1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tạp Chí Ngân Hàng số 23 2013

72 741 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chứng chỉ/giấy phép hành nghề ngân hàng: Tại sao không?
Tác giả Phạm Thị Thanh Xuân, Trần Mạnh Tuyến, Nguyễn Quốc Hùng, Vũ Ngọc Niên, Kim Anh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thanh Hương, PGS., TS. Đặng Thị Nhàn, PGS., TS. Nguyễn Đắc Hưng, PGS., TS. Lê Hoàng Nga, PGS., TS. Đoàn Thanh Hà
Trường học Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Tạp chí
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 3,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạp chí chuyên cung cấp thông tin uy tín trong lĩnh vực sản phẩm và dịch vụ cao cấp .....

Trang 1

Chứng chỉ/giấy phép hành nghề ngân hàng:

Tại sao không

23

?

Trang 3

TS Nguyễn Thị Thanh Hương - Phó Chủ tịch TT

PGS., TS Nguyễn Kim Anh

ThS Nguyễn Hữu Nghĩa

ThS Đoàn Thái Sơn

ThS Phạm Tiên Phong

HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

13- Bàn về bài học kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn 2011 - 2013 và khuyến nghị giai đoạn 2014 - 2015.

PGS., TS Nguyễn Đắc Hưng

20- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến kiều hối trong thời gian qua.

Trần Mạnh Tuyến, Nguyễn Quốc Hùng

CÔNG NGHỆ NGÂN HÀNG

23- Chứng chỉ/giấy phép hành nghề ngân hàng: Tại sao không?

PGS., TS Lê Hoàng Nga

26- Hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam tại Cambodia.

ThS Trần Nguyễn Minh Hải, Huỳnh Lưu Đức Toàn

33- Xây dựng bộ quy tắc đạo đức kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam: Thực trạng và một vài khuyến nghị.

TS Bùi Hữu Toàn, ThS Viên Thế Giang

42- Hoạt động tín dụng ngân hàng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long.

GS Đinh Xuân Trình và PGS., TS Đặng Thị Nhàn

50- Các biện pháp tài chính nhằm hạn chế bong bóng bất động sản trên thế giới và vận dụng cho Việt Nam.

Vũ Ngọc Niên

TÀI CHÍNH VÀ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ

61- Sở hữu chéo ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng - Kinh nghiệm của nước Ý.

Thu Hằng

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

64- Một ngày làm việc của Bác.

TIN TỨC

Trang 4

Bài viết này giới thiệu các chỉ

số lạm phát cơ bản, được

ước lượng bằng các kỹ thuật

thống kê khác nhau, cho trường

hợp của Việt Nam, giai đoạn từ

2009:01 đến 2013:09 Một bộ tiêu

chí đánh giá lạm phát cơ bản được

lựa chọn và ứng dụng để kiểm định

chất lượng của các chỉ số vừa ước

lượng Kết quả cho thấy, phần lớn

các chỉ số đã ước lượng được là

khá đồng nhất, cung cấp một lượng

thông tin đáng tin cậy về xu hướng

vận động chung giá cả Nổi bật có

chỉ số lạm phát mà đã loại trừ Giá

nhóm Bưu chính và Thực phẩm

đáp ứng, về cơ bản, đầy đủ các

tiêu chí mong đợi; có thể phù hợp

trong vai trò là chỉ số lạm phát của

chính sách tiền tệ, góp phần định

hướng lạm phát kỳ vọng Đóng góp

chính của nghiên cứu này là chỉ ra

khả năng áp dụng và một số vấn

đề quan trọng xung quanh việc áp

dụng các kỹ thuật thống kê vào ước

lượng lạm phát cơ bản trên cơ sở

dữ liệu giá Việt Nam

Lời giới thiệu

Để ước lượng lạm phát cơ bản,

hiện có khá nhiều phương pháp,

và có thể tạm chia thành hai nhóm

lớn: (1) Nhóm các phương pháp sử

dụng các mô hình kinh tế lượng;

(2) Nhóm các phương pháp sử

dụng các kỹ thuật thống kê Nếu,

nhóm thứ nhất được đánh giá cao

trong giới phân tích vĩ mô, bởi

tính logic của nó thống nhất từ

định nghĩa cho đến cách thức ước

lượng, thì, nhóm thứ hai lại được sử

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT

THỐNG KÊ VÀO VIỆC ƯỚC LƯỢNG

LẠM PHÁT CƠ BẢN VIỆT NAM

dụng rộng rãi ở nhiều Ngân hàng Trung ương trên thế giới, bởi cách tính đơn giản, dễ hiểu, dễ cập nhật của nó Ở bài viết này, tác giả giới thiệu tóm tắt nhóm phương pháp thống kê, trong đó làm rõ: nguồn gốc, ưu điểm và hạn chế của từng phương pháp Kết quả ước lượng cho toàn bộ thời gian quan sát, từ 2009:01 đến 2013:09, được trình bày cụ thể Các chỉ số đã ước lượng

sẽ được đánh giá thông qua mức độ đáp ứng một bộ tiêu chí cụ thể và

so sánh lẫn nhau để chọn ra những ứng viên tiêu biểu cho vai trò chỉ số định hướng của chính sách

Phần còn lại của bài viết được thiết kế gồm có các phần sau đây:

Phần 1 trình bày cơ sở lý thuyết và

ví dụ minh họa các kỹ thuật thống

kê dùng ước lượng lạm phát cơ bản; Phần 2 trình bày kết quả ước lượng lạm phát và một số vấn đề xung quanh bộ dữ liệu sử dụng để ước lương; Phần 3 đánh giá chất lượng của các chỉ số lạm phát cơ bản Cuối cùng là kết luận

phẦn i:

CƠ SỞ LÝ thUYẾt VỀ CÁC KỸ thUật thỐng Kê ứng DỤng VÀO ƯỚC LƯỢng LẠm phÁt CƠ bẢn

Ý tưởng trung tâm được giới thiệu ngắn gọn qua định nghĩa về lạm phát của John Flemming như sau:

“Lạm phát là tỷ lệ mà tại đó mức giá chung đang thay đổi trong nền kinh tế” (Flemming, 1976) Qua

đó, lạm phát được xác định là xu hướng biến động chung, tương đồng của phần lớn giá cả hàng hóa trong nền kinh tế Sự tồn tại một vài

ra khỏi xu hướng vận động chung của nó ở một số thời kỳ nhất định

Ví dụ như giá cả lương thực, thực phẩm giảm mạnh khi vào mùa thu hoạch hoặc tăng đột biến do mất mùa vì thiên tai lũ lụt Đó cũng có thể là sự tăng giá dược phẩm do chính sách thuế nhập khẩu thay đổi…Để có được chỉ số lạm phát đúng theo tinh thần của định nghĩa trên, cần thiết phải loại bỏ những

cú sốc giá cá biệt, bất thường nói trên khi tính lạm phát Chính ý tưởng này là cơ sở định hình nên các công thức ước lượng lạm phát

cơ bản cụ thể, sẽ lần lượt được giới thiệu ở dưới đây

(1) Trung bình rút gọn - thuật

ngữ tiếng Anh là Trimmed mean -

đề xuất bởi đồng tác giả Michael Bryan và Cecchetti năm 1993 Trung bình rút gọn, về mặt thống

kê, là một phép toán cho phép lọc

và loại bỏ một số giá trị ngoại lệ (quá lớn hoặc quá nhỏ) ra khỏi một tập hợp số liệu và tính trung bình cho những giá trị còn lại Bởi, sự tồn tại một số giá trị cá biệt, làm cho phân phối của tập hợp dữ liệu này mất đi tính cân xứng Khi đó, giá trị trung bình hay trung bình trọng số,

sẽ mất đi tính đại diện cho giá trị trung tâm/lõi của phân phối Việc loại bỏ những giá trị ngoại lệ đó nhằm loại bỏ ảnh hưởng của chúng đến toàn bộ tập hợp số liệu, từ đó, giá trị trung bình của tập dữ liệu đã rút gọn này, sẽ đại diện tốt hơn cho

xu hướng trung tâm của phân phối.Ứng dụng phép toán này vào trường hợp tính lạm phát Tại một thời điểm cụ thể, lạm phát là giá trị bình quân gia quyền của mức thay đổi của giá cả từng nhóm hàng

* trường đại học Kinh tế - đại học huế.

nCS tại đại học Rennes 1 - Cộng hòa pháp

Trang 5

trong giỏ hàng hóa tính chỉ số giá

tiêu dùng Giả sử, phần lớn các giá

cả trong đó đều vận động theo một

xu hướng chung, dao động trong

một biên độ nhất định, thì khi đó,

giá trị trung bình - là lạm phát

tổng hợp - sẽ phản ánh rất tốt xu

hướng vận động chung của giá cả

Tuy nhiên, trong trường hợp một

số giá cả có biến động bất thường,

tiêu biểu như mức thay đổi giá đó

là quá lớn so với mặt bằng chung,

hoặc, sự thay đổi đó là ngược chiều

với xu hướng giảm giá phổ biến…

đều làm cho giá trị trung bình bị

kéo chệch khỏi khu vực trung tâm

của phân phối Khi đó, lạm phát

tổng hợp này đã bị phóng đại hóa

Cũng logic như vậy, ở tình huống

ngược lại, lạm phát tổng hợp cũng

có thể bị đánh giá thấp so với mặt

bằng tăng giá chung/lạm phát cơ

bản trong nền kinh tế Vì thế, loại

bỏ những biến động giá bất thường

là cách làm cần thiết

Các giá trị quá lớn, hoặc quá

nhỏ, thường tập trung ở hai đuôi

của phân phối, còn những giá trị

tập trung hội tụ xung quanh đỉnh

nhọn của bảng phân phối, là phần

phản ánh lạm phát cơ bản Giá

trị quá lớn tập trung ở đuôi phải,

còn giá trị quá nhỏ tập trung ở đuôi trái Giá trị quá lớn kéo phân phối nghiêng phải, giá trị trung bình chệch về bên phải của đỉnh phân phối Ngược lại, giá trị quá nhỏ sẽ kéo phân phối nghiêng trái, giá trị trung bình chệch về bên trái của đỉnh phân phối Nếu lược bỏ các giá trị này đi, phân phối sẽ trở về cân xứng Vấn đề có tính quyết định đối với phương pháp này là xác định được tỷ lệ lược bỏ phù hợp cho từng đuôi của phân phối

Tỷ lệ này phụ thuộc nhiều vào hình dáng của phân phối

Ưu điểm: Cách tính này rất đơn giản, việc tính toán có thể thực hiện hàng tháng, ngay khi có số liệu giá

cả các thành phần của CPI, lập tức, cơ quan thống kê hoặc ngân hàng trung ương có thể tính ngay được lạm phát cơ bản theo cách này, và công bố kịp thời ra công chúng Vì thế, tính cập nhật của nó được đánh giá cao Phương pháp trung bình rút gọn của Michael

và Cecchetti được ứng dụng khá rộng rãi Cho đến nay, sau gần

20 năm, phương pháp này vẫn còn được đánh giá tốt và tiếp tục được ứng dụng trong thực tế Mới nhất có nghiên cứu của Brent và

Guhan (Brent Meyer and Guhan Venkatu, 2012) tiến hành kiểm tra lại sự phù hợp của phương pháp rút gọn, và đã không tìm được bằng chứng bác bỏ sự hiệu quả của phương pháp này

(2) Trung vị và trung vị gia quyền

Đại diện cho xu hướng chung của một tập hợp dữ liệu, ngoài giá trị trung bình, còn có giá trị trung vị Trung vị có thể xem là trường hợp đặc biệt của trung bình rút gọn, với

tỷ lệ rút gọn là 50% mỗi bên của phân phối Vì vậy để ước lượng lạm phát cơ bản, một số nhà nghiên cứu đã sử dụng chỉ số trung vị và chỉ số trung vị gia quyền song song với chỉ số bình quân gia quyền và bình quân gia quyền rút gọn như giới thiệu ở trên

(3) Loại trừ - phương pháp được

đề xuất bởi Laflèche (1997)Nếu như phương pháp trung bình giản lược ở trên, chỉ tập trung loại bỏ những sự thay đổi giá bất thường ra khỏi tập hợp dữ liệu giá, thì, ở phương pháp này, Laflèche chủ trương loại bỏ hẳn những hàng hóa có giá cả biến động bất thường

ra khỏi giỏ hàng hóa tính lạm phát

Cụ thể, trên số liệu của Canada, Laflèche ghi nhận hai nhóm hàng hóa lương thực và Năng lượng thường thay đổi mạnh, bất thường, lại chủ yếu từ những nguyên nhân khách quan, độc lập với chính sách

Lạm phát được xác định là xu hướng biến động chung, tương đồng của phần lớn giá cả

hàng hóa trong nền kinh tế

Trang 6

tiền tệ Đây còn là hai đại diện tiêu

biểu và rõ nét nhất cho những cú

sốc cung tạm thời tác động lên lạm

phát Vì vậy, giá cả hai nhóm hàng

này đã bị loại bỏ khỏi công thức

tính lạm phát cơ bản Phần còn lại

của giỏ hàng, được tính lại trọng số

và lấy trung bình Chỉ số mới được

gọi là Chỉ số giá đã loại trừ Lương

thực và năng lượng - tên gọi phản

ánh chính xác bản chất của cách

tính

Cũng sở hữu những ưu điểm tương

tự cách tính “Trung bình rút gọn”,

cách tính “loại trừ” còn có ưu điểm

trội hơn ở tính dễ hiểu, dễ thực

hiện Cũng nhờ ưu điểm này mà

“chỉ số lạm phát cơ bản loại trừ” dễ

được chấp nhận bởi công chúng

Tuy nhiên, cách tính này cũng vấp

phải một số hạn chế như sau: thứ

nhất, việc loại trừ vĩnh viễn một số

chỉ số giá thành phần không phải

luôn luôn phù hợp Đồng ý rằng

đây là nhóm hàng hóa có giá cả

biến động nhất và nằm ngoài khả

năng kiểm soát của chính sách tiền

tệ, song, trong một số thời kỳ, giá

của chúng khá ổn định và đi theo

xu hướng vận động chung với giá

cả các hàng hóa khác Ngoài ra,

nếu nền kinh tế bước sang một giai

đoạn khác, việc loại bỏ như vậy

chưa chắc đã phù hợp, có thể xuất

hiện sự bất thường ở sự thay đổi giá

của một số hàng hóa khác Như

vậy, cách tính này cần phải được

xem xét lại, định kỳ đánh giá lại và

xác định lại những loại giá nào cần

loại bỏ hay giữ lại trong giỏ hàng

hóa tính lạm phát cơ bản Thứ hai,

có nhiều ý kiến không đồng tình

với cách làm loại trừ, bởi theo họ,

lạm phát trước hết phải phản ánh

được những thay đổi trong chi phí

cuộc sống Nếu cứ loại trừ những

chỉ số giá thành phần quá biến

động, thì, chỉ số lạm phát lúc này

không còn phản ánh đầy đủ sự thay

đổi của chi phí cuộc sống (cost of

living) Tuy nhiên, đó không hẳn là nhược điểm mà đó là sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm này Cách hiểu đúng phải là: Lạm phát chỉ phản ánh chứ không hoàn toàn là mức thay đổi trong chi phí cuộc sống

Tóm lại, tuy có những hạn chế như vây, nhưng sự đơn giản và dễ hiểu của cách tính này đã nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Bằng chứng là hàng loạt quốc gia áp dụng cách tính này vào việc tính chỉ số lạm phát

cơ bản cho quốc gia họ Tuy nhiên, mỗi quốc gia có danh mục riêng những hàng hóa hoặc nhóm hàng hóa cần loại trừ chứ không cứng nhắc ở hai nội dung lương thực và năng lượng Ngay cả Laflèche và các cộng sự, sau đó, cũng mở rộng đối tượng cần loại bỏ, các ông đã

đề xuất tiếp tục loại bỏ những biến động giá có nguyên nhân từ việc điều chỉnh thuế gián thu vào nền kinh tế

(4) Giảm nhẹ trọng số - đề xuất

bởi Laflèche (1997)

Ở phương pháp loại trừ, chúng ta loại bỏ thành phần nào đó ra khỏi công thức tính lạm phát cơ bản, cũng giống như việc chúng ta áp đặt trọng số bằng 0 cho thành phần

đó Khi đặt trọng số của nó bằng 0 cũng có nghĩa là chúng ta triệt tiêu hoàn toàn ảnh hưởng của nó đến lạm phát Tuy nhiên, điều này có những hạn chế nhất định như đã

đề cập ở trên Vì thế, thay vì loại

bỏ hoàn toàn những thành phần này, Laflèche tìm cách làm giảm mức độ ảnh hưởng của chúng bằng cách tính toán và áp đặt cho chúng những trọng số mới, thấp hơn so với ban đầu Phương pháp này vì vậy gọi là phương pháp giảm nhẹ trọng số Trọng số mới được tính theo hướng là: Chỉ số giá thành phần nào càng biến động thì càng cần phải giảm nhiều trọng số của

nó Tính biến động được xác định

bằng độ lệch chuẩn của chỉ số giá

đó so với giá trị trung bình của nó trong một khoảng thời gian Cách tính: với mỗi chỉ số giá thành phần,

ta lấy trọng số ban đầu chia cho độ lệch chuẩn của nó, ta có được một loạt những trọng số mới Để cho phù hợp, tức là, đảm bảo rằng tổng các trọng số mới phải bằng 100, ta tiến hành bình thường hóa trọng

số bằng cách lấy từng trọng số mới chia cho tổng của chúng, kết quả cuối cùng này là trọng số mới chính thức để đưa vào công thức tính giá trị bình quân gia quyền của giỏ hàng hóa tính lạm phát

So với phương pháp loại trừ thì phương pháp này có ưu điểm hơn bởi nó không loại trừ bất cứ thành phần nào ra khỏi giỏ hàng tính lạm phát Nó đơn giản là chỉ làm giảm mức độ ảnh hưởng của một số giá quá biến động bằng cách giảm quyền số tương ứng áp dụng cho chỉ số giá đó Cũng như phương pháp "loại trừ", phương pháp "giảm nhẹ trọng số" cũng được ứng dụng vào tính toán và công bố lạm phát

cơ bản ở nhiều quốc gia

kỳ 2009-2013 được công bố hàng tháng bao gồm 11 nhóm cấp 1 và

3 nhóm cấp 2 (lương thực, thực phẩm và ăn uống ngoài gia đình), chi tiết cho nhóm cấp 1 lương thực - thực phẩm Trong khuôn khổ nghiên cứu này, 3 nhóm cấp 2 kể trên được xem tương đương với 3 nhóm cấp 1, thay thế cho nhóm lương thực thực phẩm Cách làm

Trang 7

này không làm thay đổi bản chất

của chỉ số, nhưng, có thuận lợi là

cho phép mở rộng tập hợp dữ liệu

giá, hiện còn khá hạn chế ở các

nhóm cấp1 Việc mở rộng này còn

cho phép xem xét chi tiết hơn tính

chất của phân phối biến động giá

Như vậy, trong khuôn khổ nghiên

cứu này, chỉ số giá tiêu dùng được

xem là giá trị bình quân gia quyền

của 13 nhóm hàng hóa với trọng

số tương ứng của chúng, liệt kê chi

tiết ở bảng sau : (Bảng 1)

Thời gian nghiên cứu giới hạn từ

2009:01 đến 2013:09 bởi hai lý

do: thứ nhất, bắt đầu từ 2009, danh

mục mặt hàng đại diện tính CPI

được cập nhật mới, trong đó, bổ

sung thêm khá nhiều mặt hàng và

tách nhóm giao thông - bưu chính

thành hai nhóm độc lập Thứ hai,

với cơ sở dữ liệu ở cấp 1 có tính

tổng quát cao, tác giả không thể

nối tiếp cơ sở dữ liệu giá từ những

năm trước 2009 để có thể có được

những chuỗi số dài hơn, phục vụ

cho nghiên cứu Tác giả ghi nhận

vấn đề này như một hạn chế của

nội dung phân tích này

Sự thay đổi giá của 13 nhóm hàng

hóa thành phần - từ đây thống nhất

gọi là 13 chỉ số thành phần - được

giới thiệu ở đồ thị sau: (Đồ thị 1)

Tính chất phân phối của tập hợp

dữ liệu giá

Ở phần này, chúng ta kiểm tra

phân phối của những thay đổi

giá nhằm hiểu được tính chất đặc

trưng của sự vận động của giá ở

từng thời điểm và theo thời gian

Những thông tin xác định được ở

bước này rất quan trọng bởi nó sẽ

là những thông tin có tính gợi ý cho

việc lựa chọn những phương pháp

khả thi trong việc ước lượng lạm

90 100 110 120 130 140 150 160

170 HEALTHTRANS POST HOUSING FOOD FOODSTUFF BEV

GARMENT OTHERS CULTURE EDU FOODSERVICE HOUSEHOLD

STDDEV

J F M A M J J A S O N D J F M A M J J A S O N D J F M A M J J A S O N D J F M A M J J A S O N D J F M A M J J A S

5 20

SKEW

J F M A M J J A S O N D J F M A M J J A S O N D J F M A M J J A S O N D J F M A M J J A S O N D J F M A M J J A S

-10 0 10

KURT

J F M A M J J A S O N D J F M A M J J A S O N D J F M A M J J A S O N D J F M A M J J A S O N D J F M A M J J A S

2.5 10.0

và trình bày ở đồ thị dưới đây (Đồ thị 2)

Ký hiệu:

Mean: Trung bình trọng số ; STDDEV: Độ lệch chuẩn có tính trọng số ; SKEW: Độ nghiêng của phân phối có tính trọng số ; KURT:

Độ nhọn của phân phối có tính trọng số

Độ lệch chuẩn phản ánh mức

độ phân tán của thay đổi giá theo tháng Ta có thể thấy, ở đồ thị độ lệch chuẩn và đồ thị trung bình của phân phối, độ lệch chuẩn khá biến động theo thời gian, và rất rộng so với trung bình ở mỗi tháng Đặc biệt

ở những giai đoạn lạm phát cao thì

độ lệch chuẩn lại càng rộng Tiêu biểu như giai đoạn giữa năm 2011,

độ lệch chuẩn vượt cao hơn cả giá trị trung bình Điều này có thể lý

giải bởi: giá một số hàng hóa, ở một thời điểm, tăng cao, và mức tăng này, tiếp tục được phóng đại bởi trọng số của nó Vì thế, phương sai sai số cũng bị phóng đại theo cách

đó, thậm chí bị phóng đại gấp đôi, bởi vì, nó được nhân với hệ số 2 Tương tự, độ lệch chuẩn, là giá trị căn bậc hai của phương sai, cũng theo đó đã bị phóng đại Đặc biệt,

từ giữa năm 2012, độ lệch chuẩn đặc biệt lớn trong khi lạm phát lại duy trì ở mức khá phổ biến Điều

đó lý giải bởi sự tăng bất thường của giá cả nhóm HEALTH, với mức tăng rất lớn và liên tục, từ 20% đến

40 và 60%

Hình dáng của phân phối

Nếu xem xét phân phối của tập hợp dữ liệu giá chưa tính trọng số, thì phân phối khá mất cân đối, giai

Trang 8

đoạn trước 2010, chủ yếu là lệch

trái, còn sau đó thì lại rất lệch phải,

đặc biệt phân phối nghiêng hẳn

sang phải từ giai đoạn giữa 2012

trở đi Nếu xem xét phân phối của

tập hợp dữ liệu giá đã tính trọng

số, thì phân phối dường như cân

xứng hơn, nhưng, các đặc tính cơ

bản thì vẫn không đổi Giai đoạn

trước 2010, phân phối vẫn lệch

trái và giai đoạn giữa 2012 trở đi,

phân phối nghiêng hẳn sang phải

Sự lệch phải này, như đã đề cập ở

trên, là do giá của nhóm HEALTH

tăng đột biến, tăng 40- 50-60%

liên tục trong nhiều tháng trong khi

giá của 12 nhóm còn lại chỉ tăng

nhẹ Thời gian nghiên cứu được

chia thành hai phân đoạn: trước

tháng 5/2012 trở về trước và sau

tháng 5/2012 Giai đoạn thứ nhất,

phân phối hơi lệch về bên trái, và

giai đoạn thứ hai, phân phối lệch

rõ rệt về bên phải

Xem xét độ nhọn của phân phối

Độ nhọn Kurtosis cho ta thấy mức

độ tập trung của phân phối Đặc

trưng lớn của phân phối biến động

giá là quá nhọn (lepkurtosis), như

nghiên cứu của Michael, Roger…

đã chỉ ra Việt Nam cũng không

nằm ngoài quy luật chung này, tuy

nhiên, đỉnh nhọn trường hợp của

Việt Nam thấp hơn rất nhiều Nói

cách khác, hình dáng phân phối

của tập hợp giá Việt Nam là từ hơn

so với các quốc gia khác Cũng vì

thế, hai đuôi của đồ thị phân phối

giá khá rộng

Kiểm tra tương quan giữa các

mômen của lạm phát: Ta thấy, hệ

số tương quan giữa trung bình và

độ lệch chuẩn là dương và lớn,

0.93 Điều đó cho thấy, độ phân

tán của biến động giá là tương quan

dương với sự thay đổi của trung

bình Nghĩa là, ở những giai đoạn

lạm phát cao, trung bình lớn thì độ

lệch chuẩn của giá lớn, giá cả biến

động và rất phân tán Điều này là

số tương quan là 0.26 tương đương với kết quả của Jonathan(0.25) Kết quả này phù hợp với thảo luận của các tác giả Ball và Mankiw, Balke

và Wynne Kết quả này cho thấy:

khi lạm phát tăng lên, thì phân phối càng mất cân đối, và phân phối càng nghiêng phải (Bảng 2)

Từ quan sát hình dáng của phân phối, một số nhận định được rút ra

như sau: Thứ nhất, với phân phối

rất không cân đối, có thể sẽ phải

áp dụng những tỷ lệ rút gọn khác nhau cho hai đuôi của phân phối

Thứ hai, sự khác biệt khá rõ ràng

giữa hai phân đoạn dẫn đến việc

có thể cần xác định những tỷ lệ rút gọn khác nhau cho từng mỗi giai đoạn Tuy nhiên đây chỉ là những nhận định có tính định hướng Để

có thể xác định được tỷ lệ rút gọn tối ưu, cần kết hợp thêm việc quan sát với nhiều yếu tố khác

Quyền số/trọng số của các nhóm hàng hóa đóng vai trò quan trọng

Thứ nhất, trong việc xác định tỷ

lệ tỷ lệ rút gọn áp dụng cho phương pháp trung bình rút gọn Giả sử, phân phối ở một thời điểm là lệch phải, theo nghĩa là có một vài giá trị quá lớn trong phân phối, tập trung bên phải đuôi phân phối Sự hiện diện của nó kéo trung bình lệch khỏi trung vị của phân phối, cụ thể, trung bình thường trở nên lớn hơn

so với trung vị của phân phối Sự lệch pha này dẫn đến việc nghi ngờ tính đại diện của chỉ số trung bình cho xu hướng trung tâm của phân phối Vì thế, cần thiết phải lược bỏ những giá trị cá biệt này Lược bỏ

như thế nào? Giả sử phân phối gồm

10 nhóm thành phần, không tính trọng số, hay phân phối với trọng

số đều nhau cho mọi thành phần, chúng ta đơn giản chỉ cần loại bỏ 10% ở đuôi phải là đã có thể loại

bỏ được 1 thành phần có giá biến động lớn nhất Tương tự, 20% nếu muốn tiếp tục loại bỏ ảnh hưởng của thành phần thứ hai Và cứ lặp lại như thế cho đến khi có được phân phối cân xứng hơn Trung bình của phân phối mới này sẽ đại diện tốt cho xu hướng chung của phân phối Thế nhưng, trường hợp phân phối có tính trọng số không đều nhau Giả sử như trường hợp của Việt Nam, phân phối gồm có biến động giá của 13 nhóm hàng khác nhau với trọng số cũng rất khác nhau Trường hợp phân phối lệch phải bởi biến động giá cả của nhóm y tế HEALTH lớn bất thường

so với những nhóm khác Khi đó, HEALTH sẽ hiện diện ở đuôi phải của phân phối Muốn có phân phối cân xứng hơn, cần loại bỏ được biến động giá của HEALTH ra khỏi phân phối Vậy, tỷ lệ rút gọn phải

là bao nhiêu trong tình huống này?

Tỷ lệ rút gọn tối thiểu phải bằng với quyền số của HEALTH Nếu tỷ

lệ này nhỏ hơn quyền số của nhóm HEALTH, thì, phương pháp trung bình rút chỉ làm giảm một phần ảnh hưởng của biến động giá của HEALTH lên mức giá chung Ngược lại, nếu tỷ lệ này lớn hơn quyền số của nhóm HEALTH, phương pháp trung bình rút gọn không chỉ loại

bỏ ảnh hưởng của Health mà còn loại bỏ ảnh hưởng của nhóm hàng hóa khác trong phân phối Vì vậy, đến đây có thể khẳng định, quyền

Trang 9

số đóng vai trò rất quan trọng trong

việc xác định tỷ lệ rút gọn tối ưu

Đồng thời, chúng tôi cũng nhấn

mạnh tầm quan trọng của tần suất

xuất hiện của các nhóm thành

phần ở hai đuôi của phân phối

Đây sẽ là những thông tin rất hữu

ích hỗ trợ cho việc xác định tỷ lệ

rút gọn tối ưu, cũng như hỗ trợ cho

việc xác định ứng viên bị loại bỏ

cho phương pháp loại trừ

Ngoài ra, để xác định được

tỷ lệ rút gọn tối ưu, Michael và

Cecchetti đã áp dụng kỹ thuật mô

phỏng Monte Carlo Phương pháp

này rất hiệu quả bởi nó chỉ ra tỷ

lệ rút gọn tối ưu là tỷ lệ mà nếu áp

dụng nó sẽ cho ra chuỗi lạm phát

cơ bản có khả năng dự báo tốt,

với sai số dự báo RMSE nhỏ nhất

Thông thường, tỷ lệ này phải từ

30-35% ở mỗi đuôi của phân phối Tuy

nhiên, Michael và Cecchetti cũng

nhấn mạnh rằng, ngay cả với tỷ lệ

rút gọn nhỏ (5%) thì cũng đã làm

thay đổi khá nhiều hình dạng của

phân phối và cải thiện được khá

hiệu quả khả năng dự báo của chỉ

số lạm phát cơ bản ước lượng được

Kỹ thuật mô phỏng của Monte

Carlo khá hiệu quả cho những bộ

dữ liệu lớn Trong nghiên cứu này,

với bộ dữ liệu chỉ giới hạn trong

13 chỉ số giá thành phần và chỉ

kéo dài trong 5 năm, vì thế, việc

áp dụng kỹ thuật này là không thật

cần thiết trong nghiên cứu này

Thứ hai, quyền số làm thay đổi

rất nhiều tính chất của phân phối

tập hợp dữ liệu giá để tính lạm

phát Ở hình trên biểu diễn đồ thị

phân phối tập hợp dữ liệu biến

động giá ở ba thời điểm khác nhau

(3 tháng) Có thể thấy nhận thấy

sự thay đổi rất lớn giữa phân phối

chưa tính trọng số (ký hiệu INDIS -

thể hiện ở 3 histogram bên trái) và

phân phối có tính trọng số (ký hiệu

WDIS - thể hiện ở 3 histogram bên

phải) Tiêu biểu như ở thời điểm thứ

đồ thị 3

bảng 3

Từ 2009:01 đến 2013:09 Từ 2009:01 đến 2012:05 Từ 2012:06 đến 2013:09 Chỉ số Trung bình Độ lệch chuẩn Trung bình Độ lệch chuẩn Trung bình Độ lệch chuẩn

số lạm phát cơ bản Phương pháp giảm nhẹ trọng số có thể phát huy hiệu quả trong những trường hợp này (Đồ thị 3)

Ước lượng lạm phát cơ bản bằng phương pháp loại trừ:

Một mình POST vận hành theo xu

hướng riêng Thứ hai, ở giai đoạn

sau 2012:05, giá của Health bất ngờ tăng vọt và tăng lên tục trong nhiều tháng, ở mức rất cao so với biến động giá của các nhóm khác Đây được xác định chỉ là cú sốc ngắn hạn, nhất thời bởi vì suốt giai đoạn trước, giá cả Health khá ổn

định Thứ ba, xét cho toàn bộ thời

gian nghiên cứu, FOODSTUFF là chỉ số giá biến động nhiều nhất, với variation liên tục thay đổi Ngoài ra, quyền số của nó quá lớn, gấp 3 bình quân các nhóm khác Vì vậy, sự biến động giá của FOODSTUFF thường bị cường điệu hóa, kéo chỉ số lạm phát tổng hợp (INF) lệch khỏi xu hướng chung Sau FOODSTUFF có nhóm TRANS cũng có giá cả liên tục đổi chiều Những đặc điểm trên được thể hiện ở bảng tóm tắt các thông số thống kê dưới đây (Bảng 3)

Từ những nhận định trên, POST, FOODSTUFF, HEALTH và TRANS được xác định lần lượt là ứng viên

bị loại trừ ra khỏi giỏ hàng hóa tính lạm phát cơ bản Từ đó, một loạt chỉ số lạm phát cơ bản được tính

và giới thiệu ở đồ thị dưới đây: (Đồ thị 4)

Kết quả cho thấy các chỉ số lạm phát cơ bản là khá đồng nhất với nhau, cả về trung bình, độ lệch chuẩn và các bước sóng Ngoài ra, một số điểm lưu ý được ghi nhận xung quanh kết quả ước lượng:ExPO1 lại lớn hơn chỉ số lạm

Trang 10

phát tổng hợp (INF), trong khi ExF

lại rất nhỏ so với chỉ số lạm phát

tổng hợp Điều này được lý giải

bởi việc biến động giá của POST

mang giá trị âm, vì nó không đi

theo xu hướng tăng giá chung mà

lại giảm giá trong thời gian dài, vì

thế, khi loại bỏ POST, trung bình

của lạm phát tăng lên Ngược lại,

FOODSTUFF biến động mạnh, chủ

yếu theo hướng tăng lên, đồng thời

tỷ trọng lớn nhất trong giỏ hàng

hóa Vì thế, loại bỏ FOODSTUFF ra

khỏi giỏ hàng hóa, lạm phát lập tức

của FOODSTUFF và POST, nên,

trung bình khá gần với INF hơn

Việc loại trừ một tỷ lệ lớn hàng

hóa ra khỏi giỏ hàng tính lạm phát

cơ bản, tuy góp phần làm giảm

tính biến động, nhưng, lại làm cho

lạm phát cơ bản chệch đi rõ rệt so

với chỉ số INF (Bảng 4)

Tính chất dao động mạnh (rất

mạnh) của tất cả các nhóm hàng

hóa, gợi ý, chúng ta không nên áp

dụng công thức loại trừ vĩnh viễn

một số nhóm hàng nhất định ra

khỏi giỏ hàng hóa Nên cập nhật,

định kỳ khoảng 2 năm, công thức

2009 2010 2011 2012 2013 0

5 10 15 20 25

này theo hướng xác định lại nhóm hàng cần loại bỏ Như vậy, vừa đảm bảo lạm phát cơ bản nắm bắt được xu hướng vận động chung của giá cả, đồng thời tránh việc loại bỏ quá nhiều nhóm hàng hóa

Tác giả muốn nhấn mạnh đặc tính dao động mạnh của lạm phát Việt Nam trong giai đoạn này, từ

2009:01 đến 2013:09 Thứ nhất,

độ lệch chuẩn rất lớn, tương đương với ½ trung bình của lạm phát

Thứ hai, có đến hơn 1/4 số quan

sát nằm ngoài biên độ dao động 5-15% (biên độ này được xác định bằng trung bình + và - độ lệch

chuẩn) Thứ ba, lạm phát bộc lộ

tính xu hướng mạnh mẽ, tăng liên tục trong 2 năm từ giữa 2009 đến giữa 2011, rồi lại đổi chiều, theo xu hướng giảm rất nhanh trong năm tiếp theo Thời gian quan sát không dài, chỉ 57 tháng, nhưng trong đó

đã có 15 tháng từ giữa 2012 đến hết 9/2013, lạm phát biến động rất trái với quy luật của những năm

trước đó Lạm phát từ nhóm y tế tăng đột biến, từ mức bình thường 4% mỗi năm lên đến 50 thậm chí 60% vào năm 2013 cho dù gần như không chịu bất cứ áp lực nào

từ phía cung hoặc cầu Chính vì vậy, có thể thấy đây không phải

là giai đoạn tốt nhất để kiểm định

sự phù hợp của các mô hình thống

kê phục vụ cho việc ước lượng lạm phát cơ bản Ngoài ra, số liệu về các chỉ số giá thành phần chỉ giới hạn ở 13 nhóm cấp 1 là rào cản cho các phân tích chi tiết Vì thế, vấn đề này được ghi nhận như là một hạn chế quan trọng của nội dung phân tích này (Đồ thị 5)

Ước lượng lạm phát cơ bản với phương pháp trung bình rút gọn:

Kiểm tra tần suất xuất hiện ở đuôi của phân phối đã tính trọng số, cho thấy, trong 57 tháng quan sát, có

46 tháng nhóm bưu chính POST xuất hiện ở đuôi trái của phân phối; nhóm Lương thực FOODSTUFF xuất hiện 57 lần trên 57 tháng ở

Trang 11

đuôi phải của phân phối Ngay cả

trong phân phối chưa tính trọng

số, POST vẫn luôn giữ vị trí ở đuôi

trái và FOODSTUFF vẫn luôn giữ vị

trí ở đuôi phải Ở phân phối cơ sở

này, còn có hai nhóm HEALTH và

TRANS xuất hiện ở nhiều ở đuôi

phải của phân phối Từ đó, tác giả

xác định tỷ lệ rút gọn là 3% cho

đuôi trái, nhằm loại bỏ ảnh hưởng

của khoảng nhóm POST thường

xuất hiện ở đuôi trái Tỷ lệ này

chỉ lớn hơn một chút so với quyền

số của nhóm POST (2,7%) Bằng

cách làm tương tự, tỷ lệ 15% rút

gọn được xác định cho đuôi phải

Tỷ lệ này là khá thuyết phục bởi,

nó có thể loại bỏ hoặc làm giảm

mức độ ảnh hưởng của các nhóm

ở đuôi trái, và tỷ lệ này, còn có thể

áp dụng thống nhất cho cả hai giai

đoạn, trước và sau 2012:05 Ngoài

ra, một loạt chuỗi số khác được

Giá trị tối đa 22.500 20.709 18.293 23.055 22.921 22.004

là cách làm phù hợp Tương tự như trung vị, trung vị gia quyền cũng

là điểm giữa của phân phối Thế nhưng trung vị gia quyền không nhất thiết luôn luôn là giá trị thứ 7 của phân phối đã xếp trật tự Điều

đó là vì phương pháp này có tính trọng số của các nhóm hàng Hơn nữa, nếu như trung vị nhận giá trị của một chỉ số giá thì trung vị trọng

số nhận giá trị trung bình giữa của hai chỉ số giá ở trung tâm của phân phối Vì thế, trong trường hợp của Việt Nam, tác giả chỉ ước lượng giá trị trung vị gia quyền mà thôi Kết quả được trình bày ở đồ thị dưới đây (Đồ thị 7)

Ước lượng lạm phát cơ bản với phương pháp giảm nhẹ trọng số:

Với lý do như phân tích ở trên, khi áp dụng cách tính này, mẫu nghiên cứu được chia thành hai giai đoạn, trước và sau 2012:05

Từ đó hai bộ quyền số khác nhau

và lạm phát cơ bản cũng được tính lần lượt cho từng giai đoạn sau đó nối lại thành một chuỗi thống nhất (Đồ thị 8)

Bảng trọng số mới cho các nhóm hàng hóa ở hai giai đoạn khác nhau (Bảng 5)

bảng 5

Từ 2009:01 đến 2012:05 Từ 2012:05 đến 2-13:09

Post 2.7 3.5 24.2 Trans 8.9 3.8 4.8 Housing 10.0 5.6 5.6 Edu 5.7 2.9 4.2 Health 5.6 12.7 0.3 Culture 3.8 6.3 8.8 Others 3.3 13.7 2.0 Garment 7.3 10.8 13.6 BEV 4.0 8.5 5.4 Household 8.7 15.5 10.8 Foodstuff 24.35 9.2 13.4 Food services 7.40 4.8 3.4 Food 8.18 2.7 3.5

Phần lớn các chỉ số giá đều rất biến động và mức độ biến động rất chênh với nhau xét ở từng tháng

Vì thế, việc lấy trung vị, tương

Trang 12

XÂY DỰNG KHUÔN KHỔ

CHÍNH SÁCH AN TOÀN VĨ MÔ CHO

HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM

* phó trưởng ban FSAp Vụ hợp tác Quốc tế

- nhnnVn

ThS Phạm Tiên Phong *

Khủng hoảng tài chính toàn

cầu vừa qua đã minh chứng

cái giá phải trả cho những

tổn thất do bất ổn hệ

thống tài chính ở tầm quốc gia và

toàn cầu Do vậy, việc nghiên cứu,

xây dựng các chính sách an toàn vĩ

mô là hết sức cần thiết nhằm mục

tiêu ổn định tài chính trong từng

quốc gia, khu vực và toàn cầu

1 Khủng hoảng tài chính và bài học

về giám sát tài chính

Bài học rút ra từ khủng hoảng tài

chính toàn cầu 2008 là: nguyên

nhân khủng hoảng bắt nguồn từ

những bất cập trong giám sát tài

chính, đặc biệt ở cấp độ giám sát

an toàn vĩ mô - liên quan đến toàn

bộ hệ thống tài chính Hệ thống

điều tiết, giám sát đã không thể

phát hiện kịp thời cũng như xử

lý khủng hoảng Điều này khẳng

định việc ổn định tài chính và

kiềm chế lạm phát không thể chỉ

dựa vào chính sách tiền tệ hay

giám sát tài chính đơn lẻ Người

ta cũng nhận ra một yếu tố then

chốt để đối phó với khủng hoảng

tài chính là cần phải tăng cường

giám sát an toàn vĩ mô đối với hệ

thống tài chính cũng như mối liên

hệ của nó đối với nền kinh tế thực

được thông qua việc tăng cường sự

bền vững của toàn bộ hệ thống tài

chính đối với các cú sốc thông qua việc chủ động hạn chế việc tích tụ rủi ro1. Với tầm quan trọng ngày càng tăng, chính sách an toàn vĩ

mô cùng với chính sách tài khóa

và chính sách tiền tệ được ví như

bộ ba công cụ trong việc điều hành kinh tế vĩ mô theo phương thức

“kiềng ba chân” của một nước, đã

và đang được áp dụng và chứng minh hiệu quả ở những nước phát triển cũng như các nước mới nổi

2 Khái niệm và các đối tượng điều chỉnh của chính sách an toàn vĩ mô

Chính sách an toàn vĩ mô: là

chính sách sử dụng các công cụ

an toàn để hạn chế rủi ro hệ thống và/hoặc rủi ro đối với tổng thể hệ thống tài chính nhằm đạt được mục tiêu giảm thiểu khả năng đổ

vỡ của hệ thống tài chính thông qua việc ngăn ngừa các dịch vụ tài chính có thể gây hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế thực

Khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô: bao gồm các yếu tố pháp lý,

các hoạt động phục vụ việc giám sát an toàn vĩ mô (thu thập số liệu, giám sát an toàn, kiểm định sức chịu đựng, đánh giá rủi ro), các công cụ chính sách (công cụ an toàn vĩ mô, các khuyến nghị chính sách, cảnh báo sớm), nguồn nhân lực và các yếu tố khác có liên quan (sự phối hợp với các chính sách, sự phối hợp triển khai của các đơn vị có liên quan ) nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là ổn định tài chính

Việc đánh giá hiệu quả của khuôn khổ chính sách an toàn vĩ

mô thường dựa trên các tiêu chí: (i) khả năng xác định và theo dõi các rủi ro tài chính ở cấp độ hệ thống, (ii) việc thiết kế và xác định các công cụ phục vụ mục đích an toàn

vĩ mô, và (iii) việc xây dựng thể chế, thực thi chính sách an toàn vĩ

mô đặt trong mối tương quan với các chính sách khác trong nước và trong khu vực

Đối tượng điều chỉnh của chính sách an toàn vĩ mô là rủi ro hệ thống với mục tiêu ổn định tài chính, bao gồm: (i) phát hiện và

ngăn ngừa nguy cơ xảy ra khủng hoảng tài chính làm sụt giảm tổng sản phẩm quốc nội; (ii) giảm thiểu những rủi ro lan truyền từ hệ thống tài chính đến nền kinh tế thực; và (iii) xử lý khủng hoảng Rủi ro hệ thống được chia thành 2 nhóm: (i) rủi ro theo chu kỳ (time dimension)

- tức là sự thay đổi của rủi ro hệ thống theo thời gian, và (ii) rủi

ro chéo giữa các khu vực section dimension hoặc structural dimension) - tức là rủi ro của toàn

(cross-hệ thống tại một thời điểm cụ thể

cơ quan ra quyết định, và (iv) sự phối hợp đối với chính sách trong nước đã chỉ ra không thể xây dựng

mô hình thể chế chung cho tất

cả các nước và các nước cần xây dựng mô hình thể chế riêng phù hợp với đặc thù của từng nước Như vậy, mỗi nước phải tự xây dựng mô hình thể chế dựa trên các đặc thù riêng của mình

Trang 13

Bảng 1: Mục tiêu của chính sách an toàn vĩ mô trong hệ thống tài chính

Chính sách tiền tệ Ổn định giá cả Tăng trưởng kinh tế ổn

định Chính sách an toàn vĩ mô Ổn định tài chính

Chính sách an toàn vi mô Sự lành mạnh của các định chế tài chính Bảo vệ người tiêu dùng

Nguồn: Dirk Schoenmaker và Peter Wierts (2011)

Bảng 2: Mục tiêu khác biệt giữa chính sách an toàn vi mô

và chính sách an toàn vĩ mô

Chính sách an toàn vĩ mô Chính sách an toàn vi mô Mục tiêu trước mắt Hạn chế bất ổn của toàn bộ hệ thống tài chính Hạn chế sự đổ vỡ của các tổ chức tài chính đơn lẻ

Mục tiêu cuối cùng Tránh tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế (GDP) Bảo vệ người tiêu dùng (nhà đầu tư/người gửi tiền)

Đặc tính rủi ro Phụ thuộc vào hành động của tập thể nhiều định chế (biến nội sinh) Phụ thuộc vào hành động của từng định chế đơn lẻ (biến ngoại sinh)

Mối tương quan và

Hiện nay, có 3 mô hình thể chế

cho việc thực thi chính sách an

toàn vĩ mô là: hợp nhất hoàn toàn,

hợp nhất một phần, phân tán

Thông thường các nước cân nhắc

ưu nhược điểm của các mô hình

để từ đó lựa chọn mô hình phù

hợp cho nước mình dựa trên các

tiêu thức: (i) hiệu quả trong việc

xác định, phân tích và giám sát rủi

ro hệ thống, (ii) sử dụng các công

cụ chính sách an toàn vĩ mô một

cách kịp thời và hiệu quả, (iii) việc

phối hợp có hiệu quả trong việc

đánh giá và làm giảm nhẹ rủi ro

Dưới đây là thống kê về mô hình

thể chế được áp dụng ở một số

nước trong khảo sát của Neir

- Hợp nhất hoàn toàn: chính

sách an toàn vĩ mô do Ngân hàng

Trung ương (NHTW) chịu trách

nhiệm thực thi, được áp dụng ở

Cezch, Ireland và Singapore

- Hợp nhất một phần: chính sách

an toàn vĩ mô được thực hiện bởi

ủy ban liên quan đến NHTW hoặc

một ủy ban độc lập, được áp dụng

ở Malaysia, Romania, Thailand,

Anh, Mỹ, Bỉ, Hà Lan, Serbia

- Phân tán: chính sách an toàn

vĩ mô được thực hiện bởi các cơ

quan khác nhau, được áp dụng ở

Canada, Mexico, Thụy Sỹ, PeruCùng với việc lựa chọn mô hình thể chế, tùy thuộc vào đặc thù riêng và mục tiêu trong từng giai đoạn, mà các nước có thể đưa ra các ưu tiên đối với chính sách an toàn vĩ mô Ví dụ cho sự ưu tiên sau khủng hoảng 2008 của chính sách an toàn vĩ mô một số nước như sau:

- Châu Âu: chính sách an toàn

vĩ mô chú trọng vào việc giảm rủi

ro hệ thống liên quan tới việc cho vay ngoại tệ, vì trên thực tế đối với những nước phát triển có lạm phát thấp và tỉ giá ổn định, việc tăng cho vay bằng ngoại tệ không được quan tâm nhiều

- Brazil: chính sách tiền tệ tập trung vào việc quản lý kinh tế vĩ

mô ngược chu kỳ còn chính sách

an toàn vĩ mô tập trung vào việc kiểm soát rủi ro hệ thống tiềm

ẩn trong khi tín dụng tăng trưởng nhanh Cả hai chính sách này đều được thực hiện dựa trên nghiên cứu về chu kỳ kinh doanh và chu

4 hoạt động giám sát tài chính của Việt nam và sự cần thiết phải xây dựng khuôn khổ chính sách an toàn

vĩ mô

Thời gian qua, thị trường tài chính đang phát triển nhanh chóng, phức tạp cả về quy mô lẫn cấu trúc, với các hoạt động tài chính đan xen giữa các khu vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và trong môi trường kinh tế

vĩ mô nhiều biến động

Thêm vào đó, một số tập đoàn tài chính, tập đoàn kinh tế có hoạt động tiền tệ, tài chính của Việt Nam có cấu trúc phức tạp đã làm giảm hiệu quả quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng Điều

này được thể hiện ở hai yếu tố: (i)

về mặt tổ chức: thông qua việc

thành lập các công ty con thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau1 và việc đầu tư, góp vốn mua cổ phần và trái phiếu ở nhiều ngành nghề khác nhau đã dẫn đến hoạt động của ngân hàng đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều khuôn khổ pháp lý trong khi sự phối hợp của các cơ quan chức năng còn hạn

chế; (ii) về sản phẩm: ngân hàng

đưa ra các sản phẩm và dịch vụ tài chính phức tạp, kết hợp giữa các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm1 khiến việc xác định phạm vi điều chỉnh đối với các sản phẩm này trở nên không

rõ ràng, và dẫn đến cơ quan giám sát tài chính hiện hành hoặc không nhận diện được hoặc không

đủ thẩm quyền để kiểm soát hoặc chưa nằm trong đối tượng điều chỉnh của pháp luật hiện hành,

do đó, làm hạn chế hiệu quả của công tác thanh tra, giám sát của Nhà nước

Điều này đã tiềm ẩn các rủi ro

Trang 14

chéo giữa khu vực ngân hàng,

chứng khoán, bảo hiểm và các rủi

ro mang tính hệ thống từ sự bất ổn

của môi trường kinh tế vĩ mô cũng

như từ các cú sốc bên ngoài Việc

bỏ qua các rủi ro tiềm ẩn giữa các

định chế tài chính trước những

bất ổn kinh tế vĩ mô có thể khiến

cho các cơ quan quản lý, giám

đáng và đây là nguyên nhân dẫn

đến hạn chế trong việc đảm bảo

ổn định tài chính

Trong khi đó, hệ thống giám sát

tài chính chủ yếu tập trung vào

công tác giám sát an toàn vi mô

trên cơ sở giám sát tuân thủ hơn

là giám sát dựa trên rủi ro Vì vậy,

hệ thống giám sát tài chính đi

theo mô hình giám sát phân tán

truyền thống với sự tách biệt của

ba khu vực ngân hàng, bảo hiểm

và chứng khoán cần được bổ sung

bởi khuôn khổ chính sách an toàn

trường tài chính; (iii) bất cập trong

năng lực giám sát chuyên ngành;

(iv) bất cập về thông tin giám sát

và công bố thông tin tài chính

Tuy nhiên, các chính sách,

khuôn khổ, các công cụ phục vụ

cho giám sát an toàn vĩ mô thị

trường tài chính nước ta chưa hoàn

thiện, khuôn khổ pháp lý cho

chính sách an toàn vĩ mô chưa có,

hệ thống chỉ tiêu giám sát an toàn

vĩ mô mới chỉ trong đang trong

giai đoạn nghiên cứu triển khai

Do đó, việc xây dựng khuôn khổ

pháp lý cho chính sách an toàn vĩ

mô (bao gồm công cụ và một cơ

chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan trong mạng lưới an toàn tài chính) phù hợp với thông lệ quốc

tế và điều kiện thực tiễn của Việt nam là điều hết sức cần thiết

5 một số gợi ý cho khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô của Việt nam

Để thiết lập một khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô nhằm đảm bảo ổn định tài chính1, căn cứ vào thực trạng hệ thống tài chính

và yêu cầu đối với việc giám sát an toàn vĩ mô, đòi hỏi Việt Nam cần thực hiện những yếu tố sau:

Khuôn khổ pháp lý bao gồm việc thành lập cơ quan chuyên trách đối với việc giám sát an toàn vĩ mô với đầy đủ chức năng quản lý nhà nước Thực tế cho thấy, lĩnh vực ngân hàng chiếm

tỷ trọng lớn trong hệ thống tài chính của các nước và các công

cụ của chính sách an toàn vĩ mô

có mối liên hệ rất mật thiết với chính sách tiền tệ và chính sách

an toàn vi mô do Ngân hàng Nhà nước thực hiện Sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách an toàn vĩ

mô và hai chính sách nói trên là rất cần thiết đối với sự ổn định

hệ thống tài chính nói chung Để đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng này, Chính phủ đã ban hành Nghị định 156/2013/NĐ-CP trong đó quy định Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có nhiệm vụ “ổn định

hệ thống tiền tệ, tài chính”, trong

đó việc “đề xuất các biện pháp ngăn ngừa rủi ro có tính hệ thống trong lĩnh vực tiền tệ, tài chính” và

“xây dựng chính sách, biện pháp ứng phó với khủng hoảng, đảm bảo ổn định hệ thống tiền tệ, tài

chính” Vụ Ổn định Tiền tệ - Tài chính thuộc Ngân hàng Nhà nước

sẽ chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện nhiệm vụ thực thi chính sách an toàn vĩ mô đối với

hệ thống tài chính Việt Nam.Việc Ngân hàng Nhà nước được Chính phủ giao trách nhiệm thực thi chính sách an toàn vĩ mô sẽ giúp việc thực thi có hiệu quả hơn do: (i) đảm bảo rằng chính sách an toàn vĩ mô có sự tham gia của các chuyên gia tài chính và kinh tế vĩ

mô, nhà tạo lập chính sách của Ngân hàng Nhà nước; (ii) các số liệu và phân tích phục vụ cho việc hoạch định chính sách an toàn vĩ

mô, cũng được chia sẻ cho việc hoạch định chính sách tiền tệ; và (iii) có sự phối hợp, chia sẻ thông tin tốt hơn và bổ sung hiệu quả cho chính sách an toàn vi mô.1

Ngoài ra, quy trình ra quyết định đối với chính sách an toàn vĩ mô cần phải rõ ràng, minh bạch và

có căn cứ cụ thể (những căn cứ này cần phải nêu một cách công khai) Bên cạnh đó, chức năng giải trình cho các quyết định, văn bản pháp luật được ban hành của

cơ quan chịu trách nhiệm cũng cần phải được thực thi nhằm nâng cao trách nhiệm và cẩn trọng khi ban hành các quyết định, văn bản pháp luật

b) Các công cụ

Việc xây dựng khuôn khổ chính sách an toàn vĩ mô đòi hỏi phải xác định và thiết lập một bộ công

cụ chính sách cũng như các hướng dẫn cụ thể đối với từng công cụ (cách sử dụng, cách tính ) Về cơ bản, bộ công cụ của chính sách

an toàn vĩ mô của Việt Nam sẽ dựa trên các công cụ được đề xuất trong các nghiên cứu của IMF và

WB cộng thêm một số công cụ khác phù hợp với đặc điểm của hệ thống tài chính Việt Nam

(Xem tiếp trang 19)

Trang 15

Trong những năm gần

đây, chính sách tiền tệ

nổi lên là chính sách

kinh tế vĩ mô hàng đầu,

thu hút được sự quan tâm lớn của

dư luận, của các nhà nghiên cứu

và thường xuyên được bàn luận

trên nhiều diễn đàn Mặc dù trong

quá trình điều hành, còn có một số

ý kiến chưa hoàn toàn đồng nhất,

nhưng đến nay, nhìn nhận lại, qua

thực tiễn đã cho thấy rất rõ, thành

công trong điều hành chính sách

tiền tệ trong 3 năm gần đây: 2011-

Mặc dù phải thực hiện đa mục

tiêu nhưng sự đóng góp hàng đầu

của chính sách tiền tệ về một số

chỉ tiêu kinh tế vĩ mô là rõ ràng:

Lạm phát đang từ mức rất cao,

tới 18,13% của năm 2011, sang

năm 2012, giảm mạnh, chỉ tăng

có 6,81%; rồi tiếp tục giảm trong

hoàn toàn có thể đạt được Chính

sách tiền tệ cũng hỗ trợ tăng trưởng

kinh tế hợp lý, góp phần bảo đảm

an sinh xã hội

Trước đây, thị trường vàng thường

biến động mạnh, thị trường ngoại

tệ còn xảy ra các “cơn sốt nhẹ”,

BÀN VỀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐIỀU HÀNH

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN 2011-2013 VÀ

KHUYẾN NGHỊ GIAI ĐOẠN 2014-2015

Về thực hiện mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động trong điều hành chính sách tiền tệ

Lãi suất ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh; vốn khả dụng, thanh khoản của các ngân hàng thương mại (NHTM) được cải thiện và diễn biến ổn định

- Lãi suất tiền gửi và cho vay của các NHTM đang từ mức cao,

cuối năm 2011 và đầu năm 2012 lên tới đỉnh điểm, tới 14%/năm đối với lãi suất huy động và 18 - 21%/năm đối với lãi suất cho vay; dần dần giảm xuống và hiện nay, đang ở mặt bằng lãi suất gần

10 năm trước, xoay quanh mức:

6 - 8%/năm đối với lãi suất huy động và 8 - 11%/năm đối với lãi suất cho vay (Đồ thị 3)

Song quan trọng hơn, đó là lãi suất diễn biến khá ổn định và có

xu hướng giảm dần Trước tháng 10/2013, nhiều NHTMCP quy

mô nhỏ còn đưa ra lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 12 tháng lên tới 9,8% - 10,5%/năm thì từ đầu tháng 11/2013 đến nay, đã đồng

loạt giảm xuống 9 - 9,2%/năm Quy định trần lãi suất tiền gửi dưới 12 tháng được các NHTM thực hiện nghiêm túc, thậm chí, nhiều NHTM có vốn nhà nước còn thực hiện mức thấp hơn trần quy định từ nhiều tháng nay Lãi suất cho vay cũng được các NHTM chủ động giảm xuống để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Hiện nay, quy định về giới hạn lãi suất nội tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang giảm dần ý nghĩa, bước đầu cho các dấu hiệu của thị trường cần chuyển sang bỏ quy định này, thực hiện công cụ gián tiếp trong điều hành lãi suất khi mọi điều kiện vững chắc

Mức lãi suất này được cả người gửi và người vay đều chấp nhận được, thể hiện rõ nét nhất là đến hết tháng 10/2013, tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng (TCTD) tăng khoảng 13%

so với cuối năm 2012, tổng dư nợ cho vay tăng 7% so với đầu năm Trên các diễn đàn, trong dư luận,… không còn tình trạng than phiền, kêu ca về lãi suất vay vốn như trước đây nữa (Đồ thị 4)

Bài học kinh nghiệm cần được nhìn nhận đó là chủ động và kiên trì hạ lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay vì những khó khăn của nền kinh tế Các NHTM chấp nhận hy sinh một phần lợi ích hoạt động kinh doanh trước mắt của mình vì mục tiêu chung và vì mục tiêu trung, dài hạn

- Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đối với nội tệ đang từ

mức 18 - 22%/năm cho hầu hết các kỳ hạn, thì từ nhiều tháng

Trang 16

Đồ thị 1: Diễn biến giá vàng thị trường quốc tế và thị trường trong nước

giai đoạn 2008 - 2013

Đồ thị 2: Diễn biến CPI trong mối quan hệ với diễn biến giá uSD,

vàng và một số mặt hàng chủ yếu nhất

Đồ thị 3: Diễn biến một số loại lãi suất nội tệ chủ yếu nhất

từ đầu năm 2011 đến nay

nay, đang ổn định ở mức 4%/năm đối với giao dịch qua đêm và 11-13%/năm đối với kỳ hạn 12 tháng Thanh khoản của nhiều NHTM từ mức khủng hoảng thì qua các dấu hiệu của thị trường cho thấy đang thực sự ổn định

- Về tỷ giá: nếu như các năm

2008 - 2010, còn biến động mạnh, thì từ năm 2011 đã giảm và

2 năm gần đây 2012-2013, đang diễn biến ổn định

Theo số liệu công bố của Tổng cục Thống kê, nếu như năm 2008,

tỷ giá USD/VND tăng 6,31%, sang năm 2009, tăng tới 10,07%, đến năm 2010, vẫn tăng 9,68%, thì năm 2011, chỉ tăng có 2,2% năm 2012, lại giảm 0,96% Trong năm 2013, đến tháng 10/2013, tỷ giá USD/VND tăng 1,14% so với tháng 10/2012, tăng 1,32% so với tháng 12/2012 Dự báo đến hết năm 2013, tỷ giá USD/VND chỉ tăng khoảng 1,4-1,5% (Đồ thị 5)Kết quả trên cần phải đặt trong bối cảnh không ít ý kiến cho rằng NHNN duy trì tỷ giá ổn định là định giá quá cao VND, làm cho VND lên giá mạnh so với USD trong bối cảnh lạm phát ở nước ta trong những năm qua luôn ở mức cao và nhiều đồng tiền ở châu Á giảm giá mạnh so với USD! Một số

ý kiến cho rằng cần phải phá giá VND để thúc đẩy xuất khẩu Song,

về góc độ điều hành chính sách tiền tệ, phải khẳng định là đã có quan điểm rõ ràng, có thông điệp

cụ thể về điều hành tỷ giá trên thị trường chính thức, thể hiện bản lĩnh vững vàng của góc độ điều hành trước áp lực của dư luận.Bài học kinh nghiệm đó cũng cần được thẳng thắn nhìn nhận, xem xét trong bối cảnh vào đầu năm 2011, trước sức ép của dư luận và dựa trên một số tính toán

có tính chất lý thuyết,… NHNN

đã chủ động điều chỉnh giảm giá

Trang 17

Đồ thị 5: Diễn biến tỷ giá trên một số thị trường chủ yếu trong 1 năm qua

( Tỷ giá trong đồ thị này được hiểu là 1 uSD đổi được bao nhiêu VND)

Đồ thị 4: Diễn biến một số chỉ tiêu hoạt động ngân hàng năm 2013

Bảng 1: Diễn biến nhập siêu và giá uSD so với VND các năm 2006 - 2013

Nguồn: Tổng cục Thống kê ; * Mười tháng đầu năm 2013

Số âm năm 2012 và 2013 thể hiện thặng dư cán cân thương mại

VND tới 9,3% so với USD Cụ thể,

từ ngày 11/2/2011, NHNN đã chủ

động điều chỉnh tăng 9,3% tỷ giá

liên ngân hàng và thu hẹp biên độ

giao dịch tỷ giá từ +-3% xuống còn

+-1% Việc điều chỉnh đó có tác

động lớn đến chi phí đầu vào của

hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu,

phụ liệu,… nhập khẩu của Việt Nam, tác động lên giá thành, lên chi phí,… tác động lên giá bán và tác động lên CPI Song, tác động kích thích xuất khẩu thì không thấy rõ, bởi vì thực trạng hoạt động xuất khẩu của Việt Nam cho thấy tỷ giá không tác động nhiều

Về đạt được các mục tiêu khác trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng

- Nhập siêu đã giảm: Như phần

trên đã đề cập, chính sách tiền

tệ của Việt Nam phải thực hiện

đa mục tiêu Giảm nhập siêu không phải là mục tiêu trực tiếp của chính sách tiền tệ, nhưng phải thực sự thừa nhận, nhập siêu trong 3 năm gần đây giảm mạnh

có nguyên nhân hàng đầu là điều hành tỷ giá, lãi suất ngoại tệ và thực thi các biện pháp quản lý ngoại tệ, quản lý thị trường vàng

có hiệu quả (Bảng 1), (Đồ thị 6)Trước năm 2012, nhập siêu của Việt Nam ở mức độ lớn và không ngừng gia tăng, riêng năm 2007, tăng tới gần 3 lần so với năm 2006

và lên tới trên 14 tỷ USD, năm

2008, tăng lên tới trên 18 tỷ USD, các năm gần đây, cũng vẫn ở mức trên 10 tỷ USD và chiếm tỷ trọng

từ 12,7% đến 29,2% so với kim ngạch xuất khẩu

Trong năm 2011, mặc dù thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ theo chỉ đạo của Chính phủ, nhưng nhập siêu của Việt Nam tiếp tục

ở mức cao Nhập siêu vẫn ở mức cao vẫn tiếp tục tạo sức ép lên tỷ giá Đến lượt nó, Đồng Việt Nam

có thể xu hướng tiếp tục giảm giá, làm cho giá hàng hóa nhập khẩu

và giá dịch vụ tính ra Đồng Việt Nam tăng, làm cho việc kiềm chế biến động của CPI khó thực hiện theo mục tiêu đã định

Tăng cường quỹ dự trữ ngoại tệ quốc gia gắn liền với việc trung hòa lượng nội tệ đưa ra mua đô

la Mỹ:

Tỷ giá ổn định, nhập siêu giảm

Trang 18

mạnh, cần phải phân tích trong

bối cảnh quỹ dự trữ ngoại tệ quốc

gia được tăng cường, từ mức 7 tỷ

USD lên khoảng 32 tỷ USD hiện

nay Việc mua ngoại tệ vào đồng

nghĩa với việc cung ứng VND ra

lưu thông nhưng gây nên lạm phát

tiền tệ Thực tế này hoàn toàn

được lý giải đó là sự phối hợp đồng

bộ các công cụ chính sách tiền tệ

mà trọng tâm trong vấn đề này đó

là nghiệp vụ thị trường mở, trung

hòa lượng tiền cung ứng qua kênh

mua ngoại tệ

Giảm tình trạng đô la hóa trong

nền kinh tế

Tỷ giá ổn định đã tác động tích

cực đến tâm lý của người dân, tâm

lý của thị trường tài chính Người

dân, giới đầu tư tin tưởng vào sự

ổn định của Đồng Việt Nam, hay

Đồng Việt Nam được coi trọng

Điều này làm giảm hẳn tình trạng

người dân lựa chọn việc cất trữ tài

sản của mình bằng việc mua ngoại

tệ, góp phần đẩy lùi tình trạng đô

la hóa trong xã hội

Nếu như năm 2006, tổng tiền

gửi ngoại tệ trên tổng tiền gửi của

Tỷ lệ tiền gửi ngoại trên tổng

phương tiện thanh toán nếu như

năm 2006 còn ở mức trên 21%, thì

đến năm 2011, giảm còn 15,8%, đến năm 2012, ở mức 13,2%, đến tháng 6/2013, ở mức 11,8% và dự báo hết năm 2013, giảm xuống dưới 11%

Dư nợ cho vay bằng ngoại tệ năm 2006, còn ở mức 30% so với tổng dư nợ của các TDTD đối với nền kinh tế, đến năm 2011, giảm xuống còn 20%, đến năm 2012, giảm xuống 17,5%

Đến hết tháng 10/2013, tổng dư

nợ của các TCTD đã tăng 6,8%

so với cuối năm 2012; trong đó, tín dụng bằng VND tăng 11%; tín dụng ngoại tệ giảm 14,2%

Thành công hạ nhiệt thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán

Quản lý thị trường bất động sản

và thị trường chứng khoán không phải là mục tiêu của chính sách tiền tệ, không phải là nhiệm vụ quản lý hoạt động ngân hàng Tuy nhiên, cả về lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy, giữa thị trường tiền

tệ, thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán có mối liên hệ mật thiết với nhau Sự phát triển nóng của thị trường bất động sản, hoạt động thiếu minh bạch của thị trường chứng khoán hút theo một khoản lớn vốn tín dụng ngân hàng, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng và điều hành chính sách tiền tệ

Với vòng chu chuyển tiếp theo,

đưa vào thị trường bất động sản làm tăng tổng cầu cá nhân, tổng cầu của doanh nghiệp và tổng cầu của chính phủ, tăng mức chi tiêu của người dân được nhận tiền đền

bù đất đai, đầu cơ bán bất động sản, tăng nguồn thu của ngân sách các cấp, tăng đầu tư công, trong đó nguồn tiền không nhỏ đổ vào các

dự án xây dựng văn phòng, trụ sở làm việc, dự án phi sản xuất, dự

án trung tâm thể thao, văn hóa, kèm theo đó là những thất thoát trong quản lý chi tiêu vốn đầu tư của ngân sách nhà nước Tác động tiếp theo đó là sự gia tăng của chỉ

số CPI

Việc thị trường bất động sản hạ nhiệt, điều chỉnh giá là hết sức cần thiết để thị trường này không rơi vào tình trạng ảo mà đi vào thực chất, tạo mức giá nhà đất hợp

lý cho người có nhu cầu thực mua được nhà ở

Để góp phần điều chỉnh sự phát triển thị trường cũng như đảm bảo an sinh xã hội, gói tín dụng 30.000 tỷ đồng cho chương trình nhà ở xã hội được triển khai chặt chẽ, mới đây được điều chỉnh mở rộng cho đối tượng doanh nghiệp xây dựng ký túc xá cho sinh viên, nhà ở cho công nhân, một số đối tượng hộ gia đình khác, là hết sức cần thiết

Vốn tín dụng ngân hàng chảy vào thị trường chứng khoán nói chung và thị trường trái phiếu doanh nghiệp nói riêng tạo ra sự thiếu minh bạch trong nguồn tiền tăng vốn điều lệ các doanh nghiệp, vốn điều lệ một số NHTMCP, tạo

ra dư nợ cho vay và đầu tư nền kinh tế có dấu hiệu ”ảo”, ảnh hưởng đến điều hành chính sách tiền tệ cũng như hoạt động của thị trường tiền tệ Bên cạnh đó, còn làm lành mạnh hoạt động ngân hàng, ngăn chặn tình trạng sở hữu

Trang 19

chéo, tình trạng đầu tư lòng vòng

và những gian lận khác trên thị

trường chứng khoán

Vì vậy, ngay từ đầu năm 2011,

với biện pháp điều hành được thể

hiện trong Chỉ thị 01 của Thống

đốc NHNN là hết sức cần thiết và

phù hợp với thực tiễn Theo quy

định, đến 30-6-2011, tỷ trọng dư

nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất

của các TCTD so với tổng dư nợ

tối đa là 22% và đến 31-12-2011

tối đa là 16%, trong đó tập trung là

hạn chế cho vay chứng khoán và

đầu tư bất động sản

Quy định đó góp phần điều

chỉnh sự phát triển bền vững của

hai thị trường nói trên nhưng cũng

đảm bảo an toàn hoạt động ngân

hàng

Vốn tín dụng ngân hàng góp

phần tái cơ cấu nền kinh tế hướng

vào các lĩnh vực ưu tiên

Kết hợp với biện pháp nói trên

về điều hành công cụ lãi suất,

kể từ tháng 5/2012, NHNN quy

định trần lãi suất cho vay ngắn

hạn nội tệ đối với các lĩnh vực ưu

tiên là nông nghiệp - nông thôn;

xuất khẩu; công nghiệp hỗ trợ,

doanh nghiệp nhỏ và vừa; sau đó

mở rộng thêm các doanh nghiệp

ứng dụng công nghệ cao Kể từ khi

áp dụng trần lãi suất nói trên, dư

nợ cho vay 4 lĩnh vực đó đã tăng

trưởng khá, đặc biệt là đối với các

NHTMNN

Về chiến lược kinh doanh, đồng

thời để đảm bảo an toàn hoạt

động ngân hàng và thực hiện

Nghị quyết 11 của Chính phủ, các

NHTM đều điều chỉnh phần lớn

tăng trưởng tín dụng trong các năm

2011-2013 sang tập trung cho sản

xuất, khu vực nông nghiệp - nông

thôn, sản xuất và thu mua hàng

xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ và

DNNVV, với kỳ vọng sẽ góp phần

rất lớn vào tăng trưởng tạo ra nhiều

sản phẩm hàng hóa cho thị trường

trong nước cũng như xuất khẩu

Bài học kinh nghiệm tổng quát được rút ra trong các năm 2011

- 2013 về những thành công thực hiện đa mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ

Một là, thường xuyên có sự phối

hợp đồng bộ, linh hoạt giữa điều hành lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ, giữa công cụ lãi suất và công cụ dự trữ bắt buộc, giữa công

cụ lãi suất và tỷ giá, giữa lãi suất

và nghiệp vụ thị trường mở, ; giữa công cụ gián tiếp và công cụ trực tiếp; giữa điều hành chính sách tiền tệ và tăng cường chất lượng, hiệu quả quản lý hoạt động ngân hàng, trực tiếp là hoạt động thanh tra, giám sát đảm bảo tính nghiêm minh, tính hiệu quả của các biện pháp điều hành

Hai là, có bản lĩnh trong điều

hành chính sách tiền tệ trước diễn biến đa chiều của dư luận, kết hợp giữa nguyên lý có tính chất

lý thuyết, kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương các nền kinh tế mới nổi với thực tiễn đa dạng ở Việt Nam Do đó, vừa thực hiện được mục tiêu giảm mạnh lãi suất, vừa đảm bảo được thanh khoản của các NHTM, vừa thực hiện được mục tiêu ổn định tỷ giá và giảm tình trạng đô la hóa, đảm bản an toàn hoạt động của các NHTM

Ba là, không cứng nhắc trong

chỉ đạo điều hành các quy định

về quản lý mà chủ động, linh hoạt trước những khó khăn phát sinh, những diễn biến phức tạp của môi trường kinh tế vĩ mô, thể hiện tập trung nhất là ban hành Văn bản 780, tạm hoãn thực hiện Thông tư số 02,

Bốn là, tạo sự đồng thuận trong

hệ thống ngân hàng, nhất là sự đồng thuận của các NHTM trong các giải pháp tháo gỡ khó khăn của nền kinh tế, các biện pháp

điều hành chủ động đi trước dẫn dắt thị trường

Năm là, chủ động, kiên trì và đa

dạng phương thức tuyên truyền, giải thích, các chủ trương, chính sách, biện pháp điều hành, quản

lý của NHNN vì mục tiêu chung của nền kinh tế

thách thức và khuyến nghị chính sách cho giai đoạn 2014-2015

Một là, áp lực về phá giá Đồng

Việt Nam là rất lớn từ nhiều phía khác nhau, vì vậy, cần kiên trì mục tiêu ổn định tỷ giá USD/VND trong một giới hạn nếu có biến động thì cả năm 2014 - 2015 không vượt quá 2-2,5% mỗi năm Theo đó, các công cụ điều hành chính sách tiền tệ, trực tiếp là: lãi suất, dự trữ bắt buộc, thị trường

mở, chính sách và biện pháp quản

lý thị trường ngoại tệ cũng theo hướng mục tiêu này

Hai là, áp lực về tăng trưởng dư

nợ đối với nền kinh tế là rất lớn, trong khi điều kiện mở rộng tín dụng an toàn, hiệu quả vẫn diễn biến chậm Vì vậy, chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng ngân hàng năm 2014 - 2015 đối với nền kinh

tế chỉ nên coi là có tính chất định hướng, chứ không cứng nhắc phải phấn đấu bằng mọi cách để đảm bảo tăng trưởng tín dụng theo mục tiêu đề ra hay khống chế mức tăng trưởng tín dụng Vấn đề quan trọng là NHNN thực hiện các biện pháp quản lý, giám sát chặt chẽ đảm bảo tín dụng tăng trưởng an toàn, hiệu quả theo nhu cầu vốn nền kinh tế Bên cạnh đó, các công cụ điều hành chính sách tiền

tệ, đặc biệt là lãi suất, cho vay tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc, vẫn cần định hướng các TCTD vào việc mở rộng tín dụng đối với 5 đối tượng ưu tiên, thúc đẩy cạnh tranh

mở rộng tín dụng nông nghiệp - nông thôn

Trang 20

Ba là, trong điều kiện lãi suất

cơ bản chưa phát huy vai trò điều

tiết gián tiếp thị trường tiền tệ thì

việc duy trì quy định trần lãi suất

tiền gửi và lãi suất cho vay 5 đối

tương ưu tiên là hết sức cần thiết,

ít ra là cần duy trì hết 6 tháng đầu

năm 2014 nhằm phát đi tín hiệu

thực sự về lãi suất trên thị trường

Bởi vì, thị trường tiền tệ ở nước ta

chưa thực sự phát triển như các

nền kinh tế phát triển, sự chênh

lệch quy mô, trình độ quản trị điều

hành, chất lượng hoạt động,

giữa các NHTM vẫn còn rất lớn

Mục tiêu tái cơ cấu các TCTD mới

đạt kết quả bước đầu

Bốn là, trong 2 năm 2014 - 2015,

chưa xuất hiện các điều kiện chín

muồi thực hiện lạm phát mục tiêu

trong điều hành chính sách tiền

tệ, mà vẫn phải thực hiện đa mục

tiêu Song, mục tiêu ổn định tiền

tệ, kiềm chế lạm phát vẫn phải

được ưu tiên hàng đầu Diễn biến

CPI trong các năm 2014 - 2015 dự

báo vẫn có các nguyên nhân như

các năm qua Song, trách nhiệm

về kiềm chế lạm phát vẫn được đổ

dồn lên chính sách tiền tệ, Vì

vậy, một mặt, chủ động, linh hoạt

trong điều hành chính sách tiền tệ,

tăng cường hiệu quả, chất lượng

công tác thanh tra giám sát, Mặt

khác, cần đề nghị và chủ động

phối hợp với các chính sách kinh

tế vĩ mô khác Đồng thời, cần

nghiên cứu, xem xét kiến nghị, đề

xuất tiếp tục đổi mới phương pháp

tính lạm phát và cách công bố chỉ

số lạm phát phù hợp với khu vực

và thế giới, để không gây sức ép

từ dư luận, từ một số nghiên cứu

thiên về lý thuyết gây áp lực lên

điều hành chính sách tiền tệ

Năm là, sử dụng biện pháp

truyền thống đó là tăng lãi suất, rút

bớt tiền từ lưu thông về để kiềm

chế lạm phát không còn hoàn toàn

phù hợp với thực tiễn Việt Nam,

thực tiễn hoạt động ngân hàng cũng như điều hành chính sách tiền tệ ở nước ta Bởi vì, lạm phát không phải là nguyên nhân duy nhất, không phải lúc nào cũng do tiền tệ Tăng lãi suất, rút bớt tiền từ lưu thông về, gây thiếu hụt thanh khoản, càng đẩy lãi suất trên thị trường tăng cao, tác động ngược lại mục tiêu kiềm chế lạm phát

Ngược lại, trong 2 năm 2012 -

2013, giảm mạnh lãi suất nhưng vẫn thực hiện có hiệu quả mục tiêu kiềm chế lạm phát

Sáu là, những thách thức điều

hành chính sách tài chính trong sự phối hợp đồng bộ với chính sách tiền tệ là rất lớn Bởi vì, dự báo nguồn thu ngân sách trong 2 năm

2014 - 2015 vẫn chưa có gì cải thiện Cơ cấu nguồn thu ngân sách nhà nước các cấp từ tiền sử dụng đất, thuế đất đai, đấu giá quyền

sử dụng đất, như nhiều năm trước đây hiện nay hầu như giảm hẳn, doanh nghiệp hoạt động còn nhiều khó khăn, trong khi đó, nhu cầu chi của ngân sách nhà nước là rất lớn và tiếp tục tăng, nhất là đầu tư cơ sở hạ tầng Theo

đó, nhu cầu phát hành trái phiếu chính phủ, trước tiên là dự kiến kế hoạch 170.000 tỷ đồng năm 2014

là thị trường mà nhiều NHTM vẫn hướng tới Đó là chưa kể nhu cầu phát hành trái phiếu để thanh toán

các khoản trái phiếu đến hạn, trái phiếu của Ngân hàng Phát triển Việt Nam và trái phiếu của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam, trái phiếu của các tập đoàn, tổng công ty, mà người mua vẫn chủ yếu là NHTM

Chi tiêu công tăng, nguồn thu tăng chậm, áp lực lên lạm phát,

áp lực lên điều hành chính sách tiền tệ

Do đó, việc phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài chính cần có những biện pháp cụ thể và sát thực tiễn (Đồ thị 7)

Bảy là, cơ cấu nền kinh tế nói

chung, cơ cấu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tiếp tục diễn ra chưa đạt hiệu quả và mục tiêu như mong muốn, ảnh hưởng lớn đến hoạt động tín dụng ngân hàng, đến điều hành chính sách tiền tệ

Vì vậy, trong điều hành chính sách tiền tệ và quản lý chất lượng tín dụng, cần có phương án cụ thể về tác động này Song, về phía Chính phủ, có giải pháp hữu hiệu hơn, cụ thể hơn và khẩn trương hơn, xử lý các khoản nợ xấu của các TCTD liên quan đến các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, trực tiếp là Vinashin, Vinalines

Đồng thời, các khoản nợ ngân sách nhà nước đối với các dự

án xây dựng cơ bản của các địa

Đồ thị 7:

Trang 21

phương, một mặt, cần nghiêm ngặt

không để phát sinh mới, mặt khác, có

lộ trình ngắn hạn giải quyết nợ hiện

nay, góp phần giải quyết các khoản

nợ quá hạn, nợ xấu của các NHTM

của những doanh nghiệp vay vốn thi

công các dự án của địa phương

Tám là, Việt Nam đang tiếp tục

hội nhập sâu rộng với khu vực và

thế giới, cả về lĩnh vực đào tạo,

giáo dục, nghiên cứu khoa học,

Các quan niệm, ý kiến có tính

chất lý thuyết, kinh nghiệm của

thế giới và các nền kinh tế có điều

kiện khác nhau, được nhìn nhận

trên các góc độ khác nhau tiếp

tục xuất hiện trên nhiều diễn đàn,

tạo sức ép trong điều hành chính

sách tiền tệ Bên cạnh đó, tư duy

hoạt động ngân hàng nói chung

và hoạt động tín dụng nói riêng trong nền kinh tế thị trường, đặc thù điều kiện Việt Nam chưa phải

đã có sự đồng thuận Vì vậy, đó là những thách thức không nhỏ trong điều hành chính sách tiền tệ, quản

lý hoạt động ngân hàng, đòi hỏi công tác tuyên truyền, báo chí,

cần tiếp tục có sự phối hợp chặt chẽ của các TCTD và NHNN, cả Trung ương lẫn địa phương Cần tiếp tục đa dạng hóa các phương thức truyền thông, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin tuyên truyền của ngành Ngân hàng

Điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn 2011 - 2013 có thể chia làm 2 phân đoạn: 2011 và 2012

- 2013, mỗi phân đoạn có những

đặc điểm cụ thể riêng về thực hiện mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ và điều hành các công cụ chính sách tiền tệ, gắn chặt với quản lý tiền tệ - ngân hàng Thành công trong điều hành thời gian qua đã được khẳng định, những thách thức trong 2 năm tiếp theo

2014 -2015 không hề nhỏ Vì vậy, việc nhìn nhận lại một số bài học kinh nghiệm thời gian qua, trên cơ

sở những dự báo và chủ động có những giải pháp phù hợp để đạt được các mục tiêu dự kiến cho thời gian tới là hết sức cần thiết

tÀi LiỆU thAm KhẢO:

- www.sbv.gov.vn -www.gso.gov.vn

- www.vcbs.com.vn

c) Xây dựng cở sở dữ liệu và chia

sẻ thông tin

Để thực hiện tốt chính sách an

toàn vĩ mô, đặc biệt là khi ra các

quyết định liên quan đến chính

sách an toàn vĩ mô, cần phải có cơ

sở dữ liệu đủ đa dạng và cập nhật

Do đó, việc xây dựng các chỉ tiêu

trong cơ sở dữ liệu, chế độ báo cáo

cũng như việc chia sẻ thông tin

trong nội bộ Ngân hàng Nhà nước

và giữa các Bộ/ngành có liên quan

là cần thiết

d) Cơ chế phối hợp và trách

nhiệm giữa các cơ quan

Một điều tất yếu là với mục tiêu

tài khóa, chính sách cạnh tranh,

chính sách kinh tế vĩ mô) Như

vậy, bên cạnh việc xác định rõ

ràng phạm vi, công cụ, trách

nhiệm của từng chính sách, cần

có cơ chế phối hợp có hiệu quả và đồng bộ giữa các chính sách nói trên

Khi thực hiện tốt cơ chế phối hợp, chính sách an toàn vĩ mô cùng với các chính sách khác

sẽ có tác động bổ sung lẫn nhau nhằm hướng tới mục tiêu cuối cùng là ổn định tài chính

1 Định nghĩa của IMF (2009): rủi ro hệ thống là một rủi ro về sự đổ vỡ của các dịch vụ tài chính bắt nguồn từ sự suy yếu toàn bộ hoặc một phần của

hệ thống tài chính và có khả năng gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế thực.

2 ủy ban Hệ thống tài chính toàn cầu (CFGS)

- 2010.

3 DTI (Debt-To-Income: nợ trả phải trả định kỳ trên thu nhập của người vay) là chỉ số đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp và cá nhân, được tính bằng khoản phải trả hàng tháng chia cho tổng thu nhập của doanh nghiệp hoặc cá nhân LTV (Loan- To-Value: tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo) càng thấp thì mức độ bảo đảm thu hồi giá trị nợ vay trong trường hợp vỡ nợ đối với ngân hàng càng lớn.

Hai chỉ số này chủ yếu được dùng để hạn chế bong bóng bất động sản.

4 Nhiều ngân hàng đã thành lập các công ty con thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau như công

ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, công ty quản lý quỹ, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản

5 Một số ngân hàng đã thông qua các công ty con hoặc liên kết với các công ty khác để cung cấp các sản phẩm dịch vụ liên quan đến chứng khoán như đòn bẩy tài chính, ứng trước tiền bán chứng

khoán hay cung cấp dịch vụ liên quan đến bảo hiểm như bancasurance, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ

6 Bao gồm: (i) nhận diện khủng hoảng tài chính, (ii) ngăn ngừa rủi ro hệ thống, và (iii) ứng phó kịp thời với khủng hoảng tài chính.

7 Khảo sát của Nier và cộng sự (2011) về các

mô hình thể chế thực hiện chính sách an toàn vĩ

mô cho thấy mô hình hợp nhất một phần được thực hiện bởi ủy ban liên quan đến NHTW hoặc một ủy ban độc lập đang được áp dụng phổ biến nhất trên thế giới

tÀi LiỆU thAm KhẢO:

1 PGS., TS Tô Ngọc Hưng (2011, chủ biên),

Hệ thống giám sát tài chính Việt Nam, Nhà xuất bản Tài chính 2011.

2 Đăng Nhân (2013), Phối hợp chính sách giám sát an toàn vĩ mô và chính sách tiền tệ sau khủng hoảng tài chính - một số hàm ý cho Việt Nam, Website NHNN Việt Nam.

3 ủy ban Kinh tế Quốc hội (2013), Giám sát hệ thống tài chính: chỉ tiêu và mô hình định lượng, Nhà xuất bản Trí thức 2013.

4 Beau (2011), Macro-prudential policy and the conduct of monetary policy, Banque de France Occasional Paper No 8, January 2011.

5 Borio (2003), Towards a macroprudential framework for financial supervision and regulation? BIS Working PapersNo 128, February 2003.

6 Lim và cộng sự(2011), Macroprudential Policy: An Organizing Framework, International Monetary Fund Publication, March 2011.

7 Niervà cộng sự (2011), Institutional Models for Macroprudential Policy, IMF Staff Discussion Note, November 2011.

8 Nicolòvà cộng sự (2012), Externalities And Macroprudential Policy, IMF Staff Discussion Note, June 2012.

9 Sámano (2011), In the Quest of Macroprudential Policy Tools, Banco de México Working Paper No 2011-17.

XÂY DỰNG KHUÔN KHỔ (Tiếp theo trang 12)

Trang 22

Nghiên cứu các nhân

tố tác động đến kiều

hối có thể được tiếp

cận ở 2 góc độ: cấp

độ vĩ mô và cấp độ vi mô Trong

số các nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô

có thể nêu một số bài viết như:

Swamy G (1981), “International

Migrant Worker’s Remittances:

Issues and Prospects”; El - Saaka

and Robert Mcnaab (1999), “The

Macroeconomics Determinants of

Migrant Remittances”; Campbell,

Trevor (2003), “Determinants

of Foreign Inflows from Current

Transfer into Barbados”; Mohammad

Ali, 2012), “Macroeconomics Factors

Influencing Foreign Remittances

The Case of Bangladesh”… Điểm

chung của các nghiên cứu trên là sử

dụng các mô hình hồi quy đa biến

để phân tích các nhân tố vĩ mô tác

động đến kiều hối Bài viết của 2

tác giả Trần Trọng Tuyến (Học viện

Hành chính - Chính trị Quốc gia Hồ

Chí Minh) và Nguyễn Quốc Hùng (Vụ

Quản lý Ngoại hối) cũng tiếp cận

theo phương pháp tương tự, nhưng

theo quan điểm của TCNH, còn

nhiều hạn chế, đó là: mẫu quan sát

nhỏ, không thực hiện một số kiểm

định (tính dừng, đồng liên kết…) nên

độ tin cậy không cao Tuy nhiên, để

khuyến khích cách tiếp cận tương

đối mới về nghiên cứu kiều hối,

TCNH đăng tải bài viết này để rộng

đường dư luận

ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ

ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỀU HỐI

TRONG THỜI GIAN QUA

* Viện Kinh tế - học viện Chính trị - hành chính

Quốc gia hồ Chí minh

** Vụ Quản lý ngoại hối - nhnn

Kiều hối theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới (WB) “là các khoản chuyển tiền ròng một chiều bao gồm các khoản chuyển tiền

từ nước ngoài có nguồn gốc là thu nhập của người lao động, dân di cư

ở nước ngoài” nên kiều hối có ảnh hưởng lớn đến cán cân vãng lai và cán cân thanh toán (BOP) Đối với Việt Nam, kiều hối lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì Việt Nam là nước đang phát triển, rất cần huy động các nguồn lực trong nước và nước ngoài để tăng trưởng kinh tế Trong các nguồn vốn ngoại thì kiều hối đóng vai trò ngày càng quan trọng vì nó là nguồn vốn rẻ nhất (dòng vốn một chiều

và chảy vào, không chảy ra) so với các nguồn tài chính khác từ nước ngoài như vay nợ nước ngoài, đầu

tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, nguồn ODA Kiều hối chuyển vào Việt Nam nhằm hỗ trợ cho thân nhân các gia đình, tạo nguồn vốn để họ đầu tư, kinh doanh, cải thiện đời sống và tạo công ăn việc làm Bên cạnh đó, kiều hối còn kích thích

mở rộng quan hệ giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài trong giao dịch thanh toán, chuyển tiền, đại lý Kiều hối vào nước ta tăng trưởng rất ấn tượng trong hơn 10 năm qua từ mức dưới

1 tỷ USD/năm từ những năm 2000 trở về trước, đến nay đã vượt mức

8 tỷ USD năm 2012; kể cả trong giai đoạn khủng hoảng, suy thoái kinh tế thế giới Nhiều năm nay, rất nhiều các nhà khoa học và chuyên gia kinh tế đều thống nhất cho rằng có nhiều nhân tố tác động làm tăng dòng kiều hối của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua Kiều

Trần Mạnh Tuyến *

Nguyễn Quốc Hùng **

hối chủ yếu do lao động xuất khẩu của Việt Nam, bao gồm lực lượng lao động đi làm thuê ở nước ngoài, người Việt Nam đi làm việc, học tập

ở nước ngoài Việt kiều ở nước ngoài bao gồm người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người Việt Nam di cư

ra nước ngoài từ những năm 1975 gửi tiền về hàng năm Đồng thời kiều hối còn bị tác động bởi chính sách của nhà nước về ngoại hối, về tài chính hạn chế hay khuyến khích dòng vốn này Các nhân tố khác của thị trường trong nước như lãi suất huy động ngoại tệ, tỷ giá mua bán ngoại

tệ của hệ thống ngân hàng thương mại cũng tác động đến dòng vốn này Tuy nhiên, chưa có tác giả nào phân tích, đánh giá, định lượng tác động của từng nhân tố nêu trên đến tăng trưởng kiều hối của Việt Nam, đặc biệt cho giai đoạn từ năm 2001 đến nay (Đồ thị 1)

1 mô hình đánh giá mức độ ảnh hưởng, tác động của các nhân tố đến kiều hối

Để đo lường, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kiều hối ta sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến Mô hình đưa ra dựa trên giả thuyết kiều hối

sẽ phản ứng với thay đổi của lực lượng lao động xuất khẩu, lãi suất huy động ngoại tệ, tỷ giá hối đoái

và chính sách của nhà nước

Vì vậy, mô hình hồi quy có dạng như sau:

KH= β0 + β1LDXK + β2LSNT + β3TYGIA + β4CSNH + u

Trong đó: KH là lượng kiều hối hàng năm;

LDXK là số lượng lao động xuất khẩu của Việt Nam Do số lượng Việt kiều ở nước ngoài chủ yếu là người Việt Nam di cư từ những năm 1975 trở về trước; số lượng người Việt định cư thêm ở nước ngoài hàng năm biến động không đáng kể chủ yếu định cư theo dạng đoàn tụ gia đình, con theo

bố mẹ hoặc vợ theo chồng Đồng thời Việt kiều của chúng ta ở nước ngoài đều mất nhiều thời gian để

Trang 23

tạo lập cuộc sống nên thu nhập có

được chủ yếu phục vụ cho cuộc

sống của chính họ và gia đình họ

ở nước ngoài, số lượng Việt kiều trở

thành triệu phú đôla Mỹ đến nay

rất ít (chúng ta thấy kiều hối của

Việt Nam trước năm 2000 không

biến động nhiều qua các năm,

bình quân từ vài trăm triệu đến gần

1 tỷ USD/năm) Do đó, chúng tôi

chọn số lượng lao động xuất khẩu

là đại diện cho biến độc lập này,

bao gồm cả số người lao động xuất

khẩu và số người học tập, thực tập

sinh có nguồn thu nhập ổn định ở

nước ngoài hàng năm;

LSNT là lãi suất huy động ngoại

tệ của hệ thống ngân hàng thương

mại áp dụng với cá nhân bình

quân năm;

TYGIA là tỷ giá mua ngoại tệ

(đôla Mỹ) của các ngân hàng

thương mại bình quân năm;

CSNH là chính sách ngoại hối

của nhà nước, là biến giả, theo đó

trước năm 2007 biến CSNH nhận

giá trị 0, còn lại nhận giá trị là 1;

β0 là hệ số chặn;

β1, β2, β3, β4 là hệ số hồi quy;

u là yếu tố ngẫu nhiên

2 mô tả dự liệu

Các số liệu của mô hình được thu

thập theo năm từ năm 2001 đến

2012 Nguồn số liệu từ Tổng cục

Thống kê, các Bộ ngành liên quan

như NHNN Việt Nam, Bộ Lao động

- Thương binh và Xã hội, hệ thống

Reuters và do tác giả tự khai thác

Bảng mô tả dữ liệu thống kê của

các biến trong mô hình bao gồm

các giá trị trung bình, giá trị trung

vị, giá trị tối đa, giá trị tối thiểu, độ

lệch chuẩn và giá trị Jarqua Bera

(Bảng 1)

3 Kết quả ước lượng mô hình

Phương pháp ước lượng: chúng

tôi sử dụng phương pháp bình

phương nhỏ nhất với phần mềm

EVIEWS5.0 Các bước kiểm tra

trong việc tìm ra mô hình phù hợp

theo quy trình kinh tế lượng

3.1 Kết quả ước lượng mô hình

hồi quy trong trường hợp không có

Đồ thị 1: Diễn biến kiều hối trong những năm qua

Nguồn: SBV,TCTK và tác giả tự khai thác

Bảng 1: Các thống kê cơ bản của các biến trong mô hình hồi quy

KH (Tỷ USD) LDXK (Nghìn người) LSNT (%/Năm) TYGIA (VND)

Nguồn : Từ tính toán của tác giả

Bảng 2: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy

Kết quả ước lượng mô hình như sau:

KH = -14.566 + 4.173e - 05 * LDXK + 0.651 * LSNT + 0.000875

* TYGIA (Bảng 2)

Từ kết quả ước lượng mô hình chúng ta thấy mọi hệ số trong mô hình đều có ý nghĩa thống kê ở mức

ý nghĩa 5% Lãi suất ngoại tệ là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến ngoại hối, lãi suất ngoại hối tăng 1% thì kiều hối tăng 0.6513

tỷ USD Tỷ giá là nhân tố thứ hai ảnh hưởng đến lượng kiều hối, tỷ giá tăng 1 đồng thì lượng kiều hối tăng 875 nghìn USD Lượng lao động xuất khẩu cũng là nhân tố ảnh hưởng đến kiều hối Một lao động

tăng thêm sẽ làm tăng lượng kiều hối 4.173E-05 tỷ USD (4173USD/năm) Hệ số R bình phương cao chứng tỏ mô hình của chúng ta phù hợp và có ý nghĩa thống kê

3.2 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy trong trường hợp có biến giả

Để xem xét ảnh hưởng của chính sách ngoại hối đến lượng kiều hối hàng năm, chúng ta sẽ đưa biến giả chính sách ngoại hối (CSNH) vào

mô hình hồi quy Trong trường hợp

có biến giả, mô hình của chúng ta

có dạng:

KH = β0 + β1LDXK + β2LSNT + β3TYGIA + β4CSNH + u

Phương trình hồi quy thu được có dạng như sau:

KH = -10.266 + 3.60E - 05 * LDXK + 0.461 * LSNT + 0.0006 * TYGIA + 1.3382 * CSNH

Trang 24

Kết quả ước lượng mô hình được

trình bày trong Bảng 3

Từ kết quả ước lượng mô hình

chúng ta thấy mọi hệ số trong mô

hình đều có ý nghĩa thống kê ở

mức ý nghĩa 5% Biến CSNH có

ý nghĩa về mặt thống kê, chứng

tỏ CSNH ít nhiều có ảnh hưởng

đến lượng kiều hối Tuy nhiên, khi

đưa biến CSNH vào mô hình thì

có hiện tượng đa cộng tuyến giữa

biến tỷ giá và CSNH nên các kết

quả ước lượng dù có ý nghĩa thống

kê nhưng khoảng tin cậy của các

hệ số không đáng tin cậy Chúng

tôi kiến nghị bỏ biến CSNH ra khỏi

mô hình vì bản thân biến này có

quan hệ tuyến tính với biến tỷ giá

Do đó, mô hình ước lượng được

chấp nhận là mô hình hồi quy

không có biến giả

4 Kết luận và gợi ý chính sách

Như vậy, các nhân tố lao động

xuất khẩu, lãi suất ngoại tệ, tỷ giá,

chính sách nhà nước đều tác động

và ảnh hưởng đến kiều hối của

Việt Nam và tạo ra cú hích về tăng

trưởng dòng vốn này từ năm 2001,

đặc biệt từ năm 2007 đến nay,

trong bối cảnh khủng hoảng kinh

tế thế giới, các dòng tài chính khác

có khuynh hướng giảm như FDI,

FII, ODA thì từ năm 2008 đến nay

kiều hối vẫn tăng một cách vững

chắc

Trong các nhân tố trên thì lãi suất

ngoại tệ và tỷ giá không thể thay

đổi nhiều vì chức năng, nhiệm vụ

của NHNN phải sử dụng các công

cụ này nhằm kiểm soát lạm phát,

chống đô la hoá và ổn định kinh

tế vĩ mô Do đó, trong thời gian

tới để kích thích, thu hút kiều hối

về nhiều hơn nữa, chúng ta phải

có giải pháp liên quan đến nhân

tố còn lại, đó là tác động để tăng lao động xuất khẩu và tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách thu hút kiều hối Trong đó giải pháp để tăng lao động xuất khẩu cả về số lượng và chất lượng là quan trọng nhất vì đây là lực lượng chính tạo ra nguồn kiều hối

Gợi ý chính sách

Chính sách thu hút kiều hối:

chúng ta cần phải tiếp tục cụ thể hóa các nội dung của Pháp lệnh Ngoại hối sửa đổi năm 2012 và thay thế Quyết định 170/1999/

QĐ-TTg ngày 19/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ theo hướng mở rộng hơn nữa đối tượng được nhận kiều hối, ngoài các thành viên quan hệ huyết thống của người gửi tiền, cần mở rộng cả thân nhân của họ như anh em họ hàng, người thân Đồng thời, tạo thuận lợi về điều kiện cũng như thủ tục hành chính để mở rộng hơn nữa mạng lưới nhận và chi trả kiều hối Bên cạnh đó, cần nghiên cứu cho áp dụng thí điểm cơ chế thoả thuận về

tỷ giá mua của các ngân hàng đối với kiều hối nhằm khuyến khích bên nhận kiều hối bán cho ngân hàng, vừa thu hút luồng ngoại tệ này vào hệ thống ngân hàng, tăng cung ngoại tệ và vừa tránh để ngoại

tệ trôi nổi ngoài thị trường tự do

Chính sách thuế: cần phải ổn

định trong dài hạn, tạo sự tin tưởng đối với lao động xuất khẩu và Việt kiều ở nước ngoài chuyển tiền về nước, nên áp dụng thuế suất bằng

‘0’ đối với kiều hối trong dài hạn để

Bảng 3: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy với biến giả

Biến độc lập Hệ số Độ lệch chuẩn Thống kê t Xác suất

Chính sách xuất khẩu lao động:

Tích cực mở rộng và tăng mạnh lao động xuất khẩu cả về quy mô

và chất lượng Đồng thời củng

cố và tăng cường năng lực, khả năng cạnh tranh của các Công ty xuất khẩu lao động, xây dựng các thương hiệu mạnh, uy tín để khai thác thị trường và cung ứng cho thị trường lao động thế giới Bên cạnh

đó, đầu tư ngân sách thoả đáng để xây dựng và cải tạo hệ thống trường đào tạo nghề ở các vùng, kinh tế trọng điểm

Tăng cường hơn nữa các trao đổi thông tin giữa các hiệp hội ngành nghề trong nước với các tổ chức Việt kiều và người lao động ở nước ngoài để tìm hiểu cơ hội lao động, thu hút lao động cũng như hợp tác đào tạo tay nghề cho lao động xuất khẩu

Chính phủ cần chú trọng ký kết hợp tác song phương, đa phương với các quốc gia trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động ở nước ngoài, tạo khung pháp lý đầy đủ để bảo vệ lao động xuất khẩu, tạo động lực khuyến khích xuất khẩu lao động trong thời gian tới

tÀi LiỆU thAm KhẢO:

- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006

- 2010 và 2011 - 2015 - Báo cáo của Chính phủ.

- Báo cáo thường niên của NHNN Việt Nam từ năm 2001 đến 2012.

- Pháp lệnh Ngoại hối năm 2006 và Pháp lệnh Ngoại hối sửa đổi năm 2012 và Quyêt định 170 của TTCP ngày 19/8/1999.

- Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi 2012

- Tình hình kinh tế - xã hội - Thông tin thống kê hàng tháng - Tổng cục Thống kê.

- Website của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng Cục Thống kê.

- Báo cáo của WB 2011, 2012.

- Thông tin cập nhật tỷ giá và lãi suất của hệ thống Reutesr.

- Báo cáo và bản tin của Vietcombank từ năm

2001 đến 2012.

- Một số thông tin đăng tải trên các website như: hccwto.org.vn; chinhphu.vn; Cafef.vn; tuoitreonline;…

Trang 25

Ở đâu và bao giờ cũng

vậy, con người là vốn

quý nhất của mỗi

ngành nghề, điều này

được nhấn mạnh bởi hai điều: đức

và tài Về chữ tài, đây là vốn quý

mà trời trao cho mỗi người; mặt

khác, đó là kết quả của quá trình

đào tạo và luôn tự đào tạo để đổi

mới Khả năng này còn là vốn quý

mà mỗi người có thể có trong một

tổ chức hành nghề mà họ được

cống hiến và thụ hưởng, nói cách

khác, là điều mà họ nhận được từ

tổ chức hành nghề Khả năng về

chuyên môn có thể được đào tạo

ngắn hoặc lâu dài, được thể hiện

qua những chỉ tiêu định lượng là

chủ yếu (đánh giá của khách hàng,

đồng nghiệp, kết quả kinh doanh,

mức lợi nhuận…) Tuy nhiên, đạo

đức - hay là đức của nghề - lại

không dễ dàng như vậy, nó là kết

quả của văn hóa mà mỗi người có

được qua quá trình rèn luyện lâu

dài, đầy tâm huyết và có định

hướng Nó gắn với đạo làm người

và việc ý thức giữ được chữ đức

của nghề Vì vậy, trước khi nói tới

đạo đức kinh doanh thì con người

cần phải là con người

Những khái niệm này không

phải là mới, song không bao giờ cũ,

CHỨNG CHỈ/GIẤY PHÉP

HÀNH NGHỀ NGÂN HÀNG:

TẠI SAO KHÔNG?

đặc biệt gắn với ngành mang tính dịch vụ, nhất là dịch vụ tài chính, nơi mà lòng tin và lòng trung thành được coi là hướng đến chủ yếu để tạo ra lợi nhuận Hoạt động ngân hàng có từ lâu trong lịch sử, gắn liền với nó là đội ngũ những con người hành nghề ngân hàng trực tiếp và những người có liên quan đến hoạt động ngân hàng Với tính chất là ngành kinh doanh có điều kiện, hoạt động ngân hàng đòi hỏi những con người có tâm và có tài

Điều này không phải là dễ thực hiện, song càng trở nên cấp thiết khi thị trường suy thoái

Ngay sau khi thành lập, ngành Ngân hàng Việt Nam đã rất quan tâm đến hoạt động đào tạo cán

bộ ngân hàng ở các trình độ, các cấp độ và ở nhiều địa bàn trong cả nước Cùng với thời gian, nội dung đào tạo cũng ngày càng đa dạng,

từ đào tạo theo bằng cấp quốc gia

ở các cơ sở đào tạo quốc gia (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) đến đào tạo thường xuyên, đào tạo theo vị trí công việc, đào tạo theo tính chất của từng trung tâm đào tạo của từng hệ thống ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước, từng hệ thống ngân hàng thương mại) Đây là thành quả đáng ghi nhận và đầy

tự hào của ngành qua hơn 62 năm

* Ủy ban Chứng khoán nhà nước

Chuyên mục này do Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam tài trợ

PGS., TS Lê Hoàng Nga *

hoạt động ở Việt Nam, với hàng chục vạn cán bộ trong ngành đã

và đang làm việc

Tuy nhiên, có một điều trăn trở đối với hoạt động đào tạo của ngành là cho đến nay, chúng ta

chưa có chứng chỉ/giấy phép hành nghề ngân hàng cấp cho cán bộ

làm việc trong ngành Ngân hàng Thông thường, các ngân hàng tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp các cơ sở đào tạo để làm việc trong ngành; ngoài ra, xét tuyển cán bộ

từ nhiều nguồn theo nhu cầu thực

tế của ngân hàng Những cán bộ này phải đáp ứng được các yêu cầu do ngân hàng đặt ra Trong quá trình công tác, họ được đào tạo theo nhiều nội dung với nhiều mức độ khác nhau Quá trình này

là đúng đắn và cần thiết, song có

lẽ chưa đủ Chúng ta còn cần đến một bộ chứng chỉ/hoặc giấy phép hành nghề ngân hàng, bởi lẽ:

Thứ nhất, theo kinh nghiệm

nước ngoài, nhiều quốc gia rất quan tâm đến việc đào tạo và cấp bằng, chứng chỉ/giấy phép hành nghề chuyên môn cho người làm việc trong lĩnh vực ngân hàng Đơn cử như Malaysia, có Viện đào tạo ngân hàng (IBBM) thành lập năm 1997 là một thành viên của Học viện Tài chính châu Á Thái Bình Dương, có nhiệm vụ chủ yếu là: (1) Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho cán bộ trong

hệ thống ngân hàng Malaysia và cho hệ thống ngân hàng trong khu vực; (2) Cấp bằng, chứng chỉ hành nghề chuyên môn cho người làm việc trong lĩnh vực ngân hàng; (3) Phát triển kỹ thuật và kỹ năng

Trang 26

mềm; (4) Chia sẻ thông tin và kinh

nghiệm với chính phủ các nước

Trong chương trình đào tạo của họ

chương trình mang tính bắt buộc

cho nhân viên làm việc trong lĩnh

vực ngân hàng

- Chương trình CPE là chương

trình đào tạo liên tục không mang

tính bắt buộc cho nhân viên làm

việc trong lĩnh vực ngân hàng

- Ngoài ra, các chứng chỉ quản lý

thị trường tài chính (không mang

tính bắt buộc dành cho những

người hoạt động trong lĩnh vực tài

chính); chứng chỉ PKMC (chứng

chỉ kiểm toán nội bộ trong lĩnh vực

tài chính - là chương trình đào tạo

bắt buộc, được cấp chứng chỉ qua

hình thức thi); chương trình dành

cho sinh viên mới tốt nghiệp đại

học (FSTEP)

Là một thị trường tài chính khá

phát triển và năng động, Malaysia

thực hiện đào tạo chuyên nghiệp

và chuyên ngành cả về cách thức

tổ chức, cấp chứng chỉ, hướng dẫn, xây dựng chương trình đào tạo, quan điểm đào tạo, kết quả đào tạo, đối tượng đào tạo… Vì vậy, nguồn nhân lực là một trong những nguyên nhân thúc đẩy thị trường tài chính nói chung và ngân hàng nói riêng của Malaysia phát triển nhanh trong thời gian qua, kể cả trong giai đoạn suy thoái kinh tế toàn cầu

Là một nước đang phát triển đi sau, chúng ta nên học hỏi và áp dụng kinh nghiệm của người đi trước để có thể rút ngắn giai đoạn

và nâng cao khả năng đi trước đón đầu trong lĩnh vực ngân hàng; mặt khác, đề cao niềm tự hào nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng trước công chúng

Thứ hai, những ngành dịch vụ,

nhất là dịch vụ tài chính, thường

có chứng chỉ/giấy phép hành nghề chuyên môn theo pháp luật quy định Điển hình đó là ngành

kế toán, kiểm toán, bảo hiểm, chứng khoán, hải quan… Trong các ngành chứng khoán, hải quan, bảo hiểm… ở Việt Nam, các chứng chỉ/giấy phép này có thể do các trung tâm đào tạo thực hiện, song

việc cấp chứng chỉ hành nghề là

do Tổng cục ký, ví dụ chứng chỉ hành nghề chứng khoán do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ký và cấp, chứng chỉ hành nghề đại lý hải quan do Tổng cục Hải quan ký và cấp… Một trong những tiêu chuẩn

để được cấp chứng chỉ hành nghề chuyên môn là phải có đạo đức nghề nghiệp, thậm chí một số ngành phải có một thời gian hoạt động tối thiểu theo luật định mới được cấp chứng chỉ hành nghề chuyên môn, ví dụ chứng chỉ hành nghề chuyên môn trong ngành lưu trữ Việc có chứng chỉ hành nghề chuyên môn không những chứng

tỏ người hành nghề có đủ điều kiện hành nghề theo luật định mà còn chịu sự quản lý của cơ quan quản

lý khi hành nghề Khi đã vi phạm các quy định khi hành nghề thì họ phải chịu các chế tài xử lý theo luật định, cao nhất là tước giấy phép hành nghề và không được phép hành nghề vĩnh viễn, kèm theo đó là các mức độ xử lý khác theo Bộ luật Dân sự, luật chuyên ngành, luật xử phạt hành chính và cao nhất là luật Hình sự

Thứ ba, Việt Nam đang hội nhập

kinh tế mạnh và sâu với tiến trình

đã ký kết không thể thay đổi Hoạt động ngân hàng đã và đang chứng kiến những trải nghiệm vừa ngọt ngào vừa cay đắng của quá trình này Cùng với đó là sự hội nhập về trình độ và thái độ làm việc của cán bộ ngân hàng không chỉ ở thị trường trong nước mà còn là thị trường quốc tế với những chuẩn tắc nghiêm túc Nếu chúng ta không kịp thời chuẩn mực về vấn đề này thì sự đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng sẽ còn dài lâu và không chắc chắn

Thứ tư, trong lịch sử và cho đến

nay, ngành Ngân hàng Việt Nam chưa có chứng chỉ/giấy phép hành nghề chuyên môn Bằng cấp mang

Trong lịch sử và cho đến nay, Ngân hàng Việt Nam chưa có chứng chỉ/Giấy phép hành nghề chuyên môn

Trang 27

tính học thuật do các trường đại

chuyên môn, mà là giấy chứng

nhận về việc đã tham gia và trải

qua các kỳ thi của chương trình

đào tạo Trong khi đó, hoạt động

ngân hàng mang tính đại chúng

cao, hướng tới khách hàng trên cơ

sở ủy thác tài sản của khách hàng

Việc thiếu vắng chứng chỉ hành

nghề trong thời gian dài đã để lại

nhiều hệ lụy về sử dụng và quản

lý cán bộ, khi mà việc tuyển dụng

là không phải thật sự khó khăn

Vì vậy, rủi ro hoạt động trong đội

ngũ cán bộ ngân hàng là rất lớn

mà chưa hoặc không kịp thời phát

hiện Mặt khác, khi đã phát hiện

và xử lý thì các cán bộ này có thể

chuyển sang ngân hàng hoặc tổ

chức tín dụng khác, hoặc chuyển

sang địa bàn khác để hành nghề,

hoặc là chuyển sang vị trí công

tác khác Cách giải quyết này là

không triệt để, không mang tính

răn đe hoặc phòng tránh hiệu quả

Tình trạng này tồn tại qua thời gian

dài, để lại những hậu quả to lớn

gây mất lòng tin của công chúng

vào ngành và gây thất thoát tài

sản chung mà chúng ta đang phải

chứng kiến và giải quyết

Thứ năm, trong các tội phạm

dân sự, tội phạm trong lĩnh vực

ngân hàng chỉ chiếm 0,22%

tổng số vụ việc, nhưng chiếm tới

60,2% về giá trị Trong 10 vụ đại

án của năm 2013 thì có tới 9 vụ

liên quan đến lĩnh vực ngân hàng

Trong nhiều nguyên nhân từ bên

trong và bên ngoài thì nguyên

nhân nào cũng gắn với cán bộ

ngân hàng, hoặc là cấu kết với tội

phạm từ bên ngoài, hoặc là cán

bộ biến chất Do đó, đã đến lúc

ngành cần có bộ chứng chỉ/giấy phép hành nghề ngân hàng với các chế tài của nó để ràng buộc và quản lý cán bộ ngân hàng

Bộ chứng chỉ/giấy phép này nên

do Ngân hàng Nhà nước chủ trì soạn thảo về nội dung và chương trình đào tạo, các loại chứng chỉ, các điều kiện được cấp chứng chỉ, các chế tài quản lý liên quan

Điều này cần đề cập trong một đề

án lớn của ngành trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm đào tạo của quốc tế và của một số dịch vụ tài chính tương tự

Về các loại chứng chỉ:

- Loại chứng chỉ cấp theo sản phẩm/dịch vụ ngân hàng cho người hành nghề trực tiếp: Nên tách ra loại chứng chỉ mang tính bắt buộc

và loại chứng chỉ không mang tính chất bắt buộc Có thể căn cứ vào các nghiệp vụ chính của lĩnh vực ngân hàng để đề ra các loại chứng chỉ, ví dụ chứng chỉ trong hoạt động tín dụng, trong hoạt động kế toán ngân hàng, trong hoạt động thanh toán quốc tế… Lĩnh vực thanh tra, tin học đã có chứng chỉ riêng trong lĩnh vực này

- Loại chứng chỉ cấp cho người hành nghề theo vị trí việc làm, theo chức danh (giám đốc, nhà quản lý mảng việc/bộ phận/cán bộ chịu trách nhiệm)

- Loại chứng chỉ thông qua đào tạo thường xuyên: Mục đích của loại chứng chỉ này là để cơ quan quản lý xem xét gia hạn hoặc thu hồi chứng chỉ hành nghề của các cán bộ đã được cấp giấy phép Có thể thực hiện thông qua đào tạo e-learning, học qua băng hình, hội thảo…

Về điều kiện được cấp chứng chỉ: Ngoài các vấn đề về năng lực

pháp lý và năng lực hành vi dân sự, bằng tốt nghiệp đại học phù hợp,

đã đạt yêu cầu tại kỳ thi nghiệp vụ

do cơ quan có thẩm quyền tổ chức thì cần phải có kinh nghiệm làm

việc tối thiểu liên quan đến hoạt động ngân hàng, ví dụ 2 hoặc 3 năm Không nên cấp chứng chỉ cho những người làm việc trong ngân hàng trong khoảng 1 năm Kinh nghiệm ở Malaysia là có chương trình dành cho sinh viên mới tốt nghiệp đại học đào tạo

6 tháng ở Viện đào tạo ngân hàng

và thực tập 6 tháng tiếp theo với mức lương do ngân hàng chi trả Sau đó, các học viên trải qua kỳ thi, nếu đạt điểm yêu cầu sẽ được nhận vào làm việc tại nơi thực tập

Về trách nhiệm của người hành nghề: Đề án có thể đưa ra các

trách nhiệm của người hành nghề trên cơ sở tham khảo trách nhiệm trong các lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, kế toán, kiểm toán…

Về nội dung đào tạo: Chương

trình đào tạo nghề cần đảm bảo được các kiến thức cơ bản của ngành về tài chính - tín dụng - ngân hàng, sau đó là các chương trình đào tạo chuyên sâu theo từng chứng chỉ

Yêu cầu về kiến thức đối với người hành nghề = Các kiến thức chung + Kiến thức chuyên ngành + Các yêu cầu kỹ năng + Sự miễn giảm

Về tổ chức thực hiện đào tạo người hành nghề, trên cơ sở khung

chương trình đào tạo chung đã được ngành phê duyệt, các trường (hoặc trung tâm) đào tạo bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống ngân hàng

sẽ thực hiện đào tạo Đây là mô hình kết hợp giữa cơ quan quản lý

và các tổ chức/cơ sở đào tạo, tỏ ra

có ưu thế trong nhiều mô hình đào tạo trên thế giới hiện nay Cũng

có thể nghiên cứu Hiệp hội Ngân hàng tổ chức thi cấp chứng chỉ hành nghề trên cơ sở Ngân hàng Nhà nước ủy quyền

Việc thi chứng chỉ hành nghề nên thực hiện trên máy để đảm bảo sự khách quan và minh bạch

(Xem tiếp trang 32)

Trang 28

đặt vấn đề

Từ năm 2005 đến nay, thực hiện

chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính

phủ Việt Nam, nhiều tập đoàn,

công ty lớn của Việt Nam như Tập

đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam,

Tổng công ty Viễn thông Quân đội,

Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt

Nam và Tổng công ty Hàng không

Việt Nam đã đẩy mạnh hoạt động

thương mại và đầu tư vào thị trường

tiềm năng Cambodia trong các

lĩnh vực tài nguyên khoáng sản,

hàng không, công nghệ thông tin,

nông nghiệp để vừa tìm kiếm lợi

nhuận và xem như bước đệm để

đầu tư sang những thị trường khác

Đến nay, thị trường Cambodia

đứng vị trí thứ 2 sau thị trường Laos

với 129 dự án trong tổng vốn đầu

tư ra nước ngoài của Việt Nam, với

tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 2,7

tỷ USD (chiếm 17,4% số dự án và

17,6% vốn đầu tư) (IPCS, 2013)

Trong điều kiện hệ thống tài

chính - ngân hàng của Cambodia

còn nhỏ bé, dịch vụ chưa phát

triển, doanh nghiệp Việt Nam

khó tiếp cận với các dịch vụ ngân

hàng của Cambodia, việc hình

thành một tổ chức tài chính đủ

lớn của Việt Nam triển khai các

hoạt động tài chính - ngân hàng

tại Cambodia là hết sức cần thiết

nhằm phục vụ nhu cầu của nhóm

khách hàng này, đồng thời góp

phần phát triển hệ thống tài chính

- ngân hàng Cambodia cũng như

góp phần thúc đẩy quan hệ thương

mại giữa hai nước Đây cũng chính

là lý do các ngân hàng thương mại

Việt Nam đầu tư sang Cambodia

HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TẠI CAMBODIA

* trường đại học ngân hàng tp hCm

(Agribank, 2010; BIDV, 2009)

1 tổng quan tình hình kinh tế - chính trị - xã hội Cambodia

Cambodia có thủ đô là Phnompenh, dân số vào khoảng

15 triệu người (Indexmundi, 2013), dân tộc Khmer chiếm khoảng 90%

còn lại là các dân tộc Trung Quốc, Việt Nam và Chăm… Diện tích lãnh thổ 181.040 km2; có 800 km biên giới với Thái Lan về phía Bắc

và Tây, 541 km biên giới với Lào

về phía Đông Bắc và 1.137 km biên giới với Việt Nam về phía Đông và Đông Nam Nhìn chung tình hình an ninh chính trị, kinh

tế xã hội thuận lợi cho hoạt động đầu tư kinh doanh, tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng còn nhiều tồn tại như: hệ thống pháp luật chưa minh bạch, bộ máy hành chính quan liêu, vấn nạn tham nhũng còn phổ biến trong xã hội, đã tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (WB, 2013a; Vietstock, 2010)

Năm 2011, nền kinh tế Cambodia tiếp tục đà phục hồi

và tăng trưởng Tăng trưởng GDP Cambodia năm 2011 đạt 6,9%, tăng hơn so với mức dự đoán trước

đó là 6,4% Tuy nhiên, theo xu hướng từ 1960 - 2011, nhìn chung, GDP của Cambodia có phần tăng đều đặn (Xem hình 1) Tỷ lệ lạm phát trong năm 2011 và 2012 của Cambodia dao động khoảng 5,5%/

năm Điều này cho thấy, chính phủ quốc gia này đã thành công trong việc duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức hợp lý, nằm trong tầm kiểm soát và thấp hơn nhiều nước trong

ThS Trần Nguyễn Minh Hải,

Huỳnh Lưu Đức Toàn *

khu vực ASEAN Đồng thời, dự trữ ngoại hối vào cuối năm 2011 của Cambodia khoảng 3 tỷ USD Tính đến ngày 24/10/2011, nợ nước ngoài của Cambodia là 7 tỷ USD, trong đó nợ Trung Quốc 4 tỷ USD, chiếm 35% GDP của Cambodia năm 2010 (Phnompenh Post, 2013; ODC, 2011) (Hình 1)Liên tục trong nhiều năm, Cambodia là một quốc gia “nhập siêu” khi quốc gia này chỉ xuất khẩu các mặc hàng may mặc, nông lâm, thủy sản… sang thị trường Mỹ và châu Âu trong khi phải nhập khẩu những mặt hàng tiêu dùng thông thường như xăng dầu, đồ gia dụng

từ các nước láng giềng như Việt Nam, Thái Lan, Malaysia…Trong 3 năm 2010 - 2012 và 3 tháng đầu năm 2013, Cambodia có cán cân xuất nhập khẩu đạt giá trị âm do tỉ trọng nhập khẩu liên tục cao hơn xuất khẩu (Bảng 1)

Bên cạnh đó, Cambodia cũng

là một quốc gia thu hút mạnh mẽ FDI từ các nước trong khu vực và trên thế giới (Xem hình 2) Qua hình 2, cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia có dòng vốn FDI tương đối lớn đổ vào Cambodia sau Trung Quốc, Châu

Âu, Malaysia, Mỹ và Hàn Quốc Ngoài những mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và là bước đệm để tìm kiếm thị trường khác thì việc các doanh nghiệp Việt Nam “ồ ạt” đổ vốn vào Cambodia có những lý do sau: đây là đất nước đang có tiềm năng phát triển, luật đầu tư hỗ trợ các nhà đầu tư như đối xử công bằng với tất cả nhà đầu tư, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cũng như thuế suất thuế thu nhập cá nhân thấp hơn so với Việt Nam, không kiểm soát về việc chuyển đổi ngoại

Trang 29

tệ (Suon Sophal, 2011) (Hình 2)

2 tình hình hoạt động trong lĩnh

vực ngân hàng tại Cambodia

Trong năm 2011 và 2012, các

ngân hàng thương mại (NHTM)

lớn của Cambodia cơ bản đều

có sự tăng trưởng, đạt lợi nhuận

và hoạt động hiệu quả, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng GDP Chính sự hấp dẫn của nền kinh tế Cambodia nêu trên đã khiến nhiều nhà đầu tư muốn khai thác thị trường này, đặc biệt

Hình 1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Cambodia từ năm 1960-2011

Nguồn: Suon Sophal (2011)

Hình 2: Tỉ trọng đầu tư của các quốc gia và vùng lãnh thổ vào Cambodia từ năm

1994 đến năm 2011 (Đvt: %)

lĩnh vực ngân hàng Cụ thể, hiện

có 31 NHTM đang hoạt động tại Cambodia: 07 ngân hàng chuyên doanh với hơn 380 chi nhánh, riêng tại Thủ đô Phnompenh, có trên 100 chi nhánh với hơn 11 ngàn nhân viên; Acleda Bank là ngân hàng có số lượng chi nhánh lớn nhất là 32 chi nhánh; có 2 văn phòng đại diện và 32 tổ chức tài chính vi mô (ABC, 2013b, c; NBC, 2012) Tính đến thời điểm tháng 11/ 2012, tại Cambodia có

32 NHTM đã cho vay 5,49 tỉ USD

từ khu vực tư nhân tăng 30% so với năm trước và huy động vốn được 6,02 tỉ đô la M4 (ABC, 2013d) Hiện tại, các ngân hàng của Cambodia bắt đầu thay đổi phương thức “ngân hàng truyền thống” để sang ngân hàng hiện đại như dịch

vụ ngân hàng trực tuyến qua mạng Internet hoặc di động Chính vì việc cạnh tranh như vậy, khiến cho khách hàng Cambodia có cơ hội được tham gia vào một lĩnh vực dịch vụ tốt và đa dạng trong

hệ thống ngân hàng hiện nay Việc các nhà đầu tư ngân hàng ào ạt vào trong Cambodia là tín hiệu tốt cho thấy tiềm năng của ngành phát triển trong tương lai (ABC, 2013a) (Hình 3)

Những dịch vụ ngân hàng hiện đại như máy rút tiền ATM, thẻ tín dụng ghi nợ, thẻ tín dụng ghi có cũng được tăng trưởng đều đặn và nhanh chóng qua mỗi năm trong giai đoạn này Số lượng thẻ tín dụng mới phát hành bằng hình thức ghi nợ và ghi có tăng lên 53% đạt 21.364 thẻ và 29% đạt 761.876 thẻ

so với năm 2010 Trong năm 2011, tổng số quầy thu đổi ngoại tệ khắp

cả nước đạt 1.296 quầy với 47 đơn

vị đăng ký tên và chuyển nhượng thương hiệu từ nước ngoài và 1.249 đơn vị đăng ký thông thường khác (NBC, 2012) (Hình 4)

Qua hình 4 cho thấy số lượng

Hình 3: Số lượng thẻ tín dụng ghi có và ghi nợ của các ngân hàng tại Cambodia

trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2011 (Đvt: Thẻ)

Nguồn: NBC (2012)

Trang 30

người gửi tiền tại các ngân hàng

Cambodia tăng vọt trong những

năm 2004 đến 2011 nhưng số

lượng người vay tiền chỉ gia tăng

ở mức độ khiêm tốn Điều này, có

thể thấy được dòng vốn “chảy”

vào hoạt động sản xuất hay kinh

doanh của các doanh nghiệp chưa

nhiều Đây còn là một thị trường

tiềm năng để các ngân hàng Việt

Nam có thể khai thác cho vay tại

Cambodia

Qua phân khúc của từng lĩnh vực

hoạt động kinh doanh trong dòng

vốn vay ngân hàng theo hình 5, rõ

ràng, những ngành như thương mại

bán lẻ, thương mại bán sỉ, hay dịch

vụ khách sạn nhà hàng, sản xuất,

xây dựng, kinh doanh các dịch

vụ phi tài chính và nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp tương đối phát triển Chính điều này có thể trở thành giải pháp giúp các ngân hàng thương mại Việt Nam có thể nghiên cứu, tìm kiếm khách hàng trong những ngành đang có thể phát triển trong tương lai như: nhà hàng khách sạn, xây dựng hoặc nông lâm ngư nghiệp (Hình 5)

3 tình hình hoạt động của một số nhtm Việt nam tại Cambodia

Với sự gia tăng mạnh mẽ hoạt động đầu tư, kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam tại Cambodia, nhu cầu về sự hiện diện hoạt động NHTM Việt Nam

là cần thiết và cũng sẽ hứa hẹn

Hình 4: Số lượng người gửi tiền và người vay ở các ngân hàng tại Cambodia

trong giai đoạn từ 2004 đến 2011 (Đvt: Ngàn người)

Nguồn: NBC (2012)

Hình 5: Mức độ phát triển hoạt động cho vay của các ngân hàng Cambodia phân

theo ngành trong năm 2010 và 2011 (Đvt: %)

Nguồn: NBC (2012)

một kết quả khả quan trong hoạt động ngân hàng tại Cambodia Bên cạnh đó, thị trường tín dụng tại Cambodia, hoạt động dịch vụ thanh toán cũng rất tiềm năng với nhu cầu chuyển tiền ngày càng tăng của các nhà đầu tư nước ngoài, nhu cầu chuyển tiền thanh toán phục vụ hoạt động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp

và chuyển tiền cá nhân, kiều hối Tính đến hết năm 2011, Việt Nam

có 5 ngân hàng hiện đang đầu tư tại Cambodia: Agribank; BIDV; Sacombank, MB Bank và SHB;

dự kiến sắp tới sẽ có thêm một số Ngân hàng Việt Nam sang đầu tư tại Cambodia như: Vietcombank, Vietinbank, Maritime bank… (ABC, 2013a; Agribank, 2013; NBC, 2012, BIDV, 2009)

Do hạn chế về số liệu và thông tin của 5 đơn vị hiện đang đầu tư tại Cambodia, nhóm tác giả chỉ tập trung phân tích 02 điển hình ngân hàng là Ngân hàng Đầu tư

và Phát triển Cambodia (BIDC) (là đơn vị có liên quan trực tiếp đến BIDV) và Sacombank Cambodia

3.1 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cambodia (BIDC)

Thực hiện sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Công ty Phương Nam đã thành lập Công ty TNHH Đầu tư

và Phát triển Cambodia (IDCC) tại Cambodia để triển khai các hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm… nhằm các mục tiêu: (1) kết nối thị trường tài chính Việt Nam với thị trường tài chính Cambodia, đóng góp vào việc mở rộng hợp tác kinh tế - thương mại giữa hai nước, tạo điều kiện tăng cường ổn định xã hội, phát triển kinh tế, làm đòn bẩy thúc đẩy hoạt động thương mại, đầu tư song phương, triển khai hợp tác chiến lược đầu

tư và kinh doanh tại thị trường

Trang 31

Cambodia trong lĩnh vực tài chính

- tiền tệ (bao gồm ngân hàng, tài

chính tiền tệ, chứng khoán, bảo

hiểm ); (2) đầu tư vốn hiệu quả,

phân tán rủi ro; và (3) là cầu nối

kinh tế, thương mại giữa các nhà

đầu tư Cambodia và doanh nghiệp

Việt Nam Ngay sau khi đi vào

hoạt động, IDCC đã tiến hành

mua lại 100% Ngân hàng Đầu tư

Thịnh Vượng (PIB) của Cambodia,

thực hiện tái cơ cấu toàn diện và

đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư

và Phát triển Cambodia (BIDC)

BIDC chính thức triển khai hoạt động từ ngày 01/9/2009 trên cơ sở văn bản chấp thuận số B7.09.148 ngày 14/8/2009 của NBC về việc đổi tên, tăng vốn điều lệ và chuẩn

y nhân sự chủ chốt của BIDC Là một trong những ngân hàng thương mại có vốn điều lệ lớn đứng thứ

2 tại Cambodia, mục tiêu hoạt động của BIDC là hỗ trợ tài chính

và cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp Việt Nam

hoạt động kinh doanh và đầu tư tại thị trường, đặc biệt BIDC có nhiệm vụ là góp phần phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại để hỗ trợ phát triển nền kinh

tế Cambodia, được kỳ vọng sẽ trở thành nhịp cầu vững chắc kết nối thị trường tài chính - ngân hàng hai nước (BIDC, 2012a) (Bảng 2, bảng 3)

Dựa trên bảng 3, một vài đánh giá về tình hình hoạt động của BIDC:

Bảng 2: Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của BIDC (Đvt: %)

Thực hiện năm

% năm

so KH

Kế hoạch năm

Thực hiện năm

% năm

so KH

Kế hoạch năm

Thực hiện 8 tháng

% 8 tháng

so KH

Với sự gia tăng mạnh mẽ hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam tại

Cambodia, nhu cầu về sự hiện diện hoạt động NHTM Việt Nam là cần thiết

Trang 32

Thứ nhất, tổng tài sản đạt 488

triệu USD gấp gần 3 lần so với năm

2009; đứng top 5 NHTM hàng đầu

tại Cambodia về quy mô Tổng tài

sản với thị phần 5,8% tăng hơn so

với 2010 ở mức 4,1% Đến thời

điểm 31/8/2012, dư nợ tín dụng

của toàn hệ thống đã đạt hơn 309

triệu USD, tăng gấp hơn 15 lần so

với năm 2009

Thứ hai, tuy tốc độ tăng trưởng

tín dụng cao nhưng chất lượng tín

dụng của BIDC tiếp tục được duy

trì tốt với tỷ lệ nợ xấu không đáng

kinh tế và dân cư của BIDC có sự

tăng trưởng cao so với năm 2009;

đến hết tháng 8/2012, đạt 110

triệu, tăng 10 lần so với 2009 Số

dư huy động vốn của BIDC trong

thời gian qua có sự phụ thuộc nhiều

vào các doanh nghiệp lớn (nhất là

thị trường Cambodia), tuy nhiên,

đây là những khách hàng lớn của

Việt Nam đầu tư sang và các tập

đoàn có uy tín tại Cambodia Cơ

cấu huy động vốn từ cá nhân của

BIDC đã có sự cải thiện qua các

năm: năm 2010 là 14%, 2011 là

21%, tháng 8/2012 là 36% Đến

31/8/2012, huy động vốn từ tổ

chức kinh tế và khu dân cư đạt

110 triệu USD, trong đó các chi

nhánh tại Việt Nam chiếm 38%,

tại Cambodia chiếm 62%

Thứ tư, BIDC cũng có các dịch

vụ khác như: tài trợ thương mại,

dịch vụ chuyển tiền, các khoản

thu phí cấp tín dụng, thanh toán

quốc tế Bên cạnh các sản phẩm

dịch vụ ngân hàng truyền thống

như: thanh toán quốc tế, bảo lãnh,

chuyển tiền… BIDC đã nghiên cứu

phát triển và triển khai các dịch

Bảng 4: Các chỉ tiêu thu nhập và chi phí trong năm 2011 - 2012 của Sacombank

Cambodia Plc (Đvt: uSD)

Thu nhập lãi thuần + Thu nhập lãi + Chi phí lãi

4,691,034 5,301,728 (610,694)

4,265,156 5,552,438 (1,287,282)

Nguồn: Sacombank Cambodia (2012)

vụ mới hiện đại như: ATM/POS, Internet Banking, SMS Banking, Western Union, trả lương qua tài khoản trong thị trường Cambodia

Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động BIDC cũng gặp những khó khăn như áp lực về mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, tìm kiếm nguồn khách hàng mới là những doanh nghiệp Cambodia, cạnh tranh với nhóm các ngân hàng nội địa tại Cambodia, đảm bảo được công tác chính trị đoàn thể với cán bộ là người Việt Nam đang làm việc tại BIDC, công tác phát triển đội ngũ nhân sự, thay đổi sự vận hành của

hệ thống CoreBanking cũ từ ngân hàng PIB và nâng cấp CoreBanking T24, nhưng vẫn cần phải cập nhập

và nâng cao khả năng sử dụng

3.2 Trường hợp Sacombank Cambodia

Lợi nhuận năm 2011 của

3.108.440 USD trong khi lợi nhuận năm 2012 của Sacombank Cambodia là 1.507.674 USD

Tổng số vốn góp của ngân hàng

là 38.000.000 USD tính đến 31/12/2012 Trong 2 năm gần nhất của hoạt động Sacombank Cambodia Plc., thu nhập từ lãi thuần có phần suy giảm tương đối gần 9,98%, tỉ trọng quy đổi 425.878 USD khá lớn Nguyên nhân là do các khoản chi phí lãi tăng lên tương đối lớn hơn so với các khoản thu nhập lãi trong năm 2011 và 2012 Ngoài

ra, chi phí quản lý ngân hàng không được kiểm soát tốt khiến có sự tăng tương đối lớn gần 66,9% do chi phí tiền lương (chiếm tỷ trọng chủ yếu)

và các chi phí như điện thoại truyền thông và tiếp thị Do vậy, nhìn chung, hoạt động của Sacombank Cambodia trong năm nay trên phương diện kiểm soát chi phí và kiểm tra hoạt động lợi nhuận chưa được hiệu quả (Bảng 4)Sacombank Cambodia hiện tại đang là đối tác với những ngân hàng như Canadia Bank, Acleda Bank, Deutsche Bank, Cambodian Public Bank Limited, BIDC, SHB, MB chi nhánh Cambodia, Osk IndoChina Bank Limited, Maruha Japan Bank Ngoài ra, tỉ lệ nợ xấu của ngân hàng cũng có sự biến động thay đổi về nợ nghi ngờ năm 2011 là 489,222 USD nâng lên thành 568,153 USD năm

2012 Nợ có khả năng mất vốn năm

2011 không có, trong khi năm 2012 phát sinh 109,997 USD Tỉ trọng cho vay nhiều nhất trong năm 2012 chính là các dịch vụ bán sỉ và bán

lẻ, tiếp đó là dịch vụ và bất động sản Mức lãi suất cho vay năm 2012 đối với các khoản vay ngắn hạn là từ 5.5% đến 19.2% và các khoản vay dài hạn là từ 4.5% đến 16.8% Tỉ

lệ lãi suất này không có biến động nhiều về “trần trên” đối với năm

2011, tuy nhiên, năm 2012, đã nới rộng biên độ “trần dưới” giảm ngắn hạn từ 6.3% xuống 5.5% trong khi nâng dài hạn từ 3.0% lên 4.5% Nhìn chung, tình hình hoạt động của Sacombank Cambodia tương

Trang 33

Bảng 6: Phân tích S.W.O.T của NHTM Việt Nam đầu tư sang Cambodia

Điểm mạnh

+ Các NHTM Việt Nam đầu tư vào Cambodia trong thời

gian tương đối sớm (năm 2009) vào thời điểm Cambodia

bắt đầu mở cửa để thâm nhập thị trường nên am hiểu

hơn

+ Có sự hỗ trợ từ ngân hàng hội sở tại Việt Nam nhanh

chóng và uy tín tiếp cận được với các nhóm khách hàng

lớn tại Cambodia

+ Có kinh nghiệm quen thị trường Cambodia tương

đồng với thị trường Việt Nam, tập trung chủ yếu vào

đến các nhóm khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp

để phục vụ việc thu mua lúa gạo xuất khẩu như khuyến

khích của Chính phủ Hoàng gia Campuchia

+ Hầu hết đều thực hiện hiện đại hóa hệ thống

corebanking một cách bài bản chuyên môn, giúp quản lý

và xử lý tốt công tác ngân hàng nhanh chóng cho khách

hàng

+ Hầu hết các NHTM Việt Nam đầu tư sang Cambodia

đều được đặt tại khu vực trung tâm như thủ đô hoặc các

thành phố lớn và chính Từ đó, khách hàng biết đến ngân

hàng nhiều hơn do vị trí thuận lợi

+ Đội ngũ nhân viên tận tụy, ham học hỏi và có khả năng

tiếp cận nhanh các kiến thức, kỹ thuật hiện đại.

Điểm yếu

+ Năng lực quản lý, điều hành còn nhiều hạn chế so với yêu cầu của các ngân hàng hiện đại, bộ máy quản lý cồng kềnh, không hiệu quả Hiện tại nhiều cán bộ chủ chốt làm việc tại Cambodia thực sự phát huy hết hiệu quả và năng lực hoạt động khi đầu tư ra nước ngoài

+ Chính sách xây dựng thương hiệu còn kém do chưa quảng bá rộng rãi và nhiều sự cạnh tranh trên thị trường.

+ Sản phẩm dịch vụ chưa đa dạng và chưa đáp ứng nhu cầu toàn diện của khách hàng

So với các NHTM 100% vốn đầu tư nước ngoài khác thì NHTM Việt Nam chưa thực sự phát triển hết tính năng của các sản phẩm

+ Thiếu sự liên kết giữa các NHTM Việt Nam ở Cambodia với nhau.

+ Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là tín dụng, nợ quá hạn cao, nhiều rủi ro Hoặc các NHTM Việt Nam tại Cambodia chưa ham hiểu rành về thị trường, chính sách tìm kiếm khách hàng còn hạn chế dẫn đến nguồn khách hàng tương đối hạn chế và chưa nhiều nhằm nâng cao việc huy động vốn và cho vay

+ Quy mô vốn hoạt động còn nhỏ nên chưa thực hiện được mục tiêu kinh doanh một cách hoàn chỉnh Đa phần là các NHTM còn nhỏ, phụ thuộc chủ yếu vào ngân hàng hội

sở chủ yếu ở Việt Nam

+ Chưa thực sự chú trọng đầu tư vào các mảng như pháp lý, xử lý nợ xấu do chỉ mới dừng lại ở mức độ là chi nhánh và chưa quan tâm đúng mức đến việc phát triển lâu dài của ngân hàng

Cơ hội

+ Tình hình kinh tế xã hội Campuchia có sự chuyển biến

tích cực, an ninh ngày càng ổn định, đồng thời chính

phủ tiếp tục có những chính sách đúng đắn đáng kể là

chiến lược Tứ giác xúc tiến kinh tế và hợp tác chính trị.

+ Chính phủ Campuchia tiếp tục duy trì nền kinh tế thị

trường, tự do mở cửa để thu hút vốn đầu tư nước ngoài,

kích thích p hát triển nền kinh tế thể hiện qua số liệu

tăng thu hút FDI

+ Thị trường chứng khoán Campuchia đã chính thức đi

hoạt động từ tháng 7/2012, tạo điều kiện kích thích các

thành phần kinh tế khác phát triển

+ Campuchia tập trung hiện đại hoá công nghệ và hệ

thống thanh toán ngân hàng, phát triển thị trường tài

chính trong nước.

+ Hoạt động đầu tư của các NHTM Việt Nam được các cơ

quan Nhà Nước quan tâm và giành nhiều chính sách hỗ

trợ về tư tưởng, xúc tiến và chiến lược

Đe dọa

+ Kinh tế Xã hội Việt Nam giai đoạn 2010 – 2013 diễn biến phức tạp, nền kinh tế vừa có dấu hiệu phục hồi trong năm 2010 đã phải đối mặt với tình trạng lạm phát tăng cao vào những tháng cuối năm 2010 và kéo dài trong năm 2011 Chính phủ đã thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội song song với việc thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi nhằm kiềm chế lạm phát Các chính sách này đều ảnh hưởng lớn đến hoạt động của ngành tài chính ngân hàng

+ Đối với hoạt động của các ngân hàng, NBC chỉ đưa ra các quy định chung chủ yếu về các khoản mục cơ bản để một ngân hàng hoạt động Các chế tài quy định chi tiết không

có nhiều và cụ thể tại Việt Nam

+ Hiện nay, Cambodia đã có hệ thống thông tin tín dụng tuy nhiên qua hơn 1 năm thành lập nhưng bước đầu chỉ cập nhật dữ liệu khách hàng vay vốn là cá nhân, chưa có chế tài

để các ngân hàng phải cung cấp đầy đủ và thường xuyên thông tin của người vay, nên việc thực hiện chưa hiệu quả.

+ Hoạt động tín dụng được NBC kiểm soát với tỷ lệ dự trữ bắt buộc khá cao (12% huy động vốn) duy trì trong thời gian dài và tỷ lệ này đã tăng lên 12.5% vào giữa năm 2012 + Cambodia chưa có hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng và thị trường vốn liên ngân hàng chưa hình thành.

+ Các Ngân hàng lớn tại Cambodia như: Cambodia Public Bank, Acleda Bank, Canadia Bank, ANZ Bank… đều có đối tác đầu tư nước ngoài với mục tiêu nhận được hỗ trợ về vốn và kinh nghiệm quản lý.

+ Thu nhập dân cư tại Cambodia thấp, chỉ một bộ phận nhỏ người giàu nhưng phần lớn sử dụng tiền vào hoạt động kinh doanh Bên cạnh đó, do BIDC là Ngân hàng nước ngoài nên người dân Cambodia có tâm lý chưa thực sự tin tưởng để gửi tiền Đặc biệt là các doanh nghiệp Việt Nam chưa thực sự tạo được uy tín cao tại thị trường Cambodia + Khó khăn trong việc sử dụng lao động, giao tiếp ngôn ngữ và hướng dẫn nhân viên

Nguồn: ABC (2013d) và NBC (2012)

đối gặp nhiều khó khăn trong quá

trình hoạt động kinh doanh năm

2011 - 2012

Qua phân tích hoạt động của hai

NHTM Việt Nam tại Cambodia

nêu trên, có thể khái quát ma trận S.W.O.T cho các NHTM Việt Nam tại Cambodia hoạt động nhằm xúc tiến hoạt động kinh doanh như sau: (Bảng 6)

Kết luận

Với việc phân tích tình hình hoạt động của 02/5 NHTM Việt Nam tại Cambodia bằng các số liệu minh chứng cụ thể và bằng

Trang 34

ma trận S.W.O.T đã cho thấy bên

cạnh những cơ hội, thuận lợi thì

hoạt động đầu tư trực tiếp của các

NHTM Việt Nam tại Cambodia

vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn,

thách thức Do đó, chiến lược phát

triển của các NHTM Việt Nam cần

phù hợp với định hướng đầu tư ra

nước ngoài của Việt Nam, chiến

lược phát triển trong lĩnh vực ngân

hàng của Cambodia, đồng thời

cũng cần phải chú trọng nâng cao

trình độ công nghệ ngân hàng,

năng lực nguồn nhân sự, quản trị

rủi ro hoạt động trong xu hướng hội

nhập kinh tế quốc tế và khu vực

hiện nay

tÀi LiỆU thAm KhẢO:

1 ABC (2013a) Banking Environment

http://www.abc.org.kh/abcorg/content/impacts-5 ADB (2012) Financial Sector Development Strategy 2011-2020 Royal Government of Cambodia, Kingdom of Cambodia, Nation Religion King

http://www.adb.org/sites/default/files/

strategy-2011-2020.pdf

pub/2012/financial-sector-development-6 Agribank (2010) Agribank khai trương chi nhánh tại Camphuchia http://www.

agribank/2010/06/2698/agribank-khai-truong-chi- nhanh-tai-campuchia.aspx

agribank.com.vn/31/820/tin-tuc/hoat-dong-7 Agribank (2012) New Deposit Interest Rate

http://agribank.com.kh/

8 Agribank (2013) Agribank network: 2,300 branches and transaction offices across the S shape of Vietnam http://www.agribank.com.

http://www.bidv.com.vn/Tin-tuc-12 CENSuS (2013) Trade in Goods with Cambodia

15 NBC (2012) Annual Report 2011 http://www.nbc.org.kh/download_files/ publication/annual_rep_eng/AnnualReport2011.pdf

16 ODC (2011) Cambodia’s debt to China grows to $4 billion, official says http://www opendevelopmentcambodia.net/news-source/the- cambodia-daily/cambodias-debt-to-china-grows- to-4-billion-official-says/

17 Phnompenh Post (2013) IMF: How to grow Cambodia

h t t p : / / w w w p h n o m p e n h p o s t com/2013050865472/Analysis/imf-how-to-grow- cambodia.html

18 Suon Sophal (2011) Cambodia: FDI and Government Policy http://www.adbi.org/ files/2012.10.09.cpp.sess3.3.suon.cambodia.fdi pdf

19 Vietstock (2010) Campuchia: Thể chế và các chính sách kinh tế quan trọng

the-che-va-cac-chinh-sach-kinh-te-quan- trong-1566-174601.htm

http://vietstock.vn/2010/12/campuchia-20 WB (2013a) Cambodia Overview http://www.worldbank.org/en/country/ cambodia/overview

21 WB (2013b) Data of World bank during years

http://data.worldbank.org/country/cambodia

CHỨNG CHỈ/GIẤY PHÉP

với khả năng về IT rất hùng hậu

của ngành

Về kinh phí đào tạo: Đề án cũng

xây dựng mức thu phí đào tạo và

thi chứng chỉ hành nghề ngân

hàng với % thay đổi nhất định

để các trường (trung tâm) đào tạo

của ngành thực hiện Tại các nước

phát triển, cơ quan quản lý/tổ chức

đào tạo được phép thực hiện đào

tạo người hành nghề còn cho phép

thí sinh tự ôn thi

Về các chế tài quản lý người

ngân hàng được công khai trên

các trang website của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng

Đồng thời, danh sách người hành nghề vi phạm quy định và bị xử

lý cũng được đưa vào “danh sách đen” và công khai trong toàn hệ thống Cũng nên có danh sách những người hành nghề đáng vinh danh trong toàn hệ thống để khuyến khích những cán bộ tận tâm và thành tích công tác

- Chấm điểm đào tạo thường xuyên tối thiểu hàng năm để cấp lại giấy phép hành nghề cho từng

cá nhân

- Ngoài ra, nên xây dựng quy trình đánh giá người hành nghề xuất sắc hàng năm theo kinh nghiệm một số nước như Úc, Nhật Bản… Có thể nghiên cứu phối hợp với Hiệp hội Ngân hàng đánh giá người hành nghề ở các thành viên

Hiệp hội hàng năm

Trên đây là một số suy nghĩ trong việc thực hiện chứng chỉ/giấy phép hành nghề ngân hàng ở Việt Nam Với đội ngũ cán bộ trong ngành là rất đông đảo và đa dạng, công việc này đòi hỏi sự kỹ lưỡng và kỳ công trong một thời gian dài, nhưng hết sức cần thiết, không nên chậm trễ nữa Hy vọng ngành Ngân hàng, với nhạc trưởng là Ngân hàng Nhà nước, sớm nghiên cứu và thực thi việc đào tạo người hành nghề ngân hàng trong toàn quốc để công chúng có thể tin tưởng vào những cán bộ ngân hàng có đức và có tài, đóng góp vào sự lớn mạnh của ngành trong thời gian tới

tÀi LiỆU thAm KhẢO:

1- Báo “Đầu tư chứng khoán” tháng 11/2013; 2- Báo cáo của đoàn khảo sát thị trường tài chính Malaysia của ủy ban Chứng khoán Nhà nước; 3- Luật Lưu trữ Việt Nam năm 2011.

Trang 35

công cụ quan trọng nhất Đạo đức

nói chung, đạo đức kinh doanh nói

riêng thuộc phạm trù nên làm hay

không nên làm được dư luận xã hội

thừa nhận, do vậy, dư luận xã hội,

tập quán kinh doanh, lương tâm,

trách nhiệm của từng ngân hàng

có thể là cơ sở quan trọng để đánh

giá tính không lành mạnh của

hành vi cạnh tranh của các ngân

hàng Nó là sự thể hiện của “sự

trừng phạt của lương tri, người ta

gọi là trừng phạt bên trong tạo nên

sự xấu hổ để gạt bỏ cái xấu, thúc

đẩy xã hội vận động tốt đẹp hơn”1

Tuy nhiên, để thức tỉnh “lương tâm,

trách nhiệm” của từng ngân hàng

thương mại (NHTM) quả thực là rất

khó khăn Vì vậy, để xác lập được

nền tảng đạo đức kinh doanh vững

chắc trong xã hội, mỗi Hiệp hội

với đặc thù kinh doanh ngân hàng

đang là bước đi cần thiết đặt nền

móng cho việc xây dựng nền tảng

đạo đức kinh doanh ngân hàng

trong điều kiện hội nhập quốc tế

XÂY DỰNG BỘ QUY TẮC ĐẠO ĐỨC KINH DOANH TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM:

THỰC TRẠNG VÀ MỘT VÀI KHUYẾN NGHỊ

TS Bùi Hữu Toàn *

ThS Viên Thế Giang **

1 tổng quan về nhận thức và thực hành đạo đức kinh doanh ngân hàng

ở Việt nam

1.1 Thực trạng nhận thức và thực hành đạo đức kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam

Đạo đức kinh doanh bao gồm những nguyên tắc cơ bản và tiêu chuẩn điều chỉnh hành vi trong thế giới kinh doanh Tuy nhiên, việc đánh giá một hành vi cụ thể

là đúng hay sai, phù hợp với đạo đức kinh doanh hay không sẽ được quyết định bởi nhà đầu tư, nhân viên, khách hàng, các nhóm có quyền lợi liên quan, hệ thống pháp

lý cũng như cộng đồng Do vậy, khi

đề cập đến đạo đức kinh doanh liên quan đến nhiều lĩnh vực không chỉ

là việc tuân thủ pháp luật mà còn quan tâm đến việc bảo vệ quyền lợi cho những người có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp

và quyền lợi của cộng đồng2 Đạo đức kinh doanh là sự kết tinh của truyền thống văn hóa, tập quán kinh doanh của một cộng đồng doanh nghiệp cũng như ở tầm quốc gia Đạo đức kinh doanh thể hiện

sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với bản thân, khách hàng và toàn xã hội

NHTM là doanh nghiệp được thành lập để thực hiện một, một

số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây3: i) Nhận tiền gửi; ii) Cấp tín dụng; iii)

Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản Trong hoạt động kinh doanh, ngoài việc tuân thủ pháp luật, các NHTM cũng phải tuân thủ các chuẩn mực đạo đức kinh doanh trong hoạt động ngân hàng

Là thị trường mới nổi và đang cố gắng gồng mình đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của quá trình hội nhập quốc tế đã làm cho tình trạng

vi phạm pháp luật ngày càng tăng với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng Ngoài vi phạm pháp luật, tình trạng vi phạm đạo đức kinh doanh - tức là những hành

vi không bị xử lý bởi các quy định pháp luật ngày càng trở nên phổ biến, làm cho niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng ngày càng suy giảm, nguy cơ đổ

vỡ trong kinh doanh của hệ thống ngân hàng ngày càng trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết Chúng ta có thể đánh giá thực trạng nhận thức

và thực hành đạo đức kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam trên các khía cạnh sau đây:

“Nghề doanh nhân đã bước sang một giai đoạn mới trong lịch sử kinh thương của nước nhà Chúng

ta tuy có đi chậm so với thế giới bởi

* ngân hàng nhà nước Việt nam

** đại học huế

Trang 36

những lý do lịch sử nhưng đã đến

lúc giới doanh nhân phải trả lời

câu hỏi của xã hội: Người Việt đã

có đạo kinh doanh chưa? Đây quả

là một chủ đề rất hay, rất hữu ích

và cũng rất khó!” Trên quan điểm

lịch sử, Dương Trung Quốc dẫn

lại nhận xét của Lương Văn Can

về những yếu kém trong tư chất

con người Việt Nam khi bước vào

thương trường từ đầu thế kỷ trước:

“Người mình không có thương

phẩm - Không kiên tâm - Không

nghị lực - Không biết trọng nghề -

Không có thương học - Kém đường

giao thiệp - Không biết tiết kiệm

- Khinh hàng nội hoá”5 Nói cách

khác, ở Việt Nam vấn đề đạo đức

kinh doanh, kêu gọi doanh nghiệp

thực hiện đạo đức kinh doanh mới

chỉ dừng lại ở những đợt tuyên

truyền mà chưa có sức lan tỏa để

trở thành những hành động thực sự

của từng doanh nghiệp trong thực

tiễn kinh doanh

Với tính chất là tổ chức quốc gia

tập hợp và đại diện cho cộng đồng

doanh nghiệp, người sử dụng lao

động và các hiệp hội doanh nghiệp

ở Việt Nam nhằm mục đích phát

triển, bảo vệ và hỗ trợ các doanh

nghiệp, góp phần phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước, thúc đẩy các

quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và khoa học - công nghệ giữa Việt Nam với các nước trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt

Nam (VCCI) có nhiệm vụ “Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, nâng cao trách nhiệm xã hội, đạo đức và văn hóa kinh doanh, xây dựng quan hệ lao động thuận hòa, bảo vệ môi trường và tham gia các hoạt động

xã hội khác phù hợp với mục tiêu của Phòng”6 Như thế, định hướng xây dựng nền tảng đạo đức kinh doanh được xác định là nhiệm vụ của VCCI, song xem xét hoạt động của Tổ chức này chúng ta chưa thấy

có những hướng dẫn, động viên các hội viên của mình xây dựng chuẩn mực đạo đức kinh doanh; Tổ chức này cũng chưa đứng ra “làm chủ” cho việc nhận diện hoặc xây dựng các chuẩn mực đạo đức kinh doanh Nói khác đi, nhiệm vụ này của VCCI cũng mới chỉ dừng lại ở

“khuyến khích và tạo phong trào”

Kể từ khi thành lập đến nay, VCCI cũng mới chỉ 5 lần phối hợp với các bộ, ngành tổ chức giải thưởng Trách nhiệm xã hội Doanh nghiệp, nhằm ghi nhận sự đóng góp xuất

sắc của các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước7

Thứ hai, ở cấp độ ngành Ngân

hàng, trước khi chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường (mô hình ngân hàng hai cấp), vấn đề đạo đức kinh doanh ngân hàng không được đặt ra, nó được đồng

nhất với đạo đức công vụ trong quá

trình thực hiện nhiệm vụ “cấp phát vốn” của công chức ngân hàng Sau khi chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, hoạt động kinh doanh ngân hàng phải tuân theo quy luật vốn có của kinh tế thị trường, và theo đó, những chuẩn mực đạo đức kinh doanh cũng dần được xã hội yêu cầu và dần định hình trong thực tiễn hoạt động kinh doanh

Với tính chất là tổ chức đại diện cho các tổ chức tín dụng, Hiệp hội Ngân hàng có tôn chỉ, mục đích, đường hướng hoạt động nhất định nhằm mục đích bảo vệ và định hướng cho thành viên hoạt động đúng pháp luật cũng như những quy tắc do hiệp hội ngành nghề đặt

ra Hiệp hội Ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc hình thành những quy tắc ứng xử cho các tổ chức tín dụng thành viên, là tiền

đề cho việc hình thành những chuẩn mực ứng xử được cộng đồng doanh nghiệp thành viên tán thành

và tuân thủ, những chuẩn mực ứng

xử này sẽ là cơ sở cho việc đưa ra những phán quyết khi phát sinh mâu thuẫn giữa các thành viên Nói cách khác, thông qua tôn chỉ, mục đích, đường hướng hoạt động của mình, Hiệp hội Ngân hàng sẽ hình thành những chuẩn quy tắc ứng xử giữa các thành viên phù hợp với đặc thù của ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, làm tiền đề cho việc phán xử những hành vi vi phạm của các thành viên

Thứ ba, ở cấp độ từng ngân hàng,

Hoạt động kinh doanh ngân hàng đòi hỏi tuân thủ quy tắc đạo đức

kinh doanh ở mức độ cao nhất

Ngày đăng: 17/12/2013, 08:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 6 - Tạp Chí Ngân Hàng số 23 2013
th ị 6 (Trang 11)
Đồ thị 7 - Tạp Chí Ngân Hàng số 23 2013
th ị 7 (Trang 11)
Bảng 2: Mục tiêu khác biệt giữa chính sách an toàn vi mô - Tạp Chí Ngân Hàng số 23 2013
Bảng 2 Mục tiêu khác biệt giữa chính sách an toàn vi mô (Trang 13)
Đồ thị 3: Diễn biến một số loại lãi suất nội tệ chủ yếu nhất - Tạp Chí Ngân Hàng số 23 2013
th ị 3: Diễn biến một số loại lãi suất nội tệ chủ yếu nhất (Trang 16)
Bảng 1: Diễn biến nhập siêu và giá uSD so với VND các năm 2006 - 2013 - Tạp Chí Ngân Hàng số 23 2013
Bảng 1 Diễn biến nhập siêu và giá uSD so với VND các năm 2006 - 2013 (Trang 17)
Đồ thị 7: - Tạp Chí Ngân Hàng số 23 2013
th ị 7: (Trang 20)
Bảng mô tả dữ liệu thống kê của - Tạp Chí Ngân Hàng số 23 2013
Bảng m ô tả dữ liệu thống kê của (Trang 23)
Hình  đều  có  ý  nghĩa  thống  kê  ở - Tạp Chí Ngân Hàng số 23 2013
nh đều có ý nghĩa thống kê ở (Trang 24)
Hình thức thi); chương trình dành - Tạp Chí Ngân Hàng số 23 2013
Hình th ức thi); chương trình dành (Trang 26)
Hình 5: Mức độ phát triển hoạt động cho vay của các ngân hàng Cambodia phân - Tạp Chí Ngân Hàng số 23 2013
Hình 5 Mức độ phát triển hoạt động cho vay của các ngân hàng Cambodia phân (Trang 30)
Hình 4: Số lượng người gửi tiền và người vay ở các ngân hàng tại Cambodia - Tạp Chí Ngân Hàng số 23 2013
Hình 4 Số lượng người gửi tiền và người vay ở các ngân hàng tại Cambodia (Trang 30)
Bảng 2: Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của BIDC (Đvt: %) - Tạp Chí Ngân Hàng số 23 2013
Bảng 2 Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của BIDC (Đvt: %) (Trang 31)
Bảng 4: Các chỉ tiêu thu nhập và chi phí trong năm 2011 - 2012 của Sacombank - Tạp Chí Ngân Hàng số 23 2013
Bảng 4 Các chỉ tiêu thu nhập và chi phí trong năm 2011 - 2012 của Sacombank (Trang 32)
Đầu tiên vào năm 2010. Bảng xếp hạng được xây dựng dựa - Tạp Chí Ngân Hàng số 23 2013
u tiên vào năm 2010. Bảng xếp hạng được xây dựng dựa (Trang 68)
Bảng xếp hạng V1000 được công bố thường niên kể từ lần - Tạp Chí Ngân Hàng số 23 2013
Bảng x ếp hạng V1000 được công bố thường niên kể từ lần (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w