Chính vì lí do đã thôi thúc, cho người thực hiện khóa luận này động lực lớn để nghiên cứu văn hóa làng quê dưới góc độ văn học, vừa nhạy cảm với thời cuộc, lại mang được sự tinh tế, sâu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI
KHOA VĂN HÓA HỌC -
ĐOÀN THỊ NGỌC
VĂN HÓA LÀNG QUÊ TRONG THƠ LỤC BÁT ĐƯƠNG ĐẠI
(TÌM HIỂU QUA THƠ ĐỒNG ĐỨC BỐN)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HOÀNG KIM NGỌC
HÀ NỘI - 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bài khóa luận này, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và tận tụy của các thầy (cô) giáo Khoa Văn hóa học Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, gia đình và bạn bè, đồng nghiệp.Em xin chân thành cảm
ơn sự giúp đỡ vô cùng quý báu đó
Đặc biệt qua đây em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô giáo – Tiến sĩ Hoàng Kim Ngọc - người đã hết lòng giúp đỡ
và chỉ bảo tận tình để em hoàn thành tốt nhất khóa luận này
Em xin gửi tới quí thầy(cô) trong Hội đồng bảo vệ lời cảm ơn chân thành!
Do bản thân còn hạn chế về trình độ nên khóa luận chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót, vậy nên em rất mong nhận được sự chỉ bảo,góp ý từ phía thầy
cô, đồng nghiệp và các bạn
Hà Nội, tháng 6 năm 2013
Tác giả khóa luận
Đoàn Thị Ngọc
Trang 3MỤC LỤC
¬
MỞ ĐẦU 2
Chương 1: VĂN HÓA LÀNG QUÊ VÀ VÀI NÉT SÁNG TÁC CỦA NHÀ THƠ ĐỒNG ĐỨC BỐN 11
1.1.Văn hóa – những vấn đề chung 11
1.1.1 Văn hóa và văn học 11
1.1.2 Đôi nét về văn hóa làng quê 20
1.2 Sự biểu hiện của văn hóa làng quê trong thơ ca dân tộc 23
1.2.1 Trong thơ ca dân gian 23
1.2.2 Trong thơ ca trung đại 27
1.2.3 Trong thơ ca hiện đại 30
1.3 Con đường sáng tạo thi ca của nhà thơ Đồng Đức Bốn 34
1.3.1 Trước khi đến với thi ca 35
1.3.2 Sau khi đến với thi ca 35
1.4 Đặc điểm của thể thơ lục bát 38
1.4.1 Triển khai tứ thơ 38
1.4.2 Xây dựng hình ảnh 38
1.4.3 Ngôn ngữ 39
1.4.4 Giọng điệu 40
Chương 2: NHỮNG BIỂU HIỆN VĂN HÓA LÀNG QUÊ TRONG THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN 41
2.1 Cảnh sắc làng quê 41
2.1.1 Cảnh sắc làng quê mượt mà và đằm thắm hiện lên trong thơ Đồng Đức Bốn 41
2.1.2 Cảnh sắc làng quê vương vấn nét truyền thống trong thơ Đồng Đức Bốn 45
2.2 Cảnh sinh hoạt văn hóa nơi làng quê 55
2.2.1 Phong tục tập quán hội hè đình đám 56
2.2.2 Những sinh hoạt đời thường của con người lao động chân lấm tay bùn. 61
2.3 Những nhân vật góp phần thể hiện văn hóa làng 64
2.3.1 Những người phụ nữ chân quê 64
Trang 42.3.2 Những lão nông, trai làng nơi thôn dã 68
2.3.3 Những em thơ của xứ đồng 69
2.4 Sự thay đổi của văn hóa làng quê trong cuộc sống mới 71
2.4.1 Những mã văn hóa mới mang tính tích cực 71
2.4.2 Những luồng văn hóa mang tính tiêu cực trong cuộc sống mới 73
2.5 Một số cách thức lưu giữ “phần hồn” văn hóa làng Việt 73
2.5.1 Thông qua hệ thống văn học về văn hóa làng Việt 73
2.5.2 Thông qua hệ thống các hoạt động văn hóa làng 74
2.5.3 Thông qua ý thức trách nhiệm của nhân dân 75
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 81
Trang 5MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.Trải qua sự vô tình của thời gian, mọi thứ được bồi đắp, nhưng có những giá trị một đi không trở lại, và để lại cho con người ta những khoảng không tĩnh lặng và hoài niệm về những điều đã qua và văn hóa làng nơi kí ức của mỗi con người là một điều minh chứng Đến với thời kì đương đại, người
ta bàn nhiều về văn hóa, nói nhiều về ảnh hưởng của nó tới đời sống con người và đã có không ít công trình nghiên cứu về văn hóa cội nguồn, đề tài được chú trọng nhiều hơn cả đó là văn hóa truyền thống Và văn hóa làng quê như là nguồn cảm hứng bất tận cho những nhà thơ đang đi tìm hồn cốt nơi làng quê đang bị lãng quên.Trong thời kì hội nhập đầy thử thách, văn hóa truyền thống hay hẹp hơn là văn hóa làng quê đang bị mai một mỗi ngày Thế
hệ trẻ họ đang mất định hướng về cái gọi là văn hóa truyền thống, họ đang lên tiếng bởi họ cần hiểu văn hóa dân tộc mình là gì và họ muốn hiểu về “ngôi làng văn hóa” đó Chính vì lí do đã thôi thúc, cho người thực hiện khóa luận này động lực lớn để nghiên cứu văn hóa làng quê dưới góc độ văn học, vừa nhạy cảm với thời cuộc, lại mang được sự tinh tế, sâu sắc và nhân văn của văn hóa bản thể lẫn khách thể của nó Hướng nghiên cứu này không phải đi theo lối mòn cổ điển mà nhìn một cách khách quan nhận diện được tính biện chứng giữa văn hóa và văn học nhằm chỉ ra mạch nguồn sâu sa văn hóa dân tộc chi phối tính sáng tạo của văn học và ngược lại văn học lại là hiện thân của văn hóa dân tộc
Đây là hướng nghiên cứu mang tính chất kế thừa và triển vọng rất phù hợp với thời cuộc
2 Với một đất nước một ngàn năm văn hiến, trải qua biết bao thời kì cách tân văn hóa Việt Nam như mang trong mình cốt lõi của văn hóa ngàn xưa, được gọi là “bản sắc dân tộc” Điều này được thể hiện qua từng văn hóa
Trang 6vùng miền, qua các điệu hò, điệu lí hay đơn giản là những câu ca dao truyền miệng tự ngàn đời Chính văn học là cây bút vạn năng cho ta viết lại những gì
ta cảm nhận, những gì ta yêu mến, và để lại những tác phẩm để đời và chính điều đó đã giúp cho văn hóa làng quê được hiện hữu ngay cả khi nó đã mất đi
3 Từ Bắc vào Nam con người Việt Nam gắn bó với ngọn lúa, bờ tre với hương đồng gió nội và từng lớp người họ lớn lên từ những lời ru, từ những điều bình dị ấy Mỗi con người ai cũng có quê, và “quê” được hiểu, được nhớ khác nhau giữa các thi nhân, nó chứa đầy phong vị đồng thơm dạ lúa với những cách tân độc đáo, hiện đại nhưng không làm mất đi tính truyền thống chân chất ấy với những tên tuổi gắn liền thời kì thơ đương đại: Bùi Giáng, Phạm Công Trứ, Đồng Đức Bốn, Nguyễn Duy…họ đi tìm những giá trị về văn hóa làng quê đang bị lãng quên
4 Trong vấn đề bảo tồn và lưu giữ văn hóa làng, điều quan trọng nhất
đó là việc phải lưu giữ như thế nào? Thì văn học đã trả lời bằng chính thể thơ lục bát mang dư vị của ca dao biến thể, lại mang phong thái của chất truyền thống ngàn xưa Qua đó tác giả văn học như lên tiếng cho những khát khao, ước mơ của những con người quanh năm chân lấm tay bùn, vì vậy thể thơ lục bát được ví như “cây bút đồng quê” trong diễn đàn văn học
5 Điều mà các nhà nghiên cứu về văn hóa làng quê, đó là thường bỏ qua bản sắc, mà chạy theo cái gọi là thực tế, thời cuộc, họ đánh mạnh ngòi bút của mình vào việc làm sao để bảo tồn bản sắc dân tộc, trong thời kì hội nhập
Mà họ không hiểu rằng muốn gìn giữ văn hóa dân tộc trước tiên phải hiểu nó
là cái gì? Và nó bao gồm những giá trị gì? nó ảnh hưởng như thế nào đến suy nghĩ, cuộc sống của mỗi con người Chính vì lẽ đó, Đại hội Đảng lần thứ VIII,
đã nhấn mạnh “xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”,
đó không phải là nhiệm vụ riêng có của Đảng, Nhà nước mà là nhiệm vụ cấp thiết của mỗi người dân Việt Nam trong nước và nước ngoài
6 Thể thơ lục bát đã có từ rất lâu đời, gắn liền với tên tuổi như đại thi hào Nguyễn Du với tác phẩm nổi tiếng “Truyện Kiều”, đến với thời kì đương đại vào khoảng hai thập kỉ trở lại đây, thơ lục bát phát triển mạnh mẽ đặc biệt
Trang 7được nhấn mạnh với sự có mặt của nhà thơ làng quê Đồng Đức Bốn trên thi đàn Việt Nam, cùng với đó là hai tác giả Nguyễn Duy và Phạm Công Trứ cũng vô cùng đậm chất quê Với những nguồn cảm hứng văn hóa làng vô tận, những tác giả ở cái tuổi ngũ tuần vẫn mang đầy chất ngông, với khuynh hướng đi tìm cái mới trong thể thơ lục bát đó là bằng việc thổi vào đó hồn quê
và họ đã thành công bằng chính sự cống hiến hết mình đó Văn hóa làng quê như tiềm ẩn trong mình một sức mạnh vô hình, tâm linh và huyền bí, nó như cuốn những thi nhân, tao nhân mặc khách trở thành “người tình” của nó tự bao giờ không hay Bởi chứa trong đó là tình yêu quê hương, yêu đất nước, yêu những gì đang hiện hữu và yêu cả những cái gì đã mất đi rồi Đó cũng chính là lí do, người làm khóa luận cũng muốn thử mình “nhấn chìm” vào trong đó để tìm lại những giá trị đã đang và sẽ bị quên lãng
7 Tính cho đến thời điểm này chưa có một công trình nghiên cứu chính thức nào nói về văn hóa làng quê thông qua thơ lục bát đương đại, mà nhấn mạnh tới “thi sĩ làng quê” – Đồng Đức Bốn Chính vì điều này đã làm tiền đề
để người làm khóa luận thực hiện đề tài này
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Văn hóa làng quê Việt, như một ẩn số cho những người chưa khám phá
ra nó, nó lại vừa là trái thơm chưa hề tròn trịa cho những ai tìm ra nó Và nhà thơ Đồng Đức Bốn là một minh chứng, ông luôn đi tìm cái hồn của quê, nhuộm chút buồn vương vấn cộng vào đó là phảng phất con người quê, cảnh sắc quê nơi đồng sâu chiêm trũng Đi cả một đời thơ nhưng Đồng Đức Bốn vẫn nghĩ mình chưa thực sự tìm thấy ở nơi đó cái điều gì đó còn thiêu thiếu, ở lưng chừng giữa tự giới Trong giới nghiên cứu đã phân ra làm hai thái cực, một bên coi Đồng Đức Bốn người bắc cầu cho thơ lục bát, nhưng phía còn lại coi thơ ông như một thứ “thơ mạ vàng” Điều đó được thể hiện qua các công trình nghiên cứu như thế nào? tôi xin khảo lược một số công trình nghiên cứu, bài viết có ý nghĩa với khóa luận này
Đồng Đức Bốn – người tình của thơ đồng quê thể lục bát đương đại, ông nổi lên từ cái chân chất, ngông ngạo của đời thường Ông bỏ đi những cái
Trang 8không hề cần thiết, tự rơi vào khoảng không của hiện thực mà trải nghiệm và như thế ông cùng biết bao tác động cả cuộc sống đời thường đã làm lên một Đồng Đức Bốn người thổi hồn cho thơ lục bát đương đại
Chính vì lí do đó hình tượng Đồng Đức Bốn, như một ma lực “hấp dẫn” các nhà nghiên cứu, các nhà bình thơ trong giới chuyên môn, với những lời bình phẩm trong các bài nghiên cứu như: Trong “Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn khác biệt và thành công”, kỷ yếu hội thơ tại Hải Phòng (15/5/2011),
do Đình Kính tuyển chọn, có 11 bài nghiên cứu về Đồng Đức Bốn trong tổng
số 44 bài Tôi xin nêu một số bài sau: Đồng Đức Bốn đa đoan thơ lục bát (Bùi Kim Anh), Những bài thơ cuối cùng của Đồng Đức Bốn (Đinh Quang Tốn),
Đồng Đức Bốn thơ và đời giữa cõi hư không (Vũ Thúy Hồng) Phần II – Dư
luận Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc có 42 bài viết về Đồng Đức Bốn, tôi xin
nêu một số bài sau: Đồng Đức Bốn Tiếng chuông chùa trong mưa(Khánh
Phương), Chờ đợi tháng ba (Chu Nguyễn), Đồng Đức Bốn – chàng thi sĩ đồng quê (Nguyễn Thanh Phong), Đồng Đức Bốn phiêu du vào thơ lục bát (Nguyễn Đăng Điệp).Bốn sáu tám (Nguyễn Việt Hà), Đọc thơ lục bát của Đồng Đức Bốn (Nguyễn Anh Thư) [7]
Đứng ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau các nhà nghiên cứu đều đưa
ra những ý kiến trái chiều nhau Nhưng đối với người làm trong nghề họ cũng chưa thực sự hiểu hết được dòng chảy của thời gian, hay chất quê trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn nó đậm đến như thế nào? Điều này đã thúc đẩy người nghiên cứu đề tài này, cố gắng bằng cả tâm và sức tìm hiểu sự khác biệt
trong thơ Đồng Đức Bốn với các nhà thơ khác
Đề tài này đi từ góc độ văn hóa học, dùng những lý thuyết văn hóa học,
đã học được nhìn nhận một hiện tượng thơ lục bát đương đại Đồng Đức Bốn, từng ý như vẽ lên bức họa đồng quê, văn hóa làng tích đọng trong từng nghĩa Văn hóa làng sẽ không chỉ đơn thuần quy phạm trong biểu tượng như: cây đa – bến nước – sân đình, mở rộng ra nó mang tính gắn kết cộng đồng của những con người quê Đó chính là mã văn hóa mới, mà người làm khóa luận mang tới cho bạn đọc thông qua sự tìm hiểu thơ lục bát Đồng Đức Bốn
Trang 9Điều này đã khẳng định tài năng thơ lục bát của Đồng Đức Bốn cũng như sự yêu thích và trân trọng của bạn đọc đối với những vần thơ lục bát hấp dẫn, giản dị, mộc mạc, thấm đẫm hồn quê của người thi sĩ tài hoa mà cũng lắm truân chuyên này
3.MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
- Mục đích: Tìm hiểu những biểu hiện của văn hóa làng quê được thể
hiện ở văn hóa làng quê trong thơ Đồng Đức Bốn, khóa luận này cho thấy được văn hóa làng quê Việt được khắc họa qua thể thơ truyền thống mà cách nhìn nhận mới
- Nhiệm vụ: Làm rõ hơn một sự vận động của văn hóa truyền thống
trong đời sống và những mã văn hóa mới được khám phá
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Đối tượng: Khóa luận tập trung vào việc thể hiện văn hóa làng quê trong
thơ lục bát đương đại qua khảo sát thơ lục bát của nhà thơ Đồng Đức Bốn
- Phạm vi: Chúng tôi tập trung vào nghiên cứu và sử dụng tài liệu nói
về văn hóa dân tộc, và sự thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc trong thơ ca để làm
cơ sở lý luận cho đề tài này
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khóa luận sử dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học sau:
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Văn hóa làng quê và vài nét sáng tác của nhà thơ Đồng Đức Bốn
Trang 10Chương 2: Những biểu hiện văn hóa làng quê trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn
Trang 11Chương 1 VĂN HÓA LÀNG QUÊ VÀ VÀI NÉT SÁNG TÁC CỦA NHÀ THƠ
ĐỒNG ĐỨC BỐN
1.1 VĂN HÓA – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1.1 Văn hóa và văn học
Quan niệm về văn hóa với bản thể có nghĩa nhiều chiều, nhiều hướng, văn hóa đã là “tâm điểm” của rất nhiều nhà nghiên cứu chú ý tới Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa đứng từ nhiều góc độ khác nhau
Với những thống kê của mình, giáo sư Phan Ngọc bằng việc sưu tầm của ông nhận định rằng có hơn 400 định nghĩa về văn hóa tính đến năm 1994
Và theo nhà nghiên cứu A Kroeber và Kluckhohn (người Mỹ), có trên 200 định nghĩa về văn hóa Đó là những con số, nhưng trên thực tế còn nhiều hơn thế, bởi lẽ trên thế giới sự đa sắc tộc, đa chủng tộc là nguyên nhân kế tiếp dẫn tới việc văn hóa được hiểu theo rất nhiều nghĩa khác nhau
Ở Việt Nam, từ văn hóa được các nhà nho Duy Tân du nhập vào từ đầu
thế kỷ này, cách hiểu khái niệm “văn hóa” không những là đã theo cách hiểu
của phương Tây mà đã từng bước thay đổi tương ứng với sự phát triển của nền khoa học châu Âu hiện đại Tuy nhiên, trước đó hàng chục thế kỷ cũng đã
có một quan niệm mang yếu tố truyền thống tương đồng với cái ngày nay
phương Tây gọi là “văn hóa”
Trong cách hiểu truyền thống, ta thấy có những mối quan hệ khăng khít
giữa những từ ngày nay gọi là văn hóa,văn minh, văn vật, văn hiến với
những nghĩa khác nhau.Tất cả đều có nguồn gốc từ chữ “văn”
Văn, theo cách hiểu trên là: “Cái đẹp của cương và nhu xen kẽ nhau đó
là văn của trời.Văn sáng tỏ rực rỡ, dừng lại ở lễ nghĩa đó là văn của người
Trang 12Xem xét văn của trời có thể hiểu được sự chuyển biến của bốn mùa Xem xét văn của người có thể thúc đẩy việc giáo hóa làm cho thiên hạ tốt đẹp (hóa)”
Hiểu văn hóa theo nghĩa“văn trị giáo hóa” là có sự tương đồng với
khái niệm “văn hóa” dịch từ chữ “culture” với ý nghĩa “trình độ phát triển,
lịch sử của xã hội và con người trong các giá trị vật chất và tinh thần, của những xã hội, dân tộc, bộ tộc cụ thể Theo nghĩa hẹp, văn hóa chỉ liên quan tới đời sống tinh thần của con người” (Bách khoa toàn thư Liên Xô, Mục
Kul’tura) [14]
Theo giáo sư Nguyễn Hồng Phong cũng nhận định: “văn hóa không
hoàn toàn thuộc thượng tầng kiến trúc,nó không thay đổi theo sự thay đổi của phương thức sản xuất, của cơ sở kinh tế xã hội Các cuộc cách mạng lớn, chân chính đều thể hiện tính liên tục về văn hóa và văn hóa chính là động lực của cách mạng.Giữa tính truyền thống và tính hiện đại có sự kế thừa và kết hợp” [20]
Nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII “Về một số nhiệm vụ văn hóa văn nghệ những năm trước mắt”, nêu rõ:
“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế -xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”.[21]
Nhà nghiên cứu Phan Ngọc trong cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam cũng
đã định nghĩa “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một
cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này đó là văn hóa dưới hình thức
dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người khác, các biểu hiện lựa chọn của cá nhân hay tộc người khác” [15, 17]
Với bốn thành tố cấu tạo nên văn hóa đó là: lao động sản xuất, tri thức, học vấn,tiềm lực sáng tạo, lối sống Lao động sản xuất ở đây được hiểu như lao động chân tay và trí óc Đó chính là những hoạt động để nuôi sống con người
Trang 13và duy trì sự tồn tại của xã hội Còn đối với tri thức học vấn là nói đến với những hiểu biết mà giáo dục đưa lại Về mặt tiềm lực sáng tạo bao gồm các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và nghệ thuật Còn nói đến lối sống là một phần trong cách con người ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
Lâu nay, chúng ta chỉ chú ý đến cơ sở kinh tế, ít ai nghĩ đến cơ sở khác
– đó là cơ sở của nền tảng tinh thần, là toàn bộ những giá trị tinh thần của
dân tộc và của nhân loại sáng tạo ra Những giá trị đó thực chất là tiềm năng,
là năng lượng tinh thần góp phần làm nên sức mạnh, phẩm chất và năng lực
của các thế hệ công nhân, thiếu nó dân tộc khó phát triển vững mạnh
Trong hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc “cũng nhận định “Những thành tựu của cách mạng khoa học
công nghệ thế giới cùng với việc mở rộng giao lưu quốc tế là cơ hội để chúng
ta tiếp thu những thành quả trí tuệ của loài người, đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc”.[22]
Tư tưởng trên không chỉ có ý nghĩa khẳng định các giá trị văn hóa quá
khứ của dân tộc, của nhân loại trước đây và hiện nay, mà còn hình thành một
quan niệm mới về cơ sở phát triển theo mô hình – văn minh phương Tây kết
hợp với văn hóa dân tộc Đó là mô hình đúng đắn nhất, là phương hướng
chiến lược của các nhiệm vụ và giải pháp để lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hóa nước ta, theo đúng cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo nghị quyết đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trong thế giới của con người, một dân tộc muốn tồn tại và tạo ra một chỗ đứng trong nhân loại bao la, bản thân họ phải tạo ra, phải phát triển bản sắc văn hóa dân tộc mình Bản sắc dân tộc được ví như “linh hồn” của dân tộc, được coi như căn cước của mỗi dân tộc, nó phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, nó cũng là tiếng nói riêng biệt của dân tộc đó Mỗi cộng đồng riêng biệt sẽ sản sinh ra nền văn hóa kết tinh những tinh hoa của dân tộc mình Trên
Trang 14nửa thế kỷ qua, với đường lối văn hóa – văn nghệ của Đảng, cùng chính sách coi trọng và tôn vinh dân tộc, chúng ta bước đầu đã xây dựng thành công một nền văn hóa – văn nghệ mới, đậm đà bản sắc dân tộc Cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được,để không ngừng phát triển lớn mạnh” [10, 16]
Có thể thấy, nắm bắt được bản chất của văn hóa sẽ giúp chúng ta có thể nắm bắt được sự tác động và ảnh hưởng của văn học tới văn hóa “Mỗi dân tộc có nền văn hóa riêng.Văn học nằm trong văn hóa, là tinh túy của văn hóa nên nó cũng phải là đặc trưng của văn hóa dân tộc” [16,65]
Quan niệm về văn học, văn học cũng giống như các loại hình nghệ thuật khác, nó không đóng vai trò là một lực lượng của cải vật chất và cũng không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ra vật chất nào cho đời sống con người Nhưng cũng không vì thế văn học mất đi vị thế vốn có của mình, nó là nền của tâm hồn, là gương soi của cuộc sống, nó là sự chiêm nghiệm của các nhà thơ, nhà văn về cuộc đời, đôi lúc là những mảnh trời riêng tư Nhưng hơn thế nữa, văn học đóng vai trò như “công cụ” lưu truyền những dấu tích ông cha Hãy tưởng tượng rằng, khi xã hội vắng bóng văn học,cuộc sống này sẽ tẻ nhạt đến như thế nào?Và điều đó như sự thôi thúc các nhà nghiên cứu văn học luôn đi tìm hiểu bản chất, nắm bắt những đặc trưng cũng như quy luật của văn học Để từ đó hiểu được ý nghĩa mà văn học mang tới cho đời sống con người, nó bao hàm những giá trị được biểu hiện như thế nào?
Khi nói đến văn học là một hình thái xã hội thẩm mĩ,là chúng ta đang bàn luận tới đặc thù của văn học với các hình thái ý thức xã hội khác thuộc kiến trúc thượng tầng như khoa học,triết học, đạo đức, chính trị, tôn giáo vv… Loại hình nghệ thuật ngôn từ được quy phạm là văn học, nhận định này được
ra đời rất sớm cùng với những sản phẩm để đời cho văn minh nhân loại và đó
Trang 15cũng chính là đặc thù của văn học so với các loại hình nghệ thuật khác như: hội họa, kiến trúc, điêu khắc…Mỗi loại hình nghệ thuật đều có nguyên liệu tạo chất khác nhau và nội dung, hình thức cũng khác nhau Ví dụ như: loại hình nghệ thuật hội họa, nó chiếm một khoảng không gian lớn, “chớp” lấy một khoảnh khắc nhất định, hàm chứa trong đó là một thông điệp và nó mang tính chất tĩnh Nhưng riêng đối với âm nhạc lại hoàn toàn khác, nó lấy giai điệu làm nền cho ca khúc, tính chất động được thể hiện nhuần nhuyễn với những âm trầm bổng, nó sẽ troán khoảng không gian nhất định như (nhà hát, khán phòng…) Và đến với văn học ta lại có cảm nhận hoàn toàn khác, vừa có tĩnh lại vừa có động, trong thơ lại có họa,có thi nhân mặc khách với những gì tình tứ hay đơn thuần chỉ là lời tự bạch Ở đó, người ta thấy văn chương chiếm một vị trí vô cùng đặc biệt, nó như sự tổng hợp hoàn hảo với nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn và nó như cầu nối giữa nghệ thuật tổng hợp với các nghệ thuật riêng lẻ Văn chương không phải là nghiệp vụ sáng tác ngôn từ, nhưng chính ngôn từ lại mang tính tạo hình rất cao, nó cứ thế đi ra từ đời sống, đôi khi nó mộc mạc như chính cuộc sống dân giã đời thường, để ta đọc rồi mà mặc sức tưởng tượng về nó Chính ngôn từ là chất liệu tạo nên các hình tượng văn chương, đã quy định tính độc đáo và đặc thù của văn chương Vì vậy khi tiếp cận và tìm hiểu về văn chương nghệ thuật, không thể không tìm hiểu
về đặc trưng bản chất, chất liệu đã tạo nên hình tượng văn chương Vậy ngôn
từ có những khả năng đặc biệt như thế nào?
Nói đến văn chương nghệ thuật là nói đến sự xây dựng lên những hình tượng bằng chất liệu ngôn từ Ngôn từ là những biểu hiện trong ý niệm của con người, nó luôn bao hàm mục đích cũng như nội dung mà tác giả muốn hướng tới – hay còn gọi là phát ngôn của chủ thể, không có ngôn từ vô chủ Trong tác phẩm văn học là tổng thể những phát ngôn (tác giả, cái tôi chữ tình, người kể chuyện,nhân vật…), qua đó người nghe như ngầm hiểu được nội dung của tác phẩm qua giọng điệu, tư tưởng, tình cảm…của các chủ thể phát ngôn đó Với chất liệu tiềm ẩn và nguồn chất liệu dồi dào của mình đó là
Trang 16ngôn từ, thì văn học như được chắp thêm đôi cánh vừa mộng mơ mà lại vừa hiện thực, nó phản ánh được những khía cạnh của đời sống, mặc cho thời gian
cứ trôi đôi lúc văn học cứ như đứng chững lại mà ngắm nghía, mà thưởng ngoạm và chiêm nghiệm cuộc đời, văn học được ví như chứng nhân lịch sử của mỗi thời kì, vì vậy nó như cầu nối vô hình liên kết những ngành nghệ thuật đơn lẻ Nếu không có những bài thơ về những dòng sông quê trĩu nặng phù sa, thì đâu có được những bài hát về con sông quê thơ mộng và đi vào lòng người đến vậy Chính vì lẽ đó văn học trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, nó vẫn đứng đó như một nhân chứng nó là loại hình nghệ thuật quan trọng, trong tổng thể các loại hình nghệ thuật, nó là “hạt giống tâm hồn” trong đời sống tinh thần của con người
Văn học dân gian và văn học viết là hai loại hình chính của văn học Văn học dân gian (là những sáng tác được lưu truyền bằng miệng từ đời này qua đời khác), và văn học viết (những tác phẩm văn học được sáng tác, lưu truyền bằng những văn bản viết) Với hai loại hình trên đã tạo nên sự phong phú về cấu tứ ngôn từ cho văn học, vì văn học xuất phát từ chính nhu cầu của con người trong quá trình phát triển của lịch sử của mình, vì vậy văn học phục
vụ cho đời sống con người
Khi người ta đọc những tác phẩm văn học, thông điệp ở mỗi tác phẩm lại khác nhau ở mặt nhìn nhận khía cạnh của đời sống, nhưng đều mang một thông điệp tổng quan về con người trong môi trường tự nhiên và xã hội –những thân phận và cuộc đời của nó được lột tả qua ngòi bút sắc sảo của các tác giả tài ba Chính thông điệp đó như làm dấy lên ở người đọc những tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ tưởng tượng lâu dài sâu sắc với nhiều loại thông điệp khác Và thế giới Chân – Thiện – Mỹ, như được mở ra khi ta bước vào văn học với những hằng mong ở nơi đó ta tìm thấy ta trong chính những gì bộn bề của cuộc sống, nó như nắm chắc chức năng hoàn thiện nhân cách của người.Văn học không phải là sự “thoát li” vĩnh viễn khỏi cuộc sống, mà chỉ trong một phút giây nào đó, nó thoát ra để tìm cái gì đó đã thuộc về quá khứ,
Trang 17chiêm nghiệm nhiều điều và gặt hái những gì để rồi quay lại với cuộc sống đời thường, nó biết mình phải làm gì để tồn tại, để làm con người tốt hơn
Riêng nói đến chức năng và bản chất của văn học thì không bao giờ bị thay đổi, kể từ khi nó ra đời cho đến nay Trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử loài người, hành trang mà văn học mang theo là những kí ức thời gian
và hơi thở của thời đại, nó phát triển và có sự thay đổi khác biệt qua từng thời
kì Văn học luôn hướng tới cái đẹp, hướng tới con người và những giá trị nhân văn sâu sắc nằm chính trong những tác phẩm văn học chân chính Điều
đó nằm chính trong đời sống tinh thần của mỗi con người, văn học là một bộ phận của văn hóa con người (mã văn hóa)
Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học văn hóa với những tính chất tiềm
ẩn qua những lớp trầm tích của mình, được văn học “hạt giống tâm hồn” của đời sống tinh thần của con người khai thác một cách triệt để và có mối quan
hệ chặt chẽ, khăng khít với văn hóa: “văn học là một bộ phận của văn hóa Nó phản ánh sự sáng tạo vô giá của nền văn hóa đó” [26, 3] Điều này được thể hiện rõ trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa VII viết “Văn học là một bộ phận trọng yếu của nền văn hóa dân tộc Thể hiện khát vọng của nhân dân về chân- thiện-mỹ”.Từ nghị quyết trên cho ta thấy được, mối quan hệ giữa văn hóa và văn học là mối quan hệ giữa toàn thể và bộ phận Vì văn học chỉ là một bộ phận cấu thành văn hóa, đó là tiềm lực sáng tạo, đó chính là mối quan
hệ biện chứng, phản ánh được quy luật riêng chung (cái chung có trong cái riêng và cái riêng là bộ phận làm phong phú cái chung,đơn thuần như Việt Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ là vậy), nó còn mang tính triết học cao, như
Lê nin đã nói “…cái riêng chỉ tồn tại trong mức độ nó liên hệ với cái chung Cái chungchỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng…) Vì vậy khi nghiên cứu văn hóa, chúng ta không thể tách rời chúng với các bộ phận liên quan và văn học như một sự thu nhỏ, tích đọng của các giá trị văn hóa, mà người ta thường gọi đó là bản sắc văn hóa dân tộc Hiểu theo cách khác văn hóa chính
Trang 18là bối cảnh mà trong đó văn học giữ một vai trò tạo nên sự phong phú, đa màu sắc của văn hóa
Mặc dù, văn học “không phải là tất cả nền văn hóa dân tộc nhưng trong văn hóa, văn học là mặt cơ bản, tiêu biểu nhất, sinh động nhất, nhiều hương sắc và có sức sống bền bỉ nhất” [25, 7] Điều này cho ta thấy một sự thật hiển nhiên rằng, nếu muốn tìm hiểu về một nền văn hóa nhất định, trước tiên ta phải giải mã được những mã văn hóa được các nhà thơ, nhà văn “gói gém” trong từng trang thơ, đoạn văn vừa ẩn mà lại vừa hiện Giải mã văn hóa ẩn giấu trong văn học cũng chính là công việc khám phá mối quan hệ đa chiều giữa văn hóa và văn học, thứ nhất phải đặt văn học vào trong bối cảnh văn hóa mà nó được sản sinh ra, để hiểu rõ thời kì đó,sự diễn tiến văn hóa có ảnh hưởng tới sự phát triển của thời kì đó như thế nào, thứ hai từ văn học ta cảm nhận được những tâm tư, tình cảm, khát vọng, tư tưởng, phong tục tập quán
… của con người trong một thời kỳ lịch sử nhất định
Văn học được coi là tấm gương của văn hóa,đi sâu tìm hiểu các tác phẩm văn học ở đó ta thấy được sự biểu hiện của văn hóa đa dạng, nhiều chiều qua từng góc độ nhìn và cảm thụ Ta bắt gặp hình ảnh quê hương mặn mòi nước biển của nhà thơ Tế Hanh, hay bức tranh dân gian dung dị mà nên thơ, hay cách sống truyền thống được nhắc tới trong các sáng tác của Thạc Lam Với những thú vui tao nhã đất lề quê thói, Kim Lân như mang hồn làng thấm đẫm vào từng trang văn của mình Hay với những tập tục, tín ngưỡng của làng Nguyễn Xuân Khánh, đã đưa người đọc trở lại với những hoạt động sinh hoạt người dân trong làng Việt xưa và nay
Nói một cách tổng quát khi tiếp cận văn hóa từ chính góc nhìn của văn học, văn học được lớn dần lên từ nền văn hóa theo cấp số nhân, điều đó chi phối nhiều quan điểm, tư tưởng của các thời kì mà nó đi qua và nó mang đậm nét văn hóa của thời kì đó Qua tính kết cấu, mô típ, hình tượng, cảm xúc, cách xây dựng nhân vật … để tạo nên những mã văn hóa đó, thì đòi hỏi họ phải có vốn văn hóa rộng và am hiểu được thị hiếu của từng thời kì Và hơn
Trang 19hết họ phải có nhân cách như một nhà văn hóa chứ không đơn thuần cầm ngòi bút và viết những gì mình tâm đắc.Đó cũng chính là điểm khác nhau mang tính độc lập giữa văn học và văn hóa.Một người có tri thức văn hóa cao, chưa chắc đã là một nhà văn Nhưng điều quan trọng hơn cả nhà văn phải có tri thức về văn hóa, ít hay nhiều công phụ thuộc vào trình độ cảm thụ Đó cũng chính là điều kiện cần khi ta trở thành một nhà văn “Nền tảng văn hóa chính
là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng những tài năng, trong lịch sử văn học nghệ thuật, các nhà văn lớn bao giờ cũng đồng thời là những nhà văn hóa tiêu biểu cho thời đại của mình Tác phẩm của họ luôn là những kết tinh của những kiến thức văn hóa tổng hợp, rộng lớn đòi hỏi độc giả cũng phải rất có văn hóa mới cảm nhận và đánh giá chúng được” [24,31]
Như đã trình bày văn hóa bao gồm tổng thể, một hệ thống bao gồm: phong tục tập quán, luật pháp, tín ngưỡng tôn giáo, nghệ thuật tạo hình… Trong hệ thống vừa nêu ra, văn hóa là yếu tố chủ đạo trong việc thiết lập một
hệ thống hướng tới cái đẹp,hướng tới thế giới của “Chân – Thiện – Mỹ”, và
nó thường xuyên thay đổi qua các thời kì văn hóa Không phải thời kì nào, văn học lên ngôi, thì văn hóa cũng vậy Đôi lúc văn hóa đứng ngoài “tầm kiểm soát” của văn học, để rồi có những khi văn học như đang thờ ơ trước sự thay đổi của văn hóa Không hẳn là như vậy, bởi lẽ văn học có khi “chống” lại
cả chế độ mang màu văn hóa đó.Ví thời kì cuối văn hóa phong kiến ở Việt Nam,nó không đơn thuần là sự sụp đổ của các vương triều mà đó là sự tha hóa về văn hóa.Văn học đứng ra như đấng cứu dỗi tâm hồn cho con người,xoa dịu những nỗi đau và đả phá chế độ tàn tro của phong kiến
Với cách nhìn nhận trên, người làm khóa luận này đưa ra nhận định, khi ta tiếp cận văn hóa thông qua văn học bằng nhận thức và đánh giá văn hóa tinh thần được kết tinh trong văn học qua các hình tượng nghệ thuật, tư duy nghệ thuật, phong cách nghệ thuật, ngôn từ nghệ thuật…Các biểu trưng văn hóa (văn hóa truyền thống, văn hóa đương đại và văn hóa ngoại sinh), sẽ làm
Trang 20hình tượng cho văn học, để từ đó văn học xây lên biểu tượng văn hóa (bản sắc văn hóa dân tộc)
1.1.2 Đôi nét về văn hóa làng quê
Có ý kiến cho rằng: “Với Việt Nam, khoe văn minh ấy là văn minh lúa nước, khoe văn hóa ấy là văn hóa làng quê” Biết bao đời gắn bó với đồng ruộng bao la, với những con người hồn hậu chất phát đã đi vào nhạc vào thơ cất lên những âm thanh trong trẻo, văn hóa làng quê chính là nhân tố tiêu biểu đặc trưng cho văn hóa Việt Nam Đó là cái nôi nuôi dưỡng và phát triển tâm hồn thuần hậu Việt Nam
Văn hóa làng với nét biểu hiện đầy tính nhân văn sâu sắc và các giá trị văn hóa được thể hiện trong một nhóm người cùng chung một không gian cộng cư được gọi là làng Làng là một không gian cộng cư tự nguyện của người Việt đã được hình thành từ rất lâu đời dựa trên những điều kiện khác nhau, vì thế mỗi làng mỗi vẻ, rất đa dạng Giới nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, lịch sử Việt Nam có ba đơn vị được coi là hằng số cơ bản tồn tại trong suốt thời kỳ lịch sử cho đến tận ngày nay, đó là nhà – làng – nước Chính ba đơn vị hằng số này chi phối toàn bộ đời sống vật chất tinh thần người Việt, làm nên diện mạo và bản sắc văn hóa Việt Nam Xét văn hóa làng ở khía cạnh nào cũng vậy, cũng phải đặt nó trong mối quan hệ giữa nhà (gia đình), và nước (tổ quốc).Theo giáo sư Hà Minh Đức viết “Cộng đồng làng xóm tồn tại
từ ngàn đời đã sản sinh ra nền văn hóa riêng của nó.Đó là những nền nếp, phong tục tập quán, thế giới tâm linh qua tín ngưỡng tôn giáo và cách xử sự trong quan hệ giữa người với người Đó cũng là nếp thẩm mỹ đượm màu dân tộc, giản dị,chân quê trong sinh hoạt hàng ngày, lòng hiếu học, giấc mơ quan trạng, tình yêu đôi lứa thề bồi, cho đến những ngày hội xuân, đêm hát chèo, buổi lễ chùa, lớp học thầy đồ …tất cả đều là những bộ phận nhỏ của văn hóa làng quê” [11, 20] Chính tầng văn hóa này như thâu giữ sâu kín hồn quê mà các nhà thơ đã khai thác thành công nếp sống văn hóa lành mạnh, giàu chất thẩm mỹ
Trang 21Từ những nhận định trên đưa cho ta cái nhìn khái quát về văn hóa làng quê Ở mỗi thời đại văn hóa làng luôn biến đổi qua cách nhìn nhận ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Nó được thể hiện ở mọi điều về: cái đẹp, cái bi, cái hài, cái dị mọ… tất cả đều mang tiếng nói chung của thời đại Nhưng qua thời gian và sự biến đổi của không gian sống và sự hòa nhập, giao lưu văn hóa, kinh tế xã hội, đã làm những điều kể trên bị bào mòn, phôi hóa hay trương nở khuếch đại…diễn tiến đa chiều của văn hóa làng ở mỗi thời kì lại vô vàn điều khác nhau.Và những con người làng – chủ thể sáng tạo – tận hưởng và quảng bá văn hóa làng được nhắc tới với tư cách như người khơi nguồn văn hóa làng
Bản sắc văn hóa làng quê Việt Nam được xem xét qua mọi bình diện ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, cách ăn mặc, ở đi lại… về ngôn ngữ, có thể thấy được ở cách phát âm hay dùng từ ở mỗi làng quê lại có những đặc điểm khá riêng biệt Bởi lẽ, dọc theo dải hình chữ S, nước Việt Nam cứ thế được lớn lên từ những làng quê (ven sông nước, ven núi đồi, ven đô…), ở mỗi vùng miền điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội lại có sự riêng biệt
nó như một thứ quy định vô hình cho văn hóa của mỗi làng Và để rồi những tín ngưỡng, phong tục tập quán cứ thế mà nảy nở, phát triển: Hội Lim, Hội Thánh Gióng, lễ hội Chùa Hương, hội Đền Trần, hội đền Bà Chúa kho, lễ hội Lồng Tồng - xuống đồng (dân tộc Tày), lễ hội Cầu mưa (dân tộc Chăm)… tính đến nay theo thống kê gần đây nhất, của Bộ Văn hóa Thể thao
và Du lịch thì có bảy nghìn lễ hội lớn nhỏ được tổ chức theo chu kì hàng năm Qua thông số trên, ta thấy dân tộc Việt Nam vốn nặng lòng ơn nhớ tiền nhân, đã xây đắp nên những ngôi đền, đình, miếu để tôn thờ Mỗi dòng họ cũng lập ra nhà thờ để cúng giỗ Sự thể hiện tình cảm bằng vật chất đó ta thường gặp hầu hết khắp làng quê đất Việt Sự sống và lẽ đời có văn hóa, văn hóa có tôn vinh thờ phụng Biết tôn vinh và thờ phụng tự ta đã hướng tâm theo đúng quy luật của dòng chảy văn hóa làng quê, mà tổ tiên ông cha chúng ta đã tạo dựng để làm điểm tựa vững chắc cho con cháu có những bước đi xa hơn và ngày càng tốt đẹp hơn Đúng như một nhận xét: “thờ cúng
Trang 22tổ tiên là tạo điều kiện duy trì những không gian linh thiêng, những môi trường văn hóa truyền thống” [13,195-196]
Sự đa dạng về các dòng họ trong làng, là nguyên nhân tô điểm thêm vào bức tranh đồng quê với màu sắc phong phú Bởi lẽ những cuộc di dân lập làng, lập ấp bởi chiến tranh, lưu đầy hay đơn giản chỉ là mưu sinh, những dân ngụ cư trở thành dân chính cư, đã ăn vào nếp nghĩ của người quê Khi di dân
họ mang theo họ, theo tên và mang theo cả bản sắc nơi quê mình, để rồi những cuộc giao lưu văn hóa được diễn ra, sự giống khác nhau, được hòa chung và họ trở thành thân thích của nhau tự bao giờ Bởi lẽ, con người Việt Nam luôn trọng đạo lí “Bầu ơi! Thương lấy bí cùng / Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, họ trọng điều ăn tiếng nói, trọng điều ân nghĩa thủy chung Đó chính là nét nhân văn trong tâm hồn con người Việt Nam – một nét đẹp của văn hóa Việt Nam
Khi nhắc tới làng quê Việt, người ta không thể không nhắc tới cây đa – bến nước – sân đình, được coi là biểu tượng hiện hữu tiêu biểu của làng quê Việt Nam Rồi đến những buổi chiều, chăn trâu cắt lúa lại nhìn về phía xa khói lam chiều thấp thoáng cánh cò bay, với tiếng sáo diều vi vu trên triền non cao, đại ngàn mây phủ Màu xanh của cánh đồng như xanh thẫm lại trong mắt lòng người tha hương, rồi chiếc cổng làng vẫn trụ vững dù cho sóng gió của thờ gian, hay ta nghe đâu đây tiếng ru à ơi!, kẽo kẹt trở về với tuổi thơ Hay những chị gái quần vén ngang gánh nước giếng vào mỗi buổi sớm mai, mà làm nặng người thi sĩ Bức tranh quê cứ như ẩn ẩn hiện hiện trong con mắt của người thi
sĩ, để rồi những điều bình dị nhất của làng quê, cứ thẫm đậm những trang thơ bất tận, trở thành biểu tượng của văn hóa làng quê Việt Nam
Văn hóa làng quê, như đang cuộn mình theo dòng chảy của thời gian,
nó là nơi người ta tìm về khi lạc lối, bởi trốn bình yên đó, như “tắm gội” tâm hồn khỏi những bộn bề lo toan của cuộc sống hiện tại Tự nghìn năm văn hóa làng bồi đắp vào nền văn hóa dân tộc lớp trầm tích văn hóa càng dày lên, phong phú hơn qua lớp bụi của thời gian
Trang 231.2 SỰ BIỂU HIỆN CỦA VĂN HÓA LÀNG QUÊ TRONG THƠ CA DÂN TỘC
Văn hóa làng quê là nguồn cảm hứng vô tận cho nền thơ ca Việt Nam
tự bao đời đến nay, vừa gần gũi dung dị và rất đỗi thân quen
1.2.1 Trong thơ ca dân gian
Thơ ca dân gian được ví như điệu tâm hồn của người dân đất Việt, là sự biểu hiện toàn vẹn, sâu sắc không gian địa – văn hóa làng quê Việt Nam Thơ
ca dân gian mang đến cho ta cảm nhận về cái đẹp trong cuộc sống trong thiên nhiên và trong quan hệ ứng xử
Nhất là trong ca dao, dân ca văn hóa làng quê được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau Ca dao được tồn tại dưới những dạng khúc ngâm,văn vần, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình Ca dao khác với tục ngữ: ca dao thiên
về khía cạnh tình cảm, tục ngữ thiên về lý trí,kinh nghiệm Đời sống tình cảm nhân dân ta biểu hiện rất dồi dào, thắm thiết và sâu sắc trong ca dao
Trong chúng ta, ai ai cũng lớn lên từ những chiếc nôi gia đình, được đùm bọc yêu thương trong vòng tay cha mẹ và anh chị em ruột thịt Cứ theo thời gian mỗi con người lớn lên phương trưởng đến những chân trời mới, nhưng gia đình chỉ có một cho dù nó có đơn sơ như thế nào đi chăng nữa, nó cũng là nơi kí ức về tuổi thơ, nơi tình yêu thương bao la rộng lớn và bàn tay
ấy, tình yêu ấy luôn sưởi ấm tâm hồn ta khi lạnh giá, vui chung những niềm vui nhỏ bé, luôn nâng giấc ta về miền kí ức còn mãi với thời gian
Có lẽ thế, nên tình cảm gia đình như một mạch nguồn chảy xuyên suốt, mạnh mẽ trong ca dao, dân ca Tất cả những lời ca ấy khi bé ta đều được nghe qua lời ru của bà của mẹ, để rồi khôn lớn lên, tìm hiểu nó ta càng thấm thía biết bao, những câu ca:
Ơn cha nặng lắm ai ơi Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang
Có lẽ bao giờ cũng vậy, trong tình cảm gia đình, khơi nguồn sâu sắc nhất đó là tình cảm của người con đối với cha mẹ và ngược lại, rất tự nhiên
Trang 24như hơi thở của cuộc sống vậy Nơi ấy có cha mẹ là có tình yêu thương đằm thắm, ngọt ngào
Không những khuyên con người ta phải giữ đạo lí làm con, trọng chữ hiếu, mà ca dao còn hướng con người ta tới cội nguồn, tổ tiên – một đạo lí truyền thống tốt đẹp:
Con người có tổ có tông Như cây có núi như sông có nguồn
Bên cạnh đạo lí người làm con biết ơn tổ tông, cha mẹ sinh thành dưỡng dục, mà còn là tình yêu thương anhem ruột thịt:
Anh em như thể chân tay Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần
Tình cảm anh em ruột thịt được ca dao nhắc tới như một tình thương yêu thiêng liêng “máu mủ ruột già”, hay “em ngã chị nâng”, nó đều hàm xúc được lòng yêu thương, quý mến của anh chị em trong nhà
Tình cảm vợ chồng có lẽ là nội dung được nhắc nhiều trong ca dao Nó
là nét đẹp trong quan hệ ứng xử giữa con người với con người:
Chồng em áo rách em thương Chồng người áo gấm xông hương mặc người
Tình yêu thủy chung son sắc của người phụ nữ Việt Nam, như làm nền cho câu ca có vần điệu, quấn quýt sự yêu thương đó là một trong những phẩm hạnh của người phụ nữ Việt
Trong ca dao, chủ đề về tình bạn được nhắc tới với tần suất lớn, ví như tình bạn giữa “Lưu Bình – Dương Lễ” là một tình bạn keo sơn gắn bó, gắn với chữ đức và chữ tài Những tình bạn tốt đẹp, thân thuộc gắn bó với công việc làm ăn, tô điểm thêm vào đời sống tình cảm của người dân Việt một nét đẹp tâm hồn:
Ra đi vừa gặp bạn hiền Cũng bằng ăn quả đào tiên trên trời
Trang 25Đây là câu hát mừng trong những cuộc hát lễ hội được diễn tả như gặp một điều cao quí thiêng liêng, một niềm vui lớn Nó thường là câu hát ở chặng mở đầu, làm quen trong các cuộc đối đáp xưa Lời ca cho ta thấy cái gốc là tình cảm chân thực, niềm khát khao có bạn, quí trọng tình bạn đã làm nên niềm vui sướng đến bất ngờ của nhân vật trữ tình Mang hình thức trò chuyện, lời trò truyện thể hiện tình cảm gắn bó làng trên xóm dưới, nương tựa, giúp đỡ lần nhau trong cuộc sống sinh hoạt cộng đồng
Không chỉ gắn với người nhà, anh em, làng xóm, người Việt Nam vốn nhân ái, bao dung ngay cả với vật tầm thường nhất:
Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ăn no cỏ trâu cày với ta Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
Người nông dân rất trọng sự thiết thực và ghét sự viển vông,xa thực tế
Họ yêu thương quý trọng con trâu một cách đặc biệt, vì trong hàng ngàn năm trước đây, con trâu là “đầu cơ nghiệp của họ” Người nông dân trong bài ca dao thực sự coi con trâu là người bạn “đồng nghiệp” của mình, cho nên đã nói như vậy Vô hình chung tác giả coi con trâu là “nông gia” như mình, và do đó cái “nghiệp nông gia” vừa là nghề nghiệp vừa là sự nghiệp của cả mình và trâu Người nông dân dùng lí trí, vừa dùng tình cảm động viên, thuyết phục con trâu để nó tham gia công việc làm ruộng với mình một cách vui vẻ, tự nguyện (chứ không dùng roi vọt đánh đập, cưỡng bức nó) Chính vì thế bài ca dao có nội dung giáo huấn sâu sắc nhưng không khô khan, nặng nề mà rất hồn nhiên, ngộ nghĩnh và dồi dào chất thơ Hai câu cuối cùng đã kết thúc bài ca dao rất đẹp, thấu tình mà đạt lí, hết sức tự nhiên
Cũng biểu hiện tình yêu quê, ở bài ca dao dưới dưới đây, lột tả được sự
tự hào về phong cảnh, con người làng quê mình của nhân vật trữ tình:
Làng ta phong cảnh hữu tình
Trang 26Dân cư đông đúc như hình con long Nhờ giời hạ kế sang đông Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi
Cái tình người của người thôn quê, nó mộc mạc giản dị đến chân chất Quanh năm chân lấm tay bùn, họ vẫn vui vầy với đồng ruộng, với xóm làng cầu mong mưa thuận gió hòa để cho cấy cày tốt tươi Đó chính là tình yêu lao động đằm thắm vô vàn của những con người nơi thôn dã
Cùng với ca dao, dân ca những câu tục ngữ, thành ngữ ngắn gọn mà súc tích là tấm gương phản ánh cuộc sống diễn ra hàng ngày và quan niệm của họ đạo đức, đạo lí làm người và các hiện tượng tự nhiên, xã hội diễn ra xung quanh họ Đó là những bài học, những triết lí xa xưa và cũng phù hợp với sự phát triển của xã hội Họ truyền cho nhau những kinh nghiệm lâu đời
có tính tập thể quý báu rút ra trong quá trình quan sát và cải tạo thiên nhiên để
có một mùa màng bội thu, làm ấm lên nghĩa tình làng xóm Họ truyền cho con cháu những tư tưởng, đạo đức của nhân dân lao động ứng xử với nhau trong cuộc sống như: răn dạy con cháu hãy giữ cho mình những phẩm giá
phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức tốt đẹp của cha ông “Đói cho sạch, rách
cho thơm”, hãy sống cho đúng lương tâm mình cả với người trong gia
đình, người ngoài xã hội Trong cuộc sống hàng ngày, người làng quê rất coi trọng tình cảm, đó là tình cảm lớn nhiều khi vượt quá tình cảm gia đình, như răn dạy anh em trong một nhà phải biết thương yêu đùm bọc nhau, như vậy mới giữ được hòa khí:
Khôn ngoan đối đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau
Con người làng quê sống vì nghĩa với nhau, sống vì con cháu, cao hơn chính là bản thân mình là đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Tình cảm ấy đã gắn kết họ chặt chẽ lại với nhau để tạo nên một kết cấu quyền
lực làng xã có sức mạnh vô thường: “phép vua thua lệ làng”
Trang 27Qua đây ta có thể thấy, đến với thế giới của ca dao, dân ca và tục ngữ Việt Nam là chúng ta đến với những điệu cảm xúc của con người làng quê, với vẻ đẹp văn hóa ánh lên từ nhiều bình diện, cất lên những thanh âm trong trẻo mượt mà, sâu lắng
1.2.2 Trong thơ ca trung đại
Mười thế kỷ cũng không phải là ngắn và cũng chưa hẳn là dài cho sự phát triển vượt bậc của thơ ca thời kì trung đại Với tính nặng lòng yêu quê của mình, người dân đất Việt như một lần nữa mang hồn quê vào trong thơ
ca Nhưng lần này thì khác, thơ văn trung đại như khuôn lại cái hồn đó trong những khổ thơ mang nặng tính quy phạm và ước lệ tượng trưng Dường như người ta đã ít nhắc về làng quê hơn thời kì trước, nhưng hơn bao giờ hết, đề tài về làng quê luôn được các tác giả hướng ngòi bút tới với những niềm trân trọng và nâng niu
Từ thời Lý – Trần đến những năm cuối thế kỷ XIX, ta thấy rõ tình yêu quê hương đất nước của ông cha ta như sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ xưa đến nay, trở thành truyền thống của người Việt Nam Mà đời đời sau này con cháu nước Việt luôn hướng theo
Từ thế kỷ X – XIV, văn học được hình thành và phát triển trong bối cảnh phục hưng của đất nước, dân tộc và văn hóa Đại Việt Thành tựu văn học giai đoạn này là bằng chứng về một trong những thời đại huy hoàng của quốc gia Đại Việt của nền văn hóa Đại Việt.Các thi sĩ ca ngợi cái đẹp của thiên nhiên, mượn thiên nhiên để gửi gắm tâm sự của mình Đó cũng chính là một cách để biểu hiện tấm lòng yêu mến những nét đẹp của văn hóa làng quê, cho ta thêm một lần nữa ngắm nhìn lại sự đổi thay muôn màu của thời gian của cảnh vật, nó như được sống dậy trong từng trang thơ, để rồi nó mãi là nguồn cảm hứng vô tận cho thế hệ thi sĩ sau này tiếp bước:
Xuân qua trăm hoa rụng Xuân tới trăm hoa cười Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Trang 28Đêm qua sân trước, một nhành mai
Một bức tranh tươi đẹp luôn nảy nở, phát triển đã được nhìn qua lăng kính đầy nhạy cảm của nhà sư Mãn Giác (đời Lí) Thiên nhiên mùa xuân của làng quê đã tô điểm cho cuộc đời và tác động sâu sắc đến mọi người, đến cuộc đời
Thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII, đối chọi với sự tàn phá khốc liệt, thâm độc của giặc Minh là sức sống quật khởi của văn hóa Đại Việt.Nền văn hóa nước nhà có bị tàn phá của chiến tranh, nhưng không hề bị diệt vong Tiếp nối truyền thống văn hóa Lí – Trần vẫn như chảy cuộn trong thời đại
mới để Nguyễn Trãi với Bình Ngô đại cáo đã có thể khẳng định:
Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Đó là sự khẳng định chủ quyền dân tộc nước Đại Việt, như ngầm định rằng dân tộc Đại Việt đã trải qua biết bao thời kì tranh đấu đểbảo vệ non sông, giờ đây đất này là của người Việt, vua Việt Thể hiện một lòng yêu nước tràn trề và sôi nổi Nó như ngọn lửa của người dân Đại Việt “thiêu cháy” lũ bán nước và cướp nước
Động lòng trước vẻ đẹp của cảnh làng Việt Nam, Lê Thánh Tông như thả lòng mình cùng với cảnh sắc hữu tình đầy chất thơ ấy:
Chấp chảnh trời vừa mọc Đẩu tinh Ban khi trống một với thu canh Đầu nhà khói tỏa lồng sương bạc Sườn núi chim gù ẩn lá xanh Tuần điếm kìa ai khua mõ cá Dâng hương nọ kẻ nện chày kình Nhà nam nhà bắc đều no đủ, Lừng lẫy cùng ca khúc thái bình
Trang 29(Canh một)
Với một bút pháp vững chắc, tác giả đã vẽ lên khung cảnh của một cuộc sống yên ổn, ấm áp ở nơi làng quê.Vẻ đẹp của thiên nhiên quê hương là
ở cái thanh bình, yên ả đến xốn xang lòng người
Đến với nhà thơ Thái Thuận, ta lại bắt gặp cảnh làng quê gần gũi, với những gam màu trầm, tựa như sức sống lâu bền của người dân nơi thôn dã Với việc đồng áng thức khuya dạy sớm, người nhà nông đã quen tay, họ tần tảo sớm khuya chẳng ngại khó khăn Hình ảnh “con cò” trong ca dao dân ca lại một lẫn nữa xuất hiện một cách hữu duyên:
Bãi phẳng triều lên ngập Nhà nông sớm vội cày Vắt trâu nghe mấy tiếng
Cò trắng giật mình bay
(Muộn giang)
Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, đến với thế giới thơ ca viết về làng quê Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc tới nhà thơ Nguyễn Khuyến – nhà thơ của cảnh làng Việt Nam Với chùm thơ thu, Nguyễn Khuyến đã lột tả được những gì là đẹp nhất là quê hương của xứ sở Việt Nam – cái đẹp của cảnh sắc thu Việt, cái đẹp của tình quê hương đậm đà Nhà phê bình Hoài Thanh đã nhận xét rất chính xác rằng: Nguyễn Khuyến là nhà thơ viết về nông thôn số một của Việt Nam”
Làng quê Việt, được các thi nhân thời kì này khái quát nên những giá trị tốt đẹp có sức sống, trường tồn bất diệt của thời gian Văn hóa làng cứ như được sản sinh, nảy nở từ những tâm hồn Việt vậy, họ sáng tạo ra nó, để cho đến khi họ mất đi nó còn mãi với thời gian Thời kì này các thi nhân vẫn sử dụng các thể thơ dân tộc truyền thống, nhưng vẫn mang được hơi thở của hồn quê đương đại
Trang 301.2.3 Trong thơ ca hiện đại
Thơ ca trong thời kì này với bao nhiêu biến cố của lịch sử Mở đầu là cuộc xâm lược của thực dân Pháp vào cuối thế kỷ XIX đã làm nền kinh tế xã hội, chính trị nước ta thay đổi về căn bản Đặc biệt là sự thay đổi lớn lao về văn hóa văn học Chịu tác động mạnh mẽ của làn sóng văn hóa văn minh phương Tây, đã thổi vào nền văn học một luồng sinh khí mới, văn hóa Việt, văn học Việt bước sang một thời kì mới – thời kì của những sự đổi thay
Chính điều đó đã dẫn đến trên văn đàn Việt Nam, xuất hiện một số dòng văn học: phê phán, lãng mạn, hiện thực, trào phúng, cách mạng…Đề tài
về làng quê trở lại với bộ mặt đổi thay, được giới sáng tác quan tâm, thể hiện qua mọi thể loại văn học: thơ ca, văn xuôi, ký, phóng sự… làm cho văn hóa làng quê có các gam màu sáng tối pha trỗn biểu hiện qua nhiều sự đổi khác của cuộc sống thường ngày
Trong thời cuộc hỗn loạn “giao mùa”, các thi sĩ lãng mạn miệt mài đi tìm những nét đẹp văn hóa truyền thống đã tồn tại trong quá khứ hoặc vẽ ra một viễn cảnh đẹp đẽ trong tương lai, cùng hướng tới một hiện thực lý tưởng, hiện thực chỉ có trong mơ ước Tất cả thế giới được lãng mạn hóa, được thi vị hóa.Đây cũng là nét nổi bật trong tâm thức văn hóa người Việt
Anh Thơ vẽ lên một bức tranh với những hình ảnh: con đò, bến bãi, dòng sông đặc trưng cho làng quê Việt Nam bằng ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm đẹp đến say lòng:
Tre rũ rượi ven bờ chen ướt át Chuối bơ phờ đầu bến đứng dầm mưa
Và mặc dầm mưa dòng sông trôi dào dạt Mặc con thuyền cắm lại đậu trơ vơ
(Bến đò ngày mưa)
Và đây nữa, hình ảnh thân thương của làng quê lại hiện về:
Trang 31Thôn Vân có biếc có hồng Hồng trong nắng sớm biếc trong vườn chiều
Đê cao có đất thả diều Giờ cao cao lắm có nhiều chim bay Quả lành trĩu nặng nhành cây Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen
Có người cứ mỗi chiều làng nhớ tôi
(Chợ tết)
Sự thành công của cách mạng Tháng 8 – 1945 mở ra một trang sử mới cho dân tộc, cho thơ ca Việt Nam Cùng với những vần thơ cháy lửa những vần thơ viết về làng quê Việt Nam và các giá trị văn hóa dân tộc, vẫn tiếp tục được phát triển trên một bình diện mới Đó là làng quê, với những con người nông dân, đứng lên phất cờ khởi nghĩa Thực dân Pháp điều mà chúng không ngờ tới đó là,chúng những tưởng sẽ tha hóa được nền văn hóa truyền thống
Trang 32của chúng ta bằng cách đưa một loạt những gì mới mẻ của thời đại, làm chúng
ta ham, làm chúng ta mê muội, để quên đi văn hóa truyền thống, làm nhụt đi tinh thần đấu tranh của dân tộc ta Nhưng bằng sự nhạy bén trong nhận thức, văn học như ngọn đuốc dẫn đường cho thế hệ con người Việt Nam lúc bấy giờ Họ dùng ngòi bút để đả kích giặc Pháp và nêu cao tinh thần đấu tranh và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trên phương diện tiếp thu cái mới trên nền cái truyền thống
Một số nhà thơ tiêu biểu trong thời kỳ chống Pháp: Chính Hữu, Hoàng Cầm, Tố Hữu… Đã vẽ lên khung cảnh làng quê thời kỳ kháng chiến của dân tộc, vẫn mang những nét tươi tắn, đầy sức sống như nó vốn có Và nhà thơ Hoàng Cầm là một minh chứng, ta như được trở lại với quê hương Kinh Bắc:
Tranh Đông Hồ gà lượn nét tươi trong Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
(Bên kia sông Đuống)
Thời kỳ cả dân tộc lại gồng mình chống đế quốc Mỹ, tình cảm yêu quê hương đất nước, vẫn được các tác giả chọn làm đề tài chính với những câu sâu sắc hơn, những lời lẽ đanh thép hơn, đọc mà ta thấy hồn của dân tộc
Với bài thơ “Trở về quê nội”như được thỏa sức vùng vẫy với cảnh sắc
nơi làng quê thôn dã, với vườn cây với rặng dừa, với người em gái nhỏ ngày nào vẫn còn đây vẫn vấn vương mùi tóc, mùi hương quê nồng nàn làm cho thi
Trang 33câu thơ mang nặng tình yêu quê hương đất nước Sự chân thật của đời sống hàng ngày như được mở ra dưới ngòi bút của nhà thơ:
Hạt gạo làng ta
Có bão tháng bảy
Có mưa tháng ba Những trưa tháng sáu Nước như ai nấu Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy
(Hạt gạo làng ta)
Hình tượng cánh cò lại một lần nữa trở lại từ ca dao đến thơ ca hiện đại Trong thời kì này, hình tượng con hạc, con sếu, con vạc… được nhắc tới
trong bài “Vườn Chim”:
Cánh cò như dán vào mây Lúa vàng đang độ hây hây nắng vàng Sếu, dang cánh xếp xuôi hàng Trời xanh thư thả như càng thêm xanh
Tù mù cánh vạc ăn đêm Sương khuya đậu phải cành mềm đất ơi
Thanh cao hạc trở lại đời Vẫn bay riêng một khoảng trời thanh cao
Trong khoảng trời bao la rộng lớn, nhà thơ Lê Đình Cánh, như điểm thêm vào đó những cánh vạc cánh cò… sự sống như được căng tràn, nó khiến ta nghĩ
tới những ước vọng về một cuộc sống mới, một tương lai mới tốt đẹp hơn
Trang 34Với thời cuộc chuyển đổi xoay vần, văn hóa dân tộc văn hóa làng quê, như mất đi, mai một từng ngày, thì thế hệ các nhà thơ tìm về với văn hóa làng với niềm mong mỏi như được trở về miền kí ức yêu thương, mà đang dần bị lãng quên trong thầm lặng, đó là thi nhân của đồng quê và với những thay đổi trong văn hóa làng quê buổi giao thời: Đồng Đức Bốn đời người, đời thơ,cùng thời với ông có Nguyễn Duy, Phạm Công Trứ cũng viết về văn hóa làng với những gì thiết tha nhất
Đến với thơ ca bằng cả tấm lòng,các thi nhân ở thời nào cũng vậy, cũng sống hết mình với sự nghiệp thơ ca của mình, từ ca dao dân ca truyền miệng, đến những bài thơ kiệt xuất mang tầm vóc thời đại.Họ đã thả hồn vào tiếng thơ Việt Nam, để rồi họ như sống trong thế giới của những sự bình yên.Với những nếp nhà gianh, rặng dừa xanh, cô em gái nhỏ ngày nào, họ như đi vào tiềm thức, để tìm một cái gì đó họ đã mất Để rồi những dòng thơ như trầm bổng theo nỗi nhớ quê nhà, niềm hoài niệm khắc khoải, đưa người đọc đến với cảnh sắc làng quê, chợ tết ngày xuân, cùng lũ bạn chơi trò chơi bịt mắt bắt
dê, hay những buổi chiều nắng gắt cùng mẹ ra đồng bắt cua Đúng như câu hát “Quê hương là chùm khế ngọt cho con chèo hái mỗi ngày,quê hương là đường đi học con về dợp bướm vàng bay”, nơi đó trốn quê mùa đồng chiêm trũng, đã nuôi nấng những tâm hồn thơ vương mùi khói dạ mặn nồng Bản sắc văn hóa dân tộc không nằm đâu xa, nó hiện hiện hữu ở những biểu tượng như cây đa – bến nước – con đò, mà nó còn là giá trị sống trong mỗi nếp nhà nơi vùng quê thôn dã mà ông cha ta đã gìn giữ tự bao đời Nằm trong sự cố kết cộng đồng trong mỗi thời kì lịch sử, trong sinh hoạt cộng đồng làng xã (phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng…), và nằm trong những giá trị của dân tộc bình dị và giản đơn
1.3 CON ĐƯỜNG SÁNG TẠO THI CA CỦA NHÀ THƠ ĐỒNG ĐỨC BỐN
Có người đã nói “tình yêu hướng về cội nguồn là cái gốc của thi nhân”, tìm hiểu thế giới thơ của nhà thơ Đồng Đức Bốn, ta thấy anh đã có “chốn quê neo đậu tâm hồn”.Ở đó người đọc cảm nhận được văn hóa làng quê như dòng
Trang 35sông trào dâng dạt dào trong lòng anh Dòng sông ấy vẫn chảy trong họ mỗi sớm chiều đểtìnhyêu làng càng nhiều đắm say Họ đã trót buông neo nơi bến sông này để hồn thơ mãi ngây ngất vì những hương vị của tình quê, cảnh quê
1.3.1 Trước khi đến với thi ca
Đồng Đức Bốn sinh ngày 30-3-1948, quê quán ở xóm Lê Lác, thôn Song Mai (tức làng Moi), xã An Hồng, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng
Thuở hàn vi, Đồng Đức Bốn đã từng là thanh niên xung phong Giải ngũ, Đồng Đức Bốn về làm việc tại Xí nghiệp sửa chữa ô tô Hải Phòng, làm thợ gò bậc 6/7 Sau đó, Đồng Đức Bốn về làm việc tại Xí nghiệp xuất nhập khẩu gia cầm Hải Phòng, giữ chân đại diện cho Xí nghiệp này ở Hà Nội
Đồng Đức Bốn xuất thân trong một gia đình thuần nông.Tuổi thơ của anh gắn bó chặt chẽ với ruộng đồng, bờ bãi làng quê Đó là những buổi chiều lang thang trên đồng cỏ hoa vàng, bắt châu chấu về nướng ăn hay tát cá mang
ra chợ bán kiếm tiền Mẹ anh là người phụ nữ chân đất nhưng thuộc nhiều ca dao, tục ngữ và những khúc hát ru Cha cũng tập tọng làm thơ nhưng không thành.Đồng Đức Bốn là sự hoàn thiện của hai tâm hồn Có lẽ kỉ niệm tuổi thơ của anh luôn có một nỗi buồn giăng mắc
Với những hoài bão ấp ủ về một tương lai có công danh sự nghiệp trên đời Nhà thơ Đồng Đức Bốn, bôn ba ra ngoài với khát vọng thực hiện được ước mơ đó, tâm hồn thơ của người con trai miền biển như muốn trỗi dậy lên, đánh tan phận nghèo quẩn quanh, để hòa mình với thời cuộc nhưng dường như nó chưa đủ độ vang vọng Nó vẫn còn chút gì đó chân chất quá, đến độ bị
“quê”, trong làng thơ.Ở trong tiếng thơ, vẫn còn những tiếng than dài dài bất tận, chưa thấy được sự xuất hiện của hơi thở thời đại Bởi lẽ phận nghèo đeo bám lấy anh, không cho anh chút tình thơ với lá với tuổi thơ, cứ bắt anh phải
về với cái hiện thực đầy bon chen này
1.3.2 Sau khi đến với thi ca
Với câu nói:“Văn chương lấp láp vêu vao mặt người”, Nguyễn Khoa
Điềm đã vẽ lên khá chính xác chân dung của nhà thơ Đồng Đức Bốn khi bắt
Trang 36đầu bước vào làng thơ Và rồi khi “đã đầy” nếm trải mọi điều của thời cuộc, hai mươi năm sau, trở lại với con người thực sự của thi ca, chút bận tâm của cuộc sống giờ đây chỉ là chuyện đời thường, nó không còn bấu víu lấy anh nữa Anh đã có lần tâm sự “Con người tôi đã nếm trải đủ mọi đắng cay ở đời rồi Bây giờ chỉ chạm vào cây là ra quả, chạm vào lá là thành sương, vào dòng sông thì hóa phù sa” Có lẽ với sự bộn bề cuộc sống, Đồng Đức Bốn đến với thơ không đơn thuần là để giải khuây, mà thơ ca, như tưới tắm tâm hồn anh thêm tốt tươi, anh nghĩ về cuộc sống tốt đẹp hơn bao giờ hết Đồng Đức Bốn đến với thơ ca muộn mà không muộn, bởi tiếng thơ của anh, được định hình ngay khi bước chân vào thi đàn Việc Nam “Thơ hiện đại của Đồng Đức Bốn chính là hơi thở, là hồn vía của cuộc sống hôm nay được quản thúc trong liêm luật cổ truyền lục bát” [8,547] Và cũng đúng nhưông Nguyễn Huy Thiệp nói
về anh “Đồng Đức Bốn bấy giờ như một con ngựa trắnglang thang giữarừng
quả đắng anh hoang mang dò dẫm từng bước một trên con đường thơ, chẳng
biết đâu là sở trường sở đoản của mình Đây cũng là thời kỳ Đồng ĐứcBốn làm quen với những Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Lưu Quang Vũ, Vũ Quần Phương… Những nhà thơ cung đình bậc nhất, những ông hoàng đang ngự trị trên ngai vàng thơ lúc ấy” Tiếng thơ của Đồng Đức Bốn như cho người đọc cảm nhận được chất giọng mang tính dân gian hiện đại Với tập thơ đầu tay
đó là Con ngựa trắng và rừng quả đắng(1992), đây chính là sản phẩm đầu
tiên của anh,chưa gây được sự chú ý của dư luận, nhưng đã định hình được
thiên hướng thơ lục bát của thi sĩ đồng quê.Rồi đến Chăn trâu đốt lửa (1993),
Trở về với mẹ ta thôi(2000), Cuối cùng vẫn còn dòng sông (2000), Chuông chùa kêu trong mưa (2002), Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (2006) Những cơ
cực của đời thường, Đồng Đức Bốn đã cố gắng vượt qua nó, nhưng trong hồn thơ vẫn còn vương vấn chút cay đắng, chớ trêu của cuộc đời: mất cha, mất con, em ruột và hai đứa cháu ngoại bé bỏng tội nghiệp Đồng Đức Bốn như tan nát tim gan, ngượng ngạo mà đứng lên với những mong thơ ca, như người bạn tâm tình của mình Người ta ví nỗi đau mà Đồng Đức Bốn phải gánh chịu như nỗi đau đến dữ dội mà Aragông đã từng nếm trải:
Trang 37Tôi xé đời tôi và tôi xé thơ tôi…
…Tôi xé tim tôi và tôi xé mộng tôi
Từ mảnh vụn bình minh rồi sẽ dậy
Khi ta nhắc tới Đồng Đức Bốn, là ta nhắc tới một giọng thơ lạ, lạ ở chỗ lúc thiết tha, sâu lắng, trầm mặc, lúc tưng tửng ngạo nghễ, vô thường … với những cách nối câu gản dị, nhưng mang lại cho người đọc những triết lí sâu
xa về cuộc sống về con người, triết lí nhân sinh quan Điều đặc biệt hơn cả, là những câu thơ của anh như tiếng gọi thiết tha của những gì đã qua, những gì còn ở lại của một thời kì văn minh lúa nước Sông Hồng, gắn chặt với văn hóa làng, nó dạt dào như lòng mẹ thuở xưa với những câu ca điệu hát làm mê hoặc lòng người Khiến người đọc, chìm sâu vào tâm tưởng để nhớ, để mong
để hoài niệm
Dù đi đâu làm gì, trong con người ấy,vẫn nặng lòng với mảnh đất nơi anh sinh ra, hình ảnh làng Moi thân thuộc cứ trở đi trở lại trong thơ anh, nơi anh cất tiếng khóc chào đời và khôn lớn Hình ảnh làng quê trong thơ Đồng Đức Bốn không chỉ đẹp bởi có hồn, mà nó còn được tô điểm thêm bởi những nhân vật trữ tình như: người em, người chị, người mẹ, người anh… Rồi tình yêu đôi lứa, tình yêu những gì chân thật nhất,pha thêm chút nắng, chút gió, chút sóng, chút mưa cho đượm hồn thơ Dường như mọi thứ của cuộc sống hàng ngày làng quê, đã thấm đẫm vào máu thịt anh và cứ thế cảm xúc trong tho ca cứ dâng trào không bao giờ ngớt: “Thơ anh là sự thăng hoa dữ dội của những tình cảm cơ bản nhất, bền vững nhất của người dân” [7,585]
Con số khoảng 600 bài thơ lục bát và 200 bài theo thể thơ tự do, sự nhiệt huyết và tinh thần công hiến hết mình của nhà thơ Đồng Đức Bốn còn
nhiều hơn như thế Trong đó có một số tác phẩm đặc sắc như: Chăn trâu đốt
lửa, Chuồn chuồn cắn rốn biết bơi, Nhà quê, Chợ buồn, Trở về với mẹ ta thôi…
Chặng đường thơ của Đồng Đức Bốn được đánh dấu mốc son bằng những giải thưởng về thơ như giải thưởng cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1995,
Trang 38giải thưởng cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1998 -2000, giải thưởng cuộc thi thơ
Tạp chí Văn nghệ quânđội 1998 -2000 Giải thưởng cuộc thi thơ “Tầm nhìn
thế kỷ” báo Tiền Phong, tặng thưởng hay nhất của Tạp chí Văn nghệ quân đội Với tất cả những gì đã cống hiến, anh xứng đáng được liệt vào bậc thi sĩ
đồng quêmà giới văn học đã phong cho anh:
Tôi là thi sĩ đồng quê Dám đem lục bát làm mê cung đình
Trong lúc sự nghiệp thơ ca còn dang dở, Đồng Đức Bốn đã vội vàng
“dứt áo ra đi”, “trả bút cho đời” (14/2/2006), để lại biết bao tiếc thương cho những người yêu thơ anh Để lại một khoảng trống khó lấp trong chiếu thơ Việt Nam hiện nay Đi qua những gian truân của cuộc đời, từ cái lộc trời cho
ấy, anh đã vượt qua sóng gió để đứng vững trên con đường sự nghiệp sáng tác thơ ca của mình
1.4 ĐẶC ĐIỂM CỦA THỂ THƠ LỤC BÁT
1.4.1 Triển khai tứ thơ
Tứ thơ là ý lớn xuyên suốt bài thơ nhưng ý ấy không được nói thẳng ra
mà hòa quyện, biến hóa qua hình tượng có nhiều tìm tòi, sáng tạo của nhà thơ
Nó là “một ý chính, một ý lớn lao bao quát toàn bài thơ, nhưng không phải là một ý tưởng hoàn toàn trừu tượng mà đó là nhừng gì rất cụ thể của đời sống (một hiện tượng, một hình ảnh, một tâm trạng, một suy nghĩ …) được lựa chọn làm điểm tựa cho sự vận động của cảm xúc” [18,122] Hay như người ta nói, tứ thơ chính là phần hồn của thơ Hay nói như Đoàn Đức Phương “Việc xác lập tứ thơ được coi như điểm xuất phát, điểm tựa cho sự vận động của cảm xúc và suy nghĩ, cũng là ý tưởng bao quát toàn bài thơ” [19, 99].Đó là những đặc điểm riêng có của tứ thơ mà ta dễ nhận thấy, khi ta tiếp cận với thể thơ lục bát
1.4.2 Xây dựng hình ảnh
Theo nhà thơ Chế LanViên: “Thơ phải có hình ảnh Có người đã nói: triết học nghĩ bằng ý, tiểu thuyết bằng nhân vật,thơ nghĩ bằng hình ảnh” Còn
Trang 39Hà Minh Đức cho rằng: “Hình ảnh trong thơ là một yếu tố được sử dụng để thực hiện nhiều chức năng khác nhau Hình ảnh có khi là những nhân tố trực tiếp của nội dung nào đấy thông qua một so sánh, ẩn dụ” [12, 360].Có thể thấy được rõ tầm quan trọng của việc xây dựng hình ảnh trong thơ như thế nào, nó đem lại sức sống, sự hấp dẫn trong thơ
Bằng chính tình yêu thiết tha về văn hóa làng quê của mình, mỗi nhà thơ lại có hình ảnh thơ riêng trong hồn thơ của mình, mỗi quê lại có cái gì đó khác nhau tới tận cái nhỏ nhất Theo nhận định của Hà Minh Đức: “Một trong những hình thức phổ biến nhất mà các nhà thơ thường vận dụng là sự chọn lọc những hình ảnh cụ thể để nói lên cảm xúc Hình ảnh ở đây vừa là một đơn
vị của một nội dung có ý nghĩa thẩm mỹ khách quan, vừa là một nhân tố biểu hiện cảm xúc” [12, 24]
Hình ảnh làng quê trong thơ Đồng Đức Bốn, đó là cuộc sống hàng ngày của người dân nơi thôn dã Có cái gì còn sót lại và có những cái đang đổi khác hàng giờ, là một bức tranh đồng quê thu nhỏ với những cảnh sắc, con người… nơi thôn quê
1.4.3 Ngôn ngữ
Là phương diện để thể hiện thế giới bên trong cảm xúc và tâm trạng của chủ thể trữ tình, ngôn ngữ thơ hết sức gợi cảm dễ thuộc, dễ nhớ vì có vần điệu, giàu âm thanh, giàu sắc thái tu từ (từ láy, các biện pháp tu từ nhân hóa,
ẩn dụ, hoán dụ…) Bên cạnh đó, ngôn ngữ thơ còn giàu tính nhạc Đây chính
là đặc trưng quan trọng để thơ thể hiện những cung bậc khác nhau trong đời sống tình cảm con người Tính nhạc trong thơ được biểu hiện ở cách gieo vần, cách sử dụng phép đối [27] Có thể nói việc sáng tạo thơ ca không hẳn là sáng tạo ngôn từ nhưng ngôn từ quyết định đến chất lượng của tác phẩm thơ
Đồng Đức Bốn sử dụng một loạt những từ, cụm từ giàu tính tạo hình cho nên cảnh vật nơi làng quê, tâm tư của nhân vật trữ tình hiện lên sinh
động, tích cực trực quan gây ấn tượng sâu đậm: cơn bão mồ côi, vịn nắng,
gom bão, cái dốc người… Một đặc điểm nổi bật trong thơ Đồng Đức Bốn đó
Trang 40là ngôn ngữ giàu nhạc tính Tính nhạc trong thơ Đồng Đức Bốn được thể hiện
ở điệp cấu trúc “Làm trời phải có sao/Làm sông sông cứ dạt dào phù sa” (Về
lại chốn xưa) Không chỉ vận dụng tinh hoa của truyền thống trong phối điệu
để bày tỏ cảm xúc Việc sử dụng thanh bằng (là đặc trưng của tiếng nói Việt Nam, cũng là đặc trưng của âm vực lục bát), anh đã diễn tả sâu sắc cảm xúc trầm buồn khi nghĩ về tình yêu:
Em đi như chim về ngàn
Để rơi một cánh hóa tan nát chiều
(Sông Thương ngày không em)
1.4.4 Giọng điệu
Trong các yếu tố của phương thức thể hiện, giọng điệu là một hiện tượng nghệ thuật, là phương tiện để biểu hiện quan trọng của chủ thể sáng tạo, đồng thời còn là một biểu hiện trong những thời đại thi ca nhất định “Giọng điệu là thái độ, tình cảm lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả, thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm…” [17,112]
Với thơ, giọng điệu là một thành tố không thể thiếu trong việc xây dựng và triển khai tư tưởng, xúc cảm của nhà thơ Theo Nguyễn Đăng Điệp:
“giọng điệu thơ là một nhân tố không thể thiếu được để đoán nhận dung mạo, khí cách người cầm bút” [9, 8]
Với giọng điệu trầm buồn, sâu lắng nhìn về xóm làng đâu đâu cũng thấy xót xa nặng lòng.Đó chính là sự khác biệt của giọng thơ Đồng Đức Bốn, nguồn gố giọng điệu đó tự khúc nhôi gan ruột trong cuộc đời của anh nhưng
nó cũng là sự ảnh hưởng của điệu than trong ca dao Có thể thấy điệu than trong thơ Đồng Đức Bốn chính là những thổn thức trong tâm hồn của người
lao động chân lấm, tay bùn suốt một đời phải “bán mặt cho đất bán lưng cho
trời”