Đề tài đi sâu vào việc nghiên cứu, tìm ra các giá trị của tục ngữ người Việt trong việc giáo dục nhân cách, đồng thời thông qua những quan điểm của cha ông về nhân cách, sẽ đánh giá giá
Trang 1Bé Gi¸o dôc vμ ®μo t¹o Bé V¨n ho¸, thÓ thao vμ du lÞch
Tr−êng §¹i häc v¨n ho¸ Hμ Néi
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HOÀNG KIM NGỌC
Hµ Néi - 2011
Trang 21.2 Thanh niên và giáo dục nhân cách thanh niên 13
1.2.1 Cơ cấu dân số và đặc điểm tâm lý thanh niên 13
1.2.2 Mục đích của hoạt động giáo dục nhân cách thanh niên 19
1.3 Vai trò của tục ngữ trong việc giáo dục nhân cách thanh niên
1.3.1 Sự cần thiết của việc giáo dục nhân cách cho thanh niên 21
1.3.2 Những tác động của tục ngữ tới việc giáo dục nhân cách thanh niên
Chương 2 Những giá trị cơ bản của tục ngữ đối với việc giáo dục
2.1 Tục ngữ đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến nhân cách 28
2.1.1 Yếu tố di truyền 28
2.1.2 Yếu tố gia đình 29 2.1.3 Yếu tố nhà trường 32
2.2 Tục ngữ giáo dục đến các khía cạnh trong văn hóa ứng xử của
2.2.1 Văn hoá ứng xử với điều kiện tự nhiên, hoạt động sản xuất 39
2.2.2 Ứng xử của cá nhân với gia đình và xã hội 44
Trang 32.2.3 Ứng xử với chính bản thân 51
2.3 Tục ngữ đề cập giáo dục bằng cách đề cập đến những yêu cầu đối
với một số kiểu người tiêu biểu trong xã hội 53
2.3.1 Đối với người quân tử 53
2.3.4 Đối với một số người theo những nghề nghiệp khác nhau 55
2.4 Tục ngữ dùng luật nhân - quả và nhiều cặp đối lập để giáo dục
2.4.1 Dùng luật nhân – quả để giáo dục con người 57
2.4.2 Dùng nhiều cặp đối lập để giáo dục con người 58
3.1.1 Thực trạng sử dụng tục ngữ trong các thế hệ người Việt nói chung 61
3.1.2 Thực trạng sử dụng tục ngữ trong đội ngũ thanh niên hiện nay nói
3.2 Một số đề xuất nhằm khai thác và phát huy giá trị của tục ngữ trong việc giáo dục nhân cách thanh niên hiện nay 87
3.2.1 Điểm thuận lợi, điểm bất lợi trong quá trình sử dụng tục ngữ nhằm
3.2.2 Những giải pháp khai thác giá trị tục ngữ trong giáo dục nhân cách
Tài liệu tham khảo 98
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thanh niên là một lực lượng đóng vai trò quan trọng trong sự vận động và phát triển của xã hội Sự thành bại, thịnh suy của mỗi dân tộc phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ thanh niên Do đó, việc giáo dục, đào tạo bồi dưỡng thế hệ thanh niên là việc làm thường xuyên và cần thiết
Trong bối cảnh hiện nay, toàn cầu hóa và nền kinh tế thị trường đang tác động mạnh mẽ đến mọi khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội trên cả phương diện tích cực lẫn tiêu cực Trước hết, nó tác động đến hệ thống giá trị, các chuẩn mực đạo đức, tình cảm, tư tưởng, nhân cách…của hầu hết các tầng lớp cư dân trong xã hội
Thanh niên là lớp người trẻ tuổi, vốn rất nhạy cảm, dễ khám phá và tiếp thu cái mới với lòng nhiệt thành và tinh thần cầu thị nhưng cũng dễ rơi vào trạng thái cực đoan Vì vậy, có thể nói thanh niên là lớp người chịu tác động từ hoàn cảnh sống, môi trường sống nhiều nhất Ngày nay, chính sự năng động của cơ chế thị trường đã tôi luyện cho thanh niên những phẩm chất đáng quý như năng động, sáng tạo, quyết đoán, thích khám phá cái mới, biết vươn lên để khẳng định bản thân…Song mặt trái mà cơ chế thị trường mang lại chính là sự xuất hiện ngày càng nhiều các hiện tượng phi đạo đức, phi nhân tính trong đời sống xã hội Tình trạng bạo lực, sống buông thả, lối sống thực dụng, chạy theo ma lực của đồng tiền…tạo nên những tệ nạn xã hội và chúng đang đe dọa đến sự biến đổi nhân cách trong thanh niên Việc giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ đã trở thành yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước
Trang 5Hiện nay, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng cải thiện Đời sống văn hóa của người dân, đặc biệt là giới trẻ có nhiều thay đổi
rõ rệt
Về đời sống âm nhạc, hip-hop đang được giới trẻ hết sức ưa chuộng Trên văn đàn văn học mạng cũng phát triển rầm rộ kéo theo nhiều quan điểm chéo chiều về quan niệm sống, về vấn đề tình yêu, tình dục và đạo đức Liệu các thể loại văn học dân gian như ca trù, chèo, tuồng, tục ngữ, ca dao… có c̣òn nguyên giá trị trong việc giáo dục nhân cách
Đã có nhiều công trình nghiên cứu làm nổi rõ vai trò của yếu tố giáo dục nhân cách nhưng còn mảng tư liệu phong phú chưa được quan tâm đúng mức khi nghiên cứu vấn đề giáo dục nhân cách là kho tàng tục ngữ Việt Nam
Đề tài đi sâu vào việc nghiên cứu, tìm ra các giá trị của tục ngữ người Việt trong việc giáo dục nhân cách, đồng thời thông qua những quan điểm của cha ông về nhân cách, sẽ đánh giá giá trị đó để thấy được vai trò của chúng trong
sự hình thành và phát triển nhân cách Trên cơ sở ấy đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác giá trị tục ngữ trong giáo dục nhân cách thanh niên nước ta giai đoạn hiện nay Đó là lý do khiến chúng tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề
Tục ngữ người Việt với việc giáo dục nhân cách thanh niên nước ta hiện nay làm đề tài nghiên cứu cho mình
2 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Đề xuất một số giải pháp để những giá trị giáo dục nhân cách trong tục ngữ
Trang 6có thể tồn tại và phát huy tác dụng trong xã hội mới
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ vai trò của giáo dục nhân cách thanh niên trong giai đoạn hiện nay
- Làm sáng tỏ những giá trị giáo dục nhân cách được thể hiện trong tục ngữ
- Trên cơ sở nghiên cứu giá trị của tục ngữ, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy giá trị đó trong giáo dục nhân cách thanh niên nước ta hiện nay
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những câu tục ngữ trong kho tàng tục ngữ
người Việt có giá trị giáo dục nhân cách thanh niên nước ta hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi khảo sát trong cuốn: Kho tàng tục ngữ người Việt, tác giả Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Thúy Loan, Phan Lan Hương
(2002) Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, số lượng câu tục ngữ có giá trị giáo
dục là 490 câu Ngoài ra, những cuốn sách khác về tục ngữ như: Tục ngữ ca
dao về quan hệ gia đình, tác giả Phạm Việt Long, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội hay cuốn Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt Nam, tác giả Nguyễn
Nghĩa Dân, Nxb Thanh niên…, số lượng các câu tục ngữ có giá trị giáo dục tăng lên đáng kể
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ của đề tài, luận văn chủ yếu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích văn bản
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp cấu trúc hệ thống
5 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Vấn đề nhân cách và giáo dục nhân cách, giáo dục nhân cách thanh niên đã được nhiều nhà nghiên cứu thuộc các ngành khoa học quan
Trang 7tâm như Giáo dục học; Tâm lý học, Văn hóa học…Tiêu biểu có một số công trình như:
Nguyễn Thị Thanh Hà (2007), Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
với việc xây dựng nhân cách đạo đức sinh viên Việt Nam hiện nay, Luận văn
Thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Phạm Minh Hạc (chủ biên) (2002), Một số vấn đề nghiên cứu nhân
cách, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Nguyễn Hồng Hạnh (1997), Văn hóa truyền thống dân tộc với giáo
dục thế hệ trẻ, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội
Phan Thị Mai Hương, Thanh niên nghiện ma túy: nhân cách và hoàn cảnh xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
Trần Sỹ Phán (1999), Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát
triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ
Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Hoàng Xuân Việt (2001), Rèn nhân cách, Nxb Thanh niên
Vấn đề nghiên cứu một số nội dung, giá trị của tục ngữ cũng được
nhiều tác giả quan tâm như:
Trần Thúy Anh (2000) Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt
châu thổ Bắc Bộ qua một số ca dao tục ngữ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Nguyễn Nghĩa Dân (2000), Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt
Nam, Nxb Thanh niên
Nguyễn Thị Kim Loan (2002), Văn hóa làng Việt cổ truyền qua Tục
ngữ, Luận văn thạc sĩ Văn hóa học, trường ĐH Văn hóa Hà Nội
Phạm Việt Long (2004), Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội
Lê Huy Thực (2005), “Tiêu chí kiểm định đạo đức con người qua tục
ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam”, Tạp chí Triết học, (9), tr.40-44
Trang 8Qua nghiên cứu, tìm hiểu, tôi nhận thấy giá trị tư liệu của tục ngữ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm khi nghiên cứu văn hóa dân tộc, nhiều tác giả đã sử dụng tục ngữ để minh họa cho những phẩm giá, đạo đức của con người (thường dùng kết hợp cả tục ngữ và ca dao) mà chưa dùng tục ngữ riêng biệt khi đề cập đến vấn đề nhân cách và giáo dục nhân cách Hơn nữa,
do mục đích khác nhau mà các ngành tâm lý, giáo dục, văn hóa nghiên cứu đến giáo dục nhân cách nhưng chưa sử dụng hoặc chưa khai thác triệt để kho tàng tri thức quý báu của cha ông là kho tàng tục ngữ Đó cũng là nhiệm vụ
mà tác giả luận văn đặt ra cho mình khi nghiên cứu đề tài Tục ngữ người Việt
với việc giáo dục nhân cách thanh niên nước ta hiện nay
6 Đóng góp khoa học của luận văn
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận về giá trị của tục ngữ người Việt
- Phân tích, đánh giá để đi đến nhận thức về vai trò của tục ngữ trong vấn đề giáo dục nhân cách thanh niên nước ta hiện nay
- Từ những phân tích về vấn đề sử dụng tục ngữ hiện nay ở Việt Nam để đề xuất những giải pháp bảo tồn cũng như phát huy giá trị của tục ngữ trong giáo dục nhân cách thanh niên
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TỤC NGỮ
VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC NHÂN CÁCH THANH NIÊN
1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm tục ngữ
Tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội phản ánh lối nói, lối nghĩ và lối sống của nhân dân trải qua bao thời đại Trong kho tàng “folklore” của Việt Nam, tục ngữ là một thể loại ra đời rất sớm, có số lượng rất phong phú
và sức sống bền lâu Nó được coi là vốn di sản hết sức quý báu cần được gìn giữ và lưu truyền trong cuộc sống
Trong văn học dân gian, tục ngữ cho chúng ta kho tàng tri thức quý báu Nó phản ánh cuộc sống muôn hình, muôn vẻ dưới dạng nhận xét tinh tế, tổng kết kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội, lịch sử Trong số đó, nội dung giáo dục con người trong mối quan hệ với chính mình, quan hệ với gia đình và quan hệ với xã hội, tự nhiên chiếm số lượng lớn Có lẽ không người Việt Nam nào từ khi lớn lên cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay mà lại không thuộc và dùng ít nhất vài câu tục ngữ xen lồng trong câu nói hàng ngày để diễn đạt tâm ý mình hay làm cho lời văn của mình thêm hình ảnh, có sức thuyết phục Cũng không ít câu tục ngữ trở thành triết lý sống, phương châm
để người Việt Nam học tập, phấn đấu
Về khái niệm tục ngữ, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra quan điểm của mình Song trước khi đi đến khái niệm tục ngữ, hầu hết các nhà nghiên cứu đều quan tâm đến việc đặt nó trong mối quan hệ với các khái niệm có liên quan Những khái niệm có liên quan, dễ nhầm lẫn với tục ngữ là thành ngữ và
ca dao Trong thực tế việc xác định ranh giới giữa tục ngữ và ca dao không khó, song giữa tục ngữ và thành ngữ lại có sự phức tạp hơn
Trang 10Giữa tục ngữ và thành ngữ
Về phương diện lý thuyết, rất khó có một định nghĩa mà dựa vào đó
có thể tách biệt được một cách rõ ràng và chính xác ranh giới giữa thành ngữ
và tục ngữ Điều đó nói lên mối quan hệ thâm nhập, giao chen lẫn nhau giữa chúng cũng như sự uyển chuyển trong cách sử dụng chúng ngoài thực tế Vì thế trong nhiều văn bản, không hiếm gặp cùng một câu nhưng người này cho
là tục ngữ, người khác lại cho là thành ngữ
Trước hết cần so sánh về mặt hình thức: thành ngữ được thể hiện bằng cụm từ cố định (tương đương với nhóm từ) còn tục ngữ được thể hiện bằng câu hoàn chỉnh
Về mặt nội dung, theo tác giả Vũ Ngọc Phan:
Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ chỉ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn [39, tr.31- 32]
Về chức năng: thành ngữ có chức năng định danh còn tục ngữ có chức năng thông báo
Giữa tục ngữ và ca dao:
Trong kho tàng văn học dân gian, những câu tục ngữ ngắn gọn, súc tích được thể hiện trong khuôn khổ một dòng thì không ai nhầm lẫn với ca dao Song khi chúng trở thành những vế của một câu lục bát thì nhiều khi khiến ta khó xác định được ranh giới đâu là tục ngữ và đâu là ca dao Hiện nay tiêu chí mà nhiều người dùng để phân biệt giữa chúng là: tục ngữ nặng về
lý trí, ca dao nặng về tình cảm Tục ngữ gắn với lời nói hàng ngày, ca dao gắn liền với diễn xướng, đặc biệt là dân ca
Từ sự phân biệt nêu trên, chúng ta có thể đề cập đến những khái niệm
Trang 11về tục ngữ của một số nhà nghiên cứu như:
Vũ Ngọc Phan: “Tục ngữ là những câu thông tục, thiên về diễn đạt ý, đúc kết một số ý kiến dựa theo kinh nghiệm, dựa theo luân lý và công lý để nhận xét về con người và xã hội, hay dựa theo tri thức để nhận xét về con người và vũ trụ”[39, tr.33]
Chu Xuân Diên:
Cần phải xét thành ngữ và tục ngữ không phải chỉ như là hai hiện tượng ngôn ngữ khác nhau mà chủ yếu như là một hiện tượng ngôn ngữ và một hiện tượng ý thức xã hôi Cho nên tiêu chí gốc là chúng tôi thấy cần phải dựa vào để tìm ra sự phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ là tiêu chí về nhận thức luận Với tiêu chí đó, chúng tôi xem xét tục ngữ chủ yếu như là một hiện tượng ý thức xã hội, còn thành ngữ thì chủ yếu như là một hiện tượng ngôn ngữ Cùng với tiêu chí
đó, sự khác nhau cơ bản về nội dung của thành ngữ và tục ngữ sẽ được phát hiện như là sự khác nhau về nội dung của hai hình thức tư duy khác nhau là khái niệm và phán đoán [9, tr.27]
Như vậy, có thể hiểu: tục ngữ là một thể loại văn học dân gian, được hình thành và sử dụng trong lời nói hàng ngày, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống, thường ngắn gọn, súc tích, có vần điệu, thành câu hoàn chỉnh, có chức năng thông báo, được phổ biến rộng rãi trong nhân dân
1.1.2 Khái niệm nhân cách
Nhân cách là đối tượng quan tâm của nhiều ngành khoa học: tâm lý học, xã hội học, triết học, giáo dục học, y học…Khái niệm nhân cách là khái niệm phức tạp và có nhiều quan điểm khác nhau, tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu của từng ngành khoa học mà người ta đưa ra khái niệm về nhân cách
Có những lý thuyết đề cao quan điểm sinh học trong cách hiểu về nhân cách, coi yếu tố sinh học là cái quan trọng hơn cả cần nghiên cứu trong
Trang 12hệ thống nghiên cứu về nhân cách Tiêu biểu như S.Freud nói đến bản năng
vô thức hay Krestchmev nói đến đặc điểm hình thể quyết định đến nhân cách…Hầu hết họ đồng nhất bản chất nhân cách nằm trong hình thể con người
Có quan điểm cho rằng chỉ cần chú trọng đến những yếu tố xã hội là
đủ để hiểu về nhân cách mà không cần đến yếu tố sinh học, nhất là những thuộc tính tâm lý của con người Đây là quan điểm xã hội hóa nhân cách
Triết học Mác - Lênin quan niệm nhân cách là chỉnh thể thống nhất các phẩm chất tâm - sinh lý - xã hội của cá nhân đã phát triển đến một trình
độ nhất định khiến cho cá nhân đó trở thành chủ thể thật sự của các quá trình
xã hội, của các hoạt động nhận thức, thực tiễn và giao tiếp trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể Nhân cách là con người với tư cách là kẻ mang toàn bộ thuộc tính và phẩm chất tâm lý, quy định của hình thức hoạt động và hành vi
có ý nghĩa xã hội Với quan niệm như vậy, nhân cách con người không phải là một cái gì đó bất biến mà nó vận động, biến đổi cùng với những biến động của đời sống hiện thực
Ở nước ta, có thể nhắc đến một vài khái niệm nhân cách như:
Phạm Minh Hạc:
Nhân cách của con người là hệ thống các thái độ của mỗi người thể hiện ở mức độ phù hợp giữa thang giá trị và thước đo giá trị của người ấy với thang giá trị và thước đo giá trị của công đồng và xã
hội; độ phù hợp càng cao nhân cách càng lớn [19, tr.24]
Trong Từ điển tiếng Việt: “Nhân cách là tư cách và phẩm chất con người,
quy định giá trị xã hội và hành vi của cá nhân trong xã hội” [41, tr.879]
Quan điểm phổ biến nhất hiện nay trong tâm lý học Mác xít coi cấu trúc nhân cách bao gồm hai mặt thống nhất có mối quan hệ biện chứng với nhau đó là Tài và Đức
Trang 13Tài ( hay năng lực) bao gồm:
- Năng lực xã hội hóa: khả năng thích ứng, năng lực sáng tạo, cơ động, mềm dẻo linh hoạt trong toàn bộ cuộc sống xã hội
- Năng lực chủ thể hóa: khả năng biểu hiện tính độc đáo đặc sắc, biểu hiện cái riêng, cái bản lĩnh cá nhân
- Năng lực hành động: khả năng hành động có mục đích, chủ động tích cực
1.1.3 Khái niệm giáo dục nhân cách
Nhân cách con người có bản chất xã hội - lịch sử Con người khi sinh
ra chưa có nhân cách Nhân cách được hình thành qua quá trình tu dưỡng, rèn luyện, quá trình giáo dục và tự giáo dục của mỗi người Như vậy, trong quá trình sống, giao tiếp, học tập và lao động…con người mới hình thành nhân cách Biện pháp để thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển nhân cách hữu hiệu nhất chính là con đường giáo dục
Theo Phạm Đình Nghiệp: “Giáo dục là một hiện tượng xã hội, là quá
trình tác động có mục đích, có kế hoạch ảnh hưởng tự giác, chủ động đến con người đưa đến sự hình thành và phát triển tâm lý,ý thức nhân cách”[37, tr.15]
Giáo dục - hiểu theo nghĩa rộng của từ này - là quá trình trao đổi và chuyển giao tri thức, là sự đạt được những giá trị và các mô hình hành vi theo một mục đích, yêu cầu định sẵn Hiểu theo nghĩa hẹp, giáo dục là một quá
Trang 14trình hình thành nhân cách con người dưới ảnh hưởng của hoạt động có mục đích của nhà giáo dục trong hệ thống các cơ quan giáo dục và dạy học
Trong Từ điển tiếng Việt: “giáo dục, đó là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [41, tr.492]
Từ những cách hiểu trên, chúng tôi có thể hiểu: giáo dục nhân cách là
quá trình sử dụng hệ thống các biện pháp tác động đến con người một cách
có chủ đích nhằm tạo ra mô hình về nhân cách đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của thời đại, của xã hội nhất định
Giai đoạn lịch sử nào sẽ có những nhân cách mang những đặc trưng riêng của giai đoạn đó Song, ngoài yếu tố thời đại, nhân cách của mỗi cá nhân còn mang bản sắc dân tộc, bản sắc địa phương, gia đình và đặc trưng cá nhân rõ nét Do vậy, mục đích giáo dục nhân cách là tạo ra con người hài hòa, thống nhất cả hai yếu tố chủ quan và khách quan Yếu tố chủ quan là những yêu cầu đòi hỏi mang tính chuẩn mực xã hội được con người ý thức và biểu đạt dưới hình thức nguyện vọng Yếu tố khách quan chính là phản ánh những yêu cầu, đòi hỏi của thời đại, xã hội với con người ấy Cho nên mục đích của hoạt động giáo dục nhân cách vừa mang tính hiện thực vừa mang tính lý tưởng
1.2 Thanh niên và giáo dục nhân cách thanh niên
1.2.2 Cơ cấu dân số và đặc điểm tâm lý thanh niên
Trong “Toàn văn Luật Thanh niên” ( số 53/2005/QH11 – Quốc Hội
Khóa X, kỳ họp thứ 10) đã nêu rõ: Thanh niên quy định trong Luật này là
công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi Trên thực tế, đại đa số chúng ta
đều quan niệm người thuộc độ tuổi từ 16 đến 34 tuổi là thuộc đội ngũ thanh niên Như vậy với độ tuổi nêu trên, ta nhận thấy sự đa dạng về trình độ, hoàn
Trang 15cảnh sống, nghề nghiệp cũng như mức độ ổn định tâm lý của thanh niên
Về cơ cấu: Tính đến ngày 01/04/1999, dân số của cả nước là 76.327.915 người, trong đó dân số ở độ tuổi thanh niên (16 – 34 tuổi) là 24.749.547 người, chiếm 36,35 % dân số cả nước và tỷ lệ này đã tăng trong những năm gần đây Điều đó cho thấy lực lượng thanh niên rất đông đảo, cần được quan tâm đầy đủ về mọi mặt để phát triển
Dân số thanh niên được chia làm hai nhóm tuổi:
- Nhóm 1: từ 16 đến 24 tuổi: có 15.147.667 người, chiếm 54,59% trong tổng
số thanh niên
- Nhóm 2: từ 25 – đến 34 tuổi: có 12.601.880 người chiếm 45,41% trong tổng
số thanh niên
Về giới, nhìn chung không có sự chênh lệch lớn
Với độ tuổi từ 16 đến 18, nhiều nhà tâm lý coi đây vẫn thuộc lứa tuổi
vị thành niên (hay tuổi đầu thanh xuân) Đây có thể coi là thời kỳ hoàn thành
sự phát triển thể chất của con người Nhìn chung độ tuổi này vẫn còn gắn bó nhiều với Nhà trường bậc phổ thông trung học và chịu sự quản lý chặt chẽ của gia đình Theo tác giả Đỗ Văn:
Những biến đổi lớn trong chính cơ thể và trong dáng vẻ bên ngoài liên quan tới sự phát dục, tính không xác định rõ rệt của địa vị (không còn là trẻ con nhưng cũng chưa phải là người lớn), sự phức tạp hóa hoạt động sống và mở rộng phạm vi những người mà cá nhân phải làm cho hành vi của mình phù hợp với họ…Tất cả những điều đó gộp lại đã tích cực hóa mạnh mẽ hoạt động định hướng – giá trị ở lứa tuổi đầu thanh xuân [54, tr.8 - 9]
Với độ tuổi khoảng từ 18 đến 25, lứa tuổi này ở con người đã có sự trưởng thành nhất định về mặt sinh học lẫn quan hệ xã hội
Trang 16Về mặt sinh học, thanh niên ở giai đoạn này có đặc điểm cơ thể đang dần đi đến hoàn thiện về mọi mặt: cơ bắp, chiều cao, trọng lượng tăng nhanh, các đặc điểm sinh lý, giới tính phát triển đến độ chín muồi, đặc biệt là sự phát triển của bộ não So với thiếu niên, tế bào thần kinh của thanh niên có khả năng phân tích, dẫn truyền thông tin tốt hơn (vì nó hoàn thiện và phân đốt, phân nhánh đều hơn) Do vậy, khả năng hoạt động trí tuệ ở họ, nhất là thanh niên là đội ngũ sinh viên vượt xa học sinh phổ thông Có thể nói, đây là độ tuổi cơ thể con người đang ở thời kỳ hài hoà, đẹp đẽ với sinh lực dồi dào nhất
Về đời sống tâm lý xã hội, thanh niên ở giai đoạn này có sự phong phú, phức tạp, bộc lộ nhiều mối quan hệ khác nhau, phản ánh tồn tại xã hội nhiều vẻ, đa dạng Với tâm lý nhạy cảm, thích cái mới lạ, ưa tìm tòi, khám phá, sáng tạo, họ là những người giàu ước mơ, hoài bão, giàu trí tưởng tượng, luôn mong muốn tự khẳng định mình, không lệ thuộc vào người khác, có nhu cầu cao về học vấn, về tình bạn, tình yêu nam nữ, thích công bằng, ghét bất công, thích giao lưu và các hoạt động xã hội Vì vậy, về mặt xã hội, thanh niên đã biết quan tâm đến tương lai của bản thân và suy nghĩ đến sự phát triển của dân tộc Ở họ, bước đầu đã ý thức được trách nhiệm của người công dân cũng như nghĩa vụ của mình đối với tổ quốc
Về hoạt động, thanh niên nếu tiếp tục sinh hoạt học tập dưới mái trường Đại học, Cao đẳng…, với tư cách là một cộng đồng xã hội mới, hoạt động chính chi phối họ là học tập, đây chính là thời gian quá độ chuyển từ học tập là cơ bản sang hoạt động chủ đạo là lao động về sau này, đồng thời cũng là giai đoạn quá độ chuyển từ vị trí là học trò sang vị thế “nhà trí thức” tương lai Dưới sự điều khiển, hướng dẫn của giảng viên, hoạt động học tập của họ có tính chất nghiên cứu nhằm nắm lấy tri thức, các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho nghề nghiệp của mình sau này Tri thức họ được trang bị gồm tri thức cơ bản, tri thức chuyên ngành của một lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn
Trang 17hoá… cụ thể nào đó, theo hướng cơ bản, hiện đại và thiết thực, nhằm đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của thị trường sức lao động, của sự phát triển đất nước
và sự hội nhập khu vực cũng như quốc tế Hoạt động học tập, rèn luyện của nhà trường làm người sinh viên lớn lên mọi mặt, đặc biệt là khả năng trí tuệ,
tư duy độc lập, sáng tạo ngày càng phát triển, năng lực khái quát hoá, trừu tượng hoá được nâng cao; khối lượng tri thức, thông tin trở nên phong phú theo thời gian, con người ngày càng trưởng thành
Từ khoảng 25 đến ngoài 30 tuổi, thậm chí ở nhiều quốc gia khác là đến 35 được coi là thanh niên chính thức Đây là giai đoạn hoàn chỉnh sự trưởng thành về hình thể, đã hình thành và phát triển nhân cách một cách rõ nét
Ở lứa tuổi này, thanh niên đã có thể tự tìm cho mình nhiều hướng đi trong cuộc sống Có thể họ tiếp tục học tập nâng cao trình độ học vấn hoặc học nghề, có thể thanh niên lựa chọn bạn đời để lập gia đình riêng hoặc vẫn lựa chọn cuộc sống độc lập Cũng có những thanh niên tìm kiếm được công việc như ý và khá thành công trong sự nghiệp nhưng vẫn còn những thanh niên phụ thuộc vào kinh tế gia đình…
Thanh niên ngày nay có mặt mạnh cơ bản là trình độ học vấn cao hơn trước, có tầm nhìn rộng, nhạy cảm với thông tin Đã và đang xuất hiện nhiều tài năng trẻ, nhiều tấm gương tiên tiến trong sản xuất kinh doanh, bảo vệ chủ quyền và an ninh đất nước, trong học tập và hoạt động khoa học kĩ thuật và thể thao Trong công tác xã hội, thanh niên cũng luôn tỏ ra hăng hái tiên phong…
Thanh niên có những đặc điểm tâm lý sau:
- Thanh niên là lực lượng có sức khỏe thể chất và tinh thần để dám nghĩ, dám làm Biết hành động và suy nghĩ một cách khách quan mà ít dựa vào định kiến xã hội Họ hiểu biết pháp luật, tôn trọng pháp luật
Trang 18- Thanh niên là lực lượng xã hội năng động, tự chủ trong học tập và lao động Họ hiểu biết công nghệ và khoa học kĩ thuật, hăng say học tập vươn lên nắm vững khoa học kĩ thuật hiện đại, sáng tạo trong công việc và trong cuộc sống Họ nhạy bén với cái mới, dám đưa cái mới vào cuộc sống, mạnh dạn vươn lên lập thân, lập nghiệp với khát vọng làm giàu cho bản thân và đất nước Đây là lứa tuổi mà các cá nhân thường xây dựng cho mình hoài bão và khát khao thực hiện nó
- Thanh niên dám khẳng định và chịu trách nhiệm về “cái tôi” trước gia đình và xã hội Họ muốn khẳng định hình ảnh của thân thể bản thân cũng như khát vọng tự lập (tự lập về hành vi, tự lập về tình cảm, tự lập về đạo đức…) Ở lứa tuổi này, thanh niên đã đề ra cho mình những kế hoạch đường đời và sự lựa chọn nghề nghiệp Họ luôn tự ý thức khẳng định bản thân thông qua hoạt động của chính mình (tự giác ngộ, ý thức tự giác đang được các nhà tâm lý học xác định là yếu tố quan trong của nhân cách) Biểu hiện sự tự ý thức của thanh niên có ba hình thức:
+ Nhận thức – tự nhận thức, phân tích, đánh giá, biểu tượng về bản thân
+ Cảm xúc – thái độ cảm xúc của thanh niên với bản thân: khiêm tốn,
tự hào, kiêu hãnh…
+ Ý chí – những biểu hiện tâm lý tích cực, gồm cả điều chỉnh có ý thức các hành vi, hành động của bản thân, thái độ đối với xung quanh: kiềm chế, tự chủ, kỷ luật, tự kiểm soát…
Có thể thấy tự ý thức là biểu hiện đỉnh cao của ý thức cá nhân – một đặc điểm tâm lý nổi bật nhất ở thanh niên Do đó, tự ý thức gắn bó chặt chẽ với quá trình hình thành và phát triển nhân cách thanh niên
- Đây là lứa tuổi hình thành tình yêu và những mối quan hệ qua lại giữa hai giới Tuổi thanh niên - đó là thời kỳ yêu thích cái mới, cái đẹp, sống
Trang 19nặng về tình cảm hơn lý trí, dễ quên cái cũ để hướng đến tương lai
- Thanh niên chịu sự tác động của hoàn cảnh xã hội, môi trường xã hội một cách mạnh mẽ nhưng họ không muốn có sự kiểm soát từ bên ngoài và của người lớn tuổi
Một mặt thanh niên muốn tự khẳng định mình, muốn độc lập trong tư duy và hành động, song trên thực tế, thanh niên vẫn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như gia đình, nhà trường, nghề nghiệp, bối cảnh kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội nơi họ sống và làm việc Trong những nhân tố ấy, thanh niên chịu tác động mạnh mẽ nhất của tổ chức nhóm, nhất là nhóm cùng lứa tuổi với những đặc trưng như: sở thích, thị hiếu, lý tưởng và biểu hiện qua hành vi Với họ, chủ nghĩa tập thể và cuộc sống theo nhóm chi phối rất nhiều đến suy nghĩ và hành động của bản thân Thanh niên rất dễ bị kích động bởi những tác động ngoại cảnh từ đó nảy sinh tâm lý thích làm “thử”, thích tham gia vào hoạt động của đám đông Thanh niên có cảm xúc cao và tính dễ bị kích thích,
sự lý tưởng hóa quan niệm sống và muốn thành đạt một cách tối đa, nhanh chóng dẫn đến biểu hiện nôn nóng cũng như thiếu kiên định về lập trường đạo đức, nghề nghiệp mình lựa chọn
- Thanh niên thường hình thành lý tưởng sống Họ có lòng yêu nước
và tự hào dân tộc Họ là lực lượng chính tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Có thể thấy trên đây là những đặc điểm tâm lý cơ bản của thanh niên Chúng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách của thanh niên Song do
sự phát triển phức tạp về thể chất cũng như tinh thần của độ tuổi này mà biểu hiện của chúng ở mỗi thanh niên, thanh niên mỗi thời đại lại khác nhau Nhân cách thanh niên được hình thành trên cơ sở sự phát triển nhanh chóng về tâm
lý, sinh lý, nhu cầu, khát vọng của lứa tuổi này Hơn nữa, một điểm rất quan trong chi phối đến sự nhìn nhận và đánh giá nhân cách thanh niên đó là: đây
Trang 20là giai đoạn thanh niên đang tự tìm hướng đi cho chính mình Họ táo bạo, sẵn sàng mạo hiểm để thực hành những gì họ nghĩ và biết Ở giai đoạn này, thanh niên có thể gặt hái được nhiều thành công hoặc ngược lại sẽ gặp phải những thất bại Do vậy giáo dục nhân cách thanh niên là việc làm cần thiết để thanh niên có được sự vững vàng về mặt tâm lý và hành vi đúng đắn
1.2.3 Mục đích của hoạt động giáo dục nhân cách thanh niên
Để đạt được một số định hướng giá trị nhân cách thanh niên Việt Nam hiện nay, cần phải tập trung vào rất nhiều vấn đề Trong đó, vấn đề định hướng sự hình thành nhân cách thông qua giáo dục là con đường ngắn và hiệu quả nhất Hoạt động giáo dục nhân cách nhằm mục đích định hướng cho thanh niên những hướng lựa chọn giá trị đúng đắn, phát triển nhân cách một cách hài hòa giữa yếu tố tài và đức Từ đó đáp ứng được những yêu cầu tự thân của thanh niên cũng như những đòi hỏi của thời đại, xã hội cần ở lực lượng này
Trong số những giá trị cơ bản cần định hướng cho thanh niên hiện nay, những giá trị văn hóa tinh thần được coi là yếu tố tác động mạnh mẽ đến nhân cách thanh niên Đây cũng là yếu tố cơ bản mà hoạt động giáo dục nhân cách hướng tới nhằm tạo ra con người có nhân cách hoàn thiện Những giá trị văn hóa tinh thần ấy bao gồm:
- Bản lĩnh chính trị và lý tưởng cách mạng: Giá trị này giúp cho thanh niên có khả năng nhận thức đúng quy luật phát triển khách quan, hướng cho thanh niên không ngừng học tập nâng cao trình độ và tiềm lực trí tuệ, từ đó luôn nhạy bén với thực tiễn, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm, xử lý tốt những vấn đề mà cuộc sống đang đặt ra theo đúng đường lối quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước
- Đạo đức, lối sống: Giá trị này giúp cho thanh niên biết thẩm định các giá trị đạo đức lối sống của dân tộc từ đó vươn đến hệ giá trị chân – thiện –
Trang 21mỹ, mang đậm tính nhân văn, trên cơ sở kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống, kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc những giá trị đạo đức mang tính thời đại Đây chính là hệ chuẩn giá trị thích ứng với cơ chế thị trường, là cơ sở định hướng cho thanh niên về đạo đức và nhân cách
Đồng thời nó giúp thanh niên biết đánh giá giá trị, xây dựng được tiêu chuẩn và chuẩn mực những hành vi đạo đức, từ đó biết điều chỉnh và tự hoàn chỉnh nhân cách của mình, xây dựng cho thanh niên một nhân cách ổn định, bền vững
- Lĩnh vực khoa học: Trong sự nghiệp đổi mới của đất nước hiện nay, nhất là đất nước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thanh niên thiếu kiến thức khoa học sẽ không thể tiếp cận được với nền kinh
tế tri thức và lẽ đương nhiên là không thể áp dụng những kiến thức khoa học vào lao động sản xuất
Vì vậy, cần định hướng cho thanh niên ý thức được sự cần thiết phải
có trình độ học vấn rộng, kiến thức chuyên môn sâu, có kinh nghiệm thực tiễn khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Xây dựng bản lĩnh khoa học cho thanh niên là hướng cho thanh niên niềm say mê học tập, nghiên cứu khoa học, lao động sáng tạo, khắc phục những khó khăn trong cuộc sống để đạt hiệu quả trong công việc và tạo dựng
sự nghiệp trong tương lai
Cần hướng cho thanh niên biết trân trọng giá trị hiếu học, tôn sư trọng đạo, trọng học vấn và tài năng
- Giá trị thẩm mỹ: Giáo dục thẩm mỹ cho thanh niên là làm cho thanh niên hướng đến các giá trị thẩm mỹ, hiểu rõ các giá trị thẩm mỹ, hướng thanh niên sáng tạo theo quy luật cái đẹp trong mọi lĩnh vực hoạt động của thanh niên Giáo dục thẩm mỹ còn góp phần gợi mở các cách tiếp cận tới cái đẹp, định hướng những giá trị thẩm mỹ, nhận diện được cái phản thẩm mỹ
Trang 22- Lĩnh vực giải trí: Đây là lĩnh vực thiết yếu trong nhu cầu của nhiều lứa tuổi, nhất là thanh niên Giải trí giúp thanh niên thu nạp năng lượng mới, làm tăng sức sống của tuổi trẻ Lựa chọn lĩnh vực giải trí lành mạnh sẽ bồi dưỡng tâm hồn, tính cách cho thanh niên Đây cũng là lĩnh vực kích thích khả năng sáng tạo cũng như thẩm nhận các giá trị văn hóa dân tộc và quốc tế ở thanh niên Do đó định hướng nhu cầu giải trí cũng như cách thỏa mãn nhu cầu ấy theo hướng tích cực Giúp thanh niên biết trân trọng và thưởng thức những loại hình nghệ thuật truyền thống mà cha ông sáng tạo nên, biết tiếp thu những tinh hoa của nhân loại và sáng tạo những giá trị văn hóa mới
1.3 Vai trò của tục ngữ trong việc giáo dục nhân cách thanh niên nước ta hiện nay
1.3.1 Sự cần thiết của việc giáo dục nhân cách cho thanh niên
* Giáo dục nhân cách là hoạt động cần thiết và phù hợp với những đặc điểm tâm lý vốn có ở thanh niên
Con người sinh ra chưa phải là nhân cách Nhân cách được hình thành trong quá trình sống Chỉ có ở một trình độ phát triển tâm lý nhất định, con người mới trở thành nhân cách [54, tr.183]
Giáo dục nhân cách là hoạt động cần thiết dành cho mọi lứa tuổi Song với đặc điểm tâm lý như đã đề cập ở trên, chúng ta thấy được thanh niên
là đối tượng cần được sự quan tâm đặc biệt của hoạt động giáo dục nhân cách
Ý thức tự giáo dục và ý thức chấp nhận tác động của hoạt động giáo dục từ gia đình, nhà trường và xã hội của thanh niên khiến hoạt động giáo dục nhân cách cho đối tượng này dễ có được hiệu quả khả quan nhất
* Giáo dục nhân cách thanh niên là việc làm cần thiết để tạo ra nguồn nhân lực đủ tài và đức đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
Đất nước ta muốn tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển giáo dục đào tạo, phát huy nguồn lực con người Thế hệ trẻ cần
Trang 23có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường để bảo vệ tổ quốc, năng lực chuyên môn nhằm làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại Quá trình hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đặt ra hàng loạt vấn đề cần giải quyết trong việc giữ gìn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã nhấn mạnh:
Coi giáo dục đạo lý làm người, ý thức trách nhiệm nghĩa vụ công dân, lòng yêu nước yêu chủ nghĩa xã hội, đạo đức, lối sống, nếp sống có văn hóa, lịch sử dân tộc và bản sắc dân tộc, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hóa nhân loại là mục tiêu của sự nghiệp giáo dục Việc giáo dục nhân cách nói chung và thanh niên nói riêng đang là yêu cầu bức thiết ở nước ta hiện nay [10]
* Tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho thanh niên còn
do sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường
Trong điều kiện kinh tế thị trường, khi pháp luật quản lý xã hội, quản
lý kinh tế chưa hoàn chỉnh, những thói hư tật xấu, tâm lý đòi hỏi sự hưởng thụ, ích kỷ, chỉ muốn thoả mãn nhu cầu của bản thân bằng mọi giá Lúc này, đạo đức phải trở thành cán cân cơ bản điều chỉnh từ sự nhận thức đến hành vi ứng xử của mỗi con người, đặc biệt là thanh niên - lớp người nhạy cảm, dễ tiếp thu cái tốt, nhưng cũng rất dễ ngộ nhận dẫn đến việc nhận thức sai lệch, đưa họ tới những hành vi lệch lạc, ảnh hưởng đến chính nhân cách của mình
Dưới tác động của cơ chế thị trường, lực lượng lao động trẻ đang có
sự dịch chuyển về cơ cấu theo tỷ trọng lao động ngày càng tăng trong mảng dịch vụ, lao động trong công, nông nghiệp ngày càng giảm Ý thức lập thân, lập nghiệp, lập chí trở thành động lực thúc đẩy quá trình học hỏi, tu dưỡng của thanh niên ngày nay Tiêu chí giỏi một nghề, biết nhiều nghề là mục tiêu phấn đấu cho nhiều thanh niên Chính sự thay đổi trong cách đánh giá nhìn
Trang 24nhận về sự thành đạt của con người như phải có vị thế xã hội, có nguồn lực tài chính…cũng đang là một áp lực cho sự phấn đấu của thanh niên Thanh niên cũng đang phải đứng trước nhiều cám dỗ, nhiều sự lựa chọn và phải đấu tranh gay gắt với những tệ nạn xã hội Trong quá trình ấy, nhiều thanh niên bị bi quan, mất đi sự trong sáng của tuổi trẻ, quá coi trọng giá trị vật chất dẫn đến lối sống thực dụng…
Trong quá trình đổi mới, sự tác động tích cực của nền kinh tế thị trường từng bước hình thành nhân cách tự chủ, tự lập, dám nghĩ dám làm, rèn luyện cho con người ý thức say mê lao động và sáng tạo Con người từ chỗ phục tùng chuyển sang con người tự chủ, sáng tạo; từ chỗ sống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm chuyển sang con người biết tôn trọng cá tính, đề cao bản lĩnh cá nhân Hình thành những phẩm chất về nghĩa vụ, ý chí, lòng dũng cảm, tính nguyên tắc ở mỗi con người
Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng là nguyên nhân của những yếu tố tiêu cực nảy sinh: Càng ngày càng có nhiều thanh niên chưa định hướng được những giá trị cần thiết trong cuộc sống dẫn đến hành vi trái với quy định của pháp luật cũng như đi ngược lại truyền thống đạo đức của dân tộc
Trong những năm gần đây, mặc dù có sự kiên quyết đấu tranh phòng chống các hiện tượng tiêu cực của xã hội và tệ nạn xã hội của cá cơ quan chức năng song tình hình vi phạm pháp luật, phạm tội vẫn diễn biến phức tạp, ngày càng cơ nguy cơ xâm nhập nhanh vào thế hệ trẻ
Một số biểu hiện tiêu cực xã hội đã xuất hiện trong thanh niên như: chủ nghĩa thực dụng, các nhân ích kỷ, lối sống tiêu cực đề cao một chiều giá trị vật chất, coi thường đạo lý nhân nghĩa, coi nhẹ các giá trị truyền thống văn hóa, tha hóa về nhân cách Những ảnh hưởng tiêu cực này là mầm mống phá hủy nhân cách thế hệ trẻ, cản trở bước tiến xã hội
Trang 25Tình hình tệ nạn ở lứa tuổi thanh niên diễn ra khá nghiêm trọng, có chiều hướng gia tăng về số vụ, số loại tội phạm và cả tính chất, mức độ phạm tội Một số tệ nạn xã hội phổ biến đang xâm nhập vào thanh niên hiện nay như: cờ bạc, rượu chè, ma túy, mại dâm, cướp giật tài sản công dân, gây rối trật tự công cộng, vi phạm an toàn giao thông, lén lút tuyên truyền văn hóa phẩm độc hại, phản động, đồi trụy…Mà nguyên nhân dẫn đến tệ nạn xã hội ở thanh niên chủ yếu là do công tác giáo dục yếu, ngay cả ở nhà trường, gia đình và xã hội
Như vậy, những biểu hiện về đạo đức, lối sống, tư tưởng, phẩm chất chính trị cũng như quan niệm của thanh niên về cuộc sống đang tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, thậm chí đối lập nhau Điều đó đòi hỏi cần có sự giáo dục nhân cách một cách toàn diện nhằm tạo ra mẫu nhân cách điển hình, phù hợp và đáp ứng được đòi hỏi của thời đại
Tóm lại, vấn đề định hướng, bồi dưỡng, giáo dục về tri thức và nhân cách cho thanh niên Việt Nam hiện nay không chỉ là vấn đề cấp thiết mà còn
là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, lâu dài Tuy nhiên, việc giáo dục nhân cách cho thanh niên muốn có hiệu quả cao nhất phải đòi hỏi một quá trình liên tục,
có mối liên hệ mật thiết với giai đoạn giáo dục trước đó
1.3.2 Những tác động của tục ngữ tới việc giáo dục nhân cách thanh niên nước ta hiện nay
Ngay từ thủa lọt lòng, trẻ thơ đã được cha mẹ giáo dục nhân cách thông qua lời ru – những câu hát ầu ơ, giai đoạn niên thiếu thì được giáo dục qua các bài đồng dao, khi đi học thì được học các câu tục ngữ có ý nghĩa giáo dục nhân cách thông qua sách vở
Cùng với sự phát triển của xã hội, các hình thức giải trí khác dần lấn
át các hoạt động vui chơi giản dị mang ý nghĩa giáo dục Tục ngữ dần dần vắng bóng trong các gia đình hiện đại Internet ngày càng khẳng định vị thế
Trang 26trong xã hội hiện đại với đủ các thông tin bổ ích và độc hại Nhiều trẻ em dần
bị ngộ độc với các thông tin độc hại và rất cần một sự định hướng, một sự quan tâm của toàn xã hội Đến tuổi trưởng thành, nhiều thanh niên có xu hướng sống một lối sống lệch lạc là điều dễ hiểu trong xã hội hiện đại
Với lối giáo dục nhẹ nhàng, thẩm thấu vào trí óc con người mỗi ngày, tục ngữ cần phát huy tác dụng của mình để giúp thế hệ trẻ định hướng tốt trong tư tưởng, lối sống lành mạnh để trở thành những người con có ích cho
xã hội
Khi nhìn nhận sự tác động của tục ngữ tới nhân cách thanh niên chúng
ta phải đặt chúng trong một quá trình liên tục Tức là ở lứa tuổi trước đó, thanh niên đã được tục ngữ tác động với những mức độ khác nhau Cùng một con người sẽ có những thời điểm nhận sự tác động một cách thụ động nhưng ngược lại sẽ có thời điểm họ tự ý thức hoặc chủ động tiếp nhận những giá trị của tục ngữ
* Tục ngữ truyền đạt kinh nghiệm về nhiều nội dung trong đời sống xã hội nên rất cần cho thanh niên
Với đặc điểm tâm lý lứa tuổi, thanh niên thường thiếu từng trải, thiếu kinh nghiệm sống, kinh nghiệm chính trị…nên rất cần được sự truyền bảo kinh nghiệm từ những người đi trước Tục ngữ đáp ứng được yêu cầu đó và như vậy, sử dụng tục ngữ để giáo dục thanh niên sẽ giúp thanh niên khắc phục được một số hạn chế vốn có ở lứa tuổi mình
* Tục ngữ tác động nhiều chiều tới cá nhân nhưng trên hết nó thúc đẩy quá trình hình thành nhân cách
Nội dung mà tục ngữ đề cập rất rộng lớn, bao gồm rất nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội và đời sống mỗi cá nhân Do là sản phẩm của trí tuệ dân gian, tính dị bản trong truyền khẩu cúng như khả năng áp dụng nó trong nhiều hoàn cảnh khác nhau khiến một câu tục ngữ có thể được hiểu ở nhiều góc độ
Trang 27khác nhau Thậm chí, nhiều câu tục ngữ còn thể hiện sự hạn chế về mặt tư tưởng của nhân dân lao động như: khinh rẻ người nghèo, tư tưởng an phận thủ thường, tư hữu, bảo thủ, đề cao giai cấp thống trị…Nhưng trên hết, thông qua tục ngữ, con người được hấp thu kho tàng tri thức quý báu Ở đó dạy ta đạo làm con phải hiếu thuận với cha mẹ, tổ tiên; đạo làm trò phải kính thầy; đạo làm vợ, làm chồng phải thủy chung…Tục ngữ còn dạy con người phải biết quý trọng và bảo vệ thiên nhiên; Với con người phải yêu thương đùm bọc, phải biết nhân, lễ, nghĩa, trí, tín…Do đó, tục ngữ có nhiều tác động tích cực đến thanh niên
* Tục ngữ truyền tinh thần lạc quan – phù hợp với đặc điểm tâm lý lạc quan, nhiệt huyết và năng động của thanh niên
Qua thực tế đấu tranh khó khăn và gian khổ trên đất nước nhiều thiên tai, địch họa, nhân dân Việt Nam đã rút ra nhiều kinh nghiệm quý báu và có những nhận xét khá sâu sắc về cuộc đời Nhiều câu trở thành châm ngôn cho dân tộc
Điều độc đáo của trí óc nhân dân lao động Việt Nam là trong những trường hợp rất khó khăn, gian khổ, nhân dân ta tuy đôi khi cũng có những phút bức dọc, chán nản nhưng nhìn chung không bao giờ tuyệt vọng, phần nhiều là vui, phấn khởi, có tinh thần xây dựng, bền bỉ trong chiến đấu Điều này tương đồng với tâm lý lạc quan, sống hoài bão và tinh thần phấn chấn của tuổi trẻ
* Tục ngữ có ảnh hưởng thẩm thấu, nhẹ nhàng, tế nhị, không áp đặt nên được tiếp thu một cách tự nguyện
Tục ngữ tuy là những tri thức thu được bằng con đường kinh nghiệm chủ quan, cảm tính, tuy sức thuyết phục thấp (vì không được luận chứng, thậm chí nhiếu ý trong tục ngữ còn đối lập nhau…) nhưng có ưu điểm diễn đạt súc tích, ngắn gọn, thâm thúy và rõ ràng, sinh động
Trang 28Nội dung và con đường truyền đạt của tục ngữ là rất nhẹ nhàng và không áp đặt lối nghĩ, sự tiếp nhận của bất cứ ai Do đó, tục ngữ được chúng
ta tiếp nhận một cách tự nguyện khi thấy phù hợp với quan niệm của mình, thậm chí khi thấy không phù hợp thì có thể phản biện lại
* Thanh niên dễ dàng học tập, nhận thức, vận dụng những kinh nghiệm của cha ông để lại, kết hợp truyền thống của dân tộc với đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện đại, đáp ứng yêu cầu của thời đại…
Tiểu kết
Trong chương 1, tác giả đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về tục ngữ và vấn đề giáo dục nhân cách, đồng thời phân tích những đặc điểm tâm lý lứa tuổi thanh niên Thông qua việc tìm hiểu tầm quan trọng của công tác giáo dục nhân cách thanh niên trong hoàn cảnh xã hội ngày nay, tác giả đề cập đến hoạt động giáo dục nhân cách nhằm mục đích định hướng cho thanh niên những hướng lựa chọn giá trị đúng đắn, phát triển nhân cách một cách hài hòa giữa yếu tố tài và đức Từ đó đáp ứng được những yêu cầu tự thân của thanh niên cũng như những đòi hỏi của thời đại, xã hội cần ở lực lượng này
Tác giả bước đầu đã chỉ ra mối liên hệ giữa tục ngữ với công tác giáo dục nhân cách thanh niên Sự phù hợp trong việc vận dụng những câu tục ngữ vào giáo dục nhân cách giới trẻ được nhìn nhận một cách khách quan hơn
Đó là quan điểm nhìn nhận sự tác động của tục ngữ tới nhân cách thanh niên trong một quá trình liên tục Tức là ở lứa tuổi trước đó, thanh niên đã được tục ngữ tác động với những mức độ khác nhau Cùng một con người sẽ có những thời điểm nhận sự tác động một cách thụ động nhưng ngược lại sẽ có thời điểm họ tự ý thức hoặc chủ động tiếp nhận những giá trị của tục ngữ
Trên cơ sở lý luận đó, chương 1 là tiền đề để tác giả tiếp cận những giá trị cơ bản của tục ngữ với việc giáo dục nhân cách trong chương 2
Trang 29Chương 2
NHỮNG GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA TỤC NGỮ ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC NHÂN CÁCH
2.1 Tục ngữ đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến nhân cách
Quá trình hình thành và phát triển nhân cách phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như yếu tố di truyền (tố chất, thể chất…); yếu tố gia đình (dạy dỗ, truyền thống gia đình ); yếu tố nhà trường (giáo dục, đào tạo); yếu tố xã hội
Từ xa xưa, cha ông ta đã nhận thức được những yếu tố ảnh hưởng đến nhân cách và đúc rút thành những câu tục ngữ để giáo dục bản thân và con cháu ý thức về chúng
“Tư chất: tính chất sẵn có của một người, thường nói về mặt trí tuệ”
[41, tr.1324] Như vậy, tư chất là tất cả những tiểm năng phát triển, được di truyền và bẩm sinh của một cá thể
Với quan điểm như vậy, dựa trên hình thức bên ngoài có thể nhận biết được yếu tố con người bên trong, tục ngữ cho ta kinh nghiệm giúp phát hiện
ra các nhân tố xấu, tốt trong con người để có thể thông qua đó nhìn nhận, đánh giá, phân loại và có phương án giáo dục, cải tạo phù hợp nhằm khai thác tối đa nguồn nhân lực
Trước hết là quan niệm con cái bao giờ cũng có những đặc điểm được
di truyền từ cha mẹ, do đó xem xét con người phải nhìn nhận từ nguồn gốc
Trang 30xuất thân:
Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh
Trứng rồng lại nở ra rồng / Liu điu lại nở ra dòng liu điu
Cũng từ đó, yếu tố tông, giống, nòi, dòng … của mỗi người được đề
cao, trở thành tiêu chí để lựa chọn bạn đời, con dâu, con rể của mỗi gia đình :
Lấy vợ xem tông, lấy chồng chọn giống
Mạch trong nước chảy ra trong / Thế nào đi nữa con dòng vẫn hơn
Tục ngữ còn cho chúng ta kinh nghiệm nhìn nhận con người từ những biểu hiện bề ngoài (mặc dù có thể chưa thật khách quan) như:
Con lợn mắt trắng thì nuôi / Con người mắt trắng là người vô lương
Ai mà ti hí mắt lươn / Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người
Mặc dù không đề cập một cách trực diện vai trò của yếu tố di truyền đối với sự hình thành nhân cách nhưng những câu tục ngữ như trên đã giúp ta nhận thấy cội nguồn gia đình có quyết định lớn đến biểu hiện bên ngoài, đồng thời là tiền đề để hình thành phẩm chất của mỗi người Mỗi người khi sinh ra
là đã được thừa hưởng các yếu tố cơ bản được di truyền từ cha mẹ
2.1.2 Yếu tố gia đình
Ngay từ khi sinh ra, sự phát triển của con người chịu ảnh hưởng của môi trường gia đình rất lớn, con người bị ảnh hưởng bởi truyền thống của gia đình, gia phong, đạo đức lối sống của dòng họ Lịch sử đã cho thấy, một dòng
họ có truyền thống hiếu học thường sản sinh ra các nhân tài kiệt xuất Yếu tố truyền thống của gia đình, gia tộc có ảnh hưởng sâu đậm đến định hướng rèn luyện nhân cách của cá nhân trong đó Tục ngữ đã đúc kết đã là con người thì phải có gốc gác :
Chim có tổ, người có tông
Chính nguồn gốc xuất thân, yếu tố gia phong và truyền thống của dòng họ tạo một mạch nguồn chảy trong mỗi con người, tăng thêm lòng tự
Trang 31hào về dòng dõi cũng như ý chí quyết tâm phấn đấu, tu dưỡng giữ gìn danh thế của dòng họ :
Mạch trong nước chảy ra trong / Thế nào đi nữa con dòng vẫn hơn
Việt Nam là đất nước coi trọng yếu tố dòng tộc, huyết thống Thậm chí sự phấn đấu của con người không chỉ vì bản thân mình mà còn vì áp lực làm rạng danh tiên tổ
Yếu tố gia đình tác động tới mỗi cá nhân thông qua sự ảnh hưởng của cha mẹ và những thành viên khác trong gia đình Nó có tác động rất lớn tới sự hình thành nhân cách từ lúc bé thơ đến khi lớn lên, trưởng thành Nói cách khác, yếu tố gia đình ảnh hưởng đến con người trong suốt cuộc đời
Ngay từ tấm bé, trẻ thơ cần nhận được sự quan tâm, dạy dỗ, uốn nắn nhân cách từ gia đình Chính vì con cái sống trong gia đình nhiều thời gian nhất, làm những công việc bình thường nhất như ăn ngủ, học tập, vui chơi, giao tiếp với các thành viên trong gia đình nên cha mẹ và những người lớn tuổi có điều kiện quan sát, thấu hiểu được nhân cách, vốn kiến thức, óc tưởng tượng hay mơ ước của con cái…Vì thế, giáo dục nhân cách con cái là trách nhiệm của gia đình cũng như gia đình có nhiểu khả năng, thuận lợi để thực hiện việc đó trong một thời gian dài Quan điểm giáo dục đúng đắn này đã được cha ông truyền dạy thông qua những câu tục ngữ về dạy dỗ con cái :
Uốn cây từ thuở còn non / Dạy con từ thuở con còn ngây thơ
Nói về sự ảnh hưởng nhân cách từ phía các thành viên trong gia đình tới cá nhân, nhất là từ nhân cách, lối sống của cha mẹ có tác động trực tiếp đến con cái, tục ngữ đã đúc kết :
Cha hiền, con thảo
Cây xanh lá cũng xanh / Cha mẹ hiền lành để đức cho con
Trang 32Điều này thể hiện rằng phần lớn những người con hiếu thảo, đức độ được sinh ra trong những gia đình có truyền thống đạo đức tốt Cha mẹ chính
là tấm gương cho con cái noi theo
Còn vế ngược lại chính là những lời răn dạy của cha ông về ảnh hưởng xấu từ môi trường gia đình khi mà môi trường ấy không thuận lợi cho
sự phát triển nhân cách cá nhân :
Đời cha ăn mặn, đời con khát nước
Như vậy, cuộc sống của cha mẹ có tác động trực tiếp đến tình trạng thể chất và tâm trí của con cái Bên cạnh yếu tố di truyền, bố mẹ có đời sống vật chất và tinh thần lành mạnh, ham học hỏi, lạc quan…sẽ sinh con khỏe mạnh và phát triển trí tuệ bình thường và ngược lại Lối sống của cha mẹ là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách của con người
Nhìn nhận sự phản chiếu của ‘‘nếp nhà’’ qua nhân cách các thành viên trong đó, tục ngữ đã khẳng định :
Giỏ nhà ai, quai nhà nấy
Chị em trên kính dưới nhường / Là nhà có phúc mọi đường yên vui
Điều này thể hiện rằng con cái chính là sản phẩm của gia đình, một gia đình có cha mẹ tài giỏi có thể sinh ra những người con tài giỏi Ngược lại, những người cha kém cỏi cũng sẽ khó sản sinh ra các nhân tài cho xã hội
Mặt bằng trí thức của gia đình, nhất là trình độ của người mẹ là điều kiện cho môi trường sinh hoạt tinh thần của con người được đảm bảo Con cái
sẽ luôn được tiếp xúc với các giá trị văn hóa tinh thần làng mạnh, luôn được giáo dục chu đáo từ bé tới lớn, nhất là khi có người mẹ luôn biết quan tâm, dạy dỗ chu đáo :
Mẹ dạy thì con khéo, cha dạy thì con khôn
Sinh con thì luộc thì lao, thì nấu thì nướng mà trao cho người
Sống trong xã hội phong kiến nhưng cha ông ta đã coi trọng yếu tố
Trang 33con người Tục ngữ đã giáo dục những bậc làm cha mẹ cần phải công bằng trong nhìn nhận và ứng xử với con cái :
Tục ngữ đề cao vai trò của yếu tố giáo dục đối với con người Chính
vì vậy, nghề dạy học từ xưa tới nay được coi là nghề cao quý nhất trong mọi nghề, người thầy như là người cha, người mẹ thứ hai của mỗi con người Tục ngữ đề cao người thầy cũng chính là đề cao yếu tố giáo dục của nhà trường:
Nhất tự vi sư, bán tự vi sư
Một chữ ông Thánh bằng gánh vàng
Như vậy, một yếu tố trong giáo dục, đào tạo dù là nhỏ nhất trong con mắt của người dân nhưng thực chất có một giá trị vô cùng to lớn mà đôi khi chúng ta chưa nhận ra
Tục ngữ đã thể hiện quan niệm môi trường nhà trường đào tạo con người không chỉ tri thức mà còn đào tạo con người cả về đạo đức, lối sống
Và cha ông xưa quan niệm rằng con người cần được dạy dỗ đầu tiên là những phép tắc thuộc đạo lý phải theo cho đúng khi đối xử, tiếp xúc với người khác rồi mới học đến những tri thức khác :
Tiên học lễ, hậu học văn
Tục ngữ giáo dục con người phải biết trân trọng sự dạy dỗ của người thầy, cố gắng phấn đấu để khỏi phụ lòng những người có công ơn dạy dỗ
Trang 34mình:
Không thầy đố mày làm nên
Vai trò người thầy là vô cùng quan trọng, người thầy phải có tư cách
và phẩm chất đạo đức tốt Nhân cách của người thầy sẽ là tấm gương để trò noi theo Sự ngưỡng mộ những giá trị đạo đức, nhân văn cao quý, sự kiên trì phấn đấu thực hiện theo hoài bão của người học phụ thuộc nhiều vào sự nhất quán giữa lời dạy đầy tính thuyết phục của thầy với biểu hiện nhân cách tức hành động của thầy Do đó, tục ngữ cũng đòi hỏi ở người thầy những phẩm chất nhất định:
Làm thầy thì dễ, thế chuộng mới khó
Tục ngữ nhắc nhở mọi người cần phải đánh giá đúng vai trò của người Thầy trong việc giáo dục, hình thành nên tri thức của con người Nhắc nhở mọi người cần phải trân trọng và đánh giá đúng yếu tố giáo dục trong Nhà trường đối với mỗi con người, mà người thầy chính là đại diện cho yếu tố này :
Muốn sang thì bắc cầu kiều / Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy
Tục ngữ đề cao yếu tố giáo dục đối với sự trưởng thành của con người bằng cách chỉ cho người học tự nhận thức được vai trò của quá trình học với cuộc sống chính mình :
Chăm học thì sang, chăm làm thì có
Một con người muốn tiếp thu, lĩnh hội tri thức được học trong nhà trường không chỉ phụ thuộc vào phương châm, cách thức đào tạo, chương trình đào tạo của nhà trường mà còn phải kết hợp với quá trình tự đào tạo, tự học của bản thân người học Ngay từ xưa, tục ngữ đã nhắc nhở con người khi đang trong lứa tuổi đi học, nếu chịu khó, siêng năng học hành thì tất sẽ gặt hái được những thành quả
Ngọc bất trác, bất thành khí, nhơn bất học bất tri lý
Trang 35Chẳng cấy lấy đâu có thóc, chẳng học lấy đâu biết chữ
Ngày nay, phương pháp giáo dục hay được đề cập đến là phát huy tính tích cực, chủ động của người học, chuyển từ việc người thầy đóng vai trò chủ động truyền trao tri thức và người học thụ động tiếp nhận sang người thầy nêu vấn đề, người học đưa ra cách thức giải quyết vấn đề, hai đối tượng cùng bàn bạc, trao đổi Tục ngữ cũng đã đề cập đến vấn đề tự học, khuyến khích tinh thần tự học, động viên người học phải chịu khó và có ý chí :
Dốt đến đâu học lâu cũng biết
Học mãi thành tài, miệt mài tất giỏi
Về vấn đề tự học, không chỉ tục ngữ người Việt mới đề cập đến, tục
ngữ Thái cũng có câu: Thầy dạy không bằng mình suy nghĩ để khuyến khích
người học không dựa dẫm, ỷ lại những điều thầy dạy mà phải tự mình tìm tòi, suy nghĩ
Ngoài việc học trong nhà trường thì việc học hỏi lẫn nhau, học hỏi từ cuộc sống, từ bè bạn cũng giúp cho con người trưởng thành lên rất nhiều, quan điểm đó được cha ông ta nhắn nhủ qua tục ngữ :
Đi một ngày đàng học một sàng khôn
Học thầy không tày học bạn
Điều đó khẳng định tính dân chủ, hợp tác trong học thầy, học bạn nhưng cộng thêm sự miệt mài, tự học của người học
2.1.4 Yếu tố môi trường xã hội vĩ mô
Tác động giữa môi trường xã hội với nhân cách con người diễn ra liên tục, không ngừng trong suốt cuộc đời con người Quá trình sống của mỗi cá nhân là quá trình thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội, qua đó mà mỗi cá nhân trưởng thành và thể hiện mình như một nhân cách
Môi trường xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách Nếu một con người được sống trong một môi trường cộng
Trang 36đồng tốt thì có thể được hấp thu những giá trị văn hóa tốt và ngược lại nếu sống trong một cộng đồng không tốt thì rất dễ có những thói quen xấu, bị ảnh hưởng bởi những giá trị phản văn hóa :
Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng
Như vậy, môi trường xã hội ảnh hưởng tới cá nhân với cả hai hướng tiêu cực hoặc tích cực Do đó tục ngữ khuyên răn con người cần phải chọn cho mình một môi trường sống tốt để học tập và làm việc
* Ngay từ ngày xưa, trong xã hội phong kiến những nét đẹp trong cộng đồng đã được đề cao Điều đó được thể hiện thông qua tục ngữ về tinh
thần đoàn kết, thương yêu cộng đồng :
Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ
Để đối phó với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, người Việt Nam củng cố sức mạnh bằng tính cộng đồng, sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau,
coi mọi người trong cộng đồng như anh em trong nhà :
Lá lành đùm lá rách
Một cây làm chẳng nên non / Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Sống trong một cộng đồng biết yêu thương, đoàn kết và san sẻ với
nhau những khó khăn thì con người ngay từ tấm bé cho đến khi về già sẽ phải
tự điều chỉnh hành vi của mình để hình thành nên những truyền thống tốt đẹp
và phát huy những truyền thống đó
* Nói về ảnh hưởng của môi trường xã hội đến phẩm chất, cách ứng
xử của con người, tục ngữ đã đúc kết :
Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài
Thoạt tiên khi nghe câu tục ngữ trên, chúng ta chỉ hiểu theo một nghĩa
là cha ông ta khuyên con người ở đâu phải theo phong tục, nề nếp ở đó, lựa hoàn cảnh mà ứng xử cho hợp Nhưng trong đó, cha ông ta cũng dự báo sự tác
Trang 37động của hoàn cảnh sống đến phẩm hạnh, tư chất con người
Do đó, kinh nghiệm ngàn đời để con người giữ được phẩm giá của mình trước sự tác động của hoàn cảnh chính là :
Giấy rách giữ lấy lề
Dù ai nói ngả nói nghiêng / Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân
* Trong kho tàng tục ngữ Việt, rất nhiều câu tục ngữ có nội dung giáo
dục nhân cách con người bằng cách đề cập đến những đức cơ bản của con
người theo quan niệm đạo Khổng Tuy nhiên, do hầu hết là sáng tác của nhân
dân lao động nên những đức Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín mà tục ngữ đề cập đến đều có sự dung hòa với văn hóa Việt Nam Chính những quan niệm về một con người tài đức vẹn toàn với năm đức kể trên đã tạo một hình ảnh con người kiểu mẫu để mọi người phấn đấu Do vậy, việc rèn nhân cách cũng như đánh giá nhân cách sẽ chủ yếu hướng theo quan niệm truyền thống của ông cha
Đức nhân (biết yêu thương con người, trọng và yêu thương dân)
Thương người như thể thương thân
Quốc dĩ dân vi bổn (Đạo của người trị nước: nước lấy dân làm gốc)
Đức lễ (lễ nghi ứng xử, tuân thủ thứ bậc trong xã hội để tạo trật tự xã
hội, cao nhất là ứng xử với thần linh, tiên tổ)
Trên kính, dưới nhường
Trọng xỉ hơn trọng tước
Kính lão đắc thọ
Đức nghĩa:
Ăn ở như bát nước đầy
Trọng nghĩa khinh tài
Đức trí (Thể hiện khả năng biết và hành động theo điều đúng đắn)
Tri pháp úy pháp (Người am tường luật pháp thì sợ luật pháp, không
Trang 38dám phạm luật, tôn trọng pháp luật)
Dần dần, những quan niệm về Chân –Thiện – Mĩ được truyền trao qua nhiều
thế hệ, trở thành những đúc kết để nhìn nhận, đánh giá nhân cách cũng như để lựa chọn những người được cho là đẹp người, đẹp nết
Cái nết đánh chết cái đẹp
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
* Những định hướng của xã hội cũng tác động đến sự rèn luyện, tu
dưỡng của con người cũng được tục ngữ đề cập đến Trong một xã hội biết
trọng người tài, đức thì con người sẽ có thêm động lực để phấn đấu:
Có đức có tài ai chả quý
Những người đức hạnh thuận hòa / Đi đâu cũng được người ta tôn sùng
* Tính cách, hành vi ứng xử cũng như thói quen của một con người
còn chịu ảnh hưởng bởi thói quen, phong tục, tập quán của cộng đồng nơi con người ấy được sinh ra – Điều mà cha ông ta gọi là đất lề, quê thói
Môi trường sống kiểu làng xã tạo nên một cuộc sống đầm ấm, yêu thương những người thân trong gia đình, làng mạc Tuy nhiên tính cách cục
bộ tồn tại trong tư tưởng của cộng đồng và ảnh hưởng đến cách nhìn nhận, lối sống của một bộ phận nhân dân, điều đó cũng được thể hiện qua nhiều câu tục ngữ
Trong môi trường làng xã đôi khi con người hay dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể, ý thức về con người cá nhân bị thủ tiêu :
Trang 39Cha chung không ai khóc / Lắm sãi không ai đóng cửa chùa
Cùng với đó là tư tưởng cầu an, an phận thủ thường và cả nể Kinh nghiệm của cộng đồng nhiều khi thể hiện sự khôn vặt hay tư tưởng bè phái, địa phương cục bộ :
Ăn giỗ đi trước, lội nước theo sau
Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ
Và quan điểm cái tốt nhưng tốt riêng sẽ trở thành xấu, cái xấu nhưng
là xấu tập thể lại trỏe thành bình thường:
Khôn độc không bằng ngốc đàn
Đau mắt là tại hướng đình / Cả làng toét mắt chứ mình em đâu
Có thể thấy, môi trường xã hội có thể ảnh hưởng hai mặt tới sự hình thành và phát triển nhân cách của con người, đặc biệt ở lứa tuổi thanh niên – lứa tuổi đang kiếm tìm và chọn lựa cho mình hệ giá trị mà cộng đồng tạo ra làm tiêu chí cho sự phấn đấu, tu dưỡng cho mình Do đó, một môi trường xã hội tốt sẽ giúp lứa tuổi này có điều kiện để hấp thụ những quan niệm đúng đắn, những giá trị văn hóa tốt đẹp mang tính truyền thống Cũng qua môi trường xã hội, lứa tuổi thanh niên sẽ nhận thức được cái xấu, cái chưa tốt hay những quan niệm sai lầm để đấu tranh và loại bỏ chúng
2.2 Tục ngữ giáo dục đến các khía cạnh trong văn hóa ứng xử của mỗi cá nhân
Các nhà nghiên cứu tâm lý học nhân cách đã khẳng định rằng nhân cách không phải là sự tổng hòa những đặc điểm cá thể mà là sự tổng hòa
Trang 40những đặc điểm quy định con người như một thành viên của xã hội, nói lên
bộ mặt tâm lý, giá trị, cốt cách làm người của mỗi cá nhân Vì vậy, nhân cách không phải được sinh ra mà được hình thành trong cuộc sống, trong các quan
hệ xã hội Như vậy có thể thấy, những quan hệ ứng xử của con người trên tất
cả các lĩnh vực đều tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách
2.2.1 Văn hóa ứng xử với điều kiện tự nhiên, hoạt động sản xuất
Môi trường tự nhiên là cái gốc quy định lối sống và văn hóa ứng xử của con người không chỉ đối với tự nhiên mà cả đối với xã hội Nếu con người chọn cho mình một lối ứng xử phù hợp với những điều kiện tự nhiên vốn có mà điều này trước tiên phụ thuộc vào trí tuệ của họ thì chắc chắn con người sẽ nhanh chóng thích nghi và có thể biến đổi tự nhiên một cách có hiệu quả hơn, phục vụ nhu cầu con người Con người, văn hóa ứng xử trước tiên được định hình và phát triển trong lĩnh vực mối quan hệ con người – tự nhiên [55, tr54] Thái độ ứng xử hài hòa với thiên nhiên trên cơ sở nông nghiệp trồng trọt có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành nhân cách con người Mặt tích cực của nhân cách phương Đông: sống ôn hòa, ổn định, có “an cư mới lạc nghiệp”, cần cù, chịu thương chịu khó, vun vén cho cuộc sống gia đình, tính cộng đồng cao…Song có hạn chế không nhỏ: sống rụt rè, e ngại, dựa dẫm vào vận may, không nhìn xa trông rộng, dễ bằng lòng với cái mình có Thậm chí còn dẫn đến mê tín…
Văn hóa ứng xử với môi trường thiên nhiên quyết định văn hóa ứng
xử của con người với xã hội Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên ở Việt Nam gắn với gia đình, làng xã, có tính cộng đồng sâu sắc Trong ứng xử với
tự nhiên, người Việt cố kết trong cộng đồng để thích ứng và biến đổi thiên nhiên