Tuy nhiên từ trước đến nay, hầu hết các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phương diện văn học, cũng có nghĩa là việc tìm hiểu thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới từ góc nhìn c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ QUYẾT
VẦN VÀ NHỊP TRONG THƠ LỤC BÁT THỜI KỲ THƠ MỚI (1932 - 1945)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÔN NGỮ
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2TRẦN THỊ QUYẾT
VẦN VÀ NHỊP TRONG THƠ LỤC BÁT THỜI KỲ THƠ MỚI (1932 - 1945)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÔN NGỮ
Người hướng dẫn khoa học: GS TSKH LÝ TOÀN THẮNG
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức kinh điển, nghiên cứu khảo sát các tác phẩm của các tác giả dưới sự hướng dẫn của GS.TSKH Lý Toàn Thắng
Các số liệu và khẳng định trong luận văn này là trung thưc, do tôi tự nghiên cứu, khảo sát và thực hiện
Trần Thị Quyết
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân tôi thì còn có sự giúp đỡ, động viên của rất nhiều thầy cô, đồng nghiệp Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo GS.TSKH Lý Toàn Thắng, người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp cho tôi những vấn đề lí luận làm
cơ sở cho việc nghiên cứu, đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể cán bộ giáo viên trường THPT Cô Tô đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2012
Tác giả
Trần Thị Quyết
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Bố cục của luận văn 5
NỘI DUNG 6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6
1.1 Thơ và việc nghiên cứu ngôn ngữ trong thơ 6
1.1.1 Khái niệm “thơ” 6
1.1.2 Khái niệm “ngôn ngữ thơ” 8
1.1.3 Hình thức thơ 9
1.1.4.Đặc trưng ngôn ngữ thơ 10
1.2.Thơ lục bát 15
1.2.1 Vần trong thơ lục bát 15
1.2.2 Nhịp trong thơ lục bát 16
1.3.Giới thiệu về phong trào Thơ Mới 1932 - 1945 19
1.3.1.Khái niệm Thơ Mới 19
1.3.2.Quá trình hình thành, phát triển và kết thúc của phong trào Thơ Mới 19
1.3.3.Đóng góp của Thơ Mới với nền thi ca dân tộc 21
1.4 Vai trò của thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới 22
1.5 Giới thiệu một số tác giả tiêu biểu 24
1.6 Tiểu kết 31
Chương 2: HIỆP VẦN TRONG THƠ LỤC BÁT THỜI KÌ THƠ MỚI 32
2.1 Vần và các chức năng của vần trong thơ 32
2.1.1 Khái niệm “vần thơ” 32
2.1.2 Chức năng của vần thơ 33
Trang 62.1.3 Phân loại vần thơ 34
2.2 Vần trong thơ lục bát thời kì Thơ Mới 35
2.2.1 Tư liệu thống kê 35
2.2.2 Các nhận xét 36
2.3 Tiểu kết 53
Chương 3: NHỊP TRONG THƠ LỤC BÁT THỜI KÌ THƠ MỚI 55
3.1 Nhịp và các chức năng của nhịp trong thơ 55
3.1.1 Khái niệm “nhịp thơ” 55
3.1.2 Vai trò của nhịp thơ 56
3.1.3 Dấu hiệu hình thức của nhịp trong thơ 57
3.1.4 Nhịp trong thơ lục bát 59
3.2 Ngắt nhịp trong thơ lục bát thời kì Thơ Mới 61
3.2.1.Nhịp của dòng lục 62
3.2.2.Nhịp của dòng bát 76
3.3 Mối quan hệ giữa vần và nhịp trong thơ lục bát thời kì Thơ Mới 89
3.4 Tiểu kết 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.Thống kê số lượng, tỉ lệ các loại vần xét theo mức độ hòa âm 36
Bảng 2.2 Thống kê các kiểu loại vần chính 38
Bảng 2.3 Thống kê các kiểu loại vần thông 45
Bảng 3.1 Thống kê các loại nhịp trong dòng lục 62
Bảng 3.2 Thống kê các loại nhịp trong dòng bát 76
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật nói chung và ngôn ngữ thơ ca nói riêng mà cụ thể là thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới là quá trình khám phá tìm hiểu ngôn ngữ trong hoạt động hành chức của nó Đây là một hướng đi vừa mang tính chuyên sâu, vừa mang tính liên ngành
Giai đoạn 1932 - 1945 không những là giai đoạn bước ngoặt quan trọng trong lịch sử xã hội Việt Nam, mà đối với nền văn học nước nhà đây là mốc ghi dấu sự đổi mới nền văn học theo hướng hiện đại hoá Giai đoạn này xuất hiện hai trào lưu văn học hiện thực và lãng mạn Sự ra đời của phong trào Thơ Mới chính thức khép lại nền văn học Trung đại Việt Nam, mở ra hướng đi mới cho văn học Việt Nam nói chung và thơ ca Việt Nam nói riêng Trong giai đoạn này, tiếng Việt được nâng niu, trân trọng và là công cụ sáng tác thơ ca Thơ lục bát - “điệu hồn” của dân tộc vẫn tiếp tục phát triển trong giai đoạn này Các tác giả Thơ Mới đã di dưỡng, làm lạ hoá lục bát dân tộc, làm cho lục bát dân tộc đến với người đọc với diện mạo, phong cách mới, vừa quen vừa lạ
Phong trào Thơ Mới ra đời đánh dấu sự đổi mới của nền văn học Việt Nam trên tất cả các mặt tư tưởng, nội dung và hình thức tác phẩm Lục bát giai đoạn này trở về gần truyền thống, song vẫn mang hơi thở của thời đại mới Có lẽ vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới 1932 - 1945 luôn là đề tài hấp dẫn, có ý nghĩa cho những ai quan tâm đến việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn học Tuy nhiên từ trước đến nay, hầu hết các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phương diện văn học, cũng
có nghĩa là việc tìm hiểu thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới từ góc nhìn của ngôn ngữ học chưa được quan tâm thỏa đáng
Thơ lục bát là thể loại được đưa vào giảng dạy khá nhiều trong nhà trường, trong đó có cả thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới Vì thế việc
Trang 9nghiên cứu thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới không những góp phần tìm hiểu về sự phát triển của một thể loại thơ truyền thống để thấy vẻ đẹp của ngôn ngữ trong hoạt động hành chức của nó mà đó còn là một nhu cầu cấp thiết, có ý nghĩa thiết thực giúp cho việc giảng dạy thơ lục bát ở trường phổ thông được tốt hơn và đúng hướng hơn
Trên đây là những lí do chính để chúng tôi chọn đề tài Vần và nhịp
trong thơ lục bát thời kỳ Thơ Mới (1932 - 1945)
2 Lịch sử vấn đề
Đã hơn 60 năm kể từ khi Phong trào Thơ Mới ra đời và tạo nên bước ngoặt lịch sử trong thơ ca, đưa thơ ca từ thời kì cận đại bước vào thời kì hiện đại Nhà nghiên cứu phê bình văn học Lê Đình Kỵ năm 1989 đã khẳng định:
“Thơ Mới là một bước phát triển quan trọng, xét về mặt nào đó là cả một cuộc cách mạng trong tiến trình thơ ca Việt Nam, đưa thơ ca cổ điển Việt Nam đạt đến hiện đại cả về mặt biểu hiện cũng như cả cảm hứng thơ ca Thơ Mới đã đóng góp hàng trăm bài thơ hay, trong đó không ít bài thơ có thể xếp vào loại hay nhất của nền thơ ca dân tộc” Như vậy có thể thấy Thơ Mới đã làm nên một cuộc cách mạng về hình thức nghệ thuật, cách mạng trong tư tưởng, trong nhân sinh quan, vũ trụ quan Đến nay chúng ta không thể phủ phận được vai trò của Thơ Mới trong dòng chảy của thơ ca dân tộc Cuộc cách mạng của Thơ Mới về mặt hình thức không đoạn tuyệt với quá khứ hoặc có biểu hiện của sự ngoại lai Trong một bài viết của mình, Huy Cận đã nhận định về Thơ Mới: “Thơ Mới đã sáng tạo ra một số thể loại thơ, và đã đổi mới, “trẻ hóa” nhiều thể thơ cũ Thơ lục bát đông đặc hơn mà vẫn mềm mại, uyển chuyển Câu thơ bảy chữ biến hóa rất nhiều, từ cách ngắt câu cho đến cách ghép vần” Với những thành tựu rực rỡ của mình, Thơ Mới đã thực sự thu hút sự quan tâm cũng như niềm say mê nghiên cứu của các nhà nghiên cứu phê bình văn học, và đối với cả những người yêu thích thơ ca
Trang 10Trong cuốn Thơ ca Việt Nam: hình thức và thể loại, Bùi Văn Nguyên
và Hà Minh Đức có một nhận xét đáng chú ý là, về mặt hình thức, thơ lục bát thời kì Thơ Mới chủ yếu khai thác theo hai khuynh hướng: “hiện đại hóa” và
“trở về với truyền thống” Đây là một nhận định rất chính xác Rất tiếc là hai tác giả mới chỉ dừng lại ở một nhận định mà chưa có điều kiện đi sâu phân tích và chứng minh cho nó
Trong cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân, đây có
thể coi là một công trình nghiên cứu có giá trị về Thơ Mới, tác phẩm là những phê bình mang tính chủ quan của tác giả và chủ yếu thiên về lối giảng văn Tác giả có trích dẫn khá nhiều bài thơ lục bát của các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới, nhưng chưa có sự tổng hợp và đánh giá một cách hệ thống về hình thức thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới
Đến năm 1993 sau cuộc hội thảo nhân dịp kỉ niệm 60 năm phong trào
Thơ Mới, cuốn sách “Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca (60 năm
phong trào thơ mới)” - Huy Cận, Hà Minh Đức là một công trình tập hợp
những bài viết, đánh giá của các tác giả trong cuộc hội thảo Trong cuốn sách
này, tác giả Văn Tâm có bài Giới thuyết “Thơ mới” cũng bàn về các thể thơ
trong phong trào Thơ Mới, tuy nhiên tác giả mới chỉ đưa ra bảng thống kê về thể loại ở 10 nhà Thơ Mới tiêu biểu qua 11 thi phẩm tổng cộng 592 bài thơ
Như vậy có thể thấy trong các công trình lớn khi bàn về Thơ Mới đã dành một vị trí nhất định cho thể thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới, nhưng tất cả vẫn chỉ dừng ở những nhận định về sự cách tân, đổi mới của thể lục bát trong thời kì này ở nhịp điệu mới mẻ, lạ lẫm, ngôn ngữ thơ biến hóa linh hoạt, giàu tính nhạc hoặc nêu ra như những dẫn chứng minh họa cho việc đổi mới, cách tân về hình thức của Thơ Mới Và cho đến nay vẫn chưa có một công trình riêng biệt nào dành nghiên cứu chuyên sâu mang tính hệ thống về thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới Ở luận văn này chúng tôi sẽ cố gắng tập
Trang 11trung khảo sát một cách hệ thống những đặc điểm cơ bản và chỉ ra những cách tân của thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới, trên tinh thần tiếp thu những thành quả của những người đi trước
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Chỉ ra một số biến đổi, vận động của thơ lục bát trong thời kì Thơ Mới so với thơ lục bát truyền thống, chủ yếu là về vần điệu, nhịp điệu
*Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số vấn đề lí thuyết cơ bản về thơ nói chung và thơ lục bát nói riêng
- Khảo sát và tìm hiểu đặc điểm hình thức thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới ở hai phương diện cụ thể là: vần thơ, nhịp thơ
Từ những đặc điểm về hình thức nói trên, chúng tôi hi vọng sẽ tìm được những đổi mới của thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới so với ca dao
Trang 12văn Thạc sĩ và thời gian có hạn, chúng tôi chỉ khảo sát thơ lục bát trong năm
thi phẩm tiêu biểu, đó là: Mấy vần thơ (Thế Lữ), Thơ thơ (Xuân Diệu), Tuyển
tập Nguyễn Bính, Lửa thiêng (Huy Cận) và Tiếng thu (Lưu Trọng Lư) Trong
phạm vi đề tài của luận văn, chúng tôi chỉ nghiên cứu về mặt hình thức, cụ thể
là về các đặc trưng ngữ âm chủ yếu bao gồm: nhịp thơ, vần thơ của lục bát trong các tập thơ kể trên
5 Phương pháp nghiên cứu
*Phương pháp thống kê, phân loại
Được dùng để thống kê tần số xuất hiện của các đặc trưng ngữ âm như các kiểu vần thơ, nhịp thơ của thơ lục bát trong thời kì Thơ Mới 1932 - 1945 Trên cơ sở này chúng tôi đi sâu vào mô tả, phân tích, lý giải một số đặc trưng
và vận động của thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới
*Phương pháp miêu tả
Thông qua việc phân tích, miêu tả các đặc trưng ngữ âm trong các bài thơ lục bát khảo sát, chúng tôi đi đến khái quát đặc điểm hình thức của thể loại thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới
*Phương pháp so sánh
Tiến hành so sánh, đối chiếu giữa thể thơ lục bát thời kì Thơ Mới và thể lục bát truyền thống để làm sáng tỏ sự vận động, biến đổi trong thơ lục bát thời kì Thơ Mới
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Hiệp vần trong thơ lục bát thời kì Thơ Mới
Chương 3: Nhịp trong thơ lục bát thời kì Thơ Mới
Trang 13NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Thơ và việc nghiên cứu ngôn ngữ trong thơ
1.1.1 Khái niệm “thơ”
Nói đến khái niệm “thơ”, từ trước đến nay đã có nhiều cách kiến giải khác nhau Như chúng ta đã biết, thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình Bản chất của thơ ca phong phú, đa dạng và nhiều biến thái Sự tác động của thơ đối với người đọc cũng bằng nhiều con đường khác nhau Chính vì bản chất phức tạp vốn có của thơ ca mà người ta có nhiều cách
lí giải khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về bản chất của thơ ca Nhìn chung có một số khuynh hướng chủ yếu sau:
Thứ nhất, khuynh hướng thần thánh hóa thơ ca, xem bản chất của thơ
ca là tôn giáo và cho rằng hoạt động sáng tạo thơ ca gắn với một cái gì đó thiêng liêng, huyền bí Các nhà nghiên cứu thường lí tưởng hóa thơ ca hoặc đối lập một cách cực đoan giữa thơ ca với hiện thực cuộc sống Cụ thể: nhà triết học vĩ đại thời kì Hy Lạp cổ đại đã xem bản chất của thơ ca thể hiện trong linh cảm - những cảm giác thiêng liêng nhất giữa thế giới cao xa của thần thánh và thế giới con người Và nhà thơ là người có chung năng lực cảm giác và biểu đạt Nhà thơ lãng mạn Pháp nổi riếng Lamartine lại cho rằng:
“Thơ là hiện thân cho những gì thầm kín nhất của con tim và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người, và hình ảnh tươi đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong thiên nhiên”
Ở Việt Nam, do ảnh hưởng của nền văn hóa phương Tây, đặc biệt văn hóa Pháp, đã xuất hiện một lớp công chúng mới với thị hiếu và quan niệm mới
Trên tuần báo Ngày nay, (xuất bản 1937), Thế Lữ viết: “Thơ, riêng nó
phải có sức gợi cảm bất cứ trong trường hợp nào”
Trang 14Hàn Mặc Tử nói: “Làm thơ tức là điên” Chế Lan Viên cũng có quan điểm tương tự: “làm thơ là sự phi thường Thi sỹ không phải là Người, nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tình, là Yêu Nó thoát hiện tại, nó xáo trộn dĩ vãng, nó ôm trùm tương lai Người ta không hiểu được nó vì nó vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lí” [ tựa
Điêu tàn - tr.193] Như vậy, nghiên cứu bản chất sự sáng tạo thơ, nhiều người
xem nghệ sĩ là kẻ siêu phàm và coi quá trình sáng tạo thơ như một cái gì đó thần bí
Thứ hai, giải thích bản chất của thơ ca xuất phát từ việc gắn sứ mệnh
của thơ với đời sống xã hội Người ta xem cuộc sống chính là mảnh đất phù
sa màu mỡ, là chất hương nồng của thơ ca Không có cuộc sống thì không có thơ ca Nhà thơ Tố Hữu viết: “Thơ là cái nhụy của cuộc sống” và “thơ chỉ trào
ra khi tim ta cuộc sống thật tràn đầy” Nhà thơ Sóng Hồng phát biểu: “Thơ là
sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp nhất” và “thơ chính là cuộc sống được tinh lọc”
Thứ ba, giải thích thơ ca xuất phát từ vấn đề đồng cảm trong thơ Tố
Hữu cho rằng: “Thơ là một điệu hồn đi tìm những hồn đồng điệu”, “thơ là tiếng nói đồng tình, đồng chí”, là “thơ là tiếng nói tri âm”
Thứ tư, hình thức hóa thơ ca, xem bản chất thơ thuộc về những nhân tố
hình thức Phan Ngọc trong bài viết Thơ là gì? cũng đưa ra cách kiến giải khá
độc đáo Theo ông, “Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ cho hình thức tổ chức ngôn ngữ ấy” [41] Chữ “quái đản” mà Phan Ngọc dùng ở đây chính là nói đến cách tổ chức khác thường của ngôn ngữ thơ Tuy vậy, khuynh hướng này có hạn chế là nhìn nhận đánh giá bản chất thơ ca còn quá chủ quan, phiến diện Vì quá tuyệt đối hóa yếu tố hình thức nên vô hình chung đã hạ thấp nội dung xuống bình diện thứ yếu
Trang 15Tóm lại, những khuynh hướng, quan niệm về thơ nêu trên mặc dù còn khác nhau, nhưng đều tập trung làm rõ bản chất thơ ca và vai trò của con người trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Tuy nhiên các quan điểm đó vẫn chưa chỉ ra đặc trưng riêng biệt và chưa khái quát được các tiêu chí định tính của thơ ca Từ quan niệm đó làm nảy sinh hai khái niệm tương đồng: hình thức của nội dung và nội dung của hình thức mở đường cho chúng ta đi vào khám phá văn bản thơ ca một cách có hệ thống và khoa học Rõ ràng, việc tìm một định nghĩa thơ hoàn chỉnh cả mặt nội dung lẫn hình thức là công việc khá nan giải Công việc này dành riêng cho các nhà nghiên cứu chuyên sâu Từ yêu cầu của vấn đề đặt ra đối với luận văn, chúng tôi sử dụng định nghĩa về
thơ được nêu trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học như sau: Thơ là hình thức
sáng tạo văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu
Theo chúng tôi, định nghĩa này phần nào có thể bao quát được các quan điểm nêu trên
1.1.2 Khái niệm “ngôn ngữ thơ”
Văn học là nghệ thuật của ngôn từ, đặc biệt là trong lĩnh vực thơ ca và người làm thơ là một nghệ sĩ đích thực trên lãnh địa ngôn từ ấy Do sự hạn chế về số lượng câu chữ nên ngôn ngữ thơ ca trước hết là thứ ngôn ngữ trau
chuốt, gọt giũa, hàm súc đến mức tinh luyện Maiacopxki cho rằng: Sáng tạo
thơ ca cũng giống như lọc quặng, lọc ra cái tinh chất Thơ ca là cái tinh hoa tối cao của ngôn ngữ, là cái ánh ngời phi thường của nó Tuy nhiên việc làm thơ
không đồng nghĩa với việc đúc chữ, dùng những mỹ từ Thứ ngôn ngữ tinh luyện của thơ ca không phải đến từ kĩ thuật mà đó là tiếng nói phát sáng từ tâm hồn, do
sự tuyển lựa từ trong tâm hồn Vì thế người làm thơ nhiều lúc không để ý đến việc làm thơ mà bật thành thơ một cách tự nhiên từ tâm hồn
Cũng giống như các loại hình nghệ thuật khác thơ ca cũng phản ánh cuộc sống Tuy nhiên phương thức phản ánh cuộc sống của thơ ca khác với
Trang 16các thể loại khác Thơ ca phản ánh cuộc sống bằng phương thức trữ tình Vì thế, ngôn ngữ thơ chính là ngôn ngữ bão hòa cảm xúc Cuộc sống được chiếu
rọi qua lăng kính tâm hồn đầy cảm xúc của nhà thơ, thơ phát khởi từ trong
lòng người ta (Lê Quý Đôn)
1.1.3 Hình thức thơ
Tác phẩm văn học dù thuộc thể loại nào, bao giờ cũng có hai bình diện: nội dung và hình thức Đây là vấn đề khá phức tạp, bởi thực tế, hình thức và nội dung là hai khái niệm của triết học, và hai khái niệm này được áp dụng đối với nhiều phạm trù, được sử dụng trong nhiều ngành khoa học Vì vậy, khi nói đến nội dung và hình thức của tác phẩm văn học, có cảm tưởng nội hàm của khái niệm hơi rộng so với đối tượng Có lẽ vì thế mà hiện nay, giới nghiên cứu ngữ văn thường dùng hai khái niệm: Văn bản và ý nghĩa để thay thế cho hai khái niệm rất rộng kia
Nói như vậy, không có nghĩa nội dung và hình thức của tác phẩm văn học (trong đó có tác phẩm thuộc thể loại thơ) là “bất khả tri” Thực tế, người
ta vẫn có thể phân biệt hai phạm trù một cách tương đối ở các thể loại văn học (nói phân biệt tương đối là bởi, trong văn học, nội dung phải gắn với hình thức, hình thức là hình thức của một nội dung cụ thể)
Nói đến nội dung của thơ, người ta thường nói đến tình cảm được biểu hiện trong đó Nội dung của thơ, thực chất là những cung bậc cảm xúc được biểu hiện trong tác phẩm Thơ có thể nói đến thế giới tự nhiên và cuộc sống con người, nhưng nó không “chụp ảnh”, không tái hiện kiểu “soi gương”, mà phải được khúc xạ qua lăng kính tâm hồn của người làm thơ Hình ảnh một
“sông dài trời rộng” trong Tràng giang là hình ảnh thiên nhiên rợn ngợp được
phản chiếu qua tâm hồn đơn côi của Huy Cận Vườn tược và hình bóng người Thôn Vĩ là những hình ảnh được khúc xạ qua những nỗi niềm của Hàn Mặc
Tử Anh giải phóng quân trong một số bài thơ Xuân của Tố Hữu là anh giải
Trang 17phóng quân hiện ra dưới cái nhìn chiêm ngưỡng, ngợi ca của một nhà thơ cộng sản Đấy là nguyên tắc phản ánh hiện thực của thơ ca
Tương ứng với nội dung đặc thù đó, thơ cũng phải có hình thức nghệ thuật đặc thù Hình thức ấy chung quy được thể hiện ở các cấp độ:
Thứ nhất là đề tài thơ Thơ, dù bí hiểm đến đâu cũng không cắt đứt mối
liên hệ với đời sống con người Như vậy, đề tài thơ là nhân tố tồn tại tất yếu trong bất cứ bài thơ nào Người ta thường khái quát thành các đề tài: tình yêu, thiên nhiên, thân phận con người
Thứ hai, nói đến hình thức thơ là phải nói đến thể thơ Thể thơ là một
kiểu thơ được tổ chức theo một nguyên tắc nhất định Nguyên tắc đó chặt chẽ, bền vững, có tính quy ước, mọi cá nhân đều phải tuân thủ Sự sáng tạo cá nhân không thể phá vỡ đặc trưng của thể Các thể thơ trong thơ Việt Nam thường gắn với số tiếng của dòng thơ, chẳng hạn: thơ lục bát, song thất lục bát, thơ bốn tiếng, năm tiếng, sáu tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, thơ tự do (số tiếng trong dòng thơ không cố định)
Kết cấu cũng là một phương diện của hình thức thơ Kết cấu đảm nhiệm vai trò tổ chức các yếu tố thành một chỉnh thể theo phương thức: dùng một chuỗi phương tiện ngôn từ kế tiếp nhau theo thời gian làm sống dậy thế giới hình tượng và thiết lập một trật tự nghệ thuật cho nó
Ngôn ngữ là biểu hiện rõ nhất của hình thức thơ Nhiều định nghĩa về thơ đã đồng nhất thơ với hình thức ngôn ngữ đặc thù của nó Tính đặc thù của ngôn ngữ thơ thể hiện ở ngữ âm (vần, thanh điệu, nhịp); ở từ ngữ, ở cú pháp của câu thơ; ở các biện pháp tu từ mà bài thơ sử dụng; ở cấu trúc văn bản thơ
1.1.4 Đặc trưng ngôn ngữ thơ
Ngôn ngữ thơ trước hết là ngôn ngữ văn học Nếu như Phan Ngọc luôn
nhấn mạnh “Hình thức tổ chức ngôn ngữ “quái đản” chính là nét đặc trưng
Trang 18của ngôn ngữ thơ” thì Roman Jakobson lại có cái nhìn bao quát về ngôn ngữ thơ khi ông kết luận: “Chức năng thi ca đem nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp” Nhìn chung, những quan niệm về ngôn ngữ thơ như trên đã bao quát được vấn đề, song còn khái quát, trừu tượng Cũng với ý nghĩa đó, chúng ta có thể diễn đạt một cách cu thể như sau: “Ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ đời sống nhưng được chọn lọc, tinh giản đến mức súc tích nhất, chúng được tổ chức chặt chẽ, có khoảng ngắt, có vần điệu và có quy luật phối âm riêng, tùy thuộc vào từng ngôn ngữ”
Roman Jakobson - nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã phân biệt thơ và văn xuôi trên phương diện hình thức biểu đạt: ngôn ngữ văn xuôi là phương tiện biểu đạt một ý nào đó, sau đó người ta quên ngôn ngữ ấy Ngược lại, ngôn ngữ thơ tự lấy mình làm mục đích Chính vì vậy mà ngôn ngữ thơ nó có
đặc trưng riêng như sau: tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo
hình, tính biểu cảm Tuy nhiên, ở mỗi loại tác phẩm khác, những biểu hiện
ấy lại biểu hiện dưới những sắc thái và mức độ khác nhau Đồng thời, mỗi loại tác phẩm lại có những đặc trưng ngôn ngữ riêng So với ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ có những đặc điểm khác biệt sau:
a Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính
Thơ trữ tình phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy Nếu như trong văn xuôi các đặc tính thanh học của ngôn ngữ như cao độ, cường độ, trường độ không được tổ chức thì trong thơ, trái lại những đặc tính ấy lại được tổ chức chặt chẽ, có dụng ý, nhằm tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều mà từ ngữ không nói hết Bởi thế, đặc trưng tính nhạc được coi là đặc trưng chủ yếu mang tính loại biệt rõ nét của ngôn ngữ thơ ca
Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, nhạc tính trong thơ được thể hiện
ra ở ba mặt cơ bản Đó là: sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp
Trang 19Sự cân đối là sự tương xứng hài hòa giữa các dòng thơ Sự hài hòa đó
có thể là hình ảnh, là âm thanh, kiểu như: Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử / Hết
cơm, hết rượu, hết ông tôi (Nguyễn Bỉnh Khiêm) Cũng có thể là cách tổ chức
mà chúng ta dễ dàng nhận thấy ở cặp câu thực, câu luận trong bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú Đối với thơ hiện đại, yêu cầu này không đặt ra Tuy vậy nhà thơ vẫn hết sức chú ý đến hiệu quả nghệ thuật của phép đối xứng trong thơ mình
Sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ thể hiện ở cách hòa âm, ở sự thay đổi
độ cao giữa hai nhóm thanh điệu, ở nhịp điệu Tố Hữu đã có lần nói đến giá trị ngữ âm của từ “xôn xao” trong câu thơ: Gió lộng xôn xao sóng biển đu đưa (Mẹ Tơm) Đó đâu chỉ là âm vang của tự nhiên mà còn là âm vang của tâm hồn Cái làm nên âm vang đó chính là âm thanh, âm thanh của từ “xôn xao”
đã cộng hưởng với ý nghĩa của nó làm nên điều kì diệu ấy
Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ thể hiện ở việc sử dụng các khuôn vần,
ở cách điệp từ ngữ, điệp cú pháp Chúng có tác dụng như một phương tiện kết dính các dòng thơ lại với nhau thành một đơn vị thống nhất, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho trí nhớ vừa tạo nên vẻ đẹp trùng điệp cho ngôn ngữ thơ
Như vậy, nhạc điệu trong thơ là một đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ Ngày nay nhu cầu của thơ có phần đổi khác, một số người có xu hướng bỏ vần để tự do hóa triệt để câu thơ Nhưng nếu không có một nhạc điệu nội tại nào đó như sự đối xứng giữa các dòng, các đoạn thơ, tiết tấu, nhịp điệu của câu thơ thì không còn là ngôn ngữ thơ nữa
b Ngôn ngữ thơ có tính hàm súc
Đây là đặc điểm chung của ngôn ngữ văn chương, nhưng do đặc trưng thể loại mà nó biểu hiện một cách tập trung, với yêu cầu cao nhất trong ngôn ngữ thơ Nếu ngôn ngữ văn xuôi tự sự là ngôn ngữ của cuộc sống đời thường,
nó chấp nhận mọi lớp từ, mọi biến thái, mọi chiều kích, thậm chí cả sự xô bồ,
Trang 20phồn tạp đến cực độ để tái hiện bộ mặt cuộc sống, tâm lí con người trong sự
sâu rộng, đa chiều vốn có của nó thì ngôn ngữ thơ lại mang nặng tính đặc
tuyển Là thể loại có dung lượng ngôn ngữ hạn chế nhất, nhưng thơ lại có
tham vọng chiếm lĩnh thế giới Nói như Êgiêrốp: “Bài thơ là một lượng thông tin lớn nhất trong một diện tích ngôn ngữ nhỏ nhất” Chính sự hạn định số tiếng trong câu thơ, bài thơ buộc người nghệ sĩ phải “thôi xao”, nghĩa là phải phát huy sự tư duy ngôn ngữ để có sự lựa chọn phù hợp nhất cho từng trường hợp sử dụng
Như vậy tính hàm súc được hiểu là khả năng của ngôn ngữ có thể miêu
tả mọi hiện tượng của cuộc sống một cách cô đọng, ý tại ngôn ngoại Đây chính là cách dùng từ sao cho đắt nhất, có giá trị biểu đạt cao nhất, kiểu như:
- Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh
- Đã nghe rét mướt luồn trong gió
người con gái được thi sĩ Tản Đà thể hiện rất rõ nét chỉ bằng một từ khô (Suối
khô dòng lệ chờ mong tháng ngày)
Để đạt được tính hàm súc, có thể biểu hiện được cái vô hạn của cuộc sống trong những cái hữu hạn của các đơn vị ngôn ngữ, thơ ca phải tính đến những cách tổ chức đặc biệt, cái mà nhà nghiên cứu Phan Ngọc gọi là “quái đản” Dưới áp lực của cấu trúc ngôn ngữ khác thường này, ngữ nghĩa của từ ngữ trong thơ không dừng lại ở nghĩa gốc, nghĩa đen, nghĩa trong từ điển, mà phong phú, đa diện mạo hơn Đó là lớp nghĩa tạo sinh nhờ quan hệ và trong quan hệ
Trang 21c Ngôn ngữ thơ có tính truyền cảm
Tính truyền cảm cũng là đặc trưng của ngôn ngữ văn chương nói chung, bởi tác phẩm văn học là sản phẩm của những rung động tâm hồn của người nghệ sĩ trước hiện thực cuộc sống Cho nên, ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương phải biểu hiện được cảm xúc của tác giả, và phải truyền được cảm xúc đó đến người đọc, khơi dậy trong lòng độc giả những cảm xúc thẩm
mĩ Tuy nhiên do đặc trưng của thơ là tiếng nói trực tiếp của tình cảm, của trái tim nên ngôn ngữ thơ ca có tính gợi cảm đặc biệt
Ngôn ngữ thơ không bao giờ là ngôn ngữ chú trọng miêu tả khách quan như ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự Nếu nhà văn dùng ngôn ngữ để thuyết minh, miêu tả, giải thích thì nhà thơ dùng ngôn ngữ để truyền cảm Khi
Quang Dũng viết: “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy - Có thấy hồn lau nẻo
bến bờ - Có nhớ dáng người trên độc mộc - Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”, Quang Dũng không có ý hỏi ai lên Châu Mộc trong buổi chiều sương
nào đó có nhìn thấy phong cảnh hữu tình không, mà ông khơi gợi trong ta nỗi nhớ thương mất mát, nuối tiếc ngậm ngùi những ngày tháng, những kỉ niệm, những ảo ảnh đã tan biến trong cuộc đời Nó trực tiếp thể hiện tâm trạng cho nên sự lựa chọn từ ngữ, phương thức tu từ trong thơ bao giờ cũng nhằm làm cho nội dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán, ca ngợi trở nên nổi bật
Mặt khác, tính truyền cảm của ngôn ngữ thơ không chỉ biểu hiện qua cách lựa chọn từ ngữ, các phương thức tu từ mà còn biểu hiện qua nhạc điệu thơ Chẳng hạn:
Tài cao phận thấp chí khí uất Giang hồ mê chơi quên quê hương
(Tản Đà)
Các âm cuối tắc, vô thanh -p trong thấp và -t trong uất tạo nên ấn tượng
về sự nghẹn ngào, còn các phụ âm cuối mũi, vang -ng trong giang, -n trong
Trang 22quên, -ng trong hương cùng các âm tiết mở (hồ, quê, mê), nửa mở (chơi) lại
gợi một trạng thái lâng lâng khó tả, ung dung tự tại của một tâm hồn thoát tục
Sự đối lập nhạc điệu ở hai câu thơ nối tiếp nhau đã tạo nên những biểu tượng ngữ âm trái chiều nhau Qua đó những câu thơ đó sẽ gây được cảm xúc thẩm mĩ trong lòng độc giả
1.2 Thơ lục bát
Thơ lục bát là một trong những thể thơ mang đậm dấu ấn của văn học dân tộc, được bắt nguồn sâu xa từ cội rễ văn học dân gian Lục bát, bởi thế cũng mang những đặc điểm chung về vần và cách ngắt nhịp của thơ ca tiếng Việt như đã trình bày ở trên Song như chúng ta biết, mỗi thể thơ, bên cạnh đặc điểm chung ra thì đều có những đặc điểm riêng, lục bát cũng không phải
là ngoại lệ
1.2.1 Vần trong thơ lục bát
Về vần, trong thể lục bát gồm cả vần lưng và vần chân Ở dạng cơ bản nhất, một bài thơ lục bát chỉ có hai dòng và mỗi dòng có một vần Dòng lục mang vần chân và dòng bát mang vần lưng ở âm tiết thứ sáu hoặc âm tiết thứ
tư Ví dụ:
Đêm trăng thanh anh nói với nàng:
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
Trang 23lưng); tiếng thứ tám của dòng bát lại hiệp vần với tiếng thứ sáu của dòng lục tiếp theo (vần chân) Nguyên tắc hiệp vần nêu trên có thể khái quát lại theo
mô hình sau:
Câu 1: 1 2 3 4 5 6 Câu 2: 1 2 3 4 5 6 7 8 Câu 3: 1 2 3 4 5 6
Câu 4: 1 2 3 4 5 6 7 8
Ví dụ:
Thưa đây một đóa hoa hồng
Và đây một ít hương lòng hoang vu
Đầu bù trở lại kinh đô,
Tơ vương chín mối, sầu cho một lòng
(Nguyễn Bính - Đóa hoa hồng)
Đặc biệt, vần trong thơ lục bát luôn luôn là thanh bằng nên câu thơ nhờ
đó mà trở nên nhịp nhàng, uyển chuyển, dễ đọc, dễ nhớ
1.2.2 Nhịp trong thơ lục bát
Về nhịp, sự phân bố nhịp lớn, nhịp nhỏ trong thơ lục bát hoàn toàn khác với sự ngắt nhịp trong thơ tự do hoặc trong các thể thơ cách luật khác Mỗi cặp thơ lục bát gồm hai dòng thơ 14 tiếng, trên sáu, dưới tám Nhịp sáu, tám luân phiên đều đặn không đổi giữa các dòng tạo cho thể thơ này một cái nền vững chắc Đó là cái nền của nhịp chẵn Dựa trên cái nền ấy, nhịp nhỏ trong hai dòng thơ lục bát được ngắt ra, trước hết cũng là một nhịp chẵn
Nhịp chẵn là nhịp điệu tự nhiên trong lời nói tiếng Việt Nó quen thuộc, phổ biến và ăn sâu vào tiềm thức của người Việt như một thứ đặc điểm dân tộc cố hữu, giống như từ láy đôi, từ ghép đôi, như đối xứng đối chọi, như lối sóng đôi biền ngẫu trong từ chương cổ Điều này cũng được các tác giả Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức chứng minh cụ thể Đó là trong 16 dạng phổ
Trang 24biến nhất của nhịp thơ lục bát (dòng sáu có 6 dạng, dòng tám có 10 dạng) thì
có tới 10 dạng là nhịp chẵn (6, 2/2/2, 2/4, 4/2; 8, 2/2/2/2, 2/6, 6/2, 4/4, 2/4/2) Đặc điểm này dẫn đến một hệ quả rất đáng lưu ý là khả năng và xu hướng đưa
về nhịp chẵn trong trường hợp có sự tranh chấp hoặc khó xác định vị trí ngắt nhịp Đưa về nhịp chẵn cũng tức là không ngắt nhịp nhỏ ở giữa dòng, nơi mà nếu nhất thiết phải ngắt thì đó lại là nhịp lẻ Ví dụ:
Trong như tiếng hạc bay qua Đục như nước suối mới sa nửa vời
(Nguyễn Du - Truyện Kiều)
Cặp lục bát này nếu không đưa về nhịp chẵn, nhịp lớn thì phải ngắt thành nhịp lẻ như sau:
Trong/ như tiếng hạc bay qua Đục/ như nước suối mới sa nửa vời
Tuy phổ biến và có áp lực mạnh như vậy nhưng không có nghĩa nhịp chẵn là duy nhất Tồn tại bên cạnh nhịp chẵn là nhịp lẻ, là sự phá vỡ cái đều đặn cân đối, phá vỡ cái nhịp nhàng đơn điệu để tạo nên sự biến đổi và thiết lập một sự hài hòa mới Nhịp lẻ xuất hiện một cách bất ngờ, có tác dụng củng
cố cho cái nền nhịp chẵn, có giá trị như một nét biến điệu để rồi ngay sau đó lại trở về với nhịp chẵn trong sự tiếp tục của bài thơ Khi cần có sự kết hợp giữa nhịp chẵn và nhịp lẻ trong nội bộ dòng thơ thì người Việt tỏ ra ưa thích
để nhịp lẻ trước, nhịp chẵn sau Ví dụ:
Chị tôi nước mắt đầm đìa/
Chào hai họ/ để đi về nhà trai/
Mẹ trông theo/ mẹ thở dài/
Dây pháo đỏ/ bỗng vang trời nổ ran/
Tôi ra đứng tận đầu làng/
Ngùi trông theo chị khuất ngàn dâu thưa
(Nguyễn Bính - Lỡ bước sang ngang)
Trang 25Và có một điều đặc biệt thú vị là: hai nhịp lẻ sóng đôi liên tiếp liền nhau lại gây được ấn tượng nhịp chẵn trong toàn cục Ví dụ:
Thày đừng nhớ/ mẹ đừng thương Cầm như đồng kẽm/ ngang đường bỏ rơi!
(Nguyễn Bính - Thơ gửi thầy mẹ)
Có thể nói, kiểu nhịp lẻ như trên đã đáp ứng được một yêu cầu khá quan trọng trong cấu tạo thơ lục bát, đó là yêu cầu tạo ra tiểu đối trong phạm
vi dòng thơ
Nhờ có sự phối hợp, xen kẽ giữa nhịp chẵn và nhịp lẻ trong thơ lục bát như vậy đã tạo nên sự uyển chuyển, sinh động, góp phần diễn tả linh hoạt những nội dung ngữ nghĩa của dòng thơ, đoạn thơ và cả bài thơ
Đặc tính luân phiên giữa nhịp chẵn và nhịp lẻ nêu trên cũng tương tự như sự luân phiên bằng trắc trong thơ lục bát Về phối thanh, tiếng thứ tư (ở
cả dòng lục và dòng bát) phải là thanh trắc; các tiếng thứ hai, thứ sáu, thứ tám phải là thanh bằng Tuy nhiên, cũng có trường hợp tiếng thứ hai ở câu lục
hoặc câu bát có thể linh động, là thanh bằng hay thanh trắc đều được
Tiếng đưa hiu hắt bên lòng
Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn
(Thế Lữ - Tiếng sáo thiên thai)
Qua phần trình bày trên có thể thấy rằng: vần, nhịp và thanh điệu là những yếu tố không thể thiếu trong thơ ca tiếng Việt nói chung cũng như
Trang 26trong thể lục bát nói riêng Chúng chính là những điều kiện tiên quyết để hình thành nên các thể thơ tiếng Việt Ngoài ra, các yếu tố trên còn là điều kiện để các biện pháp tu từ có cơ hội thể hiện đặc tính nghệ thuật của riêng mình
1.3 Giới thiệu về phong trào Thơ Mới 1932 - 1945
1.3.1 Khái niệm Thơ Mới
Khái niệm Thơ Mới ở đây được dùng để đối sánh với khái niệm “thơ cũ” Thơ Mới là gì? Thơ Mới là lối thơ “không theo qui củ của lối thơ cũ, nghĩa là không hạn định số câu, số chữ, không theo niêm luật, chỉ cần có vần
điệu, ” (Việt Nam văn học sử yếu - Dương Quảng Hàm)
Theo Nguyễn Quốc Túy trong cuốn “Thơ Mới - bình minh thơ hiện đại” (Nxb giáo dục văn học 1995) thì khái niệm Thơ Mới không đồng nhất với khái niệm “thơ lãng mạn” “Thơ lãng mạn” là một trong những thành phần chính của Thơ Mới, góp phần to lớn vào thắng lợi của Thơ Mới và phong trào Thơ Mới Tuy nhiên trong Thơ Mới còn có những bài thơ hiện thực thật sự giá trị như: “Gửi Trương Tửu” của Nguyễn Vỹ và bài “Chợ tết” của Đoàn Văn Cừ,
Với yêu cầu hiện đại hóa thơ dân tộc, Thơ Mới đã tiếp thu rất nhiều yếu
tố trong thơ ca lãng mạn Pháp, đặc biệt là trường phái thơ tượng trưng Pháp, đồng thời cũng kế thừa và phát triển tinh hoa thơ cổ của dân tộc, thơ cổ Trung Hoa và thơ dân gian Việt Nam Như vậy Thơ Mới là một bước phát triển mới của dân tộc chứ không phải là một thời đại mới của thơ lãng mạn
1.3.2 Quá trình hình thành, phát triển và kết thúc của phong trào Thơ Mới
Thơ Mới đã được thai nghén từ trước 1932 và thi sĩ Tản Đà chính là người dạo bản nhạc đầu tiên trong bản hòa tấu của phong trào Thơ Mới Tản
Đà chính là “gạch nối” của hai thời đại thơ ca Việt Nam, được Hoài Thanh - Hoài Chân xếp vị trí đầu tiên trong số 46 tên tuổi của phong trào Thơ Mới
Đến ngày 10/3/1932 khi Phan Khôi cho đăng bài thơ “Tình già” trên Phụ nữ
tân văn số 22 cùng với bài tự giới thiệu Một số lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ thì phát súng lệnh của phong trào Thơ Mới chính thức bắt đầu
Trang 27Phong trào Thơ Mới phát triển qua ba chặng sau:
Ở giai đoạn đầu, Thế Lữ là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ
Mới với tập Mấy vần thơ (1935) Ngoài ra còn có sự góp mặt của các nhà thơ
Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên,
+) Giai đoạn 1936 - 1939
Đây là giai đoạn Thơ Mới chiếm ưu thế tuyệt đối, so với “thơ cũ” trên nhiều bình diện, nhất là về mặt thể loại
Giai đoạn này xuất hiện nhiều tên tuổi nổi bật như: Xuân Diệu (Tập
Thơ thơ - 1938), Hàn Mặc Tử (Gái quê - 1936, Đau thương - 1937), Chế
Lan Viên (Điêu tàn - 1937), Bích Khê (Tinh huyết - 1939) Đặc biệt là sự góp
mặt của Xuân Diệu - nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới, vừa mới bước chân
vào làng thơ “đã được người ta dành cho một chỗ ngồi yên ả” (Hoài Thanh) Xuân Diệu chính là nhà thơ tiêu biểu nhất của thơ ca giai đoạn này
Sự khẳng định cái Tôi một cách mạnh mẽ đã khiến giai đoạn này diễn
ra phân hóa và hình thành một số khuynh hướng sáng tác khác nhau Cái Tôi mang màu sắc cá nhân đậm nét đã góp phần tạo nên những phong cách nghệ
Trang 28thuật rất riêng của mỗi nhà thơ, cả về thi pháp lẫn tư duy nghệ thuật Và khi cái Tôi rút đến sợi tơ cuối cùng, là lúc nhà thơ mới đã chọn cho mình một cách thoát ly riêng
+) Giai đoạn 1940 - 1945
Từ năm 1940 trở đi, phong trào này xuất hiện nhiều khuynh hướng
sáng tác khác nhau Tiêu biểu là nhóm Dạ Đài gồm Vũ Hoàng Chương, Trần Dần, Đinh Hùng, ; nhóm Xuân Thu Nhã Tập có Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đỗ Cung, ; Nhóm Trường thơ loạn có Chế Lan Viên, Hàn
Mặc Tử, Bích Khê,
Có thể nói các khuynh hướng thoát ly ở giai đoạn này đã chi phối sâu sắc cảm hứng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật trong sáng tác của các nhà Thơ Mới Giai cấp tiểu tư sản thành thị và một số bộ phận tri thức đã không giữ được tư tưởng độc lập đã tự phát chạy theo giai cấp tư sản Với thân phận của người dân mất nước và bị chế độ xã hội thực dân o ép, họ như kẻ đứng giữa ngã ba đường sẵn sàng đón nhận những luồng gió khác nhau thổi tới Bên cạnh đó một bộ phận các nhà thơ mới mất phương hướng, rơi vào bế tắc không lối thoát
1.3.3 Đóng góp của Thơ Mới với nền thi ca dân tộc
Trong tác phẩm “Những thế giới nghệ thuật thơ” (Nxb Giáo dục - 1995), tác giả Trần Đình Sử đã đánh giá về Thơ Mới như sau: Phong trào Thơ Mới là một cuộc cách mạng về thi ca chưa từng có trong lịch sử văn học dân tộc Nó chẳng những đem lại những tác phẩm hay, những nhà thơ độc đáo mà còn đem lại một phạm trù thơ hiện đại, một thi pháp mới, phân biệt và thay thế cho thơ trữ tình cổ điển truyền thống Theo Tạ Đức Hiền, Thơ Mới có nhiều đóng góp lớn đối với nền thi ca Việt Nam:
- Thể hiện được tình yêu cuộc sống thiết tha, nồng nhiệt
- Diễn tả tinh tế, sâu sắc, nồng nàn tình yêu đôi lứa
- Đổi mới táo bạo về hình thức nghệ thuật (vần, nhịp, nhạc điệu, )
Trang 291.4 Vai trò của thơ lục bát trong phong trào Thơ Mới
Tiến trình lịch sử thi ca dân tộc đã chứng minh rằng thơ lục bát có một phẩm chất thẩm mĩ đặc biệt kết tinh tinh hoa văn hóa - ngôn ngữ dân tộc Lục bát thể hiện cảm thức cộng đồng ở mọi thời đại Ngôn từ lục bát bằng cách này hay cách khác đã đi vào tâm thức cộng đồng, biến hóa và tái sinh hiển nhiên giữa đời sống hiện thực một cách bền bỉ và sâu lắng Phạm Đình Toái
đã từng đưa ra nhận định về thơ lục bát như sau: “tao nhân, hào khách mở miệng thành câu, khuê phụ, điền phu buông lời đúng điệu cho đến ngạn ngữ
ca dao các trẻ con đùa hát mà cũng đều tự nhiên đúng thể” Sở dĩ có tình trạng
đó là vì “hình hài” lục bát rất tự nhiên đã thường trú trong mỗi chúng ta tự
bao giờ, chỉ cần có điều kiện cảm xúc là có thể buông lời đúng điệu Người ta
có thể dùng lục bát để đọc, để ngâm, để ví, để hát ru hay hát giao duyên Có
lẽ cũng vì thế mà lục bát đã được khẳng định là một thể thơ thuần túy Việt
Nam có thể sánh ngang với thơ Đường Trung Hoa hay các thể thơ khác của
một số dân tộc Châu Âu
Vốn là một thể thơ bình dân, ra đời từ rất sớm, thoát thai từ ca dao, từ những giai điệu đồng quê đã được tinh luyện đến độ tinh khiết, lục bát đã không ngừng phát triển để tồn tại, chiếm lĩnh thi hứng chính thống và khẳng định vị trí không thể thay thế của mình trong tiến trình văn học Đến nay lục bát đã trở nên phong phú và đa dạng nhờ những đóng góp của các tác giả tên tuổi như Nguyễn Du, Tản Đà, Huy Cận, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Khi một thể thơ đồng hành cùng với tiến trình lịch sử - văn hóa dân tộc thì nó cũng đồng thời trở thành một giá trị văn hóa có giá trị ổn định và có thể được xem như là thực chứng cho sự tồn tại hay tiêu vong của cộng đồng dân tộc ấy Vì vậy, giữ gìn, phát triển lục bát là trau dồi bản sắc và phát triển văn hóa dân tộc Trong tiến trình phát triển của mình, ở mỗi giai đoạn lục bát đều có những đặc điểm riêng Có không ít người đã cho rằng lục bát chỉ phát triển
Trang 30rực rỡ trong văn học dân gian, đến Truyện Kiều nó thực sự hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình và nhường chỗ cho những thể loại thơ ca khác Trên thực tế, lục bát đã khẳng định sức sống bền bỉ của mình và cũng không ngừng tỏa sáng, góp phần làm đẹp cho nền thi ca dân tộc
Trong cuốn Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại khi liệt kê các thể
thơ ca phổ biến thời kì Thơ Mới (1932 - 1945), hai tác giả Bùi Văn Nguyên
và Hà Minh Đức đã chỉ ra sự góp mặt quan trọng của thể thơ lục bát Thơ lục
bát thời kì này chủ yếu vận động theo hai khuynh hướng đó là: khuynh hướng
hiện đại hóa và khuynh hướng trở về với ca dao Cho dù đi theo khuynh
hướng nào thì cùng với các thể thơ khác (thể bốn từ, thể năm từ, thể bảy từ, thể thơ tám từ, ) lục bát đã cùng góp phần làm phong phú, đa dạng thêm cho một thời đại trong thi ca: thời kì Thơ Mới ở phương diện các thể loại thơ Với đặc trưng thể loại của mình (sự ổn định về số tiếng trong một cặp lục bát, ngắt nhịp, hiệp vần, .) thơ lục bát đạt được nhiều thành tựu trong thời kì này Điều đáng nói là với nhịp điệu hoàn chỉnh qua hai dòng thơ lục bát, sự kết hợp giữa hai loại vần chân và vần lưng và thường được gieo ở số từ chẵn đã tạo cho lục bát một âm hưởng riêng, một nhịp điệu riêng, nhẹ nhàng, uyển chuyển và ngân vang, tránh được sự gân guốc, khô cứng Cũng từ đặc điểm này, lục bát đã phát huy vai trò khá quan trọng trong thời kì Thơ Mới, đó là
nó đã diễn tả tinh tế những nỗi buồn mơ hồ và kéo dài, những tình cảm bâng
khuâng thương nhớ, vừa lơ lửng lại vừa quẩn quanh của người đương thời
Thơ là tiếng lòng, là những xúc cảm tận sâu trong tâm hồn thi sĩ, thơ ca trong phong trào Thơ Mới (1932 - 1945) lại đặc biệt đề cao con người cá nhân, cái Tôi rất mực được trân trọng Chính lúc này lục bát là một lựa chọn để các nhà thơ khẳng định nét riêng cũng như phong cách của chính mình Chính vì vậy
mà cùng tìm về với lục bát nhưng người đọc lại cảm nhận thấy một Nguyễn Bính chân quê, giản dị, một Huy Cận lãng mạn, tài hoa, một Thế Lữ vững vàng, mới mẻ,
Trang 31Mỗi thể thơ có một ưu thế riêng và đều có chung một chức năng làm phong phú, đa dạng cho vườn hoa thi ca Việt Nam Trong quá trình vận động
và đổi mới của mình, phong trào Thơ Mới đã tạo ra một bước đột phá trong thi ca, nhưng đồng thời nó vẫn giữ lại những gì là bản sắc, là tinh hoa của thơ
ca dân tộc Lục bát - điệu hồn thơ ca dân tộc vẫn bền bỉ cùng với phong trào Thơ Mới làm nên những thành tựu sáng chói để nhiều năm sau người đọc vẫn
phải say mê thưởng thức Lỡ bước sang ngang, Người hàng xóm (Nguyễn Bính), Thu rừng, Buồn đêm mưa ( Huy Cận), Chiều (Xuân Diệu),
1.5 Giới thiệu một số tác giả tiêu biểu
Rất nhiều nhà nghiên cứu văn học đã cho rằng, thơ Mới và thơ ca Cách mạng là hai sự kiện lớn nhất về thơ ca của thế kỉ XX, xuất hiện và phát triển trong những chặng đường lịch sử khác nhau Riêng đối với Thơ Mới, nhiều nhà nghiên cứu đã trân trọng và dành cho nó một vị trí nhất định, hầu hết đều thống nhất rằng, Thơ Mới đã làm cho tiếng Việt trẻ lại thậm chí có sự thay da đổi thịt, nhiều thể Thơ Mới ra đời và làm mới cả những thể thơ cũ Lục bát trong Thơ Mới là một trong số những thành tựu làm vinh danh cho cả một chặng đường Thơ Mới Khi nhắc tới lục bát trong Thơ Mới không thể không nhắc tới những tên tuổi như Nguyễn Bính, Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng
Lư, và Thế Lữ
1.5.1 Thế Lữ (1907 - 1989) - người có công đầu xây dựng nền Thơ Mới bằng
những bài thơ hay Nhà phê bình Hoài Thanh - Hoài Chân khi nhận định về Thế Lữ đã viết: “Thế Lữ như vầng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam , Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiên bước những bước vững vàng
mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan vỡ”
Thế Lữ tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, bút hiệu Lê Ta, sinh ra trong một gia đình viên chức nhỏ Hà Nội Thuở nhỏ ở Lạng Sơn sau đó về Hải Phòng học sơ học và thành chung Năm 1929, sau khi học xong năm thứ ba bậc
Trang 32thành chung ông lên Hà Nội thi đỗ dự thính vào trường cao đẳng mĩ thuật Đông Dương, ông học được 1 năm rồi bỏ
Có thể nói, Thế Lữ là một trong số ít những nghệ sĩ đa tài của nền văn học nghệ thuật trước Cách mạng Thế Lữ là “khởi điểm của những khởi điểm”
Thời gian sống ở Hải Phòng, lúc chỉ mới mười tám, đôi mươi Thế Lữ
đã viết truyện, làm thơ Khi nền văn học nước nhà bước vào thời kì hiện đại
hóa văn học, ông được mời làm báo Phong hóa, sau đó gia nhập Tự lực văn
đoàn, là người sáng lập ra văn phái này Ông được đánh giá là người biên tập
nòng cốt, mẫn cán của hai tờ Phong hóa và Ngày nay
Về thơ ca, Thế Lữ đã ra mắt khoảng hơn 50 bài thơ, chủ yếu được sáng
tác trước năm 1945 và in trên hai tờ Phong hóa và Ngày nay, sau tập hợp vào hai tập thơ: Mấy vần thơ (1935) và Mấy vần thơ, tập mới (1941) Thơ ông thể hiện niềm say mê với cái đẹp, đi tìm cái đẹp ở mọi nơi, mọi âm thanh (Tiếng trúc tuyệt
vời, Tiếng sáo thiên thai, Tiếng gọi bên sông) và cảnh sắc thiên nhiên Đề tài tình
yêu trong thơ Thế Lữ thường thiên về cái thanh cao, mộng ảo
Đóng góp đáng ghi nhận của Thế Lữ trong lĩnh vực thơ ca đó là những cách tân táo bạo về mặt hình thức nghệ thuật Thế Lữ đã thử nghiệm ở hầu hết các thể thơ từ thể năm chữ, bảy chữ, tám chữ, thể lục bát và cả song thất lục bát Thơ ông giàu chất trữ tình, lãng mạn, giọng điệu mềm mại, trau chuốt Khi Thế Lữ xuất hiện trên thi đàn, Thơ Mới đã tạm chấm dứt một cuộc khủng hoảng về thực tiễn sáng tác đồng thời Thơ Mới cũng vượt ra khỏi những khuôn sáo chật hẹp của thi văn cũ
1.5.2 Người nhà quê Nguyễn Bính khi xuất hiện với những vần thơ lục bát
mới, ngay lập tức khiến người ta ngỡ ngàng, ông đã xướng lên những âm thanh vừa dịu dàng, ngọt ngào lại có độ ngân vọng rất lớn vào hợp âm của
dàn đồng ca lãng mạn Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh - Hoài Chân
Trang 33khi đánh giá về Nguyễn Bính đã đưa ra những nhận xét ưu ái: “Người nhà quê Nguyễn Bính vẫn hiên ngang sống như thường Tôi muốn nói Nguyễn Bính vẫn còn giữ được bản chất nhà quê nhiều lắm, và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta” Và đây cũng là những đánh giá
cả về thơ Nguyễn Bính được sáng tác trước năm 1945 Tài năng thơ Nguyễn Bính được thể hiện ngay từ nhỏ, năm ông 13 tuổi đã được nhiều người biết
đến trong một cuộc thi ở hội làng, 15 tuổi ông đã nổi tiếng với bài Cô hái mơ
Sinh ra tại một làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ, Nguyễn Bính sống gắn bó với quê ngoại ở Thôn Vân, Vụ Bản, Nam Định, một làng quê trù phú, giàu có về văn hóa với những hội làng, đêm hát chèo, ngày tết quê,
Cuộc đời Nguyễn Bính có nhiều biến cố, mẹ mất sớm, Nguyễn Bính ở với cha, rồi cũng lưu lạc nhiều nơi như Hà Bắc, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Sài Gòn, Huế,
Sự ngiệp thơ Nguyễn Bính có thể thấy một số điểm khái quát như sau:
Từ những năm 1936 - 1937, Nguyễn Bính đã đóng góp tài năng của mình cho phong trào Thơ Mới Ngay từ khi mới trình làng, Nguyễn Bính đã chiếm được cảm tình của đông đảo người đọc Thơ ông mang phong vị đồng quê đậm đà,
và gợi trong lòng người đọc “hồn xưa đất nước” (Hoài Thanh)
Năm 1937, ông đạt giải thưởng của Tự lực văn đoàn với tập thơ Tâm
hồn tôi (1940), Lỡ bước sang ngang (1940), Hương cố nhân (1941), Một nghìn cửa sổ (1944), Mười hai bến nước, Mây Tần, Người con gái ở lầu hoa
Ngoài ra Nguyễn Bính còn viết kịch thơ Bóng giai nhân (soạn chung với Yến Lan) và truyện thơ Tỳ bà hành dài 1548 câu
Sau Cách mạng tháng tám, Nguyễn Bính hăng hái tham gia kháng chiến Trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp, Nguyễn Bính cho xuất bản tập thơ yêu nước gồm khoảng mười bài, những bài thơ giàu nhiệt huyết kêu gọi lòng yêu nước của nhân dân
Trang 34Hòa bình lập lại, sau khi tập kết ra miền Bắc, trở lại quê hương xưa
Nguyễn Bính cho xuất bản hai tập thơ: Gửi người vợ miền Nam (1955) và
Đêm sao sáng (1966) Giai đoạn sau Cách mạng, thơ Nguyễn Bính đi sát
những vấn đề thời sự Bút pháp quen thuộc của Nguyễn Bính ở thời kì trước phần nào vẫn tiếp tục được khai thác trên những đề tài mới Nguyễn Bính viết nhiều, mở rộng cảm hứng sáng tạo trên nhiều đề tài khác nhau: thành thị, nông thôn, kháng chiến, đấu tranh thống nhất đất nước
Nguyễn Bính rất nhạy cảm với thời đại đầy biến động, đặc biệt là sự xáo trộn của văn chương Nguyễn Bính đã thể hiện sâu sắc nỗi day dứt đến không yên của tâm hồn thiết tha với những giá trị cổ truyền đang có nguy cơ
mai một (Chân quê) Vì thế là một nhà thơ lãng mạn, Nguyễn Bính thành
công nhờ trở về đào sâu truyền thống dân gian Thơ ông thể hiện vẻ đẹp chân quê thắm đượm tình quê, duyên quê và phảng phất hồn xưa đất nước Có thể khẳng định, Nguyễn Bính là một nhà thơ lớn, một cây bút đầy tài năng, một phong cách thơ độc đáo trong thời kì Thơ Mới và cho đến cả ngày nay
1.5.3 Huy Cận
Tên khai sinh là Cù Huy Cận, ông sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 và
mất ngày 19 tháng 2 năm 2005 Là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của phong trào Thơ Mới, ông cũng là bạn tâm giao, tri kỉ của nhà thơ Xuân Diệu Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo gốc nông dân dưới chân núi Mồng Gà, bên bờ sông Ngàn Sâu (thượng nguồn sông La) ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn sau đó thuộc huyện Đức Thọ (nay là xã Ân Phú, huyện Vũ Quang), tỉnh Hà Tĩnh, ngay từ nhỏ ông đã theo học ở quê nhà, sau vào Huế học trung học, đậu tú tài Pháp; rồi ra Hà Nội học trường Cao đẳng Canh nông Trong thời gian học Cao đẳng, ông ở phố Hàng Than cùng với Xuân Diệu Từ năm 1942, ông tham gia phong trào sinh viên yêu nước và Mặt trận Việt Minh, Huy Cận đã tham dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào (tháng 8 năm 1945) và
Trang 35được bầu vào Ủy ban Giải phóng (tức Chính phủ Cách mạng lâm thời sau đó)
Huy Cận cũng từng cộng tác với nhóm Tự Lực Văn Đoàn
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, khi mới 26 tuổi, ông đã là Bộ trưởng Bộ Canh nông trong Chính phủ liên hiệp lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh đứng đầu Chính phủ Trong những năm 1945 -
1946 ông là Ủy viên Ban thanh tra đặc biệt của Chính phủ và còn giữ nhiều trọng trách trong Chính phủ và Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam sau này Năm 1996 ông được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
Tháng 6 năm 2001, Huy Cận được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ Thế giới
Về sự nghiệp thơ văn: Huy Cận có thơ đăng báo từ 1936, cho in tập thơ
đầu Lửa Thiêng năm 1940 (gồm những bài đã đăng báo, khoảng 1936-1940)
và trở thành một trong những tên tuổi hàng đầu của phong trào Thơ Mới lúc
bấy giờ Bao trùm Lửa Thiêng là một nỗi buồn mênh mang da diết Thiên
nhiên trong tập thơ thường bao la, hiu quạnh, đẹp nhưng buồn Nỗi buồn đó dường như vô cớ, siêu hình nhưng xét đến cùng, chủ yếu là buồn thương về cuộc đời, kiếp người, về quê hương đất nước Hồn thơ "ảo não", bơ vơ đó vẫn
cố tìm được sự hài hòa và mạch sống âm thầm trong tạo vật và cuộc đời
Trong Kinh cầu tự (1942, văn xuôi triết lí) và Vũ trụ ca (thơ đăng báo
1940-1942), Huy Cận đã tìm đến ca ngợi niềm vui, sự sống trong vũ trụ vô biên song vẫn chưa thoát khỏi bế tắc Ngoài ra Huy Cận còn có các tác phẩm tiêu
biểu khác: Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc
đời (1963), Hai bàn tay em (1967),
1.5.4 Xuân Diệu
Xuân Diệu (1916 - 1985), tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu, còn có bút danh là Trảo Nha, là một nghệ sĩ đa tài, một tài năng độc đáo của thơ ca Việt Nam hiện đại Ông thân sinh của thi sĩ là một nhà nho, quê ở Trảo Nha, Can
Trang 36Lộc, Hà Tĩnh, sau vào dạy học ở Bình Định, lấy vợ hai là bà Nguyễn Thị Hiệp
và sinh ra Xuân Diệu Xuân Diệu lớn lên ở Quy Nhơn, học hết bậc thành chung thì ra Hà Nội, rồi vào Huế học tiếp Tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư
và làm viên chức một thời gian ở sở Đoan Mĩ Tho, Nam Bộ, nhưng chủ yếu là hoạt động văn học
Xuân Diệu bắt đầu có thơ đăng báo từ năm 1935, 1936, sự nghiệp của
ông cũng phát triển rực rỡ từ thời gian này Ông cho xuất bản tập Thơ thơ và
Phấn thông vàng
Xuân Diệu tham gia mặt trận Việt Minh từ trước CM T8, từ đó cuộc đời ông gắn bó với Cách mạng và nền văn học Cách mạng, nhưng đóng góp lớn nhất của Xuân Diệu cho đất nước vẫn là với tư cách một nhà thơ, nhà văn Ông để lại khoảng 50 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau Xuân Diệu xứng đáng là một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hóa lớn Năm 1996 ông được nhà nước tặng giải thưởng HCM về văn học và nghệ thuật
Xuân Diệu là một trí thức Tây học, ông tiếp thu, kế thừa yếu tố Hán học từ cha và học tập, phát huy các yếu tố Tây học từ văn học lãng mạn Pháp Sinh ra và lớn lên trong một thời đại nhiều biến động cho nên thơ Xuân Diệu trước Cách mạng thường mang tâm trạng buồn của người dân trong cảnh ngộ nước mất chủ quyền, mang thân phận của một người mất nước Sau Cách mạng, khí thế sôi sục của cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mĩ đem lại nguồn cảm hứng lớn cho Xuân Diệu, thơ Xuân Diệu thời kì này thể hiện rất rõ
sự biến đổi từ thể tài đến đề tài
Với tư cách là nhà Thơ Mới, Xuân Diệu là người đưa Thơ Mới lên đỉnh cao của sáng tạo nghệ thuật và ông là một hiện tượng tiêu biểu của phong trào Có thể khẳng định được điều này cũng bởi ông không chỉ đóng góp số lượng lớn về tác phẩm mà có những cống hiến giá trị về mặt hình thức nghệ thuật Đọc thơ Xuân Diệu ta thấy ở đó có một cái Tôi thi sĩ luôn rạo rực say
mê, luôn hối hả, gấp gáp với cuộc sống đang chảy trôi theo thời gian Đó là
Trang 37cái Tôi của một tấm lòng yêu đời, yêu con người, yêu cuộc sống đến tha thiết, cháy bỏng
1.5.5 Lưu Trọng Lư
Lưu Trọng Lư (1911 - 1991) là một nhà thơ, nhà văn, nhà soạn kịch Việt Nam Ông sinh tại làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Ông sinh trưởng trong một gia đình quan lại xuất thân nho học Thuở nhỏ ông học trường tỉnh, rồi học tại Quốc học Huế, đến năm thứ ba, ông
bỏ ra Hà Nội học tư Sau đó ông bỏ học đi dạy tư, làm văn và làm báo để kiếm sống
Năm 1932, ông là một trong những nhà thơ khởi xướng và tích cực cổ
vũ cho phong trào Thơ Mới Năm 1933 - 1934 ông chủ trương Ngân Sơn tùng
thư ở Huế
Sau Cách mạng tháng tám 1945, Lưu Trọng Lư tham gia Văn hóa cứu quốc ở Huế Những năm kháng chiến chống Pháp, ông tham gia hoạt động tuyên truyền, văn nghệ ở Bình Trị Thiên và Liên khu IV
Năm 1991 Lưu Trọng Lư mất tại Hà Nội, ông được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000
Về phương diện sáng tạo nghệ thuật, Lưu Trọng Lư đóng góp trên cả
ba lĩnh vực: thơ, văn xuôi, sân khấu Về thơ ông có các tác phẩm nổi bật:
Tiếng thu (1939), Tỏa sáng đôi bờ (1959), Người con gái sông Gianh (1966),
Từ đất này (1971)
Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam khi nhận định về thơ
Lưu Trọng Lư có đề cập đến yếu tố mộng ảo trong thơ ông, và đặc biệt trân trọng cái chân tình, cảm xúc gần gũi, chân thực trong thơ ông
Có thể thấy, thơ Lưu Trọng Lư không màu mè, cũng không ấn tượng người đọc bởi cái sầu, cái bi não nùng như một số thi sĩ cùng thời, ấn tượng ông để lại trong lòng độc giả là chất thơ như một loại men rượu ngấm dần, lâng lâng, nhẹ nhàng, rất ảo mà chan chứa tình người
Trang 38Trong thời kì Thơ Mới, Lưu Trọng Lư là một trong những người đi tiên phong, người có công lớn tạo nên những dòng chảy thơ ca hiện đại
1.6 Tiểu kết
Lục bát, cũng như các thể thơ đếm tiếng (hay đếm âm tiết) Tất cả mọi yếu tố tạo nên âm luật của chúng như tổ hợp các dòng, gieo vần, ngắt nhịp, phối điệu đều được quyết định bằng các tiếng đó Là một ngôn ngữ đơn lập -
âm tiết tính, tức là thuộc ngôn ngữ không biến hình, mỗi tiếng đều mang thanh điệu và hầu như đều có nghĩa, tiếng Việt có đủ điều kiện để đáp ứng tính chất trên của thể lục bát Hơn thế, tính chất đơn lập của tiếng Việt, đặc điểm cấu trúc âm tiết tiếng Việt còn tạo điều kiện thuận lợi để các biện pháp nghệ thuật phát huy tác dụng, trong đó có cách hiệp vần và ngắt nhịp
Vần và nhịp là hai phương diện quan trọng cấu thành nên hình thức nghệ thuật thơ ca, nó cũng là một trong những yếu tố để phân biệt thơ và văn xuôi Trong thơ lục bát, vần và nhịp có những đặc trưng riêng, khi xem xét vần và nhịp trong thơ lục bát thời kì Thơ Mới chúng tôi tiến hành so sánh với lục bát trong ca dao để đưa ra những nhận định khách quan, thấy rõ hơn sự vận động về vần và nhịp trong thơ lục bát thời kì này
Trang 39Chương 2 HIỆP VẦN TRONG THƠ LỤC BÁT THỜI KÌ THƠ MỚI2.1 Vần và các chức năng của vần trong thơ
2.1.1 Khái niệm “vần thơ”
Ngôn ngữ thơ ca là thứ ngôn ngữ đặc biệt Một trong những yếu tố làm nên điều đó chính là vần thơ Thơ xưa thường chú trọng vào vần, xem như là một yếu
tố bắt buộc khi sáng tác thơ Hiện nay trong thể thơ ca tự do, vần không tối quan trọng, tuy nhiên vần vẫn là một yếu tố tạo nên sự khác biệt của thơ ca Bàn về khái niệm vần thơ, đã có rất nhiều ý kiến Tuy nhiên, hiện nay chưa có một định nghĩa nào thật đầy đủ, bao quát thống nhất về khái niệm vần thơ
Tác giả Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu đã đưa ra định nghĩa: Vần (chữ nho là vận) là những tiếng thanh âm hòa hiệp đặt
vào hai hoặc nhiều câu văn để hưởng ứng nhau Định nghĩa này chú ý đến sự hòa âm của vần Tác giả Nguyễn Lương Ngọc trong Mấy vấn đề nguyên lí văn học đã nêu: Sự lặp lại những thanh đọc theo một âm ở cuối hay quãng giữa dòng thơ để tăng tiết tấu và sự biểu thị của từ gọi là vần Trong định
nghĩa này tác giả chú ý đến vai trò của thanh điệu, đến vị trí lặp lại của âm thanh Điểm chung của hai định nghĩa này là đã nêu lên sự lặp lại của âm thanh trong các dòng thơ nhưng chưa thấy được chức năng liên kết của vần,
mà đây mới là chức năng quan trọng nhất của vần thơ Trong Từ điển thuật
ngữ văn học, các tác giả Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử đã định
nghĩa khá đầy đủ về vần thơ: Một phương diện tổ chức văn bản thơ dựa trên
cơ sở lặp lại sự không hoàn toàn các tiếng ở những vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạo tính hài hòa và liên kết của dòng thơ và các đoạn thơ [20,
tr.292] Còn tác giả Mai Ngọc Chừ cụ thể hơn một bước trong khi định nghĩa
về vần thơ: Vần là sự hòa âm, sự cộng hưởng nhau theo những quy luật ngữ
Trang 40âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ và thực hiện những chức năng nhất định như liên kết các dòng thơ, gợi tả, nhấn mạnh
sự ngừng nhịp [9, tr.12]
Tóm lại, vần là sự lặp lại các âm tiết, từ theo những quy tắc nhất định
Tuy nhiên, đó là sự lặp lại có tổ chức ý nghĩa Roman Jakobson trong Ngôn
ngữ học và thi pháp học đã chỉ ra: dù vần thơ được xác định như sự lặp lại đều đặn của những âm vị tương đương hoặc những nhóm âm vị thì sẽ là sự tầm thường hóa nguy hiểm nếu xem xét vần chỉ từ cái nhìn âm thanh Vần tất kéo theo sự tương đương ngữ nghĩa của những đơn vị hiệp vần [31, tr.15]
(Trịnh Bá Đỉnh dịch từ tiếng Nga) Như vậy, vần thơ không chỉ mang tính hình thức, nghĩa là không chỉ là sự lặp lại âm thanh một cách vô nghĩa mà quan trọng hơn sự lặp lại đó, cách lựa chọn âm thanh đó tạo nên ý nghĩa gì trong tổng thể bài thơ, nó chuyển tải được nội dung gì mới là điều cốt yếu nhất
2.1.2 Chức năng của vần thơ
Vần là yếu tố không thể thiếu trong thơ ca Dù trong thơ ca hiện nay có nhiều xu hướng thơ không vần Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận vai trò quan trọng của vần trong thơ Về chức năng của vần thơ, hầu hết các tác
giả đều có một cách nhìn tương đối thống nhất Đó là: Vần là nhịp cầu nối
liền các câu vào một bài thơ, là chất xi măng gắn liền các câu thơ, các ý thành một thể thống nhất hoàn chỉnh, vần nhằm nối liền tiết điệu và âm của các dòng thơ, nhấn mạnh vào một số từ (Nguyễn Nguyên Trứ, 1991) Các nhà
nghiên cứu đã tổng kết, vần thơ đảm nhận ba chức năng cơ bản sau:
1 Chức năng tổ chức, liên kết giữa các dòng thơ trong văn bản Vần như sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau giúp cho việc đọc thuận miệng, nghe thuận tai, vì thế dễ nhớ dễ thuộc
2 Tạo âm hưởng, tiếng vang trong thơ Mỗi bài thơ có một cách gieo vần khác nhau Chính vần tạo nên âm hưởng riêng của từng bài Đọc một bài thơ cũng giống như nghe một bản nhạc, cái lưu lại trong tâm trí người đọc