1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa làng nghề kiêu kỵ gia lâm hà nội trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và đô thị hóa

153 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hóa Làng Nghề Kiêu Kỵ, Xã Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội Trong Bối Cảnh CNH – HĐH Và Đô Thị Hóa
Tác giả Vũ Thị Minh Phượng
Người hướng dẫn TS. Đỗ Thị Minh Thúy
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 6,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các thành tố văn hóa truyền thống làng Kiêu Kỵ 23 CHƯƠNG 2: SỰ BIẾN ĐỔI CỦA VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG LÀNG NGHỀ KIÊU KỴ TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA VÀ ĐÔ THỊ HÓA 42 2.1.. Lị

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

VŨ THỊ MINH PHƯỢNG

VĂN HÓA LÀNG NGHỀ KIÊU KỴ, XÃ KIÊU

KỴ, GIA LÂM, HÀ NỘI TRONG BỐI CẢNH

Trang 2

Trung ương TW

Ủy ban nhân dân UBND

Trang 3

1.3 Các thành tố văn hóa truyền thống làng Kiêu Kỵ 23

CHƯƠNG 2: SỰ BIẾN ĐỔI CỦA VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

LÀNG NGHỀ KIÊU KỴ TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP

HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA VÀ ĐÔ THỊ HÓA

42

2.1 Những nhân tố tác động của quá trình công nghiệp hóa – hiện

đại hóa và đô thị hóa tới sự phát triển kinh tế xã hội của làng nghề

Kiêu Kỵ

42

2.1.2 Sự biến đổi trong cơ cấu tổ chức xã hội 47 2.2 Những biến đổi của văn hóa truyền thống làng nghề Kiêu Kỵ 54

Trang 4

trong bối cảnh hiện nay

CHƯƠNG 3 : VẤN ĐỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY NHỮNG GIÁ

TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA LÀNG NGHỀ KIÊU

3.2 Một số giải pháp cho việc bảo tồn và phát huy những giá trị

văn hóa truyền thống của làng nghề Kiêu Kỵ

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận văn

Nghề thủ công Việt Nam vốn có truyền thống lâu đời, truyền thống đó gắn liền với tên làng nghề, phố nghề và được biểu hiện bằng những sản phẩm thủ công truyền thống, với những nét độc đáo, tinh xảo, hoàn mỹ

Hiện nay, làng nghề thủ công truyền thống ở nhiều nơi vẫn tồn tại - giữ được nghề và phát triển Ở đó tập trung sản xuất một hay nhiều nghề thủ công, trở thành các trung tâm sản xuất có quy mô vừa và nhỏ, quy tụ các thợ thủ công, các nghệ nhân tài khéo, tạo ra những sản phẩm có bản sắc riêng, mà nơi khác khó có thể bắt chước được Những sản phẩm ở các trung tâm này, không chỉ là những vật phẩm sinh hoạt bình thường hàng ngày, mà một số đạt tới giá trị nghệ thuật cao, biểu trưng của nền văn hoá truyền thống; Biểu thị sự phát triển kinh tế, trình độ dân trí, đặc tính nhân văn của dân tộc

Làng nghề là một môi trường văn hoá, kinh tế, xã hội và công nghệ truyền thống lâu đời Nó bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền

từ đời này sang đời khác, chung đúc qua các thế hệ nghệ nhân tài năng Sản phẩm của mỗi làng nghề thủ công đều có bản sắc riêng của mình, nhưng vẫn

có nét tiêu biểu và độc đáo của cả dân tộc Việt Nam Môi trường văn hoá làng nghề là khung cảnh làng quê với cây đa, bến nước, đình chùa, đền miếu… các hoạt động lễ hội, phong tục tập quán, nếp sống đậm nét dân gian và chứa đựng tính nhân văn sâu sắc Vì thế mất nghề thủ công truyền thống là đánh mất một phần di sản văn hoá vô cùng độc đáo của dân tộc là mất đi cái tinh hoa, bản sắc của con người Việt Nam

Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, công tác bảo tồn và đầu tư phát triển nghề thủ công truyền thống là một trong những nội dung cơ bản của quá trình công nghiệp hoá hiện

Trang 6

đại hoá nông thôn Xây dựng nông thôn mới hiện nay, vừa giải quyết việc làm, vừa tăng thu nhập, góp phần tích cực vào việc xoá đói giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, đúng mục tiêu, nội dung các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước đã đề ra

Làng Kiêu Kỵ xưa thuộc Kinh bắc, là một ngôi làng Việt cổ, cách kinh thành Thăng Long khoảng 20 km Kiêu Kỵ có lịch sử hình thành và phát triển trên 400 năm, mang trong mình những giá trí văn hoá vật thể và phi vật thể đặc sắc góp phần cấu thành nên văn hoá Thăng Long – Hà Nội Làng Kiêu Kỵ

là làng nghề độc nhất vô nhị ở Việt Nam có nghề quỳ, giữ vị trí đặc biệt trong chiến lược phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của Hà Nội nói riêng và của cả

nước nói chung Vì vậy việc nghiên cứu “Văn hoá làng nghề Kiêu Kỵ, xã Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội trong bối cảnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa

và đội thị hoá” nhằm góp phần vào việc bảo tồn và phát triển di sản văn hóa

quý giá của cha ông trong xu thế hội nhập hiện nay là vô cùng cần thiết

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hiện nay, nghiên cứu về làng nghề và văn hoá làng nghề truyền thống

ở Việt Nam là vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như Dân tộc học, Sử học, Kinh tế học, Xã hội học… Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã tạo nên một kho tư liệu phong phú về nghề và văn hoá làng nghề, có thể chia thành 4 mảng tài liệu như sau:

2.1 Các tác phẩm viết về văn hoá làng nói chung

Thời phong kiến có cuốn Dư địa chí (1976) của Nguyễn Trãi; Đại Nam nhất thống chí (1971) của Quốc sử quán triều Nguyễn; là những cuốn đề cập

đến sớm nhất các vấn đề về đời sống văn hoá cộng đồng dân cư trong các làng xã Việt Nam nói chung dưới dạng ghi chép về địa lý, khí hậu, sản vật, những kỹ nghệ tiêu biểu …, ở đây, làng cụ thể chưa được đề cập đến

Trang 7

Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về văn hoá làng và nông thôn Việt

ở các giai đoạn tiếp theo: Việt Nam phong tục (2003) của Phan Kế Bính; Nếp cũ: Làng xóm Việt Nam (1991) của Toan Ánh; Cơ cấu tổ chức của làng Việt

cổ truyền ở Bắc Bộ (1984) của Trần Từ; Tìm hiểu làng Việt (1990) của Diệp Đình Hoa; Làng Việt Nam - một số vấn đề kinh tế xã hội (1992) của Phan Đại

Doãn… Các tác phẩm này tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức, thiết chế làng, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo …

Các tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu về một làng hay một vấn đề cụ

thể như cuốn Làng Nguyễn (1992) của Diệp Đình Hoa; Ninh Hiệp – truyền thống và biến đối (1997) của Tô Duy Hợp; Văn hoá làng Tiên Điền – truyền thống và hiện đại (1998) của Nguyễn Quốc Phẩm … các tác phẩm này đề cập

cụ thể về điều kiện tự nhiên, những nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của từng làng, qua đó khắc hoạ tương đối rõ nét về bức tranh văn hoá của từng địa phương đó

2.2 Các tác phẩm viết về nghề thủ công ở Việt Nam

Sư lược lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam (1957) của Phan

Gia Bền có thể coi là một trong những tác phẩm sớm nhất viết về nghề thủ công Những năm cuối thế kỷ XX, nghề thủ công đã được nhiều học giả trong

và ngoài nước quan tâm và nghiên cứu: Nghề cổ truyền (1987) của Tăng Bá Hoành; Lược truyện thần tổ các ngành nghề (1991) của Vũ Ngọc Khánh; Tìm hiểu di sản văn hoá dân gian Hà Nội (1994) do Trần Quốc Vượng, Nguyễn Vinh Phúc, Lê Văn Lan chủ biên; Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề (1996) của Trần Quốc Vượng, Đỗ Thị Hảo; Tạo việc làm thông qua khôi phục và phát triển nghề truyền thống (1996) của Trần Văn Luận; Những bàn tay tài hoa của cha ông (1990) của Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc; Tinh hoa nghề nghiệp cha ông (1998) của Bùi Văn Vượng; Các

vị tổ ngành nghề Việt Nam (1999) của Lê Minh Quốc;… các tác phẩm này đã

Trang 8

đi sâu nghiên cứu cụ thể từng ngành nghề thủ công truyền thống tại các địa phương

2.3 Các tác phẩm viết về các làng nghề, phường thủ công

Làng Vó và nghề đúc đồng truyền thống (1996) của Đỗ Thị Hảo; Nghề, làng nghề thủ công truyền thống ở Nghệ An (1998) của Ninh Viết Giao; Nghề đóng tàu làng Trung Kiên (1999) của Hoàng Thị Hồng Cẩm; Làng nghề phố nghề Thăng Long – Hà Nội (2000) của GS Trần Quốc Vượng, Đỗ Thị Hảo: Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình CNH-HĐH (2001) của Dương Bá Phượng; Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) truyền thống và biến đổi ( 2009) của Bùi Xuân Đính … Các tác

phẩm này đã triển khai nghiên cứu về nghề thủ công ở các địa phương dưới nhiều góc độ khác nhau, các tác giả đã đề cập sâu sắc và rõ nét về sự biến đổi

và phát triển của các làng nghề trong lịch sử và hiện tại Qua những công trình nghiên cứu này đã cho chúng ta có được bức tranh tương đối hoàn chỉnh

về nghề, làng nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam

2.4 Các tác phẩm, bài viết về nghề và làng nghề Kiêu Kỵ

“Nghề quỳ ở Kiêu Kỵ” là một trong những nghề độc nhất vô nhị ở nước

ta nên đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và nghiên cứu như cuốn: “Địa chí văn hoá dân gian Thăng Long- Đông Đô – Hà Nội (1991) của Đinh Gia Khánh, Sổ tay địa danh Việt Nam (1996) của Đinh Xuân Vịnh, Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam (1996) của Bùi Văn Vượng, Quỳ vàng Kiêu Kỵ của Nam Anh (T/c Truyền hình Hà Nội 4/2006), Nghề quỳ ở Kiêu Kỵ của Nguyễn Quang Lê (T/c Văn hoá Dân gian 1/2005); Lịch sử truyền thống cách mạng Đảng bộ và nhân dân xã Kiêu Kỵ tháng 1/2003… các công trình, bài

viết trên đã ít nhiều nghiên cứu, miêu tả nghề và làng nghề Kiêu Kỵ ở những góc độ khác nhau, song chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, chuyên biệt về văn hoá làng nghề Kiêu Kỵ trong bối cảnh CNH, HĐH và đô thị hóa

Trang 9

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

- Luận văn nghiên cứu tìm hiểu một số nét văn hoá của làng nghề Kiêu

Kỵ xã Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội trong bối cành CNH - HĐH và đô thị hoá nhằm tôn vinh những di sản, thành tựu văn hoá do cha ông để lại

- Tìm ra nguyên nhân, các cơ chế vận động, các mối quan hệ kinh tế, xã hội, sự hình thành, tồn tại, biến đổi và phát triển của làng nghề Kiêu Kỵ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu, khảo sát văn hoá làng nghề Kiêu Kỵ dưới nhiều góc

độ khác nhau, trong đó đề tài tập trung nghiên cứu về điều kiện tự nhiên – xã hội, địa lý dân cư, nghiên cứu về lịch sử hình thành và quá trình phát triển của làng nghề, các giá trị văn hoá từ truyền thống đến hiện đại, như phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, và các công trình kiến trúc

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu văn hoá làng nghề Kiêu Kỵ từ xưa cho tới nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn vận dụng phương pháp duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc theo tinh thần của Nghị

quyết TW5 khoá 8 của Đảng “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Luận văn sử dụng phương pháp khảo sát điền dã thực địa, khảo cứu môi trường văn hóa của làng nghề Kiêu Kỵ

+ Sưu tầm tư liệu về làng nghề qua sách báo, tạp chí, qua các nguồn tư liệu trong dân gian

Trang 10

+ Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành như phương

pháp nghiên cứu dân tộc học, văn hóa học, xã hội học, nhân học…

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn nghiên cứu một một số nét văn hoá làng nghề Kiêu Kỵ trong

bối cảnh CNH - HĐH và đô thị hóa Đóng góp của luận văn trên những khía

cạnh sau:

- Cung cấp cho người đọc một cái nhìn khái quát về nghề thủ công

truyền thống ở Kiêu Kỵ trong tiến trình lịch sử

- Khẳng định giá trị văn hoá của làng nghề Kiêu Kỵ trong quá trình

công nghiệp hóa – hiện đại hóa và đô thị hóa

- Chỉ ra tính đặc thù của làng nghề, sự tồn tại và phát triển của làng

nghề truyền thống đặc biệt trong bối cảnh hiện nay

- Những kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần tăng thêm niềm tự

hào về văn hoá làng trong đó có văn hoá làng nghề truyền thống, nâng cao

tình yêu quê hương, đất nước của người dân trong quá trình hội nhập và giao

lưu văn hoá quốc tế hiện nay

7 Bố cục của luận văn:

Bố cục của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu

tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Làng Kiêu Kỵ và văn hoá truyền thống làng nghề Kiêu Kỵ

Chương 2: Sự biến đổi của văn hoá truyền thống làng nghề Kiêu Kỵ

trong bối cảnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa và đô thị hoá

Chương 3: Vấn đề bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của làng nghề Kiêu Kỵ

Trang 11

Xã Kiêu Kỵ là một trong những địa bàn có vị trí quan trọng về kinh tế

và văn hóa ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Xã Kiêu Kỵ cách thị trấn Trâu Quỳ-lỵ sở của huyện Gia Lâm chừng 3km và cách Hà Nội chừng 20 km, theo quốc lộ 5 (Hà Nội - Hải Phòng) rẽ vào đường số 181 chừng 2km thì tới làng

Xã Kiêu Kỵ là một trong 35 xã- thị trấn thuộc huyện Gia Lâm ngoại thành Hà Nội, phía Bắc và Tây bắc giáp xã Dương Xá và thị trấn Trâu Quỳ huyện Gia Lâm, phía Tây giáp xã Đa Tốn huyện Gia Lâm, phía Đông giáp xã Tân Quang và Tiên Tiến huyện Văn Lâm, phía Nam giáp xã Cửu Cao huyện Châu Giang tỉnh Hưng Yên Xã gồm 7 thôn: Báo Đáp, Chu Xá, Gia Cốc, Hoàng Xá, Kiêu Kỵ, Trung Dương, Xuân Thụy và hai khu dân cư: Thảm len, Liên cơ

Thôn Báo Đáp có tên Nôm là làng Đuốc, Chu xá có tên Nôm là làng Cầu Chùa, Hoàng Xá có tên Nôm là làng Mãn, Gia Cốc có tên Nôm là làng Đanh, Kiêu Kỵ có Tên Nôm là Cầu Cậy, Xuân Thụy có tên Nôm là làng Ni

Xã mang tên Kiêu Kỵ từ năm 1965, làng Kiêu Kỵ nằm ở trung tâm xã có đầy

đủ điều kiện phát triển kinh tế văn hoá toàn diện

Kiêu Kỵ gọi theo Hán tự nghĩa là “cưỡi ngựa” Tương truyền, thời Nhà Trần, đất làng Kiêu Kỵ được sử dụng làm bãi thao trường luyện tập binh mã (ngựa chiến) của tướng quân Nguyễn Chế Nghĩa Nên Cầu Cậy có tên là Kiêu

Kỵ

Trang 12

Cũng có truyền thuyết nói rằng, Cầu Cậy đổi thành Kiêu Kỵ là từ khi

có chủ trương của triều đình phong kiến cho phép các thôn xã được bàn định

để đổi tên Nôm không được đẹp thành tên chữ Hán vừa đẹp, vừa thuận lợi trong giao dịch giấy tờ hành chính Theo đó, Cầu Cậy được Hán hóa Cầu ra Kiều, Cậy ra Kỵ Kiêu Kỵ do đọc chệch của Kiều Kỵ mà ra

Theo sử sách, truyền thuyết còn lưu truyền và các cổ vật tìm thấy khi đào sông Bắc Hưng Hải qua phần phía Nam xã thì các thôn làng xã Kiêu Kỵ được hình thành từ rất lâu đời (trừ thôn Trung Dương mới lập ấp cuối thế kỷ 19)

Trước đây xã Kiêu Kỵ gồm bốn xã: Hạ Tốn, Xuân Thụy, Gia Cốc và Kiêu Kỵ thuộc Đa Tốn huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh Năm 1948 cả bốn xã đều nhập vào xã Đa Tốn gọi là xã Đại Hưng Năm 1956 lại tách ra thành xã Tân Hưng và thôn Trung Dương thuộc xã Quang Trung ( trước thuộc đồn điền Trâu Quỳ) nhập vào Năm 1966 xã Tân Hưng được đổi tên thành xã Kiêu Kỵ

Xã Kiêu Kỵ, trong lịch sử và hiện tại trực phụ thuộc cấp hành chính huyện Gia Lâm Do vậy, tìm hiểu đôi nét về quá trình hình thành huyện Gia Lâm nhằm làm sáng rõ hơn vị trí địa lý hành chính của Kiêu Kỵ trong quá trình phát triển

Tên gọi Gia Lâm có từ đời Lý (1010-1225); Ngày 01-12 năm Giáp Đến thời Trần, quận Gia Lâm đổi thành huyện Gia Lâm Gia Lâm là cửa ngõ phía Bắc của kinh thành Thăng Long, thuận lợi cho việc giao thương buôn bán, phát triển nghề thủ công phục vụ nhu cầu của các tầng lớp nhân dân kinh thành Thăng Long

Huyện Gia Lâm lần lượt đặt trụ sở tại các xã Đặng Xã, Phú Thị, Ái Mộ, Trường Lâm và hiện nay huyện Gia Lâm trụ sở đặt tại Trâu Quỳ

Trang 13

Thời Lý, Trần (1010- 1400), huyện Gia Lâm thuộc phủ Thiên Đức Lộ- Bắc Giang Theo bài vịnh văn ở thôn Thánh Quán, huyện Bạch Hạc (nay là huyện Vĩnh Tường- Vĩnh Phúc) soạn vào thời Trần cho biết vùng đất huyện Gia Lâm có điền trang thái ấp của Văn Huệ Vương Trần Quang Chiều (nay là thôn Gia Lâm, xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm)

Sau khi đánh thắng quân Minh, Lê Lợi đã phân chia các cấp hành chính

cả nước, huyện Gia Lâm chia về phủ Thuận Đức

Vào năm thứ 6 niên hiệu Quang Thuận (1466), đời Lê Thánh Tông, huyện Gia Lâm chia về phủ Thuận An, thuộc thừa tuyên Bắc Giang Ba năm sau, vào năm 1469, thừa tuyên Bắc Giang đổi thành Trấn Kinh Bắc Năm

1831, Trấn Kinh Bắc đổi thành tỉnh Bắc Ninh Năm 1862, huyện Gia Lâm phân về phủ Thuận Thành, thuộc tỉnh Bắc Ninh

Năm thứ 6 niên hiệu Duy Tân (1912), huyện Gia Lâm về phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Từ đời Nguyễn Gia Long, huyện Gia Lâm đã có khu vực địa bàn gần giống như hiện nay Ngày 28/11/1948, huyện Gia Lâm về tỉnh Hưng Yên (Sắc lệnh số 263 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa) Ngày 07/11/1949, huyện Gia Lâm về Thành phố Hà Nội (nghị quyết của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa 2, kỳ họp thứ 2) cho tới nay

1.1.2 Điều kiện tự nhiên, dân cư và kinh tế

Xã Kiêu Kỵ mang đầy đủ những đặc trưng của một vùng châu thổ sông Hồng, kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp

Theo tổng điều tra dân số năm 1999, xã Kiêu Kỵ có diện tích đất tự nhiên là 561 ha, trong đó có 319 ha đất canh tác nông nghiệp và đến năm

2010, diện tích đất tự nhiên 561 ha và trong đó đất canh tác là 261 ha

Ruộng đất làng Kiêu Kỵ mầu mỡ phì nhiêu được bồi đắp bởi con sông Hồng tải nặng phù sa và hai con sông nhỏ là sông Nghĩa Trụ và Sông Đào

Trang 14

sông Nghĩa Trụ chảy qua Lê Xá, Phú Thị đến Xuân Cầu, Văn Giang (Hưng Yên) Sông Đào từ Cổ Bi chảy về hướng đông đến Khương Tự nối với sông Nghĩa Trụ ở Xuân Áng

Ruộng đất Kiêu Kỵ được chia làm 2 loại- vùng cao và vùng thấp, chênh lệch nhau từ 0,5 đến 1,2 mét, vùng cao có độ cao trung bình từ 4,2 đến 4,6 mét (so với mặt nước biển), trồng được hai vụ lúa, một vụ mầu/ năm Vùng thấp chỉ trồng được hai vụ lúa năm, không trồng thêm được vụ hoa mầu Quá trình hình thành hai loại đất là do sự biến đổi của hệ thống đồi gò, thềm nằm bên cạnh đầm lầy được phù sa sông Hồng bồi đắp Sử sách còn ghi lại, thời nhà Trần từ năm 1269-1398 xảy ra 16 trận vỡ đê Thời Lê cũng vậy, trận to nhất vào năm 1792 vỡ đê Cự Lĩnh nước ngập trắng cả một vùng Văn Lâm, Văn Giang Sang thế ký thứ XIX đê Văn Giang vỡ 18 năm liền Từ những trận vỡ đê, đói kém loạn lạc, thất tán Dân làng Kiêu Kỵ trong cảnh bần hàn, cùng nhau đắp đê, sửa kè, tu sửa lại đồng điền, xây dựng lại làng xóm

Dân số Kiêu Kỵ, theo kết quả điều tra năm 1999 có 8065 người, 2156

hộ Đến năm 2010, Kiêu Kỵ có 10351 người và 2785 hộ, riêng thôn Kiêu Kỵ

có 2500 người và 740 hộ Địa bàn tụ cư của người dân Kiêu Kỵ theo hình xương cá, dọc hai bên đường 179 Nhân dân ở đây có truyền thống cách mạng, cần cù trong lao động, sáng tạo trong sản xuất

Bảng 1: Số nhân khẩu và hộ dân ở các thôn trong xã Kiêu Kỵ

Trang 15

Thôn Trung Dương 1772 468

(Nguồn: Theo số liêu điều tra năm 2010 do xã Kiêu Kỵ cung cấp)

Với tiềm năng đất đai, nguồn lao động dồi dào và lợi thế về vị trí địa lý, Kiêu Kỵ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế

Làng Kiêu Kỵ lấy nông nghiệp đa canh làm nguồn sống chính, 90% diện tích được cấy, trồng nhiều loại lúa, rau mầu; ngoài thâm canh , người dân còn xen canh gối vụ

Là một làng sản xuất nông nghiệp nhưng Kiêu Kỵ có nghề thủ công truyền thống may da và dát quỳ do đó kinh tế ngày càng phát triển Thu nhập hàng năm hàng trăm triệu đồng/hộ Đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao

Làng có chợ Chợ Kiêu Kỵ có quy mô chợ vùng, hàng hoá dồi dào Chợ

là bức tranh quê phản ánh sự sung túc, dồi dào của sản vật Kiêu Kỵ như: lúa gạo, ngô, khoai, rau, dưa, cà, thịt cá tôm cua, đặc biệt là hàng thịt trâu, do làng có nghề chế biến da trâu làm mực nho Một nguyên liệu trong làm nghề quỳ ( vì quy trình gia công làm quỳ có khâu: lướt mực và đập giấy quỳ), nên làng phải mổ trâu lấy da nấu keo, thịt đem bán, do đó thịt trâu ở chợ Kiêu Kỵ

rẻ hơn nhiều chợ khác Chợ Kiêu Kỵ được xem là chợ nổi tiếng xứ Kinh Bắc:

Chợ Phù Lưu (chợ Dầu) chợ Đình Bẳng, chợ Phù Đổng, chợ Công Luận, chợ Huê Cầu, chợ Lực Canh, Chợ Quỳnh, chợ Thanh Am, chợ Đông Dư, chợ Kiêu Kỵ, có những chợ có phố

xá như chợ Kiêu Kỵ bán thịt trâu, vàng diệp Chợ Lực Canh là chợ có xóm đông dân nhất Chợ Phù đổng có hàng hoá nhiều

Trang 16

Chợ Bát Tràng trên bến dưới thuyền, có nhiều thuyền bè ra vào tấp nập [60, tr.1118]

Người làng Kiêu Kỵ có đầy đủ đức tính của người nông dân Việt Nam: Cần cù chịu thương chịu khó, chất phát, thuần hậu, nghĩa tình trọn vẹn với xóm làng, bạn bè, họ mạc Lại có đức tính cần cù, sáng tạo của người thợ thủ công: bền bỉ, khéo léo, trọng chứ “tín” trong nghề nghiệp Người thợ thủ công Kiêu Kỵ không làm giả, không thích dùng chữ “giả” mà vàng là vàng, bạc là bạc Quỳ thiếc chứ không phải là giả bạc Vải da chứ không phải là giả da

1.1.3 Danh nhân làng nghề Kiêu Kỵ

Làng Kiêu Kỵ là ngôi làng cổ nằm trong vùng đất có bề dày lịch sử hàng nghìn năm Truyền thống cách mạng cùng với văn hóa làng đã nuôi dưỡng nên những người con kiệt xuất Đó là vị tướng nhà Trần, Nguyễn Chế Nghĩa và ông tổ nghề quỳ Nguyễn Quý Trị Cả hai ông đều được dân làng Kiêu Kỵ suy tôn làm thành Hoàng làng

Danh nhân Nguyễn Chế Nghĩa theo cuốn thần tích còn lưu lại tại đền

Kiêu Kỵ có ghi ông:

Người Cối Xuyên, Tràng Tân, phủ Hạ Hồng, lộ Hồng Châu nay

là xã Nghĩa Hưng, huyện Tứ Lộc, tỉnh Hải Dương Ngài là một danh tướng thời Trần, tinh thông võ nghệ, thiên văn địa lý và kinh sử…Dưới cờ vua Trần Hưng Đạo Đại vương, ngài đã cùng Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật…lập nhiều chiến công hiển hách Sau chiến thắng giặc Nguyên Mông xâm lược, ngài được vua Trần gả công chúa Ngọc Hoa cho và tấn phong làm phò mã

Đô úy, sau đó là Nhập nội thị Thái úy, Thái tể Nghĩa Xuyên .Không những ngài giúp vua dẹp giặc, ngài còn giúp dân trong việc cầy cấy tầm tang, bảo vệ đê điều, chống bọn tham nhũng…

Trang 17

Ngài bị bọn gian nịnh xúc xiểm ly gián nhà vua và cuối cùng bị chúng hãm hại khi ở triều nội về Kiêu Kỵ [61, tr.1118] Dân làng Kiêu Kỵ đã lập đền thờ ông

Danh nhân Nguyễn Quý Trị vị tổ dát vàng quỳ Nguyễn Quý Trị đỗ tiến

sĩ đời Cảnh Hưng (1740-1786), thuở nhỏ ông sinh ra và lớn lên ở làng Kiêu

Kỵ Vào năm 1763, khi đang làm quan đến chức “Binh Bộ tả thị lang” Hàn lâm Viện học sĩ, ông được cử đi sứ sang Trung Quốc Trên đường đi công cán ông nhận thấy ở đất nước người có nghề rất hay; nghề dập dát vàng bạc để sơn thếp lên hoành phi, câu đối Ông cố gắng tìm hiểu và học cho được nghề Khi về nước ông phổ biến cho dân làng và dân làng suy tôn ông là Tổ

sư nghề quỳ Hàng năm, để tưởng nhớ công lao của ông, cứ đến ngày 17-8 âm lịch, dân làng Kiêu Kỵ làm giỗ ông, ngày “cáo kỵ” hay còn gọi là ngày “Kỵ

Tổ sư”

Danh nhân Vũ Danh Thuận người có công chấn hưng nghề quỳ cuối

thế kỷ XIX, ông là nhà sản xuất, đồng thời là nhà kinh doanh có tài Văn bia Hậu thần ở làng ghi:

Ngoài việc chấn hưng nghề, ông còn là người có tình nghĩa sâu nặng với quê hương, ông thấy dân làng chịu thuế khóa nặng, lại

bị lũ lụt vỡ đê, có gia đình nghèo khổ quá phải bỏ làng đi, đình, miếu muốn tu sửa mà không kham nổi…Ông đã cung tiến gạch ngói gỗ lạt cho bản xã để tu sửa, lại để cho 60 mẫu đất, giúp thêm trên 1000 cọc tiền và 2 dật bạc, giúp cho 26 đội đắp đê, 260 sọt thóc Ông bàn với các chức sắc đem tiền lời của của khoán công quỹ là 200 quan mua gạo phát cho dân làng và kêu gọi bà con lưu tán trở về quê hương Ông còn để riêng 5 sào ruộng dành cho con cháu sau này thi hương lọt vào trường đệ tam trở lên thì được nhận phần ruộng đó để canh tác lấy lương thực mà ăn học

Trang 18

tiếp…Tâm đức của ông lớn như vậy, nên dân làng lập bia đá vào

tháng 9 năm Minh Mệnh thứ 9 (1928) ghi nhận công lao và tôn ông là hậu thần Ông được phụ thờ Tổ nghề Nguyễn Chế Nghĩa

Danh nhân Nguyễn Sơn Kiêu Kỵ còn là quê hương của tướng Nguyễn

Sơn (1908-1956) Ông tên thật là Vũ Nguyên Bác, tham gia cách mạng từ năm 1926, học trường quân sự Hoàng Phố và hoạt động trong phong trào Cộng Sản ở Trung Quốc, từng tham gia Vạn lý trường chinh (năm 1935) Năm 1945, ông về nước giữ các chức vụ chỉ huy quân sự ở Liên khu 5, liên khu 4 Năm 1949, được phong quân hàm Thiếu tướng Năm 1951, trở lại Trung Quốc, công tác tại Bộ tổng tham mưu quân giải phóng Trung Quốc, được phong quân hàm Thiếu tướng nên gọi là Lưỡng quốc Thiếu tướng Ở Trung Quốc tên ông được nhắc đến như một huyền thoại Năm 1999, tên ông được đặt tên cho một đường phố từ phố Ngọc Lâm đến sân bay Gia Lâm, dài 1,5km

Ngoài những người con “khéo tay hay nghề”, “học hay, cày giỏi” được dân làng truyền tụng, tôn vinh, còn có những người con ưu tú của làng đã ngã xuống trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lăng để bảo vệ quê hương, đất nước

1.1.4 Cơ cấu tổ chức xã hội trong làng

Làng xã là trung tâm sinh hoạt tự chủ của người dân và là nơi bảo lưu văn hóa truyền thống, tạo nên sức mạnh dân tộc Trước mọi cuộc xâm lăng, trước mọi mưu đồ làm tổn hại cuộc sống hạnh phúc của người dân, hệ thống làng xã luôn là cơ cấu chính yếu giúp dân tộc ta bảo toàn lực lượng, phục hồi sức mạnh và vươn lên phát triển

Theo PGS.TS Bùi Xuân Đính:

Làng trước hết là một từ Nôm, dùng để chỉ đơn vị tụ cư truyền thống của nông dân Việt, có địa vực riêng, cơ sở hạ tầng cùng cơ

Trang 19

cấu tổ chức riêng, lệ tục riêng… nhưng chặt chẽ và hoàn chỉnh nhất [18, tr.19]

Trước Cách mạng tháng Tám 1945, cơ cấu tổ chức của làng Kiêu Kỵ theo mô hình của làng nông nghiệp vùng châu thổ sông Hồng, làng gồm các

thiết chế tập hợp người theo mối quan hệ: Dòng họ: là tổ chức tập hợp người

theo huyết thống và tồn tại như như một sức mạnh tâm lý Vì thế dòng họ không giữ vai trò, chức năng gì trong công việc của làng, nhưng nó vẫn có sự liên kết chặt chẽ trong việc nắm giữ những chức vụ trong bộ máy quản lý làng

xã ; Xóm: là tổ chức tập hợp người theo quan hệ địa vực, quan hệ láng giềng,

có chức năn g bảo vệ an ninh cộng đồng; Giáp: là tổ chức tập hợp người theo

lớp tuổi kết hợp với quan hệ huyết thống của nam giới, giữ nhiều trọng trách trong sinh hoạt xã hội của làng, trong việc biện lễ, phục vụ tế lễ, rước sách thờ

cúng Thành hoàng, chia ruộng đất công, phân bổ sưu thuế…; Hội đồng kỳ mục: gồm các quan lại các cấp về hưu, các tân cựu chánh phó tổng, cựu lý phó trưởng, đứng đầu là một tiên chỉ và một hoặc hai thứ chỉ giúp việc [18, tr.20 – 23] Đây là cơ quan có toàn quyền quyết định các công việc trong; Bộ máy chức dịch: là đại diện của chính quyền phong kiến ở làng, chịu trách nhiệm các khoản sưu thuế, binh dịch của xã trước nhà nước; Các phường hội:

quan hệ tương trợ của những người có cùng sở thích Trong làng, thiết chế giáp và hội đồng kỳ mục cùng bộ máy chức dịch giữ vị trí quan trọng trong tổ chức và quản lý các hoạt động của cộng đồng

Cơ cấu tổ chức theo huyết thống dòng họ: Dòng họ ở Kiêu Kỵ có vị trí

và vai trò quan trọng trong làng, dòng họ là chỗ dựa vật chất và tinh thần cho mỗi gia đình Làng Kiêu Kỵ có nhiều dòng họ, trong đó có các dòng họ lớn như: họ Nguyễn, Lê, Phạm Đình, Nguyễn Danh, Đinh, Vũ Huy, Mai, Quách Nhiều dòng họ đã từng có người đỗ đạt cao trong các khoa thi, như: họ Vũ Huy, họ Lê Hữu, họ Lê Đình, họ Nguyễn, họ Vũ Danh Mức độ liên kết trong một dòng họ khá rạch ròi như: cố, cụ, ông, bà, con, cháu, chắt, chút

Trang 20

Cơ cấu tổ chức theo địa vực (láng giềng, xóm): Làng Kiêu Kỵ phân

chia thành nhiều xóm, xóm phân thành nhiều ngõ, mỗi ngõ có một hay nhiều nhà Trước kia làng Kiêu Kỵ có các xóm: xóm ngõ Đông, xóm cổng Hương, xóm ngõ Cầu, xóm ngõ Ba, xóm ngõ Nghĩa, xóm Dấm Các xóm, các ngõ này

có cấu trúc hình khối dài, xen kẽ với ruộng đồng và có cuộc sống tương đối độc lập Mỗi xóm có một cổng, một giếng chung

Cơ cấu tổ chức theo nghề nghiệp, sở thích: cơ cấu tập hợp người trong

những tổ chức dựa trên lòng tự nguyện tham gia của từng cá nhân (phe, hội, phường ) Ở Kiêu Kỵ có hội Tư văn, hội Võ giáp, hội Nghề Hội Tư văn là

hội gồm: “Những khóa sinh nho học, thầy đồ, những người học hành đỗ đạt qua các kỳ thi đứng ra lập hội Tư văn”[39, tr.127] Cùng với hội Tư Văn,

làng còn có hội Võ giáp Hội Võ giáp do cụ Vũ Hữu Lâm, tục gọi là cụ cử Lim đứng ra tổ chức Cụ cử Lim đậu cử nhân võ thời Tự Đức Hằng năm vào ngày 06-9, hội Võ Giáp sửa lễ xôi thủ lợn để hàng hội tế lễ ở đền đức Thành hoàng làng, rồi cùng nhau hoan ẩm

Hội Võ giáp không mở trường dạy võ mà chỉ truyền dạy “miếng”,

“thế” cho thanh niên trai tráng, tuần đinh của làng để tự vệ lúc tuần tra “nội thôn ấp, ngoại đồng điền” Hàng năm, vào dịp hội làng, hội Võ giáp đều có tổ chức giải vật, giải võ thu hút nhiều thanh nhiên trai tráng của các làng lân cận cùng tham gia rất sôi nổi và hào hứng

Cơ cấu tổ chức theo giáp: Đây là tổ chức dành cho nam giới tiến thân

theo tuổi tác, phụ nữ không được vào Bé trai mới lọt lòng được vào hàng giáp ngay, sau đó được lên đinh, ngồi chiếu giữa làng, được nâng dần địa vị theo tuổi tác:

Giáp không phải một thành phần của xã, mà giáp có thể coi như một tập thể gồm những đàn ông con trai trong làng được quy tụ bởi những liên hệ tôn tộc, bởi cùng một thôn xóm, hoặc có khi

Trang 21

cùng có một liên hệ tinh thần gì khác như việc tế tự chẳng hạn [3, tr.140 – 141]

Kiêu Kỵ trước đây có 10 giáp gồm, giáp Chung Bắc, giáp Chính Nhất, giáp Nam Thọ, giáp Chính Hậu, giáp Nam Phúc, giáp Chung Thượng, giáp Nam Toàn, giáp Nam Thịnh, giáp Đông Nhất, giáp Đoài Nhất Theo cụ Lê

Hữu Duyến (vị túc nho của làng) các giáp có nhiệm vụ “khánh tiết và tuần phòng”, tức là lo những công việc liên quan đến việc cúng tế và giữ gìn trật

tự an ninh, công việc này được ghi đầy đủ và cụ thể trong khoán ước của làng

và được gọi là bản thủ Tổ chức giáp có liên quan chặt chẽ đến dòng họ, cha ở giáp nào thì con thuộc giáp ấy, tuy nhiên chức năng hoạt động có khác nhau

Cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính: Làng Kiêu Kỵ bên cạnh các tổ

chức dòng họ, xóm giềng, phe, giáp, hội, thì bộ máy hành chính mang tính cổ

truyền cũng tương tự như các làng quê khác

Cơ cấu bộ máy hành chính có ba cơ quan: cơ quan nghị quyết, cơ quan chấp hành và cơ quan trị an Thời nhà Lê thì Hội đồng kỳ hào là cơ quan nghị quyết, có hương trưởng (sau là tiên chỉ) Trị an, tự vệ giao cho trùm trưởng (sau gọi là tuần đinh) Hương trưởng và trùm trưởng cũng là thành viên của Hội đồng kỳ hào

Hội đồng kỳ hào gồm các hương hào danh tiếng có phẩm hàm, học thức, hoặc hưu quan trong xã Trong làng Kiêu Kỵ ngôi thứ trong hội đồng được xét theo “thiên tước”, tức ai cao tuổi nhất thì làm tiên chỉ Hội đồng kỳ hào thường nhóm họp một tháng hai lần vào ngày mồng một và ngày rằm sau

lễ Thành hoàng ở đình, giải quyết các công việc như: quyết định thu chi các ngạch thuế đinh, tiền cheo, tiền vạ, cùng những việc tế tự, Hội đồng kỳ hào còn có quyền xét những vụ hình luật nhỏ

Chấp hành xã trưởng do nhân dân bầu ra để thi hành những nghị quyết của Hội đồng kỳ hào cùng là đại biểu của xã khi liên lạc với triều đình phong

Trang 22

kiến như các quan từ cấp huyện trở lên khi nhà nước thu thuế, mộ lính, hay bắt dân làm tạp dịch Giúp xã trưởng là phó xã trưởng.Xã Kiêu Kỵ:

Trước cách mạng tháng 8-1945 cấp hành chính xã do Lý trưởng đứng đầu, giữ con dấu, quản lý chung và có trách nhiệm thu thuế nộp lên trên Phó lý giúp việc Lý trưởng, lo việc bảo vệ canh phòng an ninh và đê điều, giúp việc cho Phó lý có Quản xã Trương Tuần Trưởng bạ giữ sổ sách, bản đồ ruộng đất Thư ký giữ việc hộ tịch, khai sinh, khai tử, giá thú Thủ quỹ giữ quản lý thu chi của xã, các nhân vật trên gọi là Hương chức, quyết định mọi việc của làng xã” [56, tr.24]

1.2 Các nghề thủ công trong làng

Nghề thủ công là một phần không thể thiếu của làng xã nông nghiệp cổ truyền, nó phản ánh đầy đủ thuộc tính tự cung, tự cấp cố hữu của làng xã nông nghiệp Khác các làng thuần nông, làng nghề biểu hiện tính năng động, sáng tạo của người nông dân trong quá trình thích ứng với điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội nhất định, đồng thời thể hiện yếu tố mở của xã hội tiểu nông

1.2.1 Nghề quỳ

Làng nghề Kiêu Kỵ là nơi duy nhất trong cả nước có nghề làm vàng quỳ truyền thống, hay còn gọi là nghề dát vàng quỳ, nghề quỳ

Theo cố GS Trần Quốc Vượng và PGS- TS Đỗ Thị Hảo:

Quỳ là một loại bột chế từ vàng thật, bạc thật Người ta mua thứ giấy quỳ ở làng Đông Xá vừa mỏng vừa dai, rồi đem những lá vàng bạc được dát mỏng, cắt thành những miếng vuông xếp vào giữa tờ giấy Sau đó lấy búa nện đều cho đến khi tan thành bột để trang trí các đồ thờ như ngai,

Trang 23

kiệu…Người thợ thổi bột vàng lên nền sơn lót, sơn thếp, đồ vật trở lên lóng lánh rực rỡ lạ thường Ngày ngày cung cấp cho khắp nơi, chữ rằng “Nghệ (nghề) tinh, thân vinh” [63, tr.141 – 142]

Quy trình sản xuất quỳ có nhiều công đoạn phức tạp, nên một người thợ dù tài giỏi đến đâu cũng không thể làm hết được các công việc Trên thực tế không có loại máy móc nào dù hiện đại đến đâu cũng khó có thể thay thế được đôi bàn tay của người thợ Kiêu Kỵ Để làm ra một sản phẩm quỳ vàng hay quỳ bạc với chất lượng cao thì phải có sự kết hợp nhịp nhàng của nhiều người thợ trong một dây chuyền sản xuất đồng bộ

và khép kín qua nhiều công đoạn như: chuẩn bị mực, giấy dó, dát mỏng, Nghề quỳ có nhiều công đoạn tỷ mỷ đòi hỏi nhiều công sức mang tính gia truyền Sản phẩm của nghề quỳ là những đồ thờ cúng thuộc về tâm linh, nên những hộ dân có nghề thường cũng khó bỏ nghề

1.2.2 Nghề da

Cách đây khoảng 100 năm, ở làng Kiêu Kỵ mới xuất hiện thêm nghề may da Nghề này do ông Vũ Hai Dâu sáng lập từ những năm đầu thế kỷ XX Trước chỉ may ví, túi xách, dây lưng bằng da mỏng, da thật Sau, do công nghệ phát triển, nghề may da ở đây chuyển sang may da công nghiệp (vải da) Mặt hàng chủ yếu là cặp, túi xách, balô, vỏ bao bì đựng các mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu, các mặt hàng giầy dép,

ví, dây lưng tiếp tục được sản xuất nhưng số lượng không lớn Nghề may da là nghề sản xuất bán thủ công nghiệp, thu hút mọi lứa tuổi, từ người có tay nghề đến những người chưa thành thạo, làm ở các công đoạn sản xuất khác nhau

Trang 24

1.3 Các thành tố văn hóa truyền thống làng Kiêu Kỵ

1.3.1 Văn hóa vật thể tiêu biểu

Cụm di tích đình, đền, chùa ở làng Kiêu Kỵ được Bộ Văn hóa công

nhận và xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia năm 1996

Di tích đình, đền, chùa Kiêu Kỵ là những di tích tôn giáo tín ngưỡng Đình và đền thờ phụng những vị thần có công với dân với nước Chùa thờ phật cầu phúc lành cho dân Đình, đền, chùa Kiêu Kỵ được xây dựng tập trung trên một khu đất rộng cao ráo, rộng thoáng ở rìa làng và được gọi là khu

“Thần từ Phật tự” Đi từ cổng vào, đền nằm bên trái, đình nằm bên phải, chùa ở phía sau đình và đền tạo thành một cụm di tích hoàn chỉnh “Tiền thần

hậu phật”

Di tích Kiêu Kỵ vẫn giữ được nét cổ kính thâm nghiêm của không gian văn hóa cổ truyền: đình, đền, chùa ẩn dưới những tán cây cổ thụ um tùm, xum xuê, nhiều cây to cao tới hai, ba mươi mét, thân ba, bốn người ôm không xuể,

gốc rễ thì xù xì những u, những bướu, già nua

Khu “Thần từ Phật tự” của làng được xây bao quanh một bức tường

“huê” (hoa) Cổng tam quan, tòa đền chính kết cấu kiểu nội công ngoại quốc Cửa chính giữa: hồng môn, được xây cao vượt hẳn lên Cổng ngoài xây kiểu trụ lồng đèn, thân trụ có mặt cắt hình vuông, đỉnh trụ đặt bình rượu, phía dưới

là hình lồng đèn không trang trí Hai trụ hai bên nghi môn (cửa ngách) là hai con nghê quay mặt vào nhau, đỉnh trụ đắp nổi hình chim phượng Cổng,

tường “huê” bao tạo nên sự bề thế và trang nghiêm của khu di tích

1.3.1.1 Đình Kiêu Kỵ

Đình làng ở Kiêu Kỵ đã có từ lâu đời, trải qua nhiều lần trùng tu tôn tạo, có kiến trúc đồ sộ nhất trong cụm di tích nơi đây

Đình được xây lại từ năm Bính Ngọ (1942) dưới đời vua Bảo Đại thứ

16 Mái đình lợp ngói vảy 2 lớp (ngói ta), xây bít đốc Trên nóc có lưỡng long

Trang 25

triều nguyệt Hai đầu đốc xây cuốn vân mây Đình trông về hướng nam là hướng mà trong tiềm thức dân gian của người Việt là hướng tốt lành, yên ổn Đình có bố cục chữ Đinh (I) gồm đại đình năm gian hai dĩ và hậu cung 3 gian Kiến trúc đơn giản, chủ yếu là bào trơn, bào soi nhẹ nhàng Trước cửa trên cùng có khắc 3 chữ Hán “vị tiên sư”, phía dưới bên tả có ghi “dát vàng tinh xảo nức trời Nam” và bên hữu có ghi “phá giặc uy linh lừng đất Bắc” Nội dung của 2 câu đối này ca ngợi sự tài giỏi trong việc dẹp giặc của tướng quân Nguyễn Chế Nghĩa, uy linh của Ngài khiếp vía quân thù và sự tài tình, khéo léo của tổ nghề dát vàng quỳ Nguyễn Quý Trị Nội thất gồm 6 vì kèo, mở 3 cửa, nền lát gạch Bát Tràng Hậu cung: 3 gian Gian giữa đặt ban thờ và tượng thờ cụ Nguyễn Quý Trị- vị tổ sư nghề vàng quỳ Tượng cao 1m20, mũ mão và y phục đại triều màu xanh Bệ cao 1m Toàn bộ các tượng cao 2m20 rất uy nghi Dưới chân tường bên tả có dựng một tấm bia bằng đá khắc chữ Latinh, có nội dung như sau:

“Đức tổ sư Nguyễn Quý Trị, người ra đời thế kỷ thứ 15 Cụ đỗ tiến sĩ năm 1442 thời vua Lê Nhân Tông trị vì Nhà vua cử cụ Yên Kinh cùng cụ thám hoa Lương Như Ngọc ở làng Liễu Trang, Giai Lương, Hải Dương Vua Lê thăng tiến Quý Trị: Bình bộ Tả thị lang, Hàn lâm viện trực học sĩ” Tiếp đến là bia tên các vị cung tiến công, của để xây dựng tượng tổ Tượng được xây dựng vào ngày 11 tháng 04 năm 1996

Cửa hậu cung là khung cửa võng cũ Theo các cụ xưa kể khung cửa võng này, trước đây được trạm trổ tinh vi, hoa lá cách điệu, với “lưỡng long triều nguyệt” (chín con rồng chầu mặt trăng) được sơn son thiếp vàng lộng lẫy Nhưng bị đạn cối của thực dân Pháp bắn vào, đã hư hỏng nặng, chỉ còn khung như hiện nay

Đại đình 5 gian, 2 dĩ, để trống gian giữa, hai bên tả và hữu thì xây bục đóng sàn gỗ lim chia theo từng ngôi thứ cao thấp cho sinh hoạt cộng đồng,

Trang 26

hội họp Hai đầu hồi xây tường lửng, đóng chấn song con tiện Cửa mở rộng

cả 5 gian, cánh cửa bức bàn và đều có chấn song con tiện bằng gỗ lim

Đình tuy xây dựng lại, nhưng phần nhiều các cột kèo, xuyên xà đều là của khung đình cũ Bằng chứng cho thấy trên cột đình cũ ( cột số 3) vì kèo sát tường phía tây có khắc chữ: “Cảnh Hưng Nhâm Tý niên cung tiến” Cảnh Hưng (1740-1786) là niên hiệu của Lê Hiển Tông Như vậy khung đình cũ tồn tại ngót 300 năm Nền đình xây “tam cấp”, cao 70 phân so với sân đình Sân đình rộng chừng 300 mét vuông lát gạch bát tràng Trước sân đình là ao Mùa hạ thả sen Mùa thu, sen tàn mặt nước ao thoáng đãng trong veo Bờ ao

bó gạch, xây bậc lên xuống cho tiện chao rửa Cảnh quan nơi đây thuận tiện cho việc sinh hoạt cộng đồng

Đình Kiêu Kỵ được xây bít đốc mô phỏng theo ngôi nhà đặc trưng của người Việt đồng bằng Bắc Bộ Do vậy không gian bên trong đình rất thoáng mát, nhiều ánh sáng

Qua khảo sát cho chúng ta thấy ngôi đình Kiêu Kỵ đơn giản, không có những chạm khắc cầu kỳ như: long, ly, quy, phượng mang tính nghi lễ, nghi thức, nhưng tất cả đồ thờ trong đình Kiêu Kỵ đều được sơn son thiếp vàng rực

rỡ Điều này phản ánh phần nào nhịp sống gấp gáp của một làng nghề và đặc trưng, dấu ấn nghề thủ công dát quỳ của làng

1.3.1.2 Đền Kiêu Kỵ

Đền Kiêu Kỵ thờ Nguyễn Chế Nghĩa Đền vốn là thái ấp vua Trần ban cho tướng Nguyễn Chế Nghĩa sau khi ông cùng các danh tướng khác đánh tan quân Nguyên Mông Đền, bên cạnh thờ Thành hoàng Nguyễn Chế Nghĩa còn thờ Ngọc Hoa Công chúa (bà là vợ tướng Nguyễn Chế Nghĩa, con gái vua Trần Anh Tông)

Ngôi đền ban đầu mới dựng còn sơ sài dần dần qua nhiều lần trung tu xây dựng và tôn tạo, đền ngày càng được khang trang bề thế Ngôi đền hiện

Trang 27

hữu đựơc trung tu tôn tạo năm Canh Ngọ (1930) Kiến trúc trong đền theo kiểu chữ “nhị” Hai lớp nhà Nhà ngoài 3 gian làm tiền tế Lớp nhà trong 3 gian làm hậu cung Quan sát cách bầy bàn thờ và những đồ lễ khí trong nội tẩm, chúng ta thấy gian chính giữa đặt long ngai bài vị Đức Thành hoàng Gian bên ngoài, phía bên tả là bài vị Ngọc Hoa Công chúa, bên hữu đặt khám thờ tổ nội ngoại và đến cuối thế kỷ 19 thì nơi đây đặt thêm khám thờ vị hậu thần Vũ Danh Thuận

Sự khác biệt của ngôi đền này với những ngôi đền khác ở chỗ là ngoài thờ Đức Thành hoàng còn thờ tổ nội, tổ ngoại của Đức Thành hoàng Điều này biểu lộ sự chu đáo, hiếu thuận của dân làng Kiêu Kỵ

Trong đền hiện này còn giữ bộ sắc phong gồm 32 đạo, có niên đại từ thời Lê - Tây Sơn đến thời Nguyễn Sắc phong sớm nhất có niên đại Đức Long thứ nhất (1629), tấm bia đá gắn trên tường đề niên hiệu Cảnh Hưng 41 (1780) ghi chép công đức tu sửa đền và còn rất nhiều hoành phi câu đối, nội dung nói lên uy linh của Ngài và tấm lòng ngưỡng mộ của dân làng khi được thờ Ngài làm vị thần hộ mệnh Trong hậu cung có bức hoành phi chữ Hán đã

nói lên điều này “Dương dương tại thượng” Tức là Đức thành hoàng làng là

đấng thiêng liêng như biển cả “Huý kỵ Nghĩa tự Hoa tự” Nghĩa là kỵ huý chữ Nghĩa, chữ Hoa Đây là văn bản quy ước lệ tục của làng Lệ tục này được mọi người trong làng tuân thủ rất tự giác, xưa nay chưa ai làm “sái” Hai câu đối bằng chữ Hán”

“Thiên giáng Thánh nhân bình Bắc địch Địch lưu thành tích trấn Nam bang.”

Nghĩa là trời sinh ra người anh hùng để đánh đuổi giặc Bắc xâm lược Đất nước Nam xây miếu đường thờ Ngài để lưu công tích giữ nước cho đời đời con cháu noi theo

Trang 28

1.3.1.3 Chùa Kiêu Kỵ

Chùa được xây dựng trên khu đất kề phía sau đình và đền Chùa có quy

mô kiến trúc khá bề thế, khang trang so với những ngôi chùa khác quanh vùng

Theo Ngọc phả Đức Thánh hoàng làng thì chùa làng Kiêu Kỵ có từ rất sớm Chùa được trung tu lần cuối vào năm Bính Tý (1963) Chùa làng Kiêu

Kỵ có tên “Sùng phúc tự” Trên cổng chùa có ghi 3 chữ Hán “Thanh lương đài” Chùa được bố trí ngoài cùng là tam quan 2 tầng, tiếp đến là sân chùa rồi tới toà Tam bảo kết câu theo kiểu chữ Đinh Tiền đường là dãy nhà 5 gian, 2

dĩ, gian giữa của tiền đường nối với thượng điện gồm 4 gian chạy dọc ra phía sau Nhà thờ Tổ, thờ Mẫu có kết cấu kiểu chữ Đinh, tiền đường 5 gian, hậu cung 1 gian, 2 dĩ Hai nhà giải vũ mỗi dãy 10 gian, chạy dọc song song với thượng điện Trong chùa có vườn tháp Cạnh nhà thờ tổ là giếng khơi, nước trong như lọc Theo các cụ trong làng kể lại, 2 giếng khơi trong khuôn viên

“Thần từ Phật tử” này (một cái ở chùa, một cái ở đền thờ Thánh) là hai mắt rồng Nên đất này rất sang

Các pho tượng trong chùa Kiêu Kỵ được bố trí theo nguyên tắc giáo lý đạo phật 6 lớp từ ngoài vào[56, tr.20]:

- Lớp thứ nhất: Toà Cửu Long có Phật Thích Ca sơ sinh ở giữa, hai bên

là Tiền đồng, Ngọc nữ

- Lớp thứ hai: Tượng vua Cha ngọc Hoàng và tượng Phạm thiên, Đế thích

- Lớp thứ ba: Tượng Thích Ca thế tôn và hai vị thị giả

- Lớp thứ bốn: Tượng Quan âm chuẩn đề và hai tượng Quan âm Bồ tát

- Lớp thứ năm: Tượng Di đà tam tôn

- Lớp thứ sáu: Nơi cao nhất của phật điện là ba pho tượng Tam thế thường trụ diện pháp thân, tượng biểu hiện cho đức phật ở quá khứ, hiện tại

và vị lai

Trang 29

Chùa làng Kiêu Kỵ còn lưu giữ nhiều di sản văn hoá có giá trị Đó là chiếc chuông đúc thời Cảnh Thịnh và hơn 60 pho tượng lớn nhỏ, chất liệu bằng gỗ mít và đất sét, nhiều câu đối sơn son thiếp vàng rực rỡ

Tuy chùa Kiêu Kỵ có quy mô không lớn, số lượng tượng Phật không nhiều và cũng chưa đặc sắc như chùa Bút Tháp, chùa Dâu, chùa Trăm Gian Nhưng nhìn chung chùa ở đây cũng là một trong số ít các chùa nổi tiếng có nhiều tượng Phật đẹp Đình, đền, chùa Kiêu Kỵ còn giữ được nhiều hoành phi câu đối sơn son thiếp vàng Điều này thể hiện tài khéo tay của người thợ dát quỳ của làng

Nghiên cứu các di tích lịch sử văn hoá làng Kiêu Kỵ cùng những truyền thống nhân văn, những nhân vật lịch sử được nhân dân tôn thành các vị Thành hoàng làng, giúp chúng ta hiểu thêm về đời sống tâm linh cũng như đời sồng tinh thần ở nơi đây

1.3.1.4 Miếu Văn chỉ

Miếu Văn chỉ thờ đức Thánh Khổng được xây dựng trong quần thể di tích “Thần từ Phật tử” của làng Miếu Văn chỉ còn gọi là miếu Tư văn Những khóa sinh nho học, thầy đồ, những người học hành đỗ đạt qua các kỳ thi, đứng ra lập Hội Tư văn Hội Tư văn có ruộng cầy cấy thu hoa lợi, hàng năm đến ngày 11 và 12 tháng 2 hội sửa lễ xôi thịt, họp nhau lại làm tế lễ ở miếu Văn chỉ, gọi là lễ Tư văn Hiện nay cụ Lê Hữu Duyến, vị túc nho của làng còn giữ được một bản Văn tế, trong đó có ghi đầy đủ 47 vị nho sinh , hiệu sinh, thầy đồ, tú tài từ đời Lê Dụ Tông đến khoa thi Nho học cuối cùng vào thời Nguyễn

Làng có khoán ước khuyến học, văn bia ở Văn chỉ có đoạn ghi “ Làng

để dành một phần ruộng cho những nho sinh nào thi đỗ ” Điều này chứng tỏ

sự học của làng đã được khuyến khích và đề cao Làng có nhiều cụ đồ có đức

độ, sau khi đỗ đạt không ra làm “ chức việc” mà ở nhà bốc thuốc, mở trường

Trang 30

dạy học, được dân hàng tổng quý trọng Trong mỗi gia đình, cũng như trong sinh hoạt cộng đồng làng xóm, các cụ đồ rất được tôn trọng , các văn bia, văn

tế, tộc phả đều do các bậc nho sinh trong làng soạn thảo

Năm 1964 miếu Văn chỉ đã bị phá dỡ để làm kho chứa thóc và sân phơi thóc của hợp tác xã

1.3.2 Văn hoá phi vật thể tiêu biểu

1.3.2.1 Phong tục tập quán

Nghi lễ vòng đời: khi đứa trẻ sinh ra nếu là con trai thì gia đình phải sửa

lễ ra đình “ trình hàng giáp”, lễ cúng “bà mụ”, lễ “đầy tháng’, lễ “đầy năm”

Lễ “trình hàng giáp”, lễ vật thường đơn giản nhưng không thể thiếu cơi trầu, đĩa xôi, con gà, các cụ phụ trách sổ đinh của làng nhận lễ vật trình Thánh rồi ghi tên đứa bé trai đó vào sổ Đinh của làng, của giáp Từ đó, đứa trẻ được tính

là một suất đinh, xác lập là một thành viên trong cộng đồng làng, trong dòng

họ Lễ cúng bà mụ, đầy tháng, đầy năm được thực hiện trong phạm vi gia đình Khi đặt tên cho con làng có lệ kiêng đặt tên trùng với các vị thánh, tên trùng với tên ông bà, cụ kỵ, ông bà, anh chị em trong họ

Tục trọng lão hay còn gọi mà mừng thọ là phong tục đẹp của nước ta

và Kiêu Kỵ xưa cũng không bỏ qua phong tục này Tục trọng lão được thể hiện bằng nghi lễ, chúc thọ Do đời sống thấp nên xưa kia người thọ rất hiếm, làng quy định ở lứa tuổi 50 đến 52 là được vào hàng lão Hàng năm cứ đến ngày 1 tết âm lịch hoặc rằm tháng giêng các cụ đến tuổi 50-52 sắm hai chai rượu, cơi trầu ra đình trình làng để lên lão và sau đó làm lễ khao lão Lễ khao lão là dịp cả làng ăn mừng, lễ to hay bé tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từng gia đình Việc lên lão và khao lão được thực hiện với cả cụ ông và cụ bà Đến năm 64 tuổi thì lên cụ thượng và làm lễ khao hàng giáp ăn uống Nếu ai đến tuổi mà không khao làng, khao giáp khi mất đi bị coi là nợ dân Những cụ 70-80 tuổi được vào đình làm lễ thánh và được dân làng chúc mừng rất trân trọng

Trang 31

Tục cưới cũng như bao làng khác quanh vùng, trai, gái làng Kiêu Kỵ

lớn đến tuổi dựng vợ gả chồng có người làm mai mối, cha mẹ đặt đâu con

ngồi đấy Cha mẹ đôi bên nhất trí chọn ngày làm lễ Lễ cưới gồm các lễ dạm

ngõ, lễ hỏi, lễ xin cưới, lễ cưới, lễ lại mặt Lễ dạm ngõ có cau, có trầu, có

thuốc, có chè nhưng số lượng ít Người dẫn lễ sang nhà gái gồm chú rể và

một hai người ruột thịt của chú rể Lễ vật trong lễ hỏi cũng như lễ dạm ngõ

nhưng số lượng nhiều hơn Ngoài cau, trầu, thuốc lá, chè thuốc có thêm bánh,

kẹo, rượu, tiền mặt (là đồ thách cưới ), số lượng người sang nhà gái làm lễ

đông hơn Các gia đình nghèo khó, dân đinh lấy vợ theo kiểu “vợ nhặt” nghĩa

là gặp nhau ở đâu đó thấy hợp đưa nhau về sống như vợ chồng, không qua

cưới hỏi, hôn thú Con gái trước kia lấy chồng bắt buộc phải nộp cheo cho

làng, vật nộp là gạch chỉ (để lát đường làng) Nếu không có gạch thì nộp cheo

bằng mâm đồng Đám cưới được tổ chức tại gia đình, cỗ cưới ngồi năm, ngồi

sáu, người ăn cỗ đến không phải mừng gì, hoặc có mừng chỉ mừng nhà trai

Việc tang ma là nghi lễ khép lại một vòng đời người, đây là việc hiếu

rất được coi trọng Phong tục này ở làng Kiêu Kỵ đã thể hiện tính cố kết cộng

đồng bền chặt Khi trong làng nhà ai có tang thì lập tức người trong giáp,

trong thôn cử ngay người đến giúp Đây là lúc tình làng nghĩa xóm được bộc

lộ rõ nhất “nghĩa tử là nghĩa tận” Nghi thức của một lễ tang gồm các bước:

Nhập quan, lễ viếng, lễ đưa tang Gia đình họ hàng, làng xóm tiễn đưa người

đã khuất về nơi an nghỉ cuối cùng

Phong tục thờ cúng Tổ tiên được thực hiện trong gia đình và trong dòng

họ với truyền thống và đạo lý “Con người có Tổ có Tông, như cây có cội, như

sông có nguồn” Hệ thống nhà thờ Tổ của các dòng họ, các cuốn gia phả, các

bản tộc quý được trân trọng lưu giữ đã góp phần giáo dục tình yêu quê hương

cho các thế hệ trong làng

Trang 32

Nói đến nét văn hoá trong các làng nghề thủ công truyền thống, chúng

ta không thể bỏ qua phong tục tập quán độc đáo, rất riêng của các làng nghề

đó là giỗ Tổ nghề Đây là truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ

kẻ trồng cây” của dân tộc Việt Nam nói chung và của những người thợ thủ công Kiêu Kỵ nói riêng

Hàng năm cứ đến ngày giỗ tổ 17-8 âm lịch, những người con của làng mang nghề đi lập nghiệp ở xa cũng cố gắng thu xếp dành thời gian về dự lễ

Tổ, cáo Tổ kết quả làm nghề và giữ nghề trong một năm qua Những người bỏ

bê giỗ tổ thì bị coi là kẻ “phản Tổ”

Việc truyền nghề và dạy nghề:

Làng nghề là nơi lưu truyền các kỹ năng nghề riêng Ở Kiêu Kỵ việc giữ gìn bí quyết nghề quỳ hết sức nghiêm ngặt

Người Kiêu Kỵ dạy nghề theo phương pháp truyền thống tức là truyền nghề bằng miệng, không cần sách vở, không cần lý thuyết, truyền từ đời này qua đời khác, ông truyền cho cha, cha truyền cho con, nghề chỉ truyền cho con giai chứ không truyền cho con gái và tuyệt đối không truyền bí quyết nghề cho người ngoài

Để nhắc nhở con cháu gìn giữ bí quyết nghề, trong nhà tràng thợ quỳ Kiêu Kỵ đã đóng 1 chiếc đinh đóng thuyền to trên cột cái để khẳng định lời nguyền “chắc như đinh đóng cột” không gì lay chuyển Do việc giữ nghề và truyền nghề nghiêm khắc và chặt chẽ như vậy nên làng nghề quỳ vàng ở Kiêu

Kỵ là một làng nghề độc nhất vô nhị ở nước ta hiện nay

Nhà tràng do cụ Vũ Danh Thuận xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XIX,

là nơi dạy nghề và tổ chức sinh hoạt cộng đồng cho người thợ quỳ Cụ Vũ Danh Thuận là người có công lớn trong việc chấn hưng nghề quỳ, cụ vừa là nhà văn hóa, vừa là chủ đầu tư, vừa là giám đốc điều hành

Trang 33

Bên cạnh những phong tục tập quán của làng quê đồng bằng Bắc Bộ, nghề thủ công Kiêu Kỵ đã in dấu ấn trong phong tục tập quán của làng.Tạo nên nét văn hoá riêng, rất đặc trưng của Kiêu Kỵ

cỗ long đình Các trai đinh được chọn lựa làm phu kiệu Phu kiệu mặc áo nẹp

đỏ, đội nón chóp khiêng kiệu Đi trước và sau kiệu là những trai đinh khác gọi

là thị vệ hay đô tùng Họ cùng đội nón chóp, mặc áp nẹp, thắt dây lưng đỏ, tay cầm binh khí

Ngày 27/8 dân làng tổ chức làm lễ “cáo lỵ” Đám rước mã từ nhà ông cai đám (tức trưởng ban tổ chức) ra đền thờ, được cử hành trong tiếng chiêng, tiếng trống rộn rã của phường bát âm Dẫn đầu là 2 “con đĩ đánh bồng” đeo mặt nạ, một cầm gậy múa bước tới bước lui, một đeo trống cơm trước bụng hai tay vỗ trống, mặt vênh váo rất ngộ Rồi đến kiệu trong đó có vàng mã gồm

mũ áo, cân đai, hia giá, vàng mã…

Rước văn: Văn tế còn gọi là chúc văn Văn tế do cụ tiên chỉ của làng

soạn Nếu cụ tiên chỉ già yếu, hoặc cụ thuộc ngạch võ quan về làng, văn sách không bằng cụ đồ thì nhờ cụ đồ cao niên văn hay chữ tốt soạn giúp Văn tế

Trang 34

được viết trên giấy hồng điều, khởi đầu bài văn tế phải ghi rõ ngày tháng năm

tế lễ Ghi đầy đủ quốc hiệu, duệ hiệu, thần vị của Thành hoàng làng Nội dung trình bày nguyện vọng của nhân dân để cẩn thận vào khay sơn son thếp vàng đặt trong cỗ kiệu long đình

Lễ rước cử hành vào chiều 27-8 ngày cáo kỵ hoặc vào sáng ngày 28-8, ngày chính kỵ Lễ rước bắt đầu từ nhà cụ tiên chi ra đền thờ Thành hoàng làng Nghi thức rước giống như rước mã Sau kiệu là cụ tiên chỉ mặc áo đỏ khăn đỏ rồi đến các cụ trong văn hội, các vị chức sắc hương hội, các bô lão và trai gái làng tuần tự đi theo trong tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng đàn, tiếng phách, rất trang nghiêm và háo hức hồ hởi

Rước cỗ yến: Vào ngày 28/8 dân làng làm lễ “chính kỵ” Ngày này có

lễ rước cỗ yến, thi làm cỗ yến Ngoài cỗ yến ra còn có cỗ xéo và cỗ hậu hay còn gọi cỗ giải Cỗ yến là cỗ để cúng tiến Thành hoàng làng ở miếu thờ Cỗ xéo, cỗ giải không cúng dâng thần mà chỉ dọn ra ở đình để dân làng cùng hoan ẩm

Cỗ yến gồm xôi gà, xôi thủ lợn, nem, mọc, giò thủ, chim quay, gà tần, vây cá, mực tươi, mực khô, bóng cá, rau câu, nấm hương, mộc nhĩ… và sử dụng các vị thuốc bắc như thảo quả, bạch truật, quế chi… được chế biến rất cầu kỳ và tinh tế, làm sao cho vẫn giữ được thức nào có hương vị đặc trưng của thức ấy Người làm cỗ yến phải là người sành sỏi ẩm thực, khéo tay Trước khi rước cỗ vào đền cúng thì phải qua ban chấm giải xem xét đánh giá Ban chấm giải gồm các cụ tiên chỉ, thứ chỉ, các vị trong hội đồng hưng chức, hưng lão Kiểm tra đánh giá chỉ bằng cảm nhận của thị giác, khứu giác… chứ không được ăn thử, nếm thử, chỉ qua hương sắc thì biết cỗ ngon hay dở, mặn hay nhạt Theo các cụ miếng ngon trước hết là hương vị Hương làm tăng thêm cái ngon của vị Bởi thế mới có cái gọi là gia giảm, gia vị Gia vị bằng thuốc bắc là quý, nhưng không vì thế mà thái quá Hương đạt yêu cầu làm tăng thêm vị đặc trưng của món ăn Song như thế chưa đủ, mà phải quan sát

Trang 35

cả mầu sắc nữa Mầu sắc tươi tắn, sáng sủa, bày biện đẹp mắt “ngon mắt” thì

sẽ ngon miệng Mỗi cỗ yến gồm 6 đầu phần Mỗi đầu phần là 6 đĩa bát, tức là

có 36 đĩa bát, được xếp thành 3 tầng chồng lên nhau Bát dưới, đĩa trên, sao cho lúc di chuyển không bị xô lệch và đổ vỡ Điều này đòi hỏi sự cẩn trọng và khéo léo Cỗ được đặt trong mâm vuông, được chạm trổ sơn son thếp vàng rất trang trọng

Cỗ yến được rước từ nhà ông cai đám ra đền để làm lễ tế Thành hoàng Hằng năm giáp nào thụ tế, thì giáp đó cấy cầy ruộng “yến điền” thu hoa mầu

để sửa cỗ Tục thi cỗ yến được xem là nội dung chủ yếu trong hội làng Kiêu

Kỵ

Trong lễ rước, hội làng Kiêu Kỵ cũng có rước nước như phần đông các

lễ hội khác của vùng đồng bằng Bắc Bộ chuyên nghề nông Hội Kiêu Kỵ, ngoài phần lễ ra còn có phần hội: lễ và hội gắn kết với nhau Hội có nhiều trò chơi dân gian, các trò chơi thường gắn với các sự tích Thành hoàng làng Cụ thể như ném còn, đánh cờ người, thi võ thuật…

Ném còn: Theo truyền miệng của người dân trong làng, trò chơi này là

diễn tả lại sự tích kén phò mã của Nhật Hoa công chúa Đây là trò chơi khá phổ biến thời nhà Trần, trò chơi không chỉ ngoài thôn dã dân gian mà còn có

cả vương tôn Công tử ở cung đình

Mùng 3 Tết là ngày vui lớn Vua ngự trên lầu cửa Đại Hưng Cửa Nam) xem hoàng tử cùng các quan nội thị ném quả tú cầu,

ai đón mà không rơi là được Tú cầu, quả còn làm bằng gấm to bằng nắm tay trẻ con, có buộc 20 dải lụa ngũ sắc

Toàn kinh thành, trai gái chơi đánh đu, đánh cầu, ca múa giao duyên Hội tung còn kéo co… Ai thắng được uống rượu, ai thua uống nước lã [66, tr.305]

Trang 36

Đánh cờ người: Tương truyền sinh thời Đức Thánh hoàng làng rất thích

đánh cờ vào những lúc rảnh rỗi, nghỉ ngơi sau luyện tập binh mã Ngài hay đánh cờ với các thuộc hạ Mỗi khi lần từ quê nhà lên Thăng Long hội triều qua làng Kiêu Kỵ, ngài thường ngồi lại đông Thánh Dền để đánh cờ cùng các

bô lão trong làng

Do đó chơi cờ người trong hội làng Kiêu Kỵ được xem như là một nghi thức bắt buộc Cuộc chơi đầy hứng thú, vui tươi và trí tuệ, đánh trống phất cờ sôi động Những người được chọn làm “con cờ” phải là những chàng trai, cô gaí thanh lịch, chưa vợ, chưa chồng xinh đẹp

Tục kết chạ giữa các làng bên cũng được diễn ra ở hội làng Kiêu Kỵ Lễ-hội làng Kiêu Kỵ là dịp để giải toả tâm linh, là thời điểm giao cảm giữa con người với thần linh, giữa hiện tại và quá khứ và cũng là dịp để biểu dương sức sống tiềm ẩn của từng cá nhân với cộng đồng xã hội Người dân Kiêu Kỵ đã biểu lộ sự “khéo tay hay làm” của mình trong nghề dát vàng thường nhật và cả trong dịp lễ hội, thi làm cỗ yến để kính tế Thành hoàng làng Đây là một nét đẹp độc đáo của một làng nghề có truyền thống lâu đời

1.3.2.3 Các lễ tết trong năm

Làng nghề Kiêu Kỵ, trong một năm có rất nhiều lễ Tết Đó là Tết Nguyên đán, Tết Thượng nguyên, Tết Hàn thực, Tết Thanh minh, Tết Đoan ngọ, Tết Trung nguyên, Tết hạ nguyên, Tết Táo quân, các tết này được tổ chức tổ chức tại tư gia

Tết Nguyên Đán: Là cái tết lớn nhất trong một năm của dân tộc cũng

như của dân làng Kiêu Kỵ Nên nó còn được gọi là Tết Cả Đây là thời điểm kết thúc mùa màng, mọi người rảnh rỗi nghỉ ngơi vui chơi, xum họp, thăm viếng lẫn nhau, sau nhiều ngày vất vả lao động, bươn chải kiếm sống và cũng

là lúc giao thời của đông tàn xuân tới Theo phong tục cổ truyền Việt Nam,

Trang 37

Tết Nguyên Đán trước hết là tết của gia đình Chiều 30 Tết, nhà nhà làm lễ cúng “rước” gia tiên và gia thần thể hiện tình cảm uống nước nhớ nguồn Trong 3 ngày tết diễn ra 3 cuộc gặp gỡ lớn ngay tại một nhà

- Thứ nhất: là cuộc “gặp gỡ” của các gia thần: Tiên sư hạy Nghệ sư - vị

tổ đầu tiên dạy nghề cho gia đình mình và Thổ công - thần giữ đất nơi mình ở

và Táo quân, thần coi việc nấu ăn của mọi người trong nhà

- Thứ hai: là cuộc “gặp gỡ” tổ tiên, ông bà, những người đã khuất Nhân dân quan niệm hương hồn người đã khuất cùng về với con cháu vào dịp Tết

- Thứ ba: là cuộc gặp gỡ của những người trong nhà Như một thói quen linh thiêng và bền vững nhất, mỗi năm tết đến, dù đang ở đâu, làm gì, hầu như ai cũng mong muốn và cố gắng trở về đoàn tụ xum họp với gia đình

Do là một làng nghề, nên Tết với người dân Kiêu Kỵ là thời điểm tất bật, người làm thợ quỳ, thợ da vừa đẩy nhanh tiến độ làm hàng và trả hàng đúng hợp đồng, vừa chuẩn bị Tết

Tết Kiêu Kỵ thể hiện đời sống no đủ của một làng nghề làm ăn phát đạt Những ngày trước Tết, người dân trong làng đi chợ sắm đồ cho 3 ngày Tết: Thịt lợn, thịt gà, măng, miến, vại dưa hành… đúng như câu ca dân gian

đã truyền tụng “đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết” Để cho rẻ và làm được nhiều món, dân trong làng chung lợn (đụng lợn) Lợn và gà nhiều nhà nuôi, chuẩn bị từ đầu năm để Tết làm thịt

Tết, mọi người đều ăn mặc tươm tất đi lễ chùa, đến nhà nhau chúc mừng năm mới

Tục xông đất, xông nhà (người đầu tiên đến nhà, bước vào nhà ở giờ khắc giao thời – đêm 30 hay sáng mồng một) rất được coi trọng Xưa các cụ tin rằng ngày đầu năm mới được người vui vẻ dễ tính, tốt nết đến nhà đầu tiên, thì cả năm trong nhà mọi việc hành thông dễ dàng Nếu gặp người khó

Trang 38

tính, độc ác hay người khờ dại đến xông nhà, xông đất thì cả năm làm ăn lủng củng, khó khăn, gặp nhiều điều vớ vẩn, bực mình Vì vậy các cụ thường kén người theo ý muốn

Sáng ngày mồng một nhà nào nhà ấy làm cỗ cúng gia tiên rồi mọi gia đình, con cháu, chú bác, đến nhà thờ đại tôn, nhà thờ tư chi làm lễ tế Tổ Các bậc hào trưởng hương lý ra đình làm lễ tế thần Những người cùng dòng họ, sau khi lễ tổ tiên các nhà trong họ mình rồi, đến lễ tổ tiên các nhà chi trên, chi dưới, đồng thời chúc Tết luôn

Sáng ngày mồng hai là ngày đi lễ và chúc tết bên ngoại (nhà vợ):

“Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy”,

“Mồng một thì ở nhà cha Mồng hai nhà vợ, mồng ba tết thầy”

Đi chúc tết những chỗ ân tình, họ gần, những nhà bạn thân Con rể (chưa cưới) phải đến lễ và chúc Tết nhạc gia tương lai

Ngày mồng ba, học trò dù lớn tuổi, dù đã chức trọng quyền cao cũng đều đến chúc tết thầy

Ngày Tết có lệ bất cứ ai đến nhà, không kể giờ giấc, xong tuần trầu nước, gia chủ mời uống rượu, ăn cỗ, ăn bánh trưng Khách phải giữ lễ, nhấm nháp chút rượu, chút bánh để gia chủ thấy vui, lấy may Nếu khách từ chối là xui, rông cho gia chủ

Tục mừng tuổi, mở hàng: con cháu họ hàng, bà con, bạn bè, nếu còn nhỏ tuổi, đều được gia chủ cho tiền mừng tuổi, nhiều ít tuỳ thuộc vào hoàn cảnh nhưng đều có ý nghĩa lấy may cho đứa nhỏ và khách đến nhà cũng vậy Ngày tết dân làng tổ chức rất nhiều trò chơi: đánh đu, cờ tướng, kéo co, đánh vật, ném còn…

Tết Thượng Nguyên (Tết nguyên Tiêu): vào đúng Rằm tháng Giêng –

ngày vía Phật Tổ và cũng là ngày trăng tròn đầu tiên của năm, đây là thời

Trang 39

khắc sinh hoạt văn hoá mang tính cộng động đầu tiên trong năm của người dân Kiêu Kỵ Người Kiêu Kỵ “ăn” Rằm tháng Giêng khá to Nhà nhà lên chùa lễ phật với tâm niệm “Lễ phật quanh năm không bằng Rằm tháng Giêng” Sau đó về nhà làm cỗ cúng rằm tại gia tiên

Tết Hàn thực: có xuất xứ từ Trung Quốc “Hàn thực” nghĩa là ăn đồ

nguội, nhân dân ta tiếp nhận Tết này từ thời Lý Đồ cúng thường là bánh trôi, bánh chay để thay đồ nguội Hàng năm cứ đến ngày mồng Ba tháng Ba dân trong làng Kiêu Kỵ lại bận bịu chuẩn bị nguyên liệu làm bánh trôi, bánh chay

từ chiều hôm trước Bánh trôi, bánh chay trước là cúng gia tiên, sau là ông bà, con cháu trong nhà cùng vui vẻ thưởng thức

Tết Thanh Minh: “Thanh Minh” có nghĩa là trời trong sáng Tết Thanh

minh trong khoảng tháng Ba âm lịch - lễ tảo mộ Tảo mộ là đi thăm mộ tiền nhân, cỏ rậm thì phát cho quang, đất khuyết thì đắp bồi lên, rồi về nhà làm cỗ cúng gia tiên

Ở Kiêu Kỵ, do làng có nghề quỳ, sản phẩm là những đồ thờ cúng, nên người dân ở đây rất tín lễ Tết Thanh Minh được người dân Kiêu Kỵ tổ chức sớm hơn các nơi khác trong vùng Vì họ nghĩ trong tiết xuân ngày tháng nào cũng đẹp, quan tâm, thăm viếng mộ tiền nhân sớm thì họ mới an tâm làm nghề Vậy nên sau Tết, mỗi dòng họ dành một ngày, tập chung con cháu lại đi tảo mộ, tham viếng phần mộ tổ tiên của dòng họ, sau đó về nhà ông trưởng họ làm cỗ cúng gia tiên

Tết Đoan Ngọ (Tết Đoan Dương, Tết giết sâu bọ): Tết được tổ chức

vào ngày mồng Năm tháng Năm Các cụ xưa thường nói “Tết mồng năm, rằm tháng bảy” có nghĩa không bỏ qua được Tết Đoan Ngọ, đánh dấu thời điểm chính thức vào hè Mùa hè là mùa nóng nực, mưa nhiều dễ dẫn tới dịch bệnh,

do vậy việc cúng viếng vào mùng Năm tháng Năm có ý nghĩa cầu xin sức khỏe, sự an lành và dần dần Tết được dân gian gọi nôm na là Tết “giết sâu

Trang 40

bọ” Vật phẩm dâng cúng là rượu nếp, hoa trái đầu mùa Người Kiêu Kỵ vào Tết Đoan Ngọ có tục sáng sớm ăn hoa quả, rượu nếp; con trẻ đang ngủ được lén bôi vôi ăn trầu vào thóp, vào rốn, ngực với mong muốn trừ trùng, không

bị bệnh tật, ốm đau Ngoài ra Kiêu Kỵ còn có tục hái lá thuốc ích mẫu, mâm xôi, cối xay, vối,…vào tiết mồng Năm tháng Năm đem sắc uống vào giờ Ngọ

và cất để dành uống quanh năm

Tết Trung Nguyên: Tết Trung nguyên vào Rằm tháng Bẩy Người xưa

tin theo sách Phật cho hôm ấy là ngày xá tội vong nhân, ngày báo hiếu cha mẹ… nên tại các chùa thường làm chay chẩn tế và cầu kinh Vu lan Vào Rằm tháng Bẩy có 2 lễ cúng:

- Lễ cúng Vu lan, xuất phát từ tích truyện Đại Mục Kiều Liên đại hiếu cứu mẹ ra khỏi kiếp ma quỷ Vu lan coi là lễ cầu siêu giải thoát cho ông bà cha mẹ bảy đời, xuất phát từ lòng báo hiếu Những năm gần đây, trong lễ Vu lan còn có tục “ Bông Hồng cài áo” thể hiện lòng hiếu thảo của con đối với cha mẹ

- Lễ cúng được truyền tụng lâu đời trong dân gian: “Tháng Bẩy, ngày Rằm xá tội vong nhân” nghĩa là dưới âm phủ tha tội cho tất cả người chết Chính vì vậy ngày này dân Kiêu Kỵ làm lễ cúng , đốt biếu ông bà, tổ tiên nhiều vàng, mã, quần áo… Họ tin rằng đốt ngày này người âm phủ mới dễ nhận được

Ngày nay, nhiều gia đình bày lễ cúng chúng sinh ngoài sân, trước thềm nhà, cúng cô hồn, ma đói, dùng lễ vật sơ sài như: bánh đa, bỏng, ngô, khoai

và không thể thiếu một nồi cháo hoa Vàng mã cúng chúng sinh thường là xấp giấy tiền, những xấp giấy cắt hình quần áo, ít khi cúng vàng hồ, vàng thỏi Những nhà có người mới chết trong vòng một hai năm thường đốt mã, làm cơm chay ngày Trung Nguyên

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ LÀNG KIÊU KỴ - Văn hóa làng nghề kiêu kỵ gia lâm hà nội trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và đô thị hóa
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ LÀNG KIÊU KỴ (Trang 133)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỢ DÁT QUỲ - Văn hóa làng nghề kiêu kỵ gia lâm hà nội trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và đô thị hóa
MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỢ DÁT QUỲ (Trang 149)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỢ LÀM CẶP DA - Văn hóa làng nghề kiêu kỵ gia lâm hà nội trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và đô thị hóa
MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỢ LÀM CẶP DA (Trang 151)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w