1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

góc nhìn của sinh viên không chuyên triết tiểu luận hay

26 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 112,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên những kết quả nghiên cứu lý luận và tổng kết quá trình lịch sử, Mác đã nêu ra quan điểm duy vật về lịch sử và hình thành học thuyết về hình thái kinh tế xã hội với những nội dung chính sau:Quan niệm thừa nhận sản xuất vật chất là cơ sở của tồn tại và phát triển xã hội

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành tốt tiểu luận về học thuyết Mác - Lênin em xin chân thành cảm ơn Trường Cao đẳng Sư phạm Nhà trẻ - Mẫu giáo Trung ương I, Khoa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Thư viện trường và toàn thể các bạn sinh viên đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình làm tiểu luận.

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Nguyễn Văn Thắng

Trang 2

Lời Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Đảng và Nhà nước ta đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin không phải đitheo một chủ nghĩa thần bí nào mà là đi theo một chủ nghĩa mang tính khoahọc để phát triển xã hội, đổi mới cuộc sống con người Qua thực tiễn hoạtđộng, Đảng và Nhà nước ta đã tự phê phán và lắng nghe những lời phêphán trung thực đối với chủ nghĩa Mác, đối với chủ nghĩa Mác - Lênin làđiều tự nhiên Song, có những ý kiến phản bác chủ nghĩa Mác hiện nay lạidựa vào những sai sót về cơ chế chỉ đạo cụ thể trong xây dựng chủ nghĩa xãhội để phủ nhận cả một hệ thống lý luận khoa học Cùng với điều đó là tưtưởng sùng bái chủ nghĩa tư bản lúc đó đang là "một thế giới không chấpnhận được" Hơn lúc nào hết những người cách mạng phải đấu tranh vớicác quan điểm thù địch nhằm bảo vệ đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin nóichung và học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội nói riêng

Với những lý do nêu trên tôi đi vào nghiên cứu hình thái kinh tế

-xã hội nhằm góp phần nhận thức đúng đắn thêm lý luận của học thuyết Mác - Lênin

2 Tình hình nghiên cứu

Trong giai đoạn hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đềcập đến vấn đề nghiên cứu lịch sử loài người như: ViCô người Italia, Hăng-ri Mooc-găng người Mỹ Tuy nhiên, việc nghiên cứu của cácchuyên gia nêu trên đều chưa khoa học Nghiên cứu học thuyết của Mácgóp phần hiểu đúng hơn, làm rõ thêm tính khoa học

3 Mục tiêu của đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Trang 3

Mục tiêu: Thông qua việc kết hợp phân tích giữa phương pháp

nghiên cứu của các quan điểm trước Mác và quan điểm hiện đại nhằm nângcao nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa Mác - Lênin

Nhiệm vụ:

1) Làm rõ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin hiện nay

2) Hệ thống hóa làm rõ các quan điểm mácxít về hình thái kinh tế

- Hệ thống hóa hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác

- Góp phần khẳng định giá trị bền vững và tác động của nhân tốhiện đại đến sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội hiện nay

* Về mặt thực tiễn:

- Đánh giá khái quát thực trạng nhìn nhận hình thái kinh tế - xã hộitrong thời đại hiện nay

- Nêu lên việc phát triển hình thái kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay

5 Phương pháp làm tiểu luận

5.1 Phương pháp luận: Tiểu luận thực hiện trên cơ sở vận dụng

phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử.Mối quan hệ phổ biến và đặc thù

5.2 Phương pháp nghiên cứu chung: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa.

6 Kết cấu tiểu luận

Ngoài phần lời cảm ơn, lời mở đầu và kết luận, tiểu luận gồm 2chương:

Trang 4

Chương I: Lý luận hình thái kinh tế - xã hội.

Chương II: Vận dụng lý luận hình thái kinh tế - xã hội vào Việt Nam

Trang 5

Chương I

Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội

1 Quan điểm trước Mác về sự phát triển lịch sử xã hội loài người

Trước Mác, các nhà xã hội học, triết học không giải thích được mộtcách khoa học sự vận động quy luật khách quan của lịch sử Chẳng hạn:

Nhà xã hội học Italia là Vi Cô (1668-1744) đã phân chia các thời kỳlịch sử như phân chia các giai đoạn của một vòng đời: thơ ấu, thanh niên,thành niên và tuổi già

Nhà triết học duy tâm Đức Hêghen (1770-1831) lại phân chia lịch

sử loài người thành ba thời kỳ chủ yếu là thời kỳ phương Đông, thời kỳ cổđại và thời kỳ Giec-ma-ni

Nhà xã hội học không tưởng người Pháp Phuriê (1771-1837) đãphân chia thời kỳ lịch sử thành bốn thời kỳ: thời kỳ mông muội, thời kỳ dãman, thời kỳ gia trưởng và thời kỳ văn minh

Nhà nhân chủng học người Mỹ Hăng-ri Mooc-găng (1818-1881) lạiphân chia lịch sử thành ba thời kỳ chính: thời kỳ mông muội, thời kỳ dãman và thời kỳ văn minh những cách phân kỳ như vậy không đem lạicách nhìn khoa học về một xã hội cụ thể

2 Nội dung lý luận hình thái kinh tế - xã hội

Dựa trên những kết quả nghiên cứu lý luận và tổng kết quá trìnhlịch sử, Mác đã nêu ra quan điểm duy vật về lịch sử và hình thành họcthuyết về hình thái kinh tế - xã hội với những nội dung chính sau:

2.1 Quan niệm thừa nhận sản xuất vật chất là cơ sở của tồn tại

và phát triển xã hội

Trang 6

Sự sản xuất xã hội là hoạt động đặc trưng riêng có của con người và

xã hội loài người, đó là cái phân biệt "sự khác nhau cơ bản giữa xã hội loàingười và loài súc vật" Sự sản xuất xã hội bao gồm sản xuất vật chất, sảnxuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người Trong hiện thực, ba quátrình này của sản xuất không tách biệt nhau, trong đó sản xuất vật chất giữvai trò nền tảng, là cơ sở của tồn tại và phát triển của xã hội, và xét đếncùng thì sản xuất vật chất quy định và quyết định toàn bộ đời sống xã hội

2.2 Quan điểm về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Lực lượng sản xuất là khái niệm dùng để chỉ việc con người chinhphục giới tự nhiên bằng tất cả sức mạnh hiện thực của mình trong quá trìnhthực hiện sự sản xuất xã hội, là cái nói lên năng lực của con người trongquá trình sản xuất ra của cải của xã hội

Lực lượng sản xuất được tạo thành do sự kết hợp giữa lao động với

tư liệu sản xuất mà trước hết là với công cụ lao động cũng như khoa học

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trongquá trình sản xuất và tái sản xuất, quan hệ sản xuất gồm ba mặt: Quan hệ

sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý và sản xuất, quan

hệ phân phối sản phẩm trong sản xuất

Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất phụ thuộc và tác động lẫnnhau một cách biện chứng và biểu hiện thành một trong những quy luật cơbản nhất của sự vận động của đời sống xã hội Mác viết: "Những quan hệsản xuất đều gắn liền mật thiết với lực lượng sản xuất Do có được nhữnglực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình

và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài ngườithay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình Cái cối xay quay bằng tay

Trang 7

đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội

có nhà tư bản công nghiệp"(1)

Sự biến đổi của sản xuất luôn luôn theo chiều tiến bộ, và xét chocùng bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sảnxuất, trước hết là công cụ lao động Cùng với sự phát triển của lực lượngsản xuất, quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp vớitrình độ của lực lượng sản xuất Đương nhiên, khi trình độ của lực lượngsản xuất phát triển thì tính chất của nó cũng phát triển theo

Trình độ của lực lượng sản xuất là khái niệm nói lên khả năng củacon người thực hiện quá trình biến đổi và thích nghi với giới tự nhiên nhằmbảo đảm cho sự sinh tồn và phát triển của mình thông qua công cụ laođộng Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là sản phẩm của sự kếthợp giữa các nhân tố:

- Trình độ của công cụ lao động;

- Trình độ tổ chức lao động xã hội;

- Trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất;

- Trình độ kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người;

- Trình độ phân công lao động

Tính chất của lực lượng sản xuất là khái niệm nêu lên tính chất xãhội hóa của tưliệu sản xuất và của lao động ứng với sự phát triển của nềnsản xuất xã hội được thể hiện thông qua sự phát triển của công cụ lao động,tính chất xã hội của lực lượng sản xuất cũng biến đổi Tuy vậy, trong nềnsản xuất xã hội đôi khi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất không điđôi với tính chất xã hội hóa của nó

Trang 8

Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất phản ánh khả năngchinh phục giới tự nhiên của con người; khả năng này chỉđạt tới đỉnh caokhi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất là một trạng thái trong đó các yếu tố cấu thành quan hệ sảnxuất tạo địa bàn đầy đủ cho lực lượng sản xuất phát triển Chỉ khi nào cả bamặt của quan hệ sản xuất thích ứng với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất, tạo điều kiện tốt nhất cho việc sử dụng và kết hợp giữa lao động

và tư liệu sản xuất thì sẽ tạo ra cơ sở phát triển hết khả năng của lực lượngsản xuất

Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ mới với tính chất

xã hội hóa ở mức cao hơn sẽ xuất hiện mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất Sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất sẽ chuyển thành không phù hợp Mâu thuẫn càng trở nên gay gắt tấtyếu sẽ dẫn tới việc xã hội phải xóa bỏ bằng cách này hay cách khác quan

hệ sản xuất cũ và thay bằng một quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình

độ của lực lượng sản xuất đã thay đổi, mở đường cho lực lượng sản xuấtphát triển Điều này sẽ dẫn tới sự diệt vong của phương thức sản xuất cũ và

sự ra đời của phương thức sản xuất mới

Như vậy, theo Mác lực lượng sản xuất xét đến cùng đóng vai tròquyết định trong việc thay đổi phương thức sản xuất dẫn đến thay đổi toàn

bộ xã hội

Tuy nhiên, quan hệ sản xuất cũng tác động trở lại lực lượng sảnxuất và trên cơ sở hình thành một hệ thống những yếu tố thúc đẩy hoặc kìmhãm sự phát triển của lực lượng sản xuất

2.3 Quan điểm về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Trang 9

Cơ sở hạ tầng là toàn bộ các quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh

tế của một xã hội nhất định Đặc trưng cho tính chất cơ sở hạ tầng của xãhội là do quan hệ sản xuất thống trị quyết định Cơ sở hạ tầng bao gồm:quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư, quan hệ sản xuất mầmmống Trong xã hội có mâu thuẫn giai cấp thì tính chất của sự đối khánggiai cấp, sự xung đột giai cấp bắt nguồn từ cơ sở hạ tầng

Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ tư tưởng xã hội, những thiết chếtương ứng và những quan hệ nội tại của kiến trúc thượng tầng được hìnhthành trên cơ sở hạ tầng

Kiến trúc thượng tầng bao gồm những tư tưởng xã hội: đạo đức, tôngiáo, nghệ thuật, chính trị, pháp luật và những thiết chế: Nhà nước, giáo hội

Mỗi kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luật phát triểnriêng nhưng có liên hệ tác động lẫn nhau đều nảy sinh trên cơ sở hạ tầng.Kiến trúc thượng tầng của giai cấp đối kháng bao gồm hệ tư tưởng và thểchế của giai cấp thống trị, tàn dư của các quan điểm xã hội trước Hệ tưtưởng của giai cấp thống trị quyết định tính chất cơ bản của kiến trúcthượng tầng trong một hình thái kinh tế - xã hội

Quan hệ biện chứng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thể hiện

ở chỗ cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng Cơ sở hạ tầng nào thìkiến trúc thượng tầng ấy tức là kiến trúc thượng tầng phản ánh cơ sở hạtầng Sự thay đổi của cơ sở hạ tầng thì sớm muộn kiến trúc thượng tầngcũng sẽ diễn ra Sự thay đổi đó xét đến cùng là do sự phát triển của lựclượng sản xuất quy định Mặc dù kiến trúc thượng tầng có sự tác động trởlại cơ sở hạ tầng Kiến trúc thượng tầng có thể tác động trở lại cơ sở hạtầng vì chức năng của kiến trúc thượng tầng là bảo vệ duy trì cơ sở hạ tầngsinh ra nó Các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng đều tác động đến cơ

sở hạ tầng bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó nhà nước giữ vai trò

Trang 10

to lớn và chủ đạo đối với cơ sở hạ tầng Sự tác động trở lại của kiến trúcthượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thể hiện ở hai mặt:

1) Nếu nó phù hợp thì sẽ thúc đẩy sự phát triển xã hội

2) Nếu không phù hợp thì nó kìm hãm sự phát triển của xã hội.Mác viết: "Không thể lấy bản thân những quan hệ pháp quyền cũngnhư là sự phát triển chung của tinh thần con người để giải thích những quan

hệ và hình thái đó, mà trái lại phải thấy rằng những quan hệ và hình thái đóbắt nguồn từ điều kiện sinh hoạt vật chất Nếu ta không thể nhận địnhđược về một con người mà chỉ căn cứ vào ý kiến của chính người đó vớibản thân thì không thể nhận định được về một thời đại đảo lộn như thế màchỉ căn cứ vào ý thức của thời đại ấy Trái lại phải giải thích ý thức ấy bằngnhững mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có của lựclượng sản xuất xã hội và quan hệ sản xuất xã hội"(1)

Từ những quan niệm trên Mác đi đến một kết luận hết sức kháiquát: "Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình con người có nhữngquan hệ nhất định, tất yếu không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức nhữngquan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triểnnhất định của lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn bộ những quan hệsản xuất vật chất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế - xã hội, tức là cái cơ sở hiệnthực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị vànhững hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thựcđó"(2)

Từ đó Mác đi tới định nghĩa "hình thái kinh tế - xã hội là một phạmtrù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch

sử nhất định với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng do xã hội đó phù hợp

Trang 11

với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất với một kiến trúc thượngtầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy"(3)

3 ý nghĩa to lớn và giá trị bền vững của học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội

3.1 ý nghĩa khoa học và cách mạng của học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội

3.1.1 ý nghĩa khoa học

Xét trong bối cảnh lịch sử của khoa học xã hội nói chung và triếthọc nói riêng, có thể nói rằng học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội củaMác ra đời là một cuộc cách mạng thật sự Khác với tất cả các lý luận duytâm thần bí hay siêu hình trước đó, nó đã chỉ ra động lực của lịch sử khôngphải là một thứ thần bí nào mà chính là hoạt động thực tiễn của con người

mà trước hết hoạt động đó là sản xuất vật chất, hoạt động đó xuất phát từ

"cái sự thật hiển nhiên là trước hết con người phải cần ăn, uống, ở và mặcnghĩa là phải lao động trước khi có thể đấu tranh để giành thống trị trướckhi có thể hoạt động chính trị, tôn giáo, triết học "(1)

Khác với các lý luận trước đó không thấy được quy luật, những biểuhiện phổ biến tồn tại trong tất cả các chế độ Mác làm nổi bật những quan

hệ xã hội vật chất, do đó cung cầu cho xã hội khoa học một tiêu chuẩn hoàntoàn khách quan để thấy được quy luật xã hội " Có thể đem những chế

độ của các nước khác nhau khái quát lại một khái niệm cơ bản duy nhất là:

"hình thái kinh tế - xã hội" chỉ ra sự khái quát đó mới cho phép chuyển từviệc mô tả những hiện tượng xã hội sang phân tích hiện tượng đó một cáchhết sức khoa học"(2)

3.1.2 ý nghĩa cách mạng

quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.15.

Trang 12

Học thuyết này chỉ ra mâu thuẫn bên trong của mỗi hình thái kinh tế

- xã hội và chính sự vận động của mâu thuẫn này cuối cùng dẫn đến sựchuyển hóa một hình thái kinh tế - xã hội này sang một hình thái kinh tế -

xã hội khác Do đó, một mặt khẳng định tính tất yếu của trật tự hiện thời,trật tự của chế độ tư bản chủ nghĩa, mặt khác Mác cũng chứng minh luôn

cả tính tất yếu của một trật tự cao hơn mà hình thái kinh tế - xã hội TBCNnhất thiết phải trải qua

Học thuyết này cũng đã chứng minh được một sự thật hiển nhiên dotính tất yếu của sự ra đời hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa

3.2 Giá trị bền vững của học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội

Lịch sử phát triển của xã hội đã trải qua những thời kỳ khác nhau:thời kỳ đồ đá, thời kỳ đồ đồng, thời kỳ cối xay gió, thời đại máy hơi nước

và gần đây là các nền văn minh: văn minh nông nghiệp, văn minh côngnghiệp, văn minh hậu công nghiệp Mỗi cách tiếp cận nêu trên đều cónhững điểm hợp lý nhất định và do đó đều có ý nghĩa nhất định nhưng chưanói lên được bản chất sự phát triển xã hội một cách toàn diện tổng thể, do

đó có những hạn chế

Chỉ có cách tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội của Mác là cách tiếpcận khoa học nhất để phân tích lịch sử và nhận thức vấn đề của xã hội.Năm 1859, trong "lời tựa" cuốn góp phần nói về cấu trúc hình thái kinh tế -

xã hội và cơ chế vận động của nó Mác viết: "Trong sự sản xuất xã hội củamình con người có những quan hệ nhất định, tất yếu không tùy thuộc vào ýmuốn của họ những quan hệ này phù hợp với trình độ phát triển nhất địnhcủa lực lượng sản xuất vật chất của họ"(1)

Sau này vào năm 1888 Ăngghen tóm tắt quan iệm về hình thái kinh

tế - xã hội và nhấn mạnh cơ sở cắt nghĩa lịch sử Ăngghen viết: "Trong mỗithời đại lịch sử, phương thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi cùngvới cơ cấu xã hội do phương thức đó quyết định đã cấu thành cơ sở lịch sử

Trang 13

chính trị của thời đại và lịch sử phát triển trí tuệ của thời đại, cái cơ sở màchỉ có xuất phát từ đó mới cắt nghĩa được lịch sử"(2).

Như vậy, chỉ có Mác và Ăngghen mới đưa ra được quan niệm tổngthể toàn vẹn về sự phát triển xã hội, theo sát quy luật vận động xã hội

4 Hiểu như thế nào về sự phát triển hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên

4.1 Sự phát triển hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch

sử tự nhiên

Lịch sử phát triển của CNXH trải qua nhiều giai đoạn nối tiếp nhau

từ thấp đến cao Tương ứng với mỗi giai đoạn là một hình thái kinh tế - xãhội, sự vận động thay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch

sử đều do tác động của các ***** khách quan Đó là một quá trình lịch sử

tự nhiên Mác viết: "Tôi coi sự phát triển những hình thái kinh tế - xã hội làmột quá trình lịch sử tự nhiên" Điều này được Lênin giải thích thêm:

" chỉ có đem những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, vào trình

độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vữngchắc để quan niệm về sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội làmột quá trình lịch sử tự nhiên và dĩ nhiên là không có một quan điểm nhưthế thì không thể có một khoa học xã hội được"

Chúng ta đều biết, quy luật của đời sống xã hội có đặc điểm là tácđộng thông qua con người Song không phải vì thế mà nó không mang tínhkhách quan Ngược lại, xã hội vận động theo quy luật không ngừng phụthuộc mà còn quy định cả ý chí, ý thức và ý định của con người

Lịch sử là lịch sử hoạt động của con người để thỏa mãn mục đíchcủa bản thân nhưng không thể hoạt động tùy tiện mà phải tuân theo quyluật khách quan Mỗi một hình thái kinh tế - xã hội được coi như là một cơthể xã hội tự phát triển theo những quy luật vốn có của nó, một cơ thể riêng

Ngày đăng: 05/08/2019, 09:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w