Nhờ có lý luận hình thái kinh tế xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử xã hội học C.Mác đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên trong, nội tại của sự phát triển xã hội, chỉ rõ được bản chất của từng chế độ xã hội. Như vậy, qua học thuyết hình thái kinh tế xã hội giúp chúng ta nghiên cứu một cách đúng đắng và khoa học sự vận hành của xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định
Trang 1MỤC LỤC
I Nội dung học thuyết hình thái kinh tế - xã hội Trang 03
2 Sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên
Trang 04
II Sự vận dụng lý luận hình thái kinh tế - xã hội trong việc xây dựng hình thái kinh tế - xã hội XHCN ở nước ta Trang 09
1 Lựa chọn con đường đi lên CNXH bỏ qua Chế độ Tư bản Chủ nghĩa
Trang 09
2 Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường
3 Phát triển lực lượng sản xuất bằng việc thực hiện Công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đi đôi với hoàn thiện QHSX XHCN ở nước taTrang 14
4 Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với xây dựng Nhà nước pháp
Trang 2PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU
Học thuyết “Hình thái kinh tế - xã hội” là lý luận cơ bản và giữ một vị trí hết sức quan trọng trong Chủ nghĩa duy vật lịch sử do C.Mác xây dựng nên Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã được thừa nhận là lý luận khoa học, là phương pháp lý luận cơ bản để nghiên cứu tất cả các mặt của xã hội và là nền tảng lý luận của Chủ nghĩa xã hội khoa học Nhờ có lý luận hình thái kinh tế - xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử xã hội học C.Mác đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên trong, nội tại của sự phát triển xã hội, chỉ rõ được bản chất của từng chế độ xã hội Như vậy, qua học thuyết hình thái kinh tế - xã hội giúp chúng ta nghiên cứu một cách đúng đắng và khoa học sự vận hành của xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định
Nhưng ngày nay, đứng trước những sự kiện lớn như sự sụp đổ của các nước Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, đặc biệt là Liên Xô – Đã từng được coi là “Ngọn cờ đầu” của Chủ nghĩa xã hội Theo đó, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã bị phê phán từ rất nhiều phía; sự phê phán không chỉ từ phía đối lập của Chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn cả một số người đã từng đi theo con đường của Chủ nghĩa Mác - Lênin Nói chung họ cho rằng: Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là lỗi thời, lạc hậu không thể
áp dụng vào điều kiện hiện nay mà phải thay thế bằng một lý luận khác
Trước tình hình đó buộc chúng ta phải làm rõ thực chất của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và giá trị về mặt khoa học, tính thời đại của nó là rất cần thiết Về thực tiễn nước ta đang trong quá trình xây dựng đất nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Do vậy, việc nghiên cứu và vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước ta hiện nay
Trong phạm vi bài viết nầy, chúng ta sẽ nghiên cứu về “Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội”
Trang 3PHẦN II NỘI DUNG
I Nội dung học thuyết hình thái kinh tế - xã hội
1- Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ ra một xã hội cụ thể tồn tại trong một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, với một phương thức sản xuất đặc trưng của nó, tức là với một kiểu đặc trưng của quan
hệ sản xuất phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của một lực lượng sản xuất
và một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy
Xã hội không phải là tổng số những hiện tượng, sự kiện rời rạc những cá nhân riêng lẻ Xã hội là một chỉnh thể toàn vẹn có cơ cấu phức tạp Trong đó có những mặt
cơ bản nhất là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng Mỗi mặt có vai trò nhất định và tác động đến mặt khác tạo nên sự vận động của cơ thể xã hội Chính tính toàn vẹn của nó được phản ánh bằng khái niệm hình thái kinh tế - xã hội
Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế - xã hội Sự hình thành và phát triển của mỗi hình thái kinh tế - xã hội liên tục trong sự phát triển của xã hội loài người
Quan hệ sản xuất - quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất - là những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mối quan hệ xã hội khác, không
có mối quan hệ đó thì không thành xã hội và qui luật xã hội Mỗi hình thái kinh tế
-xã hội lại có một kiểu quan hệ sản xuất của nó tương ứng với trình độ nhất định của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất, đó là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã hội
cụ thể này với xã hội cụ thể khác, đồng thời tiêu biểu cho một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử
Những quan hệ sản xuất là bộ xương của cơ thể xã hội hợp thành cơ sở hạ tầng Trên cơ sở những quan hệ sản xuất đó hình thành nên những quan điểm về chính trị, pháp lý, đạo đức, triết học v.v… và những thiết chế tương ứng hợp thành kiến trúc thượng tầng xã hội mà chức năng xã hội của nó là bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở
hạ tầng sinh ra nó
Ngoài những mặt cơ bản của xã hội đề cập ở trên - lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng - thì còn có những quan hệ dân tộc, quan hệ gia đình và các quan hệ sinh hoạt xã hội khác
Tóm lại, hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù chỉ một kiểu hệ thống xã hội
ở một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, có tính xác định về chất, là sự thống nhất giữa các yếu tố, một cơ cấu hoàn chỉnh luôn luôn vận động thông qua sự tác động
Trang 4biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Trong quá trình tiến triển của các hình thái kinh tế - xã hội, hình thái mới không xoá bỏ mọi yếu tố cấu thành hình thái cũ mà trong khi phá vỡ cấu trúc của hệ thống cũ lại bảo tồn, kế thừa và đổi mới những yếu tố của nó, vừa đảm bảo tính liên tục, vừa tạo ra bước phát triển; do đó, tạo ra tình trạng chồng chất, đan xen những yếu tố của nhiều hình thái kinh tế - xã hội khác nhau của nhiều thời kỳ lịch sử
2- Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên
Xã hội loài người đã phát triển trải qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội nối tiếp nhau Trên cơ sở phát hiện ra các qui luật vận động phát triển khách quan của xã hội C.Mác đã đi đến kết luận: “Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”
Lý luận hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác đã chỉ rõ: xã hội không phải là sự kết hợp ngẫu nhiên các mặt, các yếu tố với nhau theo ý muốn chủ quan, mà là một hệ thống Trong đó, các mặt, các yếu tố thống nhất với nhau, tác động qua lại lẫn nhau
và không ngừng tác động qua lại với tự nhiên
Trong hệ thống các quan hệ xã hội hết sức phức tạp đó, C.Mác đã chỉ ra và khẳng định quan hệ sản xuất là quan hệ khởi nguyên, cơ bản của xã hội, được hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất và là cơ sở của các quan hệ xã hội khác, quy định bản chất của mỗi chế độ xã hội trong lịch sử nhân loại, là tiêu chuẩn khách quan để phân chia xã hội này với xã hội khác
Việc xem xét quan hệ sản xuất lại không thể tách rời lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt thống nhất biện chứng, tạo thành phương thức sản xuất mà trong đó, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tác động tích cực trở lại lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất chính là cơ sở vật chất của hình thái kinh tế - xã hội Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có một lực lượng sản xuất nhất định Từ đó, Ông đi đến kết luận về cấu trúc xã hội: “Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực, trên đó xây dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý, chính trị và những hình thái ý thức
xã hội nhất định tương ứng với cơ sở thực tại đó Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung”
Lực lượng sản xuất thay đổi là nguyên nhân sâu xa của mọi cải biến xã hội Sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến việc xã hội phải xoá bỏ bằng cách này hay cách khác quan hệ sản xuất cũ và thay nó bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với sự phát triển đó của lực lượng sản xuất, mở đường cho lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Việc xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế nó bằng
Trang 5quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là sự duyệt vong của cả một phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của một phương thức sản xuất mới Và do vậy có thể nói, khi lực lượng sản xuất thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi của một hình thái kinh tế - xã hội
Ngoài quan hệ sản xuất là quan hệ khởi thuỷ, cơ bản, là tiêu chuẩn khách quan
để phân biệt các chế độ xã hội, khái niệm hình thái kinh tế - xã hội còn bao gồm cả những quan hệ xã hội khác về chính trị, tinh thần, … Các quan hệ sản xuất khác tạo thành một kết cấu kinh tế - xã hội nhất định, là cơ sở hạ tầng của xã hội; còn các quan
hệ xã hội về chính trị, tinh thần, … được hình thành và phát triển trên cơ sở hạ tầng tạo thành kiến trúc thượng tầng của xã hội C.Mác viết: “Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị, và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó”
Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng; song kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối và có tác động tích cực trở lại đến cơ sở hạ tầng, đến kinh tế Khi kiến trúc thượng tầng không còn phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế thì tất yếu kinh tế sẽ tự mở đường đi,
nó đòi hỏi phải thay đổi kiến trúc thượng tầng cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế
Các mặt của hình thái kinh tế - xã hội không ngừng tác động qua lại lẫn nhau, làm cho hình thái kinh tế - xã hội không ngừng vận động, phát triển Dựa trên phân tích một cách khoa học C.Mác đã rút ra kết luận: “Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” Kết luận đó của C.Mác cho thấy,
sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội diễn ra theo các qui luật khách quan, chứ không phải theo ý muốn chủ quan của con người V.I Lênin đã viết: “Mác coi sự vận động xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên chịu sự chi phối của những qui luật không những không phụ thuộc vào ý chí, ý thức và ý định của con người, mà trái lại, còn quyết định ý chí, ý thức và ý định của con người”
Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội bắt nguồn từ cơ sở sâu xa của nó
là sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định sẽ làm cho quan hệ sản xuất mà trước đó là hình thức phát triển trở nên lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của nó Khi đó, lực lượng sản xuất đòi hỏi phải thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với sự phát triển của nó Đến lượt mình, quan hệ sản xuất thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng Bằng cách đó các hình thái kinh tế - xã hội vận động, phát triển từ thấp đến cao, từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn Và theo V.I Lênin, “chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững
Trang 6chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử
-tự nhiên”
Như vậy, quá trình lịch sử tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng những diễn ra bằng con đường phát triển tuần tự, mà còn bao hàm cả sự bỏ qua, trong những điều kiện nhất định, một hoặc một vài hình thái kinh tế - xã hội nhất định
3- Ý nghĩa của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội
Theo V.I.Lênin, “tính qui luật chung của sự phát triển trong lịch sử toàn thế giới
đã không loại trừ mà trái lại, còn bao hàm một số giai đoạn phát triển mang những đặc điểm về hình thức hoặc trình tự của sự phát triển đó”
Khi nghiên cứu lý luận hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác, một số người đã nhầm tưởng lý luận đó chỉ ra rằng, xã hội loài người nhất thiết lần lượt trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội: nguyên thuỷ, nô lệ, phong kiến, tư bản và cộng sản chủ nghĩa Thực ra, trong lịch sử phát triển của nhân loại, một số nước đã lần lượt trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội đó như Italia, Pháp, Tây Ban Nha, ; một số nước khác lại có thể
bỏ qua hình thái kinh tế - xã hội này hay hình thái kinh tế - xã hội khác, như Đức, Ba Lan, Nga, … đã không qua chế độ chiếm hữu nô lệ Ngay cùng một hình thái kinh tế
- xã hội thì ở các nước khác nhau, hình thức biểu hiện cũng khác nhau
Theo quan điểm biện chứng, tất các các con đường phát triển cụ thể của các
nước đều là con đường riêng mà trong đó, bao hàm những qui luật chung, những quá trình có tính phổ biến của sự phát triển xã hội Ngược lại, những qui luật phổ biến của sự phát triển xã hội bao giờ cũng đóng vai trò chi phối trong các con đường phát triển riêng của mỗi quốc gia, dân tộc Con đường phát triển riêng là biểu hiện
cụ thể của các qui luật phổ biến trong điều kiện lịch sử - cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc.
Như vậy, có thể nói, lý luận hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác đã vạch rõ tiêu
chuẩn khách quan để phân chia các chế độ xã hội trong lịch sử, cũng như mối quan
hệ lẫn nhau giữa các mặt trong đời sống xã hội, vạch rõ các qui luật vận động, phát triển khách quan của các hình thái kinh tế - xã hội, qui luật thay thế hình thái kinh tế
- xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn Nó là lý luận khoa học, là
phương pháp luận tổng quát để nghiên cứu một cách cụ thể đời sống xã hội Trong thời đại ngày nay, lý luận đó vẫn giữ nguyên giá trị Tuy nhiên, việc nghiên cứu đời sống xã hội phải luôn được bổ sung bằng phương pháp tiếp cận khoa học khác Đúng như V.I.Lênin đã khẳng định: “Nếu thuyết biến chủng đã không hề có tham vọng giải thích “toàn bộ” lịch sử hình thành các loài mà chỉ đặt những phương pháp giải thích
ấy trên một cơ sở khoa học thôi thì theo Mác: chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng thế, nó
không bao giờ có tham vọng giải thích tất cả, mà chỉ có ý muốn vạch ra một phương pháp “khoa học duy nhất” để giải thích lịch sử.
Trang 7Trên cơ sở lý luận hình thái kinh tế - xã hội, C.Mác đã nghiên cứu một xã hội hiện thực là xã hội tư bản, vạch ra các qui luật phát sinh, phát triển và diệt vong tất yếu của nó, đồng thời dự báo về sự ra đời tất yếu của một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn - hình thái cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội V.I.Lênin đã kế thừa và phát triển quan điểm của C.Mác trong điều kiện mới, trong
đó đặc biệt chú ý tới con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa tư bản ở các nước lạc hậu
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, xã hội tư bản ra đời thay thế xã hội phong kiến là một bước tiến bộ, cách mạng trong lịch sử phát triển nhân loại Nó đã
“cách mạng hoá những quan hệ sản xuất” và do đó, đã “cách mạng hoá toàn bộ những quan hệ xã hội”, “đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại” Lực lượng sản xuất mà chủ nghĩa tư bản tạo ra chính là nền đại công nghiệp và gắn liền với nó là giai cấp vô sản
Đó là lực lượng sản xuất có tính xã hội Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì nền đại công nghiệp và giai cấp vô sản càng phát triển Sự ra đời của nền đại công nghiệp đã quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản đối với phong kiến; đến lượt nó, sự phát triển của nền đại công nghiệp lại mâu thuẫn với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa C.Mác đã phát hiện ra mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn đó là cơ sở sâu xa của các mâu thuẫn khác và chi phối sự vận động, phát triển của xã hội tư bản Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì mâu thuẫn đó càng tăng lên và đòi hỏi phải thủ tiêu nó “Bản thân những lực lượng sản xuất, - Ph Ăngghen khẳng định, - với một sức mạnh ngày càng tăng, cũng mong muốn đạt tới chỗ thủ tiêu mâu
thuẫn ấy, đến chỗ tự giải thoát khỏi cái tính chất tư bản của chúng, đến chỗ thực tế
nhận thức tính chất của chúng là những lực lượng sản xuất xã hội” Điều đó có nghĩa
là, phải xoá bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, xác lập chế độ chiếm hữu
có tính xã hội – chế độ công hữu và do đó, một xã hội mới ra đời thay thế chủ nghĩa
tư bản - đó là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
Giá trị có ý nghĩa lớn nhất của lý luận hình thái kinh tế - xã hội là sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là tất yếu Qua lý luận hình thái kinh tế - xã hội, Mác và Ăngghen đã dự đoán về sự phát triển của xã hội loài người trong tương lai tất yếu phải tiến đến hình thái kinh tế - xã hội Cộng sản chủ nghĩa mà chủ nghĩa xã hội là giai đoạn thấp của hình thái ấy Với sự ra đời của chủ nghĩa xã hội, tiến bộ xã hội được thực hiện theo nguyên tắc thống nhất về căn bản lợi ích xã hội và cá nhân Cơ sở kinh tế của sự thống nhất đó là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Sự thay thế chế độ sở hữu tư nhân bằng chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa là một quá trình thống nhất giữa tiến hoá và cách mạng xã hội mà bản chất của cách mạng xã hội là giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
Trang 8xuất, thực hiện sự biến đổi về chất căn bản của xã hội, đưa đến hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, trải qua những bước trung gian, giai đoạn quá độ Qua kinh nghiệm thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Lênin đã nhấn mạnh rằng: “Các nước kém phát triển càng phải trải qua nhiều nấc thang trung gian, quá độ, … Vì chúng ta chưa có điều kiện để chuyển trực tiếp nền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hội Do vậy trong một chừng mực nào đó, chủ nghĩa tư bản là không thể tránh khỏi, chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản làm phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên”
Mác khẳng định, sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên, song không phải quốc gia, dân tộc nào cũng nhất thiết phải trải qua tất cả các hình thái kinh tế - xã hội đã có trong lịch sử Do những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định, một quốc gia, dân tộc nào đó có thể bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội nào đó C.Mác còn lưu ý rằng, một xã hội ngay cả khi đã phát hiện được qui luật tự nhiên trong sự vận động của nó, cũng không thể nào nhảy qua các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xoá bỏ chúng, nhưng chúng có thể được rút ngắn và được làm dịu bớt “cơn đau đẻ” Ăngghen đã khẳng định “con đường phát triển rút ngắn như vậy không chỉ đúng với nước Nga, mà với tất cả các nước đang ở trong giai đoạn phát triển tiền tư bản chủ nghĩa” V.I.Lênin đã đi đến kết luận, con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội có thể có những hình thức khác nhau, điều đó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Theo Người, hình thức quá
độ trực tiếp là con đường phát triển tuần tự từ Chủ nghĩa tư bản lên Chủ nghĩa xã hội; còn hình thức quá độ gián tiếp là con đường phát triển rút ngắn, phát triển bỏ qua Chế
độ tư bản chủ nghĩa - con đường từ tiền tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, dù là phát triển tuần tự hay phát triển rút ngắn thì cũng đều là sự phát triển liên tục của lực lượng sản xuất, nghĩa là không thể bỏ qua được sự phát triển của lực lượng sản xuất
Trong thời đại ngày nay, lý luận hình thái kinh tế - xã hội vẫn còn giữ nguyên giá trị C.Mác đã tiếp cận lịch sử từ điểm chọn lực lượng sản xuất với trình độ sản xuất công nghiệp tiến bộ nhất thời bấy giờ để phát triển hình thái kinh tế - xã hội Việc tiếp cận lịch sử theo 3 nền văn minh: nông nghiệp, công nghiệp hay tin học hiện nay về thực chất không có gì sáng tạo hơn Mặc dù trình độ của lực lượng sản xuất ngày nay được bổ sung thêm lực lượng sản xuất tin học hoá, vai trò của tri thức, trí tuệ được đề cao, chúng ta không thể bỏ qua vấn đề bản chất về chế độ chính sách và cách mạng xã hội tức là hình thái kinh tế - xã hội Tuy nhiên, việc nghiên cứu đời sống xã hội phải được bổ sung phát triển bằng thực tiễn lịch sử và phương pháp tiếp cận khoa học khác Khi vận dụng lý luận hình thái kinh tế - xã hội của Mác vào thực tiễn cần lưu ý: Mọi sự phát triển rút ngắn đều phải nhằm mục đích cuối cùng là tạo ra
sự phát triển vượt bậc, thậm chí là nhảy vọt của lực lượng sản xuất Và, do vậy, về
Trang 9thực chất, phát triển rút ngắn chỉ có thể là rút ngắn các giai đoạn hay bước đi trong tiến trình phát triển liên tục của lực lượng sản xuất
Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản không phải là ý muốn chủ quan của ai đó, mà là tất yếu, khách quan trên cơ sở của những tiền đề vật chất do chủ nghĩa tư bản tạo ra, và là kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn vốn có trong lòng
xã hội tư bản Do đó, nó phải kế thừa, phát triển các thành tựu văn minh mà nhân loại
đã đạt được trong lòng xã hội tư bản; phải xoá bỏ tính chất tư bản của nó, giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, mang lại quyền tự do, bình đẳng và các giá trị đích thực của con người
II Sự vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
1- Lựa chọn con đường tiến lên Chủ nghĩa xã hội bỏ qua Chế độ Tư bản chủ nghĩa
Việc vận dụng lý luận hình thái kinh tế xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin vào việc đề ra chiến lược cho cách mạng việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội Đường lối cách mạng do chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta nêu ra là sự vận dụng sáng tạo hình thái kinh tế - xã hội vào điều kiện Việt Nam Đảng ta đã khẳng định rằng sau khi Việt Nam tiến hành công việc cách mạng dân chủ nhân dân sẽ tiến lên làm cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
Ở nước ta, lịch sử đã đặt vấn đề lựa chọn con đường phát triển bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa từ những năm 20 của thế kỷ XX, khi chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam bắt gặp con đường Cách mạng tháng Mười Nga, hoà nhập xu hướng tiến hoá chung của nhân loại: quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
Qua thực tiễn đấu tranh cách mạng và nhất là từ khi tiếp cận bản Sơ thảo luận cương
của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận: Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản; rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người nô lệ trên thế giới khỏi ách nô lệ
Cương lĩnh đầu tiên (1930) của Đảng ta cũng đã khẳng định: sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, nước ta sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội Đó là sự lựa chọn dứt khoát và đúng đắn của Đảng, đáp ứng nguyện vọng thiết tha ngàn đời của dân tộc, phản ánh đúng xu thế của thời đại, phù hợp với quan điểm cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin Sự lựa chọn này chẳng những là sự khẳng định dứt khoát mục tiêu lý tưởng của những người cộng sản, khẳng định phương hướng phát triển của đất nước, mà còn là cả vấn đề trân trọng quá khứ, thừa nhận công lao của những thế hệ ông cha đi trước
Khi miền Bắc đã được giải phóng nhưng miền Nam còn phải tiếp tục chiến đấu
vì độc lập tự do của Tổ quốc, tình hình lúc đó đặt ra câu hỏi: Miền Bắc có nên bước
Trang 10ngay vào thời kỳ quá độ để xây dựng chủ nghĩa xã hội hay không, khi mục tiêu độc lập dân tộc chưa được giải quyết xong ở miền Nam ? Đảng ta khẳng định phải đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ cách mạng: Tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và tiến hành xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Sự lựa chọn này đã được thực tiễn xác nhận là hoàn toàn đúng đắn Không có sự hậu thuẫn của chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc, cách mạng miền Nam sẽ không có những đảm bảo vật chất và tinh thần cần thiết cho thắng lợi
Khi miền Nam đã được giải phóng, đất nước thống nhất, một vấn đề cũng được đặt ra là miền Nam sẽ cùng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội hay tạm thời dừng lại một thời gian để phục hồi sau chiến tranh ? Có thể nói, sự lựa chọn này là một thử thách không kém phần phức tạp Đảng quyết định cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội Quyết định này đã được thực tiễn xác nhận hoàn toàn đúng đắn
Vào những năm 80, kinh tế xã hội nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đang chao đảo, chủ nghĩa xã hội khi ấy được xây dựng theo mô hình kế hoạch hoá tập trung Mô hình đó đã phát huy vai trò tích cực trong một giai đoạn lịch sử nhất định, nhưng đến cuối những năm
80 của thế kỷ XX đã rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, dẫn đến chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ Từ đó, có quan điểm khẳng định chủ nghĩa
tư bản là vĩnh viễn và phủ nhận chủ nghĩa xã hội Nhưng cũng chính vào lúc ấy, Đảng ta đã quyết định đường lối đổi mới, chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập và mở cửa với bên ngoài Một lần nữa sự khẳng định của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã được thực tiễn xác nhận là đúng đắn
Hiện nay, khi chủ nghĩa xã hội bị sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, trong khi chủ nghĩa tư bản vẫn tiếp tục phát triển và đạt được nhiều thành tựu trong kinh tế, khoa học và công nghệ, … đã xuất hiện những quan điểm phủ nhận chủ nghĩa xã hội, lý tưởng hoá chủ nghĩa tư bản Trong số đó, ngoài những thế lực thù địch với chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội, còn có một số người do sai lầm về nhận thức, về phương pháp tiếp cận nên đã đồng nhất chủ nghĩa xã hội với mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung quan liêu, đồng nhất với những thành tựu mà nhân loại đã đạt được trong thời đại lịch
sử hiện nay với chủ nghĩa tư bản
Thực ra, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã được xác lập trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt và nó đã đóng vai trò quan trọng trong điều kiện lịch sử đó Khi điều kiện lịch sử thay đổi, mô hình đó đã không còn phù hợp nữa, nhưng lại không sớm phát hiện để đổi mới, khiến các mâu thuẫn kinh tế - xã hội càng trở nên sâu sắc, nên đã dẫn đến khủng hoảng và sụp đổ Đây là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể, chứ không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội với tính cách là giai đoạn thấp của hình thái cộng sản chủ nghĩa Việc xây dựng một hình thái