Đề thi giữa kì, cuối kì môn Luật ngân hàng, ngành Luật thương mại quốc tế, luật ngân hàng, luật kinh doanh. Câu 1: Theo các Anh (Chị), bản chất của quan hệ tiền gửi là quan hệ gửi giữ hay quan hệ vay tài sản? Chứng minh. Trả lời. Câu 2: Bà Nguyễn Thị Hồng có 2 khoản tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng LMS. Mỗi sổ tiết kiệm với số tiền 1 tỷ đồng, thời hạn là 12 tháng, ngày bắt đầu thời hạn là ngày 01022019. Theo thỏa thuận thì bà Hồng được quyền rút trước hạn và sẽ hưởng lãi theo mức lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn. Vào tháng 102019, bà Hồng và chồng ly hôn. Chồng bà Hồng (Ông Hào) đã gửi đơn xin ly hôn ra tòa án và tòa án đã thụ lý. Vì cho rằng bà Hồng ngoại tình nên Ông Hào đã đến yêu cầu ngân hàng phong tỏa tài khoản của bà Hồng và không cho bà Hồng rút tiền cho đến khi có quyết định ly hôn của Tòa án. Ông Hào cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng vì tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, các bên không thỏa thuận về tài sản khác.
Trang 1Câu 1: Theo các Anh (Chị), bản chất của quan hệ tiền gửi là quan hệ gửi giữ hay quan hệ vay tài sản? Chứng minh.
Trả lời:
Bản chất của quan hệ tiền gửi là quan hệ cho vay tài sản
Theo Điều 453 BLDS 2015, quan hệ cho vay tài sản là trường hợp bên cho vay giao tài sản cho bên vay, khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định Trong khi đó, quan hệ gửi giữ tài sản, theo quy định tại Điều 554 BLDS 2015, bên giữ nhận tài sản của bên gửi để bảo quản và trả lại chính tài sản đó cho bên gửi và nhận tiền công nếu có khi đến hạn
Có thể thấy trong quan hệ tiền gửi: Thứ nhất, người gửi tiền gửi cho ngân hàng
một số tiền và khi đến hạn hoặc khi có yêu cầu nhận lại tiền, ngân hàng sẽ hoàn trả lại
một số tiền tương đương với số tiền mà người gửi đã gửi Số tiền được hoàn trả này khác
với số tiền mà bên nhận gửi giữ trong quan hệ gửi giữ phải hoàn trả, đó là trả lại chính tài
sản (tức chính xác những đồng tiền mà bên gửi tiền đã đưa cho bên nhận), điều này là
không thể xảy ra vì ngân hàng sẽ nhập số tiền này của khách hàng vào chung với tài sản của mình nhằm thực hiện các hoạt động như cho khách hàng vay, cho các TCTD vay, đầu tư, do đó đồng tiền của người gửi sẽ không thể nằm im mà di chuyển đi rất nhiều nơi, việc trả lại chính xác từng đồng tiền là điều không thể Hơn nữa, sau khi đến hạn hoặc có yêu cầu thì ngoài số tiền ban đầu đã gửi, người gửi còn được nhận thêm một khoản lãi mà hai bên thỏa thuận mà không phải là tiền công giữ tài sản
Thứ hai, việc người gửi gửi tiền cho ngân hàng đã thiết lập cho ngân hàng quyền
sở hữu số tiền đó, tức là quyền sở hữu đã được chuyển giao từ người gửi tiền sang ngân hàng, người gửi tiền chỉ còn lại quyền yêu cầu trả lại tiền và lãi Việc này thể hiện ở chỗ, nếu ngân hàng làm mất số tiền này, ngân hàng sẽ là người chịu trách nhiệm đền bù lại số tiền đã làm mất, khách hàng không phải chịu trách nhiệm và chỉ cần được trả lại đúng số tiền mà mình đã gửi kèm lãi mà thôi (nếu lỗi không phải từ phía khách hàng) Tuy nhiên quyền sở hữu này không được quy định rõ trong pháp luật ngân hàng Việt Nam và có những quy định khác có thể gây nhầm lẫn về quyền sở hữu tiền gửi ví dụ như quy định tại Khoản 1 Điều 7 TT 48/2018/TT-NHNN: “Thẻ tiết kiệm hoặc sổ tiết kiệm (sau đây gọi
chung là Thẻ tiết kiệm) là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu tiền gửi tiết kiệm của người
gửi tiền tại tổ chức tín dụng [ ]”
Như vậy, có thể kết luận rằng, theo quy định của BLDS 2015, quan hệ gửi tiền mang bản chất của một quan hệ cho vay thể hiện ở hai điểm chính, một là số tiền được hoàn trả lại là số tiền tương đương với số tiền gửi mà không phải là chính xác từng đồng
Trang 2tiền được gửi; hai là quyền sở hữu số tiền được chuyển giao từ người gửi sang ngân hàng Mặc dù tồn tại quy định gây nhầm lẫn nhưng nó không thể phủ định bản chất của quan hệ tiền gửi là một quan hệ cho vay Việc tồn tại quy định như vậy đã tạo ra sự mâu thuẫn giữa bản chất và quy định trên văn bản, dẫn đến những nhầm lẫn trong việc xác định quan
hệ này
Câu 2: Bà Nguyễn Thị Hồng có 2 khoản tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng LMS Mỗi sổ
tiết kiệm với số tiền 1 tỷ đồng, thời hạn là 12 tháng, ngày bắt đầu thời hạn là ngày 01/02/2019 Theo thỏa thuận thì bà Hồng được quyền rút trước hạn và sẽ hưởng lãi theo mức lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn
Vào tháng 10/2019, bà Hồng và chồng ly hôn Chồng bà Hồng (Ông Hào) đã gửi đơn xin
ly hôn ra tòa án và tòa án đã thụ lý
Vì cho rằng bà Hồng ngoại tình nên Ông Hào đã đến yêu cầu ngân hàng phong tỏa tài khoản của bà Hồng và không cho bà Hồng rút tiền cho đến khi có quyết định ly hôn của Tòa án Ông Hào cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng vì tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, các bên không thỏa thuận về tài sản khác
2.1 Hỏi: Ngân hàng có nghĩa vụ phải đáp ứng yêu cầu của Ông Hào không? Vì sao?
Được biết: Ông Hào đã gửi kèm theo đơn yêu cầu văn bản quyết định của Tòa án về thụ
lý đơn xin ly hôn
Trả lời:
Ngân hàng không có nghĩa vụ phải đáp ứng nhu cầu của Ông Hào
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 10 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi,
bổ sung năm 2017): “Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm sau đây: [ ] 3 Từ chối việc điều tra, phong tỏa, cầm giữ, trích chuyển tiền gửi của khách hàng, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sự chấp thuận của khách hàng;”
Như vậy, để đáp ứng nhu cầu của Ông Hào là phong tỏa tài khoản của bà Hồng, ngân hàng phải thỏa mãn một trong hai yếu tố: Hoặc là (1) có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc là (2) được sự chấp thuận của khách hàng, nếu không thì ngân hàng phải từ chối yêu cầu
Có thể thấy, đối với đơn yêu cầu văn bản quyết định của Tòa án về thụ lý đơn xin
ly hôn mà ông Hào đã gửi kèm theo yêu cầu của mình, đây chỉ là đơn yêu cầu của ông Hào, chưa phải là văn bản chính thức mà Tòa án cung cấp, và cũng không có thông tin cho thấy Tòa án yêu cầu phong tỏa tài khoản của bà Hồng Do đó không xuất hiện trường hợp (1) có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Đối với trường hợp (2) được sự chấp thuận của khách hàng:
Trang 3Thứ nhất, khách hàng trong trường hợp này chỉ là bà Hồng, không phải là cả Ông
Hào và bà Hồng Ông Hào cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng vì tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân là không có căn cứ vì theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Thông tư 48/2018/TT-NHNN: “Tiền gửi tiết kiệm chung là tiền gửi tiết kiệm của từ hai người gửi tiền trở lên.”; và theo quy định tại Khoản 2 Điều 7: “Thẻ tiết kiệm phải có tối
thiểu các nội dung sau: [ ] Họ tên, số và ngày cấp Giấy tờ xác minh thông tin của người gửi tiền hoặc của tất cả người gửi tiền (đối với tiền gửi tiết kiệm chung) [ ]” Như vậy,
theo tình huống trên sổ tiết kiệm chỉ có tên bà Nguyễn Thị Hồng và không có thông tin về việc ông Hào cũng có tên trên sổ tiết kiệm, do đó chỉ duy nhất bà Hồng là chủ sở hữu của
2 tài khoản tiết kiệm trên, vì vậy bà Hồng là khách hàng trong tình huống này
Thứ hai, việc phong tỏa tài khoản phải được sự chấp nhận của khách hàng, tức bà
Hồng Tuy nhiên không có thông tin nào cho thấy bà Hồng chấp nhận phong tỏa tài khoản cả
Như vậy, ngân hàng không có nghĩa vụ phải đáp ứng nhu cầu của Ông Hào
2.2 Việc ly hôn không thành do Ông Hào đã chủ động rút đơn xin ly hôn Tuy vậy, mỗi
quan hệ giữa hai vợ chồng vẫn không tốt lên là bao Vào tháng 12/2019, Ông Hào đã lấy
2 sổ tiết kiệm và các giấy tờ tùy thân của bà Hồng Tận dụng mối quen biết với một số cán bộ tại xã, ông Hào đã làm giấy ủy quyền khống (không có ý kiến của bà Hồng) và đã giả chữ ký của Bà Hồng trong giấy ủy quyền dưới sự chứng thực của UBND xã
Ông Hào đã được ngân hàng LMS chi trả tiền dựa trên văn bản ủy quyền được lập khống cùng với sổ tiết kiệm
5 ngày sau, Bà Hồng đã phát hiện ra và đến thông báo với ngân hàng về việc mất sổ tiết kiệm Tuy nhiên, ngân hàng LMS từ chối giải quyết vì cho rằng ngân hàng đã tuân thủ đúng thủ tục chi trả tiền tiết kiệm Vụ việc có dấu hiệu tội phạm nên ngân hàng chuyển vụ việc qua cho cơ quan điều tra và không đồng ý giải quyết khiếu nại đối với Bà Hồng Theo anh (chị), (i) anh (chị) có nhận xét gì về cách xử lý của ngân hàng? (ii) trong vụ việc này, ngân hàng có nghĩa vụ chi trả tiền gửi tiết kiệm cho Bà Hồng hay không? Vì sao?
(i) anh (chị) có nhận xét gì về cách xử lý của ngân hàng?
Trả lời:
(1) Việc ngân hàng LMS từ chối giải quyết vì cho rằng ngân hàng đã tuân thủ đúng thủ tục chi trả tiền tiết kiệm là không đúng.
Theo quy định tại Điều 18 Thông tư 48/2018/TT-NHNN quy định về thủ tục chi trả tiền gửi tiết kiệm bao gồm yêu cầu khách hàng cung cấp các giấy tờ liên quan (Khoản 1) cũng như ngân hàng có trách nhiệm đối chiếu thông tin (Khoản 2) và theo quy định tại Điểm b Khoản 4 về hướng dẫn thủ tục chi trả và đảm bảo chi trả chính xác, an toàn cho
Trang 4người gửi đối với Chi trả tiền gửi tiết kiệm theo ủy quyền của người gửi tiền, có thể thấy, nghĩa vụ chi trả tiền gửi tiết kiệm cho đúng người là nghĩa vụ của ngân hàng Ngân hàng
có nghĩa vụ kiểm tra tính hợp pháp của giấy ủy quyền, ngoài ra giấy ủy quyền khống còn
có chữ kí giả, ngân hàng phải nhận dạng được chữ kí trong trường hợp này là chữ ký giả khác với chữ kí mẫu được lưu tại ngân hàng Tuy nhiên ngân hàng đã không kiểm tra kĩ lưỡng dẫn đến chi trả sai người
Do đó, ngân hàng cũng phải chịu trách nhiệm giải quyết vấn đề này
(2) Vụ việc có dấu hiệu tội phạm nên ngân hàng chuyển vụ việc qua cho cơ quan điều tra và không đồng ý giải quyết khiếu nại đối với Bà Hồng là không hợp lý.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 15a TT 23/2014/TT-NHNN được sửa đổi bổ sung bởi TT 32/2016/TT-NHNN: “Trường hợp vụ việc có dấu hiệu tội phạm, ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự và báo cáo Ngân hàng Nhà nước (Vụ Thanh toán, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố trên địa bàn); đồng thời, thông báo bằng văn bản cho khách hàng về tình trạng xử lý đề nghị tra soát, khiếu nại Việc xử lý kết quả tra soát, khiếu nại thuộc trách nhiệm giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền [ ].” Như vậy, ngân hàng đã thực hiện đúng việc chuyển vụ việc qua cho cơ quan điều tra (cơ quan nhà nước có thẩm quyền) theo quy định của pháp luật
Tuy nhiên, như đã phân tích ở câu 1, việc gửi tiền tiết kiệm ở ngân hàng là một quan hệ mang bản chất quan hệ cho vay, Ngân hàng là người có quyền sở hữu số tiền mà
bà Hồng đã gửi, còn bà Hồng có quyền yêu cầu trả tiền và lãi, do đó khi ngân hàng chi trả sai người dẫn đến bị mất số tiền đó, ngân hàng là người bị mất tiền có quyền tham gia vào
vụ án hình sự để đòi lại tiền, còn với bà Hồng, ngân hàng còn quan hệ cho vay tức là còn trách nhiệm với bà Hồng do đó ngân hàng có nghĩa vụ phải giải quyết khiếu nại đối với
bà Hồng
Như vậy, ngân hàng chuyển vụ việc qua cho cơ quan điều tra và không đồng ý giải quyết khiếu nại đối với Bà Hồng là không đúng
(ii) trong vụ việc này, ngân hàng có nghĩa vụ chi trả tiền gửi tiết kiệm cho Bà Hồng hay không? Vì sao?
Trả lời:
Ngân hàng có nghĩa vụ chi trả tiền gửi tiết kiệm cho Bà Hồng
Thứ nhất, ngân hàng vẫn bị ràng buộc trách nhiệm đối với quan hệ gửi tiền giữa bà Hồng và ngân hàng Như đã phân tích ở trên, đây là quan hệ gửi tiền, mang bản chất quan
hệ cho vay, quyền sở hữu số tiền mà bà Hồng gửi thuộc ngân hàng, bà Hồng có quyền đòi
Trang 5lại tiền và lãi tương ứng theo thỏa thuận Việc ngân hàng chi trả sai người dẫn đến ngân hàng bị mất đi số tiền của mình, và có quyền tham gia vào vụ án hình sự nhằm đòi lại số tiền bị mất chính là nhằm đòi lại quyền lợi cho chính ngân hàng chứ không phải cho bà Hồng, do đó không làm mất đi quan hệ gửi tiền giữa bà Hồng và ngân hàng, và do đó, ngân hàng vẫn bị ràng buộc trách nhiệm giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ này
Thứ hai, việc chi trả sai người là lỗi của ngân hàng do không kiểm tra xác minh kĩ tính hợp pháp và chính xác của giấy ủy quyền cũng như chữ kí của bà Hồng, bà Hồng không hề có lỗi trong trường hợp này do đó ngân hàng không thể từ chối trách nhiệm của mình vì ngân hàng là bên sai
Như vậy, ngân hàng có nghĩa vụ chi trả tiền gửi tiết kiệm cho bà Hồng khi bà Hồng có yêu cầu