Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc khảo sát nhịp điệu trong các bài thơ lục bát của Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn để thấy đ-ợc sự kế thừa và cách t
Trang 1Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1 Trong suốt chiều dài phát triển của lịch sử nhân loại, thơ luôn là nhu cầu trong đời sống tâm linh của mỗi con ng-ời, là sản phẩm sáng tạo của tâm hồn và trí tuệ con ng-ời Khi con ng-ời nhận thức đ-ợc mối quan hệ giữa mình với thực tại và
có nhu cầu tự biểu hiện thì thơ ca xuất hiện Thơ đi vào lòng ng-ời nh- một sức sống mãnh liệt và trở thành ng-ời bạn đồng hành không thể thiếu của con ng-ời và xã hội
Có thể nói, thơ là hình thức sáng tác văn học đầu tiên của loài ng-ời và trong thời gian dài thuật ngữ thơ đ-ợc dùng chung cho văn học Về sau, khi con ng-ời phát triển đến một trình độ nhất định thì những niêm luật đ-ợc ấn định cho thơ chẳng qua
là sự xác lập một cơ chế điều chỉnh cho ngôn ngữ thơ trong những khuôn hình âm nhạc nhất định Dĩ nhiên, mỗi dân tộc đều có một nền thi ca đặc tr-ng gắn với những thể thơ nhất định Thơ tiếng Việt có các thể từ hai đến m-ời hai tiếng nh-ng các thể thơ quen thuộc của ng-ời Việt là lục bát, song thất lục bát, thơ năm chữ, thơ bảy chữ, trong đó lục bát là thể thơ độc đáo bậc nhất trong nền thơ ca Việt Nam Có thể nói, những nét độc đáo tinh hoa của tiếng Việt thể hiện đặc điểm tâm lý - thẩm mỹ của
đời sống tinh thần dân tộc đã dồn đúc thành khuôn sáu - tám lục bát Lục bát là thể thơ song hành với sự phát triển ngôn ngữ và văn hóa Việt cần đ-ợc nghiên cứu một cách công phu nhằm tôn vinh vẻ đẹp của nó
1.2 Việc tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ thơ là vấn đề rất phức tạp Từ tr-ớc đến nay, các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu giá trị của thơ thì đều nhấn mạnh tính nhạc của thơ và cho rằng "thơ là lời nói đã đ-ợc nhạc hoá" Tuy nhiên, đối t-ợng nghiên cứu vẫn ch-a đ-ợc
định hình và rất mơ hồ Nh-ng d-ới ánh sáng của ngôn ngữ học hiện đại, lý thuyết nhạc thơ
đ-ợc đặt ra cụ thể qua các công trình nghiên cứu và các bài viết của các tác giả nh-: Võ Bình (1975, 1984, 1985), Mai Ngọc Chừ (1984, 1991, 2006), Nguyễn Phan Cảnh (2007),
Vũ Thị Sao Chi (2005), Nguyễn Thị Thanh Hà (2002), Nguyễn Hoài Nguyên (2007), Lí Toàn Thắng (1999), Nguyễn Ph-ơng Thuỳ (2004), Với các ph-ơng diện nhạc tính trong thơ nh- vần thơ, b-ớc thơ, phối thanh, nhịp thơ… thì họ cho rằng nhịp là đặc tr-ng cơ bản của hình thức thơ, là yếu tố quan trọng tạo nên tính nhạc cho thơ và đây cũng chính là cơ sở
để phân biệt thơ ca với văn xuôi Hơn nữa, nhịp không chỉ tạo ra tính nhạc cho thơ mà còn
Trang 2biểu hiện tình cảm, cảm xúc Vì nhịp thơ có tính mỹ học do con ng-ời tạo ra để thể hiện t- t-ởng tình cảm Do vậy, các trạng thái rung cảm, cảm xúc chính là nhịp của trái tim, nhịp của tâm hồn, là biểu hiện cung bậc tình cảm khác nhau trong tâm hồn của mỗi nhà thơ… tất cả đ-ợc in dấu qua cách ngắt nhịp
1.3 Vốn là một thể thơ định hình từ ca dao - những bài hát đồng quê, qua Truyện Kiều, lục bát trở thành mẫu mực nh-ng đến thời hiện đại, thể thơ này trở nên phong phú, đa dạng nhờ những cách tân bắt đầu từ Tản Đà đến Huy Cận, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn và hàng loạt tác giả trẻ khác ở lục bát, giữa cấu trúc ngôn ngữ đầy nhạc tính và nội dung biểu hiện là có sự phù hợp cao Cấu trúc ngôn ngữ giàu nhạc tính đ-ợc thể hiện qua phân bố thanh điệu, hiệp vần, ngắt nhịp đã hàm chứa các tham số của quá trình chọn lọc tự nhiên của ng-ời Việt suốt tr-ờng kỳ lịch sử cho đến ngày nay Trong ba yếu tố đó, yếu tố nhịp mang tính
đặc thù, là x-ơng sống của dòng thơ, đoạn thơ, bài thơ, có tác dụng liên kết các yếu
tố ngữ âm lại với nhau để tạo nên nhạc tính Đó là lý do để chúng tôi chọn đề tài
“Nhịp trong thơ lục bát hiện đại” làm luận văn tốt nghiệp
Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc khảo sát nhịp điệu trong các bài thơ lục bát của Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn để thấy đ-ợc sự kế thừa và cách tân sáng tạo về nhịp của các nhà thơ hiện đại so với thể thơ lục bát truyền thống Bên cạnh đó, luận văn cũng góp phần làm sáng tỏ giá trị nhịp trong thơ lục bát nói riêng và thơ Việt Nam nói chung
2 Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu về thơ lục bát, từ lâu đã có rất nhiều ng-ời quan tâm với những góc
độ khác nhau Nh-ng theo chúng tôi tìm hiểu, cho đến nay vẫn ch-a có nhiều công trình nghiên cứu độc lập về thơ lục bát và nhất là về nhịp trong thơ lục bát Tất cả những công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến ph-ơng diện lý thuyết hoặc khảo sát qua một số tác giả mà thôi Chẳng hạn, có những bài viết tiêu biểu về thơ lục bát nh-: Tác giả Phan Ngọc, với bài viết "Tác dụng và ảnh h-ởng của câu tục ngữ đối với việc hình thành câu lục bát ngày nay" Tác giả Nguyễn Xuân Kính" Những đóng góp mới trong việc nghiên cứu thể loại thơ lục bát", Tạp chí văn hoá dân gian, số 1/1990, và "Việc vận dụng thi pháp ca dao trong thơ trữ tình hiện nay", Tạp chí văn học, số 11/1994 Tác giả Hà Quảng " Một số cách tân trong thể thơ lục bát hiện đại", Tạp chí văn học, số 9/1987 ở các bài viết này, các tác giả mới chỉ tập trung miêu tả, đánh giá kết cấu vần luật của thể thơ lục bát Một số tác giả với cách nhìn
Trang 3mới từ góc độ ngôn ngữ học, lấy ph-ơng pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học ứng dụng vào việc phân tích để nhận ra các tầng bậc và các mối quan hệ về tổ chức ngôn ngữ bên trong của thể thơ này Theo hướng nghiên cứu này là các công trình “Thử bàn thêm về thể lục bát” của Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình (1985), “Tiếng Việt và thể thơ lục bát” của Nguyễn Thái Hòa (1999), “Lục bát Huy Cận: Ngậm ngùi” của Lý Toàn Thắng (1999), “Lục bát và song thất lục bát” của Phan Thị Diễm Phương (1999), “Thơ lục bát Việt Nam hiện đại từ góc nhìn ngôn ngữ” của Hồ Hải (2008),… Công trình nghiên cứu của tác giả Hồ Hải (2008) dành hai chương nghiên cứu về “Sức quyến rũ của nhạc điệu thơ lục bát” (chương 2)
và “Các phương tiện tạo nghĩa trong thơ lục bát” (chương 4) Cho đến nay, đây là công trình có thể xem là t-ơng đối công phu, đầy đủ về ngôn ngữ thơ lục bát Dĩ nhiên, những thao tác định l-ợng, định tính cần phải có những số đo cụ thể, chính xác cho ngôn ngữ thơ lục bát thì câu chuyện ch-a phải đã kết thúc
Ngoài ra, một số luận văn, khoá luận bàn về nhịp trong thơ lục bát nh-: Phạm Thị Ph-ơng Thuý (1982), với "Nhịp điệu thơ lục bát của Tố Hữu, luận văn thạc sĩ;
Đậu Thị L-ơng Anh (2007), với "Nhịp điệu thơ lục bát Huy Cận, khoá luận tốt
nghiệp đại học; Lê Thị Đào (2004), với "Luật bằng - trắc lục bát Tố Hữu", khoá luận tốt nghiệp đại học Tuy nhiên, những nghiên cứu trên mới chỉ ra những nét cụ thể về nhịp trong thơ lục bát ở một số tác giả cụ thể còn nhìn trong thế tổng quát thì vẫn ch-a đ-ợc đề cập đến Với đề tài này, ở một mức độ nhất định, chúng tôi sẽ cố gắng khảo sát cấu trúc nhịp trong thơ lục bát hiện đại, góp phần làm sáng tỏ thơ lục bát hiện đại phát triển nh- thế nào so với thơ lục bát truyền thống, chỉ ra những giá trị bất biến và khả biến của thể thơ này
3 Đối t-ợng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối t-ợng nghiên cứu
Luận văn khảo sát nhịp trong thơ lục bát hiện đại thông qua việc khảo sát nhịp trong thơ lục bát của các tác giả tiêu biểu của thơ hiện đại nh-: Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, cụ thể là khảo sát cách ngắt nhịp trong câu lục, câu bát và câu thơ lục bát
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi đặt ra cho luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
- Thu thập và thống kê các bài thơ lục bát của Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, xác lập các khuôn nhịp và những cách ngắt nhịp
Trang 4trong câu lục, câu bát và câu lục bát, khảo sát để xác định tần số xuất hiện các loại nhịp trong thơ lục bát
- Qua miêu tả và phân tích cách tổ chức nhịp điệu trong thơ lục bát hiện đại, chỉ ra sự kế thừa và cách tân về hình thức thơ theo khuynh h-ớng hiện đại hoá
- Xem xét nhịp trong mối quan hệ với vần và thanh điệu để thấy đ-ợc sự chi phối của các yếu tố trong việc tổ chức nhạc tính trong thơ lục bát hiện đại
4 Nguồn t- liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn t- liệu
4.1.1 Nguyễn Bính có 84 bài thơ của 11 tập thơ đ-ợc giới thiệu trong Tuyển tập Nguyễn Bính, Nhà xuất bản văn học, Hà Nội, 1986, trong đó có 33 bài thơ lục bát: (Thời tr-ớc; Không đề; Lỡ b-ớc sang ngang; Đàn tôi; Chân quê; Đêm cuối cùng; Qua nhà; Quan trạng; Giấc mơ anh lái đò; Chùa vắng; Hoa cỏ may; Chờ nhau; Tình tôi; Ng-ời hàng xóm; Không ngủ; Bóng b-ớm; Tr-a hè; Bên hồ; áo anh; Làm dâu; Vài nét rừng; Khách hẹn; Vài nét Huế; Thu rơi từng cánh; Tựu tr-ờng; Lửa đò; Anh về quê cũ; Đ-ờng rừng chiều; Th- gửi về cha; Chiếc nón; Chuyện tiếng sáo diều, Đôi mắt; Trông bóng cờ bay).4.1.2 Huy Cận trong tuyển tập Huy Cận 2 tập Tập I xuất bản 1986, tập II xuất bản 1995 Chúng tôi khảo sát có 40 bài Các bài thơ lục bát lấy làm t- liệu của khoá luận đ-ợc chúng tôi rút ra từ các tập thơ sau đây:
- Lửa thiêng (1930), 8 bài: (Buồn nửa đêm; Trông lên; Chiều x-a; Đẹp x-a; Ngậm ngùi; Xuân ý; Thu rừng; Thuyền đi)
- Vũ trụ ca (1942), 2 bài: (Nắng đào; Nằm nghe ng-ời thở)
- Trời mỗi ngày lại sáng (1958), 6 bài: (Vệt lá trên than; Thu về trên đèo nai; Nằm trong tiếng nói; Hoa lay bóng sáng; Đồng quê bát ngát; Quanh nơi làm việc)
- Đất nở hoa (1960), 3 bài: (Sang xuân; Hoa sấu bầy ong; Trăng xuân)
- Bài thơ cuộc đời (1963), 5 bài: (Chờ con ra đời; Mỗi buổi chiếu tới đón con về; Nhật kí đi đ-ờng; Gió chuyển mùa; Trăng rằm mọc)
- Chiến tr-ờng gần đến chiến tr-ờng xa (1973), 2 bài: (Mẹ đi lấp hố bom; Về thăm quê xã Đức Ân)
- Ngày hằng sống ngày hằng thơ (1975), 5 bài:(Thăm lò chum; Mẹ ơi; Đời mẹ;
Đêm trăng m-a; Cây hoàng lan v-ờn tôi; Chiều đông nghe nhạc Betthoven)
- Ngôi nhà giữa nắng (1978), 2 bài: (Đêm hè nghe nhạc; Gửi một ng-ời bạn
điêu khắc)
Trang 5- Hạt lại gieo (1984), 4 bài: (Mẹ con con mèo; Chiêm bao; Nằm bệnh viện; Nhớ con út; Nhạc ơi)
- Chim làm ra gió (1991), 3 bài: (Tuổi thơ chơi vụ; Gọi điện thoại; V-ờn hồng)
- Tao phùng (1993), 1 bài: (Yêu đời)
Ngoài ra con những bài thơ khác nh-: Cảm thông; Gối tay; Tóc em; Anh vào hiệu sách; Hỡi em yêu, hỡi em th-ơng; Miken- lăng; Mùa xuân vĩnh viễn…
4.1.3 Tố Hữu trong tuyển tập thơ Tố Hữu có 59 bài
- Từ ấy (1937 - 1946), 8 bài: (Tiếng sáo li quê; Khi con tu hú gọi bầy; Đông; Cảm thông; Đêm giao thừa; Tiếng hát trên đê; Vỡ bờ; Đói!Đói)
- Việt Bắc (1946 - 1954), 8 bài: (Tr-ờng tôi; Bầm ơi; M-a rơi; Bài ca của ng-ời du kích; Cho đời tự do; Nếu thầy mẹ chết; Ta đi tới; Việt Bắc)
- Gió lộng (1955 -1961), 2 bài: (Tiếng ru; Cánh chim không mỏi)
- Ra trận (1972 -1971), 7 bài: (Nhật kí đ-ờng về; Tiếng hát sang xuân; Đ-ờng vào; Kính gửi cụ Nguyễn Du; Mẹ Suốt; Gửi ng-ời đi Pa-ri; Chuyện em)
- Máu và hoa (1972 -1977) 4 bài (Cây hồng; Thăm trại Ba Vì; N-ớc non ngàn dặm; Bài ca quê h-ơng)
- Một tiếng đờn (1979 -1992), 28 bài: (Phút giây; Mừng thọ bác Nguyễn Phan Chánh; Đêm xuân 85; Xta-lin-grat anh hùng; Phồn x-ơng; Đêm thu quan họ; Hà Trung; Luy Lâu; Cẩm Thuỷ; Ngọc Lặc; Nh- Xuân; Nông Cống; Tĩnh Gia; Hoằng Hoá; Quẵng X-ơng; Hậu Lộc; V-ờn nhà; D-ỡng sinh; Nhớ Chế Lan Viên; một thoáng Cà Mau; Đêm trăng năm căn; Nhà hoạ sĩ Tô Ngọc Vân; Chợ Đồng Xuân; Mới; Lạ ch-a; V-ờn cam T-ờng Lộc; Đồng Tháp M-ời; Tằm tơ Bảo Lộc; Xuân hành 92)
4.1.4 Nguyễn Duy trong 2 tập có 57 bài
- Về (1994), 40 bài: (Bao cấp thơ; Hàng Châu; Chùm mộng du; Kính th-a liền chị; Tôi và em, và…; Chùm tơ lụa; Xẩm giọng; Cơm bụi ca; Vô t-; Đ-ợc yêu nh- thể ca dao; Em ơi, gió…; Chùm thi sĩ; Vọng Tô Thị; Giấc mộng trắng; Mùa n-ớc nổi; Rau muối; Thuốc lào; Vải thiều; Mắt na; Chiều mận hậu; áo trắng má hồng; Dịu và nhẹ; Mời vợ uống r-ợu; Cõi về; Vợ ốm; Thời gian)
- Mẹ và em (?), có 17 bài: (Hầm chữ A; Tre Việt Nam; Bầu trời vuông; Cỏ dại; Nhớ bạn; Lời ru con cò biển; Lời ru đồng đội; Ngồi buồn nhớ mẹ ta x-a; Xuồng đầy;
Trang 6Ca dao vọng; M-a trong nắng, nắng trong m-a; Đám mây dừng lại trên trời; Bất chợt; Hoa gạo; Hoa phong lan; Hoa dại; T-ởng niệm)
4.1.5 Đồng Đức Bốn trong 3 tập có 115 bài
- Con ngựa trắng và rừng quả đắng (1992), 39 bài: (Cái đêm em ở với chồng; Cây Bồ Kết lắm gai; Đêm sông Cầu; Chạy m-a không chạy qua rào, Sông Th-ơng ngày không em; Tình tôi, tình em; Chợ Th-ơng; Hội Lim; S-ơng mù và cô gài mù; Ngõ quê; Sang sông; Phố Đèo; Đời tôi; Về Nhổn tìm em; Mong; T-ởng; Đ-ờng đi; Con ơi; Đi đò; ở phố bờ sông; ở phố Bà Quẹo; Ba ngày m-a; Phố nối m-a rào; Buổi sáng đ-ờng Lê Thánh Tông; Chơi thuyền trên sông H-ơng; Qua nhà ng-ời yêu cũ; ở
đâu; Nhà thờ; Chuông chùa Quán Sứ; Vu vơ chùa H-ơng; Thăm mộ Nguyễn Du; ở quán bán thịt cho về chiều; Đám cháy rừng; Mẹ tôi; Thơ viết gửi ng-ời tình khi tôi chết; Th- tình tôi viết cho Nga; Một mình; Nguyện cầu; Một thời đã mặc áo vua)
- Trở về với mẹ ta thôi (2000), 44 bài: (Chăn trâu đốt lửa; Chợ buồn; Hoa dong riềng; Cuốc kêu; Đợi chờ tháng ba; Cơn m-a dừng ở Sóc Sơn; Chuồn chuồn cắn rốn biết bơi; Nhớ Thuỵ Khuê; Vỡ đê; Đỏ và đen; Chín xu đổi lấy một hào; Thức với Côn Sơn; M-ời cô gái ở ngã ba Đồng Lộc; Nhớ; Khóc một dòng sông; Phố nối m-a rào; Chiều m-a trên phố Huế; Vu vơ chùa H-ơng; Viết ở bờ sông; Con sáo sang sông; Nhà quê; Ngày không em; Vào chùa; Thơ viết gửi ng-ời tình khi tôi chết; Mây núi Thái Hàng còn giông; Gửi Tân C-ơng; Viếng mộ nhà thơ Lê Tám ở trên đồi Thanh T-ớc; Bố tôi; T-ởng; Đời tôi; Nửa đêm Đà Lạt; Ng-ời ở lại buồn; Trả bút cho trời;
Đi xích lô đ-ờng Bà Triệu; Trở về với mẹ ta thôi)
- Chuông chùa kêu trong m-a (2002) 43 bài (Về lại chốn x-a; Chuông chùa kêu trong m-a; Đ-a em qua trận báo ng-ời; Xin ng-ời một khúc mộng mơ; Xéo gai anh chẳng sợ đau; Nói chuyện với những cây cỏ dại; Tựa bão để sống làm ng-ời; Gai rào ngõ quê; Cơn bão cho em; Th-ơng nhớ cho nhau; Đứng trong cơn bão mà trông; Chuông buồn; ở nghĩa trang Tr-ờng Sơn; Bây giờ vàng chẳng là thau; Chia tay một trận m-a rào; Tận cuối cơn m-a; Cuối cùng vẫn còn dòng sông; Hoang vắng; Hãy về
đây với bến sông; Em xa; ở với m-a giông; Với cây x-ơng rồng; Ra giêng anh lại tìm em; Câu ca mẹ hát nh- đùa; anh ngồi uống cả cánh đồng heo may; Mùa xuân;
Em đi lấy chồng; Nợ em; Ngồi nhớ Chí Phèo; Em là lục bát của tôi; Lời ru cho cỏ buồn; Ngõ nhỏ m-a dầm; Khi em ở Thái Nguyên về; Câu hát theo chồng; Duyên quê; Mùa xuân đi phủ Tây Hồ; Ngõ cấm chỉ; Gái một con trông mòn con mắt; N-ớc
Trang 7chảy qua sân; M-a gió về đâu; Những câu thơ dại; Tìm ng-ời; Th-ơng mình lặn lội
đ-ờng xa; Vẫn còn viết gửi Tân C-ơng)
- Với một đối t-ợng nh- vậy, luận văn sử dụng ph-ơng pháp so sánh đối chiếu,
đó là so sánh thơ lục bát hiện đại với thơ lục bát truyền thống để thấy đ-ợc sự cách tân sáng tạo của thơ lục bát hiện đại
5 Đóng góp của luận văn
Lục bát là linh hồn của dân tộc nên đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đặc biệt Có ng-ời cho rằng, lục bát đ-ợc định hình trong ca dao và đến Truyện Kiều thì
nó hoàn thành sứ mệnh lịch sử, nh-ờng chỗ cho những thể thơ khác Nh-ng trên thực
tế, dòng chảy lục bát vẫn tiếp tục cho đến ngày nay để thể thơ này có những đỉnh cao mới Các kết quả nghiên cứu về nhịp trong thơ lục bát hiện đại góp phần chứng tỏ
điều đó Bằng những thao tác định l-ợng, định tính với những số đo cụ thể, chính xác
về nhịp trong thơ lục bát hiện đại, luận văn đã cố gắng phân tích, miêu tả nhịp của thể thơ dân tộc một cách đầy đủ, toàn diện, có tính hệ thống nhằm chỉ ra giá trị bất biến và khả biến của lục bát
Trong thơ cách luật, âm thanh và ý nghĩa là hai mặt cơ bản cấu thành một bài thơ Vì vậy, theo h-ớng định l-ợng, định tính, luận văn xem xét nhịp trong thơ lục bát hiện đại chỉ là sự xem xét mang tính t-ơng đối Tuy nhiên, cá biệt hóa từng mặt trong quá trình nghiên cứu đối t-ợng để đi đến kết luận có tính khác biệt là cần thiết Hơn nữa, nhịp là yếu tố đặc tr-ng, có vai trò quan trọng nhất tạo nên nhạc điệu thơ lục bát nói riêng, thơ ca nói chung Do đó, h-ớng nghiên cứu của luận văn cùng với những kết quả đạt đ-ợc là làm sáng tỏ xu h-ớng của thơ lục bát và thơ ca hiện đại nói chung: đi tìm cảm thức thời đại trong nhạc điệu, thứ âm thanh hòa quyện một cách chặt chẽ với ý nghĩa
Trang 86 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục luận văn gồm 3 ch-ơng:
- Ch-ơng 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
- Ch-ơng 2: Cách tổ chức nhịp trong thơ lục bát hiện đại
- Ch-ơng 3: Quan hệ giữa nhịp với vần và thanh điệu
Trang 9Ch-ơng 1
Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
1.1 Vài nét về thơ hiện đại
1.1.1 Đầu thế kỉ XX với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, đất n-ớc Việt Nam đi vào con đ-ờng t- sản hoá Ngoài hai giai cấp cũ là địa chủ và nông dân còn hình thành giai cấp t- sản và vô sản, thêm vào đó là giai cấp tiểu t- sản, giai cấp trung gian Tuy nhiên, tất cả đó mới trong giai đoạn hình thành Bên cạnh sự biến
động của kinh tế xã hội thì văn học cũng vận động và phát triển theo một h-ớng mới
Đây chính là quá trình biến đổi tất yếu khách quan, yêu cầu canh tân đất n-ớc cũng nằm trong khuynh h-ớng chung của khu vực và của Châu á Văn học hiện đại v-ợt khỏi ảnh h-ởng và hạn chế của văn học những thế kỉ tr-ớc (mang tính trung đại, phong kiến) Dấu hiệu đầu tiên quan trọng là dùng chữ quốc ngữ Chữ quốc ngữ đã trở thành công cụ đắc lực tuyên truyền vận động phong trào yêu n-ớc Duy Tân Đặc biệt, thời kỳ dân chủ phong trào truyền bá chữ quốc ngữ sâu rộng trong quần chúng
đã trở thành một hoạt động văn hoá, chính trị Trên thực tế, những năm 20 về sau văn học hầu nh- chỉ còn văn học quốc ngữ; chữ quốc ngữ đóng vai trò tích cực trong việc hiện đại hoá văn học hiện đại Đầu tiên đổi mới và tăng thêm vốn từ t-ơng ứng với cuộc sống hiện đại, những vấn đề khoa học kỷ thuật, t- t-ởng văn hoá hiện đại ngoại nhập nh- cú pháp, cách diễn đạt cũng phải mới nhanh hơn rõ hơn Khi chữ quốc ngữ
sử dụng rộng rãi thì công chúng văn học thực sự tăng nhanh và thoả mản yêu cầu đa dạng của tầng lớp công chúng Tuy nhiên, nó cũng mới chỉ giới hạn ở tầng lớp xã hội các đô thị những thị dân nh-ng không còn thu hẹp với những ng-ời trí thức nho sĩ Thêm vào đó là sự xuất hiện những nhà in theo kỉ thuật hiện đại và báo chí cũng bắt
đầu phát triển tạo đà cho văn học Trong văn học có nhu cầu khẳng định cái tôi cá nhân, khẳng định cá tính sáng tạo của tác giả, có những tìm tòi về t- t-ởng nghệ thuật Từ đó, đã hình thành những quan điểm nghệ thuật khác nhau và những cuộc tranh luận đòi hỏi phải cách tân văn học mạnh mẽ theo h-ớng ph-ơng Tây hiện đại
1.1.2 Quá trình hiện đại hoá văn học là một quá trình với những nét chấm phá ban đầu dần dần tạo nên những vùng, những mảnh mờ trong t- t-ởng, t- duy nghệ thuật với những nổ lực cách tân to lớn làm nên khuôn mặt mới hiện đại của văn học Văn học thể hiện một quan điểm mới về xã hội, cuộc sống và con ng-ời Nhất là sau
Trang 10chiến tranh thế giới thứ nhất với sự hình thành và phát triển của giai cấp tiểu t- sản ở thành thị đã hình thành một lớp công chúng mới Lớp công chúng này có yêu cầu riêng về t- t-ởng, tình cảm và thị hiếu thẫm mỹ Họ đòi hỏi trong sáng tác văn học
và thi ca phải có tiếng nói riêng với những hình thức diễn đạt và ph-ơng tiện biểu hiện phù hợp và gần gũi với họ Trở lực đầu tiên chính là sự gò bó của hình thức thơ
Đ-ờng luật Thực ra, thơ Đ-ờng luật với những quy tắc sáng tác của nó đã từng là một hình thức biểu hiện phù hợp với nội dung, t- t-ởng và thị hiếu thẫm mỹ của một thời kỳ tr-ớc đây và đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị Nh-ng ở giai đoạn này thì hình thức thơ Đ-ờng luật đã trở thành trở ngại cho sự phát triển của t- t-ởng và cảm xúc mới Hình thức đó qua nhiều thế kỷ vốn đ-ợc suy tôn nh- một thể loại thi ca chính thống nên việc phê phán thơ Đ-ờng luật không phải là phê phán riêng những
gò bó về hình thức mà còn là sự tấn công vào những giá trị tinh thần và những tiêu chuẩn mỹ học của t- t-ởng phong kiến Bên cạnh đó, chủ nghĩa t- bản bắt đầu thâm nhập vào Việt Nam chúng tiến hành khai thác thuộc địa và đã vô tình đẩy nhanh làn sóng ph-ơng Tây vào n-ớc ta Cũng chính từ đó, giới trí thức trẻ đã nhanh chóng tiếp thu văn hoá Pháp và đã nhận ra vần, luật, niêm luật của nho gia đã gò bó trong việc thể hiện tiếng thơ của con ng-ời Năm 1917 trên báo Nam Phong (số 5), Phạm Quỳnh là ng-ời bảo thủ nổi tiếng cũng phải thừa nhận sự gò bó của những luật thơ
cũ: Ng-ời ta nói, tiếng thơ là tiếng kêu của con tim Ng-ời Tàu định luật nghiêm cho
ng-ời làm thơ thực là muốn chữa lại, sữa lại tiếng kêu ấy cho nó bay hơn, nh-ng cũng nhân đó mà làm mất đi cái giọng tự nhiên vậy Sau đó, Phan Khôi cũng viết
nhiều bài báo chỉ chích những trói buộc của văn thơ cũ và đòi hỏi phải cởi trói cho sáng tác thi ca một thời gian sau, một cuộc tranh luận giữa thơ mới và thơ cũ cũng diễn ra vô cùng gay gắt Trong một thời gian ngắn mà văn học đã hoàn tất một quá trình dài hàng thế kỉ, cuộc tranh luận mới chấm dứt do sự thắng thế của thơ hiện đại
và đỉnh cao là thơ mới Tràng Kiều (1936) trên báo Hà Nội với lời nhận xét: Cuộc
cách mạng về thi ca ấy ngày nay đã yên lặng nh- mặt n-ớc hồ thu - thời gian đã định
đoạt các giá trị của thơ mới Còn Huy Cận cho rằng: Một cảm xúc mới khi đã hình thành thì nó nuôi văn học nghệ thuật hàng thế kỷ Thơ mới cũng vậy, Thơ mới đã tạo
ra cảm xúc chung cho thời đại và những bài thơ đ-ơng thời có giá trị đều đã đ-ợc sáng tác với luồng cảm xúc mới ấy, cho dù các đề tài mà các tác giả lựa chọn rất khác nhau Từ đây, văn học Việt Nam đi vào quỷ đạo riêng, con đ-ờng riêng của
Trang 11mình tạo nên b-ớc nhảy vọt Cuối những năm 30 đầu những năm 40 thơ mới đã làm rạng rỡ cho thơ Việt Nam hiện đại và đ-ợc ghi nhận nh- một b-ớc phát triển mới của thơ dân tộc và t- duy thơ về thi pháp, về thể loại và ngôn ngữ thơ theo h-ớng hiện đại hoá
1.1.3 Thơ hiện đại ra đời với đỉnh cao là thơ mới mang đến cho văn học một
diện mạo mới cả về nội dung lẫn hình thức Thơ mới đã nói lên đ-ợc: Một nhu cầu
lớn về tự do, về phát huy bản ngã (Tố Hữu) Tr-ớc đây trong văn học chỉ biết đến cái
“ta” của cộng đồng, của dân tộc, mẫu hình con ng-ời bổn phận, con ng-ời nghĩa vụ xuất hiện trong vị thế quan hệ mật thiết với vận mệnh dân tộc, mẫu hình này chỉ phù hợp trong điều kiện lịch sử ấy Trong t- t-ởng yêu n-ớc và duy tân thì mẫu hình này
đ-ợc nhấn mạnh tr-ớc hết là ph-ơng diện trách nhiệm, trách nhiệm tr-ớc quốc dân, tr-ớc đồng bào về tình trạng đất n-ớc Còn bây giờ cái “tôi” cá nhân b-ớc đầu đ-ợc giải phóng Xã hội phong kiến không chấp nhận những con ng-ời đề cao cái tôi, đề cao bản ngã nh- nữ sĩ Hồ Xuân H-ơng, Cao Bá Quát Thơ hiện đại ra đời mang theo một cái tôi cá nhân, một cái tôi cá thể hoá trong thẫm mỹ Cái tôi trong thơ mới,
ở một mức nào đó đã nói lên một nhu cầu lớn về mặt giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã tự do cá nhân riêng cho cái nhìn cá thể hoá, cho sự đổi mới thi pháp và t- duy thơ Cho sự sáng tạo những hình thức biểu hiện phong phú mang sắc thái độc
đáo của phong cách cá nhân Sự giải phóng cái tôi cá nhân của chủ thể sáng tạo đã
làm nở rộ một thời kì văn học với những bông hoa giàu h-ơng sắc: Tôi quyết rằng
trong lịch sử thơ ca Việt nam ch-a bao giờ có một thời đại phong phú nh- thời đại này Ch-a bao giờ ng-ời ta thấy xuất hiện cùng một hồn thơ rộng mở nh- Thế Lữ, mơ màng nh- L-u Trọng L-, hùng tráng nh- Huy Thông, trong sáng nh- Nguyễn Nh-ợc Pháp, ão não nh- Huy Cận, quê mùa nh- Nguyễn Bính, kì dị nh- Chế Lan Viên và thiết tha rạo rực, băn khoan nh- Xuân Diệu… (Thi nhân Việt Nam) Cùng với đổi mới về nội dung là đổi mới về hình thức nghệ thuật Thơ mới có khả năng diễn đạt hơn thơ cũ là nhờ ở thể thơ linh hoạt, tuỳ theo sự cảm thụ của từng tác giả, cách hiệp vần phong phú (vần liên tiếp, vần ôm nhau, vần gián cách, vần hỗn tạp ) nhạc điệu dồi dào, lối ngắt nhịp động, ngôn ngữ gợi cảm, giàu hình t-ợng Phong trào thơ mới đã làm một cuộc cách mạng trong thi pháp và t- duy thơ, đã đ-a một cái nhìn cá thể hoá về thiên nhiên, tạo vật thông qua cái tôi trữ tình, không có hiện t-ợng
Trang 12đối lập giữa ph-ơng Tây và ph-ơng Đông, hiện đại và truyền thống Từ đó mở ra
“Một thời đại thi ca” (Hoài Thanh), mở đầu cho sự phát triển của thi ca hiện đại
Thơ hiện đại Việt Nam với chặng mở đầu quan trọng là thơ mới đã thức tỉnh cá nhân và một b-ớc đ-ờng đầy ý nghĩa của nền văn học Việt Nam hiện đại Sự chuyển biến từ thơ truyền thống sang thơ hiện đại là một quá trình biến đổi đột biến
đã góp phần làm phong phú tâm hồn con ng-ời, mở ra những thế giới bí ẩn của cõi ý thức lẫn cõi vô thức và cũng mở ra vô vàn cung bậc đầy sắc h-ơng của cảm xúc trữ tình, đem lại cho thơ ca hiện đại một giọng điệu riêng
1.1.4 Mỗi thời đại đều có một giọng điệu riêng Tìm hiểu giọng điệu của một thời
đại thơ ca, một mặt tìm hiểu sâu hơn cấu trúc bên trong bản thể nghệ thuật, mặt khác nhận thấy sự vận động của thơ ca trong tiến trình lịch sử Nh- một tất yếu, để tồn tại, thơ ca luôn phải tự đổi mới vì xét đến cùng hoạt động nghệ thuật là một hoạt động sáng tạo Nhà thơ chỉ có một sự lựa chọn duy nhất: sự mới mẻ của nhà thơ nằm trong những con chữ của mình Bởi thế, nhà thơ Lê Đạt từng tuyên bố: “Chữ bầu lên nhà thơ” Cốt lõi của quan niệm này là muốn nhấn mạnh đặc tr-ng của văn học là sáng tạo văn học là sáng tạo bằng chất liệu ngôn từ Các nhà thơ hiện đại đã thực sự nỗ lực làm mới thơ ca Cố nhiên, việc tạo nên cái mới trong thơ, một mặt không đ-ợc bóp méo và làm bạc màu ngôn ngữ dân tộc, mặt khác phải đi theo lộ trình đổi mới t- duy nghệ thuật thơ ca Nhìn vào thơ ca hiện đại dễ nhận thấy thơ thực sự đã mang một diện mạo khác hẳn so với thơ truyền thống Đổi mới thơ tr-ớc hết là đổi mới cảm xúc, đổi mới cách nhìn, đổi mới tọa độ soi ngắm và lý giải thế giới chứ không phải cố ý tạo nên những văn bản chắp vá hoặc những cách nói hiếu kỳ, lạ tai Nếu nh- do điều kiện lịch sử, các nhà thơ tr-ớc đây đặt lên hàng đầu nhiệm vụ thơ ca phục vụ kháng chiến “vị nhân sinh” thì các nhà thơ hiện nay đã có điều kiện “vị nhân sinh” trên cơ sở “vị nghệ thuật” Chức năng thẩm mỹ của thơ ca đ-ợc trả về với ý nghĩa đích thực của nó Khác với văn xuôi, ngôn từ thơ ca mang vẻ đẹp nội tại Vì thế, đọc thơ hiện đại, có thể ng-ời đọc ch-a hiểu ngay nh-ng vẫn thấy hay, vẫn rung cảm tr-ớc những ám ảnh đầy
mê hoặc của âm điệu, tiết tấu, nhịp điệu độc đáo, đa dạng Đó chính là xu h-ớng hiện đại hóa ngôn ngữ thơ ca Nó chủ tr-ơng một thứ thơ vụt hiện, đề cao sức ám gợi của âm thanh, của tiết tấu, của nhịp điệu; coi trọng giá trị tự thân của chữ, giải phóng ngôn từ thơ ca ra khỏi những nguyên tắc từ ch-ơng cổ điển để kiến tạo một thứ ngôn ngữ thơ ca thuần khiết Ngôn ngữ thơ hiện đại không chỉ là ph-ơng tiện chuyển tải t- t-ởng mà còn có khả năng tạo ra t- t-ởng Do đó, thơ ca hiện đại đã đa dạng hơn về cách thức thể hiện, độc đáo hơn trong cách chiếm lĩnh và lý giải hiện thực Riêng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại cũng thực
Trang 13sự đổi mới so với truyền thống Thơ lục bát hiện đại có cái ngọt ngào, mềm mại của Huy Cận, Nguyễn Bính, có chất giọng bụi bặm của Bùi Chí Vinh, có cách nói tài hoa theo giọng xẩm ngọng của Nguyễn Duy, có cái ngang ngang, t-ng tửng của Đồng Đức Bốn, có cái mơ
hồ, kỳ ảo của Bùi Giáng,…
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1 Sự khác nhau giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi
Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, là nghệ thuật gợi tình cảm, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhạc điệu Bàn về thơ, từ tr-ớc đến nay đã có nhiều cách hiểu khác nhau
Nguyễn Tuân cho rằng: Theo tôi nghĩ, thơ là ảnh, là nhân ảnh, thơ cũng là
loại cụ thể hữu hình Nh-ng nó khác với cái cụ thể của văn Cũng mọc lên từ cái
đống tài liệu thực tế, nh-ng từ một cái hữu hình mà nó thức dậy đ-ợc những cái vô hình bao la, từ một cái điểm nhất định mà mở ra đ-ợc một cái diện không gian, thời gian, trong đó nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp (Thời và thơ Tú X-ơng, Văn Nghệ,
L-u Trọng L- khi tiếp xúc quan điểm nghệ thuật của ph-ơng Tây ông viết: Thơ sở
dĩ là thơ, bởi vì nó súc tích gọn gàng, lời ít mà ý nhiều và nếu cần tố nghĩa chỉ vì thi nhân không xuất hiện một cách trực tiếp, lời nói của thi nhân phải là hình ảnh
ý kiến của Xuân Diệu: Cái cá tính cốt yếu của thơ là sự khó Đó là quan niệm
mới nhất mà cũng đúng nhất Vì sao, vì thơ thực sự là thơ thì phải cho “thuần tuý” ng-ời thi sĩ gắng sức đi tìm thơ thuần tuý nghĩa là đi thu góp những cái tinh hoa, những cái cốt yếu, cái lõi của sự vật Vì vậy thơ phải súc tích, phải sánh lại nh- một thứ thuốc nấu nhiều lần
Chế Lan Viên nhận định: Làm thơ là làm sự phi th-ờng, thi sĩ không phải là ng-ời,
nó là ng-ời mơ, ng-ời say, ng-ời điên, nó là ng-ời tiên, là ma, là quỷ, là tinh, là yêu Nó thoát khỏi hiện tại, nó sáo trộn dĩ vãng Nó ôm trùm cả t-ơng lai
Trang 14Thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc cô đọng, ngôn ngữ có nhịp điệu đó là
đặc tr-ng cơ bản của thơ Khác với văn xuôi, thơ ca là thể loại chỉ dùng một l-ợng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sống, bao gồm các sự kiện của tự nhiên và xã hội cũng nh- tất cả các cung bậc tình cảm thầm kín, riêng t- của con ng-ời Để thực hiện thiên chức đó, thơ ca phải tính đến những kiểu tổ chức
đặc biệt Nó là hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh và có nhịp điệu để biểu hiện nội dung một cách hàm xúc trong khi đó văn xuôi chỉ là hình thức ngôn ngữ đ-ợc trau chuốt cho hay, cho đẹp
Theo Nguyễn Phan Cảnh (2001), trong văn xuôi, lặp là một điều tối kỵ và ph-ơng
trình không đ-ợc xây dựng thành thông báo Nh-ng chính cái điều mà văn xuôi rất kỵ ấy lại là thủ pháp làm việc của thơ: trong thơ, tính t-ơng đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại
đ-ợc dùng để xây dựng các đơn vị thông báo {6,52} Sử dụng đặc tr-ng t-ơng đồng của các đơn vị ngôn ngữ làm nên chiết đoạn tạo thành thông báo bao giờ cũng bao hàm sự t-ơng đ-ơng về nghĩa {6,60} Nghĩa là sức mạnh của cơ cấu lặp lại, của kiến trúc song song
chính là chỗ để tạo ra đ-ợc một sự láy lại song song trong t- t-ởng Việc chức năng mỹ học chiếm -u thế trong các thông báo thơ trong khi không loại trừ chức năng giao tế nh- thế, đã làm cho thông báo thành ra đa nghĩa, có tính chất n-ớc đôi, thành ra nhập nhằng hiểu theo nghĩa tích cực của từ này Đây là điều quan trọng của thơ, tức là ý tại ngôn ngoại
Tomasépky nhận xét: Ngôn ngữ trong thơ không dày đặc nh- trong văn xuôi,
mà chia cắt ra những phần ngắn hay dài theo âm luật Các thành phần này đ-ợc chia ra thành câu thơ và th-ờng th-ờng lại chia ra các dòng thơ nhỏ hơn Cùng
chung một nội dung, khi Hồ Chủ tịch viết văn xuôi, Ng-ời viết: Bất kỳ đàn ông, đàn
bà, bất kỳ ng-ời già, ng-ời trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là ng-ời Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu tổ quốc Ai có súng dùng súng,
ai có g-ơm dùng g-ơm, không có g-ơm thì cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước” Khi làm thơ Bác viết:
Trang 15Thấy Tây cứ chém phứa Thấy Nhật cứ chặt nhào
Đoạn văn xuôi và đoạn thơ trên viết cách nhau gần bốn năm, về nội dung gần trùng khớp nhau Đoạn văn xuôi dày đặc thành một khối từ ngữ Đoạn thơ thì bị chia cắt thành các câu thơ, các dòng thơ ngắn gọn hơn
Tác giả Gôntrarốp lại cho rằng: Cấu trúc âm thanh của ngôn ngữ văn xuôi chỉ
có một bình diện, nghĩa là ngữ điệu và giọng điệu trùng khít với nhau; còn ngữ điệu
và giọng điệu trong thơ không trùng khít với nhau Trong thơ giọng điệu và ngữ điệu (cụ thể là cách đọc) cho phép câu thơ đ-ợc ngắt nhịp tự do hơn văn xuôi Do vậy, bản thân giọng đọc và cách đọc cũng làm gia tăng l-ợng thông tin cho câu thơ ngoài giá trị thông tin của văn bản Chẳng hạn, độ cao thấp, nhanh hay chậm, khi đọc đoạn văn xuôi trên là thống nhất ngữ điệu để thể hiện trong văn bản Còn ở câu thơ có thể đọc theo nhiều cách, theo nhiều cách ngắt nhịp, theo nhiều cách chia đoạn khác nhau Do
đó có những chỗ nghỉ hơi, ngắt hơi và dài hơi t-ơng đối tự do hơn và sắc thái lúc biểu hiện tình cảm trong từng khúc nhỏ cũng đa dạng hơn Ví dụ, ta có thể đọc:
Giọng đọc khúc này có thể chậm rãi, từ tốn hơn, tiết tấu điềm đạm hơn
Thấy Tây /cứ chém phứa / Thấy Nhật/ cứ chặt nhào //
Giọng đọc khúc này nhanh, kiên quyết, có tính chất mệnh lệnh, giục giã
Toàn bộ đoạn này có ngữ điệu chung Bản thân giọng đọc, cách đọc lại biến hoá, đ-a thêm sắc thái riêng của ng-ời đọc, tạo thêm l-ợng thông tin cho đoạn thơ
Thơ và văn xuôi còn khác nhau ở đặc tr-ng riêng Mặc dù ngôn ngữ văn xuôi
và ngôn ngữ thơ đều thuộc loại ngôn ngữ của phong cách nghệ thuật nh-ng ngôn ngữ thơ mang đặc tr-ng riêng là có tính nhạc Tính nhạc đ-ợc tạo bởi nhiều yếu tố nh-: kết cấu ngữ pháp, từ vựng nh-ng chủ yếu nó đ-ợc tạo bởi ba yếu tố cơ bản, đó là:
Trang 16vần điệu, thanh điệu và nhịp điệu Cũng khai thác ngôn ngữ tự nhiên nh-ng chỉ có thơ mới có nhạc Bởi vì trong ngôn ngữ thơ, các tham số thanh học của ngôn ngữ mới
đ-ợc tổ chức một cách chặt chẽ Các tham số thanh học bao gồm: các thuộc tính âm thanh (độ cao, độ mạnh, độ dài) và các đơn vị âm thanh (nguyên âm, phụ âm) Các thuộc tính âm thanh đ-ợc l-u giữ, truyền đạt trong khi tổ chức các quá trình thơ ca, làm nên tiết tấu cho thơ Các đơn vị âm thanh thì đ-ợc l-u giữ truyền đạt trong khi
tổ chức các quá trình thể loại làm nên vần thơ Tác giả Nguyễn Phan Cảnh khẳng
định: Chính hiệu quả của tiết tấu và vần này mà đã chỉ cho phép xuất hiện các hợp
thành thi pháp ch-ơng trình hoá mang cơ chế tự điều chỉnh trong mình, thơ ca đã đi vào quỹ đạo của những hệ bền vững {6,123} Đồng thời, cũng d-ới hiệu quả này mà
chất liệu ngôn ngữ ở đây có nét riêng rất tiêu biểu là đặc tr-ng nhạc tính, t-ơng tự nh- tiết tấu và hoà thanh trong âm nhạc Nhiều bài thơ, do có tính nhạc đã trở thành phần lời cho nhiều ca khúc
Ngoài ra, giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi còn có một sự khác biệt nữa, đó là ngôn ngữ văn xuôi cần sự chính xác - t-ờng minh, còn ngôn ngữ thơ lại cần phải có sự đa nghĩa, có sự tiềm ẩn, hàm súc, sâu xa
1.2.2 Thể thơ lục bát
1.2.2.1 Quá trình hình thành thể lục bát
Lục bát là một thể thơ truyền thống của dân tộc, mang cốt cách linh hồn ng-ời Việt Trong nền văn học dân tộc, thể thơ này có vai trò rất quan trọng, tạo ra sức sống riêng cho văn học Việt Nam Lục bát là thể thơ cách luật thuần tuý Việt Nam Nh-ng đã có ý kiến cho rằng đâu chỉ riêng ở dân tộc Việt mới có lục bát mà ngay cả dân tộc khác cũng có lục bát nh- lục bát Chăm chẳng hạn Thực ra, lục bát Chăm là
để chỉ thơ Ariya Chăm Theo Insara, “Ariya” trong tiếng Chăm có nghĩa là: 1 Tr-ờng ca Ariya cam - Bini (Tr-ờng ca chăm Bacni); 2 Thơ: Sakadha Ariya; 3 Thể thơ: thể Ariya, cặp sáu - tám Chăm (Insara - lục bát Chăm) [ 35 ]
Ariya Chăm và lục bát Việt Nam theo phân tích của Insara có nhiều điểm khá giống nhau nh-: a đều có hiện t-ợng gieo vần l-ng; b đều có thể gieo vần bằng và vần trắc và thanh điệu phát triển khá thoải mái Tuy nhiên, tiếng Chăm là một ngôn ngữ đa âm tiết khác với tiếng Việt, số l-ợng đ-ợc đếm trong Ariya cũng khác Hiện nay, các nhà nghiên cứu cũng ch-a khẳng định đ-ợc lục bát Việt và Ariya Chăm thể
Trang 17nào có tr-ớc thể nào có sau và cũng không biết dân tộc nào sinh ra nó Nh-ng ta có thể hiểu rằng giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau
Lục bát có nguồn gốc lâu đời Hiện nay cũng ch-a một nhà nghiên cứu nào xác định đ-ợc niên đại ra đời của nó Theo Phạm Đình Toái, người có lời tựa “Quốc
âm từ điệu” (1886) có nghĩa là từ thời Trần - Lê (TK XIII - XIV) lục bát đã đ-ợc sáng tác rất nhiều Trong thơ nôm đời Trần (TK XIII - XIV) trên các th- tịch còn ghi lại ngày nay ng-ời ta thấy thể lục bát đ-ợc ghi lại rất sớm nhất là trong bài hát của
Lê Đức Mao (1462 - 1529) , xen kẽ giữa thể nói và song thất Trần Danh án, trong cuốn “Nam phong giải trào” cũng ghi được một số bài ca dao lục bát rút ra từ các bài hát “Cửa đình” thời Lê Từ các cứ liệu trên cho thấy thể lục bát đã khá phổ biến với thơ nôm cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI Các tác phẩm nôm đ-ợc dùng thể thơ này ở cuối thế kỉ XVI là “Lâm tuyền vãn” gồm (2000 câu) của Phùng Khắc Hoan, “Ngoạ long c-ơng vãn” (136 câu) và “Tư dung vãn” (236 câu) của Đào Duy Từ Cuối thế
kỉ XVI đầu thế kỉ XVII xuất hiện “ Thiên Nam ngữ lục” một tập diễn ca dài 8136 câu lục bát Nếu ở giai đoạn này (XIII - XVII) , thơ lục bát phát triển mạnh và đạt
đến trình độ cổ điển Lục bát là thể thơ đ-ợc dùng chủ yếu trong ca dao Thực tế thống kê từ cuốn “Tục ngữ, ca dao, dân ca” của Vũ Ngọc Phan in lần thứ 8 (1978) trong đó có 1585 bài ca dao thì có tới 1282 bài đ-ợc sáng tác theo thể lục bát và lục bát biến thể chiếm 90% Bên cạnh đó, lục bát còn vận dụng rất nhiều trong sáng tác văn học nhất là các tác phẩm truyện nôm và đỉnh cao là Truyện Kiều của Nguyễn
Du Đây là một kiệt tác có giá trị nghệ thuật đã đ-a thể loại lục bát đạt đến trình độ
cổ điển Trong văn học nôm bác học thời trung đại về sau, lục bát vẫn tiếp tục phát triển và đ-ợc mọi ng-ời yêu thích và cho đến nay lục bát vẫn là thể thơ đ-ợc sử dụng
và vận dụng nhiều Phải chăng, lục bát là một thể thơ diễn tả đ-ợc nhịp điệu của cảm xúc, của những diễn biến tâm lý hết sức tinh tế và sâu lắng, thể hiện đa dạng, phong phú hiện thực cuộc sống, với nhịp điệu uyển chuyển, linh hoạt, không gò bó, không hạn định về độ dài ngắn nên lục bát trở thành một thể loại tin dùng và đ-ợc dùng phổ biến trong văn học và đ-ợc rất nhiều quần chúng yêu thích Đúng nh- lời nhận xét
của Cao Huy Đỉnh: Từ thế kỉ XVII lục bát trở nên vạn năng, dùng để diễn tả mọi thứ
cảm nghĩ, tự sự, trữ tình, nghị luận cũng nh- diễn kịch dù dung l-ợng dài ngắn, rộng hẹp, khó dễ đến đâu cũng thích nghi đ-ợc [19]
Trang 18Lục bát là một thể thơ đa chức năng với sự biểu hiện phong phú nhiều loại hình nội dung nh-ng lục bát cũng nh- các thể loại khác luôn lựa chọn và chiếm -u thế riêng của mình trong biểu đạt nội dung cụ thể nào đó Mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử khác nhau thì chức năng và thể loại của lục bát cũng có những nét khác nhau Trong văn học trung đại, giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, các nhà thơ đã phát huy tối đa sức mạnh tự sự của thơ lục bát Lịch sử thơ ca giai
đoạn này đã chứng kiến sự nở rộ của thể loại thơ nôm với những tác phẩm xuất sắc nh- Tống Trân Quốc Hoa, Lục Vân Tiên, đặc biệt là Truyện Kiều Đây là tác phẩm
đã đ-ợc phát phát triển thành truyện trong đó diễn ra nhiều biến cố, sự kiện có thắt nút, mở nút và mỗi nhân vật là một số phận Nghĩa là một câu chuyện hoàn chỉnh, có tình tiết hẳn hoi và câu chuyện đã diễn nôm, diễn ca bằng thể loại lục bát Thực ra, ng-ời ta không thể diễn nôm bằng các thể loại khác Từ thế kỉ XVIII trở về tr-ớc, ng-ời ta đã dùng thể Đ-ờng luật để kể chuyện nh-ng thể thơ Đ-ờng luật với nhiều bài đ-ợc xây dựng theo lối liên hoàn khép kín khiến cho tác phẩm trở nên rời rạc, vụn vặt, cắt nhỏ nội dung thành những câu chuyện nhỏ Mặt khác, nó lại quá nặng về trữ tình, với những hạn chế này đã cản sự tích cực của thể thơ đ-ờng luật trong vai trò kể chuyện Có lẽ, đây là thử nghiệm của truyện nôm nh-ng không thành công Vì vậy, lục bát tỏ ra thích hợp hơn cả với vai trò này và đây chính chức năng chủ yếu của lục bát trung đại Bên cạnh chức năng tự sự, thể thơ lục bát còn chứng tỏ chức năng bộc lộ cảm xúc trữ tình Hầu hết, truyện nôm đều sử dụng thể loại lục bát vì nó
tỏ ra rất thích hợp cho việc tự sự Mặt khác, nó cũng cho phép việc trữ tình thể hiện tâm trạng
Tóm lại, thể lục bát trong lịch sử thơ ca và văn học dân tộc từ xa x-a cho đến hiện nay vẫn là thể đ-ợc -a chuộng và có rất nhiều nhà thơ lựa chọn thể loại này để sáng tác
1.2.2.2 Vận luật của thể lục bát
Từ tr-ớc đến nay, lục bát là thể thơ đ-ợc các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều nhất Hầu nh- các nhà nghiên cứu đã đề cập hết mọi vấn đề về lý luận của thể thơ lục bát nh- vần, nhịp, luật phối thanh, các biến thể … Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ sẽ thấy còn rất nhiều vấn đề ch-a có ý kiến thống nhất, nhất là vận luật và âm luật Theo tác giả Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình, muốn hiểu vận luật của thể thơ lục bát không thể dùng khái niệm bài, khác với thể thất ngôn bát cú Vì thể lục bát thoát thai từ văn học dân gian nên đơn vị tế bào của nó là cặp 6 - 8 Do đó, một tác phẩm lục bát (bài)
Trang 19gồm nhiều chu kỳ lặp đi lặp lại; mỗi chu kỳ nh- vậy tạo thành một đơn vị tế bào, tức
là một chỉnh thể tối thiểu, vậy là thể thơ lục bát khác với tác phẩm lục bát Bài lục bát đơn giản nhất (gồm một chu kỳ) bao giờ cũng có hình thức 6 + 8, tức là đơn vị có
độ dài 14 tiếng: mở đầu bằng một dòng 6 và kết thúc bằng một dòng 8 Cặp 6 - 8 là một đơn vị tế bào, một chỉnh thể tối thiểu của thể thơ lục bát Tiếp theo, thành tố trực tiếp của đơn vị tối thiểu là dòng thơ Kết quả phân tích về mặt bằng trắc và về mặt vần cho thấy đằng sau tiếng thứ 6 quả có một đ-ờng ranh giới cấu trúc đi qua, tách 6 tiếng đầu thành một bộ phận riêng (sau tiếng thứ 6 là một chỗ nghỉ hơi khá rõ), sau tiếng thứ 6 cũng là chấm dứt quy tắc luân phiên thanh điệu của bộ phận tr-ớc
Việc cắt đôi chu kỳ thành dòng 6, dòng 8 là có cơ sở vận luật rõ ràng và cái gọi là
“dòng” đúng là một khái niệm chỉ thành tố trực tiếp của đơn vị tối thiểu D-ới dòng là b-ớc thơ Thành tố trực tiếp của b-ớc thơ là vị trí của tiếng Dòng 6 gồm ba b-ớc: 2 - 2 -
2, còn dòng 8 gồm bốn b-ớc 2 - 2 - 2 - 2 Căn cứ chủ yếu để cắt dòng thành b-ớc thơ là quy tắc chi phối sự nhấn mạnh và sự luân phiên thanh điệu ở các tiếng thứ 2, thứ 4 (cả dòng 6 và dòng 8) cũng nh- quy tắc luân phiên thanh điệu và hiệp vần ở các tiếng thứ 6 (cả hai dòng) và tiếng thứ 8 (của dòng 8) Quy tắc đó dẫn đến hệ quả là xem các tiếng ở các tiếng ở các vị trí 2, 4, 6, 8 nh- là những tiếng quan trọng, đ-ợc phát âm rõ hơn và có vai trò đặc biệt hơn: vai trò làm cột mốc để chia cắt dòng thơ thành các b-ớc thơ Hệ quả tiếp theo là, trong mỗi b-ớc tồn tại hai vị trí: đã tách các vị trí 2, 4, 6, 8 xem là quan trọng thì các vị trí 1, 3, 5, 7 cũng đ-ợc tách ra Các b-ớc trong lục bát nói chung có độ dài nh- nhau, b-ớc nào cũng gồm hai tiếng Không phải ngẫu nhiên mà từ lâu ng-ời ta đã rút ra nhận định khái quát là thơ tiếng Việt -a nhịp chẵn, tr-ớc hết đ-ợc thể hiện ở lục bát Về hiệp vần, trong thơ lục bát có hai loại vần: vần l-ng và vần chân và hiệp vần là để kết hợp
Cụ thể, vần chân (cuối dòng 6) và vần l-ng (giữa dòng 8) là sự kết hợp dòng với dòng để tạo thành chu kỳ Còn vần chân (cuối dòng 6) chính là vần có chức năng làm ph-ơng thức trực tiếp nối với chu kỳ tr-ớc, còn vần chân (cuối dòng 8) chính là vần có chức năng làm ph-ơng thức nối chặt với chu kỳ sau Nh- vậy, nếu coi mỗi tác phẩm lục bát nh- một tập hợp những chu kỳ, những cặp 6 - 8 thì những chu kỳ này kết hợp với nhau một cách hữu cơ nhờ ph-ơng thức hiệp vần Về phối thanh và nhịp trong thơ lục bát chúng tôi sẽ trình bày ở phần tiếp sau
1.2.3 Nhịp và nhịp trong thơ lục bát
1.2.3.1 Khái niệm nhịp
Trang 20Nhịp có vài trò rất quan trọng để tạo ra tính nhạc cho thơ Từ tr-ớc đến nay, giới nghiên cứu vẫn ch-a có một quan điểm hay một định nghĩa nào thống nhất phổ quát về nhịp nói chung và nhịp trong thơ nói riêng
Nhịp là x-ơng sống của thơ; thơ có thể bỏ vần, bỏ quan hệ đều đặn về số chữ,
bỏ mọi quy luật bằng trắc, nh-ng không thể vứt bỏ nhịp Theo cách hiểu giãn đơn:
“Nhịp là kết quả của một sự chuyển động nhịp nhàng, sự lặp lại những âm tiết nào đó trong thơ” {9, 248} Do đó, nhịp thơ phải đánh dấu bằng chỗ ngừng, chỗ ngắt trong dòng thơ, trong việc tổ chức âm thanh của thơ Nhịp điệu thơ xuất hiện trên cơ sở nhịp lao động, nhịp cơ thể con ng-ời Nhịp điệu còn là ph-ơng tiện quan trọng để tổ chức hình thức nghệ thuật trong văn học Nhịp thơ trên sự lặp lại có tính chất chu kỳ, cách quãng, luân phiên các yếu tố t-ơng đồng trong thời gian hay quá trình nhằm chia tách và kết hợp các ấn t-ợng thẩm mỹ
Trong văn học, Nhịp điệu là sự lặp lại cách quãng đều đặn và có thay đổi tạo
ra cảm giác vận động của sự sống, chống lại sự đơn điệu của văn bản nghệ thuật
trong thơ Trumannepxki nhận định: Nhịp điệu của bài thơ trên bản chất, chất liệu ngôn
ngữ, dù có cấu tạo bài thơ riêng biệt và có đặc thù bao nhiêu đi nữa thì cơ cấu ấy cũng thuộc về một ngôn ngữ và không lặp lại ngoài giới hạn của các hình thức dân tộc trong lời nói (Dẫn theo Bùi Công Hùng, 1983, tr 168)
Để khẳng định thêm phần quan trọng của nhịp thì trong “ Làm thơ nh- thế
nào?” Maiacôpxki cũng đã nói rõ vai trò của nhịp: Nhịp là sức mạnh cơ bản, năng
l-ợng cơ bản của câu thơ Sự ngắt đoạn và ngắt nhịp của bài thơ hệ trọng hơn việc chấm câu đ-ợc dùng cho khuôn sáo cũ, nó phải đ-ợc phục tùng ngắt đoạn và nhịp là sáng tạo những khoãng cách và tổ chức thời gian phải đ-ợc dựa trên quy tắc cơ bản
Trang 21của mọi sách giáo khoa thực hành về thơ Việc thể hiện nhịp trong thơ, thể hiện bản sắc của từng nhà thơ
Nhịp trong thơ xuất hiện trên cơ sở lao động, dựa vào hơi thơ gắn liền với trạng thái cảm xúc, là sự nối tiếp của các tiếng xếp thành khung đều đặn của giọng theo thời gian Lúc đầu là khiêu vũ, thơ ca âm nhạc nói chung và nguồn gốc sự vận
động nhịp nhàng của con ng-ời nói chung là trong lao động Trong bài hát, lời thơ làm thành nội dung của âm nhạc, âm nhạc là hình thức của thơ rồi tách dần ra Thơ thể hiện sự rung động nội tâm của riêng nó, xuất phát từ tâm trạng, cảm xúc của con ng-ời Các nhà tâm lý học đã khẳng định: Khi vui vẻ ta thở 17 nhịp/phút, khi buồn, chán nản ta thở 9 nhịp/phút, khi sợ hãi 64 nhịp/ phút, và khi tức giận 10 nhịp/phút
Nhịp điệu dù tính theo đơn vị nào cũng gắn với cảm xúc và t- duy đ-ợc diễn
đạt qua lời thơ Timôfiep đã nói rất đúng: Đơn vị có nhịp điệu không thể tách ra khỏi
lời nói, nghĩa là đơn vị của ngữ nghĩa và ngữ điệu (Sơ thảo nguyên lý và lịch sử thơ
Nga, phần I, ch-ơng I) Ngoài ra, các nhà thơ còn xác định nhịp điệu nh- là sự rung
động của tâm hồn, thoát khỏi những đều đặn, cân đối, không phải sự chia cắt, lặp lại
và luôn có xu h-ớng khát vọng, giao hoà và lan toả
Trong bài mấy ý nghĩa về thơ (1949) Nguyễn Đình Thi quan niệm: Nhịp điệu
của thơ không những là nhịp điệu bằng bằng, trắc trắc, lên bỗng, xuống trầm của tiếng đàn bên tai Thơ có một thứ nhạc nữa, một thứ nhịp điệu bên trong, một thứ nhịp điệu của hình ảnh, tình ý, nói chung là của tâm hồn Đó là nhịp điệu hình thành của những cảm xúc, hình ảnh liên tiếp hoà hợp mà những tiếng và chữ gợi ra nh- những ngân vang dài ngay nh-ng khoãng lung linh giữa chữ, những khoảng lặng cũng là nơi trú ngụ kín đáo của xúc động Theo quan niệm đó, nhịp điệu không
những trùng với âm luật, không cần giúp đỡ của thanh điệu mà nó tự tạo ra những yếu tố tự do phù hợp Với rung động của tâm hồn, nhịp điệu không thể là những khuôn mẫu buồn tẻ mà tr-ớc hết là tất cả
Nh- vậy, ng-ời nghệ sĩ là ng-ời sáng tạo ra nhịp thơ cảm xúc của chính tâm hồn mình Từ đó làm nên giọng điệu riêng của tác giả, tác phẩm Chính vì thế, nhịp
điệu có ý nghĩa quan trọng đối với thơ, nó nh- nguồn sức mạnh thổi thêm sinh lực cho thơ Thơ không có nhịp thì thơ không còn là thơ nữa Tuy nhiên trong thơ không hoàn toàn chịu sự gò bó của các thể thơ mà nhịp của nó có thể thay đổi theo nhiều yếu tố khác nhau
Trang 22Nh- vậy, trong thơ, nhịp điệu mang tính đặc thù Nó là x-ơng sống của dòng thơ, đoạn thơ, bài thơ, là kết quả hòa phối âm thanh đ-ợc tạo ra từ sự ngắt nhịp Nhịp
điệu đ-ợc xem xét từ cơ sở hình thành đó là sự ng-ng nghỉ theo một cách thức nhất
định khi phát âm Cho đến nay, ngắt nhịp trong thơ gồm hai loại: ngắt nhịp cú pháp
và ngắt nhịp tâm lý Hai loại nhịp này có khi hòa quyện với nhau, có khi tách rời tùy thuộc vào cấu trúc ngôn ngữ của dòng thơ, thể thơ và cảm hứng Nhịp điệu là thông
số quan trọng cho phép ng-ời đọc nhận ra những đặc tr-ng của mỗi bài thơ, mỗi tác giả và mỗi thời đại Hơn nữa, nhịp điệu là nhân tố quan trọng nhất trong các nhân tố tạo nên nhạc điệu cho thơ, phân biệt thơ khác với văn xuôi Theo chúng tôi, nhịp thơ
là cái đ-ợc nhận thức thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chất chu kỳ, cách quảng hoặc luân phiên theo thời gian của những chỗ ngừng, chỗ ngắt của những đơn vị văn bản nh- dòng thơ (câu thơ), khổ thơ, thậm chí đoạn thơ Nh- vậy, yếu tố tạo nên nhịp
điệu quan trọng nhất ở đây là những chỗ ngừng, chỗ ngắt trong sự phân bố mau th-a,
đa dạng của chúng, là độ dài ngắn khác nhau của các quảng nghỉ hơi sau mỗi câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ Thiên về cảm xúc một cách hàm xúc, cô đọng, giàu nhịp điệu
là đặc tr-ng cơ bản của ngôn ngữ thơ Mây Lăc đã nhận xét: từ những suy t- chiêm
nghiệm của các nhà thơ khác nhau, có thể kết luận đ-ợc rằng trong việc làm thơ, vần luật và nhịp điệu nảy sinh một cách tự nhiên, một cách tự thân nh- là một thành tố của quá trình sáng tạo do dự đồ chung quy định (T/c văn học, 1981, số 2) Còn các
nhà hình thức luận Nga thì cho rằng thiếu vần, thơ có thể tồn tại nh-ng thiếu nhịp
điệu thì không phải là thơ Ngôn ngữ thơ, đó là sự chia khổ, phân dòng, gieo vần, ngắt nhịp, phối thanh… tạo nên những mô hình âm thanh lặp đi lặp lại ở các câu thơ
Dĩ nhiên, văn xuôi cũng có nhịp điệu nh-ng nhịp điệu thơ khác nhịp điệu văn xuôi một cách căn bản Trong thơ có sự ngắt nhịp, phân dòng, chia khổ tạo ra những giải phân cắt đều đặn các chiết đoạn âm thanh và ở đó có sự lặp lại một cách đều đặn cách ngắt nhịp, gieo vần, hòa thanh… còn trong văn xuôi thì không có những tổ chức dòng, khổ đặc biệt nh- thế Dòng ngôn từ trong văn xuôi đ-ợc chia thành các câu và
đoạn câu vốn có ở lời nói hàng ngày nh-ng đã đ-ợc tu chỉnh lại Nghĩa là nhịp điệu trong văn xuôi gần với nhịp điệu của lời nói hàng ngày, không đi theo một khuôn hình nhất định Tóm lại, thơ là một cấu trúc đặc biệt đ-ợc đặc tr-ng bởi sự phụ thuộc của toàn thể các yếu tố vào nguyên tắc nhịp điệu Mỗi thể thơ có một cấu trúc nhịp
Trang 23điệu riêng Sự đều đặn có tính ổn định của những mô hình nhịp điệu đã đ-ợc nâng lên để xác lập các mô hình thi luật cho các khổ thơ khác nhau
1.2.3.2 Nhịp trong thơ lục bát
Lục bát là thể thơ dân tộc đ-ợc hoàn thiện vào thế kỷ XVIII với đỉnh cao là truyện Kiều Nguyễn Du Lục bát có những nét riêng biệt về lối gieo vần và về lối ngắt nhịp Nhịp điệu của câu thơ lục bát đ-ợc thể hiện hoàn chỉnh qua hai dòng thơ:
sự kết hợp giữa hai loại vần chân và vần l-ng và th-ờng đ-ợc gieo ở vị trí chẵn đã tạo cho thể lục bát một âm h-ởng và một nhịp điệu riêng, đặc biệt là vần chân cũng nh- vần l-ng bao giờ cũng hiệp vần với thanh bằng Tiếng cuối của câu lục hiệp với tiếng thứ 6 của câu bát, rồi tiếng cuối của câu bát hiệp với tiếng thứ 6 của câu lục nên câu bát có hai vần, vần l-ng ở tiếng thứ 6 và vần chân ở tiếng thứ 8 Trong đó nhịp đôi là nhịp cơ sở Về thanh, th-ờng tiếng thứ 2 là thanh nặng, tiếng thứ 4 là thanh trắc, tiếng thứ 6 và tiếng thứ 8 là thanh bằng ở những vị trí còn lại là tự do Có thể xem qua bảng sơ đồ:
“chỉnh thể về nhịp” Trong đơn vị đó lại có thể ngắt từng tiết tấu tuỳ theo cách diễn
đạt của các câu thơ “ Nhưng không phá vỡ nhịp điệu của câu thơ, xét trong toàn bộ kết cấu của nó” (Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức, Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, 2006) Nói nh- thế, không có nghĩa là chia câu thơ ra một cách máy móc từng
đôi một Câu lục 2/2/2, câu bát 2/2/2/2 Tuy nhiên đây cũng là nhịp cơ bản và phổ biến trong thơ lục bát
Một số thể thơ cách luật, ngắt nhịp bị chi phối bởi yếu tố tâm lý và cấu trúc âm điệu
Đối với thơ lục bát, sự ngắt nhịp tr-ớc hết diễn ra d-ới áp lực của vần l-ng và xu h-ớng song tiết hóa - vốn là thói quen nói năng của ng-ời Việt Vì vậy, trong thơ lục bát, lúc nào
Trang 24cũng chứa đựng một loại nhịp đặc thù: nhịp tâm lý Nhịp tâm lý có nguồn gốc là nhịp lẻ bị
đồng hóa bởi tính nhịp nhàng của nhịp đôi trong từng dòng thơ và giữa các cặp 6 - 8 với nhau Về điểm này, lục bát chứa đựng tất cả dấu ấn và đặc tr-ng ngữ âm của tiếng Việt Các kết quả nghiên cứu lâu nay đã đi đến nhận định, nhịp 2 - 2 - 2 và nhịp 2 - 2 - 2 - 2 có cơ
sở tồn tại khách quan là xu h-ớng song tiết hóa trong tiếng Việt chiếm địa vị chủ đạo qua những cấu trúc ngôn ngữ phổ biến nh- từ láy đôi, từ ghép hai âm tiết, Nh- vậy, tiết điệu nhịp đôi đã hình thành từ lâu và là nét khác biệt của tiếng Việt Loại nhịp này dễ dàng t-ơng hợp với mỗi dòng thơ lục bát vốn có số tiếng chẵn Bên cạnh đó là sự chi phối của nhịp cuối trong dòng bát do tồn tại vần l-ng với t- cách là một nốt nhấn trong dòng chảy nhịp điệu của dòng thơ Dĩ nhiên, cấu trúc tiếng Việt không loại trừ nhịp lẻ mặc dù loại nhịp này không chiếm -u thế Vì vậy, nhịp lẻ xuất hiện phải là nhịp lẻ cân đối 3 - 3, sau đó mới đến nhịp lẻ độc lập, tức là nhịp lẻ không liên kết với một nhịp lẻ t-ơng tự trên cùng một dòng thơ Nh- vậy, nhịp lẻ độc lập và nhịp lẻ cân đối đ-ợc xem là những biến cách và không phổ biến ở thể thơ lục bát ở thể thơ này, nhịp chẵn có -u thế là tạo đ-ợc sự nhịp nhàng, cân đối nh-ng lại dễ tạo nên cảm giác đơn điệu, tẻ nhạt Nh-ng với sự ổn định của vần l-ng ở dòng bát (vị trí thứ 6) nên nhịp chẵn là nền móng tạo nên nhịp điệu cho thể thơ này Các tác giả Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức [50] đã khái quát thành 6 dạng nhịp dòng lục và 10 dạng nhịp dòng bát điển hình Sáu dạng nhịp dòng lục là: S = 6; S1 = 2 + 2 + 2; S2 = 2 + 4; S3 = 4 + 2; S4 = 3 + 3; S5 = 1 + 5 Còn 10 dạng nhịp dòng bát là: t = 2 + 2+ 2 + 2; t1 = 2 + 6; t2 = 6 + 2; t3 = 4 + 4; t4 = 3 + 5; t5 = 5 + 3; t6 = 1 + 7; t7 = 2 + 4 + 2; t8 = 1 + 3 + 4; t9 = 2 + 2 + 4 Trong 16 dạng nhịp trên có 6 dạng nhịp lẻ Con số này cũng phần nào chứng tỏ -u thế bền vững của nhịp chẵn Việc nghiên cứu sự xuất hiện của nhịp lẻ trên cái nền của nhịp chẵn cũng có thể cho ta biết những biểu hiện và sự vận động trong hình thức thơ lục bát
Với cách ngắt nhịp theo khuôn thi điệu quen thuộc, đã trở thành khuôn mẫu sẵn trong thơ lục bát nên nhịp điệu trong thơ lục bát nói chung dễ đơn điệu và tẻ nhạt Câu lục th-ờng có hai cách ngắt nhịp 2/2/2 và 3/3, câu bát cũng th-ờng có hai cách ngắt nhịp 2/2/2/2 và 4/4 Cho nên, đọc thơ lục bát dễ bị trôi theo khuôn sáo thi
điệu Chính vì thế, nếu không cách tân thi điệu trở thành phong phú, đa dạng thì lục bát dễ rơi vào gò bó và đơn điệu Nhịp của bài thơ lục bát cũng nh- nhịp của một bản nhạc, trên cái nhịp cơ bản đó tạo ra những biến thiên khác để đem đến tính đa dạng
Trang 25Nh- vậy, từ nhịp của câu lục là 2/2/2 và 3/3; câu bát là 2/2/2/2 và 4/4, các nhà thơ đã tạo ra nhiều cách ngắt nhịp cho thơ lục bát và cũng chính từ đó mà thơ lục bát
có chức năng biến hoá theo nhiều dạng khác nhau
1.2.4 Vai trò của nhịp điệu trong thơ
Đánh giá về nhịp trong thơ, lâu nay các nhà nghiên cứu đã có nhiều ý kiến
khác nhau Chẳng hạn, theo Đinh Văn Đức: Nhịp thơ là một trong những yếu tố quan
trọng tạo nên tiết tấu, giai điệu, âm h-ởng trong câu thơ, có giá trị góp phần khu biệt thi ca với văn xuôi [20,915] Tác giả Nguyễn Trung Thu khẳng định: X-a nay dù làm thơ theo kiểu nào đi nữa ng-ời ta cũng không thể bỏ quên nhịp ở n-ớc ngoài cũng nh- ở n-ớc ta, những ng-ời ủng hộ nhiều nhất cho thơ không vần cũng khẳng định vai trò của nhịp không thể thiếu đ-ợc đối với thơ Thơ có thể thiếu vần, nh-ng thiếu nhịp thì thơ không còn là thơ nữa (Nhạc điệu thơ Tố Hữu, Nghiên cứu bình luận thơ
Tố Hữu, Nxb, VHTT, 2006, Tr 228) Maiacôpxki cho rằng: Nhịp điệu là sức mạnh
cơ bản, năng lực cơ bản của câu thơ, không giải thích đ-ợc nó đâu, chỉ có thể nói về nhịp điệu nh- nói về lực hay từ điện - đó là những dạng năng l-ợng (Dẫn Bùi Công
Hùng, 1998) Thơ là một cấu trúc đặc biệt đ-ợc đặc tr-ng bởi sự phụ thuộc của toàn thể các yếu tố vào nguyên tắc nhịp điệu Hay nói cách khác, trong thơ, nhịp là nhân
tố cấu trúc Do đó, nhịp là x-ơng sống của thơ Nếu nh- thơ có một tứ thơ thực hay chỉ cần có nhịp là đủ, vần luật không cần cho lắm Tự thân cái tứ thơ hết sức nên thơ trên cơ sở nhịp có thể hoán cải tất cả để đem đến cho bài thơ cái vẻ hoàn chỉnh nên thơ Nh-ng nếu tứ thơ thuộc loại trung bình khá mà vứt bỏ vần luật thì chắc chắn là hỏng Trong tr-ờng hợp tứ thơ không siêu việt cho lắm thì nhịp lại hết sức cần thiết vì nó đã đem lại tính đa dạng và thúc đẩy sự suy nghĩ, tạo nên một kiểu lựa chọn có giá trị biểu cảm trong thơ Nh- vậy, nhịp điệu trong thơ có một vai trò hết sức quan trọng Nó luôn có tác động nâng đỡ cảm xúc, làm tăng thêm sức biểu đạt trong thơ Mặt khác, cùng với vần và thanh điệu, nhịp góp phần tạo nên giai điệu, tính nhạc cho thơ Với mỗi cách ngắt nhịp khác nhau ta sẽ có các tiết tấu, cung bậc khác nhau Với thơ cũ, nhịp câu thơ xuất hiện trên cơ sở lặp lại và luân phiên các đơn vị âm luật theo
sự cấu tạo của ngôn ngữ Cách ngắt nhịp này một phần do tâm lí sáng tác theo khuôn mẫu, một phần để tuân thủ các quy tắc vận luật của thơ Đ-ờng Còn các nhà thơ hiện
đại nh- Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu, Chế Lan Viên… không chỉ kế thừa cách
Trang 26ngắt nhịp truyền thống của thơ cổ điển mà còn có nhiều sáng tạo, cách tân các cách ngắt nhịp nhằm thực hiện dụng ý nghệ thuật và làm tăng thêm tính nhạc trong thơ
1.3 Cơ sở ngôn ngữ học của cách ngắt nhịp
1.3.1 Cơ sở ngôn ngữ học của việc ngắt nhịp trong thơ
Từ tr-ớc đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nhịp thơ Nh-ng
đôi khi, việc ngắt nhịp thơ dựa trên cơ sở cảm nhận cảm tính hoặc theo một thói quen không có quy tắc Tuy nhiên, để ngắt nhịp thơ một cách chính xác và khoa học thì cần phải dựa vào cơ sở có tính khoa học Dựa trên cơ sở ngôn ngữ học thì có cách ngắt nhịp nh- sau:
- Ngắt nhịp dựa vào các dấu hiệu nhận dạng ngay trên bề mặt hình thức của câu thơ với các dấu câu: dấu chấm (.); dấu phẩy (,); dấu hai chấm (:); dấu chấm cảm (!); dấu gạch ngang (-)…
Ví dụ:
Ngủ đi anh, / ngủ đi em
(Nguyễn Duy, Lời ru đồng đội)
Hỏi quê? / Rằng mộng ban đầu xót xa
(Bùi Giáng) Cái vành tang trắng / Hàng mi
(Vũ Xuân Hoát, Cảm giác)
Giả từ nhé! / Nỗi chán ch-ờng lạnh tanh
(Trần Lê Văn, Một cuộc vào đời)
Thời th-ờng nhắc: “ Chị bây bây giờ ra sao”
(Nguyễn Bính, Lỡ b-ớc sang ngang)
Dòng đời - / con n-ớc vèo qua
(Trần Mạnh Hảo, Trái tim mác cạn)
Lắng nghe / nh- biển rì rầm
(Tố Hữu, Đ-ờng vào)
- Ngắt nhịp dựa vào ngữ nghĩa của một cú đoạn hoặc một ngữ đoạn trong câu thơ Ngữ đoạn là sự kết hợp giữa từ với từ hoặc tổ hợp từ tạo thành các ngữ danh từ,
động từ, tính từ, còn cú đoạn là kết cấu chủ- vị hoặc đề- thuyết Một nhịp t-ơng
đ-ơng với một cú đoạn hay ngữ đoạn
Ví dụ:
Trang 27Nửa m-a, / nửa nắng, / nửa chiều, / nửa mai
(Nguyễn Ngọc ánh, Nửa)
Đáy giang, / l-ới quét, / sóng chờm
(Nguyễn Duy, Lời ru con cò biển)
Thành em, / thành bạn, / thành tôi bây giờ
(Đỗ Huy Chí, Nhịp cầu trẻ con)
- Ngắt nhịp dựa vào các vế của câu so sánh Bởi vì nhịp thơ đ-ợc phân tách t-ơng đ-ơng với một vế của câu so sánh
Ví dụ:
Cầu cong / nh- chiếc l-ợc ngà
(Nguyễn Bính, Vài nét Huế)
Chiều buồn / nh- mối sầu chung
(Hồ Dzếch, Mùa thu năm ngoái)
Tóc cha tôi bạc / nh- màu trời xanh
(Nguyễn Bính, Chuyện tiếng sáo diều)
- Ngắt nhịp theo vế đứng tr-ớc hoặc đứng sau từ có vai trò liên kết
Ví dụ:
Thấm vào viên sỏi / hay ch-a thấm vào
(Thạch Quỳ, Lời nghìn năm)
Vò cho sạch / những vết tình / còn v-ơng
(Thanh Nguyên, Lỗi hẹn cùng ca dao)
Lấy khen / mà gói vu vơ
(Thu Bồn, Mong em về tr-ớc cơn m-a)
Với câu thơ có phần đảo ngữ chính là điểm nhấn nghệ thuật đ-ợc đánh dấu bằng một nhịp, đ-ợc sắp xếp vào nhịp đầu tiên Các yếu tố còn lại trong câu thơ sẽ đ-ợc ngắt theo những cách khác nhau tuỳ thuộc vào dụng ý nghệ thuật của tác giả
Ví dụ:
Cửa lòng rộng mở / em nằm nghe s-ơng
(L-u kỳ Linh, Đợi chờ)
Dòng đời./ Con n-ớc vèo qua
(Trần Mạnh Hảo, Trái tim mắc cạn)
Vớt lên,/ thả xuống / riêng tôi đắm chìm
Trang 28(Kim Chuông, Tôi và em)
Ngoài ra con một số hiện t-ợng khác nh-:
ở Chế Lan Viên có hiện t-ợng vắt dòng cả bài thơ, nếu xét về mặt cú pháp có thể gọi là văn xuôi - thơ Mặt văn xuôi đ-ợc thể hiện ở nội dung còn chất thơ bộc lộ
ở hình thức (nối vần và nối nhịp)
Ví dụ:
Chỉ một ngày nữa thôi / Em sẽ trở về./ Nắng sáng cũng mong./ Cây Cũng nhớ./ Ngõ cũng chờ./ Và b-ớm cũng thêm màu / trên cánh / đang bay
Hay những thể nghiệm cách tân, lên dòng, xuống dòng nhằm tạo ấn t-ợng thị giác cho ng-ời đọc nh- Nguyễn Trọng Tạo trong bài thơ “Không đề”
Chia cho em / một đời thơ / Một lênh đênh / Một dại khờ / một tôi Chỉ còn / cỏ mọc / bên trời một bông hoa nhỏ /
lặng / rơi / m-a / dầm
Hay Phạm Thị Ngọc Liên với bài lục bát ở Đèo Ngang:
Dập dềnh bóng núi / đèo ngang Mình ta /
Với nỗi buồn vàng /
trong tay Thôi thì thôi /
nỗi buồn vàng Thả ta xuống đỉnh/ trời hoang/
Trang 29một mình
1.3.2 Cách tổ chức nhịp trong thơ lục bát hiện đại
Thơ lục bát hiện đại về cơ bản vẫn ngắt nhịp theo thơ lục bát truyền thống Tuy nhiên, tỷ lệ ngắt nhịp không theo lục bát truyền thống chiếm số l-ợng rất lớn
Đây chính là sự cánh tân và tài năng sáng tạo của các nhà thơ hiện đại Để làm nổi bật vấn đề này, việc chọn mẫu khảo sát đóng vai trò hết sức quan trọng Mẫu phân tích phải đảm bảo về số l-ợng và chất l-ợng thuận lợi cho việc định l-ợng và định tính về yếu tố nhịp trong thơ lục bát hiện đại Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ sự
kế thừa và cách tân về nhịp trong thơ lục bát hiện đại nên việc chọn một số tác giả hiện đại làm trung tâm của hệ quy chiếu là có tính khả thi Do đó, chúng tôi chọn năm tác giả lục bát hiện đại là Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Duy, Đồng
Đức Bốn làm tiêu thể để khảo sát cách tổ chức nhịp trong thơ lục bát Việt Nam hiện
đại Các tác giả lục bát hiện đại tiêu biểu đã đ-ợc lựa chọn tuy có số l-ợng tác phẩm khác nhau nh-ng sẽ đ-ợc nhất thể hoá trong một số tr-ờng hợp xem xét Ngoài các tác giả đ-ợc lựa chọn, chúng tôi còn mở rộng đối t-ợng khảo sát ở một số nhà thơ trẻ khác để phác vạch bức tranh nhịp điệu trong thơ lục bát hiện đại Trong quá trình miêu tả, để làm nổi bật tính đa dạng, độc đáo của nhịp điệu lục bát hiện đại chúng tôi th-ờng xuyên đối chiếu với Truyện Kiều và ca dao
Làm chủ và điều khiển đ-ợc ngôn từ trong khuôn khổ hình thức ngữ âm của một thể thơ là bí quyết sinh tử đối với công việc sáng tạo thi ca Ng-ời nghệ sỹ có tài
sẽ không bao giờ bị gò bó trong vận luật đã chế định mà phải sáng tạo ra những kiểu biểu hiện mới về nhạc điệu Ng-ời nghiên cứu thi ca cách luật cũng không dừng lại ở việc chỉ ra cái đa dạng của các mô hình ngữ âm mà còn phải lý giải đ-ợc nguyên nhân và hiệu quả biểu đạt của các biểu hiện đó Đây chính là nhiệm vụ mà chúng tôi
đặt ra ở ch-ơng tiếp theo khi khảo sát nhịp trong thơ lục bát hiện đại
1.4 Tiểu kết
Thơ lục bát hiện hiện đại nói riêng, thơ hiện đại nói chung đã đóng góp rất lớn cho nền thơ ca Việt Nam hiện đại, đặc biệt về ngôn ngữ thơ Do vậy, nhiều công trình nghiên cứu cùng h-ớng vào mục đích lý giải và chỉ ra các đặc tr-ng của ngôn ngữ thơ Từ góc nhìn lý luận - phê bình để xem xét thơ cũng có những -u điểm riêng
mà các h-ớng tiếp cận khác nhiều khi không có đ-ợc Tiếp cận thơ từ góc độ ngôn ngữ là đi vào các quan hệ nội tại và ngoại tại của chất liệu, dùng các thao tác định l-ợng của ngôn ngữ học để giải mã các bình diện của ngôn ngữ thơ Cách tiếp cận
Trang 30này dựa vào những căn cứ cụ thể sẽ tránh đ-ợc cảm nhận nhiều khi mang màu sắc chủ quan Từ góc độ ngôn ngữ học, ng-ời nghiên cứu có thể trừu t-ợng hoá một biểu hiện ngữ âm đặc tr-ng nào đó trong thơ cũng có thể đem đến những kết quả thiết thực Trong ba yếu tố cấu thành nhạc điệu của thơ nói chung, thể thơ lục bát nói riêng thì yếu tố nhịp điệu là quan trọng nhất Nhịp trong thơ lục bát nhịp thở của giống nòi, là sự kết tinh những nét đặc tr-ng của ngữ âm tiếng Việt Lục bát là thể thơ song hành sự phát triển của ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam cần phải nghiên cứu một cách đầy đủ để từ đó tôn vinh vẻ đẹp của nó, trong đó có vẻ đẹp nhịp điệu Sức sống mãnh liệt, tr-ờng tồn của lục bát ẩn chứa tâm hồn dân tộc đ-ợc thể hiện trong
từng âm thanh nhịp nhàng trầm bổng của tiếng Việt thân yêu
Trang 31Ch-ơng 2 Cách tổ chức Nhịp trong thơ lục bát hiện đại
2.1 Cách tổ chức nhịp trong câu thơ lục bát
tỏ sự kế thừa và cách tân sáng tạo của mỗi nhà thơ khi sử dụng nhịp trong thơ lục bát
Số l-ợng bài thơ câu thơ lục bát mà chúng tôi chọn khảo sát nhịp thơ đ-ợc xác lập qua bảng sau:
Số l-ợng Bài thơ Câu thơ lục bát
2.1.2 Nhịp trong câu lục
Trang 322.1.2.1 Cách ngắt nhịp truyền thống
- Nhịp 2/2/2, hầu hết các nhà thơ hiện đại đều viết bằng thể lục bát và họ đều nắm vững những niêm luật về thể thơ này Đặc biệt, các nhà thơ hiện đại đã kế thừa rất thành công trong việc tổ chức nhịp điệu của thể lục bát Trong số 313 bài thơ lục bát khảo sát có 716 câu lục nhịp 2/2/2 chiếm tỉ lệ 30%, đứng thứ hai trong tất cả các loại nhịp của câu lục
Ví dụ minh hoạ:
Quản chi, / lên thác, / xuống ghềnh
(Tố Hữu, Tiếng sáo ly quê, câu 15, t 53, Thơ Tố Hữu)
Lá rơi / theo gió / lá bay
(Nguyễn Bính, Bên hồ, câu 1, t 71, Tuyển tập )
Anh xa / để lạnh / đôi bờ
(Đồng Đức Bốn, Đêm sông cầu, câu 13, t 6, Tập về)
Ví dụ so sánh:
Chờ em / chờ mận / chờ mơ
(Ca dao) Hoa trôi / bèo dạt / đã đành
(Truyện Kiều, câu 219)
- Nhịp 3/3, ngoài nhịp 2/2/2 thì lục bát truyền thống còn sử dụng nhịp 3/3 và loại này cũng đ-ợc sử dụng phổ biến trong các bài thơ lục bát hiện đại Qua thống kê
5 nhà thơ thì có 225 câu, chiếm 9,43%
Ví dụ minh hoạ:
Ngủ đi em / mộng bình th-ờng
(Huy Cận, Ngậm ngùi)
Tôi chiêm bao / rất nhẹ nhàng
(Nguyễn Bính, Ng-ời hàng xóm, t 54, Tuyển tập )
Ví dụ so sánh:
Trong ca dao, hầu nh- không có nhịp tiểu đối, nh-ng trong truyện Kiều chiếm
tỉ lệ câu lục với nhịp 3/3 lại khá cao 80/1627câu, có tới 4,9%
Mai cốt cách / tuyết tinh thần
`(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
2.1.2.2 Cách ngắt nhịp thể hiện sự biến thiên
Trang 33Dựa trên các loại nhịp truyền thống, các nhà thơ hiện đại đã cách tân, sáng tạo thành các loại nhịp mới làm tăng thêm giá trị của lục bát truyền thống
- Nhịp 2/4, đây là loại nhịp mà các nhà thơ hiện đại sử dụng nhiều, với tần số
sử dụng cao nhất trong tất cả các loại nhịp trong câu lục là 1030 câu, chiếm tỉ lệ 43,17%
Ví dụ minh hoạ:
Vợ c-ời / ch-a uống đã say
(Nguyễn Duy, Mời vợ uống r-ợu, câu 3, t 99, tập về)
Ng-ời đi / để lá ngừng reo
(Đồng Đức Bốn, Hội Lim)
Nhịp 2/4 cũng xuất hiện trong ca dao rất nhiều có tới 1449 đơn vị ca dao chiếm tỉ lệ 34,1% Trong truyện Kiều, nhịp 2/4 ở câu lục cũng đ-ợc xuất hiện khá phổ biến
Ví dụ so sánh:
Nhớ ai / bổi hổi bồi hồi
(Ca dao) Hỏi ra, / sau mới biết rằng
(Truyện Kiều, câu 370)
(Tố Hữu, Đ-ờng vào, câu 29, t 308, Thơ Tố Hữu)
Ta cài cúc áo / cho em
(Nguyễn Duy, Gói, câu 1, t 21, Tập về)
Ví dụ so sánh:
Hỡi cô tát n-ớc / bên đ-ờng
(Ca dao) Mối càng vén tóc, / bắt tay
(Truyện Kiều, câu 370)
- Nhịp 1/5
Trang 34Đây cũng là loại nhịp cách tân từ nhịp truyền thống, với tần số xuất hiện 46/2386 câu, chiếm 1,93%
Ví dụ minh hoạ:
Tôi / dù chết mất tuổi xuân
(Tố Hữu, Bài ca ng-ời du kích, câu 19, Thơ Tố Hữu)
Nắng / Hoa đồng nội chói chang
(Nguyễn Duy, Rau muối, câu 3, t 72, Tập về)
Trong truyện Kiều, nhịp 1/5 đ-ợc Nguyễn Du sử dụng 28 lần Tuy nhiên, chỉ
bó hẹp vào việc mở đầu một câu chuyện kể mà thôi
Ví dụ so sánh:
Rằng: / Lòng đ-ơng thổn thức đầy
(Truyện Kiều, câu 719)
Và…/ Cho đến một ngày xuân
( Nguyễn Đại Nghĩa, Bên dậu cúc tần)
Hỡi anh lính gác đêm / ơi
(Tố Hữu, Cảm thông, câu 1, t 97, Thơ Tố Hữu)
(Tố Hữu, Việt Bắc, câu 103, t 184, Thơ Tố Hữu)
Mấy lần / tôi / muốn gọi em
(Nguyễn Bính, Đêm cuối cùng, t 46, Tuyển tập Nguyễn Bính)
Thình thình / em / ngã bệnh ngang
(Nguyễn Duy, Vợ ốm, câu 11, t 103, Tập về)
Hay:
Trang 35Bỏ trăng / gió / lại cho đời
(Bùi Giáng, Mắt buồn, t 18, Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam)
- Nhịp 1/3/2, tần số xuất hiện 22 câu, chiếm 0,92%
Nắng / thì nắng tái / nắng tê
(Đồng Đức Bốn, Hoa dong riềng)
Ví dụ so sánh:
Rằng: / Năm Gia Tĩnh / triều Minh
Chiều / nh- đám cháy / trong không
(Chu Hoạch, Chiều, Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam)
Em / và bè bạn / và tôi
(Đỗ Huy Chí, Nhịp cầu trẻ thơ, Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam)
- Nhịp 1/2/3, số l-ợng: lẻ tẻ
áo / đem phơi / giữa trang thơ
(Đồng Đức Bốn, Chạy m-a không chạy qua rào)
- Nhịp 2/3/1, loại nhịp này đ-ợc sử dụng với số l-ợng 11/2386, chiếm 0,46%
Lại đây / anh lính đêm / ơi!
(Tố Hữu, Cảm thông, câu 9, t 97, Thơ Tố Hữu)
Này em / cành lấp ló / chồi
(Nguyễn Duy, Thời gian, câu 9, t 105, Tập về)
Hay:
Cổ loa / giếng vẫn trong / đầy
(Bùi Văn Trọng C-ờng, Truyền thuyết loa thành)
Ví dụ minh hoạ:
Gái, / trai / chờ đứa con so
Trang 36(Huy Cận, Chờ con ra đời, tập 1)
Ví dụ so sánh:
Minh / d-ơng / tôi ngã chắc rồi
(Truyện Kiều, câu 2999)
Cỏ / cây / xanh ngắt một màu
(Chu Mạnh Trinh, H-ơng Sơn hành trình, Tuyển tập lục bát Việt Nam)
- Nhịp 2/1/1/2, số l-ợng: lẻ tẻ
Bay coi / Tây / Nhật / là cha
(Tố Hữu, Tiếng hát trên đê, câu 13, t 110, Thơ Tố Hữu)
Mùa đông / còn / hết / em ơi
(Tố Hữu, Tiếng hát sang xuân, câu 3, t 301, Thơ Tố Hữu)
Hay: Nơi đây / rụng / đổ / lá vàng
(Bích Khuê, Huế đa tình, Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam)
- Nhịp 2/2/1/1, số l-ợng: lẻ tẻ
Trắng trong / từng hạt / bay / bay
(Nguyễn Duy, Đám mây dừng lại trên trời, Tập mẹ và em)
- Nhịp 1/1/2/2, đây là loại nhịp ít đ-ợc các nhà thơ hiện đại sử dụng
Quýt / cam / trái ngọt / trái chua
(Tố Hữu, V-ờn cam T-ờng Lộc, t 512, Thơ Tố Hữu)
Hay:
Tôi -/ vàng / nửa bạn / nửa yêu
(Nguyễn Ngọc ánh, Nửa, Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam)
- Nhịp 2/1/1/1/1, số l-ợng: lẻ tẻ
Đành là / mua / bán / đong / cân
(Tố Hữu, Chợ đồng xuân, t 509, Thơ Tố Hữu)
Hay:
Vài điều / s-ớng / khổ / vui / buồn
(Hoàng Nh- Mai, Hôm qua, Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam)
- Nhịp 3/1/1/1, số l-ợng: lẻ tẻ
Phát cho ta / gạo / ngô / khoai
(Tố Hữu, Đói! Đói!, câu 21, t 114, Thơ Tố Hữu)
Trang 37Ngoài ra còn một số nhịp đặc biệt chúng tôi khảo sát ở các nhà thơ trẻ khác
Ôi/ thu / thu / lỡ mất rồi
(Hồng Nhu, Uống cùng Huế, Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam)
Huy Cận
Tố Hữu
Nguyễn Duy
Đồng
Đức Bốn
Tổng
Số l-ợng
Trang 38Quả non / nhún nhảy / đèn lồng / cành tơ
(Tố Hữu, Cây hồng, câu 2, t 387, Thơ Tố Hữu)
Một ng-ời / chín nhớ / m-ời mong / một ng-ời
(Nguyễn Bính, T-ơng t-, câu 2, t 38, Tuyển tập)
- Nhịp 4/4, là loại nhịp phổ biến rộng rãi nhất trong thơ lục bát hiện đại với 999/2386, chiếm 41,87%
Câu ca mẹ hát / gió đ-a về trời
(Nguyễn Duy, Ngồi buồn nhớ mẹ ta x-a, Tập mẹ và em)
Thu lời em hát / chỉ cho riêng mình
(Đồng Đức Bốn, Đêm sông cầu,Tập trở về với mẹ ta thôi)
Trong truyện Kiều, Nguyễn Du cũng sử dụng loại nhịp này khá nhiều với 312/
1827 câu, chiếm tỉ lệ 19,1% Trong ca dao nhịp 4/4 cũng sử dụng rất nhiều chiếm tỉ
lệ 40,3%
Nửa in gối chiếc,/ nửa soi dặm tr-ờng
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, Câu 1526)
Trang 39Hạt rơi xuống giếng / hạt vào v-ờn hoa
(Ca dao) 2.1.3.2 Cách ngắt nhịp thể hiện sự biến thiên
- Nhịp 2/2/4, xuất hiện 115 câu, chiếm 4,82% trong tổng số 2386 câu bát
Có con / con vắng / ai làm thay cho
(Nguyễn Bính, Th- gửi thầy mẹ, t 56, Tuyển tập)
Bến sông / bãi chợ / bóng cây l-ng đồi
(Tố Hữu, Tr-ờng tôi, câu 6, t 131, Thơ Tố Hữu)
- Nhịp 4/2/2, đây cũng là loại nhịp đ-ợc các nhà thơ hiện đại sử dụng khá phổ biến, số l-ợng 55 câu, chiếm 2.31%
Chị tôi khóc suốt / một ngày / một đêm
(Nguyễn Bính, Lỡ b-ớc sang ngang, Tuyển tập)
Sao áo em -ớt / nửa chừng / ngẩn ngơ
(Đồng Đức Bốn, Chạy m-a không chạy qua rào)
- Nhịp 2/4/2, đây là nhịp đ-ợc sử dụng nhiều thứ ba trong các loại nhịp câu bát với 213, chiếm 8,13% trong tổng số
Chiều nay / có đứa con xa / nhớ thầm
(Tố Hữu, Bầm ơi, câu 2, t 152, Thơ Tố Hữu)
Một hôm / ta thấy bạn ta / thẹn thùng
(Nguyễn Duy, áo trắng má hồng, câu 10, t 89, Tập về)
- Nhịp 2/6, xuất hiện 115 lần trong câu bát, chiếm 6,5%
Mẹ ơi / đừng bán cây lê con trồng
(Nguyễn Bính, Th- gửi thầy mẹ, t 56, Tuyển tập )
Lòng ta - / chỗ -ớt mẹ nằm trong m-a
(Nguyễn Duy, Ngồi buồn nhớ mẹ ta x-a, t 53, Tập mẹ và em)
- Nhịp 6/2, nhịp này đ-ợc sử dụng rãi rác trong một số câu bát với tân số xuất hiện là 8 lần
Mà chân muốn đạp tan phòng, / hè ơi
(Tố Hữu, Khi con tu hú, câu 8, t 64, Thơ Tố Hữu)
Thôi đừng nói giọng ng-ời x-a, / buồn c-ời
(Nguyễn Duy, M-a trong nắng nắng trong m-a, Tập mẹ và em)
Mắt xanh chẳng để ai vào / có không
Trang 40(Nguyễn Du, Truyện Kiều, câu 2182)
- Nhịp 5/3, số l-ợng: lẻ tẻ
Lại về với mái tăng - / bầu trời vuông
(Nguyễn Duy, Bầu trời vuông, câu 2, t 22, Tập mẹ và em)
- Nhịp 3/5, so với nhịp 5/3 thì nhịp này đ-ợc sử dụng khá phổ biến trong lục bát hiện đại với tần số xuất hiện 81/2386 câu, chiếm 3,39%
Gió tây thổi, / cánh đồng ngô rào rào
(Nguyễn Bính, Tr-a hè, t 68, Tuyển tập Nguyễn Bính)
Bỗng tiêu tan, / d-ới lụt ngâm mấy ngày
(Tố Hữu, Vỡ bờ, câu 10, t 110, Thơ Tố Hữu)
Ví dụ so sánh:
Nhịp 3/5 trong truyện Kiều cũng đ-ợc Nguyễn Du sử dụng 13 lần
Từng cay đắng, / lại mặn nồng hơn x-a
- Nhịp 3/3/2, đây là loại nhịp cũng đ-ợc sử dụng phổ biến, số l-ợng 170 câu chiếm 7,12% trong tổng số
Cho xuân tr-ớc / lại hoá thành / xuân sau
(Tố Hữu, Mới, câu 10, t 510, Thơ Tố Hữu)
Tứng từng t-ng / tửng từng t-ng / đã đời
(Nguyễn Duy, Cung văn, câu 2, t 17, Tập về)
Ví dụ so sánh:
Trong truyện Kiều có 23 lần sử dụng nhịp 3/3/2
Giờ kim thoa / với khăn hồng / trao tay
(Truyện Kiều, câu 354)
- Nhịp 2/3/3, số l-ợng: lẻ tẻ
Mai về, / dù bạc tóc, / anh cũng về
(Tố Hữu, N-ớc non ngàn dặm, câu 314, Thơ Tố Hữu)
Sáng trong / cặp mắt đen / lồng bóng ai?
(Đồng Đức Bốn, Mây núi Thái Hàng còn giông)
- Nhịp 3/2/3, số l-ợng: lẻ tẻ
Ng-ời yêu nhau / xúc phạm / ng-ời ghét nhau
(Nguyễn Duy, Xẩm giọng, câu 20, t 23, Tập về)