1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận nhà nước pháp quyền XHCN

20 45 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 42,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lý do chọn chủ đề tiểu luận Lý luận về “Nhà nước pháp quyền” đã có một lịch sử hình thành và phát triển lâu dài, từ những quan niệm và ý tưởng sơ khai xuất hiện ở cả phương Đông và phương Tây thời cổ đại về một nhà nước thượng tôn pháp luật, tôn trọng và bảo vệ con người, được tổ chức và vận hành một cách khoa học và hiệu quả, đến các lý thuyết về “Nhà nước pháp quyền” thời hiện đại. Trong tiến trình phát triển đó, “nhà nước pháp quyền” từ chỗ là những tư tưởng, lý luận, đã đi vào thực tiễn tổ chức và vận hành của nhiều nhà nước, nhiều thể chế quyền lực mang tính khu vực và toàn cầu, trở thành một cơ sở, công cụ quan trọng để giải quyết các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, hợp tác quốc tế v.v… Tinh thần pháp quyền đã và đang thấm sâu vào các mối quan hệ ở các cấp độ quốc gia, khu vực và toàn cầu, góp phần định hình cách tư duy và cách ứng xử giữa các chủ thể nhằm đảm bảo cho các quyền công dân, quyền con người và quyền dân tộc, vì sự tồn tại và phát triển bền vững của mọi người, của các dân tộc và của cả loài người. Trên ý nghĩa đó, “nhà nước pháp quyền” từ chỗ là một tài sản khoa học đã trở thành một tài sản văn hoá chung của nhân loại, cần được gìn giữ, khai thác, bổ sung và phát triển. Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đi tiên phong trong việc xây dựng một nhà nước mà trong đó “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Đặc biệt, từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1994), vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đã được đặt ra và ngày càng trở thành một nội dung quan trọng trong quá trình đổi mới chính trị ở Việt Nam. Đến nay, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đã hình thành và đang từng bước được hoàn thiện ở Việt Nam, mà một dấu mốc quan trọng chính là sự ra đời của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm 2013).

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn chủ đề tiểu luận

Thế trận lòng dân là phạm trù hàm chứa những giá trị tinh thần, sức mạnh tinh thần trong khoa học chính trị, xã hội, nhân văn, quân sự đã và đang được sử dụng ngày càng phổ biến ở Việt Nam Thế trận lòng dân là thuật ngữ chỉ trạng thái “lòng dân” trở thành thế trận được tạo lập bởi lực lượng đại biểu lợi ích quốc gia - dân tộc và được lực lượng đại biểu lợi ích quốc gia - dân tộc sử dụng cho mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước

“Lòng dân” là thuật ngữ dùng để chỉ trạng thái tâm lý, tinh thần của nhân dân, bao gồm: Thái độ, nhận thức, tình cảm, ý chí, quyết tâm, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, sự đồng thuận, đồng sức, đồng lòng, niềm tin, sự ủng

hộ, phục tùng, trách nhiệm của nhân dân đối với các chủ thể chính trị, quan điểm chính trị, đường lối chính trị, hoặc các vấn đề chính trị - xã hội Do vậy, “lòng dân” được hình thành một cách tự nhiên trước tác động của ngoại cảnh, phụ thuộc vào giai cấp, lực lượng lãnh đạo nhưng không phải lúc nào cũng tin cậy, ủng hộ, phục tùng, đồng thuận với sự lãnh đạo, điều hành của giai cấp lãnh đạo

Trong lĩnh vực quân sự: Thế trận là tổng thể các biện pháp tổ chức, bố trí, triển khai lực lượng và thiết bị chiến trường (kết hợp với yếu tố địa hình trên một địa bàn cụ thể), nhằm tạo thế có lợi và phát huy cao nhất sức mạnh chiến đấu của các lực lượng tham gia chiến đấu để giành thắng lợi trong tác chiến Thế trận phải phù hợp với ý định tác chiến, thế trận luôn vận động và phát triển theo các hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của việc đối chọi mưu kế và cách đánh giữa hai bên đối địch

Xây dựng “thế trận lòng dân” là quan điểm xuyên suốt trong đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng Quan điểm đó tiếp tục được quán triệt và thể hiện nhất quán trong Chiến lược Quốc phòng Việt Nam thời kỳ mới

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh rằng: khi

“lòng dân thuận” thì nước mạnh, “lòng dân ly tán” thì nước yếu, nên bài học hàng đầu mà ông cha ta đúc kết là “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” và “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc là thượng sách giữ nước” Kế thừa và phát

Trang 2

huy tư tưởng đó, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng yếu tố “lòng dân”, lấy việc xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm động lực chủ yếu để tạo nên sức mạnh tổng hợp cho công cuộc giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Xuất phát từ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của “thế trận lòng dân” đối

với tình hình cách mạng Việt Nam, tôi chọn vấn đề: “Một số giải pháp xây dựng thế trận lòng dân góp phần xây dựng nền Quốc phòng toàn dân vững mạnh” làm tiểu luận nghiên cứu.

2 Giới hạn của tiểu luận

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thế trận lòng dân trong lịch sử dân tộc và quan điểm của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh; Thực trạng và giải pháp cơ bản tăng cường “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh

3 Phương pháp nghiên cứu

Tiểu luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó coi trọng phương pháp lôgíc - lịch sử, phân tích tổng hợp, tổng kết thực tiễn

4 Giá trị, ý nghĩa của tiểu luận

Tiểu luận góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về “lòng dân” và “thế trận lòng dân” trong tình hình mới; đề xuất một số giải pháp xây dựng thế trận lòng dân trong giai đoạn hiện nay góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc

Kết quả nghiên cứu của tiểu luận có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy môn quốc phòng an ninh ở Học viện Chính trị hiện nay; và đối với việc tuyên truyền về xây dựng thế trận lòng dân góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh

5 Cấu trúc của tiểu luận

Gồm: Mở đầu, nội dung (2 phần), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo

Trang 3

NỘI DUNG

1 VẤN ĐỀ LÒNG DÂN, THẾ TRẬN LÒNG DÂN TRONG LỊCH

SỬ DÂN TỘC VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

1 1 Vấn đề lòng dân, thế trận lòng dân trong lịch sử dân tộc

Lịch sử nhân loại đã chứng minh tầm quan trọng đặc biệt của quần chúng nhân dân đối với sự tồn tại, phát triển của chế độ nhà nước, thậm chí quốc gia - dân tộc Đối với Việt Nam, từ xa xưa đến nay, vấn đề “lòng dân”, củng cố “thế trận lòng dân” - “Chúng chí thành thành” luôn được các triều đại nhà nước phong kiến Đại Việt coi trọng bằng nhiều kế sách an dân, khoan thư sức dân, bồi dưỡng sức dân… nhằm phục vụ cho việc bảo vệ vương triều và công cuộc giữ nước của dân tộc Vận nước nói chung, vận mệnh của mỗi chế độ chính trị - xã hội nói riêng có quan hệ trực tiếp đến lòng dân Lòng dân thuận thì nước thịnh, lòng dân biến - “nhân tâm ly tán” thì nước suy đã trở thành quy luật trong lịch sử Vì thế, kể từ khi thành lập

và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch

Hồ Chí Minh luôn thấm nhuần tư tưởng đó, đặc biệt coi trọng nhân tố “lòng dân”, lấy dân làm gốc trong hoạch định đường lối, chủ trương, quyết sách của mình Trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân” Quan điểm nhất quán đó không chỉ thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng, mà còn phản ánh sự kế thừa tư tưởng, quan điểm giữ nước mang tính truyền thống của dân tộc ta Quán triệt, thực hiện tốt quan điểm của Đảng về xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo cơ sở, nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong tình hình mới vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu của công cuộc đổi mới, đồng thời là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các lực lượng và toàn dân

Xét tổng thể (cả về lý luận và thực tiễn), “lòng dân” là thuật ngữ dùng

để chỉ trạng thái tâm lý, chính trị - tinh thần của người dân, biểu hiện sự hài

Trang 4

lòng, tin cậy hoặc không hài lòng, tin cậy đối với cuộc sống và chế độ chính trị - xã hội; trong đó, cốt lõi và bao trùm nhất là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí quyết chiến quyết thắng vì độc lập, tự do cho dân tộc, vì sự tồn vong của Tổ quốc Với cách tiếp cận này, vấn đề “lòng dân” được bao hàm bởi các yếu tố: nhận thức, thái độ, tình cảm, niềm tin, ý chí quyết tâm; sự đồng thuận, đồng lòng; sự ủng hộ, phục tùng và trách nhiệm của quần chúng nhân dân đối với chế độ chính trị - xã hội và lực lượng lãnh đạo xã hội Còn “thế trận lòng dân”, là cách thức tổ chức, khơi dậy, quy

tụ yếu tố “lòng dân” theo mục tiêu xác định, do lực lượng đại biểu cho lợi ích của dân tộc tiến hành, nhằm hình thành “thế trận” có lợi nhất, tạo sức mạnh tổng hợp, vững chắc để cùng với các nhân tố khác, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trọng yếu của đất nước

Như vậy, yếu tố “lòng dân” và “thế trận lòng dân” là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ biện chứng hữu cơ với nhau Trong đó, “lòng dân” bao giờ cũng hiện hữu, tồn tại một cách khách quan và là cơ sở, nền tảng quan trọng, chủ yếu để tạo nên “thế trận lòng dân” Đến lượt nó, “thế trận lòng dân” được cố kết chặt chẽ sẽ có tác động tích cực làm cho yếu tố “lòng dân” phát triển hài hòa, lành mạnh, vững chắc để hướng tới những mục tiêu tốt đẹp của quốc gia và đời sống xã hội Tuy nhiên, trên thực tế, yếu tố “lòng dân” được biểu hiện với cả hai mặt tích cực và tiêu cực, tức là thuận và không thuận sẽ không thể trở thành “thế trận” một cách tự nhiên, mà cần phải có sự tác động của chủ thể con người bằng cách khắc phục mặt tiêu cực (không thuận) và khai thác, củng cố mặt tích cực (đồng thuận) trong nhân dân thì nó mới trở thành “thế trận lòng dân” vững chắc Hơn nữa cần thấy

“thế trận lòng dân” có thể vững ở thời điểm này, giai đoạn này, nhưng yếu ở thời điểm khác, giai đoạn khác và cũng không phải xây dựng vững rồi là xong, mà phải thường xuyên được củng cố trong hoạt động thực tiễn thông qua đường lối, chủ trương, chính sách “hợp lòng dân”, phục vụ cho mục tiêu, nhiệm vụ xác định Tiếp đó, “thế trận” này phải được đặt vào trạng

Trang 5

thái, tình thế nhất định, bố trí triển khai đồng thuận, thực hiện thống nhất trong các tầng lớp dân cư, trong mọi lứa tuổi, giai tầng xã hội Ngoài ra, môi trường chính trị - xã hội cũng là một trong những điều kiện tiên quyết bảo đảm sự hình thành của “thế trận lòng dân” Tất cả những vấn đề trên cho thấy, “thế trận lòng dân” là dạng đặc biệt của thế trận; là một trong những mạch nguồn sức mạnh nội sinh của một quốc gia - dân tộc và được biểu hiện

ở nhiều cấp độ khác nhau Nếu “thế trận lòng dân” ở cấp độ cao thì sự gắn kết của các nhân tố, nhất là nhân tố chính trị - tinh thần đạt độ vững chắc, uyển chuyển, linh hoạt Ngược lại, “thế trận lòng dân” ở cấp độ thấp, nghĩa

là sự gắn kết của các yếu tố đó còn lỏng lẻo, phân tán, thậm chí trái chiều nhau thì chẳng những hạn chế sức mạnh nội sinh, mà còn tạo mối nguy cho quốc gia - dân tộc Đây là vấn đề rất quan trọng, làm cơ sở để đánh giá, nhìn nhận một cách khách quan, thực chất “thế trận lòng dân” trong từng giai đoạn của lịch sử

Nhìn lại lịch sử dân tộc, không khó để nhận thấy, yếu tố “lòng dân”,

“thế trận lòng dân” luôn có vai trò to lớn và là nhân tố chủ yếu, quyết định đến thắng lợi công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Ngay từ buổi đầu dựng nước, trong nhân dân, lòng yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc luôn là chất keo kết dính của khối đại đoàn kết toàn dân và trở thành nét đặc sắc của văn hóa bản địa Đây chính là cơ sở, nền tảng và cội nguồn sâu xa để chúng

ta xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo sức mạnh tiềm tàng vùng lên giành độc lập tự chủ sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc Dưới thời nhà Trần, vai trò của

“thế trận lòng dân” - nhân tố quan trọng trong ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên còn được thể hiện ở tư tưởng: “Chúng chí thành thành” và chủ trương “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc” là kế sách quan trọng nhất để giữ nước Đây cũng là một trong những nét nổi bật về xây dựng và phát huy vai trò “thế trận lòng dân” vững chắc, thể hiện trí tuệ và nghệ thuật giữ nước độc đáo trong điều kiện chế độ phong kiến của dân tộc Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh, bằng thực tiễn và trí tuệ

Trang 6

của mình, Nguyễn Trãi đã khái quát hết sức cô đọng về sức mạnh của “thế trận lòng dân”; đó là “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”, “lật thuyền mới hay sức dân như nước”; có dân là có tất cả, không được lòng dân là mất tất cả; từ đó, Ông đã rút ra vấn đề căn cốt nhất: “việc nhân nghĩa cốt để yên dân” Nhờ đó, từ “đốm lửa” Lam Sơn, cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng trở thành “biển lửa” kháng chiến của cả dân tộc và giành thắng lợi Trái lại, dưới thời nhà Hồ, lòng dân ly tán, trước họa xâm lăng mà trăm vạn người trăm vạn lòng thì dù có quân đông tướng giỏi, thành cao hào sâu, Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng vẫn phải thốt lên rằng: “thần không sợ đánh chỉ sợ lòng dân không theo” Đây là bài học lịch sử về việc không coi trọng xây dựng “thế trận lòng dân” trong công cuộc giữ nước của dân tộc

1.2 Quan điểm của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về lòng dân và thế trận lòng dân

Kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc và trên cơ sở nhận thức đúng đắn vai trò của quần chúng nhân dân, của “thế trận lòng dân”, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm: “lấy dân làm gốc”, sự nghiệp cách mạng là của toàn dân, do nhân dân và vì nhân dân Sự sáng tạo của Đảng ta được thể hiện ở chỗ tùy điều kiện, hoàn cảnh của từng giai đoạn cách mạng, việc xây dựng, củng cố

“thế trận lòng dân” được vận dụng một cách linh hoạt, phù hợp Lịch sử cho thấy, thành công hay thất bại phụ thuộc vào ba điều kiện: thiên thời, địa lợi, nhân hòa; trong đó, yếu tố nhân hòa mà cụ thể là lòng dân được biểu hiện tập trung ở lòng yêu nước, sự đoàn kết toàn dân “muôn người như một”

là hết sức quan trọng Và đó sẽ là bức thành đồng - lực lượng thống nhất, vô địch mà không có đội quân xâm lăng nào có thể công phá được

Trên cơ sở cả nước đồng lòng, toàn dân một ý chí, quyết tâm đánh giặc giữ nước để thực hiện quốc phòng toàn dân, huy động toàn dân giữ nước Đó chính là nội dung cốt lõi, đặc điểm cơ bản, nổi bật trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc thời đại Hồ Chí Minh Để thực hiện chủ

Trang 7

trương, quan điểm đó, cùng với gắn bó máu thịt với nhân dân, gương mẫu đi đầu và sẵn sàng hy sinh trong các cuộc đấu tranh, Đảng ta đã đề ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, sáng tạo, hợp lòng dân, nhất là đường lối kháng chiến, kiến quốc, toàn dân, toàn diện (trong kháng chiến chống Pháp); thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng (trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước) và đường lối đổi mới toàn diện đất nước trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, lãnh đạo toàn dân triển khai thực hiện, đưa các chủ trương, chính sách đó trở thành hiện thực đời sống xã hội Không chỉ vậy, Đảng ta còn chú trọng giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng và nhân dân; dũng cảm nhận khuyết điểm, sai lầm trước dân và kịp thời sửa chữa; sáng tạo nhiều hình thức tổ chức thích hợp, thu hút đông đảo quần chúng tham gia sự nghiệp cách mạng, làm cho “thế trận lòng dân” không ngừng được tăng cường, bổ sung những yếu tố mới, độc đáo và hiệu quả Qua đó, đã tạo ra “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc, góp phần quan trọng, quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám (1945), cách mạng giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Cho đến trước Hội nghị Trung ương 9 (khóa IX), trong các văn kiện chính thức, Đảng ta chưa sử dụng thuật ngữ “thế trận lòng dân”, nhưng tư tưởng “dựa vào dân”, lấy “dân làm gốc”, đoàn kết toàn dân để tạo sức mạnh tổng hợp” luôn nhất quán, xuyên suốt trong đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo

vệ Tổ quốc đã khẳng định: “sức mạnh của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới chính là sức mạnh tổng hợp Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, sức mạnh của chế độ chính trị, sự trong sạch đội ngũ cán bộ

và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định” Đại hội X của Đảng lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “thế trận lòng dân” khi nhấn mạnh nhiệm vụ “Xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc” Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta tiếp tục khẳng

Trang 8

định phương châm giữ nước là phải chăm lo xây dựng cho “kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị - xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối thống nhất”; trong đó, Trung ương đặc biệt nhấn mạnh đến yêu cầu “không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc”

Đại hội XII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh nhiệm vụ “Xây dựng

“thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân” Điều đó cho thấy quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta về xây dựng “thế trận lòng dân” trong đường lối quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trước đây cũng như hiện nay

Là sự cụ thể hóa đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, Chiến lược Quốc phòng Việt Nam tiếp tục quán triệt quan điểm “xây dựng thế trận lòng dân” trong xác định mục tiêu, phương châm chỉ đạo, phương thức xây dựng nền quốc phòng toàn dân và các nhiệm vụ, giải pháp của quốc phòng trong từng tình huống chiến lược Chiến lược Quốc phòng khẳng định: xây dựng

“thế trận lòng dân” làm cơ sở, nền tảng để xây dựng các tiềm lực khác của nền quốc phòng toàn dân; sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng; khối đại đoàn kết toàn dân tộc và “thế trận lòng dân” vững chắc là nhân tố trực tiếp, quyết định thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Đồng thời, nhấn mạnh xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện an sinh xã hội; gắn phát triển kinh tế với tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh… là những giải pháp để xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc

Nét mới của quan điểm “xây dựng thế trận lòng dân” trong Chiến lược Quốc phòng là đặt nhiệm vụ này trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, với những thuận lợi và thách thức đan xen Thành tựu của hơn 30 năm đổi mới toàn diện đất nước và những kết quả bước đầu của công cuộc phòng, chống tham nhũng

Trang 9

đã đem lại động lực mới, củng cố lòng tin của các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, nhiều hạn chế, yếu kém nảy sinh trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế cũng ảnh hưởng không nhỏ đến lòng tin của các tầng lớp nhân dân vào con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán

bộ, đảng viên; sự xuống cấp của các giá trị văn hóa; tình trạng phân cực giàu nghèo trong xã hội… đã làm suy giảm lòng tin của một bộ phận nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ Bên cạnh đó, sự chống phá của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” ngày càng tinh vi, xảo quyệt Chúng ra sức phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; lợi dụng các vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hòng gây mất ổn định về chính trị - xã hội, chia rẽ Đảng, Nhà nước, Quân đội và Công

an với nhân dân, nhằm mục tiêu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ chúng ta, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng Tình hình đó đặt ra sự cần thiết phải thường xuyên chăm lo sự thống nhất về chính trị - tinh thần của toàn dân, xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng vững chắc cho nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân

Như vậy, có thể thấy, “thế trận lòng dân” là vấn đề gốc, tạo nên sức mạnh tổng hợp, quyết định sự hưng thịnh hay suy vong của quốc gia - dân tộc; là thành lũy kiên cố nhất, vững chắc nhất để bảo vệ đất nước Đó còn là cội nguồn sâu xa

từ bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử giữ nước của dân tộc Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề có nội hàm rộng, phụ thuộc

và chịu sự tác động của nhiều yếu tố (cả bên trong, bên ngoài) và liên quan đến tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Hiện nay, trước sự tác động của tình hình thế giới, khu vực sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta có phát triển mới, yêu cầu cao, do đó việc xây dựng “thế trận lòng dân” tạo cơ sở nền tảng để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc càng trở nên cấp thiết, quan

Trang 10

trọng Trong quá trình thực hiện, phải nắm vững quan điểm, phương châm chỉ đạo của Đảng, bảo đảm tính toàn diện, nhưng có trọng tâm, trọng điểm; trong đó, cần xác định rõ mục tiêu, yêu cầu, nội dung, giải pháp xây dựng “thế trận lòng dân”

2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN TĂNG CƯỜNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN”, TẠO NỀN TẢNG XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VỮNG MẠNH

2 1 Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng, củng cố

“thế trận lòng dân” hiện nay

Nhận thức rõ tầm quan trọng của “thế trận lòng dân” đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và trên cơ sở kế thừa truyền thống dân tộc, những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã tiến hành đồng bộ các chủ trương, giải pháp tổ chức thực hiện và đạt được những kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực

Nổi bật là: Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách phù hợp với thực tiễn, hợp lòng dân, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh ở từng khu vực và trên phạm vi cả nước Trong đó, các giải pháp về ổn định kinh tế vĩ mô, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng… đã bảo đảm cho nền kinh tế nước ta ổn định, tăng trưởng tương đối cao; dự kiến, mức tăng GDP năm 2017 ước đạt 6,3% đến 6,7%, thu nhập bình quân đầu người ước đạt khoảng 2.200 USD

Tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII) ra nghị quyết xác định, kinh tế

tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là bước phát triển về tư duy, nhận thức của Đảng, tạo động lực thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân và toàn bộ nền kinh tế phát triển; đồng thời, tạo nền tảng cho xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nhất là “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc

Ngày đăng: 06/07/2021, 15:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w