ta thấy rõ con ngời Bác, t tởng và tâm hồn Bác đã đợc bộc lộ Đọc thơtiếng Việt của Bác dễ nhớ, dễ thuộc, dễ truyền miệng, đằng sau những câuthơ ấy là những chủ trơng, chính sách của Đảng, là những lời kêu gọi, tuyêntruyền, động viên, giáo dục tinh thần yêu nớc, cứu nớc Thơ ca của Bác nóichung, mảng thơ sáng tác bằng tiếng Việt nói riêng vừa có tầm t tởng lớn,vừa có giá trị nghệ thuật đặc sắc

1.3 Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết bàn về thơ Bác,trong đó có mảng thơ tiếng Việt Song hầu hết các công trình này, từ góc độ

lý luận văn học hoặc phê bình văn học, các tác giả đã điểm qua các hình thức

sử dụng ngôn ngữ trong thơ, các biện pháp tu từ giúp cho ngời đọc hiểuhơn về phong cách ngôn ngữ, về tính dân tộc, tính quần chúng trong thơ Bác.Nhng các nghiên cứu đó vẫn cha thật sự đi sâu vào các phơng diện ngôn ngữmột cách hệ thống và chi tiết, nhất là mảng thơ tiếng Việt của Bác Yêu quý

và thiết tha học tập, tìm hiểu thơ văn của Bác nói chung, mảng thơ tiếng

Việt nói riêng, chúng tôi chọn đề tài: Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảng“Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảng

thơ sáng tác bằng tiếng Việt của Hồ Chí Minh ” Qua đề tài này, chúng tôi

-ớc mong tìm hiểu một cách có hệ thống và cụ thể hơn vẻ đẹp nội dung vànghệ thuật thơ tiếng Việt của Bác Chúng tôi cảm thấy một cách thấm thíarằng những khó khăn của công việc nghiên cứu thơ của Bác luôn vợt lên trênsức mình Nhng lòng yêu qúy và những rung động trớc vẻ đẹp t tởng và nghệthuật trong thơ tiếng Việt của Bác đã thúc đẩy chúng tôi mạnh dạn hơn trongviệc nghiên cứu

2 Đối tợng, mục đích và nhiệm vụ của luận văn

2.1 Đối tợng

Trang 5

Luận văn khảo sát, phân tích các đặc điểm ngôn ngữ của mảng thơsáng tác bằng tiếng Việt của Hồ Chí Minh Trong quá trình phân tích, luậnvăn có sử dụng một số t liệu từ các nguồn khác (thơ chữ Hán, văn chính luậncủa Bác để làm rõ hơn đối tợng nghiên cứu)

2.2 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát thơ tiếng Việt của Hồ Chí Minh, luận văn nhằm:

a) Góp phần làm rõ đặc điểm ngôn ngữ thơ Hồ Chí Minh từ phơngdiện hình thức (thể thơ, vần, nhịp…).)

b) Góp phần làm rõ đặc điểm ngôn ngữ thơ Hồ Chí Minh từ phơngdiện nội dung (hình ảnh thơ, đề tài …).)

c) Qua đó góp phần làm nên giá trị nghệ thuật, giá trị t tởng của thơtiếng Việt Hồ Chí Minh

điểm thơ tiếng Việt của Bác

Trang 6

Bên cạnh đó, có một số công trình nghiên cứu công phu về thơ vănBác nh:

- Chủ tịch Hồ Chí Minh – Nhà thơ lớn của dân tộc, Hà Minh Đức,Nxb KHXH, HN 1979

- Tuyển tập thơ văn Hồ Chí Minh, Hà Minh Đức, Nxb GD, 1999

- Tập nghiên cứu bình luận chọn lọc thơ văn Hồ Chí Minh, Nhiều tácgiả, Nxb GD, 1978

ở những công trình này, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức đã tìm hiểumột cách tơng đối và toàn diện vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật trong thơ Bác,

đã tuyển chọn những tác phẩm văn học tiêu biểu của Hồ Chí Minh Côngtrình này đã đáp ứng và góp phần cung cấp tài liệu cho việc học tập, nghiêncứu thơ văn Hồ Chí Minh trong nhà trờng

- Nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Nhị trong công trình “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngTìm hiểu thơ

Hồ Chí Minh” đã đi sâu nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản tìm ra từ quan

điểm sáng tác thơ của Hồ Chủ tịch Tác giả cho rằng: “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngMục đích của chúngtôi không phải là bản thống kê thật đầy đủ mà cốt để nêu bật những bài tiêubiểu và mẫu mực, đề nghị với bạn đọc một hớng, một cách suy nghĩ, học tập

tu dỡng nghiêm chỉnh đề xuất và tìm một hớng giải quyết một số vấn đề lýluận lớn của mỹ học và nêu những đặc điểm nghệ thuật” của Hồ Chí Minh.Hoàng Xuân Nhị đã nhìn thơ Bác một cách toàn diện Nhng cũng nh các tácgiả khác, việc đi sâu tìm hiểu đặc điểm thơ Bác đặc biệt là mảng thơ sángtác bằng tiếng Việt vẫn còn chung chung ở dạng khái quát hay chấm phá

- Công trình do các tác giả Nguyễn Nh ý, Nguyên An, Chu Huy giớithiệu “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngHồ Chí Minh – tác gia, tác phẩm, nghệ thuật ngôn từ” là công trìnhtập hợp các bài viết, bài bình luận của các nhà hoạt động chính trị, các nhàvăn hoá, các nhà nghiên cứu giảng dạy khoa học xã hội có uy tín về các giátrị t tởng, giá trị giáo dục, giá trị nghệ thuật

Công trình này khá bổ ích cho các nhà nghiên cứu và đông đảo bạn

đọc đi sâu tìm hiểu và thởng thức giá trị đặc sắc về nhiều mặt trong thơ Bác

- Chuyên luận của Nguyễn Đăng Mạnh “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngMấy vấn đề về phơng pháptìm hiểu, phân tích thơ Hồ Chí Minh” là công trình tìm hiểu phân tích thơ

Hồ Chí Minh một cách toàn diện nhất ở công trình này, tác giả đi sâu tìm

Trang 7

hiểu giá trị của di sản thơ Hồ Chí Minh trên các bình diện: quan điểm sángtác văn học, đặc điểm về mặt thể loại của thơ Bác, phong cách thơ Nghĩa

là Nguyễn Đăng Mạnh đã đi vào phơng pháp khoa học cho việc tìm hiểu vàphân tích thơ

Nh vậy, việc nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh là một vấn đề đợc quantâm từ lâu và rộng khắp ở nhiều bình diện khác nhau Hầu nh các tác giả đã

đi một cách khá toàn diện về đặc điểm thơ văn Bác Và đây đó đã có nhữngcông trình chú ý xác định và tìm hiểu một số đặc điểm ngôn từ thơ tiếngViệt của Bác Tuy vậy, ta cha thấy có một công trình nào đi sâu vào tìm hiểu

đặc điểm ngôn ngữ thơ tiếng Việt của Hồ Chí Minh Nếu có chỉ là những bàiviết, công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở những ý kiến nhận xét lẻ tẻ,rải rác Nhng chúng tôi tiếp thu, tham khảo những ý kiến đó, xem nh lànhững gợi ý đáng quý để đi đến một sự tìm hiểu tập trung hơn, có hệ thốnghơn về đặc điểm ngôn ngữ thơ tiếng Việt của Hồ Chí Minh

4 Phơng pháp nghiên cứu

Luận văn tiến hành nghiên cứu thơ tiếng Việt Hồ Chí Minh từ góc độngôn ngữ học Hớng tiếp cận của đề tài là từ những vấn đề lý luận soi vàonhững vấn đề cụ thể; kết hợp giữa phân tích, tổng hợp, tổng hợp và phân tích

để tìm ra những điểm phổ quát và riêng biệt về đặc trng phong cách ngônngữ của một tác giả

Để thực hiện đợc mục tiêu đã đề ra, trong quá trình khảo sát, chúng tôi

sử dụng các phơng pháp: thống kê, phân loại nguồn t liệu, phơng pháp phântích và chứng minh trong từng luận điểm; phơng pháp đối chiếu để làm rõ

đặc điểm chung và riêng của đối tợng nghiên cứu

5 Đóng góp của đề tài

Luận văn đi sâu tìm hiểu đặc điểm hình thức, ngữ nghĩa thơ tiếng Việtcủa Hồ Chí Minh, từ đó rút ra những đặc điểm cơ bản góp phần xác địnhphong cách ngôn ngữ thơ của Ngời Qua đó, có thể giúp cho việc nghiêncứu, việc dạy học và học thơ tiếng Việt của Bác đợc mở rộng thêm một hớngtiếp cận mới

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có ba chơng:

Trang 8

Chơng 1: Những tiền đề lý thuyết có liên quan đến đề tài

Chơng 2: Một số đặc điểm về hình thức thơ tiếng Việt của Hồ Chí

Minh.

Chơng 3: Một số đặc điểm nội dung trong thơ tiếng Việt Hồ Chí

Minh.

Chơng 1 Những tiền đề lý thuyết có liên quan đến đề tài

1 Thơ và ngôn ngữ thơ

1.1 Thơ là gì?

Theo các nhà nghiên cứu thơ là một thể loại văn học nảy sinh từ rấtsớm trong đời sống nhân loại Có thể nói, khi con ngời bắt đầu cảm thấynhững mối liên hệ giữa mình với thực tại và khi thấy có những nhu cầu tựbiểu hiện thì thơ ca xuất hiện Thơ ca rất đa dạng, phong phú và nhiều biếnthái Trong hình thái cổ sơ nhất, thơ ca tồn tại dới dạng những bài hát lễ nghi,những lời phù chú, đợc sử dụng trong các hội hè và tôn giáo Theo Hê – Ghel:

“Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngThơ bắt đầu từ cái ngày khi con ngời cảm thấy cần phải tự bộc lộ mình” Thơ tác động đến ngời đọc, ngời nghe vừa bằng nhận thức của cuộc sống,

Trang 9

vừa bằng khả năng gợi cảm sâu sắc, vừa tác động trực tiếp, vừa tác động giántiếp qua liên tởng và tởng tợng, vừa theo những mạch cảm nghĩ, vừa bằng sựrung động của ngôn ngữ giàu nhạc điệu.

Từ đó, chúng ta cần đặt ra câu hỏi thơ là gì? Đây là một câu hỏi đặt ra

từ rất lâu Bằng trực quan cảm tính thì ai cũng thấy nhng để đa ra lời giải đáp

rõ ràng, có cơ sở khoa học thì nó không đơn giản một chút nào Trongnghiên cứu, việc xác định về một quan niệm, một định nghĩa thơ rõ ràng làviệc làm cần thiết Ngời ta đã bàn rất nhiều về thơ Các ý kiến, các quanniệm thật là đa dạng, thậm chí nhiều lúc đối lập nhau Điều này, xét cho đếncùng phần vì do quan điểm, phần vì do đứng từ nhiều góc độ khác nhau,phần vì thơ là một loại hình nghệ thuật hết sức độc đáo nhng cũng vô cùngphức tạp về nhiều phơng diện

Hiện nay, số lợng định nghĩa về thơ khá nhiều ở đây, chúng tôi xin

điểm qua một số công trình nghiên cứu, định nghĩa về thơ tiêu biểu nhất

Thơ là tiếng nói tình cảm của con ngời, là sợi dây thơng mến ràngbuộc con ngời, bộc lộ tình cảm con ngời “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngThơ là một hành động giao cảm,một hành động tín nhiệm” (Solmih Cadoresi dẫn theo 17; tr 17) “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngThơ làmột điệu hồn đi tìm những hồn đồng điệu” Thơ là tiếng nói tri âm” (TốHữu)

Thơ là tiếng nói của tâm hồn, của niềm mong ớc ở đặc điểm này, các

ý kiến phát biểu dới những dạng khác nhau “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngThơ ca đáp ứng một nhu cầumơ ớc” (J.Gaucheron) “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngThơ là một giấc mơ qua đấy ngời ta mơ ớc về mộtcuộc đời tốt đẹp hơn” (S.Prud homme) “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngThơ là sự thể hiện con ngời và thời

đại một cách cao đẹp” (Sóng Hồng)

Thơ là một phơng diện tinh hoa của con ngời và tạo vật Nhiều ý kiếnnhìn nhận thơ ở góc độ này “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngThơ là cái nhụy của cuộc sống” (Tố Hữu) “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngThơ

là lọc lấy tinh chất, là sự vật đợc phản ánh vào trong tâm tình” (Xuân Diệu)

“Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngThơ là tinh hoa là thể chất cô đọng của trí tuệ và tình cảm” (Thanh Tịnh)…)

Thơ ca là sự sáng tạo, bản chất của nghệ thuật là sáng tạo “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngThơ ca làsáng tạo của sáng tạo” (P.Gamara) “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngThi sĩ là những ngời ra những quy tắccủa thi ca” (Maiacôpxki, dẫn theo 17; tr 18)

Trang 10

Theo định nghĩa của “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngĐại từ điển Tiếng Việt” : “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngThơ là một hình thứcnghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh, có nhịp điệu, vần để thể hiện ý t-ởng và cảm xúc nào đó của tác giả một cách hàm súc” (46; tr 1588).

Theo một nhóm các nhà nghiên cứu phê bình văn học trong cuốn “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngTừ

điển thuật ngữ văn học” : “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngThơ là hình thức sáng tạo văn học phản ánh cuộcsống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc,giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” (13; tr 262)

Xuân Diệu lại định nghĩa “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngBài thơ là một tổ chức ở trình độ cao củangôn ngữ, một tổ chức chặt chẽ, tinh tế, ngôn ngữ không lộn xộn, rối rắm,không phí phạm lời nói, không nhầm lẫn chữ nghĩa, thơ chọn cách nói ngắnnhất mà giàu đẹp nhất, dồn chứa nhiều chất lợng nhất mà câu thơ vẫn cứ trongsáng, nhẹ nhõm, ung dung” (14; tr 17)

Trên đây chúng tôi lợc dẫn một số quan niệm, một số định nghĩa vềthơ Qua đó, có thể rút ra một nhận xét chung rằng: thơ ca là một loại hìnhnghệ thuật liên quan đến nhiều mặt của đời sống, là một sản phẩm đặc biệtcủa lao động nghệ thuật, có tính đặc thù và sáng tạo; và thơ nó có hệ thốngngôn từ, có tổ chức riêng, có nhịp điệu, vần điệu, là sự thể hiện cảm xúcriêng bằng hình ảnh

1.2 Ngôn ngữ thơ

Thơ là một loại thuộc về sáng tác văn học nghệ thuật Chính vì vậy,ngôn ngữ thơ trớc hết phải là ngôn ngữ văn học, có nghĩa là ngôn ngữ mangtính nghệ thuật đợc dùng trong văn học

Về cách tổ chức ngôn ngữ thơ, Hữu Đạt đã khẳng định "Trình bàybằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất, với các tổ chức ngôn ngữ có vần

điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ" (8; tr 9)

Trang 11

Thơ ca có một hình thức tổ chức đặc thù Trớc hết nhìn vào hình thức,trên trang in, các yếu tố ngôn ngữ thơ không dày đặc nh văn xuôi Thơ cónhiều khoảng trống Câu thơ cũng khác câu văn xuôi ở cách ngắt dòng, ngắtnhịp.

Đó là hình thức đầu tiên mà ngời ta có thể nhận thấy Trên cái nền tổchức hữu hạn, đặc thù ấy, sự thể hiện các yếu tố về vần điệu, nhịp điệu, ýnghĩa…) đã tạo cho ngôn ngữ thơ một phẩm chất đặc biệt "Thơ là một kiếntrúc đầy âm vang" (Hê-ghel)

Trong giao tiếp hàng ngày, thậm chí trong văn xuôi, chúng ta chỉ chú

ý đến nội dung thông báo, còn hình thức của nó hầu nh chúng ta ít quantâm Ngợc lại trong thơ chúng ta lại rất chú ý đến những phơng diện này Cónhững câu thơ, những bài thơ đợc nhớ hàng nghìn năm là do cách tổ chứcngôn ngữ đặc biệt của nó Ngôn ngữ thơ trớc hết là một thứ ngôn ngữ đợctrau chuốt, đợc tổ chức có vần, có nhịp, có số lợng âm tiết, có đối, có niênluật…) Vì thế mà Maiacôpski cho rằng: “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngQuá trình sáng tạo ngôn ngữ thơ cacũng giống nh những ngời lọc quặng, lọc ra cái tinh chất Thơ ca là cái tinhhoa tối cao của ngôn ngữ, là cái ánh ngời phi thờng của nó”

Nội dung phản ánh trong thơ ca cũng không có gì khác ngoài đời sống

- xã hội, nhng cái quan trọng là nó tạo ra cảm xúc, tạo nên những rung độngtrong tâm hồn với những liên tởng theo nhiều chiều hớng khác nhau Nguyễn

Đình Thi cho rằng: “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngThơ chỉ chọn một ít điểm chính, bấm vào những điểm

ấy thì toàn thể động lên theo” Vì vậy mà một bầu trời trong xanh, một cánhchim bay, một chòm mây lửng lờ trôi, một tiếng còi tàu…) đều có thể là thiliệu của thơ Qua đó mà nảy nở cảm xúc vốn ẩn tàng trong mỗi con ngời

Ngôn ngữ thơ đợc tổ chức một cách chặt chẽ: có vần, có nhịp, có cắtmạch, có số lợng âm tiết…) đó chính là chỗ dựa của trí nhớ Mô hình càngchặt chẽ thì càng nhớ và lu truyền Ngời ta có thể căn cứ vào mô hình đểphục hồi câu thơ một cách chính xác (điều này thể hiện rõ nhất trong thơcách luật, thơ thất ngôn bát cú, thơ tứ tuyệt, thơ lục bát…).) Ngợc lại cónhững câu thơ do giống nh văn xuôi, không vần, có vẻ nh “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngvi phạm” quy tắc

tổ chức ngôn ngữ thơ ca, nhng thực ra không phải thế Đó là những câu thơphá vỡ quy tắc thông thờng, nhng đem lại một hiệu quả nghệ thuật mới Hiệntợng này ngời ta gọi là “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngchệch chuẩn” trong thơ Về điểm này, Giáo s Phan

Trang 12

Ngọc đã từng khẳng định “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảnglại có loại thơ tự do…) Nhà thơ là sự gò bó bênngoài về hình thức, không phải để quay về với văn xuôi mà chấp nhận những

gò bó khác, ở cấp độ cú pháp và từ vựng Bài thơ anh ta phải mới lạ về nộidung t tởng và tạo nên những liên hệ t tởng bất ngờ, do cách dùng chữ mangtính chất nên thơ…) Nếu nh thơ tự do không mới lạ về cách nhìn, không sắcsảo về từ ngữ, không táo bạo về cú pháp thì nó rất dễ chết” (33; tr 278)

Vì sự “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngđặc biệt” về hình thức nh trên, ngôn ngữ thơ rất dễ gây cảmxúc cho ngời đọc, ngời nghe cái mới lạ, cái bất ngờ của tổ chức ngôn ngữ bắtngời đọc phải chú ý, suy nghĩ để tìm cách giải mã các tín hiệu ngôn ngữ.Cảm xúc của thơ không giống với cảm xúc của văn xuôi mang lại Với thơ,

đọc xong thì giữ lại nguyên vẹn trong trí óc ta, trở thành một sự ám ảnh và

đ-ợc nội cảm hoá ngay tức thì đến mức nó nh thuộc về chính mình Đó chính

là sự lĩnh hội trọn vẹn cả nội dung lẫn hình thức Còn đối với văn xuôi, sựchiếm hữu trọn vẹn chỉ xảy ra ngay khi đọc, sau đó chỉ nhớ nội dung, quênhình thức Vì thế cảm xúc không đợc “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngnội cảm hoá”

Cách thức tổ chức độc đáo của ngôn ngữ thơ còn cung cấp cho chúng

ta những suy nghĩ nằm ngoài nội dung thông báo Hay nói cách khác, nhờcách tổ chức đặc biệt của ngôn ngữ thơ mà bài thơ ngoài ngữ nghĩa thôngbáo còn có những lớp ngữ nghĩa khác Một thông báo của thơ có thể là phithời gian, phi không gian và phi cả độc giả Mỗi ngời sẽ hiểu nó trong từnghoàn cảnh riêng và sẽ có những nỗi niềm, những cảm nhận, đánh giá riêng

Điều này đã làm nên tính đa tầng ý nghĩa của thơ ca, giúp nhà thơ diễn đạt

đợc tối đa sự phức tạp, tinh tế vô cùng của cảm xúc, sự vật trong cái hữu hạncủa câu thơ, thể loại

1.3 Đặc trng của ngôn ngữ thơ

Để thấy rõ đặc trng của ngôn ngữ thơ, chúng tôi làm phép so sánh –phân biệt thơ với các thể loại khác Sau đó, thử theo cách lỡng phân, đối lậpthơ và văn xuôi ở nhiều góc độ khác nhau Dới góc độ ngôn ngữ chúng tôi cóthể đối lập thơ với văn xuôi trên ba cấp độ: ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp

để thấy rõ đặc trng của ngôn ngữ thơ ca

1.3.1 Về ngữ âm

Đặc điểm nổi bật về phơng diện ngữ âm để phân biệt với văn xuôi làtính nhạc Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của cảm xúc, tìnhcảm, chiều sâu nội tâm, thế giới tình cảm của nhà thơ không chỉ biểu hiện

Trang 13

bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn trong cả âm thanh, nhịp điệu, kết cấu Vìvậy mà nhiều ngời đã nhất trí trong việc xem tính nhạc là đặc thù cơ bản củangôn ngữ thơ ca Đây là một khía cạnh mà trong văn xuôi ít gặp, thậm chíkhông đợc nhắc tới Đặc điểm tính nhạc có tính phổ biến trong mọi ngônngữ Tuy nhiên, mỗi ngôn ngữ có cách thể hiện riêng tuỳ theo cơ cấu, cáchcấu tạo và tổ chức khác nhau về ngữ âm Tiếng Việt giàu có về nguyên âm,phụ âm, thanh điệu Đó chính là điều kiện, là cơ sở tạo cho ngôn ngữ thơViệt Nam có một dáng vẻ độc đáo về tính nhạc Tính nhạc trong thơ cónhững đối lập sau:

- Sự đối lập về trầm – bổng, khép – mở của các nguyên âm

- Sự đối lập về vang – tắc giữa hai dãy: phụ âm mũi và phụ âm tắc vôthanh trong các phụ âm cuối

- Sự đối lập về cao – thấp, bằng – trắc của các thanh điệu

Bên cạnh những sự đối lập đó, vần và nhịp cũng góp phần quan trọngtrong việc tạo tính nhạc cho ngôn ngữ thơ ca Những yếu tố và ngữ âm này làcơ sở và cũng là chất liệu cho sự hoà âm của ngôn ngữ thơ ca, tạo nên những

âm hởng trầm, bổng diệu kỳ

Tính nhạc trong ngôn ngữ thơ đã rút ngắn khoảng cách giữa thơ ca và

âm nhạc, làm chỗ dựa cho các phơng pháp diễn đạt âm nhạc Vì vậy mà từ

xa xa, nhiều hình thức ca hát dân tộc đã lấy thơ ca dân gian làm chất liệusáng tác âm nhạc Đó cũng là điều lý giải cho sự kiện: nhà soạn nhạc đầutiên cũng là nhà thơ và trong nền âm nhạc hiện đại, nhiều bài thơ đợc cácnhạc sĩ phổ nhạc trở thành những bài hát có sức vang vọng lòng ngời

1.3.2 Về ngữ nghĩa

Ngữ nghĩa trong thơ ca không đồng nhất với ngữ nghĩa của ngôn ngữgiao tiếp đời thờng, thậm chí khác cả ngữ nghĩa trong văn xuôi Ngữ nghĩatrong văn xuôi chủ yếu là nghĩa miêu tả, tờng thuật, kể chuyện Còn nghĩacủa ngôn ngữ thơ ca phong phú hơn nhiều Mỗi từ ngữ khi đợc đa vào thơ

đều đợc hoạt động rất đa dạng, linh hoạt và biến hoá

Văn xuôi không hạn chế số lợng âm tiết, từ ngữ, câu chữ Còn trongthơ, tuỳ theo từng thể loại mà có những cấu trúc nhất định Khi đi vào thơ,

do áp lực của cấu trúc mà ngữ nghĩa của ngôn từ nhiều khi không dừng lại ở

Trang 14

nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của nó mà đã đi vào những tầng nghĩamới tinh tế hơn, sâu sắc hơn, đa dạng hơn và mới mẻ hơn nhiều Đó là nghĩabóng hay còn gọi là ý nghĩa biểu trng của ngôn ngữ thơ ca.

Đặc trng ngữ nghĩa này tạo cho ngôn ngữ thơ ca một sức lôi cuốn kỳlạ đối với ngời đọc, ngời nghe Bởi họ không chỉ tiếp nhận văn bản thơ bằngmắt, bằng tai mà còn bằng cả sự xúc động, tình cảm, bằng cả trí tởng tợng vàliên tởng nữa Điều này cũng làm cho ngôn ngữ thơ không chỉ còn là phơngtiện giao tiếp mà đã đóng một vai trò khác, ngôn ngữ thơ trở thành “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngmột thứgì đó cha từng đợc nói hoặc đợc nghe Đó là ngôn ngữ đồng thời là sự phủnhận ngôn ngữ Đó là cái vợt ra ngoài giới hạn” (Ôcxta Vi ốt Pát, văn nghệ

số 21,22/5/1983)

Trong quá trình vận động tạo nghĩa của ngôn ngữ thơ, cái biểu hiện vàcái đợc biểu hiện đã xâm nhập, chuyển hoá vào nhau tạo ra khoảng khôngngữ nghĩa vô cùng cho ngôn ngữ thơ ca

1.3.3 Về ngữ pháp

Nếu nh Giáo s Phan Ngọc đã quan niệm về thơ “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảnglà một cách tổ chứcngôn ngữ hết sức quái đản” thì sự “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngquái đản” , “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngbất thờng” ấy đợc thể hiện rất

rõ trong bình diện ngữ pháp của ngôn ngữ thơ ca

Cấu trúc câu trong ngôn ngữ thơ thờng không tuân theo quy tắc bắtbuộc, chặt chẽ nh câu trong văn xuôi và trong ngữ pháp thông thờng Nhàthơ có thể sử dụng các kiểu câu “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngbất bình thờng” nh: đảo ngữ, câu tách biệt,câu vắt dòng, câu trùng điệp…) mà không làm ảnh hởng đến quá trình tiếpnhận ngữ nghĩa của văn bản Ngợc lại, những kết hợp, tổ chức ngôn ngữ “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngbấtquy tắc” đó lại mở những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca Sự

“Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngquái đản” về ngữ pháp của ngôn ngữ thơ ca giúp nhà thơ chuyển tải đợcnhững tầng lớp nghĩa phức tạp, tinh tế vô cùng của sự vật trong cái hạn hữucủa câu chữ Cũng nhờ đó, các nhà thơ tự tạo nên cho mình một phong cáchriêng biệt

Song cái tạo ra sự “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngquái đản” của ngôn ngữ thơ ca còn ở cả sự ngắt dòng

- phân cắt câu thơ Chính vì điều này mà đã dẫn tới sự khó khăn, phức tạpcho việc tìm định nghĩa cho “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngcâu” Có ngời quan niệm : mỗi dòng thơ tơngứng với một câu thơ Tuy nhiên, trong thực tế, câu thơ không hoàn toàn

đồng nhất với khái niệm “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngcâu” trong ngữ pháp Vì vậy, trong thơ “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngcâu” và

Trang 15

dòng thơ không phải lúc nào cũng trùng nhau Có những câu thơ bao gồmnhiều dòng thơ, mà mỗi dòng thơ chỉ là một vế của câu đầy đủ thành phần.

Điều này đợc thể hiện rất rõ trong thơ ca hiện đại ở hiện tợng câu thơ vắt dòng

Tóm lại, ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ có tính nghệ thuật Nhờ có tínhnghệ thuật đó mà ngôn ngữ thơ có khả năng vô tận trong việc mô tả nhữngtrạng thái, tinh tế, bí ẩn của thế giới tâm hồn con ngời

2 Tính hệ thống – cấu trúc trong ngôn ngữ văn cấu trúc trong ngôn ngữ văn học nghệ thuật

Một trong những đặc trng quan trọng của ngôn ngữ nói chung, ngônngữ văn học nghệ thuật và ngôn ngữ thơ ca nói riêng đó chính là tính hệthống – cấu trúc

Ngời có công trong việc xây dựng lý thuyết về cấu trúc của ngôn ngữhọc là F.de Saurure Ông cho rằng việc một đơn vị ngôn ngữ muốn có giá trịphải nằm trong hệ thống quan hệ với các đơn vị ngôn ngữ khác Từ họcthuyết về hệ thống – cấu trúc của F.de Saurure, các nhà ngôn ngữ học đãxây dựng một phơng pháp nghiên cứu trong khoa học xã hội và nghiên cứuvăn học là phân tích hệ thống những quan hệ của các yếu tố tạo thành chỉnhthể nghệ thuật Phơng pháp đó đợc gọi là phơng pháp phân tích cấu trúc

Hệ thống và cấu trúc là hai khái niệm không đồng nhất với nhau, nhnglại có quan hệ chặt chẽ với nhau Theo “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngTừ điển Tiếng Việt” của Viện ngônngữ học thì hệ thống đợc hiểu là “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngtập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặccùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành mộtthể thống nhất” (52; tr 434) Còn cấu trúc là “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngtoàn bộ nói chung những quan

hệ bên trong giữa các thành tố tạo nên một chỉnh thể” (52; tr 128)

Nh vậy, hệ thống là khái niệm rộng hơn cấu trúc Bên trong hệ thống

có cấu trúc và cấu trúc là mạng lới bên trong của hệ thống Trong văn học,hai khái niệm này không loại trừ nhau mà có khi đợc hiểu là một Vì vậy,

đặc trng về tính cấu trúc trong ngôn ngữ văn học có khi đợc gọi bằng thuậtngữ “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngtính hệ thống” Chẳng hạn khi định nghĩa về tính hệ thống, trong ngônngữ văn chơng, nhóm tác giả Đỗ Hữu Châu, Đặng Đức Siêu, Diệp QuangBan cho rằng đó là: “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngTính chất theo đó, các yếu tố ngôn ngữ trong một tácphẩm phải phù hợp với nhau, giải thích cho nhau và bổ trợ nhau để đạt tớimột hiệu quả diễn đạt chung” (7; tr 16)

Trang 16

Trong cuốn “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngPhong cách học tiếng Việt” của nhóm tác giả: ĐinhTrọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà lại gọi đặc trng đó chính là “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngtính cấu trúc” vàdẫn lại khái niệm tính hệ thống của nhóm tác giả Đỗ Hữu Châu đã biênsoạn: “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngTính cấu trúc của ngôn ngữ nghệ thuật là tính chất theo đó các yếu tốngôn ngữ trong một tác phẩm phải gắn bó qua lại với nhau để cùng thực hiệnnhiệm vụ chung, phải phù hợp với nhau giải thích cho nhau và bổ trợ nhau

để đạt tới một hiệu quả diễn đạt chung” (24; tr 143) Cả hai nhóm tác giả đã

sử dụng hai thuật ngữ khác nhau: Hệ thống – cấu trúc để diễn đạt cùng nộidung

Nh vậy, hai khái niệm này trong văn học thờng đợc dùng nh nhau.Vấn đề là nhấn mạnh ở khía cạnh nào là tuỳ thuộc vào ý đồ nghiên cứu củatừng tác giả mà thôi

Trong văn học nghệ thuật, một bài thơ, một tác phẩm văn học tự thân

nó là một hệ thống- cấu trúc Bởi lẽ ngay trong một bài thơ hay trong tácphẩm văn học đã bao gồm một hệ thống về hình thức ngôn ngữ cùng vớinhững thành tố về nội dung t tởng, tình cảm, hình tợng…) Các thành tố nàykhông phân biệt mà cùng tồn tại trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, yếu

tố này quy định và phụ thuộc các yếu tố khác Sự thay đổi dù là một tín hiệunhỏ cũng làm thay đổi tất cả các yếu tố khác trong hệ thống chung của tácphẩm văn học

Vì lý do đó, tính hệ thống – cấu trúc đợc xem là “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngđiều kiện của cái

đẹp” và “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngmột yếu tố ngôn ngữ chỉ đẹp trong cái hệ thống và phù hợp với nó” (7; tr 16), (24; tr 141)

Chính vì vậy, khi tìm hiểu ngôn ngữ thơ của một tác giả nào đó, chúng

ta không thể tách biệt nó ra một cách độc lập mà phải đặt từng yếu tố ngônngữ trong hệ thống chung – cấu trúc chung của toàn bộ văn bản

3 Quá trình sáng tác văn thơ của Nguyễn ái Quốc – cấu trúc trong ngôn ngữ văn

Hồ Chí Minh

3.1 Đôi nét về tiểu sử

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969), thời thơ ấu và thanh thiếu niêntên là Nguyễn Sinh Cung và Nguyễn Tất Thành Trong nhiều năm hoạt độngcách mạng lấy tên là Nguyễn ái Quốc và nhiều tên gọi khác

Trang 17

Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại Kim Liên, Nam Đàn,Nghệ An Song thân của Ngời là cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc và cụ HoàngThị Loan Thuở nhỏ, Nguyễn Tất Thành học chữ Hán, sau đó học chữ quốcngữ và tiếng Pháp ở Trờng Quốc học Huế Năm 1910, Ngời vào dạy học ởTrờng Dục Thanh, một trờng học của tổ chức yêu nớc ở Phan Thiết (naythuộc tỉnh Bình Thuận) một thời gian ngắn rồi vào Sài Gòn.

Đến tháng 6 năm 1911, Ngời xuống tàu ra nớc ngoài tìm đờng cứu

n-ớc Năm 1918 Ngời tham gia Đảng xã hội Pháp, thành lập Hội những ngờiViệt Nam yêu nớc Năm 1919, Ngời thay mặt những ngời Việt Nam yêu nớc

ở Pháp gửi tới Hội nghị hoà bình ở Véc-xay (Pháp) bản yêu sách của nhândân An Nam, kí tên Nguyễn ái Quốc Năm 1920, Nguyễn ái Quốc tham gia

đại hội thành lập Đảng Cộng sản Pháp Trong thời gian ở Pháp, Ngời tíchcực viết báo, viết sách tuyên truyền chống chủ nghĩa thực dân và đoàn kếtcác dân tộc thuộc địa Nguyễn ái Quốc đã tham gia thành lập nhiều tổ chứcCách mạng nh: Việt Nam Thanh niên đồng chí hội (1925), Hội liên hiệp cácdân tộc bị áp bức á Đông (1925), và chủ toạ hội nghị thống nhất các tổ chứcCộng sản ở trong nớc tại Hơng Cảng, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930)

Đầu năm 1941, Ngời về nớc hoạt động và thành lập mặt trận ViệtMinh, chuẩn bị lực lợng để đa cách mạng Việt Nam tới thắng lợi Từ năm

1942, Nguyễn ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh Ngày 2 tháng 9 năm 1945,Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nớc ViệtNam dân chủ cộng hoà Sau cuộc tổng tuyển cử đầu tiên (6-1-1946), Ngời đ-

ợc bầu làm Chủ tịch nớc Từ đây Ngời luôn đảm nhiệm chức vụ cao cả nhấtcủa Đảng và Nhà nớc, lãnh đạo toàn dân giành thắng lợi trong hai cuộckháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lợc Ngời qua đời vàongày 2 tháng 9 năm 1969

Năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ ChíMinh, tổ chức giáo dục, khoa học và văn học Liên hợp Quốc (UNESCO) đãghi nhận và suy tôn Ngời là: “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngAnh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhàvăn hoá lớn” Hồ Chí Minh là ngời chiến sĩ kiên cờng trên suốt nửa thế kỷtham gia đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc Hồ Chí Minh là vị

Trang 18

lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Trong sự nghiệp cách mạng lớn lao của Ngời cómột di sản đặc biệt để lại cho dân tộc, đó là sự nghiệp văn học.

3.2 Quá trình sáng tác, quan điểm sáng tác và phong cách văn thơ của Nguyễn ái Quốc Hồ Chí Minh

3.2.1 Quá trình sáng tác văn thơ

Ngoài sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh còn để lại cho đời một sựnghiệp văn chơng lớn lao về tầm vóc, phong phú, đa dạng về thể loại và đặcsắc về phong cách sáng tạo Tác phẩm văn học của Hồ Chí Minh đợc viếtbằng tiếng Pháp, Hán văn và tiếng Việt Sự nghiệp văn học của Ngời chủ yếutrên ba lĩnh vực sau:

3.2.1.1 Văn chính luận

Những tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh đợc viết ra chủ yếuvới những mục đích đấu tranh chính trị, nhằm tiến công trực diện kẻ thùhoặc thể hiện những nhiệm vụ cách mạng của dân tộc qua những chặng đờnglịch sử Ngay từ những thập niên đầu thế kỷ XX, các bài văn chính luận vớibút danh Nguyễn ái Quốc đăng trên các tờ báo Ngời cũng khổ (Le paria).Nhân đạo (L’Humanité), Đời sống thợ thuyền (La vie ouvrière) đã có tác

động và ảnh hởng lớn đến công chúng Pháp và nhân dân nhiều nớc thuộc

địa Lên án chế độ thực dân Pháp và chính sách tàn bạo của chính phủ Pháp

đối với các nớc thuộc địa, kêu gọi thức tỉnh những ngời nô lệ bị áp bức liênhiệp lại trong mặt trận đấu tranh chung là nội dung chủ yếu của những tácphẩm chính luận của Nguyễn ái Quốc trong giai đoạn này Tiêu biểu nhất làcác tác phẩm:

Trang 19

Trớc hết phải kể đến tập truyện và ký tập hợp những truyện ngắn và kýcủa Nguyễn ái Quốc viết trong khoảng từ năm 1922 đến 1925 Tác giả th-ờng tiến công kẻ thù bằng những mũi nhọn chính luận sắc sảo và sự thậtcông khai của đời sống Tuy nhiên, cần có một tiếng nói hỗ trợ có hiệu quảcủa những hình thức tởng tợng, h cấu tạo ra những tình huống không xácthực nhng chân thực để nói lên bản chất của đối tợng, chỉ ra sự thật còn bịche giấu và dự báo cho khả năng phát triển của hiện tợng Tiêu biểu là nhữngtác phẩm: Pari (1922), Lời than vãn của Bà Trng Trắc (1922), Con ngời biếtmùi hun khói (1922), Đồng tâm nhất trí (1922), Vi hành (1923) , Những trò

lố hay là Varen và Phan Bội Châu (1925), Con rùa (1925)…) Truyện ngắncủa Ngời cô đọng, cốt truyện sáng tạo, kết cấu độc đáo Mỗi truyện ngắn đều

có một t tởng riêng hấp dẫn, sáng tạo, ý tởng thâm thuý, kín đáo, chất trí tuệtoả trong hình tợng và phong cách giàu tính hiện đại

3.2.1.3 Thơ ca

Đây là lĩnh vực nổi bật trong giá trị sáng tác văn chơng của Hồ ChíMinh Có thể kể đến ba tập thơ của Ngời đã đợc tuyển chọn qua các thời kỳ:Nhật ký trong tù gồm 133 bài, thơ Hồ Chí Minh (1967) gồm 89 bài và thơchữ Hán Hồ Chí Minh (1990) gồm 36 bài

Trên 250 bài thơ, đó là con số rất có ý nghĩa với một đời thơ Các tácphẩm thơ của Hồ Chí Minh đợc viết ra trong nhiều thời điểm và hoàn cảnhlịch sử, tiêu biểu hơn cả là Nhật ký trong tù đợc viết trong thời gian Ngời bịgiam cầm ở nhà tù Quốc dân Đảng tại Quảng Tây, Trung Quốc từ ngày 28tháng 8 năm 1942 đến 10 tháng 9 năm 1943

Tinh thần ở ngoài lao”

Sự thắng thế của những giá trị tinh thần lý tởng chiến đấu của ngờicộng sản, lòng yêu nớc thơng dân, niềm tin vào thắng lợi ngày mai đã giúpngời chiến sĩ vợt lên tất cả Bộ mặt tàn bạo của nhà tù Quốc dân đảng đợcmiêu tả chân thực có sức tố cáo, càng làm nổi bật lên sức mạnh của ý chí ng-

ời chiến sĩ cách mạng không chịu khuất phục, không chịu lùi một phân:

Trang 20

Vật chất tuy

“Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảng đau khổ Không nao núng tinh thần”

Nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nớc đã tìm thấy ở Nhật kýtrong tù “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngmột tâm hồn vĩ đại của bậc đại trí, đại nhân, đại dũng” (Viên Ưng,Trung Quốc), “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngmột con ngời qua cuộc đời mình đã dạy cho mọi ngời hiểurằng: đối với con ngời không có đỉnh cao nào là không thể đạt đợc” (Phê lichPita Rôđrighêt, Cu Ba) Đặng Thai Mai cho rằng đọc tập thơ “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngthực sự cảmthấy đứng trớc một thi sĩ và một con ngời cao cả vĩ đại” Nhật ký trong tùchứa đựng những bài học về nhân sinh, đạo lý cho hôm nay và cho cả maisau

Nhật ký trong tù là tập thơ chứa chan tình cảm nhân đạo Tuy tronghoàn cảnh tù đày và trên hành trình bị áp giải, Hồ Chí Minh luôn bộc lộ sựcảm thơng trớc cảnh đời lam lũ của những ngời phu đờng và những ngờinông dân vất vả một nắng hai sơng Ngời đặc biệt quan tâm đến cảnh đờicủa em nhỏ, của ngời phụ nữ cũng phải chịu cảnh tù đày và riêng những ngời

“Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngcùng hội cùng thuyền” cũng đợc tác giả chia sẻ tình thơng Tình cảm nhân

đạo trong Nhật ký trong tù là thuộc về chủ nghĩa nhân đạo của giai cấp vôsản, khác với tình thơng ngời của tôn giáo, khác biệt với tình thơng có tínhchất ban phát của giai cấp phong kiến, t sản…) Nhật ký trong tù là tác phẩmgiàu giá trị nghệ thuật Nhiều tứ thơ đợc thể hiện rất sáng tạo, rất đẹp(Không ngủ đợc, Ngắm trăng, Đi đờng, Nghe tiếng giã gạo ) nhiều hình

ảnh thơ gợi cảm từ mặt trời buổi sớm, vầng trăng non trong đêm, dòng sôngvui giữa hai bờ làng xóm, làng quê đợc mùa vui ca hát…) Nhật ký trong tù sửdụng rất thành thục thể tứ tuyệt vừa cô đúc, vừa linh hoạt và tài hoa

Ngoài Nhật ký trong tù, phải kể đến những đóng góp thơ ca của Ngời

ở thời kỳ trớc và sau cách mạng Pác bó hùng vĩ, Tức cảnh Pác Bó, Ca sợichỉ, Bài ca du kích …) gợi lại chân thực và xúc động thời kỳ hoạt động bí mật

và những vần thơ cũng tham gia trực tiếp vào nhiệm vụ tuyên truyền cáchmạng

Đi vào kháng chiến chống thực dân Pháp, tứ thơ của Ngời ngày càngdào dạt Vẫn là tấm lòng yêu nớc, sâu nặng thể hiện qua nổi lo lắng của vịlãnh tụ trớc tình cảnh đất nớc bị xâm lợc (Cảnh khuya, Đi thuyền trên sông

Đáy…).) Tình cảm động viên và ngợi ca sức mạnh của quân dân trong chiến

đấu (Rằm tháng giêng, Lên núi…).) và niềm vui của Ngời trớc thắng lợi ở

Trang 21

chiến trờng (Tin thắng trận, Đêm thu …).) Thơ kháng chiến chống thực dânPháp của Hồ Chí Minh kết hợp đợc chất trữ tình cách mạng đằm thắm vớicảm hứng anh hùng ca của thời đại.

Tập thơ chữ Hán Hồ Chí Minh tập thơ 36 bài thơ chữ Hán viết trongnhiều thời điểm vẫn là những bài cổ thi thâm thuý với tứ thơ mở ra phóngkhoáng trên nhiều đề tài Về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (Thudạ, Nguyên tiêu, Đăng sơn…) ), về những chuyến thăm nớc ngoài (Chùm thơthăm Trung Quốc), về tình bạn (Tặng Bùi Công, Tầm hữu vị ngộ…).) và chúttâm tình riêng (Nhị vật (Hai chớ), Thất cửu (Sáu mơi ba tuổi)…).)

Quả thực di sản văn học của Hồ Chí Minh rất phong phú, độc đáo và

có giá trị to lớn đặc biệt về nhiều phơng diện Nó không chỉ ảnh hởng sâusắc tới t tởng, tình cảm của con ngời Việt Nam mà còn có vị trí quan trọngtrong lịch sử văn học nớc nhà

3.3 Quan điểm sáng tác văn học

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không nhận mình là nhà văn, nhà thơ

mà chỉ là ngời bạn của văn nghệ, ngời yêu văn nghệ Nhng rồi chính hoàncảnh thôi thúc, nhiệm vụ cách mạng yêu cầu, môi trờng xã hội và thiênnhiên gợi cảm cộng với tài năng nghệ thuật và tâm hồn nghệ sĩ chứa chancảm xúc, Ngời đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị Những áng văn chínhluận giàu chất sống thực tế, sắc sảo về chính kiến và ý tởng (Bản án chế độthực dân Pháp, Tuyên ngôn độc lập…).), những truyện ngắn độc đáo, hiện đại

và hàng trăm bài thơ giàu tình đời, tình ngời, chứa chan thi vị đợc viết rabằng tài năng và tâm huyết Hồ Chí Minh am hiểu sâu sắc quy luật và đặc tr-

ng của hoạt động văn nghệ, từ phơng diện t tởng chính trị đến nghệ thuậtbiểu hiện Điều này trớc hết thể hiện trực tiếp trong hệ thống quan điểm sángtác văn chơng của Ngời

Là một nhà thơ cách mạng vĩ đại lại rất yêu văn nghệ, Hồ Chí Minhxem văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quảcho sự nghiệp cách mạng; Nhà văn cũng phải ở giữa cuộc đời, góp phần vàonhiệm vụ đấu tranh và phát triển xã hội Bài thơ cảm tởng đọc “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngThiên giathi” đợc viết ra với tinh thần đó:

Thơ x

“Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảng a yêu cảnh thiên nhiên đẹp.

Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông.

Trang 22

Nay ở trong thơ nên có thép.

Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

Chất “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngthép” ở đây chính là xu hớng cách mạng và tiến bộ về t tởng, làcảm hứng đấu tranh xã hội tích cực của thi ca Đó là sự tiếp xúc quan điểmthơ “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngchuyên chú ở con ngời” nh Nguyễn Đình Chiểu đã từng viết:

- Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm“Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảng

Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà

- Dùng cán bút làm“Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảng đòn xoay chế độ Mỗi vần thơ bom đạn phá cờng quyền

(Sóng Hồng)Sau này trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, qua thgửi các hoạ sĩ nhân dịp triển lãm hội hoạ 1951, Ngời lại khẳng định: “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngVănhoá nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trậnấy”

Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến đối tợng thởng thức Văn chơng trongthời đại cách mạng phải coi quảng đại quần chúng là đối tợng phục vụ Từ

đó, Ngời nêu kinh nghiệm chung cho hoạt động báo chí và văn chơng:

- “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngViết cho ai?” (Đối tợng)

- “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngViết để làm gì?” (Mục đích)

- “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngViết cái gì?” (Nội dung)

Và “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngViết nh thế nào?” (Hình thức)

Ngời chú ý đến quan hệ giữa phổ cập và nâng cao trong văn nghệ Cáckhía cạnh trên liên quan đến nhau trong ý thức và trách nhiệm của ngời cầmbút

Hồ Chí Minh luôn quan niệm tác phẩm văn chơng phải có tính chânthật Phát biểu trong buổi khai mạc phòng triển lãm về hội hoạ trong năm

đầu cách mạng, Ngời uốn nắn một hớng đi “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngchất mơ mộng nhiều quá, mà cáichất thật của sự sinh hoạt rất ít” ngời yêu cầu văn nghệ sĩ phải “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngmiêu tả chohay, cho chân thật, cho hùng hồn” , những đề tài phong phú của hiện thựccách mạng, phải chú ý đến nêu gơng “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngNgời tốt, việc tốt” , uốn nắn và phêphán cái xấu Tính chân thật vốn là cái gốc của văn chơng xa và nay Nhàvăn phải chú ý đến hình thức biểu hiện, tránh lối viết cầu kỳ, xa lạ nặng nề

Trang 23

Hình thức của tác phẩm phải trong sáng, hấp dẫn, ngôn ngữ phải chọn lọc.

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếngViệt Theo Ngời, tác phẩm văn chơng phải thể hiện đợc tinh thần của dântộc, của nhân dân và đợc nhân dân yêu thích

3.4 Phong cách nghệ thuật

Hồ Chí Minh là ngời bớc đầu đặt nền móng và mở đờng cho nền vănhọc cách mạng Văn chơng Hồ Chí Minh đã kết hợp đợc sâu sắc từ bên trongmối quan hệ giữa chính trị và văn học, giữa t tởng và nghệ thuật, giữa truyềnthống và hiện đại Mỗi loại hình văn học của Ngời đều có phong cách riêng,

độc đáo, hấp dẫn và có giá trị bền vững Hồ Chí Minh là ngời đầu tiên sửdụng có hiệu quả cao thể văn chính luận hiện đại

Văn chính luận của Hồ Chí Minh bộc lộ t duy sắc sảo, giàu tri thứcvăn hoá, gắn lí luận với thực tiễn, giàu tính luận chiến, vận dụng có hiệu quảnhiều phơng thức biểu hiện Chỉ riêng hình thức mẩu chuyện đợc kể qua mộtcâu chuyện nhỏ, một mảnh đời chân thực đã góp phần chứng minh thuyếtphục cho những vấn đề lý luận

Truyện và ký của Nguyễn ái Quốc là những tác phẩm mở đầu và gópphần đặt nền móng đầu tiên cho văn xuôi cách mạng Ngòi bút của Ngờitrong truyện ngắn rất chủ động và sáng tạo: có khi là lối kể chuyện chânthực tạo không khí gần gũi, có khi là giọng điệu sắc sảo, châm biếm thâmthuý và tinh tế Chất trí tuệ và tính hiện đại là những nét đặc sắc của truyệnngắn Nguyễn ái Quốc

Về thơ ca phong cách sáng tạo của Ngời rất đa dạng Nhiều bài viếttheo hình thức cổ thi hàm súc, uyên thâm, đạt chuẩn mực cao về nghệ thuật.Thơ của Ngời mang đặc điểm của thơ ca cổ phơng Đông Thơ Ngời nói ít màgợi nhiều, là loại thơ có màu sắc thanh đạm, có âm thanh trầm lắng khôngphô diễn mà nh cố khép lại đờng nét để cho ngời đọc tự thởng thức lấy cáiphần ý ở ngoài lời” (Rôgiê Đơnuy, Pháp)

Thơ Hồ Chí Minh vận dụng rất linh hoạt nhiều thể loại và phục vụ cóhiệu quả cho nhiệm vụ cách mạng Lời kêu gọi, chúc mừng, thăm hỏi, giáohuấn…) của Ngời qua tiếng nói gợi cảm của thơ ca chứa chan nhiệt tình cáchmạng

Trang 24

Tóm lại, văn thơ của Hồ Chí Minh thể hiện sâu sắc tấm lòng giàu yêuthơng và tâm hồn cao cả của Ngời Đó là tiếng nói nhân danh ngời cùng khổ

đấu tranh đòi quyền sống, nhân danh một dân tộc bảo vệ quyền độc lập, tự

do Đó là tiếng nói của ngời cần lao “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngngời đi dép lốp cao su” và “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngnhà chiến ợc” (KatepYaxin, Angiêri) luôn lạc quan tin tởng vào sức mạnh của chân lý

l-và của con ngời đang vơn tới chân – thiện – mỹ Qua di sản văn chơngquý báu đó, các thế hệ hôm nay và mai sau có thể tìm thấy những bài học vàgiá trị tinh thần cao quý

4 Các thời kỳ sáng tác thơ tiếng Việt của Hồ Chí Minh

Khi khảo sát mảng thơ sáng tác bằng tiếng Việt của Hồ Chí Minh,chúng tôi chia ra các giai đoạn sáng tác sau:

4.1 Những chặng đờng thơ ca chiến khu của Hồ Chí Minh gồm: 4.1.1 Chặng đờng thơ ca 1941 -1942

4.1.2 Chặng đờng thơ ca 1947-1954

4.2 Mảng thơ chúc tết (từ 1942 – 1969)

Chơng 2 Một số đặc điểm về hình thức thơ tiếng Việt

của Hồ Chí Minh

1 Dẫn nhập

Trong ngôn ngữ, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức rất chặt chẽ

và rất phức tạp Thơ có một cách thức phản ánh cuộc sống mang tính đặc

Trang 25

thù Hình thức thơ đơng nhiên phải phù hợp với nội dung và cách thức phản

ánh mang tính đặc thù ấy

Mỗi bài thơ có thể xem là một chỉnh thể Khi xem xét mặt hình thứctrong thơ tiếng Việt Hồ Chí Minh, chúng tôi chủ yếu đi vào tìm hiểu cáckhía cạnh sau: thể thơ, các đặc điểm về tổ chức trong câu thơ (vần, nhịp

điệu), đặc điểm về từ ngữ và một số cấu trúc điển hình của bài thơ

Qua những đặc điểm này, ta có thể thấy rõ hơn về phong cách, diệnmạo riêng của thơ tiếng Việt Hồ Chí Minh trong thơ ca nói chung, thơ ViệtNam hiện đại nói riêng

2 Thể thơ

2.1 Nhận xét chung

Trong những khái niệm liên quan đến thơ, thuật ngữ “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngthể thơ” (hayluật thơ) cha đợc định nghĩa một cách rõ ràng Nhng qua phân loại về thểthơ, ngời ta thờng lấy số tiếng và vần để phân loại các thể thơ

Căn cứ vào số tiếng trong câu thơ có thể thơ 5 tiếng, 6 tiếng, 7 tiếng, 8tiếng, thơ tự do (số tiếng không đều nhau)

Căn cứ vào luật thơ, có hai loại: thơ cách luật (thơ có quy tắc và luật lệ

ổn đinh gồm thơ Đờng luật, lục bát, song thất ); thơ không cách luật (thơ tự

do số tiếng, số câu không hạn chế)

Khi tìm hiểu thơ tiếng Việt của Hồ Chí Minh, chúng tôi nhận thấytrong số 89 bài thơ tiếng Việt (không kể những câu thơ lẻ trong các bài vănchính luận) có :

- Thơ lục bát : 22 bài, chiếm tỉ lệ 24,71%

- Thơ lục bát biến thể : 8 bài, chiếm tỉ lệ 8,99%

- Song thất lục bát : 4 bài, chiếm tỉ lệ 4,5%

- Thơ Đờng luật: 25 bài, chiếm tỉ lệ 28,1%

Trang 26

Chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu ba thể thơ sau: thể thơ lục bát, thể thơ Đờngluật và thơ tự do.

2.2 Thể thơ lục bát

Lục bát là thể thơ truyền thống của dân tộc Đặc điểm nổi bật của thểthơ này là câu 6 và câu 8 luân phiên nhau Đặc trng của thể thơ này là dựatrên cơ sở sự hài hoà về hiệp vần và hài âm

Nhiều bài thơ lục bát của Bác là những bài thơ dài đợc viết vào hainăm 1941, 1942 Đây là những bài diễn ca, những bài thơ kêu gọi chúng

ta hãy đọc một trong những bài diễn ca của Bác: Ca binh lính, Bác viết năm

1941

Hai tay cầm khẩu súng dài, Ngắm đi ngắm lại, bắn ai thế này ?

Bắn vào quân Nhật, quân Tây,

Lũ cớp nớc, lũ đoạ đầy dân ta;

Lũ không yêu trẻ, kính già,

Lũ cớp đất, lũ đốt nhà xôn xao ;

Lũ đòi su nặng, thuế cao,

Lũ đi chém giết đồng bào Việt Nam.

Bắn đợc chúng, chết cũng cam, Vì mình dù chết, nớc Nam vẫn còn.

Hay vì chút lợi cỏn con, Cái bằng cửu phẩm, cái lon đội nhì, Nhằm vào cách mạng bắn đi,

Kể chi nhân nghĩa, kể chi giống nòi ?

Anh em binh lính ta ơi ! Chúng ta cùng giống, cùng nòi Việt Nam.

Việc chi lợi nớc thì làm, Cứu dân, cứu nớc há cam kém ngời ? Trong tay đã sẵn súng rồi, Quyết quay đánh Nhật, đánh Tây mới đành

Tiếng thơm sẽ tạc sử xanh:

Quân nhân cứu quốc rạng danh muôi đời !

“Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảng ”

Trang 27

Cũng nh trong các bài diễn ca, cách dùng từ và đặt câu trong bài nàyrất tự nhiên, dễ hiểu, biểu hiện đợc những điều cần nói một cách sáng sủa ,

rõ ràng Cũng cần chú ý đến giọng điệu lôi cuốn của bài thơ này: nó đợcviết với một giọng điệu nhấn mạnh, bằng cách sử dụng những điệp âm, điệp

từ ở những vị trí cần thiết của câu thơ làm cho chúng ta khi đọc các câu thơ

ấy, phải nhấn vào những tiếng “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngđiệp” đó Chẳng hạn:

Bắn vào quân Nhật,quân Tây

Lũ cớp nớc, lũ đọa đầy dân ta;

Trong bài ca “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngCông nhân” (1941), Bác đã đặt một loạt câu hỏi ở ngay

đầu bài thơ để gợi sự chú ý của ngời đọc:

Thành ai đắp, lầu ai xây ? Tàu kia ai đóng, than đây ai sàng ? Bao nhiêu của cải kho tàng,

Ai đào bạc, ai luyện vàng mà nên ?

ở đây, các câu hỏi thờng đợc Bác đặt vào những chỗ cần chú ý của bàithơ tạo nên những nét ngữ điệu nổi bật

Bài thơ “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngTặng các cụ lão du kích” , Bác viết năm 1947:

Tuổi cao chí khí càng cao, Múa gơm giết giặc ào ào gió thu.

Sẵn sàng tiêu diệt quân thù, Tiếng thơm Việt Bắc ngàn thu lẫy lừng.

Đây là một bài thơ “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngLục bát – tứ tuyệt” , nếu có thể nói nh vậy Tứthơ ở đây cũng rất gần với tứ thơ đờng “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngcảm tác” , ngôn ngữ thơ cũng rấtchọn lọc, gọt giũa Cùng với âm điệu uyển chuyển của thể thơ lục bát dântộc, từ ngữ thơ đợc chọn lọc cô đúc và gợi cảm

Bài “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngĐi thuyền trên sông Đáy” , Bác làm năm 1949 có phong thái trầmtĩnh, trang nghiêm, cảnh vật ở đây thật vắng lặng Ngoài tiếng cót két củamái chèo đang bơi, không còn một âm thanh nào khác Trong khung cảnh

ấy, ta tởng nh tâm hồn Bác rất thanh thản Nhng không ! Bác vẫn băn khoăn,suy nghĩ làm sao giành lại toàn vẹn đất nớc của tổ tiên để lại:

Dòng sông lặng ngắt nh tờ ,

Sao đa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo.

Bốn bề phong cảnh vắng teo,

Trang 28

Chỉ nghe cót két tiếng chèo thuyền nan.

Lòng riêng riêng những bàn hoàn,

Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng.

Thuyền về, trời đã rạng đông, Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tơi.

Bài “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngCảm ơn ngời tặng cam” , Bác viết năm 1964 cũng là một bài thơlục bát 4 câu rất tiêu biểu về phong cách ngôn ngữ thơ của Bác ở đây, bêncạnh một tục ngữ giàu sắc thái quần chúng: “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngĂn quả nhớ kẻ trồng cây” , từ sựviệc cụ thể đợc nâng lên thành ý khái quát Bác đã dùng một thành ngữ Hán

“Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngKhổ tận cam lai” , nhng với cách chơi chữ dí dỏm, tô đậm thêm một màusắc vừa cổ kính, vừa mới mẻ và sâu sắc của tâm hồn Việt Nam:

Cảm ơn bà biếu gói cam, Nhận thì không đúng, từ làm sao đây !

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai !

2.3 Thể thơ Đờng luật

Thơ Đờng luật ngoài quy tắc chặt chẽ về niêm luật (vần, nhịp, đối )còn có sự quy định về số tiếng (5 hoặc 7 tiếng) và số câu: tứ tuyệt (4 câu) bát

cú (8 câu) và trờng thiên (trên 8 câu)

Khảo sát thơ tiếng Việt của Bác, ta thấy trong 89 bài, có 25 bài Bácviết theo thể Đờng luật, chiếm tỷ lệ 28,1%

Thất ngôn tứ tuyệt (còn gọi là thể tứ tuyệt hay tuyệt cú) đợc Bác sángtác khá nhiều

Sáng ra bờ suối, tối vào hang, Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng , Cuộc đời cách mạng thật là sang

(Tức cảnh Pác Bó)

Hay: Tiếng suối trong nh tiếng hát xa,

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya nh vẽ ngời cha ngủ, Cha ngủ vì lo nỗi nớc nhà.

(Cảnh khuya)

Trang 29

Hoặc: Sáu mơi tuổi hãy còn xuân chán,

So với ông Bành vẫn thiếu niên.

Ăn khoẻ, ngủ ngon, làm việc khoẻ, Trần mà nh thế kém gì tiên !

(Sáu mơi tuổi)Thơ tứ tuyệt của Bác có kết cấu, niệm luật chặt chẽ Tuy nhiên, có một

số bài Bác viết ra với cảm hứng dào dạt nên đã phá luật:

Non xa xa, nớc xa xa, Nào phải thênh thang mới gọi là.

Đây suối Lênin, kia núi Mác, Hai tay xây dựng một sơn hà.

(Pác Bó hùng vĩ)Thơ thất ngôn bát cú của Bác niêm luật chặt chẽ theo thể Đờng luật

(Tặng toàn quyền Đờ – cu) Hoặc: Quan san muôn dặm gặp nhau đây,

Mục đích chung là đuổi Nhật,Tây.

Dân bị hai tròng vào một cổ,

Ta liều trăm đắng với ngàn cay.

Già dù yếu sức mang mang nhẹ, Trẻ cố ra công gánh gánh đầy.

Non nớc của ta ta lấy lại, Nghìn thu sự nghiệp nổi từ đây

(Tặng cụ Đinh Chơng Dơng)

2.4 Thơ tự do

2.4.1 Một số đặc điểm của thơ tự do

Trang 30

Theo các nhà nghiên cứu, thơ tự do xuất hiện ở Việt Nam từ nhữngnăm 30 của thế kỷ XX, cùng với phong trào thơ mới ở Việt Nam, sau cáchmạng tháng Tám 1945, nhất là những năm đầu của cuộc kháng chiến chốngPháp, thơ tự do khá phát triển, trở thành một xu hớng mới, ngày càng đợckhẳng định.

Đặc điểm nổi bật của thơ tự do là nó không tuân theo những quy tắc

về cách luật (nh thơ Đờng luật, lục bát ) do đó, hình thức thơ tự do không

cố định số tiếng, số câu trong bài, mạch thơ có thể liên tục hoặc ngắtquãng

Ví dụ, trong bài “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngTiếng trúc tuyệt vời” , Thế Lữ đã dùng những câu thơdài ngắn khác nhau, tạo nên âm điệu, tiết tấu đậm chất vang ngân thoải máitrong việc thể hiện cảm xúc:

Tiếng dịch thổi đâu đây

Cờ sao mà réo rắt ?

Lơ lửng cao đa tận chân trời xanh ngắt Mây bay gió quyến mây bay

Tiếng vi vút nh khuyên van nh dìu dặt

Nh hắt hiu cùng hơi gió heo may

ánh chiều thu Lớt mặt hồ thu Sơng hồng lan nhẹ trên sóng biếc Rặng lau già xao xác tiếng reo khô

Nh khua động nỗi nhớ nhung thơng tiếc Trong lòng ngời đứng bên hồ

Trong bài thơ, yếu tố vần vẫn đợc thể hiện qua các câu, các khổ, có

tác dụng liên kết bài thơ Nhng dờng nh mạch thơ, hình ảnh thơ có sức liên

kết mạnh mẽ, hơi thơ phóng khoáng tự do hơn

Nh vậy, về mặt hình thức, thơ tự do vẫn có thể có vần, nhng nó khôngcòn trở thành một quy tắc chặt chẽ, mà nhịp điệu lại nổi lên nh một yếu tốchủ đạo Nhịp điệu ở đây không do các yếu tố cách luật xác định mà cấu tạo

nh thơ Đờng luật, thơ lục bát (nói chung là không xác định bởi những yếu

tố và nguyên tắc cụ thể) mà thờng do những quy tắc nội tại, thậm chí rất vô

Trang 31

Về nội dung, thơ tự do cũng nh các thể thơ khác, phản ánh những rung

động của tâm hồn về con ngời và cuộc đời với những hình ảnh cô đọng, chắtlọc tinh tế

Thơ tự do không đồng nghĩa với tuỳ tiện Xuân Diệu phát biểu: “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngTự do

là mình đặt cho mình một kỷ luật linh động, tuỳ theo mỗi trờng hợp, nhngluôn luôn có kỷ luật Muốn ca hát mà chẳng theo tiết tấu nhịp nhàng thì ainghe ? Làm thơ tự do tức là mỗi đề tài tự tạo ra một nhịp điệu riêng cho thíchhợp, cái điều ấy không đợc phiêu lu mà cần thiết Phải cao tay lắm mới saikhiến đợc thơ tự do Tự do không có nghĩa là muốn làm gì thì làm” (18; tr.408)

2.4.2 Thể thơ tự do trong thơ tiếng Việt Hồ Chí Minh

Một nhận xét thú vị là trong những bài thơ bằng tiếng Việt của Bác

Hồ, có đến hai phần năm số bài đợc viết theo thể tự do hoặc có khuynh hớng

tự do không theo niêm luật rõ ràng Điều này cũng khá dễ hiểu; bởi vì ngoàinhững bài thơ trữ tình, cảm tác, phần lớn những bài thơ của Bác đợc làm ra

là vì mục đích tuyên truyền cách mạng, chứ không bao giờ Bác nghĩ mình làmột nhà thơ, nh Bác đã từng nói Làm thơ tự do, hoặc theo khuynh hớng tự

do thì việc thể hiện t tởng, tình cảm cũng ít bị gò bó, lệ thuộc hơn so với cácthể thơ khác

Chúng ta hãy đọc bài “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngNhóm lửa” , Bác viết năm 1942 Đây là một bài

thơ có khuynh hớng tự do, trên cơ sở thơ dân tộc Toàn bài thơ viết theo nhịp3/2/2 là nhịp của câu 7 tiếng kiểu thơ song thất lục bát của chúng ta, chứkhông phải theo nhịp 2/2/3 của thơ Đờng luật:

Lúc leo lét /bắt đầu/ nhóm lửa Biết bao nhiêu/ là sự/ khó khăn ? Lửa cách mạng/sáng choang /bờ cõi Chiếu lên cờ/ độc lập/ tự do.

Với một nội dung sâu sắc, mang tính chất “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngtỉ dụ” , ngôn ngữ thơ ở đâythể hiện một sự gọt giũa, cô đúc Cách mô tả ngọn lửa từ khi mới nhen cho

đến khi “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngnung đỏ cả trời sáng toé” rất sinh động; nhờ dùng hàng loạt từ láy

(leo lét, đìu hiu, nghi ngút, ào ào ) và sử dụng trùng điệp về từ ngữ và âm

Trang 32

thanh (ví dụ: Gió càng cao, ngọn lửa càng cao ), cảnh vật cùng với âm

thanh hình ảnh nh tuần tự và dồn dập hiện ra trớc mắt ngời đọc

Bài thơ “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngHòn đá” , Bác viết năm 1942, đều bị lôi cuốn bởi nhịp điệucủa bài thơ Đó là một bài thơ 3 âm tiết rất khoẻ và trẻ Bài thơ chia ra làmnhiều khổ thơ, theo kiểu thơ hiện đại; ba khổ thơ đầu đợc viết theo tính chất

điệp khúc, tạo nên một âm hởng trùng điệp, mạnh mẽ Mỗi câu thơ 3 âm gợilên những tiếng trống giục nhịp 3, dồn dập, rộn rã

Hòn đá to, Hòn đá nặng , Chỉ một ngời, Nhắc không đặng.

Hòn đá nặng, Hòn đá bền, Chỉ một ngời, Nhắc không lên

Hòn đá to, Hòn đá nặng, Nhiều ngời nhắc, Nhắc lên đặng

Biết đồng sức, Biết đồng lòng, Việc gì khó, Làm cũng xong.

Đánh Pháp, Nhật, Giành tự do

Là việc khó,

Là việc to

Nếu chúng ta Biết đồng lòng, Thì việc đó Quyết thành công.

Một bài thơ tự do khác của Bác rất đáng chú ý là bài “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngQuân ta toànthắng ở Điện Biên Phủ” (1954) Đây là một bài thơ khá dài đợc chia ra làmnhiều khổ, mỗi khổ từ 6 đến 12 câu Bài thơ viết theo vần trắc, có âm điệukhoẻ khoắn, chắc nịch Nó mang một giọng điệu kể chuyện khẩn trơng, dồndập về những sự kiện có tính chất lịch sử đáng ghi nhớ Bài thơ chứa đựngnhiều từ chính trị, nhiều từ quân sự, nhiều tên riêng của nớc ngoài và trongnớc, những con số cụ thể làm cho tính chất “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngthời sự” của nó càng rõ néthơn Bên cạnh đó, bài thơ còn đợc viết với những từ ngữ gợi tả, theo cách nóicủa quần chúng nhân dân “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngchạy quýnh cẳng” thua “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngméo mặt” , nhiều câu thơ

đợc diễn đạt một cách tự nhiên thoải mái:

20 tháng 11 năm cũ, Giặc Pháp nhảy dù Điện Biên Phủ

Trang 33

Hăm mốt tiểu đoàn tinh nhuệ nhất,

Xe tăng, súng lớn đầy chồng chất

Chúng khoe rằng: Kế hoạch Na va Thật là mạnh dạn và tài hoa

Phen này Việt Minh phải biết tay, Quan thầy Mỹ thì vui lòng thay !

Các báo phản động khắp thế giới Inh ỏi tâng bốc Na-va tới

Đánh cho giặc tan mới hả dạ;

Lặng lẽ chuẩn bị suốt tháng ngày, Không quản gian khổ và đắng cay;

Quyết tâm làm cho tròn nhiệm vụ

Đã hứa với Bác, Đảng, Chính phủ.

13 tháng 3 ta tấn công, Giặc còn ở trong giấc mơ mòng:

“Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảng Mình có thầy Mỹ lo cung cấp, Máy bay cao cao, xe tăng thấp;

Lại có Na va cùng Cô- nhi, Những ngày tớng giỏi nắm chỉ huy.

Chúng mình chuyến này nhất định thắng, Việt Minh ắt thua chạy quýnh cẳng”

Trang 34

Giặc kéo từng loạt ra hàng ta.

Quân ta vui hát khải hoàn ca.

Mời ba quan năm đều hàng nốt, Tên tớng chỉ huy cũng bị nhốt.

Một vạn sáu ngàn tên giặc Tây

Đều là tù binh hoặc bỏ thây.

*

Thế là quân ta đã toàn thắng, Toàn thắng là vì rất cố gắng.

Chiến sĩ viết th lên Bác Hồ:

Xin Bác vui lòng mà nhận cho

“Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảng

Món quà chúc thọ sinh nhật Bác, Chúng cháu cố gắng đã sắm đợc ” Tóm lại, thơ tiếng Việt Hồ Chí Minh có nhiều loại khác nhau: lục bát,

Đờng luật, thơ tự do thơ lục bát, rất nhuần nhị tinh tế phổ biến nhất trongthơ Bác vẫn là thơ tự do Thơ tự do (dù có vần hay không vần) làm nên giọng

điệu, diện mạo của thơ Bác

3 Một số đặc điểm tổ chức vần, nhịp trong thơ tiếng Việt Hồ Chí Minh

3.1 Vần trong thơ Hồ Chí Minh

3.1.3 Vần là gì?

Đó là sự hoà âm, sự cộng hởng âm thanh giữa các đơn vị ngôn ngữ,trên những vị trí nhất định nhằm liên kết các vế tơng đơng: bớc thơ, dòngthơ, khổ thơ vần có tác dụng liên kết và tạo nên hiện tợng hoà âm

Khảo sát vần trong thơ tiếng Việt của Bác, có thể nêu ra một số điểmnổi bật sau đây:

3.1.2 Vần lng

Do sự phân biệt các thể thơ trong thơ tiếng Việt Hồ Chí Minh khá rõ,cho nên sự phân chia thành hai loại vần chân và vần lng cùng phụ thuộc vàokết cấu thể loại của các bài thơ có mặt trong tập thơ Trong các bài thơ làmtheo thể loại lục bát và song thất lục bát, vần lng chiếm số lợng lớn và hiệpvần theo những quy tắc truyền thống

Ví dụ:

Trang 35

Bắc Nam nh cội với cành Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng Rồi đây thống nhất thành công Bắc Nam ta lại vui trong một nhà.

Mấy lời thân ái nôm na Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân.

(Thơ chúc tết 1964) “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngCành” hiệp vần với “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngtranh” , “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngcông” hiệp vần với “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngtrong” , “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngna” hiệp vần với “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảnglà” đều là những cặp vần lng theo thể lục bát

Nếu ai muốn đến dành đất Việt

Đa dân ta ra giết sạch trơn Một ngời Việt hãy đơng còn Thì non sông Việt vẫn non sông nhà.

“Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngthay” hiệp vần với “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngnày” trong bài thơ “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngGửi các cháu nhi đồng nhân dịp tếtTrung thu 1953” :

Các cháu vui thay ! Bác cũng vui thay ! Thu sau so với thu này vui hơn

Hoặc là giữa câu thơ với nhau:

Đảng ta vĩ đại nh biển rộng, nh núi cao,

Ba mơi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình

Qua khảo sát 89 bài thơ tiếng Việt của Bác, chúng tôi thấy có 421 cặpvần lng

3.1.3 Vần chân

Trang 36

Trong thơ tiếng Việt của Bác có nhiều kiểu vần chân:

Đó là vần chân kiểu lục bát:

Cảm ơn bà biếu gói cam, Nhận thì không đúng, từ làm sao đây!

ăn quả nhớ kẻ trồng cây, Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai ?

(Cảm ơn ngời tặng cam)

Đó là vần chân kiểu song thất lục bát:

Đế quốc Pháp thật là ác nghiệt

Làm dân ta nh điếc nh mù, Làm ta dở dại dở ngu, Biết gì việc nớc biết đâu việc đời.

(Khuyên đồng bào mua báo “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngViệt Nam độc lập”

Đều là lũ ra tay phá hoại,

Hở một chút tức là thất bại.

(Nhóm lửa)

Đó là vần cách :

Năm Dần, mừng xuân thế giới Cả năm châu phấp phới cờ hồng Chúc miền Bắc thi đua phấn khởi, Bốn mùa hoa Duyên Hải, Đại Phong.

Chúc miền Nam đấu tranh tiến tới, Sức triệu ngời hơn sóng biển Đông Chủ nghĩa xã hội càng thắng lợi, Hoà bình thống nhất quyết thành công.

(Thơ chúc tết 1962)

Trang 37

Qua khảo sát 89 bài thơ tiếng Việt của Bác, chúng tôi thấy có 115 cặpvần là loạt vần chân.

Nh vậy, qua sự khảo sát trên, chúng tôi có kết qủa nh sau:

Trong thơ tiếng Việt của Bác có 421 cặp vần và loạt vần lng, 115 cặpvần và loạt vần chân.Vần lng chiếm tỉ lệ rất lớn, khoảng gấp 3 lần vần chân.Trong vần chân, vần liền là nhiều nhất

Loại vần Số lợng Tỉ lệ

3.1.4 Vần chính

Qua sự khảo sát phần thơ tiếng Việt của Bác, chúng tôi thấy kết quả

nh sau: Trong 89 bài có tất cả 536 cặp vần và loạt vần thì trong đó có 417cặp vần và loạt vần chính, chiếm tỉ lệ 77,8%

- Không có việc gì khó, Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên.

(Khuyên thanh niên)

- Năm qua thắng lợi vẻ vang Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to

(Thơ chúc tết 1969)

- Sáu mơi tuổi vẫn còn xuân chán,

So với ông Bành vẫn thiếu niên

Ăn khoẻ, ngủ ngon, làm việc khoẻ Trần mà nh thế kém gì tiên ?

(Sáu mơi tuổi)

Trang 38

Quyết thành công

(Hòn đá)Hoặc:

Chung quanh lạnh ngắt một màu, Hoa chen lá phủ, trên đầu bóng cây, Chim từng lũ, thú từng bầy,

Thú kêu inh ỏi chim bay là là 3.1.6 Vần ép

Là loại vần mà âm chính không có quan hệ âm vị học, âm cuối đồngnhất hoặc cùng nhóm, thanh điệu giống nhau hoặc cùng âm điệu Ngoài ra,

có thể coi là vần ép ở trờng hợp thanh điệu không cùng nhóm khi âm chính

và âm cuối đồng nhất về mặt ngữ âm

Qua khảo sát thơ tiếng Việt của Bác, Chúng tôi có đợc 23 cặp vần vàloạt vần ép, chiếm tỉ lệ 4,29% Trong đó có 21 cặp vần ép trong vần lng và

2 loạt vần ép trong vần chân

Nh vậy, vần ép trong thơ tiếng Việt của Bác có nhiều trong vần lng

Ví dụ: - Mời ba tỉnh ấy Trung Châu

Loại vần Số lợng Tỉ lệ

3.1.7 Giá trị biểu cảm của vần trong thơ tiếng Việt Hồ Chí Minh

Âm thanh là hình tợng vật chất trong sự biểu đạt của ngôn ngữ, nókhông chỉ là cái vỏ của t duy mà nhiều nơi, nhiều lúc còn có khả năng biểucảm Âm thanh tự trong bản thân nó chẳng có ý nghĩa gì nhng trong thơ ca

Trang 39

cũng nh trong lời nói nếu biết vận dụng những yếu tố ngữ âm theo nhữngcách nào đó sẽ làm tăng thêm sức biểu đạt Khi tiếng nói nội tâm ra đời thìtiếng nói âm nhạc trong âm thanh cũng xuất hiện để đệm cho ca khúc nộitâm ấy Những lời nói vần vè, có nhịp, có phách, thói quen ngâm thơ và đọcdiễn cảm có từ lâu đời trong sinh hoạt văn hoá dân gian của dân tộc Điềunày chứng tỏ ngời Việt rất có ý thức trong khả năng biểu cảm của thứ ngônngữ đa âm, đa thanh của mình Quan hệ giữa nội dung và hình thức âm thanhcủa từ ngữ là ngẫu nhiên, võ đoán nhng chỗ nào cao tay của ngời sử dụngngôn ngữ chính là việc làm của cái ngẫu nhiên này

Vần thơ cũng là một cách vận dụng và tổ chức âm thanh trong thơ.Coi trọng giá trị của vần trong biểu đạt ý nghĩa là cố gắng tìm những đặc

điểm của cấu âm, của vần, để tạo nên một sự phù hợp, một sự gần gũi nào

đấy với nội dung biểu đạt Sự phù hợp này chỉ là tơng đối, quy ớc và chỉ xétriêng về một phơng diện âm thanh và vần của thơ không phải là bản thân sựvật Giá trị biểu cảm của vần chỉ giới hạn trong vai trò của một yếu tố hìnhthức, nhằm biểu đạt nội dung trong sự thống nhất giữa hình thức và nộidung

Vần trong thơ tiếng Việt của Bác đợc tổ chức theo đúng nguyên tắchài hoà về ngữ âm và kết cấu thể loại, nó có một vai trò to lớn trong việcbiểu đạt ý nghĩa Sự biểu hiện nội dung bao giờ cũng cần đến vần và là lý dochính đáng cho vần tồn tại Trong thơ tiếng Việt của Bác, yếu tố đó vẫn đợcphát huy vai trò tới mức cao Khi vần đợc gieo vào những vị trí thích hợp vàthông thờng những từ mang lợng thông tin cao của câu thơ, bài thơ thì dờng

nh sức mạnh của câu thơ, bài thơ đã dồn vào đấy, và vần chính là một cách

để nhấn mạnh ý của mình

Ví dụ:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua Thắng trận tin vui khắp nớc nhà Nam Bắc thi đua, đánh giặc Mỹ Tiến lên !

Toàn thắng ắt về ta!

(Thơ chúc tết 1968)

Trang 40

Đọc bốn câu thơ ta nghe nh một khúc ca khải hoàn chiến thắng vangvọng cả non sông, thúc dục lòng ngời cùng tiến lên Nó nh là tiếng nói cứunớc thiêng liêng của tổ tiên, có lời khẳng định quyết tâm sắt đá, có nhịp sống

và chiến thắng khẩn trơng của toàn dân tộc Câu thơ phơi phới một niềm tinlạc quan cách mạng Có đợc những điều ấy là có vai trò ở cách gieo vần củaBác qua cảm hứng của mấy chữ “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngqua” , “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngnhà” , “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngta” Vần “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảnga” trong tiếng Việt

có độ mở rộng, tạo cảm giác vang xa, rộng lớn, âm hởng ngân nga, sảngkhoái

Trong thơ tiếng Việt của Bác, có rất nhiều bài Bác sử dụng vần “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảnga” nhthế Trong các bài thơ xuân, thơ chúc tết của Bác bao giờ Bác cũng đa ta vàomột không khí của chiến thắng, của niềm tin, niềm lạc quan cách mạng

Với bài Thơ chúc tết 1949, bằng cách hiệp vần trùng lặp, Bác đã gợilên một không khí rộn rã, tng bừng đầy khẩn trơng, lạc quan của ngày hộikháng chiến :

Ngời ngời thi đua, Ngành ngành thi đua, Ngày ngày thi đua,

Nhớ thơng các cháu vô cùng, Mong sao mỗi cháu là một anh hùng thiếu nhi.

(Gửi các cháu miền Nam)Tuy nhiên, không phải bao giờ Bác cũng quá câu nệ vào nguyên tắctruyền thống Do yêu cầu thể hiện đúng điều mình muốn nói nên vần thơ củaBác có khi đợc tổ chức rất linh hoạt Chẳng hạn “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngchâu” hiệp vần với “Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảngdu” trong câu:

Mời ba tỉnh ấy Trung Châu

Ngày đăng: 19/12/2013, 13:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Qua khảo sát vần trong thơ tiếng Việt của Bác, chúng tôi có bảng sau: - Một số đặc điểm ngôn ngữ về mảng tho sáng tác bằng tiếng việt của hồ chí minh
ua khảo sát vần trong thơ tiếng Việt của Bác, chúng tôi có bảng sau: (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w