1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ kiểu nói lối yên huy (can lộc, hà tĩnh)

107 1,3K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm ngôn ngữ kiểu nói lối Yên Huy (Can Lộc, Hà Tĩnh)
Tác giả Nguyễn Xuân Anh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 522,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinh

- -Nguyễn xuân anh

đặc điểm ngôn ngữ kiểu nói lối yên huy

(Can lộc, hà tĩnh)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.01

Tóm tắt Luận văn thạc sĩ ngữ văn

Vinh - 2009

Trang 2

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày là thứ ngôn ngữ sinh động, thểhiện hồn nhiên mọi t tởng, tình cảm của con ngời trong mọi mặt của cuộcsống ở mọi làng quê thôn bản Việt Nam, từ ngàn xa đã có và hiện vẫn đangtồn tại nhiều sáng tác vần điệu dân gian (thơ ca, hò vè), nhiều câu chuyện cổ(chuyện cổ tích, tiếu lâm, ngụ ngôn), nhiều lối nói độc đáo (nói tục, nóitrạng, nói lối) Đó là những vốn quý cần đợc tiếp tục su tầm, tìm hiểu, giớithiệu để chúng không mai một theo thời gian, để chúng trở thành tài sản vănhoá tinh thần đồng hành cùng hiện tại và góp phần hữu hiệu xây dựng tơnglai bền vững, tốt đẹp

1.2 Trên đất nớc ta có rất nhiều kiểu giao tiếp sử dụng ngôn ngữ độc đáo,nổi danh ở ngoài miền Bắc, huyện Tam Nông nay là huyện Tam Thanh, tỉnhVĩnh Phúc có làng Văn Lang nổi tiếng với những câu chuyện cời rất thú vị.Vào Thừa Thiên - Huế có làng trạng Huỳnh Công Tây, thuộc xã Vĩnh Tú,huyện Vĩnh Linh ở miền Trung trung bộ, ngời Quảng Nam cũng đợc mệnhdanh là ngời hay cời nhng là tiếng cời thâm trầm sâu sắc… Xứ Nghệ cũng rấtnhiều vùng, nhiều làng xã quen nói trạng, tạo nên một phong cách nói trạng:Trạng xứ Nghệ Đi vào nghiên cứu nói lối Yên Huy (NLYH), chúng tôi thấy,

đây là một kiểu giao tiếp ngôn ngữ mang tính đặc thù, tiêu biểu cho cách nóitrạng xứ Nghệ

1.3 Nói lối ở vùng Yên Huy (thuộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), đã có

từ rất lâu, đã thành một hiện tợng tự nhiên, quen thuộc, phổ biến Đến vùngquê này ta bắt gặp ngời già hay trẻ nhỏ, nam hay nữ ai ai cũng có khả năngnói lối và nói lối ở mọi lúc mọi nơi Có nhiều ngời nói lối rất giỏi, rất tựnhiên; nhiều câu chuyện nói lối tuy ngắn gọn nhng rất thú vị, sâu sắc Về mặtngôn ngữ, nói lối gợi ra nhiều điều cần tìm hiểu về khả năng vận dụng, khaithác các yếu tố ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp; về mặt văn hoá, nói lối cũng

Trang 3

chứa đựng nhiều mặt cần đợc nghiên cứu về phong tục, thói quen sinh hoạttrong văn hoá giao tiếp ở làng quê Việt Nam

Từ năm 1948, báo cáo “Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hoá Việt Nam”

đã nêu rõ: “Bên cạnh văn hoá chính thống của các thời đại, có cả một nền vănhoá nhân dân còn lu lại ở phơng ngôn, ngạn ngữ, ca dao, cổ tích, tranh gàlợn…Văn hoá này tả sự phấn đấu của ngời sản xuất (làm ruộng, làm thợ),lòng mong mỏi hay chí phản kháng của dân, chế giễu mê tín hủ tục haykhuyên răn điều thiện Đó là một kho tàng rất quý mà các nhà văn hoá, sửhọc và khảo cổ nớc ta còn phải dày công tìm bới mới hiểu hết đợc” (9;tr.128) Việc su tầm, tìm hiểu nói lối là cần thiết, phù hợp với chủ trơng bảotồn vốn văn hoá dân gian, văn hoá truyền thống của dân tộc

Trên đây là những lí do chính để chúng tôi thực hiện đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ kiểu nói lối Yên Huy (Can Lộc, Hà Tĩnh)”.

2 Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ của đề tài

2.1 Phạm vi của đề tài

Đề tài này tập trung vào nghiên cứu NLYH dựa vào nguồn t liệu thuthập đợc từ địa phơng Mỗi mẩu chuyện đều đợc ngời dân thuật lại, kể lại vàchúng tôi ghi gần nh là trung thành, sát với cách nói (phát âm, từ ngữ) củangời kể Bên cạnh từ địa phơng xuất hiện trong văn bản, chúng tôi chú từtoàn dân bên cạnh để ngời ở các vùng khác dễ hiểu

2.2 Mục đích

Nghiên cứu đề tài này, luận văn nhằm tìm hiểu một số đặc trng ngôn ngữthể hiện trong cách nói lối Yên Huy, làm rõ sự hoạt động của phơng ngữNghệ Tĩnh, qua đó góp phần nghiên cứu đặc trng ngôn ngữ trong giao tiếp

2.3 Nhiệm vụ

- Su tầm t liệu về nói lối Yên Huy

- Phân loại các t liệu

- Miêu tả, tổng hợp các phơng thức, cách thức tổ chức ngôn ngữ, kháiquát bằng các mô hình trong kiểu nói lối Yên Huy

Trang 4

- So sánh giữa nói lối Yên Huy với truyện trạng, truyện vui ở các vùngkhác nh truyện Trạng Quỳnh, truyện cời

3 Phơng pháp nghiên cứu:

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng nhiều phơng pháp

độc lập hoặc phối hợp chúng lại để triển khai các luận điểm trong đề tài Cácphơng pháp chủ yếu là:

3.1 Phơng pháp su tầm, thống kê, phân loại

Chúng tôi đã tiến hành su tầm tại địa phơng những mẩu chuyện nói lốihàng ngày, ghi chép lại Sau đó, kết hợp với các mẩu chuyện đã đợc công bố,chúng tôi tập hợp chúng lại, tiến hành phân loại theo từng tiêu chí nhất định

Trong giao tiếp hàng ngày, ngời ta không chỉ dùng ngôn ngữ để truyền

đạt thông tin mà còn dùng để giải trí, vui đùa, giao đãi với nhau Cuộc sốngluôn có tiếng cời Trong văn học dân gian, có một bộ phận phản ánh hoạt

động giao tiếp ấy, chính là tiếng cời dân gian, tập hợp lại thành truyện dângian, gọi bằng nhiều tên: truyện cời, truyện tiếu lâm, truyện hài, truyện trạng,trào phúng…

Đã có một số công trình su tầm, giới thiệu hay nghiên cứu về truyện cờitrên thế giới cũng nh ở Việt Nam

Riêng ở nớc ta, việc su tầm truyện cời đã có từ lâu, nhiều tác giả đã cócông trong việc tập hợp tiếng cời dân gian thành những quyển sách dày dặn,công phu Có thể kể những quyển sách su tầm tiêu biểu nh: Truyện khôi hài

(Trơng Vĩnh Ký, Sài Gòn- 1882), Chuyện giải buồn (Huỳnh Tịnh Của, Sài

Trang 5

Gòn- 1904), Khôi hài thú vị (Trần Văn Tý, Sài Gòn- 1916), Để mua vui

(Nguyễn Ôn Nh, Hà Nội-1929), Tiếu lâm Việt Nam (Nguyễn Hồng Phong,

Từ những t liệu có đợc, chúng tôi chỉ xin điểm qua một số tác giả bàn

về truyện cời, những lời bàn đó ít nhiều có liên quan đến đề tài mà chúng tôi

đang tìm hiểu, qua đó thấy đợc kết quả của việc tìm hiểu truyện cời và một sốcách đánh giá về loại này trong giới nghiên cứu, qua đó góp phần định hớngcách phân tích lí giải hình thức nói lối mà chúng tôi đang xem xét…

- Tác giả Trơng Chính và Phong Châu cho rằng, tiếng cời dân gian cóhai loại: loại tiếng cời phê phán và loại tiếng cời hài hớc Truyện hài hớc th-ờng khai thác những hiện tợng trái tự nhiên, biểu hiện qua một lời nói, mộthành động hay một hoàn cảnh Các truyện cời đều sử dụng hai biện pháp gâycời cơ bản là phóng đại và kịch tính Về hình thức, có loại truyện cời dài, cónhân vật, có cốt truyện, có loại truyện cời ngắn, đơn giản (7, tr 20-29)

- Nguyễn Tuân đánh giá về truyện tiếu lâm: Truyện tiếu lâm nào củaViệt Nam “cũng đợm một tiếng cời, mỗi truyện một vẻ cời, ở truyện này thìtiếng cời bật lò xo mà tung lên, ở truyện kia thì tiếng cời nh cốt mìn nổchậm…Tìm thấy ở truyện tiếu lâm một khoé cời, một nét cời, một khía cạnhcủa cái cời nhiều tính vệ sinh và vui sống Nhng theo tôi nghĩ, còn tìm thấy ởtiếu lâm một cái gì có tính chất kỹ thuật và nghệ thuật viết truyện ngắn thậtngắn nữa Nhiều truyện tiếu lâm ngắn không tới mời dòng…Sê-khốp nổi tiếngvì những truyện ngắn hóm hỉnh viết rất ngắn Nhng nói chung, so với truyệnvui tiếu lâm thì Sê-khốp vẫn cứ là ngời dài dòng về truyện ngắn.” (30; tr 87)

Trang 6

- Một số luận văn cũng đề cập đến truyện cời, nh Nguyễn Thị Thântìm hiểu phơng thức gây cời trong truyện cời Việt Nam (1998), Phan Thị VânAnh so sánh các cách sử dụng từ ngữ, các kiểu gây cời trong tiếng Anh vàtiếng Việt (2007), Nguyễn Thị Thu Hơng khảo sát hiện tợng chơi chữ trongtruyện dân gian xứ Nghệ (2007)…

- Về nói lối ở vùng Yên Huy: đây là một kiểu nói khá phổ biến ở vùng

Yên Huy thuộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh; đó là các mẩu chuyện có phayếu tố gây cời trong giao tiếp hàng ngày Gần đây, các tác giả Phan Th Hiền

- Tạ Kim Khánh đã su tầm, giới thiệu các mẩu chuyện về nói lối tập hợptrong cuốn " Nói lối Yên Huy" (NXB Văn hoá Dân tộc, 2006) Cuốn sách đã

su tầm đợc 95 mẩu chuyện nói lối và 112 chuyện đợc ngời dân Yên Huytruyền kể (có thể có những chuyện không phải của ngời Yên Huy) Đây là sự

cố gắng đáng trân trọng của hai tác giả nữ Có thể nói, những mẩu chuyệnnói lối tiêu biểu đã đợc đa vào giới thiệu trong cuốn sách Chỉ tiếc rằng, khivăn bản hoá các mẩu chuyện nói lối các tác giả đã phổ thông hoá từ ngữ nênkhi đọc giảm sự thú vị đi nhiều so với khi đợc nghe trực tiếp ngời Yên Huy

kể Mặt khác, đây là một cuốn sách dừng lại ở mục đích su tầm, giới thiệuchứ cha phải là công trình nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm ngôn ngữ kiểuNLYH

5 Dự kiến đóng góp của đề tài

- Qua đề tài này, luận văn khảo sát kĩ và hệ thống kiểu NLYH, nêu vàphân tích các phơng thức sử dụng ngôn ngữ nói lối, giải thích rõ căn nguyêncủa kiểu nói lối, qua đó góp phần nghiên cứu phơng ngữ, thổ ngữ, tìm hiểucác sinh hoạt văn hoá thể hiện trong giao tiếp của nhân dân

- Ngoài ra, bằng việc su tầm nguồn t liệu mới, luận văn góp phần làm rõ

sự hành chức của ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp hàng ngày của mộtvùng quê rất giàu truyền thống cách mạng, văn hoá và nhân văn

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, luận văn có các nội dungchính nh sau:

Trang 7

Chơng 1: Những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài

Chơng 2: Một số đặc điểm từ vựng và ngữ pháp trong Nói lối Yên Huy Chơng 3: Một số cách thức tổ chứcngôn ngữ trong kiểu Nói lối Yên Huy

Chơng1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

1.Văn hoá, ngôn ngữ và sự thể hiện của ngôn ngữ và

văn hoá trong giao tiếp

Trang 8

1.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá

a) Văn hoá là gì?

Đề tài của chúng tôi tìm hiểu về nói lối Yên Huy là tìm hiểu mộthình thức sinh hoạt văn hoá, và cũng là một hiện tợng văn hoá Nói đến vănhoá, đến nay đã có trên 300 định nghĩa, trong đó, các định nghĩa tuy diễn đạtkhác nhau, quan niệm rộng hẹp khác nhau nhng đều nhấn mạnh đến văn hoá

là hiện tợng xã hội, một sinh hoạt xã hội

Ông Đào Duy Anh cho rằng: “Hai tiếng văn hoá chẳng qua là chỉchung tất cả các phơng diện sinh hoạt của loài ngời cho nên ta có thể nóirằng: Văn hoá tức là sinh hoạt” (1, tr.13) Vì lẽ gì mà văn hoá các dân tộckhác nhau? Ông cho rằng: vì cách sinh hoạt của các dân tộc không giốngnhau Các dân tộc sinh hoạt khác nhau vì điều kiện tự nhiên về địa lí của cácdân tộc khác nhau

Định nghĩa của UNESCO cũng nói đến văn hoá là lối sống, tập tục:

“Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chơng, những lối sống, những quyền cơbản của con ngời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngỡng…”(32,tr 24) Theo UNESCO, văn hoá đợc chia ra làm 2 nhóm: “văn hoá vật thể

và văn hoá phi vật thể” Những công trình kiến trúc nh đền chùa, nhà cửa,những tác phẩm điêu khắc, là văn hoá vật thể Còn những làn điệu dân ca

nh ca trù, Quan họ Bắc Ninh, truyện kể dân gian, ngôn ngữ thuộc văn hoáphi vật thể

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nêu lên những biểu hiện của văn hoáliên quan đến sinh hoạt của con ngời: “Vì lẽ sinh tồn cũng nh mục đích củacuộc sống, loài ngời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo

đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ chosinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phơng thức sử dụng Toàn bộ nhữngsáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá” (32,tr.21)

b) Ngôn ngữ

Ngôn ngữ là sản phẩm của con ngời, là một thành tố của văn hoá Suycho cùng, mọi sinh hoạt xã hội, rộng hơn là mọi hiện tợng diễn ra trong xã

Trang 9

hội, những sáng tạo và phát minh, các giá trị mà con ngời có đợc trong cuộcsống, đều liên quan đến ngôn ngữ "Ngôn ngữ là một hệ thống những đơn vịvật chất phục vụ cho việc giao tiếp của con ngời và đợc phản ánh trong ý thứccủa tập thể một cách độc lập với ý tởng, tình cảm và nguyện vọng cụ thể củacon ngời, cũng nh trừu tợng hoá khỏi những t tởng, tình cảm và nguyện vọng

đó" (13,tr.311) Ngôn ngữ vừa là công cụ giao tiếp vừa là công cụ để t duy.Chỉ có con ngời mới có ngôn ngữ Con vật dù khôn đến đâu, dù có thể bắt ch-

ớc tiếng nói của con ngời (nh con vẹt, chẳng hạn) thì cũng không thể chorằng chúng có ngôn ngữ Trong quá trình lao động con ngời đã sáng tạo nênngôn ngữ và nhờ có ngôn ngữ, hoạt động giao tiếp diễn ra vô cùng thuận lợi,

t duy của con ngời ngày càng phát triển hoàn thiện

1.2 Sự thể hiện văn hoá qua ngôn ngữ trong giao tiếp

a) Vai trò của ngôn ngữ đối với văn hoá

Nh trên đã nói, ngôn ngữ là một thành tố quan trọng nhất của văn hoá.Bởi vì ngôn ngữ không chỉ biểu thị văn hoá mà nó còn có chức năng giao tiếp

và t duy, và với hai chức năng cơ bản đó, mọi sản phẩm tinh thần và vật chấtcủa loài ngời mới đợc hình thành và phát triển ngày một hoàn thiện Nh vậy,ngôn ngữ là yếu tố song hành với văn hoá, là yếu tố hình thức, chất liệu; vănhoá là nội dung Ngôn ngữ không tồn tại ngoài văn hoá, ngôn ngữ là điềukiện thiết yếu cho phát triển văn hoá

Ngôn ngữ có vai trò lu giữ và bảo tồn văn hoá, ngôn ngữ là địa chỉ củavăn hoá Những tri thức, tình cảm… đã đọng lại trong ngôn ngữ qua những lờihát ru, những câu thơ, những câu chuyện Ví dụ, khi ta đọc một câu tục ngữhay một bài ca dao, qua từ ngữ ta hiểu đợc trí tuệ, tâm hồn của ngời bình dân

xa Chẳng hạn, đây là kinh nghiệm thời vụ, thời tiết trong sản xuất lúa nớc:

Lúa chiêm lấp ló đầu bờ

Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.

Còn đây là câu ca dao thể hiện nỗi nhớ nhung của ngời con gái trong tình yêu:

Thuyền về có nhớ bến chăng

Trang 10

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

Ngôn ngữ có vai trò sáng tạo, phát triển văn hoá Điều này đợc thể hiện ởchỗ ngôn ngữ là chất liệu để tạo nên tác phẩm văn học; nhờ có ngôn ngữ mànhững biến thái tinh vi của con ngời đợc thể hiện Trong mọi thời đại, ngônngữ tham gia đắc lực vào hoạt động và phát triển các mặt khác, nh kinh tế,chính trị, ngoại giao…

b) Vai trò của văn hoá đối với ngôn ngữ

Văn hoá là sinh hoạt, là đời sống xã hội, khi nó đợc thể hiện qua ngônngữ, chính là nó làm nên “cuộc sống trong ngôn ngữ’, làm cho ngôn ngữ cónhững giá trị nhất định Chẳng hạn, trong tiếng Việt của chúng ta, hệ thốngdanh từ thân tộc: anh, em, chú, bác, cô, dì…đợc dùng để xng hô hàng ngàytrong các quan hệ xã hội thể hiện sự thân tình, gần gũi, sự thể hiện cách ứng

xử văn hoá trọng tình của ngời Việt Nam Bởi thế, ngời dân bình thờng cũnggọi lãnh tụ của mình là Bác Nhà thơ Tố Hữu có câu thơ viết về Chủ tịch HồChí Minh cũng thể hiện cách xng hô thân tình nh thế:

Ngời là Cha, là Bác, là Anh Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ (Sáng tháng năm)

Văn hoá làm cho ngôn ngữ mang tính biểu trng, đa nghĩa Ví dụ, trongứng xử văn hoá của con ngời Việt Nam chúng ta có lòng biết ơn quá khứ, ng-

ời có công, ngời bề trên Truyền thống văn hoá này đi vào ngôn ngữ đợc đúckết thành những câu tục ngữ nh:

Trang 11

đối tợng nghiên cứu khác nhau nhng có mối quan hệ khăng khít, qua lại lẫnnhau Trên đây chỉ điểm qua mối quan hệ này để nói rằng, việc tìm hiểu vănhoá thì không thể không nói đến vai trò của ngôn ngữ, và ngợc lại, khi tìmhiểu ngôn ngữ thì một phơng diện không thể không đề cập đến là khía cạnhvăn hoá của nó.“ Ngôn ngữ vừa là điều kiện tồn tại vừa là sản phẩm văn hoánhân loại bởi vậy, trong mọi nghiên cứu về ngôn ngữ nhất thiết phải coi vănhoá là đối tợng của mình” (Vinocua).

c) Giao tiếp và tiếng cời trong dân gian

Con ngời sống thành tổ chức cộng đồng, tạo thành xã hội Xã hội khôngtách rời hoạt động giao tiếp Ngôn ngữ không phải là phơng tiện giao tiếpduy nhất nhng là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ngời Khi có tổchức xã hội và giao tiếp, văn hoá ra đời; văn hoá nảy sinh trong lòng xã hội,liên quan đến tất cả những cái gì thuộc về con ngời

Giao tiếp, nh nhiều định nghĩa xác định, “là sự trao đổi thông tin giữa cácthành viên trong xã hội nhằm mục đích nhất định” (4, tr.9) Hình thức giao tiếprất đa dạng (nói/viết), ở mọi lúc mọi nơi, các nội dung và mục đích giao tiếp cũng

đa dạng, phong phú nh chính bản thân đời sống con ngời

ở đây chúng tôi quan tâm đến giao tiếp trong cộng đồng, giao tiếp

đời thờng Đó là những khi tề tựu trong làng xóm, bên giếng nớc cây đa, khigặp nhau trên đờng hay lao động cấy cày gieo vãi… Mọi ngời trao đổi nhữngthông tin thông thờng, là những lời hỏi thăm, chúc mừng, tâm sự, đùa vui,giải trí, tóm lại là đủ mọi chuyện lớn nhỏ… Có lẽ văn học dân gian ra đời từnhững sinh hoạt giao tiếp tự nhiên và hồn nhiên nh thế Trong văn học dângian, có một bộ phận khá lớn lấy tiếng cời làm phơng tiện (đợc gọi bằngnhiều tên: truyện cời dân gian, truyện trào phúng, truyện tiếu lâm, truyệntrạng…); điều đó cũng dễ hiểu: nhân dân ta vốn lạc quan, yêu đời, có tính hàihớc một cách tự nhiên Giao tiếp có tính hài hớc làm cho hiệu quả lời nóităng lên, cuộc sống giảm những căng thẳng và trở nên thi vị hơn Tính hài h-

ớc không chỉ biểu thị sự lạc quan yêu đời mà còn thể hiện sự thông minh, tàiứng đối trong lời nói… Tính hài hớc, tiếng cời là một phần của giao tiếp; khi

Trang 12

trở thành một bộ phận của văn học dân gian, nó tạo thành một nét đặc trngcủa văn hoá dân gian.

2 Các khái niệm: Truyện tiếu lâm, truyện trạng, nóilối và mối quan hệ giữa các khái niệm

2.1 Truyện tiếu lâm

Truyện tiếu lâm thuộc loại truyện cời dân gian Tiếu lâm nghĩa chiết tự làrừng cời “Truyện tiếu lâm là một trong những thể loại tự sự tiêu biểu chodòng văn hài hớc dân gian bao hàm những loại truyện khác nhau về tính chấtcủa đối tợng phản ánh và do đó cả về tính chất hài hớc ở truyện cời dân gianViệt Nam, đó là các loại truyện khôi hài và truyện trào phúng Trong truyệnkhôi hài, cái hài hớc nằm trong những hiện tợng trái tự nhiên… Trong loạitruyện trào phúng, cái hài hớc nằm trong những con ngời có thói xấu đi ngợclại những quan điểm đạo đức xã hội của nhân dân nh thói lời biếng, xu nịnh,hách dịch v.v…” (9, tr 454)

Truyện tiếu lâm thể hiện trí thông minh, tinh thần lạc quan của quầnchúng nhân dân lao động Thông qua tiếng cời, tác giả dân gian muốn phêphán những thói h tật xấu trong nội bộ của mình (trào phúng bạn) và làm vũkhí sắc bén đấu tranh giai cấp (trào phúng thù)

2.2 Truyện trạng

Truyện trạng là những câu chuyện vui nhằm mục đích gây cời thoảimái để làm vơi bớt những cực nhọc trong đời sống, trong lao động sản xuấtcủa nhân dân Tiếng cời ở những câu chuyện trạng hồn nhiên, vô t đợc tạo ra

từ những sự "khoác lác" của những ngời có tài "bịa" chuyện, kể chuyện TheoTrơng Chính và Phong Châu, “Truyện cời sử dụng hai biện pháp cơ bản là:phóng đại và kịch tính” (8,tr.26) Phóng đại ở đây là phóng đại sự việc, tâm

lí, tâm trạng, thói h tật xấu của nhân vật, làm cho nội dung và hình thức mâuthuẫn, trở nên kì dị; sự kì dị đó làm cho ngời ta bật cời ăn hối lộ chỉ đếnmức nhận lễ của ngời đem đến thì không gây cời, phải đẩy lên tham đến mứcmuốn ngời ta lễ trâu vàng, trâu bạc (Cứ bảo tuổi tí có đợc không); keo kiệt

Trang 13

đến mức không dám ăn tiêu cha đủ gây cời, mà phải là đến lúc rơi xuống nớcvẫn còn tiếc tiền (Ba quan đắt quá, thà chết còn hơn)… Còn kịch tính là sựthay đổi đột ngột của hoàn cảnh, tạo ra sự bất ngờ, bất ngờ nhng lại hợp lí,nhng lại không đoán trớc đợc, từ đó tiếng cời bật lên Ví dụ chuyện Bố mày,

đã chết với tao cha? Anh nọ lên kêu với quan huyện về chuyện con ruồi nó

làm uế tạp mâm cơm cúng ông bà và đợc quan xử cứ thấy ruồi ở đâu là đánhcho chết Bỗng một con ruồi đậu trên má quan (hoàn cảnh), thế là anh tamắm môi giang tay bốp vào mặt quan và chửi (kịch tính nhng hợp lí vì quancho phép): Bố mày, đã chết với tao cha?

Truyện trạng cũng có loại giống truyện trào phúng, vừa cời vừa phê phán(nh Truyện Trạng Lợn, Truyện Trạng Quỳnh, Truyện Xiển Ngộ) Nhng cóloại truyện trạng là nói cho vui Tiếng cời trong truyện trạng loại này khôngnhằm mục đích phê phán những thói h tật xấu trong nội bộ hay để đấu tranhgiai cấp nh trong truyện tiếu lâm mà cốt để cho cuộc sống lao động đỡ căngthẳng, mệt nhọc, nh ngày nay gọi là giảm tress

Ví dụ: Câu chuyện trạng “ Con ếch” của làng cời Văn Lang (Tam Thanh,Vĩnh Phú), sau đây: Trong đêm nọ tớ đốt đuốc đi soi ếch, chỉ bắt đợc một con nhỏ bằng quả cau Vứt cũng uổng, bèn cột nó vào cối xay đổ đầy thóc rồi đi ngủ Ai ngờ chú ếch nhảy mạnh quá khiến cối quay theo, quay mãi, quay hết cả cối thóc cứ nh ngời xay vậy ! Thức giấc thấy mừng quá, tớ đi bắt thêm vài con nữa để về làm giúp chuyện nhà…(24, tr 14).

2.3 Nói lối

Nói lối hay còn gọi là nói ngang, nói cáp là một kiểu nói, kiểu sử

dụng ngôn ngữ rất sinh động của ngời Yên Huy, Can Lộc, Hà Tĩnh Cũngphải nói thêm rằng, ở những xã, những vùng khác cũng có ngời nói lối nhngkhông phổ biến, không thành "phong trào" nh ở Yên Huy Nói lối đợc dựatrên nghệ thuật dùng chữ nghĩa một cách độc đáo Bằng cái tài "bắt bẻ" trongtrong đối thoại, kiểu nói lối đã tạo ra những tiếng cời thích thú, cời chảy cả n-

Trang 14

ớc mắt, làm cho cuộc sống vốn khó nhọc, lam lũ của ngời dân nơi đây vuihơn, dễ chịu hơn.

"Nói lối là một loại sáng tác mang đậm phong cách dân gian, xẩy ra liêntục trong sinh hoạt thờng nhật, với hình thức của nghệ thuật khẩu ngữ, baohàm trong đó nghệ thuật của nhiều cách nói nh: nói ngang, nói lái, nói đay,nghệ thuật dùng chữ nh: đảo từ, đảo nghĩa, đánh tráo khái niệm, thay đổichức năng của từ, cắt xén nội dung của từ Đặc biệt là nghệ thuật chơi chữ,dùng con chữ làm hạt nhân của nói lối mà hiệu quả là tạo ra sự trái khoáy bấtngờ so với suy lý lôgích thông thờng, gây sự hài hớc, dí dỏm nhiều khi phachút đả kích mỉa mai làm cho đối phơng cụt hứng dễ chịu." (14, tr 22,23).

Nói lối của ngời Yên Huy không phải là cách nói điêu, nói boa hoa, nóichâm chọc, nói nhảm nhí, nói tục mà là lối nói có một cái gì đó rất riêng,hồn nhiên, tự nhiên, ngồ ngộ Ví nh mẩu thoại sau:

ở nông thôn đến mùa gắt (mùa gặt), mùa cấy, ngời ta thờng chuẩn bị chẻ chạc chẻ lạt), vót đụa (vót đũa) cho thợ cày, thợ cấy ăn cơm Một ôông (ông) thông gia đến nhà thông gia nhởi (chơi), chộ (thấy) ôông (ông) thông gia đang ngồi vót đụa (đũa), liền hỏi:

- Ôông (ông) vót đụa (đũa) để ăn cấy à ?

đời, hài hớc, dí dỏm

Nhng nói lối Yên Huy không giống nh truyện tiếu lâm, truyện trạng ở chỗkhông có cốt truyện Nói lối chỉ có các câu đối đáp mà thôi Do đó ta có thểgọi là các mẩu thoại Trong cuộc sống lao động, trong sinh hoạt thờng nhật,ngời dân Yên Huy nói lối với nhau một cách hồn nhiên, bất chợt, không có

Trang 15

sự chuẩn bị trớc, không lặp lại Cái thú vị của nói lối là ở sự phản ứng ngônngữ nhanh của cả ngời nói và ngời nghe, ở tính bất ngờ, trong một hoàn cảnh

cụ thể Ngời Yên Huy không dùng lại một mẩu thoại đã có sẵn để nói lối

Do đó, các mẩu thoại nói lối ngày càng nhiều Chỉ có điều những mẩu thoạihay đợc nhiều ngời ghi nhớ, truyền cho nhau, "phát tán" sang các vùng khác,trở thành những sáng tác tập thể, làm cho kho báu trí tuệ của dân gian địa ph-

ơng giàu có thêm Điều này giúp ta đễ dàng phân biệt giữa một mẩu chuyệntrong nói lối với một câu chuyện tiếu lâm hay một câu chuyện trạng

Nh vậy, nói lối Yên Huy nằm trong hệ thống sáng tác trào phúng của dângian Mặc dù cha đợc nghiên cứu thoả đáng, cha đợc phổ biến rộng rãi trongcả nớc nhng nói lối vẫn đợc tiếp tục sáng tạo, góp phần tạo nên bản sắc vănhoá của một vùng quê

3 Một số đặc điểm về địa lý, văn hoá, ngôn ngữ củavùng Yên Huy (Can Lộc, Hà Tĩnh)

3.1 Một số đặc điểm về địa lý, cảnh quan

Ngày xa, Yên Huy có tên là Sa Nê (Sa có nghĩa là cát, Nê có nghĩa là bùn) Đến khoảng thế kỷ XIV Sa Nê đổi thành Sơn Nê Sang thế kỷ XV, Sơn

Nê đổi thành Sơn Huy Năm 1922 lại đợc đổi thành Yên Huy Hiện nay, têngọi này đợc dùng chính thức trong các văn bản hành chính Nhà nớc

Yên Huy là một xã thuộc vùng thợng của huyện Can Lộc Địa thế củaYên Huy nằm ở phía tây nam núi Nhạc Sạc (còn gọi là Rú Cài) cao 152 mét;

có Tỉnh lộ 6 và một nhánh của con sông Nhe chạy qua địa phận xã Phía bắc,bên kia núi Nhạc Sạc là xã Thanh Lộc; phía Nam giáp xã Vĩnh Lộc và Nhânlộc; phía Tây giáp xã Trờng Lu, quê hơng Nguyễn Huy Tự, tác giả truyệnHoa Tiên nổi tiếng Dới chân núi Cài có nhà thờ giáo xứ Tràng Đình với thápchuông cao, tôn nghiêm cổ kính

Nh vậy, ở Yên Huy có núi đồi, có sông, có đồng bằng khá phì nhiêu, thuậnlợi cho sản xuất nông nghiệp trồng lúa, trồng các loại cây rau màu và chănnuôi Với vị trí địa lý và địa thế thiên phú, các thế hệ ngời Yên Huy biết

Trang 16

chung lng đấu cật, lơng - giáo đoàn kết, miệt mài lao động xây dựng quê

h-ơng, tạo nên phong cảnh làng quê ở nơi đây đẹp một vẻ đẹp hữu tình, trù phú.Tuy nhiên, nằm trên dãi đất miền Trung, Yên Huy cũng nh các địa phơngkhác trong vùng phải chịu một chế độ thời tiết khắc nghiệt (rét đậm, nắnggắt) đã có ảnh hởng nhiều đến đời sống, sinh hoạt và lao động sản xuất, đặcbiệt sản xuất nông nghiệp

3.2 Một số đặc điểm về sinh hoạt văn hoá, ngôn ngữ

Hiện nay dân số Yên Huy có khoảng 4000 ngời với hơn 900 hộ gia đình,trong đó có khoảng một phần ba số hộ, số nhân khẩu là giáo dân Đồng bào l-

ơng - giáo ở đây sống hoà thuận, giao kết tình nghĩa anh em, láng giềng,thông gia, không có sự phân biệt Ngời dân nơi đây biết làm nhiều nghề đểsinh sống và làm giàu nh nghề mộc, nghề đan tre, đánh cá, buôn bán nhngsản xuất nông nghiệp vẫn là chính, là nguồn thu nhập chính Yên Huy là mộttrong những xã sản xuất lúa trọng điểm của huyện Can Lộc

Nhân dân các xã sống quanh núi Nhạc Sạc (Rú Cài) có truyền thống hiếuhọc và học giỏi Rú Cài đợc mệnh danh là "tứ diện công hầu", bởi từ thời nhàTrần, nhà Lê đã có nhiều ngời đi thi đỗ đạt làm quan, làm rạng danh “vùngquê nghèo nuôi chữ” Đó là La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp (ở Kim Lộc),Thám hoa Nguyễn Huy Oánh, Tiến sĩ Tiến Triều Nguyễn Huy Tự, Tiến sĩNguyễn Huy Quýnh (ở Trờng Lu), Lỡng Quốc Thám Hoa Phan Kính (ởSong Lộc), v.v Tại Văn Miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội, ghi tên khoảng 1000tiến sĩ trong cả nớc đỗ đạt qua các khoa thi dới thời phong kiến thì Can Lộcvinh dự có 38 vị đợc lu danh bia đá! Vì thế, từ xa đã có câu lu truyền "BútCấm Chỉ, sĩ Thiên Lộc" (Bút tốt thì ở Cấm Chỉ, một vùng ở HàNội, sĩ giỏi thì ở Thiên Lộc- tên gọi của huyện Can Lộc ngày xa) Đất YênHuy thời xa cũng có nhiều ngời học giỏi, đỗ đạt, làm quan đến hàm chức cao

nh Đại Phu Lĩnh Nam Võ Phi Hiển (thời Lê), Dơng Trí Dũng, Dơng TríTrạch (đầu thế kỷ XV, XVI ) Phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông,nhiều ngời con của quê hơng Yên Huy sau này cũng học hành thành đạt

Trang 17

Phong tục, tập quán sinh hoạt cộng đồng đời thờng ở Yên Huy cũnggiống với các xã trong vùng, không có gì khác biệt Gặp nhau thì chào hỏivồn vã Khi có bạn đến chơi nhà thì mời nớc, mời trầu, nói chuyện tâm tình,bàn chuyện làm ăn Trong làng ngoài xã, ai có công vui chuyện buồn thì anh

em chòm xóm lui tới, giúp đỡ nhau vật chất, tinh thần Chỉ có điều, ngờiYên Huy luôn a hài hớc thích đùa vui tếu táo, hay nói lối và nói lối rất giỏi.Nói lối đã trở thành một nét văn hoá riêng của cộng đồng Yên Huy

Trong giao tiếp với nhau ở trong làng xã, ngời Yên Huy sử dụng tiếng địaphơng của mình (thổ ngữ vùng thợng Can Lộc) Lối nói mang đậm ngữ âm,

từ vựng của phơng ngữ Nghệ - Tĩnh

4 tiểu kết

Trở lên, ở chơng 1 chúng tôi đã đi vào tìm hiểu những vấn đề lý thuyết

có liên quan đến đề tài

Đó là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, sự thể hiện văn hoá quangôn ngữ trong giao tiếp Văn hoá và ngôn ngữ đều do con ngời sáng tạo nên.Chúng có mối liên hệ qua lại Nếu ngôn ngữ là địa chỉ của văn hoá thì vănhoá đã làm cho ngôn ngữ mang tính biểu trng, đa nghĩa, trở thành chất liệu

để sáng tạo nghệ thuật

Tiếp theo chúng tôi đã đi vào làm rõ các khái niệm: truyện tiếu lâm,truyện truyện trạng và nói lối Giữa các khái niệm này, ta thấy có những điểmgiống nhau, đó là đều sử dụng tiếng cời làm phơng tiện nghệ thuật nhng tiếngcời trong các mẩu chuyện nói lối là tiếng cời hồn nhiên, ngồ ngộ khôngnhằm mục đích phê phán hay đấu tranh giai cấp nh tiếng cời trong truyện tiếulâm, truyện cời Tiếng cời trong NLYH đợc tạo ra qua đối đáp của các nhânvật trên cơ sở “bắt bẻ” chữ nghĩa trong một hoàn cảnh cụ thể Nghĩa là trongcác mẩu thoại nói lối không có cốt truyện nh trong các câu chuyện trạng,truyện tiếu lâm

Và, ở trong chơng này, chúng tôi đã đi vào tìm hiểu một số đặc điểm về

địa lý, văn hoá, ngôn ngữ của vùng Yên Huy, Can lộc, Hà Tĩnh Qua tìm hiểucho ta thấy, Yên Huy cũng nh các địa phơng khác trong vùng có nhiều nét

Trang 18

giống nhau Đó là một vùng quê chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Ngời dânsống chan hoà trong tình làng nghĩa xóm, hăng say lao động sản xuất, cótruyền thống hiếu học và học rất giỏi…Tuy vậy, làng Yên Huy vẫn có nétriêng trong sinh hoạt văn hoá so với các làng, xã khác trong vùng Ngời YênHuy, từ xa đến nay, từ già đến trẻ, nam cũng nh nữ hay nói lối và nói lối rấtgiỏi Nói lối đã trở thành một phong cách khẩu ngữ của ngời dân nơi đây:

Nói nh ngời Yên Huy!

Nói gọn lại, những vấn đề lý thuyết ở chơng 1 là cơ sở để chúng tôi tiếnhành khảo sát đặc điểm ngôn ngữ trong NLYH, qua các chơng sau đây

Chơng 2 - Một số đặc điểm từ vựng và ngữ pháp trong

nói lối Yên Huy

1 Khái niệm từ ngữ và một số đặc điểm từ ngữ địa phơng

1.1 Khái niệm từ ngữ

Từ là một đơn vị cơ bản của ngôn ngữ do một hay một số âm tiết tạothành, có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo chặt chẽ và đợc sử dụng tự do để cấutạo nên câu Ví dụ: nhà, gà, bàn ghế, xanh, đỏ, đi, chạy, xây, gáy, ăn, ngủ, này, nọ, trên, dới, trong, ngoài, con, cái, chiếc, có, còn, đã, sẽ, đang là

những từ có sẵn trong kho tàng từ vựng tiếng Việt Khi giao tiếp ngời ta dùng

từ tạo nên câu, tạo nên thông báo Chẳng hạn, trong số các từ trên ta có thểtạo nên câu: Con gà đang gáy…

Có rất nhiều định nghĩa về từ

Trang 19

Tác giả Lê Văn Lý định nghĩa về một từ ngữ Việt Nam là “ một âm hiệumang một ý nghĩa riêng biệt và có một phận sự ngữ pháp trong câu nói: Theo

định nghĩa này, trong tiếng Việt, ta có thể xác định ngay một bên là những từ

đơn và bên kia là những từ phức” (20, tr 56)

ủy ban khoa học Xã hội Việt Nam định nghĩa: “ Từ là đơn vị nhỏ nhất để

đặt câu Từ có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định… Từ là đơn vị nhỏ nhất cónghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định dùng để đặt câu” (31, tr 22, 49)

Trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, các tác giảNguyễn Nh ý, Hà Quang Năng, Đỗ Việt Hùng, Đặng Ngọc Lệ nêu địnhnghĩa: “ Đơn vị cấu trúc – ngữ nghĩa cơ bản của ngôn ngữ dùng để gọi têncác sự vật và thuộc tính của chúng, các hiện tợng, các quan hệ của thực tiễn,

là một tổng thể các dấu hiệu ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp đặc trng chotừng ngôn ngữ Các dấu hiệu đặc trng của từ là tính hoàn chỉnh, tính có thểphân chia thành các bộ phận và khả năng tái hiện lại dễ dàng trong lời nói”(33, tr 329)

Theo giáo s Đỗ Hữu Châu, "Từ là đơn vị định danh của ngôn ngữ, nó cũng

là một hình thức ngữ pháp đợc các thành viên của tập thể hiểu nh nhau trongquá trình trao đổi Từ có âm thanh và hình thức Tuy vậy âm thanh và hìnhthức chỉ là những phơng tiện để cấu tạo nên từ, bản thân chúng cha phải là từ.Chỉ khi nào gắn với một ý nghĩa nào đấy thì chúng mới có khả năng biểu đạt

t tởng" (6, tr.3).v.v…

Theo Mai ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiêu, Hoàng Trọng Phiến “ Từ là đơn vịnhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững hoàn chỉnh, có chức nănggọi tên; đợc vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu”(7,tr.170)

Qua các định nghĩa về từ vừa dẫn, ta thấy toát lên một số đặc điểm của từlà: một đơn vị của ngôn ngữ có hình thức ngữ âm và ngữ nghĩa, có sẵn, cố

định và đợc dùng để tạo câu

Trang 20

Hiểu nh vậy thì từ nhà trong trong tiếng Việt có âm thanh đợc phát âm

thành một tiếng và đợc viết ra thành một chữ trên giấy Đó là mặt hình thứccủa từ này Để từ nhà có khả năng biểu đạt t tởng thì phải gắn nó với một ý

nghĩa nào đấy, chẳng hạn với sự vật, với con ngời Ví dụ: Ngôi nhà này mới xây (gắn với sự vật), Cái nhà chị này lạ thật (gắn với con ngời).

Từ ngữ là một khái niệm chỉ từ và ngữ Một ngữ bao gồm nhiều từ Ngữ phânthành ngữ tự do và ngữ cố định Ngữ tự do đợc tạo nên trong một ngữ cảnh nào

đó Ví dụ: Con gà này Ngữ cố định có sẵn, bao gồm các quán ngữ và thành

ngữ, đợc sử dụng tơng đơng nh một từ Ví dụ: Một mặt thì, mặt khác thì, dĩ nhiên là…(quán ngữ); Đầu voi đuôi chuột, Đầu chày đít thớt, Giả chết bắt quạ (thành ngữ) Trên đây chỉ nêu sơ bộ khái niệm từ ngữ , một đơn vị đợc

luận văn khảo sát khi tìm hiểu đặc trng của nói lối Yên Huy

1.2 Một số đặc điểm từ ngữ địa phơng Nghệ Tĩnh

a) Một số định nghĩa về từ địa phơng

Tuy còn có nhiều cách phân chia vùng phơng ngữ tiếng Việt nhng hiệnnay giải pháp đợc nhiều nhà phơng ngữ học ủng hộ là giải pháp của HoàngThị Châu Theo giải pháp này, tiếng Việt đợc chia ra ba vùng phơng ngữ Đó

Vậy từ địa phơng là gì ? Có nhiều định nghĩa đợc nêu ra:

Theo Nguyễn Thiện Giáp, “ Từ địa phơng là những từ đợc dùng hạn chế ởmột hoặc một vài địa phơng Nói chung, từ địa phơng là bộ phận từ vựng củangôn ngữ nói hằng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là

từ vựng của văn học Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phơng ờng mang sắc thái tu từ: diễn tả lại đặc điểm của địa phơng, đặc điểm củanhân vật v.v…” (12, tr 292-293)

Trang 21

Trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, các tác giả định nghĩa: “

Những từ thuộc một phơng ngữ (tiếng địa phơng) nào đó của ngôn ngữ dântộc và chỉ phổ biến trong phạm vi lãnh thổ của địa phơng đó, thì đợc gọi là từ

địa phơng” (7, tr 263)

Các tác giả trong cuốn Từ điển địa phơng Nghệ Tĩnh– nêu định nghĩa

nh sau: "Từ địa phơng là vốn từ c trú ở một địa phơng cụ thể có sự khu biệtvới ngôn ngữ văn hoá hoặc địa phơng khác về ngữ âm và ngữ nghĩa" (4,tr.6).v.v

Tuy diễn đạt có khác nhau song các định nghĩa đều thống nhất nêu lên đặc

điểm của từ địa phơng là: 1 vốn từ c trú ở một địa phơng cụ thể, 2 có sự khubiệt về ngữ âm và ngữ nghĩa với từ ngữ văn hoá hoặc địa phơng khác, 3 đợc sửdụng hàng ngày trong ngôn ngữ sinh hoạt của địa phơng đó

b) Đặc điểm ngôn ngữ địa phơng Nghệ- Tĩnh

- Về ngữ âm: Hệ thống thanh điệu chỉ có 5 thanh, không có thanh ngã.Các thanh điệu đợc thể hiện trong một vùng có âm vực rất hẹp Nhìn chung,trừ thanh ngang, các thanh còn lại đợc thể hiện trong một âm vực thấp Đờngnét thanh điệu nghèo nàn (đi xuống) đợc khu biệt ở gần cuối âm tiết, do cácthanh có xu hớng nhập với nhau nh thanh ngang đợc thể hiện gần giốngthanh sắc và thanh huyền Thanh huyền gần giống thanh ngang và thanhnặng, thanh sắc gần giống thanh ngang và thanh hỏi Thanh hỏi gần giốngthanh nặng, thanh sắc và thanh ngã thanh ngã gần giống thanh nặng Từ thực

tế đó, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng thanh điệu Nghệ - Tĩnh là hệ thốngthanh điệu trầm

Trang 22

và phân biệt đầy đủ Một số vần chỉ có hệ thống trên lý thuyết chứ không đợcphổ biến trong thực tế nhng lại đợc phổ biến trong thực tế phát âm của ngờiNghệ - Tĩnh Hầu hết các vần trong tiếng Việt đợc ngời Nghệ - Tĩnh thể hiệnbằng các biến thể địa phơng Và nếu xét những biến thể của vần địa phơngNghệ Tĩnh thì ta có thể xác lập đợc một hệ thống (116 biến thể) Các biến thể

địa phơng chủ yếu đợc thể hiện ở đỉnh vần theo những xu hớng sau: 1.chuyển đổi nguyên âm, 2 hiện tợng rụng âm, 3 hiện tợng thêm âm đệm

- Về ngữ nghĩa: Phơng ngữ Nghệ - Tĩnh có một vốn từ địa phơng hết sức

đa dạng, phong phú, có rất nhiều yếu tố cổ, thậm chí rất cổ Ví dụ: từ lịp

(một loại nón), từ tớt (đuổi), chiềng (tha)

Trong vốn từ của địa phơng Nghệ - Tĩnh (đợc tạo nên trên khu vực địa

ph-ơng), có những đơn vị là hình thái tiếng Việt trớc đây ở những giai đoạn khá

xa xa Có những đơn vị tơng ứng về ngữ âm, ngữ nghĩa đối với tiếng Việttoàn dân phản ánh sự biến đổi phát triển của tiếng Việt trong trong giai đoạngần đây Ví dụ: oi = giỏ, mấn = váy, mệ = mẹ, lịp = nón, chiềng = tha

Vốn từ Nghệ -Tĩnh phát huy đợc vai trò văn hoá - xã hội trên địa phơng,tạo nên một kho tàng thơ ca dân gian đặc sắc nh vè (có hàng ngàn trang), hátgiặm (có 5 đến 6 trăm trang), ví, ca dao, chuyện trạng, nói lối

Vốn từ Nghệ - Tĩnh gồm các kiểu sau:

- Những từ vừa có sự tơng ứng về ngữ âm vừa có sự tơng đồng về ngữnghĩa (loại này đa dạng nhất, phổ biến nhất) Ví dụ: me - bê, phở (đất) vỡ

(đất), mấn - váy, (ló) lổ - (lúa) trổ, nhởi - chơi, v.v

- Những từ tơng ứng về ngữ âm nhng có sự biến đổi ít nhiều về nghĩa Vídụ: bấp - vấp, mổ - mủ, bây vấy (bẩn), v.v

- Những từ cùng âm nhng có sự xê dịch về nghĩa Ví dụ 1: đau trong tiếng

Nghệ - Tĩnh ngoài những nét nghĩa nh trong tiếng Việt văn hoá còn có thêmnét nghĩa là ốm (=> đau nặng = ốm nặng, đau vặt = ốm vặt) Ví dụ 2: nóng

trong tiếng Nghệ - Tĩnh còn có nghĩa là sốt của từ toàn dân (Chẳng hạn: Cháu nóng đã hai bựa ni.)

Trang 23

- Những từ giống âm (đồng âm) nhng khác nghĩa Ví dụ kè trong tiếng

Nghệ - Tĩnh là một loại cây (cây cọ) còn kè trong tiếng toàn dân là tạo thêm

đánh đáo, nác cốt, chè chát, v.v Đó là những từ gắn với phong cảnh, sản

vật Ví dụ: gió nam, nam cào, nùng nam, ngoi nam, ui ui, ma lứt, áo lồng, nón cời, chẻo, nhút, lớ, khoai xéo, nham, cu đơ, tấp trôộc, đi nhởi( ăn hỏi), v.v Đó là những từ chỉ tầng lớp ngời, địa vị xã hội Ví dụ: o, cố, kẻ tra, kẻ nậy, con nít, cố chắt, ả cháu, ả đị, enh cu, enh nhiêu, mụ nậy, mụ mọn, v.v

Qua những điểm khái quát nhất đã nêu trên, ta thấy tiếng Nghệ - Tĩnh cónhững đặc điểm riêng so với tiếng Việt văn hoá và so với tiếng của các địaphơng khác Tìm hiểu đặc điểm tiếng Nghệ - Tĩnh là cơ sở giúp ta hiểu cáihay của nói lối, cái tài sử dụng ngôn ngữ của ngời Yên Huy

2 Khảo sát từ ngữ trong nói lối Yên Huy

2.1 Số liệu thống kê, phân loại các đơn vị ngôn ngữ trong Nói lối Yên Huy

Nguồn t liệu để khảo sát đặc điểm ngôn ngữ trong cách nói lối vùng YênHuy từ hai nguồn:

- Từ su tầm thực tế của chúng tôi tại địa phơng Yên Huy từ tháng 2năm 2007 đến tháng 8 năm 2009, tổng số 15 mẩu chuyện

- Từ các mẩu chuyện nói lối đợc tập hợp trong cuốn sách “Nói lối YênHuy” do hai tác giả Phan Th Hiền & Tạ Kim Khánh (Nhà xuất bản Văn hoádân tộc, 2006) gồm: 95 mẩu chuyện

Trang 24

Sau khi tập hợp từ hai nguồn đợc 110 mẩu chuyện, chúng tôi đã chọnlọc, đa vào diện khảo sát trong luận văn là 81 mẩu chuyện, đó là nhữngchuyện kể đặc sắc của nói lối Yên Huy, còn một số mẩu chuyện khác, không

đặc sắc cho nói lối (thờng là truyện hài hớc, châm biếm) thì chúng tôi xếpvào diện tham khảo, đối chiếu, phân tích khi cần thiết

Luận văn đã tiến hành khảo sát 81 mẩu chuyện nói lối, có thể nêumột số số liệu thống kê sau đây

a) Độ dài của các mẩu chuyện

- Các mẩu chuyện dài (từ 10 câu trở lên): có 13 chuyện, gồm:

Thứ tự Tên mẩu chuyện Số câu Ghi chú

Trang 25

Thø tù Tªn mÈu chuyÖn Sè c©u Ghi chó

Trang 26

Thø tù Tªn mÈu chuyÖn Sè c©u Ghi chó

Tæng hîp sè liÖu trªn qua b¶ng sau:

Thø tù §é dµi c¸c mÈu chuyÖn Sè lîng chuyÖn TØ lÖ %

Trang 27

Qua thống kê, phân loại độ dài các mẩu chuyện NLYH, chúng tôi thấy:

- Mẩu ngắn nhất có 3 câu (đó là các mẩu thoại: Ba hoa, Dậy ăn để mà đi cày, Hỏi thăm), mẩu chuyện dài nhất có 18 câu (đó là chuyên: Chứng mô tật nớ)

- Tổng 81 mẩu chuyện có 591 câu, trung bình một mẩu thoại có 7,3 câu

- Mẩu chuyện có độ dài trung bình và ngắn có số lợng nhiều chiếm 68/81(83,95%) Điều đó cho thấy, NLYH là hình thức giao tiếp khẩu ngữ của ngờidân địa phơng, diễn ra trong một không gian, thời gian cụ thể, mang tính ứngkhẩu tức thì nên phải ngắn gọn và càng ngắn gọn thì hiệu quả gây cời càngcao, càng thú vị Cũng chính nhờ ngắn gọn mà những mẩu chuyện hay đợcngời ta nhớ kể lại cho nhau nghe và lan truyền sang các vùng khác nhanh màchính xác Dẫu không còn biết ai là ngời tạo nên mẩu chuyện nhng khi nghe

kể lại ai cũng nhận ra là NLYH, là cách nói của ngời Yên Huy Ví dụ:

(1) Dậy ăn để mà đi cày

ở nông thôn hay (thờng) có thói quen gấy (vợ) từ lúc ga (gà) gáy đến khi tru ẻ (trâu ẻ) thì gọi nhôông(chồng) dậy đi cày, đi bừa Theo tói quen, một bựa (một hôm) tru mới ẻ (trâu vừa ẻ), gấy liền sang sảng kêu nhôông (vợ liền sang sảng gọi chồng):

- Ôông (ông) ơi, tru ẻ rồi (trâu ỉa rồi) dậy ăn mà đi cày !

Trang 28

- Bên tui (tôi) rành (toàn) nuôi tru (trâu) trên vai ý nói hàng ngày

phải cắt cỏ cho trâu ăn, rất vất vả.

Bà hàng xóm ni (này) cả cời cả nói (vừa cời vừa nói) lại:

- Bên tui (tôi) khác, nuôi tru (chăn trâu) thì cho ở troong (trong) truồng (chuồng).

Các mẩu chuyện trên đây là những mẩu chuyện ngắn, có từ 3 câu (nh

ví dụ 1, 2) đến 4 câu (nh ví dụ 3) Đúng là những mẩu thoại vui giữa các cánhân trong sinh hoạt thờng ngày, ở những hoàn cảnh rất cụ thể Chỉ qua mộtvài lời thoại, mà là những lời thoại ngắn, là tiếng cời đã bật lên Không cầndài dòng ! Nếu dài dòng chắc hẳn giảm thú vị Vì thế nên những chuyện trên

10 câu có số lợng ít (13/81 = 16,05%) Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh cụthể nào đó có những mẩu chuyện khá dài, từ 15 đến 18 câu ở những mẩuchuyện này là một chuỗi nói lối rất Yên Huy, rất dễ nhớ Ví dụ mẩu chuyệnsau:

Ôông ( ông) hàng xóm liền hỏi lại:

- Là tui (tôi) hỏi ôông (ông) cả tháng ni (tháng này) đan đợc mấy đôi rồi ?

Ôông ni (ông này) trả lời:

- Vội đan.

Ôông (ông) hàng xóm cức máu (tức máu) liền xẳng giọng:

- Vội vàng chi (gì) cụng (cũng) mặc kệ ôông (ông) Tui (tôi) chỉ hỏi là tháng ni (tháng này) ôông (ông) đan đợc mấy đôi rồi ? Ôông (ông) khinh ngài (ngời) vừa va (vừa vừa) chơ (chứ) !

Trang 29

Ôông ni (ông này) liền nói lại:

- Ngồi đan là ngàn đôi; vội đan là vạn đôi, tui (tôi) nói rứa (nói thế) mà

Những mẩu chuyện dới đây cũng là một chuỗi lời thoại thú vị nh thế:

Chó chi sủa ?

Đêm khuya chó sủa ngoài đàng (đờng) Bà hỏi ôông (ông):

- Dậy ra ngoài coi thử, có chuyện chi mà chó sủa nhiều rứa (thế) ? Ôông (ông) ra ngoài một tí (một lát) rồi lặng lẹ (lặng lẽ) vô (vào) nhà Bà hỏi:

- Chó sủa ở mô ôông (ông)?

Ôông (ông) trả lời:

- Chó sủa đầu mồm (đầu mõm) !

Nghe ôông (ông) nói, bà tỏ vẻ khó chịu, liền cằn nhằn với ôông (ông):

- Là tui (tôi) hỏi chó chi mà sủa ? (ý hỏi rằng: có chuyện gì mà chó sủa)

Ôông (ông) điềm nhiên lên giờng (giờng) nằm, rồi trả lời tỉnh bơ:

- Chó vàng, chó đen, chó mực, chó khoang chó chi cụng (cũng) sủa cả.

Mời cân, tám vạn

Cấy cơi (cái sân) hợp tác xạ (xã) rộông (rộng) mênh mông, mọi ngời đố chắc (đố nhau) mần (làm) hết năng nấy (bao nhiêu) xi măng Ôông (ông) thủ kho nói:

- Có mời cân (ki lô gam) mà khôông (không) ai đoán ra cả.

Mọi ngài (ngời) ngạc nhiên, hỏi vặn lại ôông (ông) thủ kho:

Trang 30

- Ôông nói răng (tại sao) lại chỉ hết mời cân mồ (nào) ?

Ôông (ông) thủ kho nói: mần cơi (làm sân) là mời cân chơ răng nựa (chứ sao nữa) !

Một ngài (một ngời) đành chịu thua keo ni (keo này), hỏi tiếp:

- Rứa thì (thế thì) hết năng nấy (bao nhiêu) gạch ?

Ôông (ông) thủ kho nói:

- Hết tám vạn !

- Mần răng (làm sao) ôông (ông) biết tám vạn ?

Bị chất vấn nhng ôông (ông) thủ kho vận (vẫn) bình tịnh (bình tĩnh) trả lời:

- Ngài (ngời) qua đàng (đờng) đều nói cấy cơi rôộng (cái sân rộng) thông thiên bát vạn Rứa (vậy) bát vạn khôông (không) phải là tám vạn à ?” Các mẩu chuyện trên tuy có dài hơn các mẩu chuyện có từ 3 đến 5 câunhng nói chung cũng ngắn, mỗi chuyện không quá mơi câu, chủ yếu là lời

đối đáp Nhng khi đợc nghe kể lại những mẩu chuyện nói lối nh thế hẳn ngờinghe sẽ nhiều lần cảm thấy bất ngờ thú vị vì cái tài “bắt bẻ đối phơng”, tài sửdụng ngôn ngữ trong hội thoại của ngời Yên Huy

Tiếp theo chúng tôi đi vào khảo sát các từ ngữ địa phơng trong NLYH

2.2 Các từ ngữ địa phơng trong các mẩu chuyện Nói lối Yên Huy

a) Nhận xét

Tổng số từ trong 81 mẩu chuyện NLYH là: 5024 từ, trung bình mộtmẩu chuyện có 62 từ Trong tổng số từ đó, số từ địa phơng là: 1.377 từ / 81chuyện, trung bình mỗi chuyện có 17 từ địa phơng (chiếm tỉ lệ 27,42%)

Qua số liệu trên, chúng ta thấy, trong NLYH, từ địa phơng có tần số sửdụng khá cao (27,42%) Từ địa phơng có nhiều loại và có những sự phân bốtrong chuyện kể không giống nhau Dới đây, chúng tôi tiến hành phân loạichúng để có những số liệu cụ thể

b) Phân loại từ địa phơng

Trang 31

Trong số từ địa phơng này, chúng tôi phân loại chúng thành các nhóm dựavào các tiêu chí nhất định, trong đó đáng chú ý là về từ loại và ngữ cảnh xuấthiện của từ địa phơng.

* Căn cứ vào từ loại:

Từ địa phơng có nhiều từ loại khác nhau

- Nhóm thực từ có: 466 từ (tính trung bình trong 40 mẩu chuyện).Trong số đó, xét về từ loại, gồm có:

- Từ địa phơng ở lời kể (dẫn thoại): 731/1377 (53,10 %)

- Từ địa phơng ở lời thoại: 646 /1377 (46,90 %)

c) Nhận xét về từ loại và chức năng từ địa phơng trong NLYH

Về từ loại, từ địa phơng đợc sử dụng trong NLYH có đầy đủ các từ loại

nh trong từ toàn dân, thuộc hai nhóm thực từ và h từ Khảo sát từ ngữ địa

Trang 32

ph-ơng trong 40 mẩu chuyện (chọn ngẫu nhiên) trong NLYH, chúng tôi thấynhóm thực từ có số lợng nhiều hơn hẳn so với nhóm h từ (nhóm thực từcó:466 đơn vị, nhóm h từ có: 214 đơn vị)

- ở nhóm thực từ trong NLYH, qua khảo sát ở 40 mẩu chuyện, chúng tôithấy rằng, từ loại có tần số sử dụng nhiều là danh từ (294 đơn vị) tiếp theo là

động từ (130 đơn vị), từ loại có tần số sử dụng ít nhất là số từ (02 đơn vị)

Sở dĩ danh từ đợc sử dụng nhiều nh vậy, theo chúng tôi, từ loại này chỉvật (bao gồm đồ vật, động vật, thực vật), chỉ ngời (bao gồm tên ngời và cả têncác nghề nghiệp, chức vụ của con ngời), chỉ các hiện tợng tự nhiên, hiện tợngxã hội, và các khái niệm Ngoài “nghĩa từ vựng” phong phú nh vậy, danh từ

là từ có khả năng đứng giữa và kết hợp hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp với số từ(hay những phụ từ chỉ lợng: những, các, mọi, mỗi, mấy; hay những đại từ chỉ

lợng: bao nhiêu, bấy nhiêu…và với từ chỉ đinh: này, kia, ấy, đó, nọ…

Những danh từ thuộc từ địa phơng mà ta gặp trong NLYH thật phong phú:

+ Đó là những từ chỉ vật nh: vng (vừng), độ (đậu), cơi (sân), đầu đày (phần thừa), đụa (đũa), tru (trâu), tắn (rắn), ló (lúa)…

+ Đó là những từ chỉ ngời, nghề nghiệp, chức vụ nh: hàng xáo (nghề mua bán lúa gạo), thợ cày, thợ cấy, rèo tru (chăn trâu), đội trởng, xã viên, bác

sỵ (bác sỹ) v.v…

+ Đó là những từ chỉ hiện tợng tự nhiên, xã hội, các khái niệm nh: trời dợ (trời hửng), ma bạo (ma bão), giỗ cáo (làm giỗ giảm, không mời khách) , bạnh tình (bệnh tình), chè độ (cháo chè), mấu đòn triêng (mấu đòn gánh) v.v…

Bên cạnh danh từ, động từ cũng là từ loại có tần số sử dụng cao “Động từ

là từ có ý nghĩa khái quát về hoạt động, trạng thái” (31; tr.70) Chính vì nghĩa

từ vựng nh vậy nên trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ động từ là từ loại đợc

sử dụng nhiều NLYH thuộc phong cách khẩu ngữ sử dụng nhiều các động từ

có trong vốn từ địa phơng, nh: mần (làm), nhởi (chơi), coi (xem), chộ (thấy),

Trang 33

mạn (mợn), đợ (đỡ), khở (gỡ), chựa (chữa), trỉa (gieo), gắt (gặt), tớt (đuổi),

đập (đánh) cảy (sng), chởi (chửi), rèo (dắt) v.v…

Nói gọn lại, NLYH là một hình thức giao tiếp ngôn ngữ trong cuộc sốnghàng ngày của nhân dân địa phơng với những nội dung đề cập về con ngời,

về sự vật, về những hoạt động, trạng thái… gần gũi nên trong mỗi mẩuchuyện các danh từ, động từ tiếng địa phơng xuất hiện với tần số sử dụng cao

so với các từ loại khác trong nhóm thực từ là điều dễ cắt nghĩa

- Về nhóm h từ

Theo các nhà ngôn ngữ học nh Nguyễn Văn Tu (29, tr.196), Đỗ HữuChâu (6,tr.20), Nguyễn Kim Thản (25, tr 35), Đinh Văn Đức (10, tr 43)v.v…, h từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực dùng để biểu thị ýnghĩa ngữ pháp; số lợng h từ trong tiếng Việt ít hơn nhiều so với thực từ, nh-

ng tần số sử dụng h từ lại cao Khảo sát h từ trong NLYH, qua thống kê 40mẩu chuyện, chúng tôi thấy, số lợng ít hơn nhóm thực từ (cha bằng một nửathực từ: 214 đơn vị so với 466 đơn vị) Trong số 214 đơn vị trong nhóm h từthì phụ từ có tần số sử dụng nhiều nhất (170 đơn vị), tiếp đến là kết từ (36

đơn vị) và tình thái từ (8 đơn vị)

Trong nhóm này, các phụ từ chỉ thời gian (đả = đã, sẻ = sẽ, dừ = bây giờ…), chỉ quan hệ (la = còn, cả…cả = vừa…vừa, cụng = cũng, rứa mà =thế mà…) đợc sử dụng nhiều hơn các từ loại khác trong nhóm Sở dĩ nh vậy là do

các phụ từ này đợc dùng để biểu thị những mối quan hệ ngữ pháp nhất định,cần thiết trong việc xây dựng câu nói Ví dụ:

- Vâng, tha ôông (ông) ! vót đụa (đũa) để ăn cấy l a nác (còn nớc) thì

đạ (đã) có thìa rồi (chuyện ăn cấy)

- Cha chết rồi dừ (bây giờ) mần răng (làm sao) anh ? (chuyện Cha

chết)

- ối chết (ấy chết), con tui (tôi) mới năm tuổi mà đả (đã) mắc bạnh tình (bệnh tình) à ?

v.v…

Trang 34

Những lời thoại trên nếu không sử dụng các phụ từ thì mối quan hệ ngữpháp không đợc biểu thị rõ ràng, ngoài ra, thái độ, tình cảm của ngời nóicũng không đợc thể hiện.

Tóm lại, nhóm h từ địa phơng tuy có tần số sử dụng ít hơn nhóm thực từ

địa phơng trong NLYH nhng có vai trò góp phần làm nên cái chất hài hớc vàphong cách ngôn ngữ ngời Yên Huy trong các mẩu chuyện nói lối

Trở lên, chúng tôi đã thông kê phân loại và phân tích về từ loại trong nóilối Yên Huy Khảo sát từ địa phơng trong các mẩu chuyện dựa theo chứcnăng, chúng tôi thấy, từ địa phơng đợc sử dụng trong lời kể (dẫn thoại) vàtrong lời thoại có tỉ lệ xấp xỉ nhau Trong tổng số 1377 từ địa phơng có trong

81 mẩu thoại, ở lời kể có 731 từ (53,10%), ở trong lời thoại có 646 từ(46,90%) Từ địa phơng xuất hiện nhiều trong lời thoại là điều dễ hiểu Vìrằng, đó là ngôn ngữ mang phong cách khẩu ngữ của ngời Yên Huy Ta hìnhdung, khi xuất hiện mỗi mẩu chuyện không có lời kể Trong một hoàn cảnh

cụ thể nào đó, ngời ta đối đáp “bắt bẻ” nhau khi nói năng bị “hớ” Sau đó, donhững lời thoại hay, lý thú ngời ta truyền kể cho nhau và khi đó, lời kể (dẫnthoại) đợc thêm vào thành các mẩu chuyện nh ta thấy Nhng vì ngời kể lạicũng là ngời địa phơng nên từ địa phơng cũng đợc xuất hiện nhiều trong ngữcảnh đó Lời kể (dẫn thoại) thờng phải dài hơn lời thoại nên tỉ lệ từ ngữ địaphơng có tỉ lệ cao hơn (so với trong lời thoại) Ví dụ:

Chứng mô tật nớ (Chứng nào tật nấy)

Gấy (vợ) đi mần (làm) về Trời tra rồi nhng nhôông (chồng) vẩn (vẫn) mải mê ngồi đánh cờ với hàng xóm, cơm cha nấu ả ta (chị ta) liền nói bóng nói gió:

- Cấy số tui (cái số tôi) răng (sao) mà khổ ! Đi mần (đi làm) cả buổi ngoài đôồng (đồng), dừ (giờ) còn phải đâm trôốc (đầu) vô (vào) bếp nấu

ăn.

Trang 35

Hàng xóm nghe rứa (nghe thế) vội vàng ra về Anh nhôông (chồng) chẳng nói chẳng rằng đi thẳng ra cơn rơm (cây rơm) ôm vô (vào) một ôm rơm đa cho gấy (vợ) rồi nói:

- Rơm đây, bà lấy rơm mà nấu, đừng đâm trôốc (đầu) vô (vô) bếp mà tội Bà chết, tui (tôi) phải nuôi con một chắc (một mình) cụng (cũng) khổ lắm !

Rứa là (thế là) đang giận nhng bà vợ khôông (không) nhịn (nén) đợc cời.

Lại một bựa sau (hôm sau) đi mần (làm) về cụng chộ (cũng thấy) nhôông (chồng) vẩn (vẫn) ngồi đánh cờ Bà xách nồi cơm đến bên chum, định múc nác (nớc) vo gạo nhng nác (nớc) trong chum đạ (đã) cạn khô Bà tức quá la nhôông (rầy la chồng):

- ở nhà chỉ biết ngồi nhởi( chơi) để trong nhà khôông (không) còn một giọt nác (nớc), nhôông (chồng) với con !

Anh ta vội vàng rời bàn cờ, xăm xăm xách xô ra ao múc một xô nác (nớc)

đầy đổ ra trửa (giữa) nhà và nói với gấy (vợ):

- Đợc cha, dừ (bây giờ) thì cả một xô chơ (chứ) đừng nói đến một giọt, bà

ng cha?

Gấy (vợ) lúc ni (lúc này) phần thì xấu hổ với hàng xóm, phần thì thất lý với nhôông (chồng) nên lại gin (gần) và đấm thùm thụp vô lng nhôông (chồng), nói:

- Ôông thì chứng mô tật nớ (ông thì chứng nào tật nớ) !

Theo tác giả Nguyễn Nh ý (chủ biên), thì “lời nói của ngời khác đợctruyền đạt lại không đúng nguyên văn, và có hình thức truyền đạt phụ thuộcvào lời nói của ngời thuật lại…” ( 33, tr.135) Vì vậy, khi ai đó thuật lại mộtmẩu chuyện nói lối Yên Huy mà không sử dụng từ ngữ địa phơng thì khôngthể đúng phong cách ngôn ngữ nói lối, không thể hấp dẫn ngời đợc nghe lại

Và, cũng vì thế, khi văn bản hoá nói lối Yên Huy, ngời su tầm, giới thiệucũng không nên phổ thông hoá các từ ngữ địa phơng Cách làm duy nhất (bắtbuộc), khi giới thiệu NLYH với ngời ở những nơi khác, vùng miền khác làgiữ nguyên từ ngữ địa phơng và kèm theo chú giải bằng từ ngữ toàn dân Đến

Trang 36

đây cũng cần lu ý rằng, mỗi mẩu chuyện nói lối chỉ thực sự sống động hấpdẫn khi đợc nghe kể chứ không phải đợc nghe đọc, giống nh khi ta thởngthức truyện cổ tích dân gian Dới đây xin trích dẫn một vài mẩu chuyện nóilối mà chúng tôi đã ghi lại theo cách nói trên:

Lụt lội Mùa ma lụt, hai ngài (ngời) khác xóm đi chợ Nhe về, cả đi cả trò

chuyện (vừa đi vừa nói chuyện).

- Tru (trâu) có vảy (húc) khôông (không) cháu ?

Đứa con nít (đứa bé) trả lời:

- Tru (trâu) có lôông (lông) chơ nỏ (chứ không) có vảy ôông (ông) ạ Chộ (thấy) thằng con nít (trẻ con) ứng khẩu lanh (nhanh), tuy đang nhoọc (mệt) nhng ôông (ông) vẩn (vẫn) vui vẻ nói:

- Cha mi (cha mày), cho tru (trâu) sang một bên cho ôông (ông) đi cấy

mồ (cái nào) !

Tru chạy ngang (Trâu chạy ngang)

Trang 37

Một ôông (một ông) hớt hải cầm roi mây chạy trên đàng (trên đờng), gặp đứa con nít (đứa trẻ) rèo tru (chăn trâu), hỏi:

- Cháu ơi ! Cháu có chộ (thấy) con tru mô (con trâu nào) chạy ngang đây khôông (không) ?

Đứa con nít (đứa bé) trả lời:

- Dạ, tha ôông (ông), cháu chộ (thấy) rành (toàn) tru (trâu) chạy dọc, chơ nỏ chộ (chứ chẳng thấy) con tru mô (con trâu nào) chạy ngang cả !

ở những mẩu chuyện trên, nếu ta thay từ ngữ địa phơng bằng toàn dân (từ

trong dấu ngoặc đơn) thì mất hẳn “không khí” của nói lối, chuyện kể trở nênnhàn nhạt, không sắc thái

Nh vậy, ở cả hai ngữ cảnh trong NLYH từ ngữ địa phơng đợc sử dụngkhá cao, làm cho mỗi mẩu chuyện nói lối mang rõ sắc thái địa phơng Tuy cókhó hiểu đối với ngời địa phơng khác nhng khi hiểu đợc sự khác biệt (chủyếu là về ngữ âm) thì dù ngời ở vùng miền nào cũng thấy NLYH hay và độc

đáo

Qua thống kê, khảo sát, chúng tôi đã làm rõ một đặc điểm nổi bật của nóilối Yên Huy là sử dụng nhiều các từ ngữ địa phơng với đủ các từ loại ở tronghai văn cảnh lời kể (dẫn thoại) và lời thoại Tiếp theo, chúng tôi sẽ tiến hànhkhảo sát đặc điểm về câu trong nói lối Yên Huy

3 Đặc điểm các loại câu trong các mẩu chuyện nói

lối Yên Huy

Mỗi mẩu chuyện trong NLYH tuy ngắn gọn nhng đều có đầy đủ t cáchcủa một câu chuyện và có cấu trúc hoàn chỉnh nh một văn bản độc lập Trongchỉnh thể văn bản ấy, các câu hợp lại, tạo thành sự liên kết chặt chẽ, từ lờicủa ngời kể, lời dẫn thoại đến lời đối thoại

Khảo sát câu trong các mẩu chuyện, chúng tôi đã thống kê, phân loạichúng dựa vào nhiều căn cứ Kết quả đợc trình bày trong các mục sau đây

3.1 Phân loại câu xét về cấu tạo ngữ pháp

Trang 38

Các loại câu trong các mẩu chuyện NLYH khá phong phú, đa dạng Cácloại câu có số lợng nh sau:

Quyển sách này rất hay.

Ngày mồng hai, tháng chín năm 1945, tại Quảng trờng Ba

Đình, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập.

Với quan niệm nh trên, khảo sát trong tổng số 591 câu trong 81 chuyện

kể, chúng tôi thu đợc kết quả: câu đơn có 497 câu, tỉ lệ 84,09% Ví dụ nhữngcâu nh:

- Nhà tui (tôi) nuôi mấy đứa con rành (toàn) ăn đầu mấu đòn triêng

(mấu đòn gánh) ( chuyện ăn đầu mấu đòn triêng)

- Ôông(ông) vót đụa (đũa) để ăn cấy à ? (chuyện ăn cấy)

- Ngời em nói: (chuyện ăn rằm)

- Chó sủa đầu mồm! (chuyện Chó chi sủa)

v.v…

b) Câu ghép

Cũng theo các tác giả Sổ tay tiếng Việt phổ thông trung học, “câu ghép là

câu có từ hai cụm C – V (chủ – vị) trở lên, có quan hệ trực tiếp với nhau,nghĩa là không làm thành phần bên trong nòng cốt câu hoặc thành phần bêntrong thành phần phụ của câu.” (16, tr.51) Ví dụ:

Vì trời ma nên tôi không đến trờng đợc.

Hễ thời tiết thay đổi là nó ốm.

Không những có gió rét mà trời còn lấm tấm ma.

Trang 39

Mẹ bảo sao thì con làm vậy.

Xe đến rồi xe lại đi.

Khảo sát trong tổng số 591 của 81 mẩu chuyện, chúng tôi thu đợc kết

quả có: 83 câu ghép, tỉ lệ 14,04% Ví dụ những câu nh:

- Ôông(ông) Kê là bác, ôông (ông) Kính là chú (chuyện Chú nhiều trự

hơn tui)

- Thì nghe ôông (ông) nói chợ về đây rồi nên bà tui (bọn tôi) phải dọn

dẹp mà đi nơi khác để dènh (dành) nơi cho chợ họp (chuyện Chợ về)

- Đầu đuôi thì khôông (không) can chi còn khúc trửa (khúc giữa) thì bị

đập nhừ (đánh đau) (chuyện Đầu đuôi răng)

- Tui (tôi) tởng bác bàn giỗ cha thì tui (tôi) ở lại bàn bạc chơ (chứ) bác

định giỗ cáo thì tui (tôi) về (chuyện Giỗ cáo) v.v…

ở ngoài phố, những ngời là ngời.

Khảo sát trong tổng số 591 câu trong 81 mẩu chuyện nói lối chúng tôithấy, câu đặc biệt có: 11 câu, tỉ lệ 1,87 % Ví dụ những câu nh:

- Vâng, tha ôông (ông) ! ( chuyện ăn cấy)

- Chạy cho mau ! (chuyện Cày để bừa)

- Có đợ (đỡ) (chuyện Có đợ)

- ờ hẹ ! (chuyện Đối đáp)

v.v…

Tổng hợp các số liệu trên qua bảng sau:

TT Loại câu Số lợng (câu) Tỉ lệ (%)

Trang 40

ợc sử dụng với tần số cao nh vậy là do đặc trng của kiểu giao tiếp khẩu ngữtrong NLYH Trong giao tiếp hàng ngày ngời nói thờng sử dụng kiểu câu đơn

đầy đủ hai thành phần đề ngữ và thuyết ngữ, để ngời nghe dễ nắm bắt nộidung của câu nói Một mẩu chuyện nói lối thờng ngắn gọn (trung bình chỉ có7,3 câu/một mẩu chuyện) Dung lợng ngắn nên hình thức câu đơn là phù hợp Câu ghép có kết cấu phức tạp hơn, phù hợp với t duy lý luận, với phongcách ngôn ngữ chính luận, diễn đạt những nội dung trừu tợng Các câu trongNLYH không cần diễn đạt dài dòng, lại thuộc phong cách khẩu ngữ Phảichăng vì thế mà trong các mẩu chuyện, câu đơn có tần số sử dụng cao hơncâu ghép Dĩ nhiên, ở một số ngữ cảnh cụ thể trong nói lối vẫn phải sử dụngcâu ghép Đó là những ngữ cảnh lời kể (dẫn thoại), lời thoại nêu lên suy nghĩ,

lý lẽ hay nhiều sự việc diễn ra Ví dụ:

- Ôông(ông) nói răng (thế nào) chơ (chứ) tui (tôi) chộ ló (thấy lúa) ngoài đôồng (đồng) tốt lắm, huyện đang định chỉ đạo xạ (xã) ta báo cáo

điển hình, răng (sao) ôông (ông) lại bảo mất mùa ?(chuyện Gieo mạ) – Lời

thoại nêu lý lẽ

- Bựa qua (hôm qua) tui (tôi) đợc 8 điểm răng bựa ni (sao hôm nay)

ôông (ông) bớt đi la 9 (còn 9) ? (chuyện Bớt điểm) – Lời thoại nêu thắc

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hoá sử cơng, Nxb Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cơng
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2000
2. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2009
3. Diệp Quang Ban, Đỗ Hữu Châu (2000), Tiếng Việt 10, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 10
Tác giả: Diệp Quang Ban, Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
4. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên, 1999), Từ điển tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh, Nxb Văn hoá Thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
5. Phan Mậu Cảnh (2008), Lí thuyết và thực hành văn bản tiếng Việt, NxbĐại học Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí thuyết và thực hành văn bản tiếng Việt
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: NxbĐại học Quốc gia
Năm: 2008
6. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
7. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2000), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngônngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
9. Chu Xuân Diên (1984), Từ điển văn học (tập 2), Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1984
10. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại), Nxb Khoa học xãhéi, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học xãhéi
Năm: 1986
11. Nguyễn Trờng Giang (2002), Lôgic trong tranh luận, Nxb Trẻ, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgic trong tranh luận
Tác giả: Nguyễn Trờng Giang
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2002
12. Nguyễn Thiện Giáp (2003), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
13. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên, 1988), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dôc, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Giáodôc
14. Phan Th Hiền, Tạ Kim Khánh (2006), Nói lối Yên Huy, Nxb Văn hoád©n téc, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói lối Yên Huy
Tác giả: Phan Th Hiền, Tạ Kim Khánh
Nhà XB: Nxb Văn hoád©n téc
Năm: 2006
15. Đặng Thanh Hoà (2005), Từ điển phơng ngữ tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển phơng ngữ tiếng Việt
Tác giả: Đặng Thanh Hoà
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
17. Nguyễn Lai (1996), Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học
Tác giả: Nguyễn Lai
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 1996
18. R. Laodo (2003), Ngôn ngữ học qua các nền văn hoá, Nxb Đại học Quèc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học qua các nền văn hoá
Tác giả: R. Laodo
Nhà XB: Nxb Đại họcQuèc gia
Năm: 2003
19. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
22. Triều Nguyên (2000), Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao ngời Việt, Nxb Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao ngời Việt
Tác giả: Triều Nguyên
Nhà XB: NxbThanh Hoá
Năm: 2000
23. Hoàng Phê (1989), Lôgic ngôn ngữ học, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgic ngôn ngữ học
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1989
24. Lê Minh Quốc (2005), Tiếng cời dân gian hiện đại Việt Nam, Nxb Phụ n÷, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng cời dân gian hiện đại Việt Nam
Tác giả: Lê Minh Quốc
Nhà XB: Nxb Phụn÷
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Tổng hợp số liệu trên qua bảng sau: - Đặc điểm ngôn ngữ kiểu nói lối yên huy (can lộc, hà tĩnh)
ng hợp số liệu trên qua bảng sau: (Trang 26)
b) Nhận xét về độ dài các mẩu chuyện - Đặc điểm ngôn ngữ kiểu nói lối yên huy (can lộc, hà tĩnh)
b Nhận xét về độ dài các mẩu chuyện (Trang 26)
Tổng hợp các số liệu về câu phân theo mục đích nói qua bảng sau: - Đặc điểm ngôn ngữ kiểu nói lối yên huy (can lộc, hà tĩnh)
ng hợp các số liệu về câu phân theo mục đích nói qua bảng sau: (Trang 46)
Tổng hợp các số liệu trên qua bảng sau: - Đặc điểm ngôn ngữ kiểu nói lối yên huy (can lộc, hà tĩnh)
ng hợp các số liệu trên qua bảng sau: (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w