1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa làng xã tam sơn huyện từ sơn tỉnh bắc ninh trong công cuộc đổi mới

145 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 4,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những vấn đề đặt ra cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa làng truyền thống ở xã Tam Sơn trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá .... chủ trương “Xây dựng một n

Trang 1

Bộ Giáo dục vμ đμo tạo Bộ văn hóa, Thể thao vμ du lịch

Trường đại học văn hóa Hà nội

Nguyễn Thị Thu Hường

Văn hóa làng x∙ tam sơn, huyện từ sơn, tỉnh Bắc Ninh trong công cuộc đổi mới

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS.BÙI XUÂN ĐÍNH

Hμ nội – 2008

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành Luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành

đến PGS.TS Bùi Xuân Đính đã giúp tôi định hướng đề tài, hướng dẫn phương pháp điền dã, thu thập, hình thành các ý tưởng khoa học được thực hiện trong Luận văn

Tác giả Luận văn cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Tam Sơn, các Trưởng thôn, Ban Quản lý Di tích, các bậc cao niên ở các làng thuộc xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã tạo các điều kiện thuận lợi cho quá trình thâm nhập thực tế và thu thập tư liệu

Tác giả

Trang 4

Mục lục

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục viết tắt

Mở đầu 119

Chương 1: Văn hóa lμng truyền thống ở x∙ Tam Sơn 134

1.1 Giới thiệu chung về xã Tam Sơn 134

1.1.1 Địa lý hành chính 134

1.1.2 Lịch sử hình thành làng xã 137

1.1.3 Cơ sở kinh tế 140

1.1.4 Cơ cấu tổ chức làng xã 142

1.2 Văn hóa làng truyền thống xã Tam Sơn 144

1.2.1 Các yếu tố vật thể 144

1.2.1.1 Các đình 144

1.2.1.2 Các chùa 146

1.2.1.3 Nhà thờ các dòng họ và đền thờ các danh nhân 151

1.2.1.4 Khu lưu niệm Nhà Cách mạng Ngô Gia Tự 155

1.2.2 Các yếu tố phi vật thể 156

1.2.2.1 Các lễ tiết thờ cúng, hội làng 156

1.2.2.2 Các phong tục tập quán tiêu biểu 163

1.2.2.3 Chèo Chải hê (Hải hê) - di sản văn hóa độc đáo của làng Tam Sơn 164

1.2.2.4 Truyền thống hiếu học khoa bảng 165

Chương 2: Biến đổi văn hóa lμng truyền thống ở x∙ Tam Sơn trong công cuộc đổi mới 170

2.1 Biến đổi văn hóa làng truyền thống ở xã Tam Sơn trước thời kỳ đổi mới 170

2.1.1 Giai đoạn từ tháng 8-1945 đến đầu 1958 170

Trang 5

2.1.2 Giai đoạn từ đầu 1958 đến cuối 1986 171

2.2 Biến đổi văn hóa làng truyền thống ở xã Tam Sơn trong công cuộc đổi mới 175

2.2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự biến đổi của văn hóa làng truyền thống 175

2.2.2 Biến đổi các yếu tố vật thể 179

2.2.2.1 Biến đổi về cảnh quan, cấu trúc làng xóm 179

2.2.2.2 Sự thay đổi của các di tích thờ cúng 180

2.2.2.3 Phục dựng, tu bổ và dựng mới các nhà thờ họ, nhà thờ danh nhân 183

2.2.3 Biến đổi văn hóa phi vật thể 186

2.2.3.1 Biến đổi về phong tục tập quán, lễ hội 186

2.2.3.2 Xây dựng gia đình văn hóa và làng văn hóa 192

2.2.3.3 Biến đổi về quan hệ xã hội 198

2.2.4 Thay đổi về cung cách quản lý, tổ chức các hoạt động văn hóa 202 2.2.4.1 Thay đổi trong quản lý, tu bổ các di tích 202

2.2.4.2 Thay đổi trong tổ chức và quản lý lễ hội 206

2.2.4.3 Việc tiếp cận với những hình thức thông tin và loại hình giải trí mới 207

2.2.5 Biến đổi về truyền thống học hành 84

Chương 3: Bảo tồn vμ phát huy các giá trị văn hóa lμng tam sơn trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa 209

3.1 Làng xã Tam Sơn và văn hóa làng trước thách thức của công nghiệp hoá và hiện đại hoá 209

3.2 Những vấn đề đặt ra cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa làng truyền thống ở xã Tam Sơn trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá 216

3.2.1 Bảo tồn các giá trị văn hóa làng trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, một nhiệm vụ quan trọng và bức thiết 216

Trang 6

3.2.2 Mục tiêu, nhiệm vụ, phương châm của công tác quản lý văn

hóa làng ở Tam Sơn trong tình hình hiện nay 218

3.2.2.1 Mục tiêu 218

3.2.2 2 Nhiệm vụ 219

3.2.2 3 Phương châm 219

3.2.3 Một số giải pháp cụ thể 219

3.2.3.1 Về công tác tuyên truyền 219

3.2.3.2 Về phục dựng, tu bổ và bảo vệ các di tích 221

3.2.3.3 Bảo tồn những phong tục tập quán tốt đẹp, phục hồi và bảo tồn những nét độc đáo trong lễ hội và những sinh hoạt văn hóa 224

3.2.3.4 Huy động các nguồn lực trong việc bảo tồn và triển vốn văn hóa truyền thống 224

3.2.3.5 Tăng cường và nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước và phát huy vai trò quản lý của cộng đồng trong bảo tồn di sản văn hóa và tổ chức các hoạt động văn hóa truyền thống 228

3.2.4 Một số kiến nghị cụ thể 231

3.2.4.1 Đối với xã Tam Sơn 231

3.2.4.2 Đối với Nhà nước 232

Kết luận 233

Tμi Liệu tham khảo 237

Phụ lục 243

Trang 7

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của luận văn

Cơ tầng xã hội của văn hóa Việt Nam là làng Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử đất nước, làng có vị trí rất quan trọng vì đây là nơi sinh sống của đa số dân cư Làng là nơi cha ông ta tổ chức làm ăn, hình thành các thiết chế tổ chức và quan hệ xã hội, tạo dựng các công trình kiến trúc để duy trì các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng Làng cũng là nơi hình thành các phong tục tập quán nhằm gắn kết cá nhân với cộng đồng, gắn làng với nước, nơi bảo lưu các giá trị văn hóa được tích tụ từ ngàn đời

Trong công cuộc Đổi mới, Đảng và Nhà nước ta nhận thức sâu sắc hơn vai trò quan trọng của văn hóa Văn hóa được coi là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã

hội Trong chiến lược xây dựng nền Văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản

sắc dân tộc theo tinh thần Đại hội toàn quốc lần thứ VIII đề ra, Đảng và Nhà

nước ta rất quan tâm đến việc bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống mà cốt lõi là văn hóa làng

Từ các chủ trương, chính sách chung của Đảng và Nhà nước, các địa phương đã vận dụng vào điều kiện cụ thể của mình để đề ra các biện pháp quản lý, bảo tồn di sản văn hóa truyền thống, tổ chức các hoạt động văn hóa, tạo ra những nét mới trong văn hóa của các cộng đồng dân cư, góp phần làm cho văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được trong công tác văn hoá, vẫn còn nhiều địa phương chưa quan tâm đúng mức đến công tác này, từ

đó có những ảnh hưởng không tốt đến việc giữ gìn vốn văn hóa truyền thống,

đến việc tổ chức các hoạt động văn hóa trên địa bàn trong điều kiện mới

Trang 8

Xã Tam Sơn thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh là xã có nhiều nét đặc thù, mang tính tiêu biểu trên vùng châu thổ Bắc Bộ Xã gồm 4 thôn (làng cũ): Tam Sơn, Dương Sơn, Phúc Tỉnh và Thọ Trai, là những làng cổ của đất Kinh Bắc ngàn năm văn hiến, có nhiều truyền thống và giá trị văn hóa rất nổi bật

Di sản văn hóa làng của Tam Sơn là một hệ thống các di tích (đình, chùa, đền miếu, văn chỉ, nhà thờ các dòng họ, nhà thờ các danh nhân) và bao chứa trong các di tích đó là nguồn tư liệu Hán Nôm rất phong phú Gắn với các di tích này là các sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội độc đáo, trong đó tiêu biểu nhất là hội chùa làng Tam Sơn Tam Sơn còn nổi danh là đất khoa bảng với 22 người

đỗ đại khoa, đặc biệt là làng Tam Sơn là làng duy nhất trong cả nước có đủ

“Tam khôi”, trong đó có trạng nguyên đầu tiên của nước nhà (Trạng nguyên Nguyễn Quan Quang) Các nguồn sử liệu cùng những kết quả nghiên cứu mới đây đã ghi nhận truyền thống lịch sử văn hóa của Tam Sơn có quan hệ mật thiết với Thăng Long - Hà Nội suốt từ vương triều Lý Cùng với Đình Bảng, Tam Sơn như là một “vệ tinh” của “Tiểu vùng văn hóa Thăng Long” trong vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ, nhất là trong thời kỳ của hai Vương triều Lý - Trần

Nhân dân các làng quê xã Tam Sơn rất tự hào với bề dày truyền thống lịch sử văn hóa của mình Trong quá trình lãnh đạo cách mạng ở địa phương,

Đảng bộ và chính quyền xã Tam Sơn luôn quan tâm đến việc bảo tồn di sản văn hóa, đã chỉ đạo các làng quê đề ra các biện pháp bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, duy trì các phong tục tập quán tốt đẹp và các lễ hội độc

đáo Tuy nhiên, bên cạnh những mặt được, việc bảo tồn các di sản văn hóa truyền thống còn nhiều bất cập, đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm một cách đúng mực trên bình diện quản lý

Từ năm 1998 đến nay, cùng với cả nước, xã Tam Sơn đẩy mạnh thực hiện công cuộc công nghiệp hóa Từ một vùng quê thuần nông, hiện nay, xã Tam Sơn đã trở thành những làng nghề sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ Nhờ

Trang 9

chủ trương “Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc

dân tộc” từ Hội nghị Trung ương lần thứ V (khóa VIII), kết hợp với một đời

sống vật chất ngày càng được cải thiện, nhân dân và cán bộ các làng trong xã

đã đóng góp nhiều công sức, tiền của để tôn tạo lại hệ thống di tích lịch sử văn hóa, duy trì các sinh hoạt văn hóa truyền thống Bên cạnh đó, với vị thế

có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa và truyền thống cách mạng, có quan

hệ mật thiết với Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long, Tam Sơn đã được Nhà nước đầu tư một lượng kinh phí cho việc tu bổ các di tích lịch sử văn hóa Tất cả đã làm cho vốn văn hóa truyền thống của Tam Sơn được bảo tồn

và phát huy trong điều kiện mới

Tuy nhiên, những biến đổi về văn hóa truyền thống trong điều kiện phát triển của các làng nghề đang đặt ra cho nhân dân các làng và chính quyền xã Tam Sơn nhiều vấn đề cần quan tâm giải quyết Bên cạnh đó, quanh Tam Sơn đã và đang hình thành các khu công nghiệp, đô thị, trên địa bàn xã mới hình thành trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà Sự xuất hiện của khu công nghiệp làng nghề ít nhiều tác động đến các mặt đời sống của xã, đặt ra nhiều thách thức về phương diện văn hóa, nhất là với việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống mà Đảng bộ và chính quyền xã cũng như cán bộ và nhân dân các thôn làng đang trăn trở Làm sao để các di sản văn hóa không những được bảo tồn trước làn sóng của cuộc sống công nghiệp mà còn thật sự

là một trong những động lực cho công cuộc phát triển kinh tế Việc bảo tồn các di sản văn hóa càng trở nên bức thiết hơn khi thời điểm kỷ niệm 1000 năm Thăng Long đang đến rất gần Trong tình hình trên đây, việc nghiên cứu

sự biến đổi của văn hóa làng truyền thống, đề ra các biện pháp quản lý văn hóa làng phù hợp với đường lối của Đảng và nhịp sống chung của quá trình công nghiệp hóa cũng như với các đặc thù của một địa phương có bốn thôn làng là một việc làm có ý nghĩa quyết định

Trang 10

Là học viên cao học chuyên ngành quản lý văn hóa, tôi say mê với đề tài văn hóa làng và quản lý văn hóa làng, mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé để nghiên cứu thực trạng đời sống văn hóa quê hương, sự biến

đổi văn hóa làng truyền thống, đề xuất một số chủ trương, giải pháp tích cực,

có hiệu quả để phát triển kinh tế của làng quê tôi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời không đánh mất bản sắc văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập với khu vực và quốc tế hiện nay

Từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Văn hóa làng ở x∙ Tam Sơn,

tốt nghiệp Cao học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Từ trước đến nay, vấn đề văn hóa làng đã được giới nghiên cứu về văn hóa học bàn đến

Trước hết phải kể đến các tác phẩm của các học giả “kỳ cựu” như Phan

Kế Bính [7], Đào Duy Anh [1], Nguyễn Văn Huyên [36], [37], [38], Toan

ánh [3], [4], [5]; các tác phẩm của các học giả công bố gần đây, như Trần Từ [69], Phan Đại Doãn [15], [16], Bùi Xuân Đính [24], [25], [26], [27], nhiều luận văn thạc sĩ của học viên Cao học thuộc khoa Sau Đại học, trường Đại học Văn hóa trong những năm gần đây như Đặng Hoàng Hải [29], Nguyễn Thu Hiền [30] đề cập đến nhiều mặt của văn hóa làng truyền thống

Ngoài các tác phẩm bàn về văn hóa làng truyền thống nêu trên, còn có các công trình nghiên cứu đề cập đến việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ

sở, như: Đời sống văn hóa ở cơ sở - thực trạng và những vấn đề cần giải

quyết (Bộ Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa phối hợp biên soạn) [10]; Chủ động sáng tạo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở do Bộ Văn hóa - Thông

tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) ấn hành [11]; Mấy vấn đề về

xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở hiện nay của Nguyễn Văn Hy [39], Mấy

Trang 11

vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta của GS.TSKH Huỳnh

Khái Vinh [74], Một số giá trị văn hóa truyền thống đối với đời sống văn hóa

cơ sở ở nông thôn hiện nay [12] v v…

Tại tỉnh Hà Bắc (hai tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh ngày nay), từ năm 1991

đã có một số công trình nghiên cứu về văn hóa làng trong mối quan hệ với

xây dựng đời sống văn hóa cơ sở như Xây dựng quy ước làng ở Hà Bắc [64]

Sau khi tỉnh Bắc Ninh được tái lập (năm 1997), Sở VHTT tỉnh biên soạn một

số sách ít nhiều liên quan đến vấn đề này, như Văn hiến Kinh Bắc [65], Văn

Miếu Bắc Ninh [73]

Tuy nhiên, các công trình trên đây chỉ bàn chung đến việc xây dựng

đời sống văn hóa ở cơ sở, mà ít bàn đến vấn đề biến đổi văn hoá và quản lý văn hoá tại các vùng, làng cụ thể, trong đó có các làng nghề, làng đang trong quá trình chuyển biến từ thuần nông sang làng nghề làm đồ gỗ; trong khi do những điều kiện riêng về môi trường tự nhiên, lịch sử, cư dân, các làng này mang tính đặc thù rất rõ nét, có ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức, quản lý các hoạt động văn hóa

2.2 Về văn hóa làng thuộc xã Tam Sơn, cũng đã có khá nhiều công trình đề cập đến Các bộ sử hoặc địa chí thời phong kiến như Thiền uyển tập

anh [66], Việt sử lược [76], Đại Việt Sử ký toàn thư [22], Khâm định Việt sử thông giám cương mục [56], [57], Lịch triều hiến chương loại chí [13], Đại Nam nhất thống chí [55], Bắc Ninh dư địa chí [75] v v; đều có nhắc đến xã

Tam Sơn, về chùa Cảm ứng, về các danh nhân khoa bảng của hai làng Tam Sơn và Dương Sơn

Năm 1993, Đảng bộ xã Tam Sơn xuất bản cuốn Tam Sơn truyền thống

và hiện đại [18] Phần thứ nhất của cuốn sách trình bày những nét lớn về lịch

sử hình thành và phát triển, những đặc điểm về truyền thống của làng xã và con người Tam Sơn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phân tích thực

Trang 12

trạng kinh tế - xã hội của địa phương từ khi thực hiện đường lối đổi mới của

Đảng, dự báo xu hướng phát triển của xã Tam Sơn, trong đó có đặt ra việc bảo tồn các di sản văn hóa [18]

Năm 2003, UBND xã Tam Sơn phối hợp với Sở VHTT tỉnh Bắc Ninh,

xuất bản cuốn Làng Tam Sơn truyền thống và hiện đại [41], là tập hợp các

tham luận của Hội thảo khoa học cùng tên được tổ chức vào ngày 5 tháng 6 năm 2002 tại xã Các tham luận tập trung làm sáng tỏ vị trí, vai trò của làng Tam Sơn trong lịch sử dân tộc và lịch sử quê hương Kinh Bắc, các di tích lịch

sử văn hóa, những truyền thống tiêu biểu của làng, đặc biệt là đóng góp các danh nhân khoa bảng Tam Sơn vào việc xây dựng và phát huy truyền thống của quê hương đất nước

Năm 2006, các tác giả Nguyễn Lâm Tuấn Anh, Nguyễn Thị Minh

Phương trong cuốn sách Một số yếu tố văn hóa & giáo dục ảnh hưởng đến sự

phát triển làng xã [2], thông qua các tư liệu xã hội học đề cập đến ảnh hưởng

của các yếu tố truyền thống đối với giáo dục ở làng Tam Sơn Ngoài ra, còn một số bài viết bàn về ảnh hưởng của các yếu tố truyền thống đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở làng Tam Sơn trong thời gian gần đây, đăng trên một số tạp chí chuyên ngành

Năm 2007, Phạm Quế Liên chọn “Văn hóa các dòng họ Ngô làng Tam

Sơn” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp ở bậc Cao học Luận văn chỉ ra các mặt

biểu hiện về phương diện văn hóa của các dòng họ Ngô làng Tam Sơn [44]

Tuy có nhiều tác phẩm viết về làng Tam Sơn song chủ yếu nhìn từ góc

độ lịch sử - văn hóa Cho đến nay, chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề biến đổi của văn hóa làng truyền thống và quản lý văn hóa làng ở xã Tam Sơn trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới Đây cũng là lý do để tôi chọn vấn đề này làm Luận văn tốt nghiệp ở bậc Cao học

Trang 13

3 Mục đích vμ nhiệm vụ nghiên cứu

- Chỉ ra thực trạng biến đổi của văn hóa làng truyền thống ở xã Tam Sơn trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương hiện nay

- Trên cơ sở đó, Luận văn đưa ra một số luận cứ khoa học để cấp ủy, chính quyền các cấp tham khảo trong việc đưa ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động quản lý văn hóa làng, góp phần vào việc bảo tồn các di sản văn hóa của một vùng quê có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa

- Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu văn hóa làng trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa hiện nay

ở đồng bằng Bắc Bộ

4 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các mặt liên quan đến biến

đổi của văn hóa làng truyền thống ở xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ đổi mới

- Phạm vi nghiên cứu :

Về không gian: Luận văn nghiên cứu sự biến đổi của văn hóa làng

truyền thống ở xã Tam Sơn gồm 4 làng: Tam Sơn, Dương Sơn, Phúc Tỉnh,

Thọ Trai

Về thời gian: Luận văn chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá thực

trạng biến đổi của văn hóa làng truyền thống ở xã Tam Sơn từ năm 1998 - khi

Hội nghị lần thứ V, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII ra Nghị quyết về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc - đến năm

2007

Trang 14

5 Phương pháp luận vμ phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hoá, về nông thôn và nông nghiệp; vận dụng các

lý thuyết về văn hóa và biến đổi văn hóa để xem xét, đánh giá các mặt có liên quan đến hoạt động quản lý văn hoá làng ở xã Tam Sơn

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học để thu thập tư liệu; kết hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành: văn hoá học, phương pháp phân tích, thống kê và phương pháp hệ thống, phương pháp nghiên cứu điển hình để xem xét các nội dung, giải mã các hiện tượng cần nghiên cứu

6 Nguồn tư liệu của luận văn

- Nguồn tư liệu chính của Luận văn là tư liệu điền dã, gồm các báo cáo tổng kết có liên quan đến xây dựng đời sống văn hoá cơ sở và quản lý văn hóa, các thông tin thu được từ các cuộc trao đổi với cán bộ, các trưởng thôn, trưởng xóm, nhân dân ở các thôn làng thuộc xã Tam Sơn, các báo cáo, các văn bản, Nghị quyết của cấp ủy, chính quyền và ngành văn hóa huyện, xã liên quan đến việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động quản lý văn hóa làng;

- Luận văn kế thừa các kết quả nghiên cứu về xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, về quản lý các hoạt động xây dựng đời sông văn hóa ở cơ sở, về văn hoá làng, về xây dựng làng văn hóa nói chung và về truyền thống lịch sử văn hóa của các làng thuộc xã Tam Sơn đã được công bố

7 Đóng góp của Luận văn

- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về biến đổi của văn hoá làng truyền thống ở xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh trong công cuộc đổi mới; chỉ ra thực trạng của các hoạt động quản lý văn hóa làng ở xã Tam Sơn, hình thành các luận cứ khoa học để cấp uỷ, chính quyền xã Tam

Trang 15

Sơn và các thôn làng trong xã tham khảo trong việc đề ra các giải pháp chấn chỉnh, đẩy mạnh công tác quản lý văn hóa làng, xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, góp phần làm cho văn hóa truyền thống có vai trò to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương theo hướng bền vững

- Kết quả của Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu các vấn đề lý luận quản lý văn hóa, có thể làm tài liệu tham khảo cho ngành văn hóa huyện

Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh trong việc chỉ đạo công tác quản lý văn hóa làng tại các làng trong huyện trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần vào việc chuẩn bị cho những hoạt động kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội của xã Tam Sơn

8 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung

Luận văn chia làm 3 chương:

Chương 1: Văn hóa làng truyền thống ở xã Tam Sơn

Chương 2: Biến đổi văn hóa làng truyền thống ở xã Tam Sơn trong

công cuộc đổi mới

Chương 3: Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa làng Tam Sơn trong

điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 16

Chương 1 Văn hóa lμng truyền thống ở x∙ Tam Sơn

1.1 Giới thiệu chung về x∙ Tam Sơn

Tam Sơn là một xã đồng bằng nhưng giữa xã lại nổi lên ba ngọn núi

đất là núi Vường, núi Giữa, và núi Chùa, tên chữ gọi chung là núi Tam Sơn,

tạo cho cảnh quan của xã một nét riêng, độc đáo Sách Đại Nam nhất thống

chí chép: “Núi Tam Sơn ở cách huyện Đông Ngàn 10 dặm về phía Tây Bắc Giữa đồng bằng nổi lên ba ngọn núi như chuỗi hạt châu Xã Tam Sơn là nhân

tên núi mà gọi” [55, tr 71] Núi này gắn với tên xã, tên các đình, chùa, miếu

mạo, với các dòng họ lớn, với lịch sử phát triển của làng xã Tam Sơn

Tam Sơn hiện nay nằm trong thế mở: từ Quốc lộ 1A có hai đường vào Tam Sơn: một đường từ thị trấn Từ Sơn theo đường 295 vào làng Dương Sơn

để về trung tâm xã; một đường từ trạm xăng Đồng Nguyên giáp cây số 19 trên Quốc lộ 1A theo đường Ngô Gia Tự mới được mở từ năm 2000 chạy thẳng vào khu vực trung tâm xã Từ đầu làng Dương Sơn, đường 295 chạy qua làng Thọ Trai đi thẳng đến huyện lỵ Yên Phong Từ đầu làng Tam Sơn - trung tâm xã, có đường nhựa liên xã qua làng Phúc Tinh lên xã Tương Giang

để ra Quốc lộ 1A ở cây số 21

Trang 17

Xa xưa, làng Tam Sơn còn có sông Tiêu Tương chảy qua, song không

rõ từ bao giờ, sông đã bị bồi lấp

Theo số liệu thống kê đến tháng 12 năm 2007, xã Tam Sơn có tổng diện tích tự nhiên là 848,12 ha, dân số có 2885 hộ với 11.259 nhân khẩu Số

liệu cụ thể ở Bảng 1 và Bảng 2

Bảng 1 : Diện tích các loại đất của xã Tam Sơn

TT Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ phần

Trang 18

nay thuộc hai xã khác nhau: hai làng Dương Sơn và Thọ Trai hợp thành xã

Dương Sơn, hai làng Tam Sơn và Phúc Tinh thuộc xã Tam Sơn; đến năm

Thành Thái thứ 14 (Nhâm Dần - 1902), làng Phúc Tinh tách ra thành xã

riêng Cả ba xã đều thuộc tổng Tam Sơn, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh

Bắc Ninh Trong bốn làng thì Tam Sơn là làng tương đối lớn, với 2570 dân -

theo thống kê năm 1928, còn các làng Dương Sơn, Thọ Trai, Phúc Tinh là

những làng nhỏ (hai làng Dương Sơn và Thọ Trai có dân số chung là 1373

người; làng Phúc Tinh có 503 người) [45, tr 211, 435]

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, các làng thành lập UBND

lâm thời riêng Sau cuộc bầu cử HĐND cấp xã tháng 4 - 1946, các làng thuộc

xã Tam Sơn ngày nay thuộc hai xã: xã Phúc Sơn gồm hai làng Tam Sơn và

Phúc Tinh; xã Dương Sơn gồm hai làng Dương Sơn và Thọ Trai

Tháng 12 - 1948, do yêu cầu chỉ đạo kháng chiến, hai xã Phúc Sơn và

Dương Sơn hợp nhất thành một xã mang tên Liên Sơn thuộc huyện Từ Sơn,

tỉnh Bắc Ninh Từ năm 1963, xã Liên Sơn thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà

Bắc Năm 1971, xã Liên Sơn trở lại tên Tam Sơn

Trang 19

Từ đầu năm 1997, tỉnh Hà Bắc được chia tách thành hai tỉnh Bắc Ninh

và Bắc Giang Ngày 11 tháng 8 năm 1999, Chính phủ ra Nghị định số 68/1999/NĐ - CP tách huyện Tiên Sơn thành hai huyện là Tiên Du và Từ

Sơn Từ đây, xã Tam Sơn thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh [6]

1.1.2 Lịch sử hình thành làng xã

Tam Sơn gồm 4 làng cũ, mỗi làng có những đặc điểm riêng về quá trình hình thành, về cơ cấu tổ chức và phong tục tập quán, có những truyền thuyết riêng về nguồn gốc làng xóm của mình

Làng Tam Sơn xưa gọi là Ba Sơn, ở trung tâm xã gồm 6 xóm: xóm Tây

và xóm Núi đứng riêng biệt ở hai khoảnh tre, 4 xóm còn lại (xóm Xanh, xóm

Ô, xóm Đông và xóm Trước) tập trung ở khu vực cư trú chính Xóm Xanh và xóm Núi có nhiều di tích, đền chùa, miếu mạo, là nơi các dòng họ lớn trong làng như họ Ngô, họ Nguyễn sống từ rất lâu đời

Truyền thuyết Ông Núi, bà Xanh phản ánh quá trình khai hoang lập

làng Tam Sơn từ rất xa xưa Truyền thuyết kể về đoàn người từ trung du xuống khai phá vùng đất này khi còn là rừng rậm đầm lầy Họ cư trú thành làng xóm đông đúc Một năm nọ xảy ra một trận lụt lớn cuốn trôi tất cả, chỉ còn một người đàn ông trèo lên núi Vường và một người đàn bà mắc vào cây xanh thoát chết Hai người chung sống và cư dân ngày càng đông đúc, hình thành hai xóm gốc là xóm Xanh và xóm Núi Dân làng Tam Sơn coi xóm Xanh và xóm Núi là xóm gốc, vì thế hiện nay vẫn còn tục con trai xóm Núi không được lấy con gái xóm Xanh, bởi coi nhau như anh em một nhà

Làng Dương Sơn có tên Nôm là làng Chõ Ngoài các xóm Trúc, Tự,

Chi, như hiện nay, trước đây còn xóm Bắc và xóm Cầu Bia Xóm Cầu Bia tương truyền mất từ thời Thánh Gióng đánh giặc Ân - khi ngựa sắt của Gióng trên đường truy kích giặc đã phun những vệt lửa dài, thiêu trụi một số làng

Trang 20

xóm Còn xóm Bắc mới mất cách đây khoảng 150 năm do một trận dịch, dân xóm nhập vào xóm Tự

Làng Chõ gắn liền với câu ngạn ngữ địa phương: “Trống Chờ, chiêng

Chõ, mõ Phù Lưu” Truyền thuyết kể rằng, vùng này vốn nhiều rừng rậm:

rừng báng, rừng sậy, rừng sặt (chân chùa Cảm ứng làng Tam Sơn có rừng lim, xóm Trúc làng Dương Sơn vốn là rừng trúc) Để tránh thú dữ, khi đoàn người từ trung du xuống khai phá vùng đất này phải đi thành đoàn theo hiệu lệnh chung Đoàn thứ nhất gánh lúa dùng hiệu lệnh trống, đoàn thứ hai gánh chõ để nấu xôi dùng hiệu lệnh chiêng, đoàn thứ ba gánh trầu lấy mõ làm hiệu lệnh Đoàn thứ nhất đến xóm Chờ ở cửa rừng (sau lập thành làng Chờ, nay là thị trấn Chờ, thuộc huyện Yên Phong), đoàn thứ hai đến sau lập làng gọi là Chõ (làng Dương Sơn ngày nay), đoàn gánh trầu đến sau cùng lập làng Giầu (làng Phù Lưu thuộc xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn ngày nay) Truyền rằng, làng Chờ trước đây có chiếc trống rất to ở đình, làng Giầu còn chiếc mõ lớn, còn làng Chõ thì không còn giữ được chiêng

Làng Thọ Trai cũng có tên Nôm là làng Chõ, xưa còn là Bình Sơn

trang Tục truyền, xưa kia làng dựng chung đình với làng Chõ Dương Sơn, sau tách làng, lập đình riêng nên đình Thọ Trai trước đây có nhiều cột vốn từ

đình Dương Sơn bị cháy Một thuyết khác cho rằng, làng Thọ Trai hình thành

từ lâu đời, gắn liền với truyền thuyết về Thánh Gióng Truyền thuyết kể rằng, Thánh Gióng đánh giặc Ân ở núi Sóc, có lúc phải rút về Bình Sơn trang (Thọ

Trai) tuyển thêm quân là những trai tráng nên làng này có tên là làng Giai

Vết chân ngựa sắt Thánh Gióng còn in lại ở một tảng đá ở đầu làng Nơi sau

này lập đình thờ Đình Thọ Trai hiện nay vẫn còn bức hoành phi “Thiết mã di

hình” (ngựa sắt để lại dấu vết) là vì thế

Làng Phúc Tinh không có tên Nôm Một số cụ già làng Tam Sơn cho

rằng, dân Phúc Tinh vốn từ làng Tam Sơn tách ra, đi khai phá vùng chiêm

Trang 21

trũng mà dấu vết còn tới hiện nay Song căn cứ vào tục xưa ở làng Phúc Tinh: con gái cưới xong không về nhà chồng ngay, mà phải đợi hết năm mới về, thì

có thể giả thiết rằng, dân làng này đã cư trú ở đây từ rất lâu đời, vì tục lệ trên phản ánh sự giằng co giữa chế độ cư trú theo vợ và cư trú theo chồng, giữa chế độ mẫu hệ và phụ hệ, chỉ có ở những cư dân cổ

Dân làng Phúc Tinh xưa sống ở hai nơi: khu vực làng hiện nay và xóm

Đồng Đường trước cửa làng Có một năm xảy ra một trận dịch, nhiều người

bị chết đến nỗi không có người chôn, dân xóm chuyển vào trong làng hiện nay

Tư liệu khảo cổ học chứng minh tính chất cổ xưa của làng xã Tam Sơn: tại núi Vường và nhiều nơi trong xã, những năm 1971 - 1973 các nhà khảo cổ học đã tìm thấy vết tích của hai lò gốm cổ, dấu vết của khu cư trú và mộ táng thời Bắc thuộc, có gạch xây mộ hình lưỡi búa, mảnh gốm có vặn thừng in ô vuông, ô trám Quanh Tam Sơn có các di chỉ thuộc thời đại đồ đá và đồ đồng như di chỉ Bãi Tự (thuộc địa phận xã Tương Giang ở bên cạnh Tam Sơn, nay thuộc huyện Tiên Du) đã tìm thấy xưởng chế tạo đồ đá, tương ứng với di chỉ Tràng Kênh (nay thuộc thành phố Hải Phòng) có niên đại 1455 ± 100 TCN

Di chỉ Phù Lưu - Phù Chẩn (thuộc huyện Từ Sơn ngày nay) tương ứng với di chỉ Đồng Đậu (1120 năm TCN)

Một chứng cứ khác góp phần chứng minh cho tính cổ xưa của làng xã Tam Sơn là việc thờ thần Làng Tam Sơn thờ Đương Sơn thổ địa thạch hổ chính thần (Sơn thần hay thần Núi) Việc thờ thổ thần làm thành hoàng thường có ở những làng rất cổ Làng Thọ Trai thờ Thánh Gióng - một trong

“Tứ bất tử” của thời đại các Vua Hùng dựng nước

Tóm lại, các truyền thuyết, tập tục và di chỉ khảo cổ học cho thấy quá trình khai hoang lập làng xóm ở Tam Sơn ngày nay gần 3000 năm gắn với quá trình tổ tiên ta từ vùng trung du (Phú Thọ) tiến xuống khai phá đồng bằng lúc ấy còn là vùng rừng rậm đầm lầy Làng xã Tam Sơn hình thành

Trang 22

cùng với quá trình dựng nước của tổ tiên ta từ thuở các Vua Hùng, trở thành cái nôi của nền văn minh dân tộc, nền văn hóa Việt

1.1.3 Cơ sở kinh tế

Cũng như ở bao ngôi làng trên vùng châu thổ Sông Hồng, nông nghiệp

là ngành kinh tế chính của làng xã Tam Sơn Xã nằm trong vùng đồng trũng của hai huyện Đông Ngàn và Tiên Du cũ, tức các huyện Từ Sơn, Tiên Du (tỉnh Bắc Ninh) và một phần huyện Đông Anh (thành phố Hà Nội) ngày nay

Đồng ruộng của xã không bằng phẳng, trong đó ruộng của làng Tam Sơn và làng Phúc Tinh tuyệt đại bộ phận là ruộng chiêm, quanh năm nước trắng, cày bừa phải cắm vè đi cấy, gặt phải dùng thuyền Thế ruộng trũng phải hứng chịu thêm nguồn nước từ nhiều xã xung quanh như Đồng Nguyên, Đồng Quang và một phần của huyện Đông Anh, nước lũ của sông Ngũ Huyện Khê nên thường xẩy ra úng lụt

Mặc dù phải đối mặt với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, nhưng người Tam Sơn vẫn cần cù chịu khó, tần tảo sớm hôm, chung lưng đấu cật

đương đầu với thiên nhiên và hơn thế, họ còn cấy trồng được nhiều loại lúa ngon như tám thơm, tám nam, nếp cái….Trong điều kiện kỹ thuật lạc hậu dưới thời phong kiến, bằng lao động cần cù, người Tam Sơn cũng tạo được ra những cánh đồng "nhất đẳng điền" cho năng suất từ 100 - 120 kg/sào như

đồng Trước, đồng Trầm (làng Tam Sơn), đồng Đỗi (làng Dương Sơn) Người nông dân Tam Sơn cũng am hiểu rõ chất đất, thế đất, thế nước của từng xứ

đồng, đặc điểm thời tiết từng vụ, từng năm để bố trí mùa vụ và các loại giống lúa phù hợp Ngoài lúa, họ còn trồng ngô, khoai, các loại đỗ để có thêm thu nhập và cải tạo đất

Ngoài nông nghiệp, trước đây, trong bốn làng chỉ có làng Tam Sơn có nghề phụ là dệt tơ lụa Theo ước tính, vào những năm 1930 trở đi, cả làng có tới hơn một nửa số dân sống bằng nghề dệt và 1/4 số hộ vừa dệt vừa làm ruộng Sản phẩm chính của nghề dệt Tam Sơn là thứ lụa mỏng, dệt từ tơ nõn,

Trang 23

khá nổi tiếng ở vùng Kinh Bắc xưa Sách Phong thổ Hà Bắc thời Lê chép

"Tam Sơn có thứ lụa mỏng, sợi nhỏ, quét sơn các màu để lợp dù, lợp lọng đều

được cả" [54] Ngoài lụa còn có sồi thắt lưng, bao, dệt từ tơ dút hoặc vải vuông, màn, đũi với bao công đoạn của nghề dệt khiến cho nhà nhà nhộn nhịp với tiếng thoi đưa lách cách quanh năm, chỉ trừ những ngày lễ tết và ngày hội Sự phát triển của nghề dệt đã làm cho Tam Sơn trở thành làng có kinh tế ổn định và giàu

có trong vùng thời bấy giờ Các gia đình chuyên sống bằng nghề dệt có mức sống ngang mức sống với trung nông lớp trên Nhiều gia đình nhờ nghề dệt mà trở nên giàu có, mua được 6 - 7 mẫu ruộng, làm được nhà ngói

Các làng Dương Sơn, Phúc Tinh, Thọ Trai trước đây không có nghề phụ gì đáng kể, ngoài một số người đi làm mộc, làm nề

Sự phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp đã tạo ra nguồn sản phẩm khá dồi dào, là cơ sở cho sự trao đổi hàng hoá sầm uất tại chợ làng

Tam Sơn (thường gọi là chợ Sơn) họp ngay dưới chân chùa Cảm ứng vào các

ngày 2 - 5 - 7 - 10 trong tháng, thu hút một khối lượng lớn hàng nông sản,

hàng hoá của làng và từ các làng trong vùng

Sau ngày hòa bình lập lại, những chính sách đối với nông thôn, nông nghiệp đã làm cho Tam Sơn có nhiều đổi thay Bên cạnh mặt tích cực là cải tạo được đồng ruộng để tăng vụ, tăng năng suất cây trồng, các chính sách trên lại bộc lộ mặt hạn chế, bất cập là làm cho tính đa dạng trong hoạt động kinh tế truyền thống của Tam Sơn bị thủ tiêu Các thôn làng trong xã trở thành những làng thuần nông vì nghề thủ công hầu như không được duy trì, chợ Sơn không còn hoạt động từ giữa những năm 60 của thế kỷ trước Bên cạnh đó, Tam Sơn được trên ưu tiên đầu tư, bao cấp nhiều mặt đã tạo ra một sức ỳ, tâm lý ỷ lại trong cán bộ và nhân dân cả bốn thôn làng Vì thế, khi cơ chế quan liêu bao cấp bị xóa bỏ, trong khi các làng xã bên cạnh nhanh chóng chuyển mình, bắt nhịp với cơ chế thị trường, với nền kinh tế hàng hóa đa dạng thì Tam Sơn vẫn sống dựa vào nông nghiệp kết hợp với đi làm thuê cho

Trang 24

các làng nghề trong huyện trong một thời gian dài hàng chục năm Chỉ từ năm 2003, người Tam Sơn mới bứt khỏi sự trì trệ, tính năng động mới được phát huy Hiện nay cả xã, nhất là làng Tam Sơn đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp chiếm 60 - 65%, trong đó những năm gần đây đặc biệt phát triển nghề đồ gỗ mỹ nghệ (chiếm hơn 35 - 40% tổng số

hộ tham gia) Trong nông nghiệp có sự kết hợp giữa chăn nuôi và trồng trọt

và chuyển dịch cơ cấu cây trồng, lúa nếp chiếm 90% số diện tích canh tác,

đem lại giá trị kinh tế cao Thu nhập bình quân của người dân tăng, ngày càng mọc lên nhiều ngôi nhà cao tầng khiến cho làng quê Tam Sơn ngày một trù phú

1.1.4 Cơ cấu tổ chức làng xã

Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, cơ cấu tổ chức của các làng thuộc xã Tam Sơn theo mô hình của làng nông nghiệp vùng châu thổ Bắc Bộ, gồm

các thiết chế tập hợp người theo các mối quan hệ: huyết thống (gia đình và

dòng họ), láng giềng (xóm), lớp tuổi (giáp), bộ máy quản lý (hội đồng kỳ mục

và chức dịch) và quan hệ tương trợ, sở thích (các phường hội) Trong cả bốn

làng, thiết chế giáp và hội đồng kỳ mục cùng bộ máy chức dịch giữ vị trí quan trọng trong tổ chức và quản lý các mặt hoạt động của cộng đồng

Riêng làng Tam Sơn, trước kia có đến 18 giáp, số thành viên của các giáp lại không đều nhau nên việc phân bố việc làm gặp nhiều khó khăn Vì thế, từ năm Duy Tân thứ năm (Tân Hợi, 1911), thiết chế xóm (cụm xóm)

thay thế giáp đảm đương việc tổ chức thực hiện việc làng Dựa vào xóm và

cụm xóm, làng lập ra ba “thôn” để điều hành việc công:

- Thôn Tây gồm các đinh nam của xóm Tây

- Thôn Xanh gồm các đinh nam của hai xóm: Xanh và Ô

- Thôn Lẻ gồm các đinh nam của ba xóm: Trước, Trong và Ngoài

Trang 25

Việc giáp không còn được lấy làm đơn vị tổ chức thực hiện các công việc của cộng đồng làng mà phải nhường chỗ cho thôn gồm một cụm xóm và cơ chế vận hành của thôn vẫn lấy nguyên lý, lớp tuổi của giáp là nét khác biệt

độc đáo nhất trong cơ cấu tổ chức của làng Tam Sơn so với mẫu chung của làng Việt trên cùng châu thổ Bắc Bộ Điều này thể hiện một tư duy dám đổi mới của người làng Tam Sơn thường chỉ có ở những người có học thức cao, những làng có mặt bằng dân trí khá [24]

Làng Dương Sơn, việc làng được phân bố cho 5 giáp của 3 xóm: xóm

Tự và xóm Chi mỗi xóm có 2 giáp (Đông và Tây), xóm Trúc có 1 giáp Điều

hành việc giáp là Trưởng giáp và hai Quan viên trung ở độ tuổi trước 49

(trước tuổi lên lão)

Làng Phúc Tinh, hai giáp Đông và Tây đảm nhiệm các công việc của

làng phân công Mỗi giáp có hai Lềnh cả và 18 Lềnh thứ, gồm những người

từ 49 tuổi trở xuống điều hành việc giáp

Làng Thọ Trai cũng có hai giáp: Đông Bắc và Tây Nam Theo các cụ

già trong làng và các văn tự còn lưu giữ thì khoảng đầu thế kỷ XX lại hình thành thêm hai giáp mới là Đông Nam và Tây Bắc Mỗi giáp chịu trách

nhiệm tu bổ một góc đình, được làng cấp một mẫu ruộng công cho việc đó nên gọi là ruộng góc đình Mỗi giáp có một Quan đám nhất và Quan đám

nhì lo việc biện lễ và tế lễ Ngoài các công việc này, các giáp còn có nhiệm

vụ tu bổ đường sá, phu tráng binh dịch Điều hành các công việc của làng là

Hội đồng kỳ mục, đứng đầu là một Tiên chỉ và một Thứ chỉ

Ngoài Hội đồng Kỳ mục, còn có bộ máy chức dịch là đại diện của chính quyền phong kiến ở cấp xã Đứng đầu là một Lý trưởng và một Phó lý, chịu trách nhiệm với nhà nước phong kiến về các nghĩa vụ sưu thuế, phu dịch

Trang 26

Trong các tổ chức phường hội của các làng ở Tam Sơn, nổi bật là hội Tư văn, gồm những người có trình độ Nho học từ đầu thế kỷ XX, hội kết nạp thêm người có trình độ Tây học, đảm đương công việc tế lễ trong năm Hội tư văn của các làng: Dương Sơn, Thọ Trai, Phúc Tinh hình thành theo làng; riêng làng Tam Sơn lại hình thành theo ba thôn (tức cụm xóm)

Những quy ước về vận hành của cơ cấu tổ chức làng xã, lệ tục về các mặt đời sống của làng được ghi rõ trong hương ước của làng mang tên "Bản xã công lệ" gồm hơn 82 điều và nhiều đề mục khác được chép trong cuốn

Thượng Cổ xã Tam Sơn đồng dân công ước chí [68] lập năm Duy Tân thứ

năm (năm Tân Hợi, 1911) hiện còn lưu ở làng Làng Thọ Trai còn bản hương

ước khắc trên ván gỗ soạn năm Giáp Thìn đời Vua Thiệu Trị (năm 1844), gồm 13 điều, chủ yếu là những quy định về biện lễ, tế lễ Làng Phúc Tinh và làng Thọ Trai còn bản hương ước cải lương lập năm 1942, lưu tại Thư viện Thông tin KHXH [62], [63]

Những điều kiện kinh tế, cơ cấu tổ chức trên đây là cơ sở để hình thành nên các giá trị văn hóa làng truyền thống của Tam Sơn

1.2 Văn hóa lμng truyền thống x∙ Tam Sơn

1.2.1 Các yếu tố vật thể

1.2.1.1 Các đình

Trong bốn làng thuộc xã Tam Sơn, có ba làng có đình và còn được bảo

tồn đến ngày ngày nay Riêng làng Tam Sơn, có đình Giỏ nhưng không giữ

vai trò là trung tâm hành chính, tôn giáo như những ngôi đình khác, điều này

sẽ được trình bày rõ hơn ở dưới

Đình Dương Sơn được xây dựng từ năm ất Mão đời Tây Sơn (1795) và

được trùng tu mở rộng vào thời Nguyễn Đình quay về hướng Đông Bắc, phía trước là ao đình, xung quanh là khu dân cư Đình gồm 7 gian chính, 2 dĩ Trước đây, đình gồm đầy đủ các hạng mục công trình như Đại đình, Tiền tế

Trang 27

và Tảo mạc được bố trí hài hòa trong không gian thống nhất Do thời gian và

sự tàn phá của thiên nhiên, chiến tranh, ngày nay di tích chỉ còn tòa Đại đình tương đối nguyên vẹn Đình được tu sửa lớn vào năm Tân Mão niên hiệu Thành Thái (năm 1891) Đình thờ Đức thánh Tam Giang, là vị thần được nhiều nơi ở vùng Kinh Bắc ngưỡng mộ tôn thờ

Đình đã được UBND tỉnh Bắc Ninh công nhận là Di tich lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật vào cuối năm 2003

Đình Phúc Tinh: tọa lạc trên khu đất rộng phía Tây Nam làng Đình

nhìn hướng Tây Nam, trước mặt là cánh đồng rộng lớn Trước đây, đình gồm các hạng mục công trình như Đại đình, Tiền tế, Tả vu, Hữu vu và Nghi môn Ngày nay đình chỉ còn Đại đình và Tiền tế

Tiền tế dài 10,44 m, rộng 5,90 m, kiến trúc kiểu 4 mái, theo kiểu “lòng thuyền xà nách” Các mảng điêu khắc bên trong đều có chủ đề “Tứ linh, Tứ quí” Phía sau Tiền tế là tòa Đại đình gồm 5 gian chính và 2 dĩ dựng trên nền gạch cao 0,20 m chạy dài 24,27 m rộng 8,90 m Trên câu đầu của tòa Đại

đình còn ghi rõ niên đại dựng đình “Thành Thái Nhâm Dần Mạnh Đông nhất

nhật tạo”, tức ngày 1 tháng Mười năm Nhâm Dần đời Thành Thái (năm

1902) Chính giữa có bức cửa võng lớn được chạm phủ một diện rộng, chia thành nhiều lớp và nhiều ô vuông nhỏ được chạm nổi chi li, kéo dài từ thượng lương xuống che kín cả phần hậu cung và mở ngang hết cả gian đình Đề tài trang trí là “Tứ linh, Tứ quý” được sơn son thếp vàng, làm sáng rực cả gian

đình

Đình đã được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa theo Quyết định ngày

10 tháng 3 năm 2003 của UBND tỉnh Bắc Ninh

Đình làng Thọ Trai: gồm 5 gian tọa lạc ngay đầu cổng Tây của làng

Các họa tiết khắc ở bức cốn và hậu cung mang dáng dấp của thời Lê Nóc

đình có hàng chữ “Đại Việt Cảnh Thịnh vạn vạn niên tuế thứ Canh Thân

Trang 28

niên, tam nguyệt” và câu đầu bên trái có hàng chữ “Đông Bắc giáp, Tây Nam giáp tu tạo đại đình” chứng tỏ đình đã được sửa chữa lớn vào năm Cảnh

Thịnh thứ tám (năm Canh Thân, 1800) Chữ “Thịnh” còn nguyên vẹn, không

bị đục xóa, chứng tỏ các dấu ấn văn hóa của triều Tây Sơn được dân làng bảo

vệ, giữ gìn chu đáo

1.2.1.2 Các chùa

Các làng đều có chùa, còn lưu giữ đến ngày nay :

Làng Dương Sơn có chùa Sùng Khánh, được xây dựng năm Chính Hòa

17 (1696) Tấm bia đá dựng năm Tân Mão niên hiệu Vĩnh Thịnh (năm 1711) cho biết ở thời điểm này chùa đã được sửa chữa Trong chùa còn lưu giữ được quả chuông đồng lớn đúc năm Canh Thân đời Tự Đức (năm 1860)

Làng Phúc Tinh có chùa Diên Phúc, được xây dựng vào năm Đinh Hợi

niên hiệu Cảnh Hưng (năm 1767) và được tu tạo vào năm Duy Tân thứ 5 (Tân Hợi, 1911)

Làng Thọ Trai có chùa Diên Phúc được xây năm vào năm Đinh Sửu

(1757), được tu sửa vào năm Canh Thân (1800) Theo các cụ già kể lại thì xưa kia, chùa và đền cùng ở một chỗ, thờ cúng theo lối “Tiền Thần, hậu Phật” Năm ất Tỵ niên hiệu Cảnh Hưng (năm 1785), dựng gác chuông, năm Quý Sửu đời Tự Đức (năm 1853) đúc chuông lớn Trận bão lớn ngày 13 tháng tám Đinh Mão (năm 1927) làm sụt phần chùa, năm sau lại bão làm đổ hết Dân làng dời chùa về địa điểm hiện nay, còn đền thì chuyển về đình

Làng Tam Sơn có hai ngôi chùa :

Chùa Linh Khánh ở làng Tam Sơn tương truyền do Trạng nguyên

Nguyễn Quan Quang cùng vợ đứng ra xây dựng Vì không có con nên lúc về hưu, ông bà sống ở chùa Hiện chùa không còn, chỉ còn cây hương đá tạc năm Chính Hòa thứ 18 (Đinh Sửu, 1697) ghi thời điểm sửa chữa

Trang 29

Chùa Cảm ứng còn có các tên khác là Cảm ứng Thánh tự, chùa Tam

Sơn, chùa Ba Sơn, chùa Ba Tiêu

Các nguồn sử liệu và các công trình nghiên cứu cho biết, chùa Cảm ứng là ngôi chùa lớn, có lịch sử lâu đời, được hình thành từ rất sớm trên nền của một kiến trúc Đạo giáo Khoảng niên hiệu ứng Thiên (995 - 1005), chùa từng là nơi Lý Công Uẩn, Vua Lý Thái Tổ sau này đưa Sư Vạn Hạnh về lánh nạn, tránh sự truy đuổi của Lê Ngọa Triều, sau sự kiện Lê Trung Tôn bị giết, khi trong dân gian xuất hiện câu sấm truyền được Vạn Hạnh cắt nghĩa ứng với sự lên ngôi của Lý Công Uẩn [68]; [22]

Vào thời Lý, chùa Cảm ứng trở thành trung tâm Phật giáo lớn, nơi trụ

trì của nhiều vị cao tăng có uy tín lớn với triều đình, được Vua Lý Thái Tổ kính trọng, nơi đào tạo tăng sư và dưới sư Chùa còn là nơi các tôn thất nhà

Lý về làm lễ Chính Vua Lý Thánh Tông vào năm Tân Sửu niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (năm 1061), từng về đây cầu tự và hai năm sau (năm Quý Mão, 1063) đã cho tu bổ chùa

Vào thời Trần, chùa Cảm ứng vẫn giữ được vai trò là trung tâm Phật giáo lớn, thu hút nhiều tăng ni phật tử đến tu hành Điều này được chứng tỏ bởi những dấu tích là những viên gạch, mảnh đất nung trang trí hình rồng, hình hoa sen, hoa cúc, cùng những đồ gốm sứ, men ngọc, men da nâu bị vùi lấp trong lòng đất chùa, xuất lộ sau trận đánh phá bằng bom B52 của Mỹ vào chùa cuối năm 1972

Sang thời Lê, vào các thế kỷ XVI, XVII, XVIII, chùa Cảm ứng được trùng tu, mở rộng với quy mô lớn, với sự hưng công của nhiều quan lại là người làng Tam Sơn và khách thập phương, trong đó có cả một số tôn thất nhà Mạc Các công trình: Tam quan, Tiền đường, Trung đường, Gác chuông, Tam bảo, Hành lang, Nhà tổ… được tu bổ và mở rộng tới hàng trăm gian,

Trang 30

nên còn gọi là chùa Trăm gian, là một trong bốn chùa Trăm gian nổi tiếng trên vùng châu thổ Bắc Bộ

Chùa Cảm ứng còn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa tiêu biểu, là nơi

thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa tín ngưỡng dân gian với “Tam giáo đồng tôn: Phật - Đạo - Nho” Điều này được biểu hiện qua kết cấu của chùa và sự

bố trí thờ cúng tại các bộ phận bên trong:

- Đi từ cổng chùa vào, ở hai bên dốc sân, trước cửa tòa Tiền đường, về

phía Đông (theo tay trái của hướng chùa) là nơi thờ các vị đương niên hành

khiển - một vị thần của Đạo giáo; về phía Tây là đàn tế tiên nông - vị thần

nông nghiệp

Qua sân chùa bắt đầu đến khu vực chính của chùa, được kết cấu theo kiểu “Nội công ngoại quốc” gồm các bộ phận :

- Tiền đường: gồm 7 gian 2 dĩ, vì kèo làm theo chồng rường Khu vực

này được chia thành hai phần :

+ Tiền đường Đông biên: thờ các hậu thần làng là Tiến sỹ khoa Kỷ Hợi, triều Lê, Ngô Quý Công (tức Ngô Sách Thí) tự Đô Thí hiệu Trung Túc, người làng Tam Sơn, đỗ Tiến sỹ khoa Kỷ Hợi- 1659 và Cử nhân khoa Đinh Mão triều Nguyễn, Ngô Quý Công, tự Phẩm Can, hiệu Đoan Chân; ban ngoài thờ các vị gia tiên

+ Tiền đường Tây Biên: thờ các vị tiên hiền bản xã tức 16 vị tiến sĩ của làng, ban ngoài thờ 4 vị hậu Phật

Tiền đường cũng là nơi hội họp của dân làng

- Trung đường: tức tòa ống muống 6 gian nối Tiền tế với Thượng điện,

gồm hai nửa: Trung đường Đông Biên thờ A nam vị; Trung đường Tây biên thờ Quan công Đại đế, bản cảnh thổ địa long thần Chính giữa là tượng Tam

Trang 31

thế Phật, hai bên là tượng Văn Thù Phổ Hiền Có thể thấy tính pha tạp giữa

Đạo giáo và Phật giáo thể hiện rất rõ ở khu vực này

- Thượng điện: được nối với tòa Trung đường bằng kết cấu chồng rường

giá chiêng, gồm 5 gian, thờ 3 vị Tam thế, Phật A di đà, Ngọc hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu Tính pha tạp giữa Đạo giáo và Phật giáo cũng thể hiện ở gian này

- Gác chuông: ở phía ngoài, sát Thượng điện Trên gác chuông có quả

chuông đồng "Cảm ứng Thánh tự hồng chung" (Chuông lớn của chùa Cảm ứng), được đúc xong vào ngày Tốt tháng Một năm Minh Mệnh thứ bảy (năm 1826)

- Tam Bảo hậu (hay điện Quan Âm): ngăn cách với gác chuông bởi

một khoảng sân, gồm 7 gian Tại đây có bức tượng Phật Quan Âm nghìn mắt nghìn tay cỡ lớn ở giữa Hai bên là Chuẩn đề Phật vị và các Thiền sư định Hương, Bảo Tính, Minh Tâm (bên Đông) và các tượng Thánh tổ, Tình Hành

Bố tát, cùng tượng bà Ngô Thị, hiệu Châu Chi tiền nhân, tượng Đệ tam cung phi Thủy Minh, Chiêu Huy công chúa nhà Mạc - những người có công đóng góp mở rộng chùa

- Các hành lang: suốt từ hai đầu của tòa Tiền đường đến tòa Tam Bảo

hậu có hai dải hành lang, mỗi dải gồm 9 gian, gọi là Hành lang Đông và

Hành lang Tây, còn gọi là đền Đông và đền Tây Cụ thể :

+ Hành lang Đông là nơi thay đình để thờ các vị thành hoàng làng là:

* Đương sơn thổ địa, Thạch thổ chính thần (Sơn thần hay thần núi)

* Đương cảnh thành hoàng thông linh đại vương tức Trạng nguyên Nguyễn Quan Quang, người có công mở đường khoa cử cho làng, cũng là Trạng nguyên đầu tiên của nước nhà

* Hoàng giáp Nguyễn Tự Cường

Trang 32

Với việc thành hoàng được thờ ở đây, chùa Tam Sơn mang một nét độc

đáo khác biệt với các ngôi chùa trên vùng châu thổ Bắc Bộ Như vậy, mặc dù

là làng khoa bảng nhưng Tam Sơn lại không có đình làng theo đúng nghĩa

Đó cũng chính là nét độc đáo của làng Tam Sơn so với các làng khoa bảng nói riêng và các làng Việt nói chung

+ Hành lang Tây, là nơi thờ các Nguyên phi nhà Lý là Thuận Dương công chúa, Thuần Châu nguyên phi và Bảo Liên nguyên phi

- Phía sau hành lang Đông là các hạng mục khác như nhà tổ và nhà tăng, nhà mẫu và khu nhà khách

Với bài trí thờ cúng trên đây, chùa Tam Sơn hội tụ của nhiều tôn giáo

và tín ngưỡng dân gian, thể hiện tính đa dạng trong tín ngưỡng và tập tục của người dân Tam Sơn Đó là biểu hiện của sự hỗn dung, hòa đồng, sự kết hợp khá chặt chẽ giữa tín ngưỡng dân gian với Đạo giáo, Nho giáo và Phật giáo

Hệ thống khá phong phú tượng các vị thần ngoài hệ thống tượng Phật (chủ yếu là A di đà và Quan Âm) thể hiện quan hệ gắn bó, hoà đồng giữa con người với môi trường (thờ thổ địa sơn thần), thể hiện tinh thần khuyến học, hiếu học, truyền thống khoa bảng (thờ Nguyễn Quan Quang - người mở

đường khoa bảng và nhiều người đỗ đạt khác), thể hiện lòng biết ơn tổ tiên (thờ các vị gia tiên) hay đề cao tư tưởng trung quân của Nho giáo (thờ Tiết nghĩa Đại vương Nguyễn Tự Cường) Chùa còn thờ những vị thiền sư nổi tiếng gắn với chùa như Thiền sư Định Hương, Minh Tâm, Bảo Tính cùng các

vị nguyên phi, tôn nữ nhà Lý, những người có công xây dựng chùa hay các vị hậu thần làng là những người đỗ đạt, người giầu có, người làm quan to, phu nhân của các quan… có công đóng góp trong việc xây dựng trùng tu và bảo

vệ chùa Điều đó thể hiện tinh thần trọng học, trọng khoa bảng, trọng người làm việc nghĩa, việc thiện cũng như truyền thống uống nước nhớ nguồn của người dân Tam Sơn Đấy là giá trị văn hóa, giá trị nhân văn của chùa Tam

Trang 33

Sơn Với hệ thống tượng thờ và sự bài trí khá độc đáo như trên, chùa Tam Sơn là một ngôi chùa tiêu biểu, ít thấy trong hệ thống các chùa ở miền Bắc

Gắn với chùa Cảm ứng còn có Am Hoa viên ở bên phải chùa, ngay

dưới chân núi Chùa, nằm kề và cùng hướng với đền thờ Hoàng giáp Nguyễn

Tự Cường Am là nơi thờ ba vị tôn nữ, công chúa nhà Lý là Thần Châu nguyên phi, Bảo Liên nguyên phi và Thuận Dương công chúa Diện tích khuôn viên rộng khoảng 200m2, khu thờ chính rộng chừng 30 m2, hiện chỉ

gồm những bức tường có gian thờ với đôi câu đối “ Lý triều đường hiển

thánh, sơn mộ chủ anh minh” Bên ngoài là hai cột đồng trụ có đôi câu đối “ Bát đế triều đường viên cảnh tượng, tam thần miếu đống thử ân duy”.Theo

sách Thượng cổ xã Tam Sơn đồng dân công ước chí [68] và lưu truyền dân

gian thì khu vực dưới chân chùa Cảm ứng thời Lý là một vườn hoa, các công chúa nhà Lý thường dạo chơi, ngắm cảnh, về sau dân làng dựng am để thờ các bà

1.2.1.3 Nhà thờ các dòng họ và đền thờ các danh nhân

Trong các làng ở xã Tam Sơn hiện nay còn nhiều nhà thờ các dòng họ

và đền thờ các danh nhân Dưới đây nêu một số đền thờ và nhà thờ tiêu biểu:

Đền thờ Hoàng Giáp Nguyễn Tự Cường

Nguyễn Tự Cường (? - 1527) đỗ Hoàng giáp khoa Giáp Tuất, niên hiệu Hồng Thuận đời Vua Lê Tương Dực (năm 1514) Ông là con của Tiến sĩ Nguyễn úc, anh của Hoàng giáp Nguyễn Hy Tái Mang nặng tư tưởng trung quân năm Đinh Hợi (1527), khi Mạc Đăng Dung thoán ngôi nhà Lê, Nguyễn

Tự Cường đem hương binh làm việc Cần Vương, đánh nhau với quân Mạc ở sông Thiên Đức, nhưng thế không địch nổi, ông phải uống thuốc độc tự tử Khi nhà Lê được trung hưng, ông được biểu dương Để ghi nhớ công trạng và tấm lòng trung nghĩa của ông, dân làng Tam Sơn tôn ông làm thành hoàng và lập đền thờ ở chân núi Chùa

Trang 34

Đền thờ được dựng ngay chân núi Chùa, nằm kề bên tay phải, bên cạnh Am Hoa Viên Đền nhìn hướng Đông có kết cấu chữ Nhị, gồm nhà Tiền

tế 5 gian và Hậu cung 3 gian Phía trên có bức đại tự đề 4 chữ: "Tiết nghĩa linh từ" (tức là: Đền thiêng thờ người tiết nghĩa), hai bên là hai câu đối:

Cự Mạc thí can tiêu Bắc địa, Phù Lê nghĩa khí trấn Nam thiên

(Chống Mạc thi gan, gương đất Bắc, Phù Lê, nghĩa khí dậy trời Nam)

Trước cửa đền có tấm bia đá dựng ngày Sóc, tháng Tám, năm Duy Tân thứ tám (1915) Nội dung ca ngợi nghĩa khí của Nguyễn Tự Cường và dẫn nguyên văn đoạn sắc phong của vua Lê ban cho ông vào ngày mùng 6 tháng Tám năm Cảnh Trị thứ tư (năm Bính Ngọ, 1666) Sắc phong có đoạn ngợi ca

ông là "Bậc danh nho đỗ đạt, là rường cột của miếu đường, trấn chỉnh kỷ

cương triều đình khi rối loạn, liều mình cứu nước lúc gian nguy, kiên cố một lòng sắt đá, vì vua mà tử tiết Nay ban chỉ gia phong là Thượng đẳng thần"

Hàng năm người dân làng Tam Sơn tổ chức rước bài vị ông từ đền lên chùa để tế vào ngày 16 tháng Tám

Đền thờ Trạng nguyên Ngô Miễn Thiệu:

Ngô Miễn Thiệu (1499 - ?), người xóm Xanh (làng Tam Sơn), đỗ Trạng nguyên khoa Mậu Dần niên hiệu Quang Thiệu đời Vua Lê Chiêu Tông (năm 1518), làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, Đô Ngự sử, Chưởng Hàn lâm viện sự, tước Lý Khê bá, được dòng họ lập đền thờ

Nhà thờ họ Ngô Sách

Họ Ngô Sách gốc là họ Nguyễn - một họ lớn và có truyền thống hiếu học ở làng Nghĩa Lập (nay thuộc xã Phù Khê, huyện Từ Sơn) Tổ họ Ngô Sách là

Trang 35

Nguyễn Gia Mưu (cháu ruột Nguyễn Hữu Thường - Tiến sĩ khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Lịch nhà Mạc - năm 1550), được Trạng nguyên Ngô Miễn Thiệu dạy bảo và gả con gái cho Sau 5 năm, với sự kèm cặp nghiêm khắc của thầy cùng

ý chí, nghị lực bản thân, Nguyễn Gia Mưu nhanh chóng tiếp thu được các kiến thức Nho học dù đã 28 tuổi và sau đó 4 năm, tại khoa Kỷ Mùi niên hiệu Quang Bảo nhà Mạc (năm 1559), ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân Sau khi nhận học vị Tiến sĩ, Nguyễn Gia Mưu không vinh quy bái tổ ở quê đẻ

mà ở quê vợ là làng Tam Sơn - nơi ông đã ăn học dưới sự dạy dỗ của người thầy, người bố vợ là Trạng nguyên Ngô Miễn Thiệu rồi ở hẳn tại đây Đến

đời con là ông Cường Nghị, làm quan Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân,

Đô chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy sứ đã đổi sang họ mẹ, thành họ Ngô Nguyễn hay Ngô Sách Đến đời cháu nội ông Cường Nghị, dòng họ này bắt đầu có người đỗ đại khoa mở đầu Nguyễn Gia Mưu trở thành tổ của dòng họ Ngô Nguyễn gốc Nghĩa Lập ở làng Tam Sơn, về sau có 4 người đỗ Tiến sĩ

Để ghi ơn các bậc tiên tổ, dòng họ Ngô Sách đã lập ra nhà thờ của mình Lớp lớp hậu duệ của dòng họ Ngô Sách đã kế thừa và phát huy được truyền thống học hành, khoa cử của tổ tiên và ngày càng làm rạng danh dòng họ

Toàn bộ khu di tích dựng trên khu đất rộng chừng 1 sào 5 thước ở xóm

Đông, được dựng vào năm đầu đời Tự Đức (1848) Di tích nhìn hướng Đông

Bắc, được kiến trúc theo hình chữ “Nhị” gồm 2 toà Tiền tế và Hậu cung

Toà tiền tế: gồm 5 gian được hoàn thành tu tạo vào ngày Lành tháng

Hai, năm đầu đời Vua Tự Đức (1848) Đây là nơi dòng họ Ngô Nguyễn tập trung con cháu vào các ngày Xuân tế hàng năm (12 tháng Hai) để tưởng niệm và giáo dục truyền thống ở đây có một số câu đối nhằm nhắc nhở các thế hệ học tập, giữ gìn và noi theo gương sáng của cha ông thủa trước, đồng thời ca ngợi mảnh đất Tam Sơn đã sản sinh ra những danh hiền cho đất nước

Trang 36

Hậu cung: gồm 3 gian, nối với Tiền tế một khoảng sân nhỏ, kiến trúc

đơn giản kiểu bình đầu bít đốc Hậu cung được hoàn thành tu tạo vào ngày

Lành, tháng Ba năm Kỷ Dậu, đời Vua Tự Đức (năm 1849)

Đây là nơi trung tâm thờ tự của dòng họ Ngô Sách, do vậy được bài trí

rất tôn nghiêm Tại đây có các bức đại tự: “Dĩ mưu yến tiệc”, "Nghĩa vi

căn"(gốc ở làng Nghĩa Lập), "Sơn đối tác" (lập nghiệp ở Tam Sơn) khẳng

định họ Ngô Sách làng Tam Sơn có nguồn gốc ở làng Nghĩa Lập, đã sinh cơ làm ăn và phát phúc trên đất Tam Sơn, kể từ Tiến sĩ Nguyễn Gia Mưu

Nhà thờ tuy có cấu trúc đơn giản, không chạm khắc đắp vẽ cầu kỳ nhưng thực sự là một kiến trúc cổ, có giá trị về mặt lịch sử văn hoá, nhằm thờ phụng tổ tiên, thờ phụng các vị khoa bảng đã làm rạng rỡ cho dòng tộc, cho quê hương Từ đó, củng cố mối quan hệ huyết thống, đoàn kết tộc họ, phát huy truyền thống ông cha để duy trì và củng cố đạo lý "ống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây"

Nhà thờ họ Ngô Sách đã được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa, theo Quyết định số 113/1998 - QĐUB ngày 31 - 12 - 1998 của UBND tỉnh Bắc Ninh

Nhà thờ họ Vũ Viết ở xóm Chi làng Dương Sơn, thờ Vũ Viết Hiền là

thầy thuốc, phụ trách Thái y viện khoảng niên hiệu Lê Chính Hoà đời Vua Lê

Hy Tông (1680- 1704) Ông còn có nhiều đóng góp xây dựng xóm làng,

được làng tôn là hậu thần làng Từ đường đã được công nhận là Di tích lịch

sử văn hóa năm 2005

Trang 37

1.2.1.4 Khu lưu niệm Nhà Cách mạng Ngô Gia Tự

Đây vốn là khu nhà ở của nhà cách mạng Ngô Gia Tự (1908 - 1935),

người con tiêu biểu của mảnh đất Tam Sơn, một trong những người sáng lập

ra Đông Dương Cộng sản Đảng - một trong ba tổ chức tiền thân của Đảng

Cộng sản Đông Dương

Toàn bộ các công trình kiến trúc này được cụ Ngô Gia Du - thân sinh

của Ngô Gia Tự xây dựng năm 1916, bao gồm nhà thờ họ, nhà điện, nhà

ngang, bếp, tường bao quanh, cổng ra vào bằng gạch và hai ngôi nhà tranh

Hai nhà tranh đã bị cháy trong kháng chiến chống Pháp, còn các công trình khác vẫn được giữ nguyên

cụ Ngô Gia Du; dưới có khay đài, ống hương Trên ban thượng có lắp cửa vòng chạm nổi hình rồng chầu mặt nguyệt, ô hai trên khắc nổi chữ Hán:

"Quốc Hỷ, Gia Khánh (nước vui, nhà mừng)"

Nhà điện

Đây là nơi thờ, được Ngô Gia Tự cùng các nhà cách mạng sử dụng làm nơi hội họp Tháng 9 năm 1928, nhân Ngô Gia Tự đỗ Tú tài, lấy danh nghĩa "ăn khao cậu Tú Tự", Kỳ bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội của Bắc Kỳ đã họp tại nhà thờ điện, đề xướng chủ trương “Vô sản hoá” (đưa các trí thức cách mạng đi vào phong trào công nhân) và trở thành một phong trào rộng lớn khắp cả nước sau đó

Trang 38

Nhà ngang

Ngôi nhà tranh một gian hai trái xưa bị cháy, sau được gia đình làm lại thành ngôi nhà 3 gian trên nền cao Đây là nơi Ngô Gia Tự thường sinh hoạt học tập lúc nhỏ Đến khi rời trường Bưởi về trường nhà, ông lấy đó làm cơ sở

mở lớp dạy học, tránh sự theo dõi của mật thám Sau đó là nơi Ngô Gia Tự in tài liệu bí mật cho tổ chức cách mạng

Trong khu lưu niệm hiện nay, mỗi đồ vật trong gia đình đều gắn liền với những kỷ niệm của Ngô Gia Tự trong thời gian sống ở quê hương

Khu nhà của gia đình Ngô Gia Tự, làm khu lưu niệm về thân thế và sự nghiệp của ông nhằm giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ noi theo Khu lưu niệm đã được công nhận là Di tích lưu niệm danh nhân cách mạng ngày 21 tháng 1 năm 1989

1.2.2 Các yếu tố phi vật thể

1.2.2.1 Các lễ tiết thờ cúng, hội làng

Tại các di tích thờ cúng của các làng trong xã Tam Sơn, hàng năm có nhiều lễ thức thờ cúng với nhiều mục đích khác nhau, trong đó, nổi bật nhất

là hội làng gắn với việc thờ thành hoàng làng Hội làng thể hiện mong ước về cuộc sống bình yên cho toàn thể dân làng, cho sự sinh sôi nảy nở của cư dân nông nghiệp ruộng nước Xã Tam Sơn có nhiều lễ hội Lịch định kỳ tổ chức

lễ hội hàng năm của các làng trước đây như sau:

- Hội làng Tam Sơn trước đây tổ chức từ ngày 9 đến 12 tháng Giêng và ngày 16 tháng Tám

- Hội làng Dương Sơn tổ chức vào các ngày 5 và 6 tháng Giêng

- Hội làng Thọ Trai tổ chức vào các ngày mồng 5 và 6 tháng Giêng

- Hội làng Phúc Tinh tổ chức vào các ngày mồng 3 và 4 tháng Ba

Trang 39

Hội làng thường có hai phần: lễ và hội Phần lễ gồm có các chầu tế và một số lễ thức phụ kèm

- Hội làng Tam Sơn có lễ thức rước oản (sẽ trình bày ở phần sau)

- Hội làng Dương Sơn xưa kia có lễ rước nước vào trước ngày hội Một

hũ cổ sạch sẽ không có nước được hai người khiêng bằng đòn rồng sơn son thiếp vàng, 8 người mặc áo nậu vác các đồ bát bửu hộ tống cùng phường bát

âm… lên giếng Tự cạnh đền lấy nước vào hũ và rước về đình làm nước cúng trong năm Tục truyền rằng, đền Tự thờ mẹ Trương Hống, Trương Hát, nên

rước nước thể hiện dòng sữa nuôi con

- Làng Phúc Tinh có lễ rước ngựa từ các nghè về đình Trước đây làng

có ba nghè: nghè Đồng Riêng, nghè Đồng sau làng, nghè Đồng Đường là nơi

để ba ngựa thờ: ngựa hồng, ngựa bạch, ngựa xám là ngựa của các thánh Tam

Giang: Trương Hống, Trương Hát, Trương Lừng Sáng ngày mồng 3 tháng

Ba, các giáp cử các trai đinh tuổi từ 19 - 20, khỏe mạnh có đạo đức tốt mới

được cùng các cụ đi rước ngựa về đình, phải làm lễ nhập đình, cũng là lễ khai hội chính thức Tư văn tiến hành 3 tuần tế với lễ vật là xôi gà, rượu, trầu cau

Phần hội gồm các hoạt động văn nghệ (hát quan họ, mời các gánh hát

về diễn tuồng, chèo), chọi gà, vật; trò rối nước tại Ao rối trong hội làng Tam Sơn Các trò chơi dân gian, tiêu biểu là trò thổi cơm thi của hội làng Thọ Trai

và trò đập nồi đập niêu trong hội làng Tam Sơn

Trò thổi cơm thi ở làng Thọ Trai: diễn ra vào dịp tháng Giêng Mỗi

năm có hai người, mỗi người phải thổi một nồi cơm để thi, mỗi nồi chỉ hết khoảng hơn 1 kg gạo Nhưng để có được số gạo ấy, người thi phải xay đến một thúng lúa tám thơm chừng 20 kg, giã một ngày trong năm cũ, sang năm mới lại phải giã vào ban ngày từ 4 đến 6 tháng Giêng, giã gạo cho đến khi hạt gạo chỉ còn lõi nhưng phải còn nguyên hình dạng, không bị gãy vỡ Trò thổi cơm thi diễn lại sự tích Thánh Gióng dẫn quân đến Bình Sơn trang (làng Thọ

Trang 40

Trai) và dừng chân để lấy thêm quân rồi lại lên đường ngay Dân làng phải khẩn trương nấu cơm để quân sĩ lên đường, vì thế có tục nấu cơm thi

Trò đập nồi, đập niêu của hội làng Tam Sơn được tổ chức ở khu vực

Am Hoa Viên Tại đây dựng hai cột xà đơn, cao khoảng 3 mét, rộng khoảng 2,5 mét Một niêu đất đựng vỏ chấu và nước lã, lồng vào một quang bốn hoặc

ba dảnh, bọc giấy đỏ được treo lên xà, niêu cách xà ngang khoảng 40 cm Từ

điểm xuất phát cách xà khoảng 8 đến 10 mét, một người chơi bị bịt mắt bằng khăn đỏ, cầm gậy bằng tre mới, đầu bọc giấy đỏ dài từ 1, 2 đến 1,5 mét, đi tới gần xà, được phép dùng gậy tre khua ngang tầm tay để xác định vị trí của niêu rồi vụt một vụt Nếu trúng và niêu vỡ thì được giải (giải thưởng là vài vuông vải nhiều và 3 phẩm oản), nếu vụt một vụt không trúng thì phải về vị trí xuất phát để đập lại những lần khác Người ta tin rằng, ai đập trúng niêu thì năm đó được một mùa màng bội thu, làm ăn may mắn Trò chơi này đòi hỏi sự khéo tay khéo chân và trí nhớ Đây cũng là trò chơi gắn liền với tục thờ vỏ trấu và thờ nước: cầu mong cho mưa thuận gió hoà được mùa của nhiều cư dân nông nghiệp lúa nước ở Đông Nam á Trò chơi này đã thất truyền từ nhiều năm nay, gần đây đã được dân làng khôi phục lại (từ Tết năm 2008)

Trong bốn hội thì ba hội (các làng: Dương Sơn, Phúc Tinh, Thọ Trai)

là hội đình, riêng hội làng Tam Sơn được tổ chức tại chùa (hội tháng Giêng)

và kết hợp giữa đền và chùa (hội tháng Tám), nên có nhiều nét độc đáo Vì thế, dưới đây, Luận văn giới thiệu tóm tắt những nét chính của hội này

Theo mô típ chung, việc biện lễ và phục vụ tế lễ, rước sách trong hội

của các làng Việt trước Cách mạng Tháng Tám được phân công cho các giáp

- thiết chế tiến thân theo lớp tuổi của nam giới trong làng Song ở hội chùa

Tam Sơn, việc này lại được phân cho “thôn” - một thiết chế của nam giới có

nguyên tắc tổ chức gần giống như giáp, nhưng lại được bố trí theo các xóm

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w