1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tieu luan CMXHCN

45 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 278,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

để xây dựng thành côngCNXH và CNCS.” - Các khái niệm khác co liên quan: + Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ "sinh đẻ" kéo dài và đau đớn, là thời kỳ

Trang 1

MỞ ĐẦU

Mác và Ăng ghen đã đặt nền móng quan trọng cho sự ra đời và pháttriển của xã hội mác-xit Những tác phẩm của Mác và Ăng ghen là nhữngmẫu mực về sự thống nhất hữu cơ lý luận với thực tiễn trong việc phân tíchcác hiện tượng và quá trình xã hội Các ông đã phát hiện ra những quy luậtphát triển cơ bản của xã hội loài người, đã đưa ra một khung lý luận toàndiện về các mặt cơ bản của xã hội

Di sản phong phú của Mác và Ăng ghen đã được Lênin kế thừa vàphát triển trong tác phẩm kinh điển quan trọng Những nội dung xã hội được

sử dụng nhuần nhuyễn và phát triển phong phú Về khách quan, các nhà kinhđiển Mác và Ăng ghen, Lênin đã góp phần to lớn trong xây dựng và pháttriển xã hội

Nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hộinhập kinh tế quốc tế Tiến trình đó hàng ngày hàng giờ tác động đến mọi mặtcủa đời sống kinh tế- xã hội Cùng với sự tăng trưởng kinh tế và nhiều thànhtựu kinh tế- xã hội khác, hàng ngày hàng giờ cũng xuất hiện nhiều sai lệch

xã hội và những vấn đề xã hội bức xúc Thực tiễn đòi hỏi phải có nhữngquan điểm đúng đắn nhằm khắc phục những sai lệch xã hội và các vấn đề xãhội bức xúc đó Mục đích nhằm phát triển kinh tế đi đôi với đảm bảo tiến bộ

xã hội và các giá trị nhân văn, nhân đạo mà chủ nghĩa xã hội hướng tới Đó

là một xã hội Việt Nam dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh

Trong công cuộc đổi mới, thực hiện chính sách xã hội đúng đắn vìhạnh phúc của nhân dân đã là một động lực to lớn nhằm phát huy mọi tiềmnăng sáng tạo của nhân dân để xây dựng đất nước, thỏa mãn nhu cầu ngàycàng cao về vật chất và tinh thần của nhân dân Ý thức được vấn đề đóchúng ta cần tiếp tục nghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư tưởng của các nhà

Trang 2

kinh điển và của Đảng cộng sản Việt Nam, tổng kết thực tiễn, góp phần vàoviệc hoàn thiện, quan điểm, đường lối, chính sách và lý luận của Đảng ta.

Theo nghĩa hẹp: Cách mạng XHCN là một cuộc cách mạng chính trị,

được kết thúc bằng việc giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao độnggiành được chính quyền, thiết lập nên nhà nước chuyên chính vô sản - nhànước của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động

Theo nghĩa rộng: Cách mạng XHCN bao gồm cách mạng về chính trị

và quá trình cải biến một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng để xây dựng thành côngCNXH và CNCS.”

- Các khái niệm khác co liên quan:

+ Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là một thời

kỳ "sinh đẻ" kéo dài và đau đớn, là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc toàn

bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội, bắt đầu từ khi giai cấp công nhân vànhân dân lao động giành được chính quyền Nhà nước cho đến khi chủ nghĩa

xã hội tạo ra được những cơ sở của chính mình trên các lĩnh vực của đờisống xã hội

+ Xã hội xã hội chủ nghĩa là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xãhội cộng sản chủ nghĩa, là kết quả trực tiếp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

Trang 3

xó hội khi đó xõy dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế, chớnh trị, tưtưởng, văn húa của thời kỳ này Là thời kỳ chuyển biến căn bản của thời kỳquỏ độ lờn chủ nghĩa cộng sản

1.2 Đặc trưng, đặc điểm

- Đặc trưng của cỏch mạng XHCN: cỏch mạng XHCN mang bản chấtgiai cấp của giai cấp cụng nhõn Đõy là cuộc cỏch mạng do giai cấp cụngnhõn tiến hành và giai cấp cụng nhõn là động lực cơ bản nhất của cuộc cỏchmạng đú

Mục đớch cuối cựng của cuộc cỏch mạng XHCN là xúa bỏ mọi hỡnhthức ỏp bức búc lột, mọi bất cụng, mọi sự tha húa của con người trong xó hội

và xõy dựng thành cụng xó hội mới xó hội XHCN

- Đặc trưng, đặc điểm của thời kỳ quỏ độ: đặc điểm nổi bật của thời kỳquỏ độ là sự tồn tại đan xen cỏc yếu tố của xó hội cũ với cỏc yếu tố của xóhội mới trong mối quan hệ vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau trờn tất cảmọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xó hội

Thực chất của thời kỳ quỏ độ từ CNTB lờn CNXH là thời kỳ diễn racuộc đấu tranh giữa một bờn là giai cấp tư sản đó bị đỏnh bại và những thếlực chống phỏ CNXH với giai cấp cụng nhõn và nhõn dõn lao động đó cúchớnh quyền trong tay Cuộc đấu tranh diễn ra trờn mọi lĩnh vực với nhữngbiện phỏp vận động tuyờn truyền hành chớnh và phỏp luật là chủ yếu

- Đặc trưng, đặ điểm của xó hội xó hội chủ nghĩa:

Cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH (hay xã hội XHCN)

là nền sản xuất công nghiệp hiện đaị

CNXH xoá bỏ chế độ sở hữu t nhõn TBCN, thiết lậpchế độ công hữu về những t liệu sản xuất chủ yếu

CNXH tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao

động mới

Trang 4

Xã hội XHCN thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao

động - nguyên tắc phân phối cơ bản nhất

Nhà nớc XHCN mang bản chất giai cấp công nhân, cótính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc; thựchiện quyền lực và lợi ích của nhân dân

Xã hội XHCN thực hiện giải phóng con ngời khỏi áp bứcbóc lột, thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội, tạonhững điều kiện cơ bản để con ngời phát triển toàn diện

2 Những quan điểm cơ bản của cỏc nhà kinh điển về nội dung xó hội của cỏch mạng xó hội chủ nghĩa.

2.1 Quan điểm của Mỏc và Ăng ghen về nội dung xó hội của cỏch mạng xó hội chủ nghĩa.

Mỏc và Ăngghen coi giải quyết vấn đề xó hội của con người là mụctiờu cuối cựng của sứ mệnh lịch sử của giai cấp cụng nhõn trong cỏch mạng

xó hội chủ nghĩa Tư tưởng của cỏc ụng là: sứ mệnh lịch sử của giai cấpcụng nhõn là giải phúng xó hội, giải phúng con người Cho nờn nội dungchớnh trị, nội dung kinh tế là để giải phúng con người, giải phúng xó hội

Cỏc nội dung khỏc của cỏch mạng xó hội chủ nghĩa nhằm phục vụmục tiờu xó hội Mỏc và Ăngghen đề cập đến hầu hết cỏc khớa cạnh cơ bảnchủ yếu liờn quan đến vấn đề xó hội

Trước “Tuyờn ngụn của đảng cộng sản”, thỡ trong tỏc phẩm “Hệ tưtưởng Đức”, “Tỡnh cảnh giai cấp cụng nhõn Anh” đó mụ tả sự ra đời, phỏttriển của giai cấp cụng nhõn trờn nhiều phương diện trong đú chỳ ý đến đờisống, cuộc sống, nỗi khổ, hạnh phỳc kiếp người của giai cấp cụng nhõn

Trong tỏc phẩm “Hệ tư tưởng Đức” Mỏc và Ăngghen đó phỏt hiện raquỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển một giai cấp xó hội cú vai trũ và vị trớ quantrọng trong quỏ trỡnh phỏt triển của xó hội loài người đú là giai cấp vụ sảnhiện đại Cỏc ụng tỡm hiểu cuộc sống của giai cấp cụng nhõn dưới chủ nghĩa

Trang 5

tư bản và cho rằng giai cấp công nhân “tha hóa” và nguyên nhân của toàn bộ

sự tha hóa ấy là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Sự “tha hóa”được biểu hiện:

Trong lĩnh vực lao động- lĩnh vực mà người công nhân biểu hiện tínhngười nhất thể hiện sự sáng tạo nhất thì họ bị đối xử như con vật bị biếnthành con vật; thành công cụ biết nói bị bóc lột sức lao động một cách tàn tệ

Trong lĩnh vực sinh hoạt đời sống- lĩnh vực mà con vật cũng có ăn,uống, sinh hoạt tình dục thì con người mới được làm người

Như vậy dưới chủ nghĩa tư bản người công nhân bị tha hóa Nguyênnhân của sự tha hóa chính là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Muốn xóa bỏ

sự tha hóa ấy giai cấp công nhân phải làm cách mạng để xóa bỏ chế độ tưhữu và thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Quét sạch mọi sự thốinát của xã hội cũ xây dựng xã hội mới trên những cơ sở mới: “Cuộc cáchmạng ấy…là phương tiện duy nhất để lật đổ giai cấp thống trị… khiến chogiai cấp đi lật đổ giai cấp khác có thể quét sạch mọi sự thối nát của chế độ cũđang bám chặt theo mình và trở thành có năng lực xây dựng xã hội trênnhững cơ sở mới” [ ,304]

Trong quá trình đấu tranh để giải phóng mình giai cấp vô sản “trướchết phải chiếm lấy chính quyền để đến lượt mình, có thể biểu hiện lợi íchcủa bản thân như là lợi ích phổ biến điều mà giai cấp ấy buộc phải thực hiệntrong bước đầu [294] Tiến trình cách mạng của giai cấp vô sản có khả năng

“lôi cuốn tất cả khối đông đảo quần chúng theo mình” để tiến hành cuộccách mạng xã hội chủ nghĩa [339]

Mác- Ăngghen còn chỉ rõ thêm chính sự phân công lao động đã làmcho lực lượng sản xuất, trạng thái xã hội và ý thức có thể phải xung đột vớinhau và muốn cho ba nhân tố này không xung đột nhau thì chỉ có cách làxóa bỏ sự phân công lao động, xóa bỏ chế độ tư hữu bằng một cuộc cáchmạng Mác và Ăngghen đã viết: “Sự phân công lao động mang lại khả năng,

Trang 6

hơn thế nữa mang lại cái hiên thực là hoạt động tinh thần và hoạt động vậtchất- hưởng thụ và lao động, sản xuất và tiêu dùng,- được phân cho những

cá nhân khác nhau; và thế là muốn cho những nhân tố đó không mâu thuẫnvới nhau thì chỉ có cách là xóa bỏ sự phân công lao động đi” [292] Như vậychính hiện thực xã hội, chính hưởng thụ và lao động sản xuất và tiêu dùng bịtách rời nhau và phân cho những cá nhân khác nhau là cơ sở, là mầm mốngcủa một cuộc cách mạng để cải tạo cái hiện thực ấy

Mác và Ăng ghen cho rằng: để cải tạo cái hiện thực ấy chỉ được thực hiệnbằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và bởi sự thủ tiêu chế độ tư hữu, một

sự thủ tiêu đồng nhất với cuộc cách mạng ấy Và lúc đó, sự giải phóng mỗi

cá nhân riêng rẽ hoàn toàn biến thành lịch sử thế giới” [301]

Mác và Ăng ghen khi đi sâu vào nghiên cứu chủ nghĩa tư bản cho rằngdưới chủ nghĩa tư bản lực lượng sản xuất phát triển ngày càng cao mà quan

hệ sản xuất là tư nhân vì vậy dẫn đến mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất ngày càng gay gắt do đó cách mạng cộng sản chủ nghĩa sẽ

nổ ra để lật đổ hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa và thay thế bằnghình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa ở đó chế độ tư hữu sẽ bị thủ tiêu.Nội dung của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là “nhằm chống lại phươngthức hoạt động trước đây, nó xóa bỏ lao động và thủ tiêu sự thống trị củamọi giai cấp cách thủ tiêu bằng bản thân các giai cấp vì nó được thể hiện bởimột giai cấp không còn được coi là một giai cấp trong xã hội nữa” [304]

Chỉ có dưới chủ nghĩa cộng sản con người mới được giải phóng, đượchoàn thiện, con người được tự do phát huy tiềm năng và sự sáng tạo củamình làm chủ cuộc sống của chính mình [295]

Trong nội dung xã hội Mác và Ăng ghen còn trình bày vấn đề hônnhân và gia đình Các ông cho rằng đây là mối quan hệ tham dự ngay từ đầuvào quá trình phát triển của lịch sử Lúc đầu quan hệ gia đình là quan hệ xã

Trang 7

hội duy nhất và sau này trở thành quan hệ phụ thuộc: “Gia đình lúc đầu làquan hệ xã hội duy nhất, về sau trở thành một quan hệ phụ thuộc” [288]

Theo các ông sự phát triển của gia đình là do sự phân công lao động ,đồng thời là do hình thức sở hữu khác nhau: “hình thức sở hữu đầu tiên là sởhữu bộ lạc nó phù hợp với gia đình chưa phát triển của sản xuất, khi người tasống bằng săn bắn và đánh cá, bằng chăn nuôi hay nhiều lắm là bằng trồngtrọt… Trong giai đoạn ấy sự phân công lao động còn rất ít phát triển và hạnchế ở chỗ mở rộng hơn nữa sự phân công lao động hình thành một cách tựnhiên trong gia đình” [271]

Sự phân công lao động trong gia đình và xã hội phát triển đã dẫn đến

sự hình thành gia đình phụ quyền

- Tác phẩm “Tuyên ngôn của đảng cộng sản”.

Trong tác phẩm này Mác và Ăng ghen mô tả sự ra đời và phát triểncủa giai cấp công nhân trên nhiều phương diện, trong đó chú ý nhiều đếncuộc sống và nỗi khổ của giai cấp công nhân

Các ông cho rằng, giai cấp vô sản là giai cấp đông đảo nhất sinh ra vàlớn lên cùng sự phát triển của nền đại công nghiệp Cuộc sống của họ phụthuộc vào tất cả sự phát triển của nền sản xuất, của đại công nghiệp vànhững biến động của thị trường tư bản chủ nghĩa Giai cấp tư sản càng lớnlên “thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại- tức giai cấp chỉ sốngvới điều kiện là kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng thêm tưbản- cũng phát triển theo” Sản xuất tư bản chủ nghĩa càng phát triển, đạicông nghiệp thay thế sản xuất nhỏ và công trường thủ công thì hàng loạtnhững tiểu chủ, thợ thụ công, những người buôn bán nhỏ… bị phá sản càngtăng lên và rơi vào hàng ngũ của giai cấp vô sản Trên cơ sở phân tích tàitình sự phát triển của nền kinh tế- xã hội, của biến động trong cơ cấu xã hộigiai cấp trong lòng chủ nghĩa tư bản, Mác và Ăng ghen đã đưa ra nhận định

Trang 8

khoa học hết sức cô đọng, khái quát và chính xác: các giai cấp khác thì suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản thì trái lại, lớn lên và trưởng thành cùng với quá trình xây dựng ấy.

Giai cấp công nhân lao động trong nền đại công nghiệp tư bản chủnghĩa, do không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản,lao động của họ kết hợp (và phụ thuộc vào ) máy móc tạo ra ngày càngnhiều tư bản, tạo ra giá trị thặng dư cho giai cấp tư sản

Các ông đưa ra quan niệm của mình về cuộc đấu tranh của giai cấpcông nhân là một quá trình, trải qua nhiều giai đoạn, từ thấp lên cao, từ tựphát nhỏ lẻ dẫn đến ngày càng có tính chất tự giác hơn, cuối cùng là cuộcđấu tranh hoàn toàn tự giác

Giai đoạn thứ nhất, giai đoạn đấu tranh chống kẻ thù của kẻ thù mình.Thoạt đầu, những người công nhân chỉ đấu tranh sừng ở mức đập phá máymóc, công xưởng, đòi lại những gì đã mất Tóm lại là đấu tranh chống lạicác tàn dư trung cổ, của các kiểu quản lý và cai trị kiểu trung cổ trong cácnhà máy xí nghiệp tư bản chủ nghĩa lúc đó Điều lý thú mà trong chúng tanhiều khi không chú ý phân tích là, khi ấy các ông coi những “ thắng lợi đạtđược trong những điều kiện ấy đều là thắng lợi của giai cấp tư sản” [551].Cũng trong giai đoạn này, giai cấp tư sản đã buộc phải kêu gọi, lôi kéo giaicấp vô sản đi theo mình đấu tranh chống lại các tàn tích và cả bộ máy nhànước quý tộc phong kiến

Đến một thời kỳ nhất định một kết cục tất yếu nữa là giai cấp tư sảnkhông chỉ tạo ra giai cấp vô sản qua sự phát triển sản xuất, phát triển kinh tế,

mà còn rèn giũa trang bị một phần tri thức về tổ chức đấu tranh Chính sựrèn giũa giai cấp vô sản bởi môi trường và kỷ luật lao động của nền đại côngnghiệp, sự rèn giũa trong các cuộc đấu tranh chính trị chống giai cấp phongkiến dưới ngon cờ tư sản và các cuộc đấu tranh đòi dân sinh dân chủ của

Trang 9

chính mình đã làm cho giai cấp vô sản trở thành lực lượng có tổ chức kỷluật Hơn thế, khi cuộc khủng hoảng chính trị xảy ra, một bộ phận tư sản đãchạy sang hàng ngũ giai cấp vô sản cùng như trước kia, một bộ phận của giaicấp phong kiến chạy sang hàng ngũ giai cấp tư sản Điều này góp phần quantrọng trong đấu tranh tuyên truyền và giác ngộ về địa vị kinh tế- xã hội, vaitrò chính trị của giai cấp mình trong hàng ngũ giai cấp vô sản Tóm lại là,giai cấp tư sản không chỉ rèn vũ khí tự giết mình, nó còn không thể khôngtạo ra lực lượng xã hội (giai cấp vô sản công nghiệp) có đủ khả năng để sửdụng vũ khí ấy

Bằng sự phân tích một cách khoa học các điều kiện kinh tế- xã hội vàchính trị- xã hội của xã hội tư bản đương thời Mác và Ăng ghen đã chỉ rarằng chính điều kiện kinh tế xã hội và chính trị xã hội của chủ nghĩa tư bản

đã quy định một cách tất yếu rằng giai cấp công nhân là lực lượng xã hội có

sứ mệnh lịch sử: thủ tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa xây dựng chế độ mới- chế

độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa

Về nội dung xã hội các ông còn đề cập đến: trong xã hội tư bản chủnghĩa, một cơ cấu xã hội giai cấp mới được xác lập, trong đó tồn tại 2 giaicấp cơ bản nhất: giai cấp tư sản và giai cấp công nhân Sự đối lập và mâuthuẫn giữa 2 giai cấp này tăng theo tỷ lệ thuận với sự phát triển của lựclượng sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa Đó là nội dung cơ bản, sựthể hiện sinh động quy luật về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đốilập trong đời sống xã hội- chính trị của chủ nghĩa tư bản Trong đó, giai cấpcông nhân là giai cấp có sứ mệnh thủ tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng

xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Tư tưởng này là sự phân tíchsâu sắc hơn, đầy đủ hơn trên cơ sở những tư liệu thực tiễn mới của năm1847- 1848, tư tưởng về chuyên chính vô sản đã được các ông nêu ra lần đầutiên vào năm 1845- 1846 trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”

Trang 10

Để thực hiện được điều đó, bước đầu tiên mà giai cấp công nhân sẽthực hiện là phải trở thành giai cấp thống trị, bằng cách đập tan bộ máy nhànước tư sản, thiết lập chuyên chính vô sản Bước thứ hai là giai cấp này sửdụng chuyên chính vô sản từng bước thủ tiêu chế độ bóc lột tư bản chủnghĩa, xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, biến nó thành chế

độ sở hữu xã hội đối với các tư liệu sản xuất, tạo lập, củng cố từng bước cơ

sở và nền tảng kinh tế cho sự ra đời, củng cố chế độ xã hội mới

- Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh”

Mác nói đến cuộc sống khổ cực của người công nhân khi hầu như tất

cả của cải trong xã hội là do họ làm ra nhưng họ lại phải sống trong điềukiện phi nhân tính Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là giải thoát côngnhân ra khỏi điều kiện lao động, điều kiện sống đó

Ông cho rằng tinh thần đấu tranh, khả năng cách mạng của giai cấpcông nhân là do điều kiện sống và sinh hoạt của họ quy định Sự sống hiệntại của xã hội tư sản là đỉnh cao của sự vô nhân đạo Mác nói giai cấp tư sảnmuốn duy trì sự vô nhân đạo ấy còn giai cấp công nhân muốn phá vỡ nó.Lần đầu tiên Mác phân tích vai trò lịch sử của giai cấp công nhân có tínhđến, có khảo sát vai trò lịch sử của các giai cấp đã qua trong lịch sử Mác chỉ

ra rằng vai trò lịch sử của một giai cấp là do lợi ích căn bản của giai cấp đóquy định mà lợi ích đó lại do điều kiện kinh tế- xã hội quy định Vai trò lịch

sử của một giai cấp phải phù hợp với quy luật phát triển của nhân loại, lịch

sử Mác cũng chỉ ra tính chất tạm thời không lâu dài trong sự thống nhất vềlợi ích giữa giai cấp tư sản với các tầng lớp bên dưới trong cuộc cách mạng

tư sản, qua đó Mác chỉ ra đó chính là điểm khác biệt về bản chất và căn bảngiữa vai trò lịch sử của giai cấp tư sản với vai trò lịch sử của giai cấp côngnhân

Trang 11

Giai cấp công nhân tiến hành cuộc đấu tranh của mình là tất yếu bắtnguồn từ thực tế lao động và cuộc sống hàng ngày Sự nghiệp giải phónggiai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động là sự nghiệp của bảnthân họ, sự nghiệp ấy chỉ có thể được thực hiện khi điều kiện kinh tế xã hộilàm cơ sở cho sự tồn tại áp bức và bất công đối với họ bị thủ tiêu.

Các ông còn phân tích nhiều khía cạnh khác, đặc biệt ông phân tích sựtiến bộ của xã hội tương lai là xã hội giảm giờ làm, tăng thời gian nhàn rỗi,chính thời gian nhàn rỗi con người mới có thể hưởng hạnh phúc của mình vàphát triển một cách toàn diện

- Sau “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” trong bối cảnh giai cấp công

nhân bị bóc lột nhiều hơn, đặc biệt cuối thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản độcquyền phát triển chuyển thành chủ thành chủ nghĩa đế quốc vấn đề xã hộiđược Mác và Ăng ghen phân tích sâu sắc hơn

Trong “Bộ tư bản” Mác và Ăng ghen đã phân tích điều kiện sống của

giai cấp công nhân gắn liền với điều kiện lao động, kết quả là dẫn đến sự rađời phương thức sản xuất của giai cấp công nhân Đặc biệt ông chứng minhcho sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, khẳng định nềnkinh tế xã hội dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất thì mới giải quyếttriệt để các vấn đề xã hội: môi trường, việc làm, nhà ở, sức khỏe, y tế, giáodục…

Đặc biệt Mác và Ăng ghen đã đi phân tích và chứng minh bản chấtkhông thay đổi của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mặc dù quan hệsản xuất của nó có bước cải tiến, thích nghi, nó làm quan hệ sản xuất tỏ vẻmang tính chất xã hội Các ông chứng minh rằng: trong bản chất nền kinh tế

tư hữu tư nhân không thay đổi làm cho đời sống xã hội dưới chủ nghĩa tưbản không giải quyết yêu cầu cao về đời sống xã hội của giai cấp công nhân

và nhân dân lao động

Trang 12

Mác và Ăng ghen mặc dù từ thực tiễn rất ít ỏi của công xã Pari, dù tồntại trong 72 ngày nhưng các ông ca ngợi sự quan tâm của công xã để giảiquyết vấn đề ban đầu như: lương thực thực phẩm, môi trường sinh thái, nhàở… Từ đó khẳng định chỉ cách mạng xã hội mới giải quyết được các vấn đề

xã hội

Tuy công xã Pari chưa thực hiện được liên minh công nhân với nôngdân Nhưng từ đó khẳng định nếu công xã được mở rộng thì có sự kết hợpgiữa công nhân với nông dân, xóa bỏ sự khác biệt giữa thành thị và nôngthôn

- Mặc dù chưa có chủ nghĩa xã hội hiện thực đầy đủ nhưng các vănbản của mình Mác và Ăng ghen đã có dự báo sự phát triển đầy đủ của xã hộitrong xã hội tương lai Mác và Ăng ghen đề cập đến nguyên tắc của đời sống

xã hội Một mặt khẳng định đời sống xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sảnchủ nghĩa khác hẳn về chất Một mặt các ông cho rằng giải quyết vấn đề xãhội trong xã hội chủ nghĩa cộng sản qua bước quá độ- giai đoạn có sự chínmuồi, đặc trưng, kết quả khác nhau về vấn đề xã hội

+ Các ông cho rằng thời kỳ quá độ là sự đan xen, tính quá độ của đờisống xã hội tồn tại đời sống xã hội cũ và mới chứ không thể xóa bỏ ngayđược những gì là hạn chế tiêu cực của xã hội cũ Điều này thể hiện rõ trongcác tác phẩm như: “Phê phán cương lĩnh gôta”, “Nguồn gốc của gia đình,của chế độ sở hữu tư nhân và của nhà nước”…

Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh gôta”: Mác nói sau khi xóa bỏ

nhà nước tư bản, thiết lập nhà nước của giai cấp công nhân thì phải có mộtthời gian dài để giai cấp công nhân sử dụng nhà nước của mình, để thực hiện

sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa cộng sản Đó là thời kỳquá độ Thời kỳ quá độ chỉ được tính từ khi Nhà nước chuyên chính vô sảnđược xác lập cho đến khi xây dựng xong cơ sở vật chất cho hình thái kinh tế

Trang 13

xã hội ở giai đoạn cao, thời kỳ ấy có sự đan xen bên cạnh nhau và sự chuyểnbiến từng bước những sự kiện mới từ cái cũ sang cái mới- thời kỳ hết sứckhó khăn, phức tạp

Mác chỉ ra rằng cần xóa bỏ nhà nước tư sản, xây dựng nhà nước củagiai cấp công nhân để tiến hành tổ chức xây dựng xã hội xã hội cộng sản chủnghĩa Mác khái quát chỉ ra những luận điểm về quá độ lên chủ nghĩa cộngsản

Thứ nhất, sự thủ tiêu chủ nghĩa tư bản thiết lập và từng bước hoàn

thiện xã hội cộng sản nhờ và chỉ nhờ một cuộc cách mạng xã hội do giai cấpcông nhân lãnh đạo- cách mạng xã hội chủ nghĩa Cuộc cách mạng ấy mởđầu cho một thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc có tính chất quá độ trên cácmặt của đời sống xã hội

Thứ hai, đây là thời kỳ giữa giai cấp vô sản sử dụng chính quyền nhà

nước, thực hiện các cải biến cách mạng trên mọi lĩnh vực nhằm cải tạo xãhội, xây dựng các điều kiện, tiền đề cơ bản cho sự xác lập, củng cố hoànthiện chủ nghĩa cộng sản- giai đoạn cao của hình thái kinh tế xã hội cộng sảnchủ nghĩa

Thứ ba, trong thời kỳ ấy, sự đan xen, tồn tại bên cạnh nhau, giữa cái

cũ và cái mới tạo nên tính chất khó khăn, phức tạp, làm nên tính chất quá độcủa sự chuyển biến cách mạng từ xã hội này sang xã hội kia Đó chính làthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản

+ Các ông phân tích hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản: Các ôngkhẳng định hai giai đoạn và giai đoạn sau đều là xã hội vì con người, giảiphóng con người xã hội cộng sản chủ nghĩa Nhưng giai đoạn chín muồi đểtiến hành đời sống xã hội có sự khác nhau, nên nguyên tắc giải quyết vấn đề

xã hội có sự khác nhau như nguyên tắc phân phối trong giai đoạn đầu phânphối theo lao động, trong giai đoạn cao phân phối theo nhu cầu Phân phối

Trang 14

theo lao động thì đời sống xã hội cũng được tổ chức trên nguyên tắc phânphối theo lao động, nên chưa có sự công bằng bình đẳng theo nghĩa của nó,

vì vậy cần có nhà nước:

Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh gôta”: Mác trình bày giai đoạn

thấp của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa- xã hội chủ nghĩa là giaiđoạn tất yếu và cần thiết Mác đưa ra những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa

xã hội qua 2 nhóm:

Nhóm một, đặc trưng về kinh tế và cơ sở kinh tế gồm có xác lập chế

độ sở hữu xã hội đối với các tư liệu sản xuất Về phân phối theo lao động,Mác nhắc đến những hình thức phân phối khác tính chất bổ sung, coi trọngtái sản xuất mở rộng, đặc biệt là tái sản xuất mở rộng nhằm phát triển trình

độ kỹ thuật công nghệ của tư liệu sản xuất

Nhóm hai, Về xã hội- chính trị: thiết lập nhà nước chuyên chính vô

sản nhằm thực hiện cải tạo xã hội cũ,xây dựng xã hội mới, xây dựng đờisống văn hóa tinh thần của xã hội, phát triển khoa học giáo dục, thực hiệncác chủ trương và chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội: việc làm,những người không có khả năng lao động, y tế, chăm sóc sức khỏe… chonhân dân

Về giai đoạn cao, trong tác phẩm này Mác chú ý đặc biệt trong việcđưa ra những dự báo và phác thảo khoa học nghiêm túc về giai đoạn cao củachủ nghĩa cộng sản vì: thời các ông chưa dủ giữ liệu để phân tích, nhưng dựbáo khoa học và phác thảo khoa học này lại được viết trên cơ sở tổng kếtkinh nghiệm công xã pari, dựa trên những luận cứ lý thuyết là chủ nghĩa duyvật lịch sử

Mác dự báo và phác thảo giai đoạn cao của hình thái kinh tế xã hộicông sản chủ nghĩa được thể hiện tập trung ở những điểm sau đây:

Trang 15

Thứ nhất, về sản xuất vật chất,đó là thời xã hội phát triển dựa trên cơ

sở một phương thức sản xuất tiên tiến với một lực lượng sản xuất phát triển

ở trình độ công nghệ kỹ thuật rất cao với tính chất xã hội hoàn toàn và vớimột năng suất lao động cao chưa từng có Tương ứng với tính chất ấy củalực lượng sản xuất là quan hệ sản xuất trong đó mọi tư liệu sản xuất thuộc về

xã hội

Thứ hai, về nguyên tắc phân phối và tiêu dùng sản phẩm: vì của cải

vật chất làm ra dồi dào nên quan hệ phân phối trong xã hội cộng sản đượcthực hiện chủ yếu dựa trên nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo nhucầu”

Thứ ba, về con người trong xã hội cộng sản là con người tự do, toàn

diện và mọi người đều có điều kiện trau dồi, phát huy một tài năng, mọi khảnăng, sở thích mà mình có

- Mác chưa có thực tiễn chủ nghĩa xã hội thế giới nhưng trong tưtưởng, lý luận đã có nội dung quốc tế, tính chất quốc tế của chủ nghĩa xã hội

“giai cấp vô sản toàn thế giới đoàn kết lại” để giải quyết vấn đề xã hội trênphạm vi toàn cầu Để từ đó kêu gọi toàn thế giới hãy xóa bỏ nạn người bóclột người Chỉ điều kiện quốc tế mới giải quyết phần nào đó vấn đề xã hộimang tính chất toàn cầu như: việc làm, tệ nạn, môi trường, thất nghiệp…

2 Quan điểm của Lênin về nội dung xã hội của cách mạng xã hội chủ nghĩa

Lênin kế thừa và đặc biệt là người lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xãhội ở nước Nga thì ông có điều kiện kế thừa, vân dụng và tổng kết, pháttriển, tri thức hóa vấn đề xã hội trong cách mạng xã hội chủ nghĩa như: việclàm, nhà ở, thất nghiệp…Leenin bổ sung phát triển chủ yếu trên những khíacạnh sau:

Trang 16

- Lênin đặt vấn đề xã hội trong điều kiện mới, điều kiện chủ nghĩa đếquốc như giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản Người đi đến kết luận:chủ nghĩa đế quốc là phòng chờ của chủ nghĩa xã hội, là đêm trước của cáchmạng xã hội Khẳng định chủ nghĩa tư bản phát triển tất yếu dẫn đến bùng

nổ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, có thể và bất cứ ở đâu Vì vậy về mặt

xã hội: sự phát triển của chủ nghĩa đế quốc với đặc điểm của nó đã tạo ratiền đề cho chủ nghĩa xã hội có thể ra đời và giải quyết vấn đề xã hội mộtcách triệt để

Trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại” Lênin đề cao và củng cố thái độlao động mới Lênin cho rằng giá trị lao động của ngày thứ bảy cộng sản,cường độ lao động cao, năng suất lao động cao, tăng 2,7 lần đã thúc đẩy quátrình giải quyết vấn đề xã hội đang còn tồn tại Lênin nói sau thắng lợi cáchmạng vô sản phải thực hiện hai nhiệm vụ lớn đó là: phải chiến thắng sự phảnkháng của giai cấp tư sản, chiến thắng bọn bóc lột, đập tan âm mưu củachúng; phải tích cực xây dựng chủ nghĩa cộng sản, sáng tạo ra hình thức laođộng mới Lao động mới là bước tiến khổng lồ trong lao động sản xuất và đócũng là điều có thể thắng bọn phản kháng mang tính chất tiêu cực và daidẳng của các thế lực phản động Và chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp duynhất để thực hiện chế độ lao động mới, vì vậy giai cấp vô sản là giai cấp tiêntiến nhất của xã hội văn minh

Lênin còn chỉ rõ ngày thứ bảy cộng sản đã thực hiện mầm mống đểhiện thực hóa chủ nghĩa cộng sản Chủ nghĩa cộng sản chỉ được xây dựngbằng hoạt động tự giác sáng tạo của giai cấp công nhân và nhân dân laođộng Chủ nghĩa cộng sản là sự nghiệp khó khăn lâu dài gian khổ nhưng sẽxây dựng được nó nếu như có tinh thần chủ động sáng tạo của giai cấp côngnhân và nhân dân lao động Và chủ nghĩa cộng sản phải là xã hội đưa năngsuất lao động cao hơn so với chủ nghĩa tư bản

Trang 17

Trong tác phẩm “Bàn về thuế lương thực” dưới góc độ có liên quanđến quá trình xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội, Lênin đề cập đến vấn đềtẩy trừ bọn quan liêu ra khỏi bộ máy nhà nước tư sản bằng sự giúp đỡ cácđịa phương, các cơ sở với tính cách là các mối quan hệ kinh tế và sự traođổi Và chuyên chính vô sản là điều kiện để thực hiện chính sách kinh tếmới, điều kiện để thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước mà không có hại gìcho chủ nghĩa xã hội mà đảm bảo cho chủ nghĩa xã hội được củng cố hoànthiện hơn Nhờ có chuyên chính vô sản mà có thể thẳng tay trừng trị bọn địachủ tư sản phản động chui vào Đảng

- Lênin đề cập đến khả năng các nước lạc hậu, các dân tộc thuộc địatrong điều kiện bên trong bên ngoài có thể bỏ qua một giai đoạn mà vẫn cóthể xây dựng chủ nghĩa xã hội, giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủnghĩa phải có một bước quá độ đó là thời kỳ quá độ

+ Lênin cũng đã bổ sung phát triển lý luận về thời kỳ quá độ Trongtác phẩm “Kinh tế chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản” Lênin khẳngđịnh tính tất yếu của một thời kỳ lịch sử đặc biệt đó là thời kỳ quá độ Lêninchỉ rõ đặc điểm chung về kinh tế chính trị trong thời kỳ quá độ, đó là thời kỳđan xen của hai kết cấu kinh tế của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản.Chủ nghĩa tư bản bị đánh bại nhưng chưa tiêu diệt hẳn, chủ nghĩa cộng sản

đã ra đời nhưng còn rất non yếu, nghĩa là: cuộc đấu tranh giữa giai cấp côngnhân- giai cấp đã giành được chính quyền nhưng chưa có kinh nghiệm vềkiến thức khoa học về kinh nghiệm quản lý kinh tế xã hội với giai cấp tư sản

đã mất chính quyền nhưng vẫn còn tiềm lực to lớn

Lênin chỉ ra tính phổ biến và đặc thù của thời kỳ quá độ ở nước Nga.Thể hiện lý luận cơ bản và những hình thức cơ bản của kinh tế xã hội Ngacũng giống như các nước khác đó là chủ nghĩa tư bản là sản xuất hàng hóanhỏ và chủ nghĩa cộng sản tương ứng với nó là ba giai cấp cơ bản: giai cấp

Trang 18

tư sản, giai cấp tiểu tư sản và giai cấp vô sản Còn tính đặc thù của nước Nga

là nền sản xuất tiểu tư sản rất lạc hậu Do đó mâu thuẫn cơ bản và cuộc đấutranh trong thời kỳ quá độ bước đầu của lao động liên hợp theo nguyên tắccộng sản chủ nghĩa trong phạm vi một quốc gia rộng lớn chống lại tiểu sảnxuất hàng hóa và chống lại chủ nghĩa tư bản về mặt xã hội là tích cực củagiai cấp công nhân mâu thuẫn với tính tự phát vô chính phủ tiểu tư sản

Lênin giải thích vì sao lao động ở nước Nga có thể gọi là lao độngcộng sản, vì quyền tư hữu tư liệu sản xuất bị xóa bỏ và chính quyền xô viết

đã được tổ chức trên phạm vi cả nước Lênin cho rằng: chủ nghĩa cộng sản ởđây mới chỉ là bước đầu cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân với giai cấp

tư sản cũng mới bắt đầu

+ Lênin lý luận về hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản: khi phân tích

về luận điểm này trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” Lênin chỉ rõ:Trước đây thì vấn đề này được đặt ra với cách hiểu; giai cấp vô sản muốn tựgiải phóng, phải lật đổ giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền lập nên chuyênchính cách mạng của mình Giờ đây vấn đề đặt ra là “một xã hội tư bản chủnghĩa đang phát triển lên chủ nghĩa cộng sản, không thể nào chuyển lên xãhội cộng sản chủ nghĩa nếu không có một “thời kỳ quá độ chính trị”, vàtrong thời kỳ đó, nhà nước chỉ có thể là chuyên chính cách mạng của giaicấp vô sản”

Lênin đã phân tích cụ thể những luận điểm của Mác về giai đoạn đầucủa xã hội cộng sản chủ nghĩa và chỉ rõ¨đó là xã hội vừa mới thoát thai từchủ nghĩa tư bản và về phương diện vẫn còn mang dấu vết của xã hội cũ, nóchưa thực hiện được công bằng và bình đẳng, mặc dù nó không còn tìnhtrạng người bóc lột người

Khi phân tích giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa, Lênin đãchỉ ra những đặc trưng cơ bản là: Lực lượng sản xuất phát triển phi thường,

Trang 19

của cải xã hội tuôn ra tràn đầy, xã hội đã thực hiện được nguyên tắc “làmtheo năng lực hưởng theo nhu cầu”; hết thảy mọi người đã học được cáchquản lý và thực sự đã tự mình quản lý nền sản xuất xã hội, dân chủ đạt đếntrình độ hoàn bị, nhà nước tiêu vong

Khi phân tích lý luận về 2 giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản của Máctrong tác phẩm “phê phán cương lĩnh gô-ta” Lênin đã kế thừa quan điểm đó

và đã trình bày nó một cách chi tiết và chu đáo trong tác phẩm “Nhà nước vàcách mạng” thành 3 mục nối tiếp nhau trong chương V

“2 Bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản

3 Giai đoạn đầu của xã hội chủ nghĩa cộng sản

4 Giai đoạn cao của xã hội chủ nghĩa cộng sản”

3 Liên hệ sự vận dụng của Đảng cộng sản Việt Nam

Vận dụng những quan điểm cơ bản của các nhà kinh điển Mác Lê-nin

về nội dung xã hội của cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh và Đảngcộng sản Việt Nam đã áp dụng vào thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩaViệt Nam, để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trên tinhthần đó Đảng cộng sản Việt Nam đã triển khai chính sách xã hội để pháttriển đất nước trong sự nghiệp đổi mới:

3.1 Tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội:

Tăng trưởng kinh tế với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội là một vấn

đề phức tạp Giải quyết đúng đắn, hài hoà mối quan hệ này không phải làviệc đơn giản cả trong lý luận và thực tế Song, chính vì thế mà việc giảiquyết mối quan hệ đó như thế nào thể hiện bản chất tiến bộ hay lạc hậu, bảnlĩnh cao hay thấp của một Đảng cầm quyền trong quá trình phát triển kinh tế

xã hội

Trang 20

Tăng trưởng kinh tế là một khái niệm kinh tế học dùng để chỉ sự pháttriển lớn mạnh của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Thông thườngnói tăng trưởng kinh tế là để chỉ mức tăng thực tế của tổng sản phẩm quốcdân (GDP), hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GNP).

Tăng trưởng kinh tế là yếu tố quan trọng, liên quan đến sự giàu mạnh củamột quốc gia Song, nó chỉ là một tiêu chí của tiến bộ xã hội, chứ không phải

là tiến bộ xã hội Có khi có tăng trưởng kinh tế mà không có tiến bộ xã hội

Vì kết quả tăng trưởng kinh tế không được sử dụng cho sự phát triển conngười mà chỉ dùng cho sự tăng trưởng kinh tế, hoặc cho chiến tranh phinghĩa, trà đạp lên quyền tự do, phát triển của con người Hoặc có tăngtrưởng kinh tế àm số đông, nhất là tầng lớp nghèo không được hưởng nhữnglợi ích của tăng trưởng kinh tế Bất bình đẳng xã hội tăng lên Người giàu thìcàng giàu thêm, người nghèo thì càng nghèo đi

Tiến bộ xã hội theo quan điểm Mác xít là sự phát triển lực lượng sản xuấttrong đó bao hàm sự phát triển tự do, toàn diện của con người Theo nghĩarộng, đó là một quá trình phát triển của xã hội theo hướng đi lên, từ thấp đếncao, từ hình thái kinh tế xã hội cũ lên hình thái kinh tế xã hội mới cao hơn.Con người ngày càng được tự do, dân chủ và bình đẳng nhiều hơn

Công bằng theo nghĩa thông thường chỉ yêu cầu giải quyết các sự việctheo đúng lẽ phải, ngay thẳng, không thiên vị Công bằng xã hội là một nộidung trong định hướng xã hội chủ nghĩa Nội dung của công bằng xã hội rấtrộng lớn, trong đó có một nội dung chủ yếu nhất là phải từng bước thực hiệncông bằng xã hội trong phân phối thu nhập cá nhân, theo nguyên tắc cơ bản

"làm việc ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau" Cống hiến ngang nhau thì

hưởng thụ ngang nhau

Trang 21

Ở đây, cần chỉ rõ thực hiện công bằng xã hội không phải là thực hiện chủnghĩa bình quân trong phân phối, cào bằng năng lực và hưởng thụ cá nhân.Cách làm đó sẽ dẫn tới triệt tiêu động lực thúc đẩy các hoạt động kinh tế xãhội, dẫn tới sự "chia đều nghèo khổ".

Cái chủ yếu của công bằng xã hội là thực hiện nghĩa vụ ngang nhau thìhưởng quyền lợi ngang nhau Điều đó dẫn tới trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội, khi nền kinh tế còn chưa phát triển cao, năng lực của mọingười không như nhau,vv… Tất yếu còn có bất bình đẳng trong thu nhập,nhưng vẫn có bình đẳng trong bầu cử, bình đẳng nam nữ, bình đẳng củacông dân trước pháp luật,vv… Đó là hiện tượng khách quan, chỉ có đến chủnghĩa cộng sản mới có một sự công bằng và bình đẳng xã hội hoàn toàn Vấn đề đặt ra là có thể thực hiện được tiến bộ xã hội và công bằng xã hộitrong khi trình độ sản xuất, trình độ phát triển kinh tế còn chưa cao haykhông?

- Có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này Trên thế giới từng có nhiều ýkiến cho rằng chỉ cần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, không ngừng nângcao tổng sản phẩm quốc dân, đến khi có trình độ kinh tế phát triển cao, thì sẽgiải quyết được các vấn đề xã hội Một số lý thuyết phát triển như: Lý thuyết

"tăng trưởng cân bằng" của Nurkse, lý thuyết "cú huých lớn" củaRôseinstein - Rodan, lý thuyết "các giai đoạn tăng trưởng kinh tế" củaRostow.vv… Trong các lý thuyết đó, người ta chủ yếu đề cao các yếu tốkinh tế và khoa học kỹ thuật, các nhân tố xã hội, con người không được chú

ý thoả đáng

Một số học giả còn cho rằng, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội làhai mục tiêu mâu thuẫn, không thể dung hòa Nếu muốn tăng trưởng nhanhthì phải hy sinh công bằng xã hội Nếu đề cao công bằng xã hội, thì không

Trang 22

tăng trưởng được Ví dụ, A Lewis đã đưa ra lý thuyết "Dư thừa lao động".Trong đó, cho rằng ở các nước đang phát triển đều thừa lao động, thiếu tưbản Do đó, muốn khuyến khích tư bản đầu tư thì phải tạo cho tư bản có lợinhuận thật cao, còn người lao động phải chấp nhận tiền công tối thiểu, và đó

là cái giá tất yếu phải trả cho sự tăng trưởng kinh tế Dường như, bất bìnhđẳng chính là một nguyên nhân và cũng là kết quả của tăng trưởng kinh tế.Nhưng, qua kiểm nghiệm thực tế, ngay tại các nước tư bản phát triểnnhất, dần dần người ta thấy rằng: nếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng bất

kỳ giá nào, bẳng cả sự bất bình đẳng xã hội thì tuy kinh tế tăng trưởng,nhưng sẽ xuất hiện hàng loạt vấn đề xã hội nan giải Ở các nước tư bản chủnghĩa, người ta cũng phải thực hiện các chính sách xã hội để xoa dịu cácmâu thuẫn xã hội gay gắt Giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tếvới tiến bộ và công bằng xã hội, tuỳ theo mức độ căng thẳng, gay gắt đãđược đặt ra ở các nước trên thế giới ngày nay

- Trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội bằng một hệ thống chính sách xã hội đúng đắn

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội

ở Việt Nam là làm cho: "Nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàntoàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành".Điều đó có nghĩa là cùng một lúc phải phát triển kinh tế với thực hiện tiến

bộ và công bằng xã hội Song, việc giải quyết vấn đề này đặt ra gay gắt, bứcxúc hơn khi Đảng ta thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa

Thực tế lịch sử thế giới thế kỷ XX vừa qua chứng tỏ trong các mô hìnhkinh tế, thì kinh tế thị trường có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Song, thực

Ngày đăng: 26/07/2019, 22:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w