Xuất phát từ thực tế và những lý do như trên, việc lựa chọn đề tài “Kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Na
Trang 1NGUYỄN HỮU TRƯỜNG HƯNG
KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG TẬP TRUNG KINH TẾ TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ: KINH NGHIỆM
QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại
Mã số: 62.34.01.21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
Người hướng dẫn 1: PGS.TS Phạm Tất Thắng
Người hướng dẫn 2: TS Nguyễn Thị Nhiễu
Hà Nội – 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập củariêng tôi Số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng Cáckết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trungthực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả nàychưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tác giả
Nguyễn Hữu Trường Hưng
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU HÌNH ix
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 4
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 4
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án 6
4.1 Phương pháp phân tích và thống kê 6
4.2 Phương pháp phỏng vấn sâu với các chuyên gia và nhà quản lý 6
4.3 Phương pháp so sánh 7
5 Những đóng góp mới của Luận án 7
5.1 Những đóng góp về lý luận và thực tiễn 7
5.2 Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu của Luận án 8
6 Kết cấu của Luận án 9
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU 11
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG TẬP TRUNG KINH TẾ TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ 23
1.1 Khái niệm và đặc điểm tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ 23
Trang 41.1.1 Khái niệm và các hình thức tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ 23 1.1.2 Mục đích và tác động của hoạt động tập trung kinh tế 32 1.1.3 Đặc điểm của hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ 38
1.2 Mục tiêu và vai trò của của việc kiểm soát hoạt động tập trung kinh tếtrong lĩnh vực thương mại và dịch vụ 40
1.2.1 Mục tiêu của việc kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ 40 1.2.2 Vai trò của việc kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ 42
1.3 Các yếu tố tác động tới kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnhvực thương mại và dịch vụ 45
1.3.1 Các yếu tố bên ngoài tác động tới kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ 45 1.3.2 Các yếu tố nội tại tác động tới việc kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ 47
CHƯƠNG 2 : KINH NGHIỆM KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG TẬP TRUNG KINH TẾ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ 52
2.1 Kinh nghiệm về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vựcthương mại và dịch vụ của các quốc gia phát triển 52
2.1.1 Kinh nghiệm kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế của Hoa Kỳ .52 2.1.2 Kinh nghiệm kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế của EU 64
2.2 Kinh nghiệm kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vựcthương mại và dịch vụ của các quốc gia đang phát triển 77
Trang 52.2.1 Kinh nghiệm kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế của Trung Quốc 77 2.2.2 Kinh nghiệm kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế của Indonexia 87
2.3 Bài học kinh nghiệm về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế tronglĩnh vực thương mại và dịch vụ của các nước 96
2.3.1 Xác định quan điểm và mục tiêu kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế 96 2.3.2 Quy định về ngưỡng và các tiêu chí đánh giá một vụ việc tập trung kinh tế 97 2.3.3 Xây dựng mô hình cơ quan cạnh tranh phù hợp 100
CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG TẬP TRUNG KINH TẾ TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ TẠI VIỆT NAM 103
3.1 Thực trạng kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thươngmại và dịch vụ tại Việt Nam hiện nay 103
3.1.1 Khái quát tình hình kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ tại Việt Nam 103 3.1.2 Đánh giá về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế 116
3.2 Bối cảnh trong nước và quốc tế tác động tới kiểm soát hoạt động tậptrung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ 121
3.2.1 Bối cảnh quốc tế 121 3.2.2 Bối cảnh trong nước 123 3.2.3 Những thuận lợi và khó khăn đối với kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ 125
3.3 Quan điểm, mục tiêu và định hướng kiểm soát hoạt động tập trung kinh
tế trong thời gian tới 129
Trang 63.3.1 Mục tiêu kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong thời gian tới
129
3.3.2 Quan điểm kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong thời gian tới 130
3.3.3 Định hướng kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong thời gian tới 131
3.4 Giải pháp hoàn thiện kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ tại Việt Nam 135
3.4.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam 135
3.4.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế tại Việt Nam 143
3.4.3 Nhóm giải pháp đối với các doanh nghiệp và nhà đầu tư 148
KẾT LUẬN 151
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 155
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 156
PHỤ LỤC 1: 162
PHỤ LỤC 2: 165
Trang 8TIẾNG ANH
AEC Asean Economic Community Cộng đồng kinh tế ASEAN
ASEAN Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
DOJ Department of Justice Bộ Tư pháp Hoa Kỳ
ECMR EC Merger Regulation Quy định về sáp nhập của Ủy
ban Châu Âu
FTC Federal Trade Commission Uỷ ban thương mại liên bang
Hoa KỳHHI Herfindahl-Hirschman index Chỉ số Herfindahl-Hirschman HSR Hart-Scott-Rodino Đạo luật Hart Scott Rodino
ICN International Competition
Network
Mạng lưới cạnh tranh quốc tế
KVFTA Korean – Vietnam Free Trade
Agrement
Hiệp định thương mại tự do Hàn Quốc – Việt Nam NDRC National Development and
Reform Commission of the People's Republic of China
Ủy ban quốc gia về cải cách
và phát triển của Trung Quốc
Trang 9JFTC Japan Fair Trade Commission Uỷ ban Thương mại lành
mạnh Nhật BảnRCEP Regional Comprehensive
Economic Partnership
Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực
SAIC State Administration For
Industry & Commerce
Ủy ban Nhà nước về Công nghiệp và Thương mạiTPP Trans-Pacific
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Tập trung kinh tế (TTKT) được coi là con đường ngắn nhất để giải quyếtnhu cầu tích tụ các nguồn lực thị trường của các nhà kinh doanh nhằm nâng caonăng lực kinh doanh Vì vậy các biện pháp sáp nhập, hợp nhất và mua lại hoặcliên doanh… được coi là cách thức không tốn kém nhiều thời gian để hình thànhnên quyền lực thị trường Tập trung kinh tế không trực tiếp làm giảm vị trí cạnhtranh trên thị trường của các doanh nghiệp không tham gia, song chúng lại làmthay đổi quan hệ cạnh tranh giữa họ với doanh nghiệp sau khi tập trung kinh tế
so với trước đó Do vậy, hoạt động TTKT tiềm ẩn những yếu tố hình thành cácdoanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, độc quyền và có thể gây ảnh hưởng tới hoạtđộng cạnh tranh trên thị trường và rất cần được điều chỉnh bởi khuôn khổ pháp
lý và có sự giám sát, kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước
Trên thực tế, vì những lý do kinh tế và pháp lý, chính phủ các nước trênthế giới kể cả các nước phát triển và đang phát triển đều thực hiện kiểm soát tậptrung kinh tế nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động tiêu cực có thể của tậptrung kinh tế tới môi trường cạnh tranh, đảm bảo một thị trường cạnh tranh lànhmạnh, bảo vệ các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, thúc đẩy hiệu quả kinh tế và bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng
Đối với Việt Nam, kể từ khi thực hiện công cuộc Đổi mới, chuyển sangxây dựng nền kinh tế thị trường và tham gia hội nhập kinh tế quốc tế ngày càngsâu rộng, quyền tự do kinh doanh trong môi trường cạnh tranh công bằng vàbình đẳng của doanh nghiệp đã được pháp luật thừa nhận và bảo vệ theo quyđịnh tại Bộ Luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp Tập trung kinh tế là hiện tượngthuộc về quyền tự do của các doanh nghiệp, theo các nguyên lý của kinh tế thị
Trang 12trường mà ở đó quyền tự do khế ước, tự do lập doanh nghiệp, lập hội đượcpháp luật thừa nhận và đảm bảo thực hiện, đã diễn ra khá phổ biến và có xuhướng ngày càng gia tăng ở Việt Nam thời gian qua
Số liệu về các giao dịch tập trung kinh tế trong những năm gần đây chothấy, các giao dịch tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ chiếm
tỷ lệ khá lớn về giá trị và có xu hướng gia tăng Một loạt các vụ việc sáp nhậpgiữa các ngân hàng lớn trong nước, cũng như mua cổ phần chiến lược của cáccông ty nhà nước như: quỹ đầu tư hàng đầu thế giới Warburg Pincus mua 20%
cổ phần của công ty bán lẻ Vincom Retail, tập đoàn Thiên Minh mua lại hàngkhông Hải Âu, hay UPS mua lại công ty cổ phần Chuyển phát nhanh Bưu điện(VNPost Express), … Đặc biệt, gần đây nổi lên các thương vụ M&A trong lĩnhvực thương mại, với ngành bán lẻ đi đầu các thương vụ M&A trong các năm2014-2016, chiếm tới 36% tổng giá trị các thương vụ M&A thời gian này
Luật Cạnh tranh năm 2004 có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm
2015 đã tạo khung pháp lý cơ bản điều chỉnh tập trung kinh tế tại Việt Nam,ngoài ra, các giao dịch tập trung kinh tế tại Việt Nam còn chịu sự điều chỉnh của
06 luật khác Ngoài cơ quan quản lý cạnh tranh có chức năng kiểm soát các hoạtđộng TTKT đối với những trường hợp thuộc diện phải thông báo hoặc bị cấmtheo quy định của Luật cạnh tranh, một số cơ quan quản lý nhà nước chuyênngành khác cũng có chức năng kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong phạm
vi ngành Trên thực tế, sau 10 năm thực thi Luật Cạnh tranh, việc kiểm soát hoạtđộng TTKT đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần ngăn ngừa cáchành vi phản cạnh tranh trên thị trường, giúp nâng cao nhận thức và ý thức tuânthủ pháp luật cạnh tranh của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc có quá nhiều cơquan quản lý nhà nước cùng có chức năng kiểm soát hoạt động TTKT đã dẫn tới
sự chồng chéo và bộc lộ nhiều bất cập trong kiểm soát TTKT
Trang 13Hơn nữa, do đặc điểm là một quốc gia đang phát triển và chuyển đổi, LuậtCạnh tranh và Cơ quan cạnh tranh mới chỉ ra đời được 10 năm, Việt Nam hầunhư chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc kiểm soát hoạt động TTKT Với tínhchất phức tạp của kiểm soát TTKT cùng rất nhiều khó khăn và thách thức trongthực tiễn kiểm soát hoạt động TTKT có xu hướng gia tăng mạnh mẽ ở Việt Namhiện nay, việc nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm kiểm soát tập trung kinh tế củacác nước cả các nước phát triển và đang phát triển là con đường ngắn nhất cũngnhư hiệu quả nhất để Việt Nam có những điều chỉnh, bổ sung và xây dựng mớipháp luật, chính sách đồng thời xây dựng, tăng cường năng lực cơ quan kiểmsoát TTKT đáp ứng nhu cầu của thực tiễn
Việc thực hiện hiệu quả kiểm soát TTKT càng trở nên cấp thiết trong bốicảnh hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015, cùngvới việc hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do như KVFTA, EVFTA,RCEP, sẽ đi vào thực hiện thời gian tới, trong khi Luật Doanh nghiệp và LuậtĐầu tư 2014 đã có hiệu lực thi hành từ 1/7/2015 cùng với việc thực hiện chínhsách đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng với mộttrong các trọng tâm là tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước, dự báo các giaodịch tập trung kinh tế chung và trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sẽ ngàycàng tăng lên
Xuất phát từ thực tế và những lý do như trên, việc lựa chọn đề tài “Kiểm
soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận án Tiến sĩ
kinh tế là hết sức cần thiết
Trang 142 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận về kiểm soát tậptrung kinh tế, nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về kiểm soát hoạt động tậptrung kinh tế trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, từ đó rút ra bài học có thể ápdụng cho Việt Nam, đề xuất, khuyến nghị các điều kiện để áp dụng bài học kinhnghiệm của các nước và giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát hoạt độngTTKT ở nước ta thời kỳ đến năm 2025, định hướng 2030
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở khoa học về kiểm soát tập trung kinh tế trong lĩnh vựcthương mại và dịch vụ
- Nghiên cứu tổng quan kinh nghiệm các quốc gia trên thế giới về kiểmsoát tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ
- Làm rõ những bài học kinh nghiệm về kiểm soát hoạt động tập trungkinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ có thể áp dụng cho Việt Nam
- Khái quát thực trạng kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế của Việt Nam
từ khi Luật cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực đến nay
- Nghiên cứu, đề xuất các điều kiện và giải pháp vận dụng các bài họckinh nghiệm quốc tế nhằm hoàn thiện kiểm soát hoạt động tập trung kinh tếtrong lĩnh vực thương mại và dịch vụ tại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là kinh nghiệm nước ngoài vềkiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ
Trang 153.2 Phạm vi nghiên cứu
a Về nội dung
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm soát tập trung kinh tế
- Nghiên cứu nội dung chính sách và quy định của nước ngoài về kiểmsoát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, các nhân
tố tác động, ảnh hưởng tới việc triển khai thực hiện kiểm soát hoạt động tậptrung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ
- Đánh giá chính sách và quy định của các quốc gia về kiểm soát hoạtđộng tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, những ưu và nhượcđiểm bài học có thể áp dụng cho Việt Nam
- Khuyến nghị điều kiện áp dụng các bài học kinh nghiệm của nước ngoài
và đề xuất giải pháp hoàn thiện kiểm soát tập trung kinh tế trong lĩnh vựcthương mại và dịch vụ của Việt Nam
b Về không gian
Kinh nghiệm nước ngoài về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế tronglĩnh vực thương mại và dịch vụ nghiên cứu kinh nghiệm của 04 nước trên thếgiới đó là: Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc và Indonesia
Đây là 04 quốc gia (khu vực) điển hình đại diện cho 02 nhóm nước pháttriển và đang phát triển, có nhiều kinh nghiệm về kiểm soát hoạt động tập trungkinh tế nói chung và kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thươngmại và dịch vụ nói riêng
c Về thời gian
- Nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về kiểm soát hoạt động tập trungkinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ từ năm 2006 – 2015
Trang 16- Đánh giá thực thi kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vựcthương mại và dịch vụ tại Việt Nam từ khi Luật cạnh tranh có hiệu lực đến nay,trong đó tập trung vào giai đoạn 2011-2016.
- Các giải pháp hoàn thiện kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế tronglĩnh vực thương mại dịch vụ từ năm 2017 – 2025, định hướng tới 2030
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợpphân tích định tính, đề tài luận án áp dụng các phương pháp cụ thể sau đây:
4.1 Phương pháp phân tích và thống kê
Được sử dụng nhằm hệ thống hóa các công trình nghiên cứu, lý luận cơbản về các vấn đề liên quan tới đề tài luận án, nghiên cứu sinh sử dụng phươngpháp phân tích, thống kê để làm rõ các thuật ngữ, những lý luận sử dụng tronglĩnh vực cạnh tranh, các kết quả nghiên cứu, những vấn đề đang tồn tại mà đượccác công trình khoa học trước đây đã nghiên cứu
4.2 Phương pháp phỏng vấn sâu với các chuyên gia và nhà quản lý
Nhằm phân tích đánh giá hiệu quả của Luật và chính sách về kiểm soáthoạt động TTKT hiện nay, NCS đã tiến hành phỏng vấn các chuyên gia có uytín và am hiểu về pháp luật cạnh tranh nói chung cũng như các quy định vàchính sách về kiểm soát hoạt động TTKT Trên cơ sở ý kiến của các chuyên gia
sẽ là căn cứ quan trọng để NCS xác định những bất cập hiện nay trong việc kiểmsoát hoạt động TTKT tại Việt Nam cũng như đề xuất hướng sửa đổi trong thờigian tới
Trang 174.3 Phương pháp so sánh
Nhằm kiểm chứng tính chính xác của thông tin được thu thập, phươngpháp so sánh được sử dụng trong nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về kiểmsoát hoạt động TTKT trong lĩnh vực thương mại dịch vụ và trong phần phân tíchđánh giá thực trạng theo khung lý thuyết
5 Những đóng góp mới của Luận án
5.1 Những đóng góp về lý luận và thực tiễn
Về lý luận
Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiểm soát hoạt động tập trung kinh
tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, cụ thể làm rõ những khái niệm cơ bản
về tập trung kinh tế và tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ,bản chất, vai trò của kiểm soát hoạt động TTKT trong nền kinh tế thị trường, cácđối tượng, các yếu tố tác động đến công tác kiểm soát TTKT trong lĩnh vựcthương mại và dịch vụ
Về thực tiễn
Đề tài luận án phân tích, đánh giá kinh nghiệm của các quốc gia phát triển
và đang phát triển về chính sách và quy định kiểm soát hoạt động tập trung kinh
tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ (trong đó đặc biệt chú trọng đến mụctiêu kiểm soát hoạt động TTKT, quy định về ngưỡng thông báo, đánh giá vụviệc TTKT, cơ quan kiểm soát hoạt động TTKT, ) chỉ ra những ưu, nhượcđiểm của các chính sách và quy định kiểm soát TTKT trong lĩnh vực thương mại
và dịch vụ của từng quốc gia, xác định những bài học kinh nghiệm có thể ápdụng Việt Nam Đề xuất quan điểm, mục tiêu, định hướng và giải pháp nhằm
Trang 18hoàn thiện kiểm soát hoạt động TTKT trong lĩnh vực thương mại và dịch vụtrong điều kiện và bối cảnh phát triển mới.
Bên cạnh việc phân tích những ưu và nhược điểm của từng quốc gia chínhsách và quy định về kiểm soát TTKT trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ Luận
án chỉ rõ các bất cập của quy định trong pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tếtrong lĩnh vực thương mại và dịch vụ của Việt Nam hiện nay, sự khác biệt giữaquy định của Việt Nam và thế giới, những đối tượng liên quan trong công tácthực thi luật tại Việt Nam, qua đó đề xuất những phương án hoàn thiện pháp luật
về kiểm soát tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ trong thờigian tới
5.2 Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu của Luận án
Từ nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm của các nước phát triển và đang pháttriển, thực tiễn của Việt Nam, nghiên cứu đã chỉ ra sự khác nhau rõ nét giữa cácnước phát triển và đang phát triển về việc kiểm soát hoạt động tập trung kinh tếtrong lĩnh vực thương mại và dịch vụ như sau:
+ Đối với các nước phát triển, các chính sách và quy định tập trung kinh
tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ ngày càng được hoàn thiện theo hướngminh bạch và chặt chẽ hơn để đảm bảo rằng các vụ việc TTKT trong lĩnh vựcthương mại và dịch vụ không tiềm ẩn nguy cơ gây ra các hành vi phản cạnhtranh sau khi vụ việc được Cơ quan cạnh tranh thông qua
+ Đối với các nước đang phát triển, chính sách và quy định kiểm soátTTKT trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ phải đảm bảo sự hài hoà và cânbằng giữa chính sách phát triển kinh tế của đất nước, thu hút vốn đầu tư nướcngoài và vẫn đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh trên thịtrường Ngoài ra, đối với các quốc gia có nền chính trị tương đối đặc thù như
Trang 19Trung Quốc, chính sách và quy định về kiểm soát tập trung kinh tế còn ban hànhquy định cụ thể liên quan đến các vấn đề về chính trị, an ninh quốc gia
Nghiên cứu đã chỉ ra các bất cập trong quá trình thực thi kiểm soát hoạtđộng TTKT trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ của Việt Nam trong thời gianqua Các giải pháp được đưa ra là các giải pháp từ phía Chính phủ và cộng đồngdoanh nghiệp, trong đó chỉ rõ tính khả thi, tính hữu dụng của giải pháp, cụ thể:
+ Đối với giải pháp hoàn thiện nội dung quy định về kiểm soát TTKTtrong lĩnh vực thương mại và dịch vụ ở Việt Nam: Luận án đã chỉ ra những quyđịnh cần sửa đổi bổ sung phù hợp trên cơ sở xây dựng Luật cạnh tranh sửa đổi
+ Đối với giải pháp kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực cơ quan điềutra Luận án đã chỉ ra Việt nam không nên tách hai cơ quan cạnh tranh riêng biệt
và trực thuộc Bộ Công Thương như hiện nay Thay vì đó nên thành lập một cơquan riêng biệt, độc lập trực thuộc Chính phủ
+ Giải pháp nâng cao nhận thức, khả năng tham gia của doanh nghiệptrong việc áp dụng luật: Trên thực tế, để một văn bản pháp luật đi vào cuộcsống, việc nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp là hết sức cần thiết
và đòi hỏi phải có nguồn lực Do đó, Luận án chỉ rõ trong thời gian tới, cơ quancạnh tranh cần đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, tập trung tuyên tuyền trựctiếp đến các doanh nghiệp trong từng ngành, lĩnh vực riêng biệt và thiết lập quan
hệ chặt chẽ với các cơ quan truyền thông
6 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan, kết luận, và phụ lục, nội dung chính củaLuận án được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ
Trang 20Chương 2: Kinh nghiệm kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế của một số nước trên thế giới trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ
Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ tại Việt Nam
Trang 21TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU
Trong nước và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quanđến pháp luật cạnh tranh và thực thi pháp luật cạnh tranh với mục tiêu và cáchtiếp cận khác nhau Những công trình nghiên cứu điển hình có thể kể đến là:
1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
- Nguyễn Trí Thanh, Giám đốc điều hành Vietnam M&A Network, Cẩm
nang mua bán – sáp nhập tại Việt Nam [17].
Cuốn sách bao gồm 10 chương đã cung cấp một cách toàn diện về hoạtđộng M&A tại Việt Nam Cuốn sách đã đề cập đầy đủ đến các vấn đề từ lýthuyết đến thực tiễn quá trình thực hiện một vụ việc M&A tại Việt Nam như:tổng quan về hoạt động M&A, khung khổ pháp lý, chuẩn bị cho một vụ việc, ràsoát và thẩm định doanh nghiệp, định giá doanh nghiệp, đàm phán, thách thứchậu M&A Hoạt động M&A không chỉ làm thay đổi tình trạng sở hữu của mộtdoanh nghiệp đối với cổ phần hoặc tài sản mà còn làm thay đổi cả hoạt độngquản trị/điều hành của doanh nghiệp Tuy nhiên mức độ thay đổi về quản trị cònphụ thuộc vào các quy định của pháp luật, điều lệ doanh nghiệp và các thoảthuận của các bên khi tiến hành thương vụ M&A Cuốn sách đã tập hợp và hệthống hoá các vấn đề liên quan đến hoạt động M&A, cung cấp bức tranh tổngquan về M&A, những vấn đề kỹ thuật trong M&A Đồng thời, cuốn sách cũngcung cấp những khái nhiệm sơ đẳng nhất về M&A cũng như có cái nhìn kháchquan về một chiến lược kinh doanh mà xu hướng của nó đang dần được khẳngđịnh tại Việt Nam
- Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc và Nguyễn Ngọc Sơn, Giáo trình Luật
cạnh tranh [32]
Trang 22Cuốn sách bao gồm có 6 chương trình bay tổng quan về cạnh tranh, chínhsách cạnh tranh và luật cạnh tranh, các hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranhkhông lành mạnh và tập trung kinh tế Các tác giả đi sâu phân tích về đặc điểm
và các hình thức tồn tại của cạnh tranh để độc giả có thể nắm được lý do ra đờicủa cạnh tranh Bên cạnh đó tác giả cũng trình bày về vai trò và mục tiêu củaLuật Cạnh tranh, lịch sử ra đời của pháp luật cạnh tranh trên thế giới Có thểthấy rằng, mục tiêu Luật Cạnh tranh nhằm đề tăng cường hiệu quả kinh tế Tuynhiên, hiện nay vẫn còn rất nhiều tranh cãi về cách thức khác nhau để có thể đạtđược hiệu quả đó Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi quốc gia mà pháp luật cạnhtranh được sử dụng để theo đuổi các mục tiêu khác ngoài mục tiêu hiệu quả nhưbảo vệ đối thủ cạnh tranh, công ăn việc làm, an ninh, kinh tế và chính trị củaquốc gia Cuốn sách đã giới thiệu sơ qua về lịch sử ra đời của pháp luật cạnhtranh các nước trên thế giới để độc giả có những hình dung cơ bản về pháp luậtcạnh tranh nói chung và những điểm khác biệt giữa pháp luật cạnh tranh củatừng quốc gia Có thể thấy rằng, cuốn sách đã cung cấp khá đầy đủ và diễn giải
về các quy định của Luật Canh tranh, bên cạnh đó cuốn sách cũng đã cung cấp
về lịch sử ra đời, mục tiêu, vai trò của Luật Cạnh tranh
- Đinh Thị Mỹ Loan chủ biên và các cộng sự, Cục Quản lý cạnh tranh –
Bộ Công Thương, Kiểm soát tập trung kinh tế - kinh nghiệm quốc tế và thực
tiễn Việt Nam [12].
Cuốn sách này được ra đời năm 2007 trong bối cảnh hoạt động tập trungkinh tế vẫn là loại hình kinh doanh tương đối mới mẻ đối với một đất nước đangtrong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm vàthực tiễn về vấn đề này Cuốn sách được viết với mục tiêu chính là làm tài liệutham khảo để phục vụ cộng đồng doanh nghiệp, văn phòng luật, các cơ quanhữu quan và các đơn vị có liên quan tham khảo và định hướng hoạt động tậptrung kinh tế theo đúng tinh thần của pháp luật cạnh tranh
Trang 23Hướng nghiên cứu mà công trình đã thực hiện: cung cấp thông tin một
cách tổng quan về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế trên thế giới, những vấn
đề kỹ thuật về kiểm soát tập trung kinh tế, kinh nghiệm kiểm soát tập trung kinh
tế trên thế giới của Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và liên bang Nga, cùng với các quyđịnh pháp lý của Luật Cạnh tranh Việt Nam
Về kết quả nghiên cứu của công trình: do tính chất của cuốn sách là một
tài liệu tham khảo để phục vụ cộng đồng doanh nghiệp và các bên liên quan cóthể hiểu rõ hơn về hoạt động tập trung kinh tế cũng như các quy định về kiểmsoát hoạt động tập trung kinh tế tại Việt Nam, chính vì vậy nội dung của cuốnsách chủ yếu là cung cấp thông tin và không đưa ra đề xuất, giải pháp để nângcao hiểu quả việc kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế hoặc đưa ra các bài họcthực tiễn từ kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới
- Cục Quản lý cạnh tranh (2007), Luật chống độc quyền Nhật Bản và kinh
nghiệm thực thi [11].
Cuốn sách bao gồm 6 phần đã nêu những nét khái quát về lịch sử hìnhthành Luật Chống độc quyền Nhật Bản, các giai đoạn phát triển của Uỷ banThương mại lành mạnh Nhật Bản – cơ quan thực thi luật, những điểm chủ yếutrong Luật Chống độc quyền Nhật Bản như các yếu tố tác động, tiêu chí đánhgiá các hành vi vi phạm, mối quan hệ với các đạo luật khác, cơ cấu hoạt động,quy trình điều tra, cơ chế bảo đảm tính minh bạch và một số vụ việc điển hình
đã được JFTC tiến hành xử lý trong thời gian vừa qua Nhật Bản là một trongnhững quốc gia đi đầu trong việc ban hành Luật và chính sách cạnh tranh Rađời từ năm 1947, với 20 lần sửa đổi gắn liền với từng giai đoạn lịch sử phát triểnnhất định của nền kinh tế Nhật Bản, Luật Chống độc quyền đã trở thành mộtcông cụ pháp lý điều chỉnh các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệpNhật Bản một cách hiệu quả Nghiên cứu đã cho thấy khá nhiều ưu điểm trongcác quy định của Nhật Bản so với các quốc gia khác để Việt Nam có thể học tập
Trang 24- Cục Quản lý cạnh tranh (2006), Luật Cạnh tranh Canada một số hướng
dẫn thi hành [13].
Cuốn sách bao gồm 2 phần giới thiệu về Luật Canh tranh, cơ cấu tổ chức
và chức năng nhiệm vụ của cơ quan thực thi Luật Canh tranh Canada cùng 18văn bản hướng dẫn Canada là quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành LuậtCạnh tranh vào năm 1889, với hơn 100 năm phát triển và thực thi luật, Canada
là quốc gia có bề dày kinh nghiệm thực thi Luật Cạnh tranh nhất trên thế giới.Nghiên cứu đã phân tích khá chi tiết về các quy định của Luật Cạnh tranhCanada cùng với một vài vụ việc điển hình đã diễn ra tại Canada
- Cục Quản lý cạnh tranh, Báo cáo tập trung kinh tế Việt Nam năm 2014
[7]
Hướng nghiên cứu mà công trình đã thực hiện: đề tài tập trung nghiên
cứu về thực hoạt động tập trung kinh tế trong giai đoạn 2012 – 2014 Bên cạnh
đó, đề tài cũng đi sâu phân tích về việc kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế tạiViệt Nam trong giai đoạn này như: các văn bản quy phạm pháp luật mới ra đời,các vụ việc thông báo và tham vấn tập trung kinh tế tới Cục Quản lý cạnh tranh,các ngành và lĩnh vực có mức độ tập trung cao
Về phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tài liệu, phân tích, so sánh, tổng
hợp, thống kê dựa trên các hồ sơ thông báo tập trung kinh tế tới Cục Quản lý cạnhtranh, số liệu thống kê đăng ký kinh doanh của Sở kế hoạch đầu tư các tỉnh, thống
kê của Tổng Cục thống kê
Kết luận của công trình và những vấn đề liên quan tới đề tài luận án:
Đề tài đã nêu và phân tích sâu về thực trạng hoạt động tập trung kinh tế tạiViệt Nam trong giai đoạn 2012 – 2014 Đây là thời kỳ mà hoạt động tập trung kinh
tế diễn ra sôi động và tăng trưởng mạnh Thị trường đã chứng kiến làn sóng mua
Trang 25bán sáp nhập các doanh nghiệp có thương hiệu mạnh, nhiều thương vụ cổ phần hoácác doanh nghiệp nhà nước mạnh, có giá trị cao Đề tài cũng đã phân tích thựctrạng kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế tại Việt Nam trong thời gian này, các vụviệc thông báo tới Cục Quản lý cạnh tranh Thông qua phân tích các vụ việc thôngbáo TTKT tới Cục đã cho thấy mức độ phức tạp của các vụ việc ngày càng cao.Nghiên cứu cũng chỉ ra xu hướng các vụ việc TTKT có thể diễn ra trong thời giantới Dựa trên các phân tích và đánh giá về hoạt động TTKT trong giai đoạn 2012-
2014, nghiên cứu đưa ra các định hướng kiểm soát hoạt động TTKT trong thời giantới Có thể nói, đề tài đã đưa ra bức tranh tổng thể về hoạt động TTKT trong 02năm vừa qua, những vụ việc nổi bật cùng với đó là các vụ TTKT phải thông báo tới
cơ quan quản lý cạnh tranh Thông qua kết quả nghiên cứu đề tài đã cho thấy xu thếhoạt động TTKT trong tương lai cùng với đó định hướng đối với cơ quan quản lýnhà nước cần lưu tâm để có thể kiểm soát tốt hoạt động này trên thị trường
Tuy nhiên, do hướng nghiên cứu đề tài chủ yếu phân tích về thực trạng hoạtđộng TTKT tại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2014, vì vậy hầu hết nội dung củanghiên cứu mới chỉ đánh giá khá sơ lược về tổng quan thị trường nói chung và vềcác vụ việc TTKT có thông báo tới Cục Quản lý cạnh tranh nói riêng Mặc dù sốlượng vụ việc thông báo đã có tăng lên, tuy nhiên số lượng vụ việc được thông báonhư hiện nay vẫn còn quá ít so với thực tế đang diễn ra thị trường Nghiên cứuchưa phân tích những khó khăn, bất cập trong các quy đinh và thể chế để có thểkiểm soát tốt hoạt động này
- Cục Quản lý cạnh tranh (2012), Báo cáo rà soát các quy định của pháp
luật cạnh tranh Việt Nam [10].
Hướng nghiên cứu mà công trình đã thực hiện: đề tài nghiên cứu rà soát
về các quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam, đánh giá kết quả thực thicác quy định hiện hành và đưa ra khuyến nghị sửa đổi các quy định hiện hành
Trang 26Ngoài ra Báo cáo cũng nghiên cứu về mô hình cơ quan cạnh tranh của một sốquốc gia để từ đó đề xuất xây dựng mô hình cơ quan cạnh tranh phù hợp với đặcđiểm của Việt Nam
Về phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tài liệu, phân tích các quy định
trong Luật Canh tranh và các văn bản hướng dẫn có liên quan Phân tích kết quảcác vụ việc cạnh tranh mà cơ quan quản lý cạnh tranh đã thụ lý và xử lý Nghiêncứu các tài liệu của nước ngoài về xây dựng mô hình cơ quan cạnh tranh của cácquốc gia trên thế giới
Kết luận về công trình và những vấn đề liên quan tới đề tài luận án
Đây là tài liệu pháp lý công phu nghiên cứu các quy định của Luật Cạnhtranh Việt Nam Nghiên cứu đã đi sâu phân tích từng quy định cụ thể trong Luật,những ưu và nhược điểm của các quy định này Thông qua đó, nghiên cứu đã chỉ ranhững điểm bất cập trong các quy định này và đề xuất hướng sửa đổi Đối với cácquy định liên quan đến lĩnh vực tập trung kinh tế, nghiên cứu đã đạt được một sốkết quả như sau: (1) tổng quan về chính sách và quy định kiểm soát tập trung kinh
tế, (2) thực tiễn hoạt động tập trung kinh tế ở Việt Nam, (3) khuyến nghị hoàn thiệnpháp luật về kiểm soát hoạt động TTKT Báo cáo là công trình nghiên cứu về phápluật mang tính quy mô, đầy đủ và chi tiết từng quy định cụ thể của pháp luật ViệtNam
Có thể nói, các nghiên cứu về kinh nghiệm quốc tế trong việc kiểm soáthoạt động TTKT trên thế giới hiện nay tương đối nhiều và đầy đủ Tuy nhiên,mỗi một quốc gia lại có những đặc điểm riêng về chính trị, môi trường kinh tếkhác nhau, chính vì vậy việc lựa chọn kinh nghiệm của quốc gia nào để áp dụngcho Việt Nam đòi hỏi phải có những đánh giá tổng thể và tập trung phân tích sâuhơn vào mục tiêu trong chính sách kiểm soát động TTKT của mỗi quốc gia Hầuhết các nghiên cứu hiện nay chủ yếu mang tính giới thiệu về các quy định kiểm
Trang 27soát hoạt động TTKT của mỗi quốc gia, phân tích lịch sử hình thành mà hầu nhưchưa có một nghiên cứu tổng thể và mang tính hệ thống về mục tiêu, ưu điểm vànhược điểm trong các quy định và chính sách kiểm soát hoạt động TTKT củamỗi quốc gia Các nghiên cứu cũng chưa có phân tích và đánh giá trong bối cảnhchính trị và kinh tế của Việt Nam hiện nay, chúng ta nên ưu tiên lựa chọn cáchthức sửa đổi chính sách và quy định của pháp luật như thế nào cho phù hợp nhất.
Có thể thấy rằng các nghiên cứu phân tích về thực trạng kiểm soát hoạtđộng TTKT hiện nay đều được phân tích dựa trên các thông kê số lượng các vụviệc TTKT đã được thông báo với Cục Quản lý cạnh tranh, các bộ hồ sơ thôngbáo cũng như tính toán mức độ TTKT (dựa trên các chỉ tiêu CR và HHI) trêntừng thị trường và lĩnh vực ngành hàng Tuy nhiên việc phân tích về thực trạngkiểm soát hoạt động này theo cách thức như trên vẫn mang nặng tính thống kê
và chưa đầy đủ Hầu như chưa có những cuộc điều tra đánh giá mức độ hiểubiết, nhận thức của các cơ quan quản lý, doanh nghiệp, luật sư đối với quy địnhkiểm soát hoạt động TTKT Thông qua các nghiên cứu khảo sát này sẽ đưa ranhững đánh giá chính xác về nguyên nhân dẫn đến việc kiểm soát hoạt độngTTKT chưa đạt hiệu quả như hiện nay Đồng thời, đây cũng là cơ hội để các cơquan quản lý nhà nước lắng nghe ý kiến đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp
về những vướng mắc của họ trong quá trình tiến hành nộp hồ sơ thông báo, xin
ý kiến chấp thuận được phép thực hiện các vụ việc TTKT
2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan
Trong phạm vi của luận án, tác giả chỉ tập trung đi sâu vào kinh nghiệmcủa hai nhóm nước phát triển và đang phát triển Trong mỗi nhóm, tác giả sẽ tậptrung đi sâu vào nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia mang tính điển hình
Ví dụ đối với các quốc gia phát triển là Mỹ và EU Do đây là hai quốc gia có
Trang 28nền kinh tế phát triển, hoạt động tập trung kinh tế đã diễn ra được hàng trămnăm, vì vậy quá trình sửa đổi, cải cách việc kiểm soát hoạt động tập trung kinh
tế đã diễn ra nhiều lần Thông qua nghiên cứu kinh nghiệm của hai quốc gia này
sẽ giúp chúng ta có những đánh giá quan trọng về các bước phát triển của hoạtđộng tập trung kinh tế cũng như những biến động của hoạt động này theo thờigian Bên cạnh đó, tác giả cũng tiến hành nghiên cứu kinh nghiệm của các quốcgia đang phát triển, có quá trình phát triển kinh tế tương tự như Việt Nam Đặcbiệt là kinh nghiệm của Trung Quốc, đây là quốc gia có đặc điểm về văn hoá,chính trị và kinh tế khá giống với Việt Nam Thông qua việc nghiên cứu kinhnghiệm của các quốc gia phát triển và đang phát triển sẽ giúp chúng ta có nhữngđánh giá mang tính tổng thể về mô hình và các quy định trong việc kiểm soáthoạt động tập trung kinh tế phù hợp cho Việt Nam
- John J Parisi (2010), Hướng dẫn cơ bản về các quy định sáp nhập của
EC (a simple guide to the EC merger regulation) [40]
Đây là tài liệu hướng dẫn khá chi tiết về các quy định sáp nhập của EC.Hướng dẫn đã giới thiệu về những điểm khác biệt trong việc kiểm soát hoạtđộng sáp nhập của EU Hướng dẫn bao gồm 6 phần như sau: ngưỡng thông báo,thủ tục điều tra của Uỷ ban Châu Âu, các vấn đề cần xem xét của EC và toà án,biện pháp khắc phục, rà soát pháp lý, các công cụ pháp lý Có thể nói, tác giả đãcung cấp các thông tin khá chi tiết về các quy định của EC, cũng như cách thức
cơ quan cạnh tranh của EC tiến hành xem xét và đánh giá một vụ việc sáp nhập.Tuy nhiên, tài liệu vẫn chủ yếu mang tính diễn giải về các quy định và chưa thểhiện được rõ mục tiêu cũng như mục đích của EC khi ban hành các quy địnhnày
- Kenneth R Logan và Jack D’Angelo (2003), Kiểm soát sáp nhập của
Hoa Kỳ (US Merger Control) [43].
Trang 29Công trình nghiên cứu của hai tác giả đã phân tích khá chi tiết về các quyđịnh của Luật Chống độc quyền của Hoa Kỳ trong việc kiểm soát hoạt độngmua bán và sáp nhập Bên cạnh đó nghiên cứu cũng phân tích về các lần sửa đổiquy định về ngưỡng phải thông báo khi tiến hành các vụ mua bán và sáp nhập.Nghiên cứu đã đi sâu vào phân tích ngưỡng phải thông báo trong các vụ việcM&A trong nước/mang tính toàn cầu, các trường hợp được miễn trừ Nghiêncứu cũng đã phân tích về những thách thức mà các vụ việc M&A gặp phải khitiến hành sáp nhập
- David Scheffman, Malcolm Coate và Louis Silvia (2003), 20 năm thực
thi hướng dẫn về sáp nhập của FTC: theo khía cạnh kinh tế (20 years of merger guidelines enforcement at the FTC: an economic perspective) [35].
Nghiên cứu đã có một phân tích ngắn gọn từ góc độ kinh tế về kinhnghiệm của Uỷ ban thương mại liên bang (FTC) trong quá trình thực thi Hướngdẫn sáp nhập trong 20 năm vừa qua Nghiên cứu đã nhấn mạnh về những yếu tốkinh tế FTC thường quan tâm đến khi tiến hành đánh giá một vụ việc sáp nhập.Các yếu tố kinh tế đóng vai trò quan trọng khi xác định thị trường liên quan,mức độ tập trung, rào cản gia nhập thị trường, phân tích tính cạnh tranh, năngsuất và phá sản Có thể thấy rằng qua các lần sửa đổi của Hướng dẫn sáp nhập,việc phân tích kinh tế trong việc đánh giá một vụ việc sáp nhập đóng vai tròngày càng quan trọng hơn Nghiên cứu đã cung cấp khá ngắn gọn về lịch sửthực hiện Hướng dẫn của FTC nhìn từ góc độ kinh tế, qua nghiên cứu cho thấyFTC rất coi trọng các phân tích kinh tế khi đánh giá các vụ việc M&A
- Ping Lin và Jingjing Zhao (2012), Chính sách kiểm soát hoạt động sáp
nhập theo các quy định của Luật Chống độc quyền Trung Quốc (Merger control policy under China’s anti-monopoly law) [50]
Trang 30Nghiên cứu đã phân tích rất chi tiết về việc kiểm soát hoạt động M&A tại
Trung Quốc kể từ khi Luật Chống độc quyền có hiệu lực vào tháng 8 năm 2008.Tác giả đã phân tích kể từ thời điểm tiến hành soạn thảo luật, quá trình Luật mớiđược ban hành cũng như thời điểm cơ quan cạnh tranh Trung Quốc tiến hành xửphạt các doanh nghiệp không tiến hành thông báo Nhìn chung, các quy địnhkiểm soát sáp nhập của Luật Chống độc quyền Trung Quốc là phù hợp với cáctiêu chuẩn quốc tế Các yếu tố khác nhau được liệt kê trong điều 27 của LuậtChống độc quyền được mở rộng tương tự các điểm chính theo quy định đánh giásáp nhập của Mỹ và EU Nghiên cứu đã cho thấy quá trình triển khai thực thiLuật Chống độc quyền của Trung Quốc, những khó khăn và vướng mắc trongquá trình thực thi
- Angela Huyue Zhang, Thực thi Luật Chống độc quyền tại Trung Quốc:
viễn cảnh thay đổi thể chế (The enforcement of the Anti-Monopoly Law in China: an institutional design perspective) [33]
Nghiên cứu đã chỉ ra những bất cập trong thể chế làm ảnh hưởng đếnviệc thực thi Luật Chống độc quyền của Trung Quốc Trên cơ sở phân tíchnhững bất cập trong thể chế, Nghiên cứu đã đi sâu làm rõ những ưu và nhượcđiểm của các đề xuất về thay đổi hệ thống thực thi chống độc quyền tại TrungQuốc hiện nay và đưa ra những khuyến nghị cần phải sửa đổi trong thời gian tới
Có thể nói đây là một nghiên cứu rất hay và hữu ích, tác giả đã chỉ ra những bấtcập về mặt thể chế làm ảnh hưởng tới hiệu quả việc thực Luật Chống độc quyền.Đồng thời, nghiên cứu cũng cho rằng Trung Quốc nên học tập kinh nghiệm của
EU trong việc xây dựng hệ thống thể chế thực thi Luật, đảm bảo sự cân bằng vànhiều cơ quan cùng thẩm tra đánh giá các vụ việc sáp nhập
- Hiswara Bunjamin và Tandjung, Tác động của quy định kiểm soát sáp
nhập và cạnh tranh đối với các giao dịch M&A tại Indonesia (Impact of
Trang 31Indonesia competition and merger control regulation on M&A transactions)
[39]
Nghiên cứu đã phân tích về các quy định về kiểm soát hoạt động M&A tạiIndonesia Nghiên cứu đã phân tích về ngưỡng thông báo theo quy định, cũngnhư các quy định riêng về ngưỡng thông báo đối với các giao dịch trong lĩnhvực ngân hàng Một điểm khác biệt cơ bản trong các quy định của Indonesia đó
là việc thông báo sáp nhập sẽ được thực hiện sau khi các bên tham gia hoànthành việc sáp nhập Bên cạnh đó, các giao dịch diễn ra bên ngoài của Indonesianhưng có gây ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh vẫn sẽ được Cơ quan cạnhtranh xem xét và đánh giá Có thể thấy rằng thông qua nghiên cứu đã chỉ ra khánhiều điểm khác biệt trong các quy định của Indonesia so với các nước trongkhu vực và trên thế giới
Các công trình nghiên cứu về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế nhưtrên cho thấy hầu hết các nghiên cứu hiện nay chủ yếu mang tính rời rạc về từngvấn đề cụ thể như: kinh nghiệm TTKT của Hoa Kỳ, EU, những bất cập kiểmsoát hoạt động TTKT tại Việt Nam,… Chưa có bất kỳ một nghiên cứu tổng thểkinh nghiệm quốc tế của cả các quốc gia phát triển cũng như đang phát triển về
ưu và nhược điểm trong việc kiểm soát hoạt động TTKT cùng với đó là phântích những bất cập trong các quy định kiểm soát TTKT của Việt Nam
3 Những vấn đề được nghiên cứu trong luận án
- Vị trí, vai trò của việc kiểm soát hoạt động TTKT trong lĩnh vực thươngmại và dịch vụ
- Các yếu tố tác động tới việc kiểm soát hoạt động TTKT trong lĩnh vựcthương mại và dịch vụ
- Chính sách và các quy định về kiểm soát hoạt động TTKT trong lĩnhvực thương mại và dịch của các quốc gia phát triển và đang phát triển
Trang 32- Đánh giá chính sách và quy định về kiểm soát hoạt động TTKT tronglĩnh vực thương mại và dịch vụ của từng quốc gia phát triển và đang phát triểntrên thế giới hiện nay và bài học có thể áp dụng cho Việt Nam
- Đánh giá thực trạng kiểm soát hoạt động TTKT trong lĩnh vực thươngmại và dịch vụ tại Việt Nam
- Những bất cập về các quy định kiểm soát TTKT trong lĩnh vực thươngmại và dịch vụ của Việt Nam
- Quan điểm, định hướng và giải pháp hoàn thiện kiểm soát hoạt độngTTKT trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ ở Việt Nam trong bối cảnh và điềukiện mới
- Những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện kiểm soát hoạt động TTKTtrong lĩnh vực thương mại và dịch vụ trong thời gian tới
Trên đây là những vấn đề được đặt ra trong nội dung nghiên cứu của luận
án và cũng là những vấn đề mà các đề tài khoa học trước đây chưa đề cập hoặc
có đề cập nhưng phục vụ cho các mục tiêu nghiên cứu khác nên chỉ mang tínhliệt kê chưa đi sâu phân tích nguyên nhân và đề xuất hướng giải quyết
Trang 33là sự tăng thêm tư bản do hợp nhất nhiều tư bản lại hoặc một tư bản này thu hútmột tư bản khác Trong kinh tế học và trong khoa học pháp lý, khái niệm tậptrung kinh tế được bình luận ở nhiều góc độ khác nhau Trong đó, có ba cáchtiếp cận cơ bản:
Một là, với tư cách là quá trình gắn liền với việc hình thành và thay đổi của
cấu trúc thị trường, tập trung kinh tế trên thị trường được hiểu là quá trình mà
số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông qua các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất [28] Cách nhìn
nhận này đã làm rõ nguyên nhân và hậu quả của tập trung kinh tế đối với cấutrúc thị trường cạnh tranh Từ đó, các nhà hoạch định chính sách cạnh tranh có
Trang 34thể bóc tách các yếu tố kinh tế để tìm kiếm bản chất pháp lý của hiện tượng tậptrung kinh tế hòng tìm ra cơ chế điều chỉnh phù hợp Tuy nhiên, dường như
quan điểm trên đã coi hiện tượng tích tụ tư bản là một phần của khái niệm tập
trung kinh tế
Hai là, với tư cách là hành vi của các doanh nghiệp, tập trung kinh tế (còn
gọi là tập trung tư bản) được hiểu theo từ điển tiếng việt là tăng thêm tư bản do
hợp nhất nhiều tư bản lại hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác Khái
niệm này đã không đưa ra các biểu hiện cụ thể của tập trung kinh tế, nhưng lạicho thấy bản chất và phương thức của hiện tượng
Ba là, dưới góc độ pháp luật, Luật cạnh tranh năm 2004 không quy định
thế nào là tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê các hành vi được coi là tập trung kinh
tế Theo đó, điều 3 khoản 3 khẳng định tập trung kinh tế là hành vi hạn chế cạnh
tranh; điều 16 quy định tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm:
(i) sáp nhập doanh nghiệp; (ii) hợp nhất doanh nghiệp; (iii) mua lại doanh nghiệp; (iv) liên doanh giữa các doanh nghiệp; (v) các hành vi tập trung khác theo quy định của pháp luật Sự liệt kê này đã làm rõ các hình thức tập trung
kinh tế mà quan điểm thứ hai chưa làm rõ
Cho dù được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau và diễn tả bằng nhữngngôn ngữ pháp lý khác nhau, song các nhà khoa học đều thống nhất với nhau vềbản chất của tập trung kinh tế bằng những nội dung sau:
Thứ nhất, chủ thể của tập trung kinh tế là các doanh nghiệp hoạt động trên
thị trường Kinh tế học đã chỉ ra rằng, các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh
tế có thể là các doanh nghiệp họat động trong cùng hoặc không cùng thị trườngliên quan Luật cạnh tranh năm 2004 quy định phạm vi của khái niệm doanhnghiệp bao gồm các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và hộ kinhdoanh cá thể Song điều đó không có nghĩa là mọi doanh nghiệp đều có thể tham
Trang 35gia vào tập trung kinh tế Giới hạn về chủ thể tham gia vào các hành vi tập trungkinh tế phụ thuộc vào các quy định của pháp luật về doanh nghiệp Ví dụ, theoquy định của Điều 152 và 153 của Luật Doanh nghiệp 2014, chủ thể của hành visáp nhập, hợp nhất chỉ có thể là : (i) các loại công ty theo Luật doanh nghiệp
2014 (công ty cổ phần, công ty hợp danh, công ty TNHH 2- 50 thành viên, công
ty TNHH 1 thành viên); (ii) Các Hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã
Thứ hai, hình thức tập trung kinh tế bao gồm: sáp nhập, hợp nhất, mua lại
và liên doanh giữa các doanh nghiệp Phân tích bản chất của các hiện tượng tậptrung kinh tế có thể thấy rằng để tập trung kinh tế có thể diễn ra thì cần có sự tồntại của nhiều doanh nghiệp khác nhau trên thị trường Nói cách khác, hành vi tậptrung kinh tế không phải là hành vi đơn phương của doanh nghiệp Vì vậy, hành
vi đầu tư vốn để thành lập các công ty TNHH một thành viên của một doanhnghiệp nào đó có thể tạo ra nhóm kinh doanh nhưng sẽ không là hiện tượng tậptrung kinh tế theo Luật cạnh tranh
Bằng việc sáp nhập, hợp nhất, liên doanh, mua lại, các doanh nghiệp thamgia tập trung kinh tế đã chủ động tích tụ các nguồn lực kinh tế như vốn, laođộng, kỹ thuật, năng lực quản lý, tổ chức kinh doanh… mà chúng đang nắm giữriêng lẻ để hình thành một khối thống nhất hoặc phối hợp hình thành các nhómdoanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế Dấu hiệu này giúp khoa học pháp lý phânbiệt tập trung kinh tế với việc tích tụ tư bản trong kinh tế học Theo từ điển tiếng
Việt, tích tụ tư bản là tăng thêm tư bản dựa vào tích lũy giá trị thặng dư, biến
một phần giá trị thặng dư thành tư bản Có thể thấy rằng, tích tụ tư bản là quá
trình phát triển nội sinh của một doanh nghiệp theo thời gian bằng kết quả kinh
doanh Theo đó, bằng việc sử dụng giá trị thặng dư trong kinh doanh (lợi nhuận)
để tái đầu tư tăng vốn, doanh nghiệp đã dần dần nâng cao được năng lực kinhdoanh Một doanh nghiệp có thể tích tụ tư bản để có được vị trí đáng kể trên thịtrường, song để điều đó xảy ra đòi hỏi thời gian khá dài Trong khi đó, tập trung
Trang 36kinh tế cũng có dấu hiệu của sự tích tụ nhưng không từ kết quả kinh doanh mà
từ hành vi của doanh nghiệp
Thứ ba, tập trung kinh tế đã hình thành nên doanh nghiệp có năng lực
cạnh tranh tổng hợp hoặc liên kết thành nhóm doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế
Từ đó làm thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnh tranh hiện có trên thịtrường Các hình thức sáp nhập, hợp nhất sẽ làm cấu trúc thị trường thay đổitheo hướng giảm đi số lượng doanh nghiệp đang họat động bằng cách dồn tất cảnăng lực vào một doanh nghiệp duy nhất (doanh nghiệp được sáp nhập hoặcdoanh nghiệp mới hình thành) Việc mua lại hoặc liên doanh sẽ hình thành nêncác liên kết giữa các doanh nghiệp độc lập theo mô hình sở hữu để tạo ra nhómkinh doanh theo kiểu tập đoàn Vì vậy, cho dù tập trung được thực hiện theo môhình tích tụ hay liên kết năng lực kinh doanh thì cuối cùng đều dẫn đến kết quả
là tương quan cạnh tranh trên thị trường sau khi tập trung kinh tế sẽ thay đổi sovới trước đó Bởi lúc này, thị trường đột ngột xuất hiện doanh nghiệp, hoặcnhóm doanh nghiệp có tiềm lực kinh doanh lớn hơn trước mà không phải trảiqua quá trình tích tụ tư bản Cần phải khẳng định rằng, việc tập trung kinh tếkhông làm cho thị phần của các doanh nghiệp còn lại trên thị trường giảm đi,song lại làm thay đổi vị trí cạnh tranh của chúng khi so sánh với doanh nghiệpđược hình thành từ tập trung kinh tế
Một trong những nguyên nhân cơ bản khiến các doanh nghiệp thường có
xu hướng tập trung kinh tế là mong muốn “tăng trưởng” Bằng nhiều phươngthức khác nhau như phát triển hoạt động sản xuất, áp dụng công nghệ mới, cảitiến bộ máy quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm… hay nói cách khác là thựchiện quá trình “tăng trưởng nội sinh”, các doanh nghiệp có thể nâng cao nănglực cạnh tranh của mình trên thị trường
Thực hiện tăng trưởng nội sinh sẽ gây tốn kém về mặt thời gian và chi phícho các doanh nghiệp và có thể không đạt hiệu quả nếu các doanh nghiệp không
Trang 37có chiến lược phát triển phù hợp Thay vào đó, các doanh nghiệp có thể tiếnhành tập trung theo phương thức “tăng trưởng ngoại sinh” thể hiện qua các hành
vi như sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc liên doanh
Tuy nhiên, khi thực hiện quá trình này, các doanh nghiệp có khả năng tiếntới thế độc quyền hoặc giữ vị trí thống lĩnh trên thị trường, từ đó dễ xảy ra hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền để gây hại đến các doanhnghiệp khác, ảnh hưởng đến trật tự cạnh tranh và quyền lợi của người tiêu dùng.Lúc này, tập trung kinh tế được hiểu là các hành vi của các doanh nghiệp đểthực hiện quá trình tăng trưởng ngoại sinh gây hạn chế cạnh tranh và cần đượcpháp luật điều chỉnh
1.1.1.2 Các hình thức tập trung kinh tế trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ
Để nhận dạng bản chất của hành vi tập trung kinh tế, ngoài việc phân tíchkhái niệm, các lý thuyết kinh tế và các luận thuyết của pháp luật cạnh tranh cũngđòi hỏi phải nhận dạng những hình thức biểu hiện của chúng Trong kinh tế học,tồn tại nhiều tiêu chí để xem xét về hình thức của tập trung kinh tế
- Dựa vào mức độ liên kết từ hành vi tập trung kinh tế người ta chia thànhhai loại là tập trung kinh tế chặt chẽ (hoặc còn gọi là tổ hợp) và tập trungkhông chặt chẽ (gọi là liên minh lý tài)
Hình thức tập trung chặt chẽ hay còn gọi là hình thức tờ- rớt (trust) làviệc các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chấm dứt tồn tại đểhình thành nên một doanh nghiệp thống nhất Như vậy, việc thốngnhất đã hoàn thành cả ở phương diện pháp lý lẫn quản trị doanhnghiệp Hình thức tập trung kinh tế này thường được thực hiện bằngbiện pháp sáp nhập, hợp nhất các doanh nghiệp
Trang 38 Hình thức tập trung không chặt chẽ là việc các doanh nghiệp thamgia vẫn là những chủ thể độc lập dưới góc độ pháp luật, song chúngchịu sự chi phối bởi các doanh nghiệp khác Bằng các hành vi mualại hoặc liên doanh, các doanh nghiệp đã thiết lập được mối quan hệvới nhau để tạo thành một liên minh hoặc một nhóm doanh nghiệptheo mô hình tập đoàn Trong đó, bằng quyền của chủ sở hữu, cácdoanh nghiệp có thể chi phối các doanh nghiệp khác mà nó có phầnvốn góp hoặc cổ phần.
- Dựa vào vị trí của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trong cáccấp độ kinh doanh của ngành kinh tế – kỹ thuật, tập trung kinh tế đượcbao gồm tập trung theo chiều ngang, tập trung theo chiều dọc hoặc tậptrung theo đường chéo (tập trung hỗn hợp)
TTKT theo chiều ngang
Hình thức này bao gồm những vụ TTKT của các doanh nghiệp tham giacung ứng cùng một loại sản phẩm hoặc các sản phẩm có khả năng thay thế mậtthiết cho nhau Khái niệm TTKT theo chiều ngang ngầm ý rằng các doanhnghiệp tồn tại trên cùng một cấp trong chuỗi sản xuất, cung ứng sản phẩm.Trước khi thực hiện TTKT, các doanh nghiệp này thường là những đối thủ cạnhtranh trực tiếp hoặc đối thủ tiềm năng
Mục tiêu chính của hình thức này là: thực hiện hiệu quả theo quy mô
(economies of scale), thực hiện mục tiêu chiến lược thị trường (khống chế thị trường hoặc tạo rào cản thị trường) … Tập trung theo chiều ngang, về lý
thuyết, có thể tạo ra những tác động tích cực và tiêu cực Theo lý thuyết cạnhtranh thì sự gia tăng tập trung theo chiều ngang sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
việc phối hợp hành động giữa các doanh nghiệp và từ đó dẫn đến hạn chế cạnh
tranh theo giá
Trang 39Về nguyên tắc, khi số lượng doanh nghiệp hoạt động trên thị trường cànglớn (hoặc mức độ tập trung kinh tế càng nhỏ) thì nguy cơ để xuất hiện một thếlực khống chế trên thị trường càng nhỏ Chính vì vậy, khi việc tập trung kinh tếtạo ra doanh nghiệp có qui mô vượt qua một mức giới hạn nào đó thì việc Nhànước kiểm soát sự tập trung đó, đánh giá tác động của nó là cực kỳ quan trọng
để từ đó có thể quyết định cho phép hay không cho phép các doanh nghiệp nàytập trung với nhau
Sáp nhập theo chiều ngang được coi là có khả năng gây quan ngại đến cạnhtranh trên thị trường nhất do việc TTKT trực tiếp làm suy giảm số lượng đối thủcạnh tranh độc lập trên thị trường
TTKT theo chiều dọc
Hình thức này bao gồm các vụ TTKT giữa các doanh nghiệp ở cấp độkhác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, cung ứng sản phẩm Nói cách khác,các vụ việc này phát sinh khi các doanh nghiệp đang hoặc sẽ có mối quan hệmua - bán sản phẩm thực hiện TTKT
Không giống như các vụ việc TTKT theo chiều ngang, các vụ TTKT theochiều dọc không làm giảm số lượng đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan,tuy nhiên, cũng có thể gây ra những quan ngại đáng kể đối với cạnh tranh trênthị trường Quan ngại nghiêm trọng nhất liên quan tới cạnh tranh là khi vụ việcTTKT gây ra tác động đóng cửa thị trường, ví dụ, trường hợp một doanh nghiệpsản xuất tiến hành TTKT với các nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào thiết yếu và
từ chối cung cấp nguyên liệu thiết yếu đó cho các đối thủ cạnh tranh khác Mục
tiêu của sự hợp nhất này thường nhằm giảm chi phí giao dịch (transaction cost
economies) hoặc thực hiện những mục tiêu chiến lược thị trường (đảm bảo nguồn cung ứng hoặc nguồn tiêu thụ, ngăn cản đối thủ cạnh tranh mở rộng thị trường hoặc dựng rào cản gia nhập thị trường).
Trang 40Hình thức tập trung theo chiều dọc có thể dẫn đến những tác động tiêucực ảnh hưởng đến cạnh tranh, có thể kể đến: (1) Khi một doanh nghiệp có vị
thế rất mạnh ở một khâu nào đó (theo nghĩa thị trường một sản phẩm ) trong chu
trình kinh doanh thì họ có thể tận dụng quyền lực này để gây sức ép đối vớikhâu có liên quan trước và sau đó (thị trường những người cung ứng hoặc nhữngngười tiêu thụ) Thông qua đó, doanh nghiệp này có thể gây khó khăn chonhững người cạnh tranh không cùng liên kết với họ; (2) Về cơ bản, sự tập trungkinh tế theo chiều dọc của các doanh nghiệp sẽ gây khó khăn cho những ngườimới gia nhập thị trường bởi khả năng nâng cao năng lực hoặc hỗ trợ tài chính và
bí quyết kỹ thuật giữa các khu vực thị trường
TTKT theo dạng hỗn hợp
Hình thức này bao gồm các vụ TTKT khi các bên tham gia hoạt động sảnxuất kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau Điển hình là khi các công tykhông cùng sản xuất một loại sản phẩm, và cũng không có mối quan hệ mua –bán hiện hữu hoặc tiềm năng Các vụ sáp nhập theo dạng tổ hợp được coi lànhững hình thức TTKT ít gây quan ngại nhất đến cạnh tranh trên thị trường vàthường được miễn trừ trong các quy định của Luật Cạnh tranh
Lý thuyết về hình thái thị trường độc quyền và độc quyền nhóm
(monopoly và oligopoly) không nghiên cứu về ảnh hưởng của hình thức tập
trung kiểu này, song thực tiễn cho thấy, chúng cũng có thể gây ra những tácđộng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh Cụ thể là: (1) các doanh nghiệp tham
gia tập trung dạng conglomerate có lợi thế cạnh tranh trong việc tiết kiệm được
chi phí khi có nhu cầu tín dụng, bảo hiểm, quảng cáo và cả vận tải cũng như trên
cơ sở tiềm lực hùng mạnh về tài chính, doanh nghiệp hợp nhất này có thể gâynhững ảnh hưởng đến chính trị, vận động hậu trường,… hoặc trong công tác đốingoại, quan hệ công cộng (public relation) (2) Thông qua những hoạt động kinh
doanh, các giao dịch qua lại các doanh nghiệp hợp nhất dạng conglomerate có