Chính ông cũng đã nhiều lần ý thức được điều đó trong thơ mình: Tôi còn nợ những người mong Bài thơ lục bát viết trong cõi buồn” Tôi không thể chết được đâu Đi giữa hai dòng chảy, một
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
PHẠM MAI PHONG
CHẤT ĐỒNG QUÊ TRONG THƠ LỤC BÁT VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
(Qua thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn)
Chuyên ngành : Lý luận văn học
Mã số : 60.22.32
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Hà Nội - 2008
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Về thơ lục bát Việt Nam hiện đại:
Từ lâu, thơ lục bát đã ăn sâu vào tiềm thức, tâm hồn và cả lối sống của người Việt Nam ta Có thể nói, với mỗi người dân Việt, ít ai là không biết đến thơ lục bát như một điều bình dị và thân thuộc nhất Nếu không là những vần thơ lục bát hiện đại với nhiều cách tân thì cũng là đôi ba câu Kiều, một vài câu ca dao Chí ít cũng là những lời ru trong câu hát của bà, của mẹ
Thơ lục bát dễ làm nhưng khó hay Nó đi trên sợi dây ranh giới, giữa một bên là những câu ca dao mượt mà, những thi phẩm làm rung động lòng người
và một bên là những câu vè mang đậm âm điệu ngôn ngữ sinh hoạt Đánh giá
về thơ lục bát, nhà thơ Nguyễn Đình Thi gọi lục bát là hơi thở của người Việt Còn nhà văn Nguyễn Tuân lại lấy thơ lục bát làm tiêu chuẩn đánh giá tài năng của một nhà thơ Việt: “Anh là nhà thơ Việt Nam ư? Vậy hãy chiềng ra cho tôi mấy câu lục bát của anh, tôi sẽ nói cho anh ngay anh là hạng thi sĩ như thế nào” Qua đó, đủ để thấy rằng, thơ lục bát có vai trò quan trọng như thế nào trong đời sống và trong văn học Việt Nam
Sở dĩ thơ lục bát có vai trò quan trọng như vậy, ấy là bởi thể thơ này mang đậm điệu tâm hồn Việt Hiện nay, trong xu hướng hiện đại hoá và sự chuyển mình nhanh chóng của xã hội, thơ lục bát vẫn có một tiếng nói riêng, là “đứa con cưng” của nền văn học nước nhà Một trong những giá trị làm nên điệu tâm hồn Việt của thể thơ này, đó chính là chất đồng quê đậm đà vẫn không ngừng chảy trong lòng thể loại
Trong văn học Việt Nam, đã xuất hiện cả một dòng thơ đồng quê có được nhiều thành tựu đáng quí, đặc biệt là ở thể thơ lục bát Tuy nhiên, văn học luôn vận động, phát triển theo những qui luật riêng của nó bên cạnh sự tác động của các yếu tố thời đại Thơ đồng quê cũng không nằm ngoài những qui luật ấy Do vậy, tìm hiểu về chất đồng quê trong một thể thơ đặc trưng cho tâm hồn Việt qua những thời kì, giai đoạn khác nhau luôn là một yêu cầu cấp thiết
Trang 3Về Nguyễn Duy Nguyễn Duy, tên thật là Nguyễn Duy Nhụê, sinh năm 1948 Nguyễn Duy đến với làng thơ Việt Nam từ những năm đất nước còn trong cuộc kháng chiến chống Mĩ Ông đã góp một tiếng nói quan trọng làm nên diện mạo riêng của một thế hệ thơ trẻ thời kháng chiến chống Mĩ cứu nước Hoà mình vào cuộc chiến đấu của dân tộc, Nguyễn Duy đã cho ra đời nhiều tập thơ có giá trị
và được công chúng nhiệt liệt đón chào
Chiến tranh kết thúc, trở về với đời thường, bước vào cuộc sống mới, với mỗi người chiến sĩ, mỗi nhà văn quả không phải là điều đơn giản Nhiều người trong số đó đã không tìm được lẽ sống và cảm hứng sáng tác, trở nên lạc lõng giữa đời thường Nhưng với Nguyễn Duy lại khác, ông đã có nhiều sáng tạo, đổi mới chứng tỏ được bút lực dồi dào của mình Nhiều tập thơ có giá trị sâu sắc tiếp tục được nhà thơ hoàn thiện Năm 1997, bằng một cuộc triển lãm thơ, Nguyễn Duy đã tuyên bố ngừng sự nghiệp sáng tác thơ ca của mình Tuy nhiên, theo thời gian, sức sống của thơ Nguyễn Duy dường như mỗi lúc một mãnh liệt và toả sáng, được bạn đọc đón nhận nhiệt liệt hơn Nguyễn Duy làm thơ với nhiều thể loại khác nhau, nhưng chủ yếu và thành công hơn cả vẫn là thơ lục bát Nhiều câu thơ, bài thơ lục bát của ông
đã trở nên quen thuộc như tiếng lòng vọng về từ thuở xa xưa Vậy điều gì đã làm nên những thành công của thơ Nguyễn Duy? Đó là tài năng, sự nỗ lực không ngừng của tác giả hay một yếu tố nào khác? Dĩ nhiên, một yếu tố đơn
lẻ sẽ khó có thể nói lên môt điều gì Tuy nhiên, trong số các yếu tố đó, sẽ rất thiếu xót nếu chúng ta bỏ qua chất đồng quê như một sức sống tiềm ẩn trong thơ Nguyễn Duy Những hương vị đồng nội, những hình ảnh quê mùa, những phẩm chất mộc mạc đáng mến dường như đã ngấm sâu vào cảm thức của nhà thơ Chất đồng quê ấy đã theo chân tác giả trải qua những năm tháng chiến tranh, để rồi lại theo tác giả trở về lại với đời thường, bật lên những tiếng thơ sao xuyến lòng người Đi sâu tìm hiểu về chất đồng quê trong thơ Nguyễn Duy sẽ cho chúng ta cái nhìn toàn diện hơn về nhà thơ này Đồng thời, phần
Trang 4nào thấy rõ hơn về một đặc điểm quan trọng của thơ lục bát Việt Nam hiện đại
Đồng Đức Bốn và chất đồng quê trong thơ ông Đồng Đức Bốn nổi lên như một hiện tượng lạ trong làng thơ Việt Nam Giữa lúc mà mọi người cứ ngỡ thơ lục bát sau Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Nguyễn Duy…khó có thể có thêm thành tựu và chỗ đứng thì giọng thơ Đồng Đức Bốn cất lên như tiếng của “chim mỏ vàng” hót trong “hoa cỏ độc” Là kẻ đến sau, nhưng Đồng Đức Bốn lại mạnh dạn và liều lĩnh đến mức dám chen chân vào mảng thơ lục bát về đồng quê, chỗ tưởng như các tác giả trước đó đã gặt hái hết những thành tựu có thể có được Nhưng cũng chính cái sự khác người ấy đã góp phần tạo nên một Đồng Đức Bốn đầy cá tính với phong cách riêng giữa lòng thời đại
Đồng Đức Bốn sinh năm 1948, cùng trang lứa với nhà thơ Nguyễn Duy, nhưng ông bước vào làng thơ Việt muộn hơn, chỉ khoảng chục năm cuối của cuộc đời Đồng Đức Bốn vội vã ra đi vào ngày 14/02/2006, giữa lúc hồn thơ vẫn đang dạt dào sức sống Dẫu biết rằng thơ lục bát dễ làm nhưng khó hay, Đồng Đức Bốn vẫn tìm đến thể thơ này như một định mệnh Chính ông cũng
đã nhiều lần ý thức được điều đó trong thơ mình:
Tôi còn nợ những người mong Bài thơ lục bát viết trong cõi buồn”
(Tôi không thể chết được đâu)
Đi giữa hai dòng chảy, một bên là những miền quê bình dị, chất phác với một bên là những thành thị đang trong quá trình đô thị hoá và hội nhập quốc
tế mạnh mẽ, Đồng Đức Bốn đã cho ra đời nhiều bài thơ đậm đà hương vị đồng quê Chất đồng quê chính là nguồn nhựa sống quí báu nhất nuôi dưỡng hồn thơ Đồng Đức Bốn Nếu không có nguồn nhựa sống này, thơ Đồng Đức Bốn sẽ trở nên mờ nhạt giữa làng thơ Việt Nam đang trong quá trình hội nhập, thay da đổi thịt Có thể nói, đến Đồng Đức Bốn, thơ lục bát thêm một lần nữa khẳng định được vị trí và sức sống lâu bền của mình Tìm hiểu về
Trang 5chất đồng quê trong thơ lục bát Viêt Nam từ quá khứ tới hiện tại sẽ trở nên rất khó khăn, thiếu sót nếu như chúng ta bỏ qua thơ lục bát của Đồng Đức Bốn Văn hoá làng xã, những giá trị truyền thống của làng quê, cảnh sắc đồng quê in đậm trong thơ ca Việt là những nhân tố quan trọng tạo nên tính dân tộc, bản sắc dân tộc của nền văn học nước nhà Vì vậy, đi vào tìm hiểu đề tài:
Chất đồng quê trong thơ lục bát Việt Nam hiện đại (Qua thơ lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn) là một yêu cầu cấp thiết để làm rõ hơn đặc điểm thể loại
của thơ lục bát, thấy rõ hơn giá trị thơ ca Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn cũng như sự đóng góp của họ cho văn học nước nhà Đồng thời, công việc này cũng khẳng định thêm một lần nữa những giá trị đặc trưng của thơ ca dân tộc Việt Nam
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Để thấy rõ hơn quá trình phát triển và đánh giá giá trị của thơ lục bát nói chung cũng như thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn nói riêng, chúng tôi đi vào lược khảo vấn đề nghiên cứu theo từng tiêu chí cụ thể như sau: 2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan tới chất đồng quê trong thơ Việt Nam hiện đại
Cho đến nay, công việc nghiên cứu về dòng thơ đồng quê ở mức độ khái quát với những tác giả chính, những thi phẩm tiêu biểu vẫn là một công việc còn bỏ ngỏ, đòi hỏi sự góp sức của nhiều nhà khoa học, nhiều học giả Tuy nhiên, nghiên cứu về chất đồng quê trong thơ của một tác giả cụ thể hoặc một
số tác giả trong thế đối sánh với nhau thì đã có khá nhiều bài viết, nhiều công trình có giá trị
Khởi đầu cho công việc này, có thể kể đến Thi nhân Việt Nam của Hoài
Thanh và Hoài Chân Những bài nghiên cứu, thẩm bình về các tác phẩm của các tác giả Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Bàng Bá Lân đã bước đầu bắt được cái thần, cái hồn đồng quê trong thơ các tác giả này Khẳng định được vị thế của thơ lục bát cũng như chất đồng quê trong thơ mỗi người, chỉ
ra được nét khác biệt, bản sắc riêng của mỗi nhà thơ dù họ cùng đi chung trên một con đường (47)
Trang 6Tiếp sau Thi nhân Việt Nam, có rất nhiều các công trình nghiên cứu, các
bài viết về chất đồng quê trong thơ các tác giả riêng lẻ Đặc biệt là về Nguyễn
Bính, người được coi là chủ soái của dòng thơ đồng quê Trong cuốn Nguyễn
Bính-thơ và đời, nhà văn Tô Hoài có nhận xét: “Khi nào anh cũng là người
của các xứ đồng, của cái diều bay, của dây hoa lý, của mưa thưa, mưa bụi giữa mọi công ăn việc làm vất vả sương nắng Bởi đồng quê là cốt lõi cuộc đời và tâm hồn thơ nguyễn Bính”(5)
Năm 1995, giáo sư Hà Minh Đức cho ra mắt cuốn Nguyễn Bính- thi sĩ của
đồng quê Phần thứ nhất của cuốn sách được coi là một chuyên luận có giá trị
cao Giáo sư đánh giá: “Nguyễn Bính là thi sĩ của đồng quê Con người và cảnh vật làng quê thấm đượm hồn quê” (13) Cuốn sách đã tìm hiểu khá hệ thống về chất đồng quê trong thơ của tác giả Nguyễn Bính
Tác giả Đoàn Đức Phương hoàn thành luận án tiến sĩ về thơ Nguyễn Bính vào năm 1997 Luận án đã nhìn nhận Nguyễn Bính đầy đặn hơn với một cái
“tôi” đầy bản sắc đồng quê trong phong trào thơ mới (38) Gần đây nhất, nhà
nghiên cứu Chu Văn Sơn cũng cho ra mắt cuốn sách Ba đỉnh cao thơ mới:
Xuân Diệu-Nguyễn Bính-Hàn Mặc Tử Tác giả đã đặt Nguyễn Bính trong thế
đối sánh với hai nhà thơ mới tiêu biểu là Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử, qua đó khẳng định “lời thơ Nguyễn Bính là lời Việt trong vẻ đẹp chân quê” và
“nhuyễn lề lối quê ” (43)
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính, còn có các bài viết về chất đồng quê trong thơ của các tác giả khác Vũ Quần Phương trong
cuốn Thơ với lời bình có bài viết về bài thơ Chiều xuân của nhà thơ Anh Thơ
Tác giả nhận ra rằng, Anh Thơ “sống ở quê từ tấm bé, những cảnh sắc quê hương thấm vào chị từ tuổi thơ, nên chị mới diễn đạt cảnh quê bằng nhiều sắc thái và chân thật đến thế” (40) Vẫn viết về thi phẩm này, học giả Lê Quang
Hưng trong cuốn Tinh hoa thơ mới, thẩm bình và suy ngẫm lại nhận định: “nữ
sĩ đã làm dịu tâm hồn người đọc bằng cách đưa họ về với những bức tranh
quê yên bình” Còn về bài Quê hương của Tế Hanh, Lê Quang Hưng lại nhìn
Trang 7thấy chất đồng quê của một “làng quê làm nghề chài lưới ở miền Trung Trung
Bộ với cuộc sống lao động vất vả mà đầy chất thơ”(24)
Ngoài các bài viết, các công trình nghiên cứu trên đây, còn có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khác Đó đều là những công trình mang ý nghĩa, giá trị sâu sắc, ít nhiều đề cập tới chất đồng quê trong thơ Việt Nam hiện đại
2.2 Các công trình nghiên cứu về tác giả Nguyễn Duy Nguyễn Duy xuất hiện trên văn đàn và mang đến một tiếng nói riêng đầy bản sắc, thu hút sự chú ý của nhiều độc giả Đã có khá nhiều bài viết thẩm bình, đánh giá về thơ ông Mỗi công trình nhìn nhận thơ Nguyễn Duy từ một phương diện khác nhau, một khía cạnh nào đó trong đời thơ của ông Để thấy
rõ hơn quá trình thẩm bình, đánh giá đó, luận văn chủ yếu đi vào khảo sát các công trình nghiên cứu liên quan tới chất đồng quê trong thơ lục bát Nguyễn Duy Năm 1972, những bài thơ đăng báo lần đầu của Nguyễn Duy đã thu hút được sự chú ý của Hoài Thanh Bằng cảm nhận tinh tế, sắc sảo, ông đã nhận
ra vị quê mùa đằm thắm, chân chất trong thơ Nguyễn Duy, “quen thuộc mà không nhàm”, là “khúc dân ca” vùng “đồng bằng miền Bắc đã cùng anh đi vào giữa đỉnh Trường Sơn” Chất thơ đó “nhẹ nhàng hiền hậu”, “rất Việt Nam
mà chúng ta vẫn giữ nguyên trong thử lửa” Hoài Thanh cũng chỉ ra một số hạn chế ở thơ Nguyễn Duy, “câu thơ anh còn nhiều khi khắc khổ, cầu kì rắc rối”, “chưa học được nhiều cái giản dị, cái trong sáng của thơ ca dân gian” (46) Dĩ nhiên, những thiếu sót này đã được Nguyễn Duy khắc phục ở những bài thơ tiếp sau Như vậy, ngay từ những bài thơ đầu tiên trình làng, chất đồng quê đã hiện diện trong thơ Nguyễn Duy
Giáo sư Hà Minh Đức trong bài viết Về một số cây bút trẻ gần đây trong
quân đội nhận xét: “Thơ Nguyễn Duy mang nhiều màu sắc dân gian Cách
suy nghĩ và cảm xúc trên trực tiếp hay gián tiếp nằm trong mạch suy nghĩ quen thuộc của dân gian”, “anh chú ý nhiều đến thể lục bát, đến sự mềm mại, nhịp nhàng của các làn điệu dân ca” (15) Cũng về thơ lục bát, Lê Quang
Trang 8Trang nhận ra đây là thế mạnh của Nguyễn Duy: “anh vốn là người sở trường
về sử dụng thơ lục bát- một thể thơ có phần tĩnh và biến hoá không nhiều” (54) Nhà thơ Tế Hanh, với tâm hồn nhạy cảm luôn gắn bó với quê hương đã cảm nhận sâu sắc về hồn quê, tình quê trong thơ Nguyễn Duy: “Một điểm đáng chú ý nữa là thơ Nguyễn Duy nói về ruộng đồng dù đó là Thanh Hoá quê anh hay Cà Mau quê bạn, có cái gì đó rất tha thiết” (19)
Trên tạp chí văn học số 3 năm 1986, Lê Quang Hưng có bài viết Thơ
Nguyễn Duy và Ánh trăng đã nói: “Những bài thơ lục bát trong Ánh trăng thật
đậm đà chất ca dao, nhiều đoạn thơ lục bát nhuần nhụy ngọt ngào khiến cho người ta khó phân biệt được đấy là ca dao hay thơ” (25)
Năm 1987, nhân đọc Ánh trăng, Lại Nguyên Ân đã đối chiếu với lục bát
truyền thống, cảm nhận về hơi hướng đồng quê trong thơ Nguyễn Duy Tác giả đã chỉ ra sự mới mẻ, phá cách của Nguyễn Duy so với truyến thống trên
cơ sở của sự kế thừa, “ngay cả những bài thơ lục bát, ta cũng thấy có cái gì đó bên trong như muốn cãi lại vẻ êm nhẹ, mượt mà vốn có của câu hát ru truyền thống” (2)
Tìm hiểu về thơ Nguyễn Duy, khó có thể bỏ qua mảng thơ lục bát đậm đà chất đồng quê của ông, vì đây là tác giả “vốn có ưu thế trội hẳn lên trong thể thơ lục bát, loại thơ ngỡ như dễ làm, ai cũng làm được, nhưng để đạt tới hay thì khó thay Thơ lục bát của Nguyễn Duy không rơi vào tình trạng quen tay,
nó có sự biến đổi, chuyển động trong câu chữ” Lời nhận xét đó trong bài viết
Đi tìm tiềm lực trong thơ Nguyễn Duy của nhà văn Nguyễn Quang Sáng quả
là tinh tế Ông nhấn mạnh thêm, Nguyễn Duy có “khả năng nắm bắt cái thần, cái hồn của mỗi làng quê”, “lời thơ đơn sơ, gần với khẩu ngữ tư duy thơ thì hiện đại” (42)
Tác giả Đỗ Ngọc Thạch lại đi sâu vào hình ảnh Người vợ trong thơ
Nguyễn Duy và thấy rõ “hồn quê” có sức “lay động tận sâu thẳm tâm
linh…đưa ta trở về với bản ngã, với những gì con người nhất” (49)
Tạp chí văn học số 7 1998 đăng bài Ca dao vọng về trong thơ Nguyễn
Duy của tác giả Phạm Thu Yến Bài viết đã đi sâu vào những biểu hiện trong
Trang 9mối quan hệ giữa ca dao và thơ hiện đại, cụ thể là tiếng vọng của ca dao trong thơ lục bát Nguyễn Duy: “Đọc thơ Nguyễn Duy, ta như được gặp một thế giới
ca dao sinh động, phập phồng làm nền cho tiếng đàn độc huyền đầy sáng tạo của hồn thơ thi sĩ” Bài viết cũng khẳng định “thể thơ lục bát- thể thơ đặc trưng của dân tộc được Nguyễn Duy sử dụng nhuần nhuỵ, giúp tác giả chuyển tải một cách nhẹ nhàng trong sáng những suy nghĩ và tình cảm sâu sắc của con người Có lẽ, những bài thành công nhất của Nguyễn Duy là những bài làm theo thể lục bát ”(58)
Thơ ca là một bộ phận quan trọng thể hiện tính cách, nhân phẩm của người sáng tạo ra nó Tác giả Vũ Văn Sỹ đã trình bày cảm nhận của mình về hình ảnh Nguyễn Duy trong thơ và trong cuộc sống, một con người chất phác, chân
thật qua bài Nguyễn Duy- Người thương mến đến tận cùng chân thật Tác giả
bài viết đánh giá và xếp Nguyễn Duy “vào bậc tài tình” trong làng thơ lục bát Việt Nam (44)
Ngoài những bài viết mang tính chất thẩm bình, đánh giá chung về thơ Nguyễn Duy, còn khá nhiều bài viết, bài bình văn về những bài thơ đặc sắc, tiêu biểu là những bài lục bát của ông
Bài Tre Việt Nam đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu văn học
Giáo sư Lê Trí Viễn đã chỉ ra phẩm chất con người Việt Nam thông qua hình ảnh cây tre trong bài thơ, đồng thời thấy được giọng điệu quen thuộc của ca dao dân gian của bài thơ: “người ta gặp ở đây vừa âm hưởng của ca dao- dân
ca ngọt ngào thân mật, vừa vang vọng của thơ ca bác học lắng sâu vào trí tuệ Cách tân linh hoạt nhưng lại nhuần nhuyễn cả xưa lẫn nay, cả truyền thống
lẫn hiện đại” (57) Vẫn ở bài thơ này, tác giả Chu Huy khẳng định “Tre Việt
Nam là một trong những bài thơ hay của Nguyễn Duy Bài thơ dào dạt cảm
hứng cấu tứ sâu sắc, độc đáo kết tinh từ những hình ảnh cuộc sống dân dã đời
Trang 10phát hiện ra Điểm gặp nhau thú vị của Tú Xương với Nguyễn Duy qua hai bài thơ Thương vợ và Vợ ốm: “hai thi nhân của hai thời đại, một thì ngang
ngạnh…một thì trầm lắng…dịu dàng đằm thắm …lại có những điểm gặp nhau tuyệt vời” (6)
Như vậy, các công trình nghiên cứu, các bài viết về thơ Nguyễn Duy đã phần nào xác định được giá trị thơ lục bát của Nguyễn Duy và hơi hướng của chất đồng quê trong thơ ông Tuy nhiên, hầu như vẫn chưa có một công trình xứng đáng đi sâu nghiên cứu cụ thể, toàn diện về chất đồng quê trong thơ lục bát Nguyễn Duy và vị trí của nó trong hành trình thơ lục bát Việt Nam Đó vẫn là một khoảng trống còn đang bỏ ngỏ
2.3 Các công trình nghiên cứu về thơ Đồng Đức Bốn
Là một hiện tượng mới nổi, nhưng Đồng Đức Bốn và thơ ca của ông đã có được một vị trí khá sâu sắc trong lòng độc giả Nghiên cứu về chất đồng quê trong thơ lục bát của ông, chúng tôi tập trung vào khảo sát một số bài viết có
đề cập và liên quan đến chất đồng quê trong thơ lục bát của tác giả này Phần
lớn các bài viết chúng tôi khảo sát được rút từ phần hai cuốn sách Chim mỏ
vàng và hoa cỏ độc (7) do chính tác giả Đồng Đức Bốn đã tập hợp
Trước hết, phải kể đến chùm bài viết của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp,
người bạn văn chương của nhà thơ Đồng Đức Bốn Ở trong bài viết Đồng
Đức Bốn- Vị cứu tinh của thơ lục bát, tác giả nhận định: “Thơ lục bát Đồng
Đức Bốn có một cái gì khác người, hiếm và lạ…Trong bối cảnh thơ có phần nào lộn xộn, Đồng Đức Bốn hiện lên như một hiện tượng thơ đặc biệt…Đồng Đức Bốn là người tự dưng đốn ngộ với riêng thể thơ lục bát” Đó là cái duyên, là ân huệ trời ban cho nhà thơ Đồng Đức Bốn Không dừng lại ở đó, Nguyễn Huy Thiệp còn nhìn nhận Đồng Đức Bốn từ vai trò một nhà thơ của đồng quê, của con trâu, cái diều
Nhà thơ, nhà phê bình văn học Đỗ Minh Tuấn có bài viết Đồng Đức Bốn-
Kẻ mượn bút của trời nhận thấy “Sự xuất hiện của Đồng Đức Bốn đã đem lại
cho thơ lục bát, thơ truyền thống một niềm tự tin đáng kể”, “thơ Bốn vụt lên với sự sáng trong giản dị mà không kém phần sâu sắc, mới lạ và ấn tượng như
Trang 11mang cả hồn thiêng của tổ tiên trong mỗi lời đối thoại, mỗi tiếng nhủ thầm”
Ở bài viết Trời đưa anh đến cõi thơ, tác giả này lại chỉ ra niềm kiêu hãnh, biết
ơn của Đồng Đức Bốn với thơ lục bát: “cái tình cảm của Bốn với thơ lục bát nhìn bề ngoài giống như tình cảm của người nông dân với con trâu”
Bài viết Đồng Đức Bốn- Phiêu du vào lục bát của nhà phê bình văn học
Nguyễn Đăng Điệp thêm một lần nữa cho thấy rõ hơn vị trí của thơ lục bát trong đời thơ Đồng Đức Bốn: “Trong các thứ hương hoả, Đồng Đức Bốn “ăn lộc” ca dao nhiều hơn cả Cái chất nhà quê trong thơ anh kết hợp với cái lang thang, thân cò thân vạc của một kẻ bị bầm dập trong đời sống hiện tại đã làm thành một lối nói ngang, tưng tửng”
Tiến sĩ Đoàn Hương cũng thấy được hình ảnh quê mùa trong thơ Đồng
Đức Bốn qua bài Những câu thơ tình tang quê mùa, “Thơ lục bát của Đồng
Đức Bốn đẹp vẻ đẹp rất mộc của thơ ca dân gian, của những câu ca dao mà ta đọc trong mọi thế hệ, đọc trong cả cuộc đời mà vẫn cứ giật mình Trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác” Thơ Đồng Đức Bốn giống như chìa khoá mở ra cánh cửa cho mỗi con người tìm về với cội nguồn của mình “Đọc thơ Đồng Đức Bốn để ta tìm thấy quê, trở về với quê hương trong tâm tưởng của ta” Tác giả bài viết còn nhìn nhận chất đồng quê trong thơ Đồng Đức Bốn từ phương diện ngôn ngữ, đó là “một thứ ngôn ngữ chân quê, một ngôn ngữ chất phác nhất, đồng thời cũng chính xác nhất, tinh tế nhất của ngôn ngữ tiếng Việt”
Nhà thơ Phạm Tiến Duật với giọng điệu tự nhiên, pha chút ngang tàng
trong bài Đóng gạch nơi nao đã khẳng định: “một mình Đồng Đức Bốn tự
làm một cuộc trường chinh Gã xông thẳng vào trận địa lục bát và chỉ một thời gian ngắn Đồng Đức Bốn trở thành ông vua trẻ của thể loại này” Nhà
văn Trần Huy Quang trong bài Đồng Đức Bốn- Nhàu nát và trau chuốt đánh
giá về chất đồng quê trong thơ Đồng Đức Bốn từ góc độ câu thơ, “Thơ Đồng Đức Bốn đấy, mỗi câu giống như lời nói của các bà nông dân lam lũ, yếm trễ ngực, váy xắn quai cồng, đòn gánh oằn vai”
Trang 12Trong Tựa bão để sống làm người, tác giả Anh Quân cũng thấy được nhạc
tính giàu chất dân gian trong thơ lục bát nói chung và thơ Đồng Đức Bốn nói riêng: “thực ra trong thơ ca, lục bát là thể thơ mang tính nhạc đậm nhất, ở thơ Đồng Đức Bốn càng thấy rõ điều này Bất kỳ một bài nào của anh đều như những bài hát dân ca, điệu hò câu ví thuở xưa”
Tác giả Băng Sơn trong bài Đồng Đức Bốn- Thi sĩ đồng quê đã nhận định
khá sâu sắc về hồn quê mùa trong thơ Đồng Đức Bốn, coi ông là “một nhà thơ kiệt xuất trong lục bát, có lẽ là hồn Việt chắt lọc ngàn năm để ứ dồn vào tâm hồn thi sĩ làm ta nghiêng ngả mê say những vần thơ như từ ca dao đi ra, như
từ thơ đi vào ca dao, cứ ngọt lịm và ở lại” Nhà thơ Nguyễn Thanh Toàn trong
Vài ý nghĩ tản mạn về thơ Đồng Đức Bốn cũng có nhận xét, “thế mạnh thơ
Đồng Đức Bốn là thể thơ đồng quê, ngôn ngữ đồng quê, cảm hứng đồng quê…Đặc biệt là tình ý tư tưởng đồng quê”
Ngoài các bài viết trên đây, còn phải kể tới bài viết của một số tác giả như Nguyễn Ánh Ngân, Nguyễn Thanh Phong, Nguyễn Việt Hà, Văn Chinh…Đó đều là những bài viết, những ý kiến đánh giá về thơ Đồng Đức Bốn khá sâu sắc, xác đáng
Nhìn chung, các bài viết tìm hiểu về thơ Đồng Đức Bốn bước đầu đã có những tìm tòi mới mẻ, nhưng chủ yếu mới chỉ dừng lại ở mức độ là những nhận định chung chung, là cái nhìn ban đầu về một hiện tượng thơ mới nổi, ít
có sự đi sâu phân tích những biểu hiện cụ thể trong thơ ông, chưa có được cái nhìn toàn cục về vị trí của thơ lục bát Đồng Đức Bốn trong dòng chảy của thơ lục bát đồng quê Việt Nam
Nghiên cứu về chất đồng quê trong thơ lục bát hiện đại nói chung, chất đồng quê trong thơ lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn nói riêng là một việc làm có ý nghĩa quan trọng để đánh giá xác đáng hơn giá trị của thơ lục bát cũng như thơ của hai tác giả trên Điều này đòi hỏi sự góp công, góp sức của nhiều nhà nghiên cứu Dẫu biết rằng như muối bỏ bể, công trình nghiên cứu này của chúng tôi vẫn hy vọng được đóng góp một phần nhỏ vào quá trình nghiên cứu vấn đề này
Trang 133 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, để cho công việc được thuận lợi, chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau:
Chú ý tới toàn bộ thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn trong khả năng cao nhất có thể Riêng về thơ của Đồng Đức Bốn, chủ yếu là các bài lục
bát trong phần một tập sách Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc
Bên cạnh các bài thơ lục bát của Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn, chúng tôi cũng liên hệ so sánh với thơ lục bát ca dao và lục bát của một số tác giả văn học Việt Nam khác
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nhằm tìm hiểu sâu sắc vấn đề, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau đây
Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại Thông qua phương pháp này, luận văn sẽ nêu bật những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của chất đồng quê trong thơ lục bát Việt Nam hiện đại, đặc biệt là trong thơ Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn Đồng thời, tránh được
sự chủ quan, cảm tính khi đưa ra các nhận xét, các kết luận
Phương pháp đối chiếu so sánh
Đây là phương pháp quan trọng và được sử dụng nhiều trong luận văn Để thấy được chất đồng quê trong thơ lục bát Việt Nam hiện đại trong sự biến đổi theo dòng chảy thời gian, chúng tôi sử dụng phương pháp này đối chiếu, so sánh giữa thơ lục bát Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn với các mảng thơ khác trong đời thơ hai ông và của các nhà thơ khác Qua đó, những nét tiêu biểu độc đáo của dòng thơ đồng quê, tiêu biểu là thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn sẽ hiện lên một cách nổi bật và có tính thuyết phục cao
Phương pháp thống kê- phân loại
Phương pháp này được sử dụng như một phương pháp bổ trợ hữu ích cho hai phương pháp trên đây Với sự thống kê, phân loại, luận văn sẽ tìm được những yếu tố nội dung, nghệ thuật tiêu biểu để đi đến kết luận chính xác nhất,
có cơ sở cho sự thuyết phục
Trang 14Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi phối hợp chặt chẽ giữa ba phương pháp nêu trên để luận văn có tính khoa học và hệ thống, đạt được những hiệu quả cao nhất
5 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ
Mục đích nghiên cứu của luận văn
Đi sâu vào đề tài này, mục đích của chúng tôi là hướng vào tìm hiểu những biểu hiện cụ thể về chất đồng quê trong thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn So sánh đối chiếu chất đồng quê trong thơ hai ông với nhau và với các tác giả khác, đặc biệt là các tác giả có thế mạnh về thơ lục bát để tìm ra những đặc điểm chung nhất và bản sắc, đặc trưng riêng của thơ ca mỗi người Bên cạnh đó, luận văn cũng mong đạt được một hiệu quả cao hơn, đó là có được cái nhìn khái quát về sự tồn tại, biến đổi của chất đồng quê trong thơ lục bát Việt Nam hiện đại
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Hướng vào những mục đích đã nêu trên đây, luận văn thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Sơ lược tìm hiểu đặc trưng của thể loại thơ lục bát và sự vận động của
nó trong tiến trình thơ ca dân tộc
- Tìm hiểu các văn bản thơ của Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn, cụ thể
là thơ lục bát để tìm ra những nét nổi bật trong nôị dung, nghệ thuật gắn liền với chất đồng quê trong thơ họ
- Đối sánh thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn với thơ ca truyền thống, thơ ca các tác giả khác, tìm ra những sự kế thừa và đổi mới của hai tác giả này
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được triển khai theo ba chương Chương một: Chất đồng quê và thơ lục bát về đồng quê trong thơ ca dân tộc Chương hai: Cảnh quê và tình quê trong thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn
Trang 15Chương ba: Tính dân gian, hiện đại trong thơ lục bát về đồng quê của Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn
Chương một
CHẤT ĐỒNG QUÊ VÀ THƠ LỤC BÁT VỀ ĐỒNG QUÊ
TRONG THƠ CA DÂN TỘC
Theo những bước đi của thời gian, nền văn học Việt Nam cũng không ngừng vận động, biến chuyển Nhiều thành tựu của văn học nước nhà đã được nhân loại biết đến và trân trọng Trong những thành tựu ấy, thơ lục bát chiếm một vị trí đáng kể, tạo nên tiếng nói tiêu biểu đặc trưng cho văn học người Việt, tâm hồn người Việt
1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƠ LỤC BÁT Cấu trúc thể loại
Lục bát là thể thơ tổng hợp giữa câu sáu và câu tám Số câu không hạn định, ít thì chỉ hai câu, còn nhiều thì có thể kéo dài đến vô kể Từ khi ra đời, thể lục bát đã trở thành thể loại được ưa chuộng trong sáng tác của người Việt Qua tiến trình thể loại, thể lục bát mỗi lúc càng trở nên hoàn thiện hơn
Niêm, vần, luật
Giáo sư Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức trong cuốn Thơ ca Việt Nam –
Hình thức và thể loại đã dành cho thể lục bát một sự quan tâm, ưu ái đặc biệt
Niêm luật của thể thơ này đã được tóm tắt thành một hệ thống tương đối rõ ràng
* Hệ thống phổ biến
- Trường hợp một:
Dòng/tiếng
Trang 16Dòng lục
Dòng bát
B: Vần bằng; T: Vần trắc Trường hợp này khá phổ biến trong ca dao và cả trong văn học viết Chẳng hạn:
Dù ai cho bạc cho vàng Chẳng bằng trông thấy mặt chàng hôm nay
Láng giềng đã đỏ đèn đâu Chờ em ăn dập bã giầu em sang
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Có oản anh tình phụ xôi
Có cam phụ quýt, có tình phụu ta
* Hệ thống đặc biệt: Các loại biến thể
Có biến thể vần trắc: Tiếng thứ sáu câu câu sáu và câu tám đều là vần trắc
Con cò mắc giò mà chết Con quạ ở nhà mua nếp làm chay
Trang 17Có loại biến thể cách gieo vần: Cách gieo vần thông thường của thơ lục bát là tiếng thứ sáu dòng lục hiệp vần với tiếng thứ sáu của dòng bát Tiếng thứ tám dòng bát lại hiệp vần với tiếng thứ sáu dòng lục tiếp theo Cứ như thế cho đến hết bài thơ Tuy nhiên, có một số trường hợp đặc biệt, tiếng thứ sáu dòng lục lại hiệp vần với tiếng thứ tư dòng bát:
Có con đỡ gánh đỡ gồng Con đi lấy chồng vai gánh tay mang
(Ca dao)
Chú ý: Khi gieo vần, tiếng thứ sáu, thứ tám (ở hệ thống phổ biến) và tiếng
thứ tư, thứ tám ở hệ thống đặc biệt, tuy đều là thanh bằng nhưng phải đối nhau về âm vực trầm bổng
Trong thơ lục bát có cả vần chân và vần lưng Cách gieo vần này góp phần vào việc mở rộng dung lượng cho bài lục bát
Về nhịp
Cả cặp lục bát mười bốn tiếng được coi là một đơn vị nhịp điệu, trong đơn
vị đó lại có thể ngắt ra từng tiết tấu theo cách diễn đạt nội dung câu thơ Trong thơ lục bát, cách ngắt nhịp rất uyển chuyển nhưng thường là nhịp hai
Ví dụ:
Đi mau! Trốn hết! Trốn mau Trốn hơi! trốn tiếng! Trốn nhau! Trốn mình
(Xuân Diệu) Đôi khi lại là nhịp ba:
Ơi thôn Vân/ hỡi thôn Vân Phương nào kết dải mây Tần cho ta
Trang 18Đối
Thơ lục bát không quy định nhất thiết phải có đối Tuy vậy, đặc trưng phổ biến của lục bát lại là tiểu đối Khi thì đối ý, đối thanh, có khi lại đối cả ý và
thanh Câu lục bát có đối thường theo nhịp 3/3, 4/4 Trong Truyện Kiều,
Nguyễn Du nhiều lần sử dụng đối khá thành công
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Trong ca dao, tiểu đối cũng không thiếu phần đặc sắc:
Chồng đánh bạc, vợ đánh bài Chồng hai ba vợ, vợ hai ba chồng
Một số biến thể trong cấu trúc của thể lục bát
Ở mỗi một phương diện, thể lục bát luôn có những biến thể rất linh hoạt, sinh động để đáp ứng nhu cầu truyền tải nội dung hoặc tự làm mới mình Về cấu trúc, thể lục bát cũng có nhiều biến đổi đặc sắc, tạo được hiệu quả nghệ thuật và có tính thẩm mĩ cao
Cấu trúc thường thấy của thể lục bát là 6/8 Bên cạnh đó, còn có một số dạng khác mà nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra Cơ bản có các dạng sau đây:
Ở phạm vi câu thơ: Có biến thể dòng lục thay đổi, dòng bát giữ nguyên
Số chữ ở dòng lục có thể tăng hoặc giảm Ví dụ:
- Buồn ngủ buồn nghê Buồn ăn cơm nếp cháo kê thịt gà
- Tưởng giếng sâu, nối sợi dây dài Hay đâu giếng cạn, tiếc hoài sợi dây
Có trường hợp, dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi:
- Lời nguyền trước cũng như sau
Ta không ham vui bỏ bạn, bạn chớ tham giàu bỏ ta
Có khi cả dòng lục và dòng bát đều thay đổi
Trang 19Em thương anh thầy mẹ ngăm nghe Cậu, cô, chú, bác đòi đậu bè thả trôi
Ở phạm vi bài thơ:
Có trường hợp, bài thơ lục bát bắt đầu bằng câu tám:
Buồn rầu buồn rĩ, nghĩ lại buồn riêng Hai tay bưng quả đào tiên Miệng cười hớn hở dạ phiền tương tư
Có khi tác phẩm bắt đầu bằng hai dòng lục:
Chợ Giăng rồi lại chợ Chùa Chợ rạng thì phải qua đò Chợ Lường lắm bánh, ăn dò mà đi
(Ca dao) Dạng này thường không phổ biến Chủ yếu là phần lời của bài hát giao duyên, hay gặp trong dân ca xứ Nghệ và dân ca Nam Bộ
Có tác phẩm lục bát lại kết thúc theo lối bỏ lửng ở vần lục:
Anh về xẻ ván cho dày Đánh thuyền đợi bến rước thầy mẹ sang Thuyền lớn quan bắt chở lương Còn chiếc thuyền nhỏ cùng nường qua sông Chờ nàng anh đứng chờ trông…
Nguồn gốc sinh thành
Trang 20Trên cơ sở những tài liệu hiện có, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hoàn nhận định: “Thể lục bát, sớm nhất cũng chỉ xuất hiện vào khoảng cuối thế kỉ XV”
(21) Từ đó cho đến Truyện Kiều, thể lục bát đã tương đối hoàn chỉnh
Vậy thể lục bát có phải là sở hữu riêng biệt của người Việt ta hay không? Đây là câu hỏi nhạy cảm và không dễ gì trả lời được Đã có nhiều học giả đi sâu nghiên cứu để trả lời cho câu hỏi đó Nhà nho Phạm Đình Toái ở thế kỉ XIX gọi lục bát là “lối văn tuyệt diệu của ta”(20) Sang đầu thế kỉ XX, cụ Bùi
Kỉ thêm một lần nữa khẳng định đây là “lối văn riêng của ta mà Tàu không
có” (39) Sách Lí luận văn học (G.s Phương Lựu chủ biên) cũng nhấn mạnh:
“Đó là thể thơ quen thuộc của dân tộc mang cốt cách thuần tuý Việt Nam” (61) Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính lại nhận định “Ở văn học người Hán của Trung Quốc không có thể lục bát Trong lịch sử văn học người Việt, thể lục bát có vai trò đặc biệt và có sức sống mạnh mẽ” (27)
Các công trình nghiên cứu về thơ lục bát và nguồn gốc sinh thành của nó xuất phát từ nhiều hướng khác nhau Tuy nhiên, cuối cùng đều đi đến điểm chung khẳng định lục bát là thể thơ thuần tuý dân tộc Việt, thuần tuý biểu hiện lối sống Việt Vì lẽ đó, nó được coi là mang nặng cảm xúc, suy tư, tâm hồn con người Việt Nam
Tiến trình thể loại
Có thể nói, lục bát khởi đầu từ ca dao và xuất hiện trong văn học thành văn vào khoảng cuối thế kỉ XV Từ đó đến nay, thể thơ này ngày càng phát triển
và hoàn thiện hơn, đạt được nhiều thành tựu đặc sắc
1.3.1 Lục bát từ cuối thế kỉ XV đến trước Truyện Kiều
Là thời kỳ sơ khai của thể loại, cho nên thơ lục bát ở giai đoạn này còn trong tình trạng chưa hoàn chỉnh, hình hài chưa cụ thể, còn xô bồ, tự do và có đôi chút lỏng lẻo Chẳng hạn, có thể gieo vần ở cả tiếng thứ 4 và thứ 6 dòng bát, vừa là vần bằng, vừa là vần trắc hoặc chưa định vị được vần
Đất vua ai chẳng là tôi Non cao hang thẳm cùng trời tôn thân
(Đào Nguyên Hành)
Trang 21(Đào Nguyên Hành) Trong quá trình tồn tại và phát triển, thể lục bát dần trở nên hoàn thiện hơn
về cả lượng và chất Ví dụ như, trong các bài lục bát đã dần bỏ bớt lối gieo vần ở tiếng thứ 4, hướng tới cách gieo vần ở tiếng thứ 6 câu bát Về phối điệu, dần ổn định thanh điệu ở các tiếng thứ 2, thứ 4 và thứ 6
Chức năng biểu đạt: các tác phẩm khởi đầu của thể lục bát thường hướng vào nội dung trữ tình tụng ca Đến thế kỉ XVIII, với các truyện thơ Nôm, thể
lục bát nhận thêm chức năng tự sự như Truyện Phan Trần, Truyện Phạm
Công Cúc Hoa, Hoa tiên…
Tuy có nhiều biến đổi, song ở giai đoạn này, thể lục bát vẫn chưa đạt độ hài hoà hoặc trôi chảy thực sự Việc gieo vần ở tiếng thứ 6 câu thơ chưa đạt hiệu quả cao Đặc biệt, vẫn còn hiện tượng kí sinh ở tiếng thứ 6 dòng bát
Cha tôi trưởng giả nhà quê Giàu sang sớm đã sinh thì ba tôi
được coi là tiêu biểu cho chuẩn mực thể loại: Truyện Kiều của Nguyễn Du
1.3.2 Lục bát trong Truyện Kiều
Trang 22Truyện Kiều của Nguyễn Du đã đánh dấu son cho sự mẫu mực, cổ điển
của thể loại lục bát Kể từ đây, lục bát chính thức khẳng định được đặc trưng thể loại của mình, để rồi theo thời gian, mỗi lúc một khởi sắc hơn
Hai yếu tố gieo vần và phối điệu đã đạt tới sự thống nhất, ổn định Việc
gieo vần ở tiếng thứ tư đã được hạn chế nhiều Trong Truyện Kiều, toàn bộ
các câu thơ đều gieo vần ở tiếng thứ 6 Hiện tượng từ kí sinh ở câu bát đã được loại bỏ triệt để do sự xuất hiện của hình thức đối Đặc biệt là hình thức
“tiểu đối, về mặt cấu trúc đã tạo điều kiện vật chất giúp loại trừ hiện tượng kí sinh ở vần lưng âm tiết 6 câu bát” (8)
Cũng do có hình thức tiểu đối nên sự diễn ý của thơ lục bát có thêm khả năng mới Dòng thơ 6 (hoặc 8) âm tiết được nhận thức như một tổ hợp hai đơn vị mới Mỗi đơn vị gồm ba (hoặc bốn) âm tiết Do đó, dòng thơ như nén lại, ý thơ trở nên xúc tích, cô đọng hơn Nhịp điệu câu thơ cũng không còn đơn điệu mà nó dồn nén hơn, góp phần bộc lộ các cung bậc tình cảm khác nhau
Khi sương sớm/khi trà trưa Bàn vây điểm nước/đường tơ hoạ đàn
Tiểu đối xuất hiện trong thơ lục bát có thể được coi là một cuộc cách mạng đổi mới của thể loại này Nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá cao sự xuất hiện của nó Phan Ngọc cho rằng: “sự xuất hiện của hình thức tiểu đối không phải
là hiện tượng bình thường trong lục bát mà là kết quả của một quá trình phát triển” và “hình thức đối xứng làm cho nhịp thơ chậm lại, trang trọng, đem lại cái đẹp cân đối, nhịp nhàng” (34) Nguyễn Phan Cảnh lại coi sự xuất hiện của đối là “sự kiện đánh dấu một bước tiến hoá mới quan trọng và có tính chất quyết định của thể lục bát Đưa lục bát tới sự toàn thắng” (8)
Thể lục bát đến Truyện Kiều được coi là một mô hình chuẩn mực Tác
phẩm này vẫn thể hiện chức năng kể là chính.Tuy nhiên, nội dung trữ tình
cũng đã chiếm một phân lượng không nhỏ Cùng với Truyện Kiều, thơ lục bát
dần đi sâu hơn vào tâm thức của con người Việt Nam ta
1.3.3 Lục bát trong phong trào thơ mới (1932-1945)
Trang 23Cũng như các hiện tượng văn học khác, thơ lục bát luôn vận động, biến đổi theo những qui luật nhất định dưới sự tác động của thời đại Bước vào thế
kỉ XX, nhiều thể loại mới từ văn học phương Tây thâm nhập và tạo ra sự thay đổi của bộ mặt văn học nước nhà Nhiều thể loại văn học mới xuất hiện Các loại hình văn xuôi tự sự với thế mạnh riêng dần đóng một vai trò quan trọng Trong tình hình đó, thơ lục bát dần chuyển sang tập trung vào khả năng chính của một thể thơ ca: chức năng trữ tình Chức năng tự sự của nó ngày càng trở nên mờ nhạt hơn
Đầu thế kỉ XX, một số tác giả như Tản Đà, Trần Tuấn Khải… đã “dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kì đang sắp sửa” (47) Thơ lục bát thời gian này vẫn còn đậm dấu ấn của thơ lục bát cổ truyền, trang nhã, chuẩn mực hoặc dễ lẫn vào truyền thống Bên cạnh đó, bắt đầu có sự cách tân, đổi mới để ngày càng đa dạng, linh hoạt hơn
Lục bát trong Thơ Mới(1932-1945) đã có nhiều cách tân đa dạng
Trước hết là sự đổi mới về hình thức thể hiện:
Gieo vần: Hầu hết các nhà thơ mới đều hướng tới sự chuẩn mực của lục
bát cổ điển Hoàn toàn sử dụng vần bằng, cố gắng đạt độ hoà âm cao, đảm bảo cho các dòng thơ liên kết với nhau tự nhiên, không gò ép:
Trưa hè nắng dội vàng hoe Nhà tranh khói bám, cổng tre gió lùa Tàu cau xanh dưới trời lơ Ngọn rơm vàng ánh gương hồ long lanh
(Hè- Đoàn Văn Cừ) Thơ Mới linh hoạt hơn trong việc sắp xếp vị trí gieo vần Không nhất thiết gieo vần ở tiếng thứ sáu dòng bát, mà gieo vần cả ở tiếng thứ tư dòng bát:
Bây giờ đã trải ba năm Chiếc nón em chằm đã ngả màu sơn
(Chiếc nón-Nguyễn Bính)
Phối điệu: Thường phối điệu theo khuôn mẫu chuẩn mực nên bài thơ có
âm hưởng trôi chảy, hài hoà Bên cạnh đó, một số nhà thơ đã biết tự do lựa
Trang 24chọn thanh điệu của những tiếng ở vị trí lẻ trong mô hình phối điệu để phù hợp hơn với hình ảnh, cảm xúc toàn bài
Trong thơ mới, có nhiều trường hợp mới lạ, chưa hề gặp trong lục bát cổ điển và lục bát dân gian Đó là trường hợp ba dòng lục đi với một dòng bát:
Bẽ bàng, lá vẫn theo bên,
Si tình, lá vẫn theo bên, Thuyền trôi vẫn quyến sao đêm, Hào quang vẫn ngủ êm đềm trong mơ
(Tình si- Vũ Hoàng Chương)
Hoặc những biến đổi về mặt cú pháp diễn ra trên các dòng thơ như hiện tượng vắt dòng:
Trời cao xanh ngắt- ô kìa Hai con hạc trắng bay về bồng lai
(Tiếng sáo thiên thai-Thế Lữ)
Hiện tượng chấm câu giữa dòng:
Lòng ta dù vỡ tan tành Cũng còn thổn thức Buộc lành cho nhau
(Lời tuyệt vọng-Thế Lữ)
Lối xếp câu theo bậc thang:
Đường xa ư cụ?
Quản chi
Đi gần hạnh phúc là đi xa đường
(Uống rượu với Tản Đà-Trần Huyền Trân)
Những đổi mới đó đã đem lại cho thơ lục bát những giá trị mỹ cảm mới Câu thơ lục bát trở nên không chỉ đều đều như lời mộc mạc trong ca dao hoặc lối cân xứng đều đặn lục bát cổ điển, mà diễn ra theo lối nói gần gũi với câu thơ tự do.Tuy nhiên, trên bình diện tổng quát, nó vẫn tuân theo khá nghiêm
Trang 25chỉnh thi luật của thể loại Đó là những đổi mới để lục bát có thêm sức sống, ngày càng hoà nhập hơn vào nền văn học hiện đại của nước nhà
Về nội dung biểu đạt:
Hầu hết các bài lục bát trong thơ Mới đều mang nội dung trữ tình lãng mạn Chủ yếu thể hiện tâm tình, cảm xúc của cái “tôi” cá nhân của tác giả Đây cũng là sự hoà nhập của nội dung thơ lục bát với xu hướng hiện đại hoá của nền văn học dân tộc Đó là nỗi buồn thương, nỗi mất mát, cảm xúc bâng khuâng, thương nhớ trong tâm hồn con người Đặc biệt là tâm hồn của một con người đang yêu:
Hồn anh như hoa cỏ may Một chiều cả gió bám đầy áo em
(Hoa cỏ may- Nguyễn Bính) Trong quá trình phát triển của thể loại, trên nền tảng của lục bát ca dao truyền thống và lục bát cổ điển, lục bát thơ Mới đã có một sắc diện mới, được biến đổi cho phù hợp hơn với xu hướng hiện đại hoá của thời đại
1.3.4 Lục bát từ sau 1945
Từ sau 1945, do thừa hưởng những thành tựu nghệ thuật từ các giai đoạn trước, thơ lục bát tiếp tục khẳng định sức sống bền bỉ, mãnh liệt của mình Song song với những đặc trưng nghệ thuật mang giá trị truyền thống của thể loại, thể lục bát tiếp tục phát triển khá phong phú, đa dạng về cả nội dung và hình thức
Về hình thức thể hiện:
Ngoài việc dùng các vần chính, lục bát sử dụng cả vần thông:
Giá em đừng sống hết lòng Giá đừng yêu, chẳng mơ mòng làm chi Giá đừng khao khát mỗi khi Trăng lên soi bóng rừng khuya sum vầy
(Xem Nguyệt Cô hoá cáo- Nguyễn Thị Hồng Ngát)
Trang 26Phối điệu cũng trở nên linh hoạt hơn Giá trị của các tiếng ở vị trí tự do được khai thác triệt để Hình thức hướng vào cả giá trị biểu đạt nội dung Chẳng hạn như:
Thừa Thiên đẹp cảnh đẹp người Núi xanh khí phách, biển ngời sức xuân Núi này Bạch Mã, Hải Vân Mây đưa anh giải phóng quân qua đèo Biển này Cửa Thuận sóng reo Thanh thanh vành mũ tai bèo là em Hương Giang ơi, dòng sông êm Quả tim ta vẫn ngày đêm tự tình
(Bài ca quê hương) Tác giả đẫ sử dụng tối đa khả năng biểu đạt nội dung của thanh điệu Các câu 2, 3, 4, 7 được phối hợp thanh điệu rất đặc biệt Ở câu 2, các tiếng mang thanh sắc chiếm tỉ lệ cao (4/ 8 tiếng) đã diễn tả sức mạnh vút lên, khoẻ khoắn, trẻ trung của núi non, biển cả Thừa Thiên Câu thứ 3, thanh điệu nhịp nhàng, khi cao khi thấp diễn tả sự lên xuống, trùng điệp của núi non hùng vĩ Câu 4 lại nhiều thanh bằng, gợi ra sự thanh thoát, nhẹ nhàng Đến câu 7, toàn bộ thanh bằng gợi ra âm hưởng êm ái, thiết tha, thư thái, như ngân lên trong lòng người đọc Tạo ra cảm giác như đang đứng trước vẻ đẹp thơ mộng của con sông Hương xứ Huế
Những cách tân trong thơ Mới cũng được tận dụng và phát huy:
Hoa mưa Hoa mưa Hoa mưa Buốt lòng ta ngọn gió lùa qua sông
(Hoa mưa- Đàm lan)
Và bao công việc không tên Tôi say như thể có em đến gần Như là tôi đã một lần
Nói yêu em dọc mùa xuân
Trang 27hai người…
(Thơ gửi một người không quen biết- Nguyễn Trọng Tạo) Ngoài lối chấm giữa dòng, câu thơ bậc thang, vắt dòng…lục bát sau 1945 còn xuất hiện hiện tượng lục bát biến thể của ca dao:
Sợ chi sóng gió tàu bay Tây kia mình đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua
(Mẹ Suốt- Tố Hữu) Lối thơ gần gũi lối nói đầy tính khẩu ngữ, giống ca dao truyền thống là một đổi mới chưa hề có trong thơ lục bát thuộc văn học viết các giai đoạn trước
Về nội dung biểu đạt:
Nội dung của thơ lục bát thời kì này khá đa dạng Nếu như lục bát trong phong trào thơ Mới chủ yếu thể hiện nỗi buồn thương, bâng khuâng, ngậm ngùi thì lục bát sau 1945 ngày càng có khả năng biểu đạt, thể hiện được mọi nội dung hiện thực khác nhau của đời sống Đó là những nội dung có tính chất suy lí, hiện thực, chất chứa tâm sự trăn trở của cá nhân, niềm tự hào dân tộc hay cảm xúc của một cái tôi chiến sĩ đang trên đường hoà nhập với cái ta chung của quần chúng, của dân tộc
Theo thời gian, thơ lục bát mỗi lúc càng chứng tỏ được sức sống mãnh liệt, tiềm tàng của mình Từ sau 1945, trải qua những năm tháng chống Pháp, chống Mỹ gian khổ cho tới ngày hôm nay, Thơ lục bát vẫn kế tục được truyền thống, đồng thời có những cách tân, đổi mới để ngày càng phù hợp hơn Đúng như giáo sư Nguyễn Văn Long đã khẳng định: “Thơ lục bát vẫn chứng tỏ sức sống bền bỉ của một thể thơ thuần tuý dân tộc có khả năng thích ứng với rất nhiều đối tượng và nội dung bởi bí quyết sinh tồn của nó nằm ngay trong những đặc điểm về âm thanh, hình vị của tiếng Việt” (31) Thử hỏi, còn gì hơn khi sử dụng chính sản phẩm do nhân dân tạo ra để thể hiện tiếng nói, tâm hồn họ Đến nay, thể lục bát vẫn được người say thơ, yêu thơ ưa chuộng Đằng sau những giây phút ồn ã, sôi động của cuộc sống mới đang hiện đại
Trang 28hoá, hồn thơ lục bát vẫn là những người bạn tâm tình, san sẻ với con người Việt những tâm sự sâu lắng
2 CHẤT ĐỒNG QUÊ, MỘT ĐẶC ĐIỂM TẠO NÊN BÍ QUYẾT SINH TỒN CỦA THỂ THƠ LỤC BÁT
Từ lâu, người ta vẫn nhắc tới chất đồng quê trong thơ ca như những khái niệm quen thuộc Tuy nhiên, để hiểu đầy đủ về khái niệm chất đồng quê thì
lại là một vấn đề đáng bàn Chúng tôi quan niệm rằng: Chất đồng quê không chỉ là kết quả của sự mô tả, sự phản ánh, sự thể hiện các cảnh quê, tình quê như là chất liệu của nghệ thuật, của thơ ca mà nó còn đòi hỏi một quan niệm nhân sinh và thẩm mĩ đặc thù, đòi hỏi sự thể hiện và khẳng định đồng quê như cội nguồn của các giá trị nhân văn tích cực như cái đẹp, cái thiện Có thể thấy
như thế này: Chất đồng quê trong thơ ca là kết quả của quan niệm nhân sinh
và thẩm mĩ đặc thù kết tinh từ những giá trị nhân văn tích cực của cuộc sống con người đồng quê, mà sự mô tả, phản ánh, thể hiện các cảnh quê, tình quê chính là những biểu hiện cụ thểt nhất
Nói như thế, chất đồng quê trong thơ ca phải được nhìn nhận và đề cập
đến từ hai khía cạnh: Nhận thức luận và giá trị luận Một nền nghệ thuật thấm
đượm chất đồng quê không chỉ đơn thuần lấy đồng quê làm đối tượng mô tả,
phản ánh mà còn bởi nó biết chắt lọc ra từ cuộc sống đồng quê những giá trị nhân sinh và thẩm mĩ tích cực được nâng lên thành một quan niệm sống, một cách nhìn thế giới và con người
Cũng vì lẽ ấy, người Việt chúng ta đâu có thể nào lại chối bỏ một thể thơ
có khả năng chuyên chở cái thần và cái hồn quê sâu sắc như thể thơ lục bát Một cách tự nhiên nhất, lục bát dường như được sinh ra và dành riêng cho việc biểu hiện lối sống, tâm hồn, cách cảm, cách nghĩ của người Việt ta Nó là tiếng nói cất lên từ trong cuộc sống bình dân, đi vào ca dao rồi chiếm lĩnh dần một khoảng quan trọng trong nền văn học nước nhà
Nếu khẳng định vị thế của thơ lục bát như vậy, có phải quá vì lòng tự tôn dân tộc? Phải chăng chỉ ở thơ lục bát mới có ưu thế thể hiện chất đồng quê? Bằng những cứ liệu văn học cụ thể, chúng ta có thể dễ dàng chứng minh khả
Trang 29năng này ở nhiều thể thơ khác nữa Ở thể thơ 4 chữ, chúng ta bắt gặp những câu thơ gần gũi ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày của người dân lao động trong niềm khát khao lao động mưu sinh:
Lạy trời mưa xuống Lấy nước tôi uống Lấy ruộng tôi cày Lấy đầy bát cơm Lấy rơm đun bếp…
(Ca dao) Thể thơ 5 chữ cũng không thiếu những vần thơ thấm đượm hồn quê Trong thơ của nhà thơ Tam Nguyên Yên Đổ- Nguyễn Khuyến, ta có thể bắt gặp hình ảnh của một đêm hè vùng đồng chiêm trũng qua tâm hồn tinh tế của nhà thơ Một đêm hè đầy oi ả nhưng lại êm ái, thiết tha đến xao xuyến lòng người:
Tháng tư đầu mùa hạ Tiết trời thật oi ả Tiếng dế kêu thiết tha Đàn muỗi bay oi ả Nỗi ấy biết cùng ai Cảnh này buồn cả dạ
(Đêm mùa hè) Trong thơ ca kháng chiến chống Pháp, ta lại gặp hình ảnh đồng lúa, nơi người vợ đang tần tảo chăm lo lao động để người chồng yên tâm ra trận Đồng lúa ấy là kết tinh của tình yêu thương chồng vợ và lòng yêu nước sâu sắc
Mặt trời lên càng tỏ Bông lúa chín thêm vàng Sương treo đầu ngọn cỏ Sương lại càng long lanh Bay vút tận trời xanh
Trang 30Chiền chiện cao tiếng hót
Ở Thể thơ bảy chữ, hồn quê, tình quê cũng chan chứa, đậm đà đến mượt
mà một cách tự nhiên Ngay trong thơ của thi sĩ chân quê Nguyễn Bính, những bài thơ làm theo thể thơ này tương đối nhiều và đem lại cho tác giả không ít thành công Một mùa xuân xứ Bắc hiện lên với vẻ đặc trưng, khiến mỗi người sống nơi làng quê Việt phải bâng khuâng, sao xuyến:
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”
(Mưa xuân) Đặc biệt trong thể thơ Đường luật, bên cạnh sự trang trọng, trang nhã, chặt chẽ mang đặc trưng riêng của nó Không ít những vần thơ mộc mạc, chân thành bình dị của quang cảnh đồng nội, lối sống làng quê Đó cũng là niềm say sống bình dị và rất con người của tác giả:
Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao
(Nhàn- Nguyễn Bỉnh Khiêm ) Nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải lại yêu cái mộc mạc của cảnh vật đời thường:
Khóm trúc rì rào trận gió đưa
Ba gian nhà lá cảnh quê mùa
Trang 31Đàn gà ổ xuống khua trời sáng
Lũ trẻ đồng về rộn lúc trưa Khúc hát bên chuôm con quốc hoạ Cân cười dưới nguyệt cái ve thưa Cơm ngày ba bữa rau, tôm, cá
Xe ngựa đi về mặc nắng mưa
(ở nhà quê) Thể thơ song thất lục bát cũng tỏ ra có thế mạnh khi thể hiện khung cảnh làng quê, tâm hồn và cuộc sống sinh hoạt, tâm tình của con người nơi ruộng lúa, vườn rau, ao cá:
Áo xông hương của chàng vắt mắc Đêm em nằm em đắp lấy hơi Gửi khăn, gửi túi, gửi lời, Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa
Ngoài ra, các thể thơ như thể 8 chữ, thể hỗn hợp, tự do… cũng đều ít nhiều
có ưu thế khi thể hiện cuộc sống, tâm hồn con người nhà quê Ấy là dòng tâm tình của những người lính trong kháng chiến chống Pháp ra đi từ làng quê, luôn giữ trong lòng hình ảnh của quê hương, xóm làng được thể hiện qua bài thơ theo lối tự do:
Áo vải chân không
Đi lùng giặc đánh
Ba năm rồi gửi lại quê hương
Mái lều gianh Tiếng mõ đêm trường Luống cày đất đỏ…
Vậy đấy, đâu chỉ có thể lục bát là có chất đồng quê! Nhiều thể thơ khác cũng in dấu không ít những tâm sự, cảm quan, lối sống sinh hoạt của con người làng quê Việt Nam Nhưng vẫn phải thấy rằng, ít có thể loại thơ ca nào
Trang 32trong nền văn học Việt Nam có khả năng chuyên chở chất đồng quê phổ biến, nổi bật như thể thơ lục bát Thật khó mà biết được rằng, lục bát đã chọn đồng quê hay đồng quê đã chọn lục bát Chỉ biết rằng, mỗi câu lục bát khi ngân lên như mang theo cả cuộc sống chìm nổi, mộc mạc của con người thôn dã Trong các thể thơ khác như thể 4 chữ, 5 chữ, có nhiều bài, chất đồng quê cũng khá đặc sắc Thế nhưng, những thể thơ này vốn ngắn gọn, cô đúc, khó có khả năng biểu đạt lối sống, tâm hồn người quê Việt một cách linh hoạt, mềm mại, bình dị, cụ thể như thơ lục bát được Thơ Đường luật, thơ 7 chữ, 8 chữ lại thường nghiêng về âm hưởng, khí vị trang trọng cổ điển, đôi khi còn chưa thật thích hợp để thể hiện lối sống, suy nghĩ của con người dân lao động quê mùa Riêng thể thơ tự do, thể thơ có thế mạnh biểu đạt cảm xúc, suy tư con người, nhưng đây vốn là một thể thơ được hình thành thông qua quá trình “Tây hoá”,
do thế, chất đồng quê trong thể thơ này cũng không đồng đều, mộc mạc như ở thể thơ lục bát
Ngay từ cấu trúc âm luật sáu- tám nhẹ nhàng, mượt mà, giản dị, hài hoà,
dễ phối thanh, thể lục bát vốn dĩ đã rất gần gũi lối nói của người dân quê, dễ nghe, dễ nhớ Phù hợp với cảm xúc, lối sống của con người Việt Nam ta Hơn nữa, dung lượng một bài lục bát khá đa dạng Có thể chỉ là một cặp sáu- tám
tả tình, tả cảnh Rộng hơn có thể kéo dài tới hàng ngàn câu thơ miêu tả một cốt truyện, một bức tranh cuộc sống đa diện
Cũng bộn bề, biến đổi như cuộc sống, thể lục bát luôn làm mới mình trên nền tảng những giá trị đã có để phù hợp hơn với thời đại và tâm lí con người Thể lục bát có có khả năng biến hoá khiến người ta ngạc nhiên Nó có thể duy trì hình thức chuẩn mực cổ điển, có thể trở về với dân gian hoặc tiến lên theo thi pháp hiện đại Sinh ra từ cuộc sống bình dân nơi làng quê, đi vào ca dao rồi tiến sâu vào những sáng tác văn học viết, thơ lục bát mỗi lúc càng khẳng định rõ hơn sức sống mãnh liệt của mình Một cách tự nhiên nhất, lục bát đã được nhân dân ta lựa chọn là thể thơ mang điệu tâm hồn Việt Ngược lại, nhờ tâm hồn Việt, hơi thở Việt mà thơ lục bát mới có được sức mạnh để tồn tại
Trang 33Trên bình diện thưởng thức, thơ lục bát được dân ta ưa chuộng, gìn giữ Trải qua biết bao bước thăng trầm của cuộc sống, thơ lục bát vẫn tiếp tục giữ được vị trí quan trọng của mình trong đời sống và văn học Việt Nam Được nhiều tác giả lựa chọn và yêu thích trong quá trình sáng tác Tính riêng trong thời kì văn học hiện đại, chúng ta đã có được khá nhiều những đại diện tiêu biểu mà tên tuổi đã gắn liền với thể thơ lục bát như: Tản Đà, Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu… Trong số đó phải kể tới hai tên tuổi góp phần làm nên tiếng tăm của thơ lục bát Việt Nam hiện đạổitng những năm gần đây là Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn
Trang 34lí khi viết:
Quê hương là gì hở mẹ
Mà sao cô giáo dạy phải yêu
(Quê hương) Hoá ra, những cái gần gũi nhất mà hàng ngày người dân quê đối mặt lại là những điều cao quí hơn cả Thiếu vắng nó, con người sẽ “khó lớn nổi thành người” Vì thế, nhà nho Nguyễn Trung Ngạn khi đi sứ ở Trung Quốc, sống giữa mảnh đất phồn hoa đô hội, chắc hẳn không thiếu gì những món ngon vật
lạ, sơn hào hải vị Vậy mà lại nhớ da diết quê hương mộc mạc, mến yêu:
Dâu già lá rụng tằm vừa chín Lúa sớm bông thơm cua béo ghê Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt Dầu vui đất khách chẳng bằng về (Lão tang diệp lục tàm phương tận Tảo đạo hoa hương giải chính phì Kiến thuyết tại gia bần diệc hảo Giang Nam tuy lạc bất như qui)
(Qui hứng)
Trang 35Quê hương mộc mạc vậy đấy, nhưng có ai đi xa mà không nhớ, không thương Mỗi cảnh vật, mỗi con người quê ân tình luôn ở trong tim người đi xa:
Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương Nhớ người một nắng hai sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
(Ca dao) Nguyễn Bính, chàng thi sĩ chân quê khi tha hương, dấn thân vào mảnh đất kinh kỳ không khỏi bồi hồi, đau đáu một nỗi lòng nhớ quê:
Sao chẳng về đây, nỡ lạc loài Giữa nơi thành thị gió mưa phai Chết dần từng nấc rồi mai mốt Chết cả mùa xuân, chết cả đời
(Sao chẳng về đây) Hình ảnh làng quê trong thơ ca cách mạng cũng khá phổ biến Đó là tiếng lòng thương mến của những người con áo vải ra đi chiến đấu, mang theo những tấm lòng quê hương đáng mến Những người lính ngoài chiến trận vẫn
là những người quê chân thật, mộc mạc Họ thấy ở nhau sự đồng cảm, đồng cảnh ngay từ cái nơi mà họ đã bước chân ra đi:
Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Tôi với anh đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau…
(Đồng chí- Chính Hữu) Làng quê gian khó đấy, vất vả đấy nhưng đáng quí biết nhường nào Chính những gian lao vất vả đã tạo nên hình ảnh những người lính vừa vất vả, vừa kiên cường với tinh thần quyết chiến bảo vệ non sông:
Từ những năm đau thương chiến đấu
Đã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre đôn hậu
Đã bật lên những tiếng căm hờn
Trang 36(Đất nước- Nguyễn Đình Thi) Làng quê hiện lên trong thơ ca Việt luôn là những hình ảnh giản dị, mộc mạc, nghèo khó nhưng giàu truyền thống văn hoá Nơi ấy, con người gắn bó nghĩa tình với nhau, văn hoá làng thôn đã trở thành nét văn hoá không thể thiếu trong đời sống xã hội Việt Nam Con người gắn bó với nhau bằng mối quan hệ cộng đồng làng xã, tối lửa tắt đèn có nhau, coi nhau như anh em ruột thịt Nhà thơ Hoàng Cầm khi xa quê không khỏi xúc động nhớ về vùng quê giàu truyền thống văn hoá, nơi mà ông đã sinh ra và lớn lên đang bị quân thù tàn phá:
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp…
(Bên kia sông Đuống) Cảm hứng về làng quê, quê hương đã trở thành nguồn mạch trong suốt, là bầu sữa nuôi sống biết bao hồn thơ Việt Từ nguồn mạch ấy, hồn thơ Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn đã dần lớn dậy
Cảnh quê trong thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn
1.2.1 Bức tranh với những hình ảnh đượm chất đồng quê
Văn học nghệ thuật là một hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Nói như Lênin: “Có những đối tượng, vật, vật thể, tồn tại ở ngoài chúng ta, không lệ thuộc vào chúng ta, và cảm giác của chúng ta đều là hình ảnh của thế giới bên ngoài” Mở rộng ra như Secnưepxki: “Phạm vi của nghệ thuật gồm tất cả những gì có trong hiện thực làm con người quan tâm…cái mọi người quan tâm trong đời sống là nội dung của nghệ thuật” (61)
Thơ lục bát của Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn cũng không nằm ngoài những qui luật ấy Nó thể hiện những hiện thực, những trải nghiệm trong đời sống mà các tác giả này đã kinh qua Chắc không có gì lạ khi trong thơ họ, hình ảnh, hương vị của những làng quê Việt lại có dấu ấn sâu đậm đến vậy
Trang 37Trong đời sống nói chung, văn học nghệ thuật nói riêng, thiên nhiên luôn chiếm một vị trí quan trọng Con người là một phần của thiên nhiên, sinh ra từ
tự nhiên và sống trong mối tương quan với tự nhiên, thiên nhiên ấy Sự hiện diện của thiên nhiên trong văn học đã trở thành một điều tất yếu Nếu vắng bóng thiên nhiên, văn học nghệ thuật sẽ trở nên rất khô khan, hạn chế
Ở mỗi thời điểm, mỗi không gian, thiên nhiên lại mang một khuôn hình khác nhau Nhà văn sống giữa thiên nhiên nào sẽ chịu sự tác động, chi phối của chính thiên nhiên ấy Từ bao đời nay, thiên nhiên đã trở thành nguồn cảm hứng dồi dào không bao giờ vơi cạn của thi sĩ Thiên nhiên trong văn học không chỉ là thế giới được miêu tả một cách đơn thuần Nó còn thể hiện thế giới nghệ thuật, thể hiện tư tưởng, lối sống, tâm trạng, tâm hồn của con người Trước đây, trong thơ ca cổ, thiên nhiên vẫn là đối tượng để thể hiện tâm tư, cảm xúc của con người, nhưng do sự chi phối của quan niệm “văn dĩ tải đạo”,
“thi dĩ ngôn chí” nên phần nào thiếu vắng vẻ đẹp hồn nhiên vốn có Thiên nhiên trong thơ ca lúc đó thường được nói đến với “phong, vân, tuyết nguyệt”, “tùng, cúc, trúc, mai” hướng vào tính thống nhất của con người với ngoại cảnh Thơ ca hiện đại đã thực sự có những đổi mới, những cách tân vượt bậc Nó đã được khắc hoạ, miêu tả với những vẻ đẹp vốn có Trở thành điểm tựa cho nguồn mạch cảm xúc tâm hồn của con người theo đúng nghĩa Trở lại với thơ lục bát của Nguyễn Duy và của Đồng Đức Bốn, thiên nhiên
đã được hai nhà thơ này khắc hoạ theo những cách riêng, mang đậm cá tính sáng tạo Đó là thiên nhiên đất nước, quê hương Việt Nam, mà đa phần là bức tranh những làng quê bình dị, nơi họ đã sống hoặc đã đi qua trong những cuộc hành quân, trong những chuyến đi của cuộc đời Là sự thể hiện của một tâm hồn quê luôn mong vươn tới những giá trị của chân- thiện- mĩ Thiên nhiên đồng quê trong thơ lục bát Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn hiện lên trước nhất với hình ảnh của những khu vườn quê, những cánh đồng quê có những đặc trưng riêng Những bờ tre, bụi dứa, ao cá, cánh bèo, cây mơ, cây mận… hiện lên thật mật thiết, gần gũi quê mùa
Trang 38Trong thơ lục bát Nguyễn Duy, thiên nhiên quê được nhìn nhận trong sự
gắn bó với con người, là biểu tượng con người Việt Nam Cây tre trong bài thơ Tre Việt Nam là biểu tượng của những con người Việt Nam, tiêu biểu cho
quan niệm của tác giả về phẩm chất con người đất Việt Nguyễn Duy thật khéo léo khi lựa chọn một biểu tượng đẹp và gần gũi Sống giữa mảnh đất cằn cỗi, những làng quê nghèo khó nhưng “tre” vẫn giàu sức sống, vẫn cứng cáp
và giàu một tấm lòng yêu thương sâu sắc Những phẩm chất cao đẹp ấy được tạo dựng từ sự chắt chiu, cần cù, siêng năng và từ chính bản chất vốn có của
“tre” Thế mới biết, đôi lúc những cái lớn lao, cao quí lại được hình thành từ những gì giản dị, đời thường nhất
Có gì đâu, có gì đâu
Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều
Rễ siêng không ngại đất nghèo Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù
Vườn quê cũng là nơi khơi lên những cảm xúc từ trong sâu thẳm tâm hồn tác giả Đi qua vùng đất thơ mộng của sông Hương núi Ngự xứ Huế, nhà thơ lại trào dâng một nỗi “nhớ bạn” Gợi hứng cho nỗi nhớ ấy là những gì thân mến nhất: là hàng dâu loáng thoáng, là vườn lựu và đồi hoa mơ đang chớm mùa:
Bến Tuần loáng thoáng hàng dâu
Em xa vườn lựu từ lâu lắm rồi Lối mòn đá cuội dong chơi
Lơ thơ trắng dưới chân đồi hoa mơ
(Nhớ bạn) Không chỉ yêu, nhà thơ còn say mê đối với đồng quê Có nhiều lần, Nguyễn Duy thích thú khi tìm tới làm bạn với những côn trùng, những cây cỏ quê mùa hoang vu Khoảnh khắc ấy, hồn thơ Nguyễn Duy phiêu du, phiêu bồng vào một miền sâu thẳm đặc trưng của cảnh vật hoang dại đồng nội
Dang tay ngang mặt thảo nguyên Dang chân ta ngả mình bên côn trùng
Trang 39Ngỡ bay lên khoảng vô cùng Lại đằm xuống cỏ giữa vùng hoang vu
Đã đến với đồng quê, đến với làng quê, ắt hẳn ai đó cũng sẽ nghĩ ngay tới hình ảnh những cánh đồng đầy lúa, ngô, hoa cỏ bởi đó là những gì quan trọng nhất tạo nên chất đồng của vùng đất quê mùa Nguyễn Duy đã tìm đến và khắc hoạ khung cảnh nên thơ, thanh bình đó bằng tấm lòng sâu lắng, thiết tha:
Đồng chiêm phả nắng lên không Cánh cò dẫn gió qua thung lúa vàng Gió nâng tiếng hát chói chang Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời
Những bông lúa trong vụ chiêm đang độ chín vàng, cánh cò “bay lả bay la” cùng những làn gió nhẹ như đưa hương thơm, mùi vị của cánh đồng vào sâu thẳm tâm hồn của mỗi chúng ta
Nguyễn Duy thường cảm nhận và đưa vào thơ lục bát của mình những gì đời thường, mộc mạc, đôi khi là nhỏ bé thoáng qua nhưng lại mang giá trị sâu sắc như chính lối sống giản dị mà tinh tế của nhà thơ Nói như Hoài Thanh:
“Cái điều ở người khác đôi khi chỉ là chuyện thoáng qua Nhưng ở anh, nó lắng sâu và dường như dừng lại” (46) Đúng như vậy, hình ảnh của những cây
cỏ, hoa lá trong thơ Nguyễn Duy đâu có xa lạ gì Nó mộc mạc quá đỗi Nhiều khi đọc đến và cảm nhận, ta như giật mình nhận ra một điều thú vị, giản dị mà
từ lâu đã lãng quên Nói đến hoa, Nguyễn Duy yêu mến và tìm về hình ảnh của những loài hoa giản dị, mộc mạc nơi quê mùa Hồn quê tinh tế và tấm lòng nhà thơ phát hiện ra vẻ đẹp của thứ hoa lúa quen thuộc trong bài thơ thất ngôn Một vẻ đẹp đời thường mà đâu phải ai cũng thấy Nhà thơ cũng thể hiện một quan niệm sống hết sức sâu sắc, đời thường:
Em có nhiều hoa người ta tặng Hoa lúa đồng xưa giờ thế nào Thứ hoa quí nhất trên đời ấy
Trang 40Thì chả ai đem mà tặng nhau
Cây quả trong thơ Nguyễn Duy cũng là những cây quả mộc mạc quê mùa Những thứ quả như chuối, hồng, dứa, nhãn, cam, vải, rồi sầu riêng, mận hậu…in dấu rất đậm đặc trưng cho chốn quê mùa Việt Nam Chất đồng quê
đã thấm sâu vào tận đáy lòng tác giả, những gì ông đã từng đưa vào thơ lục bát của mình đâu chỉ có ở không gian làng xã nơi ông sinh sống Đó còn là cảnh vật trong những khu rừng mà ông đã hành quân qua hoặc những thành thị thời bình Tất cả đều được khắc hoạ dưới cảm quan của một thi sĩ đồng quê Nó không chỉ là cảnh quê được tái hiện đơn thuần nữa Nó là tấm lòng yêu quê, là phẩm chất và những triết lí sâu sắc nhà thơ có được khi tắm mình giữa những cái mộc mạc cao quí
Cùng một chiếu với Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn cũng có những hình ảnh thơ in đậm dấu vết của làng quê Thơ lục bát Đồng Đức Bốn đã góp phần không nhỏ trong việc đánh thức tâm hồn những con người quê trong cuộc sống hiện đại Ông cũng đã xây dựng được một khu vườn quê với những cây
cỏ, hoa lá quen thuộc trong thơ mình Nói về cây tre, bụi dứa, tuy chưa cụ thể hoá như trong thơ lục bát Nguyễn Duy nhưng đó cũng là hiện thân của những tâm trạng, cảm quan, suy nghĩ về sự tan vỡ của những giá trị truyền thống nào
đó, về một sự khập khiễng, không cân đối trong cuộc sống hiện tại
Bờ tre bụi dứa tan rồi Cuốc kêu ai biết cho lời cuốc đâu
Nhiều hình ảnh quen thuộc trong thơ ca dân gian và thơ ca truyền thống đã
in sâu, lắng đọng trong tâm hồn Đồng Đức Bốn Những hình ảnh ấy gần gũi đời thường, mộc mạc mà nên thơ Nhưng phải thấy rằng, trong thơ Đồng Đức Bốn, những hình ảnh ấy vừa gắn liền với truyền thống lại vừa mang một sắc diện mới mẻ, giống như muốn nổi loạn, muốn phá phách để tìm ra một con đường đi riêng cho thơ mình Với hình ảnh trầu cau, nhà thơ cũng nhận ra:
Đã trầu thì phải có cau