Về mặt lý luận, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, có hệ thống và trực tiếp liên quan đến CCPL phòng, chống MBN từ quy định pháp luật, tổ chức bộ máy, c
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI HỌC VIỆN
CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRƯƠNG HỒ HẢI PGS.TS NGUYỄN VĂN MẠNH HỒ ẢI S, TS NGUYỄN VĂN MẠNH Phản biện 1:………
………
Phản biện 2:………
………
Phản biện 3: ………
………
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2020
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia và
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 3DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƢỢC CÔNG
BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Đỗ Thị Lý Quỳnh (2017), “Chống tội phạm mua bán người – từ
quá khứ đến hiện tại”, Tạp chí Giáo dục và xã hội, (04),
tr.96-99
2 Đỗ Thị Lý Quỳnh (2017), “Nâng cao hiệu quả vận động quần
chúng tham gia phòng, chống mua bán người trên địa bàn
các tỉnh Tây Bắc hiện nay”, Tạp chí Giáo dục và xã hội,
(06), tr.257-260
3 Đỗ Thị Lý Quỳnh (2017), “Công tác phối hợp giữa lực lượng
Công an nhân dân và Bộ đội Biên phòng trong phòng, chống tội phạm mua bán người xuyên quốc gia ở vùng Tây
Bắc”, Tạp chí Cảnh sát, (03), tr.69-72
4 Đỗ Thị Lý Quỳnh (2020), “Một số ý kiến về tội mua bán người
quy định tại Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015”, Tạp chí
Tòa án nhân dân, (04), tr.38-42
5 Đỗ Thị Lý Quỳnh (2020), “Interational experience in building the
legal mechanism for prevention and combat against human trafficking: Lessons for Việt Nam” (Kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán
người: Bài học cho Việt Nam), Tạp chí Khoa học trường
Đại học Mở Hà Nội, (65), tr.51-57
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo báo cáo của Cơ quan phòng, chống ma túy và tội phạm Liên hợp quốc, tội phạm mua bán người (MBN) đang trở thành nhóm tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia nguy hiểm nhất trên thế giới, với trên 17,5 triệu người là nạn nhân của tội phạm MBN, gần
21 triệu người đang bị cưỡng bức lao động và lợi nhuận từ hoạt động buôn bán người ước tính đạt tới 150 tỉ USD Ít nhất 152 quốc gia là điểm xuất phát và 124 quốc gia là đích đến chịu tác động của nạn MBN, 800.000 nạn nhân bị buôn bán qua biên giới mỗi năm, 33% nạn nhân là trẻ em, cứ 3 nạn nhân trẻ em thì có 2 nạn nhân là trẻ em gái, cùng với nạn nhân nữ họ chiếm đến 70% nạn nhân của các vụ MBN trên toàn thế giới Hàng năm, có khoảng 244 triệu người di cư mỗi năm và rất nhiều người trong số đó trở thành nạn nhân của MBN Các nước tiểu vùng sông Mê Kông (trong đó có Việt Nam) vẫn bị đánh giá là điểm nóng của tình trạng MBN, di cư trái phép với số nạn nhân lên đến gần 12 triệu người và lợi nhuận thu được ở khu vực này lên đến hàng chục tỉ USD mỗi năm
Đứng trước thách thức trên, cộng đồng quốc tế đã hình thành những cơ chế pháp lý (CCPL) ở các cấp độ từ song phương, đa phương
và toàn cầu về phòng, chống MBN nhằm bảo vệ các giá trị cơ bản của nhân loại, bảo vệ quyền con người đặc biệt là nhóm người dễ bị tổn thương Trong đó nổi bật là Công ước “Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia” (Công ước TOC) được Liên hợp quốc thông qua ngày 15/11/2000 Kèm theo đó là Nghị định thư về "Phòng ngừa, trấn áp, trừng trị tội phạm buôn bán người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em" (Nghị định thư TIP) đã tạo tiền đề cho việc hình sự hóa và hợp tác quốc tế trong đấu tranh với tội phạm buôn bán người Từ năm 2013S, ngày 30/7
hàng năm được Liên hợp quốc chọn là Ngày Quốc tế phòng, chống buôn
bán người nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng quốc tế về tội phạm
buôn bán người Tại khu vực Đông Nam Á cũng đã hình thành các cơ chế phòng, chống MBN như Tiến trình Bali chống di cư trái phép, buôn bán người và tội phạm xuyên quốc gia, Sáng kiến cấp Bộ trưởng các nước tiểu vùng sông Mê Kông (Commit) về chống MBN, Công ước Asean về phòng, chống MBN đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (ACTIP) Việt Nam - quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á - khu vực phát triển mạnh mẽ về du lịch, dịch vụ và lao động, với điều kiện vị trí địa lý thuận lợi và đường biên giới dài tiếp giáp các quốc gia có hệ
Trang 5thống pháp luật khác biệt, có sự chênh lệch giới tính lớn, thiếu hụt lao động đặc biệt là lao động nặng nhọc, lao động trong các ngành dịch vụ giải trí nên Việt Nam được coi là quốc gia nguồn của tội phạm MBN Tội phạm MBN tại Việt Nam mặc dù có chiều hướng giảm cả về số vụ lẫn số đối tượng và nạn nhân nhưng nhìn chung vẫn còn diễn ra rất phức tạp cả trong nội địa và xuyên biên giới với sự đa dạng về nạn nhân (nữ giới, nam giới, trẻ em và bào thai) Tính từ năm 2012 đến 6/2020 cả nước phát hiện 3.097 vụ với 4.496 đối tượng lừa bán 6.808 nạn nhân, hơn 85% trong số này đã bị đưa ra nước ngoài trong đó đưa sang Trung Quốc chiếm hơn 70% và hơn 90% số nạn nhân là nữ giới, trong đó dưới 16 tuổi chiếm tới 16% Số nạn nhân bị mua bán trong nước ước chiếm 1,13% nhưng chưa được thống kê và đánh giá toàn diện Chưa kể đến khoảng 30.000 phụ nữ, trẻ em vắng mặt lâu dài nghi
bị mua bán, hơn 80.000 phụ nữ xuất cảnh lấy chồng nước ngoài và hàng vạn lao động Việt Nam hoạt động thường xuyên cũng như thời
vụ ở bên ngoài lãnh thổ dưới nhiều hình thức từ lao động chính thức đến lao động bất hợp pháp tiềm ẩn nhiều nguy cơ bị bóc lột, bị mua bán chưa được xác minh, thống kê đầy đủ Điều này, đã xâm phạm nghiêm trọng tới quyền con người, trật tự an toàn xã hội và ảnh hưởng tới uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế
Đứng trước tình hình đó, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều giải pháp nhằm hạn chế và ngăn ngừa tội phạm MBN trong
đó nổi bật là Luật Phòng, chống MBN 2011, Chương trình hành động quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016-2025 tầm nhìn đến 2030; Chương trình hành động quốc gia phòng, chống tội phạm MBN giai đoạn 2016 – 2020 (Chương trình 130/CP); thành lập ban chỉ đạo phòng chống tội phạm của Chính phủ (Ban chỉ đạo 138) Bên cạnh đó,
Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015, sửa đổi bổ sung 2017 được ban hành với quy định tội MBN theo hướng tiếp cận gần hơn với khái niệm Nghị định thư TIP Từ năm 2013, ngày 30/7 hàng năm được Việt Nam chọn là ngày "Toàn dân phòng, chống mua bán người"
Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực của Chính phủ cũng như của cộng đồng quốc tế, trên thực tế tội phạm MBN ở Việt Nam vẫn diễn biến hết sức nghiêm trọng và so với các loại tội phạm khác, tội phạm MBN có tỉ lệ tội phạm ẩn rất cao Điều này cho thấy bên cạnh những
lý do khách quan, còn nhiều bất cập, hạn chế như quy định pháp luật còn dàn trải, chưa bám sát thực tiễn từ quy định của BLHS, Luật Tố tụng hình sự (TTHS), Luật Phòng, chống MBN đến các văn bản pháp luật khác; hoạt động công vụ còn yếu, chồng chéo; nguồn nhân lực,
Trang 6năng lực trong thực thi công vụ còn hạn chế; công tác phối kết hợp chưa đạt kết quả từ hoạt động phòng ngừa, đấu tranh, hợp tác quốc tế, giải cứu, xác minh, chuyển tuyến và tái hòa nhập cộng đồng cho nạn nhân; nguồn lực đấu tranh chưa được quan tâm tương xứng; nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế Do vậy, nhiệm vụ cấp bách đặt ra là nghiên cứu lý luận, phân tích toàn diện về thực trạng CCPL phòng, chống MBN, tìm ra nguyên nhân và đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay
Về mặt lý luận, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, có hệ thống và trực tiếp liên quan đến CCPL phòng, chống MBN từ quy định pháp luật, tổ chức bộ máy, công tác phối kết hợp đến các yếu tố tác động ảnh hưởng Hệ thống lý luận về CCPL phòng, chống MBN còn nhiều khoảng trống, chưa thống nhất trong nhận thức về chức năng, nhiệm vụ giữa các chủ thể trong phòng, chống MBN nên hiệu quả hoạt động này trên thực tế còn nhiều bất cập, hạn chế
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài
"Cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán người ở Việt Nam hiện nay" làm luận án tiến sĩ Đây là đề tài có ý nghĩa thiết thực, cấp bách
về cả lý luận và thực tiễn
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích lý luận và đánh giá thực trạng CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam thời gian qua, mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam trong thời gian tới Với mục đích trên, luận án đã đề ra các nhiệm vụ cần nghiên cứu sau:
- Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
về lĩnh vực phòng, chống MBN và CCPL phòng, chống MBN
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của CCPL phòng, chống MBN từ khái niệm, đặc điểm, vai trò, các yếu tố cấu thành, các điều kiện bảo đảm, tiêu chí hoàn thiện của các yếu tố cấu thành
- Tìm hiểu CCPL phòng, chống MBN của một số quốc gia trong khu vực và rút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam
- Đánh giá thực trạng các yếu tố cấu thành CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay, từ đó xác định rõ những hạn chế, thiếu sót
và nguyên nhân
- Đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam trong giai đoạn tới
Trang 73 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay Quy định pháp luật hiện hành, tổ chức bộ máy, hoạt động công vụ và cơ chế phối kết hợp trong thực hiện các nội dung phòng, chống MBN
Từ đó chỉ ra những tồn tại hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam trong giai đoạn tới
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về nội dung: CCPL phòng, chống MBN là nội dung rộng, bao gồm các quy định của pháp luật, tổ chức hoạt động của các lực lượng chức năng, quy định pháp luật quốc tế liên quan đến hoạt động phòng, chống MBN Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu với chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, tác giả tập trung nghiên cứu luật hiện hành được quy định trong Luật Phòng, chống MBN, Điều 150 (Tội MBN) BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017
và Chương trình quốc gia phòng, chống MBN giai đoạn 2016 – 2020 Với chủ thể được đề cập có liên quan trực tiếp tới hoạt động phòng, chống MBN gồm Bộ Công an (BCA) với lực lượng Cảnh sát hình sự,
Bộ Quốc phòng với lực lượng Bộ đội Biên phòng (BĐBP) và Bộ LĐTBXH
- Về thời gian: đề tài nghiên cứu từ năm 2012 đến 6/2020 (năm
2012 là năm bắt đầu thực thi Luật Phòng, chống MBN)
- Về địa bàn: đề tài nghiên cứu trên phạm vi cả nước
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của đề tài dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác -
Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước, pháp luật, về thực hiện và bảo đảm quyền con người, về hội nhập quốc tế, về phát triển kinh tế gắn với bảo đảm an ninh trật tự, về đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác - Lê nin (phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử) với các phương pháp nghiên cứu cụ thể, bao gồm: phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê; phương pháp lịch
sử, hệ thống; phương pháp chuyên gia; tiếp cận đa ngành, liên ngành
Trang 8các khoa học xã hội với khoa học pháp lý Các phương pháp này được tác giả sử dụng đan xen, theo mục đích nhất định Cụ thể:
Chương 1: Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, các công trình khoa
học đã công bố trong và ngoài nước trong thời gian gần đây, tác giả
sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để từ đó xác định những nội dung đã được nghiên cứu chuyên sâu, những nội dung có thể kế thừa và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Qua đó có thể cho thấy bức tranh tổng thể các công trình có liên quan đến đề tài luận án
Chương 2: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp
để làm sáng tỏ các vấn đề về mặt lý luận Đồng thời tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu điển hình, phương pháp so sánh để phát hiện và nêu bật kinh nghiệm của một số quốc gia có liên quan ở khu vực trong việc tổ chức và thực thi phòng, chống MBN
Chương 3: Để đánh giá đúng thực trạng về phòng, chống MBN
tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê; phương pháp nghiên cứu lịch sử, hệ thống; phương pháp chuyên gia với việc trao đổi, học hỏi từ những nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn trong đấu tranh phòng, chống MBN cũng như tham gia, học hỏi từ các cuộc hội thảo khoa học để tạo ra bức tranh toàn cảnh quá trình hình thành và phát triển CCPL phòng, chống MBN qua các giai đoạn, đồng thời đánh giá đúng thực trạng CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam
Chương 4: Tác giả tập trung vào phương pháp phân tích tổng
hợp, phương pháp dự báo khoa học Trên cơ sở lý luận về CCPL phòng, chống MBN, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay, những thiếu sót, hạn chế trong việc xây dựng và vận hành cơ chế này để từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể
5 Đóng góp mới của luận án
Luận án góp phần làm rõ những vấn đề lý luận của CCPL phòng, chống MBN: khái niệm, đặc điểm, các yếu tố cấu thành, điều kiện bảo đảm, tiêu chí hoàn thiện của cơ chế
Luận án đã đánh giá thực trạng CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam từ quy định pháp luật và tổ chức bộ máy, thực thi công vụ
ở các nội dung phòng, chống MBN, gồm: phòng ngừa; phát hiện, xử
lý hành vi; tiếp nhận, xác minh, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân; hợp tác quốc tế và tổ chức bộ máy Từ đó, tác giả đã chỉ rõ những hạn chế, thiếu sót làm cơ sở góp phần đưa ra các giải pháp cụ thể, thiết thực, khả thi trong việc hoàn thiện CCPL phòng, chống MBN Đây là
Trang 9những giải pháp vừa có tầm vĩ mô của các nhà hoạch định chính sách vừa có tầm vi mô áp dụng trực tiếp vào hoạt động phòng, chống MBN của lực lượng chức năng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về phương diện lý luận, kết quả của luận án đã góp phần xây dựng cơ sở lý luận khoa học cho việc hoàn thiện CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay góp phần hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cá nhân, tổ chức trong bảo vệ quyền con người, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm; nâng cao nhận thức về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân
Về phương diện thực tiễn, luận án góp phần bổ sung những kiến thức hữu ích cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, giảng dạy cũng như nâng cao nhận thức của cộng đồng về thực trạng MBN và CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay Từ đó, làm cơ sở để các cơ quan chức năng hoạch định chính sách, hoàn thiện pháp luật, củng cố tổ chức bộ máy, bố trí nguồn lực và tăng cường các yếu tố bảo đảm nhằm đưa hoạt động phòng, chống MBN vận hành hiệu quả trên thực tế
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận án được kết cấu làm 4 chương và 12 tiết
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.1 Nhóm các công trình liên quan đến phòng, chống mua bán người
Có thể kể đến những công trình sau: Đề tài khoa học cấp nhà
nước Nghiên cứu xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh
phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia ở vùng Tây Bắc của GS, TS
Trương Giang Long; Đề tài khoa học cấp Bộ Tội phạm buôn bán phụ
nữ và trẻ em qua biên giới Việt Nam - Thực trạng và giải pháp của tác
giả Đặng Xuân Khang; Luận án Hoạt động của Chính phủ trong
Trang 10phòng ngừa hoạt động mua bán người ở Việt Nam của tác giả Đặng
Anh Tuấn; Luận án Phòng, chống mua bán người tại Việt Nam của tác giả Nguyễn Mai Trâm; Luận án Điều tra tội phạm mua bán người
qua biên giới Việt Nam - Campuchia theo chức năng của lực lượng cảnh sát hình sự của tác giả Phan Công Chuyển; Luận án Hoạt động phòng ngừa tội phạm mua bán người trên địa bàn các tỉnh, thành phố phía Bắc của lực lượng cảnh sát hình sự của tác giả Nguyễn Thị
Thúy Hạnh; Luận án Phòng ngừa tội phạm mua bán người tại các
tỉnh, thành phố phía Nam của tác giả Nguyễn Công Tâm
1.1.2 Nhóm các công trình liên quan đến cơ chế pháp lý
Có thể kể đến các công trình sau: Sách Cơ chế pháp lý về giám
sát của nhân dân thông qua mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị
- xã hội với các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay
của TS Hoàng Minh Hội chủ biên; Sách Cơ chế pháp lý kiểm soát
quyền lực nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam do GS, TS Nguyễn Minh Đoan chủ biên;
Sách Hoàn thiện CCPL đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội của TS Trương Thị Hồng Hà; Luận án Cơ chế pháp lý kiểm soát
quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Thị Hoài An; Luận án Cơ chế pháp
lý giám sát thực hiện các quy định của hiến pháp về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam của tác giả Chu Thị Thúy Hằng
1.1.3 Nhóm các công trình liên quan đến cơ chế pháp lý về phòng, chống mua bán người
Có thể kể đến các công trình như: Tài liệu “Hướng dẫn chính sách về hình sự hóa buôn bán người” do các thành viên tiến trình Bali
thực hiện; Sách chuyên khảo Hỏi đáp về luật phòng, chống mua bán
người của do GS.TS Nguyễn Ngọc Anh chủ biên; Sách chuyên khảo Giải pháp nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm mua bán người, đặc biệt là mua bán phụ nữ và trẻ em ra nước ngoài trong khuôn khổ Interpol của TS Đặng Xuân Khang; Bộ tài liệu Thúc đẩy bình đẳng giới trong phòng, chống mua bán người, hợp tác tư pháp quốc tế và ứng phó với tội phạm MBN trong khu vực Asean của
chương trình hợp tác Châu Á, Ôxtralia phòng, chống buôn bán
người; Luận án tiến sĩ Quan hệ phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng với
các lực lượng Công an nhân dân trong phòng ngừa tội phạm ở khu vực biên giới, đất liền" của tác giả Trần Hữu Phúc; Luận văn thạc sĩ Quan hệ phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng với lực lượng Công an tỉnh Hà Giang trong phòng, chống tội phạm mua bán người ở khu vực biên giới của tác giả Đỗ Quang Trung
Trang 111.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.2.1 Nhóm các công trình liên quan đến phòng, chống mua bán người
Có thể đến các công trình như: Sách chuyên khảo Human
Trafficking: A Global Perspective (Buôn bán người – Một nhận thức toàn cầu) của tác giả Louise Shelley; Sách chuyên khảo Human trafficking in the People's Republic of China (Buôn bán người ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa) của tác giả Fan Jia Yang; Sách
chuyên khảo của Harryl Cook J.K, Situation of Human Trafficking in
Australia - Fighting Solutions, AFP (Thực trạng buôn bán người ở
Australia – giải pháp phòng chống); Sách Human trafficking and
Slavery in America today (Buôn bán người và nô lệ ở Mỹ ngày nay) của
Ron Soodalter, Kevin Bales; Sách Human trafficking in Thailand:
Curent issues, trends, and the role of the Thai Governmet (Buôn bán
người ở Thái Lan: các vấn đề hiện tại, xu hướng và vai trò của Chính
phủ Thái Lan) của Sirok Soajakool; Luận án tiến sĩ Priventing and
combatting women trafficking from Viet Nam to China (Phòng ngừa
và đấu tranh mua bán phụ nữ từ Việt Nam sang Trung Quốc) của tác giả Phạm Cao Nhiên
1.2.2 Nhóm các công trình liên quan đến cơ chế pháp lý về phòng, chống mua bán người
Có các công trình nổi bật như: Sách Tackling human
trafficking in the Greater Mekong Sub-region (Giải quyết nạn buôn bán người ở Tiểu vùng sông Mekong) của Tổ chức Tầm nhìn Thế
giới và Chống buôn bán người; Sách The international law of human
trafficking (pháp luật quốc tế về buôn bán người) của tác giả Anne T
Gallagher; Luận án The United States Government Approach to
Human Trafficking: A Question of Human Rights, Economics, and Legislation (Cách tiếp cận của Chính phủ Hoa Kỳ về buôn bán
người: Một câu hỏi của Nhân quyền, Kinh tế và Pháp luật) của
Weakley Melissa
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU, GIẢ THUYẾT VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Nhận xét chung
Những đề tài nghiên cứu trong nước về tội phạm MBN đã được nghiên cứu ở hầu hết các khu vực, tuyến biên giới trọng điểm trong cả nước, ở các lĩnh vực khác nhau như hoạt động phòng ngừa
Trang 12xã hội, hoạt động phối kết hợp giữa các lực lượng, hoạt động công vụ của lực lượng chức năng, hoạt động hợp tác quốc tế Từ việc nghiên cứu thực trạng, diễn biến tình hình tội phạm MBN các đề tài đã đề ra các biện pháp hữu hiệu trong phòng, chống tội phạm MBN Tuy nhiên, các công trình này đa số thuộc mã ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, luật Hình sự nên không chuyên sâu vào CCPL phòng, chống MBN từ hệ thống pháp luật, hoạt động công vụ, hoạt động quản lý nhà nước, mối quan hệ phối hợp, hợp tác quốc tế hay tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân tái hòa nhập cộng đồng Mặt khác, các công trình đã nghiên cứu chưa có kinh nghiệm của các quốc gia có liên quan tới Việt Nam trong đấu tranh phòng, chống MBN, từ đó có
sự đối chiếu so sánh nhất định về sự tương quan cũng như những khác biệt giữa Việt Nam và các nước trong phòng, chống MBN
1.3.2 Những nội dung đƣợc luận án kế thừa và phát triển
- Về mặt lý luận: Đề tài có thể tiếp thu, kế thừa các nội dung về
nghiên cứu dưới góc đội Luật hình sự của tội MBN với 4 yếu tố khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan Hệ thống các quy định quốc tế, văn bản pháp luật trong nước cùng những hiệp định mà Việt Nam đã ký kết và tham gia Hoạt động công vụ cùng mối quan
hệ phối hợp của các lực lượng cũng được kế thừa
Mặt khác, vấn đề hoàn thiện CCPL trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đã và đang đặt ra yêu cầu bức thiết trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Các công trình này đã thể hiện đồng nhất trong một số vấn đề từ khái niệm, các yếu tố cấu thành vai trò hay các yếu tố bảo đảm Đây là những vấn đề mang tính lý luận khung
mà nghiên cứu sinh có thể tiếp thu và kế thừa
- Về mặt thực tiễn: Đề tài có thể kế thừa các số liệu đã được dẫn
nguồn, kiểm chứng trong các công trình nghiên cứu trước đây để thấy bức tranh toàn cảnh và diễn biến tình hình tội phạm MBN trong những năm qua Cũng như kế thừa các khía cạnh khác nhau trong việc phòng ngừa đấu tranh có hiệu quả với tội phạm MBN
- Về quan điểm, giải pháp phòng, chống mua bán người: Cơ
bản đề tài có thể tiếp thu các quan điểm mang tính chiến lược, chủ đạo của Đảng trong xây dựng phát triển kinh tế và đấu tranh với tội phạm trong tình hình mới, các giải pháp phòng ngừa xã hội và một số giải pháp phòng ngừa nghiệp vụ
1.3.3 Những vấn đề liên quan đến luận án nhƣng chƣa đƣợc giải quyết toàn diện
Trang 13Thứ nhất, về khía cạnh cơ chế pháp lý
Các công trình nghiên cứu với với mã ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật và nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu trực diện
về CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay CCPL phòng, chống MBN có đặc trưng gì, có vai trò gì, có các yếu tố cấu thành khác biệt cơ bản nào so với các CCPL thuộc các lĩnh vực đã từng được nghiên cứu
Thứ hai, về khía cạnh phòng, chống mua bán người
Các công trình đã từng nghiên cứu trước đây chủ yếu đi sâu phân tích các quy định của pháp luật hình sự, diễn biến tình hình tội phạm thông qua các số liệu cụ thể để từ đó tìm ra nguyên nhân
và giải pháp phòng ngừa khắc phục với biện pháp xã hội và biện pháp nghiệp vụ Các công trình đã nghiên cứu thường trên địa bàn
cụ thể, với tuyến biên giới nhất định, gắn với hoạt động công vụ của lực lượng nhất định nên tạo ra các bức tranh rời rạc, mang yếu
tố vùng miền, dưới hoạt động nghiệp vụ của một lực lượng nhất định Các yếu tố về quy định pháp luật, về mối quan hệ phối hợp tuy đã được nghiên cứu nhưng rời rạc không thống nhất và chủ yếu ở các bài báo, các cuộc hội thảo Do vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể các yếu tố cấu thành, đặc điểm vai trò của các yếu tố này sự tác động ảnh hưởng chi phối lẫn nhau trong vận hành CCPL phòng, chống MBN Mặt khác, trong phạm vi nghiên cứu của một luận án chưa có kinh nghiệm của một số quốc gia có
sự tương đồng, liên quan trong đấu tranh phòng, chống MBN từ quy định pháp luật đến tổ chức bộ máy nên chưa tạo ra bức tranh
so sánh, đối chiếu phù hợp
1.3.4 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận
án, tác giả xác định những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, những câu hỏi nghiên cứu mà luận án cần trả lời trên cả 3 phương diện về lý luận, thực tiễn và quan điểm giải pháp hoàn thiện CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay
Kết luận chương 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy trong lĩnh vực phòng, chống MBN đã có nhiều công trình nghiên cứu từ đặc điểm, diễn biến tình hình tội phạm, đến hoạt động công vụ của các lực lượng và mối quan hệ giữa các lực lượng trong phòng, chống MBN