Xây dựng đời sống văn hóa được xem là một cuộc vận động Cách mạng nhằm tổ chức mọi tầng lớp nhân dân có nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa và làng văn hóa, phát huy những nét văn hóa độ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NÔI
KHOA VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ, MÃ SỐ 608
Sinh viên thực hiện : PaoThao Chapear Hướng dẫn khoa học : TS Nguyễn Văn Cần
Hà Nội 2009
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận này, sinh viên đã nhận được sự giúp đỡ tận tình các thầy cố giáo, các cơ quan ban ngành huyện Văng Viêng và bạn bè cùng lớp
Sinh viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới T.S Nguyễn Văn Cần, giảng viên hướng dẫn đã nhiệt tình giúp đỡ chỉ bảo để khóa luận của sinh viên được hoàn thành
Xin cảm ơn UBND huyện Văng Viêng, các cơ quan chính quyền địa phương, các đồng chí lãnh đạo và cộng đồng người Hmông
ở huyện Văng Viêng đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình khảo sát thực tế
Cũng nhân đây, sinh viên xin được bày tỏ lòng biết ơn các thầy
cô giáo trong khoa Văn hóa Dân tộc thiểu số, trường Đại học Văn hóa
Hà Nội và các bạn cùng khóa đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian học và nghiên cứu
Bài viết của sinh viên tuy đã cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong các thầy cô giáo và các bạn đóng góp
ý kiến và bổ sung thêm để bài viết của sinh viên đầy đủ hơn Một lần nữa, sinh viên xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên: PaoThao Chapear
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HUYỆN VĂNG VIÊNG VÀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HMÔNG Ở HUYỆN VĂNG VIÊNG - TỈNH VIÊNG CHĂN ……….7
1.1 Tổng quan về huyện Văng Viêng ……… ………7
1.1.1 Điều kiện tự nhiên……… 7
1.1.2 Lịch sử hình thành……… 9
1.1.3 Dân cư và sự phân bô……….9
1.1.4 Kinh tế - xã hội……… 10
1.1.5 Lĩnh vực văn hóa……… 11
1 2 Khái quát về cộng đồng người Hmông ở huyện Văng Viêng……….14
1.2.1 Nguồn gốc lịch sử……….14
1.2.2 Kinh tế - Xã hội truyền thống……… 15
1.2.3 Những đặc trưng văn hóa tiêu biểu ……… 16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HMÔNG Ở HUYỆN VĂNG VIÊNG - TỈNH VIÊNG CHĂN ………19
2.1 Thực trạng và thành tựu về chính trị, kinh tế, xã hội của huyện Văng Viêng……… 20
2.1.1 Kinh tế nông nghiệp……… 20
2.1.2 Đường giao thông, vân tải ……….21
Trang 42.1.3 Nước dùng, an toàn vệ sinh……… 22
2.1.4 Thương mại, dịch vụ……….22
2.1.5 Chính trị………23
2.1.6 Giáo dục, ý tế………23
2.1.7 An ninh quốc phòng……… 24
2.2 Xây dựng nếp sống văn hóa ……… 24
2.2.1 Tổ chức đám cưới……….24
2.2.2 Lễ tang……… 25
2.2.3 Tín ngưỡng tôn giáo……… 25
2.2.4 Ăn uống ……….……… 26
2.2.5 Xây dựng quan hệ ứng xử văn hóa ……… 26
2.2.6 Xây dựng gia đình văn hóa……… 26
2.2.7 Xây dựng làng văn hóa ………27
2.3 Xây dựng thiết chế văn hóa……… 27
2.3.1 Nhà văn hóa ……….28
2.3.2Câu lạc bộ ………… ……… 28
2.3.3 Xây dựng đội văn nghệ……… 28
2.3.4 Đội thể dục thể thao … ……… 29
2.3.5.Văn hóa nghe nhìn,.văn hóa đọc ……… 29
2.4 Xây dựng môi trường văn hóa………30
2.4.1 Môi trường xã hội……… 30
2.4.2 Môi trường tự nhiên……… 31
2.5 Đánh giá ……… 31
2.5.1 Ưu điểm……….31
2.5.2 Hạn chế……….34
Trang 5CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỜI
SỐNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HMÔNG Ở HUYỆN
VĂNG VIÊNG………39
3.1 Phương hướng ………… ……….39
3.2 Nhiệm vụ ……… 41
3.3 Giải pháp ……… ……… 41
Kiến nghị, đề xuất……… 52
Kết luận……… 55
Tài liệu tham khảo……… 57
Phục lục……… 60
Trang 6MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Lào là một trong các quốc gia có nhiều cảnh quan thiên nhiên, nhiều thành phần tộc người và những nét bản sắc văn hóa độc đáo Thời gian qua, Đảng và Nhà nước cùng toàn thể nhân dân đã bền gan anh dũng chiến đấu giành được thắng lợi cho đất nước, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Đó là xây dựng con người mới, lối sống mới,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước coi việc phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm và xây dựng văn hóa là nền tảng, động lực thúc đẩy kinh tế – xã hội
Đất nước Lào đã và đang bước vào quá trình hội nhập và giao lưu với quốc tế trên nhiều lĩnh vực: Kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội Nhờ phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường và mở rộng trao đổi hàng hóa với thế giới, nên đời sống kinh tế của đất nước ta đã từng bước phát triển, phong phú hơn Nhưng kinh tế phát triển càng mạnh thì vấn đề giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của đất nước càng phải được chú trọng hơn Một trong những nội dung xây dựng nền văn hóa Lào tiên tiến đậm đà, bản sắc dân tộc, nhân dân giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, đất nước xanh sạch đẹp và giữ
vững trật tự, xã hội ổn định là xây dựng đời sống văn hóa Xây dựng
đời sống văn hóa được xem là một cuộc vận động Cách mạng nhằm tổ chức mọi tầng lớp nhân dân có nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa và làng văn hóa, phát huy những nét văn hóa độc đáo của các thành phần tộc người của đất nước
Trang 7Dưới ánh sáng các Nghị quyết của Đảng về việc thực hiện chủ trương, chính sách phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, nhất
là xây dựng đời sống văn hóa vùng miền núi, những năm qua, huyện Văng Viêng đã tích cực triển khai các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở tại các phường, các cộng đồng dân cư nhưng chưa đạt được kết quả cao Bởi vì cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội còn nhiều bất cập, khả năng chỉ đạo tổ chức chuyên môn nghiệp vụ của các cán bộ ban văn hóa huyện, làng còn nhiều hạn chế Họ chỉ làm việc theo kinh nghiệm, thói quen chứ không có kiến thức khoa học cho các phương thức quản lý văn hóa để xây dựng đời sống văn hóa các cộng đồng dân cư
Văng Viêng là một trung tâm hành chính, là trọng tâm phát triển kinh tế về nhiều mặt như: nông nghiệp, công nghiệp, thương mại
và dịch vụ du lịch…của tỉnh Viêng Chăn Nhưng, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Kinh tế xã hội còn thuộc vào tình trạng thấp kém và mức hưởng thụ kinh tế, văn hóa của cộng đồng dân cư các tộc người còn cách biệt khá lớn Vậy, để rút ngắn khoảng cách đó cần
thiết phải xây dựng đời sống văn hóa các cộng đồng dân cư
Xây dựng đời sống văn hóa là xây dựng cộng đồng dân cư có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, không ngừng nâng cao dân trí, tinh thần đoàn kết, hệ thống chính trị vững mạnh và giữ vững ổn định xã hội Huyện Văng Viêng là khu vực miền núi có nhiều thành phần tộc người, đời sống khó khăn, mức hưởng thụ văn hóa thấp và kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp, đặc biệt đối với cộng đồng người Hmông
Từ những lý do trên, sinh viên chọn đề tài “Cộng đồng người Hmông với việc xây dựng đời sống văn hóa ở huyện Văng Viêng - tỉnh Viêng Chăn” làm khóa luận tốt nghiệp
Trang 8Sinh viên mong muốn khảo sát thực trạng đời sống văn hóa của cộng đồng người Hmông ở huyện Văng Viêng (Lào) hiện nay Đồng thời, đóng góp ý kiến đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của cuộc vận động này ở địa phương
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước, là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Đặc biệt là tác giả Khăm Phởi Chăn Tha Xúc trong sách “Khái quát
nguồn gốc lịch sử của người Hmông ở Lào năm 2000, tác giả Tông
Zơ Tho trong sách “Xã hội truyền thống của người Hmông” năm
1998, Nhia Cơ Yang “Văn hóa của người Hmông ở Lào” năm 2003, tác giả Nắp Phu Mi Vông, “Luật tục cưới xin, ma chay của người
Hmông” năm 2001, tác giả Khăm Pheng, “Tín ngưỡng tôn giáo của các tộc người phía Bắc Lào” năm 2005 và Ngoài ra, còn có các nhà
nghiên cứu Việt Nam như: T.S Hoàng Xuân Lương, “Văn hóa người
Hmông ở Nghệ An” nhà (1998) PGS – PTS Hoàng Nam, “Văn hóa Hmông ở Việt Nam” (1996)… Nhiều sinh viên ngành Văn hóa Dân
tộc, trường Đại học quốc gia Lào đã nghiên cứu làm khóa luận tốt
nghiệp như “Xây dựng gia đình văn hóa người Hmông ở huyện Long
Xăn - tỉnh Viêng Chăn” của Khăm Mi Xông, “Xây dựng khu dân cư văn hóa ở huyện Ha Xíp Xỏng - tỉnh Viêng Chăn” của Công
Mua…Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về xây dựng đời sống văn hóa của cộng đồng người Hmông ở huyện Văng Viêng Cho
nên, sinh viên chọn đề tài “Cộng đồng người Hmông với việc xây
dựng đời sống văn hóa ở huyện Văng Viêng” nhằm nêu lên thực trạng
xây dựng đời sống văn hóa của cộng đồng dân cư Hmông hiện nay
Trang 93 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1) Nêu những khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa,
xã hội huyện Văng Viêng
2) Thực trạng việc xây dựng đời sống văn hóa của người Hmông ở huyện Văng Viêng hiện nay, những thuận lợi, khó khăn
3) Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng người Hmông ở huyện Văng Viêng
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là “Xây dựng đời sống văn hóa của cộng đồng người Hmông huyện Văng Viêng”
- Phạm vi nghiên cứu: Do điều kiện có hạn nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi “xây dựng đời sống văn hóa mới” với quy mô nhỏ hẹp của “cộng đồng người Hmông ở huyện Văng Viêng – tỉnh Viêng Chăn” từ năm 2005 đến nay
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để nhìn nhận, đánh giá thực trạng xây dựng đời sống văn hóa của cộng đồng người Hmông ở huyện Văng Viêng Đồng thời, người viết còn sử dụng một số phương pháp như:
- Phương pháp điền dã dân tộc học để quan sát, ghi chép, phỏng vấn, chụp ảnh để phục vụ cho việc tìm hiểu về việc xây dựng đời sống văn hóa của cộng đồng người Hmông
Trang 10- Phương pháp xã hội học theo hướng điều tra chọn mẫu Trong luận văn của mình, người viết đã tiến hành điều tra xã hội học về việc xây dựng đời sống văn hóa của cộng đông người Hmông bằng việc phát phiếu tham dò ý kiến thông qua các câu hỏi nhằm phỏng vấn một
số gia đình đang sinh sống trên địa bàn huyện Văng Viêng
- Phương pháp xử lý tài liệu: phân loại, miêu tả hệ thống, phân tích tổng hợp và phương pháp so sánh để phục vụ cho việc tìm hiểu vấn đề thực trạng của việc xây dựng đời sống văn hóa của đồng bào Hmông
6 BỐ CỤC
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về huyện Văng Viêng và cộng đồng người
Hmông ở huyện Văng Viêng – tỉnh Viêng Chăn
Chương 2: Thực trạng xây dựng đời sống văn hóa của cộng đồng
người Hmông ở huyện Văng Viêng - tỉnh Viêng Chăn hiện nay
Chương 3: Phương hướng giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng đời
sống văn hóa của cộng đồng người Hmông ở huyện Văng Viêng – tỉnh Viêng Chăn
Trang 11CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HUYỆN VĂNG VIÊNG VÀ CỘNG ĐỒNG
NGƯỜI HMÔNG Ở HUYỆN VĂNG VIÊNG
( TỈNH VIÊNG CHĂN )
1.1 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN VĂNG VIÊNG
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý: Văng Viêng là một huyện của tỉnh Viêng Chăn, cách
từ trung tâm tỉnh lên phía Bắc khoảng 85 km Trên bản đồ, huyện Văng Viêng nằm giữa tỉnh Viêng Chăn với tỉnh Xiêng Khoảng
- Địa hình: Huyện Văng Viêng rộng ra hai bên phía Đông và phía
Tây, hẹp vào phía Bắc và Nam, có nhiều đồi núi, khe suối phức tạp với độ dốc khoảng 500m đến 800m Các đồi núi lớn và cao chiếm diện tích khoảng 60% trên đất huyện Đất bằng phẳng, chủ yếu phân
bố phía Nam và phía Đông theo ven bờ các con sông lớn chiếm khoảng 40% trên địa bàn toàn huyện Do địa hình bị chia cắt mạnh nên gây khó khăn cho việc mở rộng và phát triển đường giao thông đi lại cho đồng bào, bất tiện công tác vận chuyển trao đổi hàng hóa và giao lưu văn hóa với nhân dân các huyện lân cận
- Đất đai: Nhìn chung, mảnh đất thuộc huyện Văng Viêng phần lớn
là đất rừng chiếm 80% trên diện tích, còn lại là đất sản xuất chưa khai thác Quá trình khảo sát, vùng đất huyện Văng Viêng gồm nhiều loại đất màu mỡ, phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp Thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp như: cây cao su, cây xăng dầu, cây giấy, cây gỗ quý giá và thích hợp trồng các loại cây ăn quả như cây xoài, cây mít, cây sữa và cây nhãn, canh tác trồng lúa nước, ngô,
Trang 12sắn, cây cam, bưởi, cây dừa, dưa và các loại rau, hoa màu… Tiểu vùng Văng Viêng với khí hậu nóng ẩm tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho nhân dân nông nghiệp trồng trọt và chăn nuôi tăng trưởng kinh
tế, xóa đói giảm nghèo
- Thủy văn: Tại huyện Văng Viêng có khá nhiều các sông ngòi và
suối nhỏ chảy dọc xuống từ các chân núi phía Bắc thông qua khu đất Văng Viêng sang phía Nam đổ vào sông Nằm Ngâm (sông mẹ) Các con sông lớn có sông Nằm Xong, Nằm Nga, Nằm Muôn, Nằm Khong, Nằm Khủm Các dòng sông này tương đối lớn, có chiều dài khoảng
50 km đến 100 km Đoạn chảy qua huyện Văng Viêng khoảng 30 đến
50 km Hệ thống sông lớn, rất thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi phục vụ cho người dân về điện và tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp để phát triển kinh tế Vào mùa mưa thì lưu lượng dòng chảy lớn, gây lũ lụt, thiệt hại hoa màu của người dân ảnh hưởng đến năng suất
- Khí hậu thời tiết: Huyện Văng Viêng là khu đất nằm trong vùng
khí hậu nóng và khô Trong đó, được chia thành 2 mùa rõ rệt:
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, là mùa sản xuất của nhân dân Khoảng cách này mưa nhiều, ít nắng với khí hậu nóng, nhiệt độ trung bình từ 240C đến 280C với lượng mưa trung bình khoảng 1400mm/1 năm Mưa nhiều chủ yếu tập trung vào tháng 6 đến tháng 9, giai đoạn này có thời gian có thể mưa 3 đến 4 ngày làm cho dòng chảy của hệ thống sông suối lớn lên gây thiệt hại lớn đến đời sống nhân dân, thường xuyên xảy ra tình trạng sạt lở đất, gây ách tắc giao thông, lụt cuốn nơi canh tác, cây hoa màu… làm cho người dân mất mùa, năng suất thấp, không đủ cơm ăn qua năm
Trang 13Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4, là mùa thu hoạch và nghỉ ngơi Giai đoạn này nắng nhiều và khí hậu nóng với nhiệt độ khoảng 260C đến 320C Tuy nhiên, mùa này nhiệt độ ban đêm chênh lệch với nhiệt độ ban ngày: Ban đêm xuống đến 180C, ban ngày lên tới 320C Huyện Văng Viêng là tiểu vùng có khí hậu nóng, ban ngày nắng gắt và có nhiều gió khô Bên cạnh một số nhược điểm về điều kiện khí hậu cũng có nhiều ưu điểm và phù hợp đời sống nông nghiệp trồng trọt, chăn nuôi của nhân dân
1.1.2 Lịch sử hình thành
Qua việc nghiên cứu các tư liệu và cung cấp thông tin của các
già làng cho thấy: Từ xưa nước Lào bao gồm có nhiều Mường nhỏ (tức là nhiều nước nhỏ, “Mường” nghĩa là một đất nước) và mỗi Mường đều có người vua quan cai trị Thời đó chưa gọi là Văng Viêng mà gọi là Mường Xong Đến năm 1353 Chao Pha Ngũm đứng lên tập hợp nước Lào, ông đánh từng Mường từ Nam lên Bắc Khi Chao Pha Ngũm lên đánh Mường Xoong và đã giết Pha Nha Phao (Pha Nha Phao là người vua cai trị vùng đất Mường Xong thời ấy) Sau khi Chao Pha Ngũm chiếm được Mường Xong rồi, ông đặt tên mới là “Văng Viêng” vào năm 1371 Từ đó nhân dân tiếp tục gọi là Văng Viêng cho đến ngày nay Theo tiếng Lào “ Văng” nghĩa là Cung Đình, còn “Viêng” nghĩa là văn minh Như vậy, Văng Viêng nghĩa là
“Trung tâm văn minh”
1.1.3 Dân cư và sự phân bố
Huyện Văng Viêng có tất cả là 64 làng, bình quân mỗi làng có
130 đến 160 hộ gia đình và mỗi hộ gia đình có khoảng 3 đến 6 người, tương đương với dân số là 51485 người Huyện chia thành 4 tiểu vùng lớn như: Na Muôn, Thà Hưa, Na Đuỗng và Phà Tẵng Thành phần dân
Trang 14cư bao gồm có 4 tộc người: Hmông, Dao, Khơmu và Lào với những nét văn hóa khác nhau
- Người Hmông chiếm 18% dân số (8878 người)
- Người Dao chiếm 07% dân số (3806 người)
- Người Khơmú chiếm 15% dân số (6187 người)
- Người Lào chiếm 60% dân số (32614 người)
Mỗi tộc người cư trú theo hai hình thức lớn như: cư trú ở làng riêng và các tộc người cư trú đan xen cùng làng
1.1.4 Kinh tế - xã hội
Văng Viêng là một huyện miền núi, kinh tế - xã hội còn ở mức
độ thấp kém, nhân dân chủ yếu sống bằng kinh tế nông nghiệp với tính chất tự cấp tự túc Do đời sống kinh tế còn khó khăn nên phần lớn mỗi gia đình chỉ lo công việc sản xuất nhằm đảm bảo đời sống ăn, mặc, trong hàng ngày, ít quan tâm đến văn hóa Số người lao động làm việc còn chiếm tỷ lệ thấp, các dịch vụ thương mại còn hạn chế Dựa theo kết quả điều tra mức sống, dân cư huyện Văng Viêng năm
2008, tất cả 64 làng có 10240 hộ gia đình Trong đó 1826 hộ thuộc vào gia đình giàu, 5754 hộ thuộc gia đình khá và 2660 hộ thuộc gia đình nghèo Nguyên nhân do các tộc người phần đông sống không định canh, định cư chưa có kế hoạch hóa gia đình nền kinh tế gia đình chưa đáp ứng được nhu cầu của đời sống Đồng thời, trình độ dân trí, khoa học kỹ thuật chăn nuôi, sản xuất thấp kém, cư trú khoảng cách
xa với trung tâm huyện
Nhiều năm gần đây công tác giáo dục được Đảng và Nhà nước quan tâm và phát triển trên các lĩnh vực cộng đồng dân cư Mỗi làng đều được xây một trường học cấp I, mỗi tiểu vùng có một trường học phổ thông đến cấp III Toàn huyện có 5 trường học phổ thông cấp III,
Trang 15một trường học cho trẻ em mồ côi, hai trường học mầm non, một trường học Trung cấp Dược và một trường học học tiếng nước ngoài Nhìn chung, các trường học cũng được mở rộng, con em đủ tuổi đều được đến trường học Tuy nhiên, bình quân trình độ dân trí trong mỗi làng vẫn còn thấp, trên 100 người chỉ có 4 đến 5 người trình độ Cao đẳng và Đại học Thậm chí số người mù chữ chiếm tỷ lệ khá lớn, nhất
là người dân tộc thiểu số
Song với công tác giáo dục, từng làng thôn đều có 1 đến 2 trạm
y tế có đủ các hình thức khám, tiêm, truyền nước và các loại thuốc uống Cả huyện có 1 bệnh viện lớn ( có bác sĩ, y tá), 2 bệnh viện quân đội 180 giường, phục vụ và chăm sóc chi nhân dân
Về hệ thống cơ cấu hạ tầng kinh tế- xã hội ở huyện Văng Viêng vẫn còn chậm phát triển, nhân dân thiếu việc làm Bình quân những gia đình làm việc Nhà nước ổn định chiếm 20%, buôn bán thương mại chiếm 30% và còn lại 50% người dân là sống bằng kinh tế nông nghiệp trồng trọt và chăn nuôi là chủ yếu
1.1.5 Lĩnh vực văn hóa
Các thành phần tộc người phần lớn sống định canh định cư, xây dựng nhà cửa bền vững và mỗi thành phần dân tộc thiểu số mang những nét bản sắc văn hóa riêng Thực hiện Nghị quyết của Đảng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, các tộc người ở huyện Văng Viêng đã duy trì và phát huy nền văn hóa truyền thống tốt đẹp, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu Các tập tục như ma chay, kiêng kị trong các nghi lễ, mê tín dị đoan thầy cúng, thầy
mo…được xóa bỏ dần
Tín ngưỡng tôn giáo ở huyện Văng Viêng, người dân phần lớn tín ngưỡng Phật giáo (người Lào), ngoài ra như người Hmông, người
Trang 16Dao và người Khơmú là tín ngưỡng tôn giáo đa thần, cúng thờ các thần sông thần núi và thờ ma bố, ma mẹ
Nhờ phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, đất nước công nghiệp hóa hiện đại hóa làm cho đời sống nhân nhân có nhiều biến đổi, các tộc người có sự giao thoa ảnh hưởng văn hóa qua lại lẫn nhau
Kiến trúc truyền thống ở huyện Văng Viêng được xây ba hình thức khác nhau: Nhà sàn cao của người Lào, nhà sàn thấp của người Khơmú và nhà đất của người Hmông – Dao Nhưng đến nay nền kiến trúc trên đã bị giao thoa ảnh hưởng lẫn nhau, từ nhà đất của người Hmông biến đổi ở nhà sàn giống người Lào và người Lào cũng biến đổi sang ở nhà đất
Trang phục là một trong những đặc điểm tạo nên nét riêng của mỗi tộc người Ở Văng Viêng mỗi tộc người có bộ trang phục truyền thống khác nhau như: Người Lào, nam với nữ đều may chiếc áo cổ tròn, nhuộm màu chàm, ở ngực may dây buộc không cài cúc, thân áo dài qua eo và có xẻ chân áo, thường may tay áo ngắn và có hai túi áo
ở đằng trước – nam có chiếc quần kẻ màu đen trắng, ống rộng và chân quần ngắn đến đầu gối Phụ nữ mặc váy, có thêu hoa văn ở chân váy, váy nhuộm đủ các loại màu và trên eo váy có may một nơi buộc mắc Người Khơmú nam và nữ đều có chiếc áo không tay mang tính chất khỏe khoắn, nhuộm màu đỏ, hồng, nâu Đàn ông mặc chiếc quần ngố, nhuộm màu chàm và màu đen Đàn bà mặc váy dài qua đầu gối, nhuộm màu kẻ ngang đen hồng, chiếc váy thường xẻ chân Người Hmông, đàn ông mặc chiếc quần ống rộng, nhuộm màu đen, khi mặc thường dùng thắt lưng màu đỏ hồng buộc giữ với chiếc áo không cổ Chiếc áo nhuộm màu đen, không cài cúc, tay áo dài, cổ tay áo nhuộm màu khác và chân áo xẻ Phụ nữ Hmông có chiếc váy xòe, nhuộm đủ
Trang 17các loại màu Cùng đó, phụ nữ Hmông trắng cũng mặc quần như nam giới, khi mặc thường dùng hai thắt lưng xanh, đỏ buộc Họ buộc một bên ở đằng trước và một bên ở đằng sau để giữ quần Chiếc áo phụ nữ Hmông không cổ, không cài cúc, xếp chồng vào váy, chiếc váy có thêu và in hoa văn đủ các loại màu
Tuy nhiên, về trang phục, đã có sự thay đổi, chịu ảnh hưởng văn hóa lẫn nhau, nhất là văn hóa Lào Hiện nay, các thành phần tộc người thường mua quần áo ở chợ về mặc và họ mặc phổ biến trang phục của người Lào và Âu phục Còn trang phục dân tộc chỉ mặc trong những ngày lễ tết, lễ hội hoặc khi cần thiết
Ẩm thực là những đặc trưng văn hóa không thể tách rời với con người Ẩm thực là “bản sắc văn hóa độc đáo của mỗi tộc người, mỗi vùng” Về văn hóa ẩm thực ở Văng Viêng bao gồm các đặc sản như: lạp cuỗi, cá chua của người Lào, có đặc sản “thắng cố, nấm hấp với lá gừng” của người Hmông, “thịt sóc hấp, măng nhừ hấp” của người Khơmú
Nhìn chung, hiện nay các cộng đồng người có nhiều biến đổi
về phong cách ăn uống và chế biến thức ăn Nó vừa mang tính tộc người, vừa mang tính cộng đồng
Tóm lại: Qua khảo sát thực trạng kinh tế – Văn hóa – Xã hội ở
huyện Văng Viêng bên cạnh những mặt tích cực còn có nhiều tiêu cực cần phải khắc phục, nhất là công tác giáo dục ở cơ sở nhằm thúc đẩy công tác xây dựng đời sống văn hóa huyện ở Văng Viêng Nâng cao dân trí, xóa bỏ nạn mù chữ, nhân dân có nếp sống văn minh – đời
sống văn hóa, đáp ứng nhu cầu tinh thần lành mạnh
Trang 181.2 KHÁI QUÁT VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HMÔNG Ở
HUYỆN VĂNG VIÊNG
1.2.1 Nguồn gốc lịch sử
Hmông nghĩa là “người”, người Hmông tự viết tên mình là
“Hmoob” và muốn gọi dân tộc mình là “Hmông” Tại hội nghị cốt cán người Hmông năm 1978 do Ủy ban dân tộc của Chính phủ chủ trì đã thống nhất gọi là “Hmông” và riêng người Hmông vui nhận tên gọi
đó Nguồn gốc lịch sử của người Hmông là một quá trình phức tạp, gắn liền việc du canh du cư với các cuộc thiên di lớn xuyên quốc gia Theo tài liệu lịch sử ghi chép: Người Hmông có nguồn gốc từ Trung Quốc Do quá trình đấu tranh chống các thế lực phong kiến, thực dân giành sự tồn tại đó bị thất bại và không chịu làm nô lệ bị áp bức đè nén, từ đó, họ di cư vào Việt Nam và sang Lào Đến năm 1960, nhiều người Hmông tại Lào được Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ, đã chỉ định Vàng Pao là một tướng lĩnh lãnh đạo Một phần người Hmông ở tỉnh Xiêng Khoảng được Đảng và Nhà nước chỉ đạo di chuyển vào nơi an toàn Từ đó, họ đã đến ở Văng Viêng vào năm 1974 Sau đất nước giải phóng 1975 đến nay đã có nhiều người Hmông tới định cư thêm
Văng Viêng là một trong các tiểu vùng miền núi có nhiều tài nguyên thiên phong phú, điều kiện tự nhiên phù hợp và thuận lợi cho việc khai thác sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế của cộng đồng người Hmông Đồng thời, người Hmông muốn thay đổi lối sống miền núi, đưa con cái xuống ở gần trường học, bệnh viện, đường giao thông lớn và nơi phát triển kinh tế để con cái có một cuộc sống văn minh, có
sự nghiệp ổn định, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của cộng đồng mình để bảo vệ, xây dựng đất nước
Trang 191.2.2 Kinh tế - Xã hội truyền thống
Người Hmông là một cộng đồng cư trú trên các sườn núi cao, đời sống khó khăn về vật chất lẫn tinh thần, cuộc sống gắn liền với kinh tế nương rẫy và chăn nuôi gia súc, gia cầm là chủ yếu Trước đây ở Văng Viêng rừng già còn nhiều, đất đai màu mỡ nên canh tác sản xuất cũng thu được kết quả cao nhưng đến nay rừng đã bị cạn kiệt dần, đời sống ngày càng phức tạp, thậm chí có nhiều hộ gia đình không đủ cơm ăn qua năm Vì thế, cộng đồng người Hmông dần chuyển xuống vùng đồng bằng để thay cơ cấu làm ăn Đến năm 2000 đã có 70% hộ gia đình người Hmông có đất ruộng sản xuất lúa nước ổn định và có thể trồng lúa nước và các lương thực rau, hoa quả quanh năm Hiện nay, cộng đồng người đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, hỗ trợ xây dựng đường giao thông, điện lưới, trường học, trạm y tế và thậm chí ở một số vùng có cả công trình nước máy Chính vì thế, đời sống của bà con người Hmông Văng Viêng được ổn định về xã hội và văn hóa Xóa dần những hủ tục lạc hậu mê tín dị đoan của thầy cúng, thầy
mo, ma chay, kiêng kị và hủ tục lãng phí…
Xã hội của cộng đồng người Hmông ở Văng Viêng từ lâu là một xã hội khép kín, lạc hậu, có hình thức cư trú không định cư và sinh sống không tập trung Người Hmông rất coi trọng quan hệ dòng
họ và phong tục tập quán Theo người Hmông dù ở bất cứ đâu nếu cùng dòng họ thì là anh em, có thể sinh đẻ, chết trong nhà nhau song cấm tuyệt đối không cưới nhau vì từ xưa những người cùng dòng họ
là cùng một tổ sinh ra Gia đình người Hmông là gia đình phụ hệ, bao gồm ba thế hệ như ông bà, cha mẹ và con cái Đàn ông chủ động cưới người con gái, người vợ ở bên nhà chồng và con cái theo họ người cha
Trang 20Cộng đồng người Hmông ở Văng Viêng bao gồm 12 dòng họ với những phong tục tập quán thờ cúng tổ tiên khác nhau Mỗi một dòng họ có một người trưởng họ riêng, trưởng họ thường là người am hiểu về các phong tục tập quán, lễ nghi tín ngưỡng của tộc người Đồng thời, trưởng họ là người có kinh tế khá, thương quý người dân
và được người dân tôn trọng Tiếng nói của người trưởng họ rất quan trọng Mỗi làng đều có một người đứng đầu, gọi là trưởng làng Trưởng làng là do bà con trong làng tín nhiệm và bầu ra để hòa giải những mâu thuẫn trong nội bộ và phổ biến đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Nên thiết chế của cộng đồng Hmông là rất quan trọng
1.2.3 Những đặc trưng văn hóa tiêu biểu
Cộng đồng người Hmông ở huyện Văng Viêng có những điểm nổi bật về văn hóa vât chất và văn hóa tinh thần:
- Nhà cửa: Cộng đồng người Hmông ở Văng Viêng có ngôi nhà
truyền thống, kiến trúc độc đáo khác với nhà của nhiều tộc người, đó là: Nhà đất, kiến trúc ngôi nhà xây có 3 gian, hiên và gian phụ, xây mái nhà dài và dốc Ngôi nhà truyền thống của người Hmông mang tính chất khép kín, không có cửa sổ mà chỉ có hai cửa ra vào, đó là cửa chính và cửa phụ Họ không chỉ xây ngôi nhà là nơi che nắng, che mưa và cư ngụ mà còn ảnh hưởng lớn đến đời sống của mỗi thành viên trong gia đình, vì nó mang lại nhiều tập tục, lễ nghi và chứa nhiều kiêng kị gắn với ngôi nhà mà hầu như ở nhiều tộc người khác không có Vì thế mà nhà đất chính là đặc trưng kiến trúc truyền thống của cộng đồng người Hmông ở Văng Viêng
- Ẩm thực: Các loại đặc sản thắng cố và nấm cây hấp với lá gừng là
đặc trưng ẩm thực của người Hmông ở Văng Viêng từ trước đến nay
Trang 21Bà con người Hmông chế biến các món đó rất phù hợp với môi trường vùng cao và cuộc sống miền núi Các món ăn truyền thống của cộng đồng người Hmông thường đơn giản, không cầu kỳ, tinh xảo Bữa ăn chỉ bao gồm có cơm, thịt, rau và canh Người Hmông trước đây và nay quen thuộc nước canh bí đỏ luộc và nước canh rau xanh (tiêng Hmông gọi tên là “Zau ia”) Đồng thời, người Hmông là một trong các thành viên có kỹ thuật bảo quản thức ăn để được sử dụng lâu ngày như là thịt hun khói, sấy măng khô, thịt khô, thịt rán mỡ và bảo quản tương Những đó là ẩm thực truyền thống của cộng đồng người Hmông ở Văng Viêng
- Trang phục: Trang phục là một trong những đặc điểm tạo nên nét
riêng biệt của mỗi tộc người Người Hmông có những bộ trang phục truyền thống khá rực rỡ Trang phục người Hmông, đặc biệt là trang phục của người phụ nữ là một trong những trang phục, vừa đẹp, vừa độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, làm tăng thêm chất thẩm
mỹ vốn đa dạng phong phú trong nền y phục cổ truyền của đồng bào Hmông ở huyện Văng Viêng Nhìn chung trang phục của họ khá phù
hợp với điều kiện tự nhiên và trong sinh hoạt thường ngày
- Tiếng nói: Người Hmông cũng như tộc người khác, có tiếng nói
riêng mình Tiếng Hmông nói không giống như nhiều tộc người khác, khi phát âm không ra chữ M và P ở cuối lời mà phát âm ra nhiều âm gió như chữ S, X, Z ở cuối lời Khi nói ra người khác có thể nhận biết
là người Hmông, đó chính là điểm nổi bật và tự hào của người Hmông Người Hmông không có chữ viết, nhưng vào những năm
1960 Nhà nước đã sáng lập ra chữ viết Latin cho người Hmông Đến
nay người Hmông sử dụng chữ viết Latin để giao tiếp rất phổ biến
Trang 22- Hội truyền thống: Bà con người Hmông ở Văng Viêng có lễ hội
truyền thống khá đặc sắc, đó là hội “Nào Pê Chao” được dịch là ăn 30, tức là ăn tết Cứ năm mới đến cộng đồng Hmông ở Văng Viêng tổ chức ăn tết vào ngày 30 tháng 12 của mỗi năm Hội này, thể hiện rõ nét bản sắc văn hóa độc đáo của cộng đồng Hmông, họ đã lưu giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác Hội “Nào Pê Chao” của người Hmông vừa thể hiện kết quả thu hoạch qua một năm vừa là những ngày cho các tràng trai, cô gái Hmông đến gặp gỡ tìm hiểu nhau, chọn làm bạn, lấy làm vợ, làm chồng Đồng thời, cũng là những ngày họ nghỉ ngơi vui chơi, mời ăn uống, nhảy múa, biểu diễn văn hóa văn nghệ, thi đua thể thao và thi đua các trò chơi dân gian Hội này, đóng vai trò quan trọng, là các sinh hoạt, lưu giữ các bản sắc văn hóa để đảm bảo đời sống tinh thần người Hmông lành mạnh, thỏa mãn giải trí sau một năm lao động mệt nhọc
Trang 23cơ sở vật chất để thỏa mãn nhu cầu, môi trường và sở thích sáng tạo của con người
Xây dựng đời sống văn hóa không phải là cái gì cũng phải mới, cái gì cũ bỏ đi hết Xây dưng đời sống văn hóa mới là cái gì cũ nhưng tốt thì phát huy triển thêm, cái gì mới mà hay thì ta phải làm, phải tiếp thu và cái gì cũ mà xấu thì chúng ta bỏ đi và cái gì cũ nhưng lại có phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý Thí dụ: cưới xin, lễ tang,
mê tín dị đoan…
Xây dựng đời sống văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, phức tạp
để từng bước nâng cao đời sống của người dân về mức hưởng thụ về kinh tế, văn hóa, xã hội đáp ứng sự đổi mới đất nước giai đoạn hiện nay Ví dụ, đời sống văn hóa là: Ăn ở sạch sẽ, gọn gàng, lối sống lành mạnh hợp với thời đại, đi lại bằng phương tiện như xe máy, ô tô, theo nhu cầu tinh thần của con người Con người ngày càng tiến
bộ thì nhu cầu của con người càng lên cao
Trang 24Vậy, mục đích, nội dung xây dựng đời sống văn hóa là giúp cho cộng đồng người Hmông ở huyện Văng Viêng có những hiểu biết mới, đạo đức mới, lối sống mới Xây dựng cho cộng đồng người Hmông ở huyện Văng Viêng có một cuộc sống đầy đủ về vật chất, phong phú về tinh thần hội nhập với xã hội văn minh, tiến kịp với sự
phát triển của xã hội
2.1 THỰC TRẠNG VÀ THÀNH TỰU VỀ CHÍNH TRỊ, KINH TẾ,
XÃ HỘI CỦA HUYỆN VĂNG VIÊNG
2.1.1 Kinh tế nông nghiệp
Đồng bào Hmông phần đông có đất ruộng trồng lúa nước, ngô, mía, rau và hoa quả để nuôi sống và bán ra thu nhập kinh tế Tính trung bình một năm mức thu nhập kinh tế trồng trọt của mỗi gia đình người Hmông từ 200 đến 300 $ (Dollar Mỹ), tương đương với 2 đến 3 triệu Kịp tiền Lào/ 1 năm Nhìn chung mức thu nhập kinh tế trồng trọt còn rất thấp, do đồng bào Hmông chưa có trình độ khoa học kỹ thuật cao, không có cây giống tốt phát triển tốt phù hợp với khí hậu của vùng, nên thu được năng suất thấp Cùng với vấn đề đó cũng là do người Hmông chưa nắm được điều kiện khí hậu, đất đai của vùng và tình hình nhu cầu của xã hội Làm cho đời sống người Hmông còn gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế
Về chăn nuôi, nghề chăn nuôi của cộng đồng Hmông ở Văng
Viêng khá phát triển và là mặt thu nhập kinh tế cao nhất Cũng như các tộc người khác, người Hmông nuôi các loại vật gia súc, gia cầm như: Trâu, bò, lợn, dê, gà, vịt và cá để phục vụ gia đình và tăng thêm thu nhập Mỗi gia đình người Hmông gồm có 8 đến 15 con (Trâu, bò),
6 đến 8 con (lợn, dê), 20 đến 30 con (gà, vịt) và bình quân trên 10 đến
12 gia đình / 1 ao cá Tính trong một năm thu nhập kinh tế của mỗi gia
Trang 25đình từ 400$ đến 600 $, cao hơn mức thu nhập kinh tế trồng trọt Tóm lại, về chăn nuôi ở huyện Văng Viêng cũng khá phát triển, nhờ sự thuận lợi của điều kiện tự nhiên như: bãi chăn thả rộng rãi, cây cỏ tươi quanh năm, khí hậu ấm áp…là điều kiện tốt cho vật nuôi phát triển Đại hội lần thứ IV của Ủy ban nhân dân huyện huyện Văng Viêng về định hướng phát triển kinh tế từ năm 2006 đến năm 2010, đến nay đã đạt một số kết quả đáng phấn khởi, nền kinh tế thu nhập của nhân dân toàn huyện từng bước tiến bộ Bình quân đầu người GDP= 600$ (Dollar Mỹ)= 4.8 triệu Kịp (tiền Lào) Với chiến lược dự đoán phát triển kinh tế của huyện vào thời gian sắp tới năm 2009 – 2010 sẽ cố gắng nỗ lực nhằm cải thiện cho GDP lên đến 630$ (Dollar Mỹ)/1 năm
Biểu 1: So sánh kinh tế trong năm
Năm 2007-2008 Năm 2008-2009 Năm 2009-2010 Nông nghiệp Chiếm 55,8% Chiếm 49,24% Giảm xuống 5% Giảm 7,1% Công nghiệp Chiếm 29,3% Chiếm 29,66% Tăng lên 1,03% Tăng lên 1,57% Thương mại
và dịch vụ
Chiếm 14,8% Chiếm 21,09% Tăng lên 6,29% Tăng lên 6,54%
2.1.2 Chính trị
Thực trạng chính trị cộng đồng người Hmông ở huyện Văng
Viêng có nhận thức được đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số người Hmông thường xuyên du canh du cư, mê tín dị đoan và di cư sang bên Thái Lan Vì thế, các tệ nạn đó cần được giải quyết kịp thời và sự giáo dục sâu sắc của Đảng và Nhà nước, nhất là về lĩnh vực tư tưởng chính trị đối với
Trang 26một số người Hmông chưa nhận thức rõ và chưa ổn định về tư tưởng chính trị
2.1.3 Đường giao thông, điện lưới
- Hiện nay đường giao thông toàn huyện cũng được mở rộng đến các làng Hmông, thuận lợi cho việc vận chuyển đi lại và giao lưu cộng đồng Nhưng đường giao thông chưa được hoàn chỉnh và đạt tiêu chuẩn gây khó khăn cho người dân trong việc đi lại, nhất là vào mùa mưa
- Điện lưới là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết trong đời sống xã hội Từ năm 1996 đến nay, trên các làng người Hmông được kéo dây điện vào và hiện nay được sử dựng điện quốc gia 100% Vậy, điện lưới đến với đồng bào Hmông không những giúp cho đồng bào
có điều kiện phát triển về mọi mặt được thuận lợi mà còn tạo điều kiện cho cộng đồng Hmông hội nhập với sự phát triển của xã hội
2.1.4 Nước dùng, an toàn vệ sinh
- Qua thực trạng khảo sát, cả huyện gồm 12 làng người Hmông thì 5 làng như: Làng Phôn Kẹo, Na Muôn Nừa, Na Ngân Tay, Na Lao
và làng Na Ngân Nừa được cấp trên hỗ trợ xây công trình nước máy Còn lại 7 làng chưa có công trình nước máy, người dân vẫn còn sử dụng nước ngầm, mỗi gia đình cần phải đào nước ngầm và nối từ các nguồn suối nhỏ về dùng Nhìn chung, người Hmông phần lớn còn găp khó khăn về nước sinh hoạt, thiếu nước trầm trọng, nhất là vào mùa khô vì giai đoạn này các nguồn nước, nguồn suối bị cạn Chính vì thế, công trình nước ở vùng đồng bào còn hạn chế, cần được sự quan tâm
hỗ trợ giúp đỡ của cấp, các nghành để khắc phục những khó khăn đó
- Về thực trạng giữ gìn vệ sinh, giữ gìn môi trường cũng đã được chú trọng, nhiều gia đình sinh hoạt hợp vệ sinh, giữ gìn vệ sinh
Trang 27tốt như: xây nhà vệ sinh, đào hố đổ rác cố định giữ gìn môi trường, phòng bệnh tật Nhưng, bên cạnh đó vẫn còn một số người đổ rác, thả vật nuôi bừa bãi và ý thức sinh hoạt còn kém như: ăn uống, ngủ, ở, mặc còn lạc hậu,chưa gọn gàng sạch sẽ, nơi cư trú chưa hợp vệ sinh
2.1.5 Thương mại, dịch vụ
Qua khảo sát thực tế, các ngành dịch vụ du lịch, thương mại vẫn còn hạn chế nên mức hưởng thụ kinh tế của người dân còn thấp kém, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn Hiện nay, một số người Hmông ở Văng Viêng cũng mở các cửa hàng mua bán - dịch vụ phát triển kinh tế nhưng về nghề thương mại – dịch vụ chưa chiếm vị trí lớn trong việc thúc đẩy kinh tế – xã hội của bà con người Hmông
2.1.6 Giáo dục, ý tế
- Công tác giáo dục được coi là mặt quan trọng nhất trong việc thúc đẩy kinh tế – xã hội của cộng đồng người Hmông ở huyện Văng Viêng Mỗi làng Hmông đều gồm có một trường học cấp I, con em người Hmông đủ tuổi đều được đến trường học Mỗi tiểu vùng có một trường trung học đến cấp III, gồm 1500 đến 1700 học sinh, trong đó
300 đến 400 là học sinh người Hmông Toàn huyện có một trường học cho trẻ em mồ côi 552 học sinh, trong đó 51 học sinh là người Hmông, nữ có 13 người và hai trường học mầm non gồm 830 trẻ em, trong đó 20 trẻ em là người Hmông, một trường học trung cấp dược gồm 712 sinh viên, trong đó 82 sinh viên là người Hmông Nhìn chung, về công tác giáo dục đã được mở rộng, thuận lợi việc học hành cho con em dân tộc được tốt hơn, phong phú hơn Đồng thời, vấn đề
mù chữ cũng được xóa dần dần
- Y tế là một trong các mặt quan trọng trong đời sống xã hội
Ngành y tế ở vùng đồng bào Hmông huyện Văng Viêng đã được Đảng
Trang 28và Nhà quan tâm và phát triển đi đôi với ngành giáo dục nhằm xây dựng đời sống nhân dân lành mạnh, mỗi làng đều có 1 đến 2 trạm y tế trực thuộc, đủ các hình thức khám, bán thuốc, tiêm và truyền nước nhằm phục vụ sức khỏe nhân dân trong làng
2.1.7 An ninh quốc phòng
Về an ninh quốc phòng đóng vai trò quan trọng trong xã hội nhằm bảo vệ, giữ gìn quê hương đất nước Thực trạng an ninh ở làng người Hmông đều có tổ chức đội ngũ an ninh nhằm bảo vệ và giữ gìn danh giới của mỗi làng riêng, chống các tệ nạn xã hội như: trộm cắp, tranh chấp, nghiện nghập… Đồng thời, hiện nay cả 64 làng toàn huyện đều tổ chức ra mỗi làng một đội tòa án làng, từ 5 đến 9 người nhằm giải quyết những vấn đề nội bộ trong làng trước khi dẫn đến toàn án huyện Tuy nhiên, mặt này vẫn còn một số hạn chế chưa giữ vững ổn định, do công tác điều tra thiếu chặt chẽ Đối với đội tòa án làng chưa được phổ biến, đào tạo cơ bản về pháp luật để phục vụ an ninh trật tự trong làng Hơn nữa, đội tòa án làng chưa được tòa án huyện giao quyền và giải quyết tuyệt đối mà đội tòa án làng chỉ làm việc mang tính hòa giải
2.2 XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN HÓA
2.2.1 Tổ chức đám cưới
Về việc tổ chức đám cưới của đồng bào Hmông ở Văng Viêng
đã có nhiều thay đổi cả về vật chất và tinh thần được biểu hiện như: các nghi thức cúng lễ được rút ngắn, đơn giản và ít kiêng kị Hôn nhân
tự nguyện và được pháp luật công nhận bằng giấy đăng ký kết hôn tại chính quyền địa phương, hiện tượng kéo vợ đã được xóa bỏ Khi tổ chức cưới, cô dâu mặc váy cưới, chú rể mặc quần áo Com lê và vấn đề
cư trú sau hôn nhân là do vợ chồng trẻ quyết định Nhưng lễ cưới bây
Trang 29giờ lại tổ chức to, có giấy mời, chi tiêu lớn, thiếu gọn nhẹ và ăn uống linh đình kéo dài ngày đêm mang tính lãng phí khác với lễ cưới truyền thống ngày xưa Về việc tổ chức đám cưới người Hmông đang là một
tệ nạn ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống Do đó, cần được sự giải quyết của Đảng và Nhà nước cùng với sự quản lý chặt chẽ hơn của chính quyền địa phương để các phong tục, tập quán của người Hmông vừa mang tính hiện đại, vừa mang bản sắc dân tộc
2.2.2 Lễ tang
Việc tang là một hành động mang ý nghĩa vừa là nghĩa vụ vừa
là lòng hiếu thảo của con cháu dành cho bố mẹ, ông bà Trước đất nước ta đổi mới, ở vùng người Hmông khi có một người ngừng hơi thở, người ta tiến hành các nghi lễ khác nhau từ đầu đến cuối, có trưởng họ, thầy cúng chỉ đạo Các nghi lễ mang tính chất phức tạp, cầu kỳ và kéo dài, đồng thời còn mang tính chất lãng phí như: mổ nhiều trâu, bò, lợn, gà Nhưng hiện nay họ đã dần dần xóa bỏ những nghi lễ cầu kỳ, lạc hậu đó làm đơn giản hơn, mang tính chất hình thức, hạn chế sự lãng phí thực hiện theo quy chế nếp sống mới
Tuy nhiên, ở một số làng vẫn còn tình trạng thi hài người chết
để lâu ngày trong nhà, gây ô nhiễm môi trường
2.2.3 Tín ngưỡng tôn giáo
Đời sống tâm linh của cộng đồng Hmông ở Văng Viêng thể hiện qua các tín ngưỡng tôn giáo mang tính dân gian Đồng bào Hmông theo tín ngưỡng đa thần Cúng bái các thần sông, thần núi, thần đá…và thờ ma bố mẹ, ma nhà Tôn giáo đa thần là tín ngưỡng truyền thống của người Hmông được in ấn trong lịch sử cho đến nay, chỉ mang tính chất cầu mùa, cầu giúp con cái đầy nhà khỏe mạnh và
tỏ lòng biết ơn của, ông bà, cha mẹ đối với các thần và tổ tiên
Trang 30Nhìn chung, về mặt tín ngưỡng tôn giáo, người Hmông ở Văng Viêng vẫn coi trọng vào sự che chở của ma Chỉ thay đổi về một số nghi lễ cầu kỳ, phức tạp chứ về hình thức cơ cấu trong tín ngưỡng họ vẫn giữ nguyên
2.2.4 Ăn uống
Cộng đồng Hmông ở Văng Viêng có những món ăn đặc sản: thắng cố, nấm tai mèo với lá gừng hấp dưới lò than bằng lá gừng vàng với cách chế biến đặc biệt khá hấp dẫn mang đậm nét bản sắc văn hóa độc đáo Đến nay, người Hmông ở Văng Viêng ít khi chế biến các loại món ăn truyền thống của mình, chủ yếu họ thường ăn phổ biến các món ăn của người Lào và món ăn của các tộc người khác Bởi vậy mà, trong thời kỳ đổi mới đất nước, cộng đồng người Hmông ở huyện Văng Viêng đã có nhiều thay đổi trong cách ăn uống
2.2.5 Xây dựng quan hệ ứng xử văn hóa
Tộc người Hmông ở Văng Viêng chiếm dân số khá đông, ứng
xử văn hóa luôn luôn xây dựng và củng cố vững chắc mối quan hệ đoàn kết giữa từng cá nhân với nhau Nhưng do sự mở cửa giao lưu quốc tế, một số thành viên trong gia đình ít khi chú trọng đến nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình như: trong quan hệ vợ chồng đối xử bất bình đẳng, anh em thiếu tôn trọng nhau… Cho nên, quan hệ ứng xử văn hóa của cộng đồng người Hmông còn thấp kém,
cần phải xem xét khắc phục để xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh 2.2.6 Xây dựng gia đình văn hóa
Trong mấy năm qua ( từ năm 2005) công tác xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa nhằm góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở cơ
sở, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước phối hợp với mặt trận Tổ quốc xây dựng phong trào gia đình văn hóa Trong đó, bà con người
Trang 31Hmông ở huyện Văng Viêng đã hưởng ứng phong trào xây dựng gia đình văn hóa và đã đạt được một số kết quả khả quan Mỗi làng người Hmông có từ 20 đến 25 hộ đạt gia đình văn hóa Tuy nhiên, vẫn còn nhiều gia đình chưa đạt được, do trình độ nhận thức về việc xây dựng gia đình văn hóa người Hmông còn thấp, do điều kiện kinh tế khó khăn, một số cấp ủy, chính quyền đã quan tâm đến vấn đề này nhưng mới chỉ dừng lại ở mức phổ biến, chưa thực sự quan tâm, chỉ đạo sâu sắc để cuộc vận động này thật sự đi vào cuộc sống của người dân
2.2.7 Xây dựng làng văn hóa
Phong trào xây dựng làng văn hóa luôn luôn đi song song với phong trào xây dựng gia đình văn hóa Đây là nội dung quan trọng, là trọng tâm của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới” Cả huyện Văng Viêng gồm 64 làng, có 13 làng đạt danh hiệu làng Văn hóa Trong đó có 3 làng văn hóa là làng người Hmông Như vậy, việc xây dựng làng văn hóa cộng đồng người Hmông ở huyện Văng Viêng đã có bước thực hiện nhưng còn ở mức thấp, cần được sự quan tâm hơn nữa của các cấp, các ngành, các cơ quan Nhà nước để cuộc vận động xây dựng làng văn hóa hiệu quả hơn, thiết thực hơn
2.3 XÂY DỰNG THIẾT CHẾ VĂN HÓA
2.3.1 Nhà văn hóa
Việc xây dựng nhà văn hóa có tác dụng rất lớn trong việc xây
dựng làng văn hóa Mỗi làng người Hmông ở Văng Viêng đều có nhà
một nhà văn hóa là nơi sinh hoạt, phát động công việc của chính quyền địa phương nhưng nhà văn hóa chưa thực sự là nơi hoạt động vui chơi giải trí cho người dân đến xem Ti Vi, đọc sách báo, xem tranh ảnh để tiếp cận thông tin Nhà văn hóa chưa có đủ các trang thiết bị
Trang 32loa đài, Ti Vi, máy tính, bóng chiếu, trang trí hình ảnh và chưa tổ chức
ra các câu lạc bộ cho người dân tham gia Do đó, nhà văn hóa vẫn còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng nhu cầu của người dân trong việc xây dựng đời sống văn hóa
2.3.2 Câu lạc bộ
Thực trạng khảo sát, nhà văn hóa làng cộng đồng Hmông ở Văng Viêng chưa thành lập được các câu lạc bộ, đặc biệt là các nhóm văn học, nghệ thuật, thi đua sản xuất, thi đua xây dựng gia đình văn hóa, câu lạc bộ sức khỏe sinh sản vị thành niên… mà chỉ có vài câu lạc bộ của những người ham thích các môn thể thao và văn nghệ Vì thế mà, cuộc vận động xây dựng các câu lạc bộ của cộng đồng người Hmông ở huyện Văng Viêng chưa thể bồi dưỡng, đáp ứng nhu cầu tinh thần văn minh của người dân, các cấp ủy Đảng, chính quyền cần phải đẩy mạnh mở rộng thêm các câu lạc bộ và chú trọng động viên
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
2.3.3 Xây dựng đội văn nghệ
Nhiều năm gần đây hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao và du lịch vui chơi giải trí của cộng đồng người Hmông được phát triển khá rộng rãi Mỗi làng đều thành lập một đến hai đội văn nghệ biểu diễn, hát, múa tham gia tích cực các hoạt động liên hoan, giao lưu văn hóa văn nghệ nhằm vui chơi giải trí, nâng cao tinh thần lành mạnh, tăng cường đoàn kết giữa các tộc người Nhìn chung, các phong trào văn nghệ quần chúng luôn được duy trì thường xuyên, đặc biệt là vào các dịp lễ lớn như: lễ tết, lễ hội có các chương trình biểu diễn văn nghệ biểu hiện nếp sống văn minh – xây dựng đời sống văn hóa của cộng đồng người Hmông ở huyện Văng Viêng Tuy nhiên, về các đội biểu diễn văn hóa văn nghệ vẫn chưa đạt được kết quả cao do
Trang 33thiếu giáo viên bồi dưỡng tốt, thiếu sự hỗ trợ, khuyến khích của chính quyền các cấp
2.3.4 Đội thể dục thể thao
Phong trào thể dục thể thao ở các đơn vị, các làng người Hmông được các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương thường xuyên quan tâm và tạo điều kiện tốt Các hoạt động thể dục thể thao như: đá bóng, cầu lông, cầu mây, bóng chuyền…ở vùng đồng bào Hmông được diễn ra khá sôi nổi và thường xuyên Trong những dịp lễ lớn của đất nước, cộng đồng người Hmông tổ chức thi đấu giao lưu cùng với văn hóa văn nghệ Những hoạt động đó đã góp phần xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của người Hmông ở Văng Viêng ngày càng lành mạnh Tuy nhiên, về hoạt động thể thao vẫn còn những hạn chế như: các sân bãi thể dục thể thao còn nhỏ hẹp, dụng cụ sân bãi còn thô
sơ và chưa đặt tiêu chuẩn Đất nước Lào đã và đang mở cửa giao lưu bóng đá Segame Asian, cho nên Đảng và Nhà nước cần phải đầu tư xây dựng các sân bãi thể dục thể thao từ trung ương đến địa phương, ủng hộ khuyến khích đẩy mạnh phát huy các hoạt động thể dục thao
cộng đồng người Hmông ở huyện Văng Viêng
2.3.5 Văn hóa nghe nhìn, văn hóa đọc
- Vùng đồng bào Hmông ở Văng Viêng cũng được sử dụng
được các phương tiện thông tin liên lạc như: Ti Vi, điện thoại, đài phát thanh, đài tiếng nói Nhưng về hoạt động tuyên truyền cổ động thiếu
sự tiến hành thường xuyên với các hình thức thông báo, báo cáo chính trị, kẻ vẽ bảng tin, tranh cổ động, buổi diễu hành, tuyên truyền giáo dục xây dựng đời sống văn hóa….chưa được tuyên truyền Đồng thời, các loa truyền thanh trong làng cũng chưa kéo để người dân hoặc chính quyền được phổ biến, thông báo và mở các chương trình ca
Trang 34nhạc góp phần giải trí Người dân chủ yếu là nghe đài, nghe điện thoại, xem truyền hình để góp phần giáo dục, tư tưởng và nhu cầu văn hóa
- Hoạt động thư viện, phát hành sách báo vùng đồng bào Hmông ở huyện Văng Viêng còn hạn chế, thông tin báo tạp chí chưa phong phú Đồng thời, cũng là do người dân thiếu thời gian để đọc, trình độ nhận thức còn thấp Nhà văn hóa làng chưa làm tròn nhiệm
vụ cung cấp thông tin để người dân được đọc, nghe, nhìn và vui chơi giải trí Người Hmông là một cộng đồng tộc người cư trú ở vùng sâu
xa nên công tác truyền bá thông tin càng rất cần thiết, hoạt động này Ban văn hóa - Thông tin phối hợp nhà văn hóa làng cần tích cực quan
tâm hơn nữa
2.4 XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA
2.4.1 Môi trường tự nhiên: Do đời sống người Hmông ở huyện Văng Viêng khó khăn, gắn liền với trồng trọt và chăn nuôi nên ý thức
bảo vệ môi trường, giữ gìn môi trường tự nhiên còn hạn chế bất cập Thực trạng môi trường tự nhiên trên các khu vực làng người Hmông
có tình trạng phá chặt rừng làm nương rẫy, đánh bắt các bằng các phương pháp độc hại và nguy hiểm như sử dụng thuốc nổ, bằng dây điện… săn bắn các động vật rừng bừa bãi Những tệ nạn ấy, làm ảnh hưởng môi trường sinh thái không ít, hiện nay rừng bị cạn kiệt dần, động vật quý giá bị tiêu diệt và môi trường nước bị ô nhiễm…thậm chí ở một số vùng đồng bào Hmông đang ở tình trạng thiếu nước uống
và nước sản xuất nông nghiệp, do tình trạng phá rừng làm cho các nguồn nước bị khô cạn
Với những tệ nạn nêu trên cần được chính quyền các cấp ngăn chặn kịp thời và giải quyết tốt vấn đề phân đất đai sản xuất cho người
Trang 35dân để xóa dần canh tác nương rẫy, phá rừng, đốt rừng, giữ gìn và bảo
vệ môi trường quê hương, đất nước xanh sạch đẹp
2.4.2 Môi trường xã hội: Cộng đồng người Hmông là một cộng
đồng có nhận thức sâu sắc về đường lối của Đảng và Nhà nước về việc giữ gìn quê hương đất nước, giữ vững ổn định xã hội Hiện nay, tộc người Hmông ở Văng Viêng phần lớn đã sống định canh định cư, xây dựng nhà cửa định cư, cuộc sống tương đối ổn định và con cái được học hành Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều hộ gia đình sống bằng canh tác nương rẫy, thuộc vào tình trạng nghèo đói, đời sống thiếu thốn trầm trọng xảy ra tình trạng du canh du cư, mất trật tự
xã hội Đồng thời, một số người đang chịu ảnh hưởng rất lớn về các tệ nạn mê tín dị đoan, tín ngưỡng tôn giáo nước ngoài làm gây mất đoàn kết trong cộng đồng và xã hội Về môi trường xã hội ở cộng đồng người Hmông còn hạn chế về ý thức tư tưởng chính trị cần được có những biện pháp giáo dục và ngăn chặn để bà con hòa nhập những
văn hóa, văn minh và sự tiến bộ của xã hội
2.5 ĐÁNH GIÁ
Trong những năm qua, cộng đồng người Hmông ở Văng Viêng
đã tích cực xây dựng nếp sống văn minh – đời sống văn hóa, xây dựng người công nhân cách mạng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của con người văn minh trong thời kỳ đất nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay Tổ chức thực hiện việc xây dựng đời sống văn hóa đã đạt được một số kết quả: mê tín dị đoan được bài trừ, ngăn chặn các tệ nạn xã hội, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu, tiếp thu những tinh hoa văn hóa tiến bộ của nhân loại và tích cực giáo dục lối sống lành mạnh cho mỗi thành viên trong gia đình người Hmông Ban lãnh đạo, thường xuyên phấn đấu triển khai và bám sát đường lối chính sách của Đảng
Trang 36và Nhà nước để xây dựng đời sống văn hóa của cộng đồng người Hmông ở huyện Văng Viêng được tốt hơn Nhìn chung, bên cạnh những kết quả đã đạt được còn nhiều điều cần phải nghiên cứu và giải quyết, người Hmông đang ở tình trạng khó khăn, mức hưởng thụ về đời sống kinh tế – văn hóa – xã hội Ảnh hưởng không ít đến đời sống
xã hội huyện Văng Viêng, nhất là vấn đề đói nghèo Đói nghèo thường sinh ra các tệ nạn xã hội, xảy ra xung đột chính trị, xung đột giai cấp dẫn đến gây mất ổn định chính trị xã hội Theo kết quả điều tra mức sống dân cư huyện Văng Viêng năm 2008, người Hmông có 1662 hộ gia đình, trong đó 586 hộ thuộc gia đình nghèo đói Cho thấy, số hộ gia đình nghèo người Hmông chiếm tỷ lệ khá lớn so với các cộng đồng khác
Tuy nhiên, phần lớn đời sống người Hmông ở Văng Viêng đã
có nhiều thay đổi so với nhiều năm trước, xây dựng nếp sống, lối sống mới, lấy việc giáo dục và phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm Đó chính là những nét biểu hiện góp phần xây dựng đời sống văn hóa
2.5.1 Ưu điểm
Cộng đồng Hmông ở huyện Văng Viêng vốn là một tộc người thường cư trú trên các vùng núi cao, sản xuất chủ yếu là nông nghiệp Trong những năm qua thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng đời sống văn hóa, cộng đồng người Hmông đã có nhiều thay đổi và đạt được những thành tựu đáng kể thể hiện ở các mặt:
* Về mặt kinh tế: Trước đây nền kinh tế của cộng đồng người
Hmông ở huyện Văng Viêng là nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp nhưng hiện nay họ đã thay đổi cơ cấu kinh tế đó sang cơ cấu kinh
tế thị trường Mỗi làng có từ 20 đến 25 hộ đạt gia đình văn hóa, với
Trang 37nhiều gia đình có thu nhập kinh tế khá và từng bước phát triển không ngừng nâng cao cuộc sống
* Về mặt chính trị: Trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước
và giữ nước, người Hmông ở Văng Viêng đã kiên cường đấu tranh chống ngoại xâm, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc Đã có được những thắng lợi vẻ vang và để lại cho thế hệ sau những phẩm chất cao đẹp Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, lòng nhân nghĩa vị tha và có tình đoàn kết chặt chẽ với Cách mạng Đến nay, người Hmông phần lớn sinh sống ổn định, chấp hành tốt nghĩa vụ công dân của Đảng, Nhà nước, phát huy truyền thống lịch sử và Cách mạng của nước nhà
* Về mặt văn hóa: Việc xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng
Hmông ở huyện Văng Viêng trong nhiều năm gần đây, đã từng bước phát triển, những hủ tục lạc hậu trước đây dần được xóa bỏ Cộng đồng người Hmông không ngừng phát huy khả năng thế mạnh của mình để hội nhập và tiếp thu những tinh hoa văn hóa mới Trong làng người Hmông, các thiết chế văn hóa mới được đưa vào và được chú trọng phát triển Các phong trào xây dựng nếp sống, lối sống văn hóa
và xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa trong thời kỳ hội nhập giao lưu quốc tế được hưởng ứng đến từng làng Cùng với đó, người Hmông không chỉ mong muốn có một cuộc sống đầy đủ về vật chất
mà còn có nhu cầu về tinh thần Vì thế các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, trò chơi dân gian… truyền thống được duy trì và đẩy mạnh phát triển
* Về mặt giáo dục: Nhiều năm gần đây đã được Đảng và Nhà
nước quan tâm chú trọng đẩy mạnh công tác xây dựng đời sống văn hóa ở vùng đồng bào Hmông huyện Văng Viêng nhằm xây đựng các