Thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt cũng là một bộ phận của ngôn ngữ dân tộc, do đó các nhận thức, quan niệm về giới của nhân dân đồng thời cũng được phản ánh trong đó.. và giới tính” của Vũ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS ĐẶNG NGỌC LỆ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 3MỤC LỤC
2
MỞ ĐẦU2 i 2
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO2 97
2
PHỤ LỤC2 104
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xã hội hiện nay, vấn đề giới ngày càng được quan tâm và nghiên cứu trong nhiều ngành khoa học khác nhau Tùy theo lĩnh vực mà giới sẽ được nghiên cứu, tiếp cận theo những cách khác nhau trong sự tương quan với những yếu tố khác Ngôn ngữ học xã hội cũng dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề giới, và giới
đã được đặt trong mối quan hệ với ngôn ngữ, mà chúng ta gọi là ngôn ngữ học xã hội giới Trong bối cảnh hiện nay, khi những vấn đề về giới như cách phân biệt giới,
sự bất bình đẳng giới trong gia đình và ngoài xã hội,… đang ngày càng được quan tâm thì việc nghiên cứu về giới đã đi vượt ra phạm vi một ngành khoa học riêng lẻ
Ta không thể phủ nhận tầm quan trọng của giới trong cuộc sống dù là quá khứ hiện tại hay tương lai Tầm quan trọng của giới đã được nhiều nhà xã hội học xác định
Cụ thể, chúng ta thấy họ quan niệm giới là là một yếu tố quan trọng bên cạnh giai
cấp và tộc người với tư cách là một trong ba ba cơ chế trung tâm để phân bố về mặt
xã hội đối với nguồn lực và quyền lực, và giới được xem là một vấn đề quan trọng
trong đời sống mỗi con người Đồng thời giới cũng được đánh giá: “Cụ thể là từ
cấp độ vĩ mô của nền kinh tế đến quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giới nhào nặn các hoạt động, các vai trò và cái mà cá nhân nhận được và thụ hưởng trong đời sống xã hội Giới là sự biến hóa những khác biệt nam nữ thành khuôn mẫu và là sự thống trị thông qua những phân biệt giữa nam và nữ Giới là một phạm trù then chốt, là lăng kính để xem xét tất cả mọi hiện tượng xã hội” [5, tr.29] Hiện nay giới
còn được xem là một trong những trục chính để tổ chức đời sống xã hội Theo góc
độ xã hội học thì tầm quan trọng của giới được xác định như thế Đối với ngôn ngữ học đặc biệt là ngôn ngữ học xã học giới cũng có một tầm quan trọng đặc biệt Nhưng trong ngôn ngữ học nói chung và ngôn ngữ học xã hội nói riêng, hướng tiếp
cận vấn đề giới không giống với các ngành khoa học khác “Ngôn ngữ với chức
năng phản ảnh thực tại xã hội cụ thể là phản ảnh cách nhìn nhận về giới của con
Trang 6người, ngôn ngữ được xem là “tấm gương soi của xã hội” về giới, là “chiếc hàn thử biểu” để đo nhận thức của con người về giới trong các xã hội khác nhau, ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau” [42, tr.1] Những quan niệm về giới của nhân dân
ta trong từng thời kỳ lịch sử được phản ảnh một cách sâu sắc thông qua ngôn ngữ Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới từ rất lâu đã trở thành một đề tài nghiên cứu quan trọng của chuyên ngành ngôn ngữ học xã hội ngay từ khi chuyên ngành này ra đời vào năm 1964 Đây là đề tài được nghiên cứu với nhiều nội dung khác nhau
như: các hình thức ngôn ngữ của giới nam và giới nữ, biểu hiện của sự kỳ thị về
giới tính trong ngôn ngữ, giới với tư cách là nhân tố trong nghiên cứu về giao tiếp,… Cùng với tuổi tác, nghề nghiệp giới được xem là một trong ba nhân tố quan
trọng trong sử dụng ngôn ngữ Ngôn ngữ và giới đã trở thành một trong những vấn
đề nghiên cứu quan trọng của ngôn ngữ học xã hội “Khi giải quyết các vấn đề của
ngôn ngữ đồng thời chúng ta cũng phải giải giải quyết các vấn đề về giới và ngược lại Các vấn đề về giới luôn gắn liền với ngôn ngữ trên cả hai bình diện: phản ảnh
về giới và tác động về giới” [42, tr.1] Thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt cũng là một bộ
phận của ngôn ngữ dân tộc, do đó các nhận thức, quan niệm về giới của nhân dân đồng thời cũng được phản ánh trong đó Việc nghiên cứu giới trong thành ngữ, tục ngữ sẽ tìm thấy quan điểm cách nhìn nhận của nhân dân ta về vấn đề này Chính vì
vậy người viết chọn đề tài “Giới trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt” nhằm tìm
hiểu làm rõ vấn đề này để mong có một sự hiểu biết về vấn đề giới trong thành ngữ, tục ngữ dân tộc
2 Lịch sử vấn đề
Nhìn lại vấn đề nghiên cứu giới ta thấy Giới, giới tính là những đối tượng đã được nghiên cứu khá nhiều trong chuyên ngành xã hội học Giới, giới tính cũng là
đối tượng được sự quan tâm đặc biệt của nhiều tổ chức, cá nhân như Hội liên hiệp
phụ nữ Việt Nam, các nhà giáo dục, các nhà tâm lý… Trong ngôn ngữ học giới và
giới tính cũng được nghiên cứu tương đối nhiều Những công trình tiêu biểu như:
“Sự kì thị giới tính trong ngôn ngữ” của Trần Xuân Điệp, “Lịch sự trong tiếng Việt
Trang 7và giới tính” của Vũ Tiến Dũng (2007), luận văn thạc sĩ “Định kiến giới trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam” (2008) của Nguyễn Thị Thịnh, “Ngôn ngữ học
xã hội” của Nguyễn Văn Khang (1999); bài “Xã hội học ngôn ngữ về giới: Sự kì thị
và sự chống kì thị đối với giới nữ trong sử dụng ngôn ngữ” của Nguyễn Văn Khang
trên trang web của Viện ngôn ngữ học Việt Nam; bài “Sự bộc lộ giới tính trong
giao tiếp ngôn ngữ” của Nguyễn Văn Khang trong Ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình người Việt,…
tiếp về vấn đề kì thị giới tính trong ngôn ngữ Ngoài những vấn đề lí luận liên quan đến biểu hiện của sự kì thị giới tính trong ngôn ngữ ở chương một; trong chương hai và ba đã trình bày về sự kì thị đối với giới nữ và sự kì thị đối với giới nam trong ngôn ngữ một cách đầy đủ với nhiều ví dụ minh họa Trong sách này tác giả đã đề cập đến biểu hiện của sự kì thị giới tính trong ngôn ngữ với tư cách là một đối tượng thuộc ngôn ngữ học xã hội, dựa trên cơ sở cứ liệu của một số ngôn ngữ tiêu
biểu Đồng thời trong đó chúng ta cũng thấy được “những nét đặc thù nhất định về
văn hóa của các dân tộc đan xen trong các ngôn ngữ khác nhau mà việc nghiên cứu
sự kì thị giới tính trong ngôn ngữ sẽ bộc lộ” [23, tr 8] Trên cở sở đó tác giả còn đề
xuất hướng giải quyết vấn đề kì thị giới tính trong ngôn ngữ theo góc độ cải cách
ngôn ngữ và quy hoạch ngôn ngữ Như vậy vấn đề chủ yếu trong Sự kỳ thị giới tính
trong ngôn ngữ là vấn đề kì thị giới tính trong ngôn ngữ giao tiếp nói chung
Thị Thịnh đã trình bày được những vấn đề liên quan đến giới trong ca dao, thành ngữ, tục ngữ chủ yếu xoay quanh vấn đề định kiến về giới nữ qua một số biểu hiện
cụ thể Trong chương một, tác giả trình bày về những cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu, giúp chúng ta có một hiểu biết đầy đủ về khái niệm định kiến giới nói chung và định kiến giới đối với người phụ nữ nói riêng Trong chương hai, tác giả
đã trình bày về những biểu hiện cơ bản của định kiến giới trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam Trong đó người viết đã nghiên cứu được một số nội dung chính như sau:
Trang 8- Những định kiến giới liên quan đến đặc điểm ngoại hình của người phụ nữ (khuôn mặt, thân hình, nụ cười, giọng nói…)
niệm về giá trị con trai, con gái; trong mối quan hệ vợ – chồng như: chồng là người cai quản, trị vì, vợ là người lệ thuộc, qua thân phận người vợ lẽ, qua quan niệm
giới, qua quan niệm của cộng đồng coi phụ nữ là dấu hiệu của sự không may mắn (điềm gở)
phản ánh trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam
Như vậy, về vấn đề giới trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao công trình này cũng nghiên cứu được nhiều điều quan trọng Ở đây tác giả đứng trên góc nhìn tâm
lý học nên không đề cập đến nhiều vấn đề khác liên quan đến ngôn ngữ, văn hóa khi nghiên cứu giới trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam
vấn đề giới tính Cụ thể những nội dung liên quan đến giới tính đó là: xưng hô với lịch sự và sự khác biệt trong cách xưng hô lịch sự giữa giới nam và giới nữ Trong
đó ngoài phần lí luận chung như xưng hô với lịch sự trong tiếng Việt, tác giả đã
lịch sự Tác giả đã đi vào từng trường hợp cụ thể để phân tích chứng minh cho sự khác biệt đó Như xưng hô với thủ trưởng, xưng hô với bố mẹ, xưng hô giữa anh chị với em, giữa vợ với chồng, giữa đồng nghiệp với nhau, xưng hô xét trong quan hệ nghề nghiệp, xưng hô xét trong quan hệ với nghề nghiệp và tuổi tác thì có những cách xưng hô khác nhau để tạo nên sự lịch sự trong cách xưng hô của nam và nữ
Bên cạnh đó tác giả còn trình bày về một số chiến lược lịch sự của người Việt trong
việc từ chối lời cầu khiến cạnh tranh và sự khác biệt giữa giới nam, giới nữ Nhìn
Trang 9chung đây là công trình nghiên cứu về vấn đề lịch sự trong xưng hô giữa nam và nữ, nói về ngôn ngữ đặc trưng của từng giới trong giao tiếp hàng ngày
“Ngôn ngữ học xã hội” của Nguyễn Văn Khang (1999), tác giả đã trình bày
về vấn đề ngôn ngữ và giới tính trong toàn bộ chương bảy Có thể thấy rằng trong chương này tác giả đã đề cập đến những vấn đề có liên quan đến giới tính trong gần
thể hiện trong ngôn ngữ, phong cách ngôn ngữ của mỗi giới Về vấn đề “sự phân
biệt đối xử về giới tính thể hiện trong ngôn ngữ”, tác giả trình bày nhấn mạnh vào
vấn đề phân biệt đối xử bằng cách dẫn ra các ví dụ, chủ yếu là các ví dụ tiếng Anh
và một phần tiếng Việt Trong chương này Nguyễn Văn Khang cũng đã tóm tắt lại kết quả nghiên cứu của một số học giả nước ngoài như: B.Thorne, C Kramarac, N
tính theo tác giả đó là:
đã phản ánh vị thế xã hội nam quyền”
he/ his trong tiếng Anh thay cho she/ her trong nhiểu trường hợp
Về vấn đề phong cách ngôn ngữ của mỗi giới thì tác giả cũng có nhiều đánh giá về lời nói của từng giới, cũng như việc sử dụng ngôn ngữ của mỗi giới như thế nào trong những hoàn cảnh giao tiếp Nhìn chung, vấn đề ngôn ngữ và giới tính ở
đây cũng nằm trong ngôn ngữ giao tiếp Trong bài “Xã hội học ngôn ngữ về giới:
Sự kì thị và sự chống kì thị đối với giới nữ trong sử dụng ngôn ngữ” Nguyễn Văn
Khang đã trình bày vấn đề ngôn ngữ và giới, trọng tâm của vấn đề này là ngôn ngữ
đã phản ảnh sự thiên kiến đối với giới nữ trong xã hội như thế nào Tác giả đã đưa
ra nhiều ví dụ tiếng Anh, tiếng Hán lẫn tiếng Việt để chứng minh Đồng thời, tác giả
đã đưa định hướng để góp phần chống thiên kiến đối với giới nữ trong kế hoạch hóa ngôn ngữ
Trang 10Trong “Sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ”, Nguyễn Văn Khang
phân biệt hai góc nhìn về vấn đề giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ Thứ nhất là ngôn ngữ nói về mỗi giới: trong phần này tác giả chỉ nhận xét rằng ngôn ngữ nói về mỗi giới là những từ nhất định chỉ dùng cho giới này hoặc giới kia Góc độ thứ hai
là ngôn ngữ được mỗi giới sử dụng, cụ thể là sự diễn đạt, cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau của hai giới để biểu thị cùng một vấn đề, cùng một nội dung giao tiếp Trong bài viết này chủ yếu trình bày về vấn đề ngôn ngữ được mỗi giới sử dụng trong giao tiếp hàng ngày
Ngoài ra, cũng có nhiều bài viết khác trên tạp chí ngôn ngữ như “Hiện tượng
phân biệt giới tính của người sử dụng ngôn ngữ trong tiếng Nhật” của Nguyễn Thị
Việt Thanh, “Ngôn ngữ của chúng ta phải chăng là việc của giới nam” của Steind
Đức Thắng, và các luận văn liên quan đến vấn đề giới và giới tính ở trường đại học
như: luận văn thạc sĩ “Giới và ngôn ngữ giới” của Lê Thị Hiền Hoa, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP HCM năm 2005; luận văn thạc sĩ “Giới tính trong ngôn
ngữ báo chí (trên cứ liệu của phóng viên nam và nữ ở Việt Nam)” (2005) của Phan
Thị Ngọc Mai, TP HCM; … Nhưng nhìn chung các công trình trên đây chủ yếu nghiên cứu giới trong ngôn ngữ giao tiếp, trong sử dụng ngôn ngữ nói chung, chưa
đề cập nhiều đến giới và những vấn đề chủ yếu về giới trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt theo hướng tiếp cận ngôn ngữ học Chính vì thế đề tài này sẽ cố gắng làm
rõ giới trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt với hai vấn đề chủ yếu: ngôn ngữ về giới chính là sự phản ảnh cách nhìn nhận về giới của nhân dân trong cuộc sống và sự kỳ thị giới được phản ảnh trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt Qua đó, nhằm đưa ra cái nhìn toàn diện về vấn đề giới được phản ảnh trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này người viết nhằm vào mục đích là tìm ra một số vấn đề chủ yếu về giới được phản ánh vào trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt như ngôn ngữ về giới, sự kỳ thị giới
Trang 114 Phạm vi nghiên cứu
Trong giới hạn của luận văn, người viết chỉ tìm hiểu:
5 Phương pháp nghiên cứu
tục ngữ tiếng Việt có đề cập đến vấn đề giới và sử dụng phần mềm thống kê SPSS
để thống kê số lượng, tần số xuất hiện, tỉ lệ phần trăm của từ ngữ và tiến hành miêu
tả ngôn ngữ về giới
nguồn ngữ liệu thu thập được Sau đó sẽ đi vào tổng hợp kết luận về những vấn đề được tìm thấy
6 Bố cục của luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu và Kết luận, gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận Chương này, người viết sẽ trình bày cơ sở lý luận
chung của đề tài: những nhận định xung quanh khái niệm giới và lý thuyết chung về thành ngữ, tục ngữ; khái quát về số lượng giới trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt
Chương 2: Ngôn ngữ về giới và quan niệm về số lượng giới của con người
trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt Chương này trình bày về ngôn ngữ về giới trên
cứ liệu ngôn ngữ biểu hiện trong thành ngữ, tục ngữ để chứng minh quan niệm số lượng giới trong nhân dân
viết trình bày sự kỳ thị về giới được phản ánh trong thành ngữ, tục ngữ với những biểu hiện cụ thể của nó
Trang 12Chương 1:
Cơ sở lý luận
1.1 Lý thuyết chung về thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt
1.1.1 Lý thuyết về thành ngữ tiếng Việt
1.1.1.1 Khái niệm
Thành ngữ là một đối tượng đã được nghiên cứu khá nhiều từ trước cho đến nay Việc nghiên cứu thành ngữ được tiến hành một cách rộng rãi từ các nhà nghiên cứu văn học dân gian cho đến các nhà ngôn ngữ học trên nhiều góc độ khác nhau Sau đây là một số định nghĩa phổ biến:
“Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt
“Thành ngữ là một cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập đến một trình độ cao hơn về nghĩa, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra Những thành ngữ này có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học.” [82,
tr.185]
Trang 13“Theo cách hiểu thông thường thành ngữ là một tổ hợp từ cố định, bền vững
về hình thái – cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ.” [26, tr 27]
“Thành ngữ là một tổ hợp từ cố định về cấu trúc, có nghĩa bóng, được sử dụng để miêu tả những hình ảnh, những hiện tượng tính cách hoặc quan hệ” [49, tr
97]
“Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa
có tính gợi cảm” [47, tr 77]
thành ngữ là những cụm từ (tức là có hai từ trở lên), thứ hai là thành ngữ có sự cố định về hình thái cấu trúc, thứ ba là thành ngữ có sự hoàn chỉnh về ý nghĩa và ý nghĩa của thành ngữ không phải là tổng số nghĩa của các thành tố (từ) cấu thành nên thành ngữ
Ngoài ra khi định nghĩa về thành ngữ, một số tác giả còn đề cập đến nhiều mặt khác nữa Chẳng hạn, Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Như Ý, Hà Quang Năng nhấn mạnh đến một đặc điểm là thành ngữ là một chỉnh thể định danh, hoạt động như một từ riêng biệt Hoàng Văn Hành nhấn mạnh đến đặc trưng bóng bẩy về ý nghĩa
và đặc trưng được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày của thành ngữ Hồ Lê
đề cập đến chức năng miêu tả hình ảnh, hiện tượng, tính cách hoặc quan hệ Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành thì cho rằng thành ngữ thường có vần có điệu Nguyễn Văn Tu lại chú ý đến hai đặc điểm của thành ngữ đó là: các từ của thành ngữ mất tính độc lập và nghĩa của chúng khác với nghĩa của các từ nhưng
ta có thể giải thích chúng bằng từ nguyên học Nguyễn Thiện Giáp đề cập tính gợi cảm của thành ngữ khi xem xét chúng Nhưng nói chung, cho dù các tác giả khi nhắc đến thành ngữ có đề cập đến một số đặc điểm khác của thành ngữ có thể thấy rằng ba đặc điểm chung thống nhất giữa các tác giả là những đặc điểm quan trọng hơn cả, cần thiết phải nhắc đến khi nghiên cứu thành ngữ
Như vậy, có thể căn cứ vào các định nghĩa đã được phổ biến trong giới nghiên cứu để rút ra một cách hiểu về thành ngữ Tóm lại có thể hiểu thành ngữ là
Trang 14những cụm từ cố định, là một đơn vị từ vựng có sẵn trong hệ thống từ vựng của một dân tộc, chúng có chức năng định danh – gọi tên sự vật, hiện tượng đồng thời phản ánh các khái niệm một cách gợi tả và bóng bẩy Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ và đồng thời cũng là một đơn vị mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc vì các yếu tố văn
vị ngôn ngữ - văn hóa
1.1.1.2 Cấu tạo thành ngữ tiếng Việt
Thành ngữ tiếng Việt thường được cấu tạo theo nhiều cách khác nhau Trước hết là được cấu tạo bằng hình thức điệp và đối giữa các thành tố
• Thành ngữ điệp
Điệp ở đây là cấu tạo về mặt hình thức của thành ngữ Đây là dấu nối âm thanh giữa hai vế, làm cho những yếu tố trong thành ngữ gắn liền với nhau thành một khối có âm điệu, làm cho thành ngữ trở nên hài hòa, dễ nhớ hơn Thành ngữ điệp gồm có hai loại: điệp ngữ âm và điệp ngữ nghĩa
Điệp ngữ âm: sự láy lại một âm hoặc một vần, một âm tiết nào đó trong thành ngữ
Ví dụ :
Thất phu thất phụ; dở anh dở thằng; bóng cô, bóng cậu
thất, dở, bóng
Điệp ngữ nghĩa: sự sử dụng các từ trong thành ngữ có sự tương đồng nào đó
về mặt ý nghĩa
Ví dụ :
Cha hươu mẹ vượn ; cha lừa mẹ ngựa ; cha đưa mẹ đón
Trong các đơn vị thành ngữ trên ta thấy hươu/ vượn ; lừa/ ngựa ; đưa/ đón là
những cặp từ có nét tương đồng nhau về nghĩa
Tương tự như thế ta có thể lấy thêm một vài ví dụ như: cô loan độc phượng;
chia loan rẽ phượng,…
Trang 15• Thành ngữ đối
Thành ngữ đối là thành ngữ được cấu tạo bằng cách đối giữa các bộ phận
gồm có đối ý và đối lời
Đối ý là bình diện đối xứng giữa hai vế thành ngữ về ý
Ví dụ :
Cha sinh mẹ đẻ; cha đưa mẹ đón
Đối lời và đối ý liên có liên quan mật thiết với nhau Đối lời là các vế khi đối phải có sự tương đồng về từ loại và phạm trù phản ánh
Ví dụ :
Cha già mẹ yếu; cha già mẹ héo
Đối trong thành ngữ còn đòi hỏi tuân theo quy luật bằng trắc về âm vận
Ví dụ:
Cha hươu mẹ vượn – BBTT
Chia loan rẽ phượng – BBTT
• Thành ngữ ẩn dụ
Thành ngữ ẩn dụ là những thành ngữ được cấu tạo từ phương thức ẩn dụ Ẩn
dụ cũng là một kiểu so sánh nhưng là so sánh ngầm, chỉ cái đuợc so sánh tồn tại độc lập với tư cách một đơn vị ngôn ngữ Thành ngữ ẩn dụ đuợc cấu tạo dựa trên cơ sơ liên tuởng tuơng đồng của các sự vật, sự liên tưởng này có tính chất chủ quan Nghĩa của thành ngữ ẩn dụ thuờng ẩn phía sau bề mặt ngôn từ Chẳng hạn thông
Trang 16qua thành ngữ “hoa trôi bèo dạt” dân gian ta muốn nói đến sự lận đận của đời
người phụ nữ
dụ hóa đối xứng và thành ngữ ẩn dụ hóa phi dối xứng
Thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng là những thành ngữ được cấu tạo bằng hai vế đối xứng nhau Đây là loại thành ngữ phổ biến nhất trong thành ngữ tiếng Việt
Ví dụ :
Mẹ tròn con vuông; mẹ tròn con méo; bướm chán ong chường
Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng thường không đối xứng nhau về mặt cấu trúc, được cấu tạo giống như những cấu trúc ngữ pháp bình thường Chúng thường
có kết cấu là một danh ngữ (anh hùng rơm; anh hùng tương ngộ; anh hùng mạt
lộ,…), động ngữ (bám váy vợ; chầu ông vải; khen phò mã tốt áo…), tính ngữ (oan Thị Kính; yểu điệu thục nữ…), kết cấu chủ vị (bố vợ phải đấm; cha già nhà khó,…)
• Thành ngữ hoán dụ
dụ Hoán dụ là phép chuyển nghĩa của từ dựa trên cơ sơ liên tưởng tiếp cận giữa các
sự vật Khác với phương thức ẩn dụ, sự liên tưởng của hoán dụ dựa trên hiện thực khách quan có thật Thành ngữ hoán dụ thường lấy những sự vật cụ thể để biểu trưng cho những cái trừu tượng khái quát
Ví dụ :
Da trắng tóc dài – người con gái đẹp
Má hồng mệnh bạc – người con gái đẹp phải chịu lận đận
Trang 17Thành ngữ so sánh có hai dạng cơ bản như sau:
Dạng 1: A như B (trong đó A là thuộc tính so sánh, B là cái so sánh, như là
thành phần biểu thị quan hệ so sánh)
Đây là dạng phổ biến trong thành ngữ so sánh Ở dạng này thuộc tính so sánh
A và cái được so sánh B đều thấy rõ
Ví dụ :
Béo như ông Di Lặc
Ấm oái như hai gái lấy một chồng
Lừ đừ như ông từ vào đền
Dạng 2 : như B
Dạng này thuộc tính so sánh (A) không biểu hiện rõ trên thành ngữ
Ví dụ :
Như ông Thiên Lôi
Như ông từ giữ tráp
Thành ngữ so sánh bắt buộc phải hợp logic, tức là giữa thuộc tính so sánh A
và cái được so sánh B phải có nét tương đồng nào đó
Trong thành ngữ so sánh thành phần biểu thị quan hệ so sánh và cái so sánh
là bộ phận bắt buộc và ổn định trên cấu trúc bề mặt cũng như cấu trúc sâu Nếu phá
vỡ cấu trúc so sánh thì sẽ không còn là thành ngữ so sánh Sự lựa chọn từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh và cái so sánh mang tính dân tộc sâu sắc Từ ngữ biểu thị cái so sánh thường là những hình ảnh điển hình mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc và con người Việt Nam
Ví dụ:
Đẹp như chị Hằng
Nợ như chúa Chổm
Trang 181.1.1.3 Đặc điểm thành ngữ tiếng Việt
a) Tính biểu trưng
Biểu trưng là đặc điểm nổi bật của thành ngữ Mỗi thành ngữ vẽ nên một bức tranh sinh động Tính biểu trưng trong thành ngữ thể hiện ở việc lấy những vật thật việc thật làm biểu tượng để nêu lên những hiện tượng sự vật có tính chất trừu tượng khái quát
Biểu trưng là đặc điểm góp phần quan trọng vào việc thể hiện giá trị biểu đạt của thành ngữ Nó nêu lên ý nghĩa khái quát mà thành ngữ muốn nói đến
Nhờ vào tính biểu trưng mà thành ngữ có tính khái quát cao và đạt được tính hàm hàm súc cao Những ý nghĩa khái quát trừu tượng của thành ngữ được tạo nên
Hoa trôi bèo dạt - ẩn dụ về số vất vả của giới nữ
Má đào mệnh bạc - hoán dụ tượng trưng cho sự lận đận của đời người phụ
nữ
Đẹp như chị Hằng - so sánh ý nói vẻ đẹp không gì tả nổi, đẹp như tiên nữ (vì
thường tiên được xem là có sắc đẹp tuyệt vời)
Nghĩa biểu trưng làm cho thành ngữ mang nội dung định danh, có sắc thái biểu cảm và có tính khái quát cao trong giao tiếp Các biểu trưng được thiết lập mang hiệu quả nghệ thuật cao, nêu lên một nhận định có tính khái quát và được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ dân tộc
b) Tính hình tượng
Trang 19Tính hình tượng (hay còn gọi là tính hình ảnh) của thành ngữ gắn liền với tính biểu trưng Nhờ vào tính biểu trưng mà quy định thành ngữ đó có tính hình tượng như thế nào Thành ngữ từ những sự vật hiện tượng, hình ảnh cụ thể tạo nên
ấn tượng mạnh mẽ đối với người đọc, người nghe Với những hình tượng cụ thể đó
và thông qua đó dân gian muốn gửi gắm vào một khái niệm có ý nghĩa sâu xa
biểu cảm Có những hình tượng tạo được thiện cảm ở người nghe nhưng cũng có trường hợp chính từ hình tượng đó mà gây phản cảm
Với thành ngữ cũng vậy, nó chứa đựng dấu ấn của cả một quốc gia Thành ngữ chỉ hình thành ở những phạm vi mà sự phản ánh đòi hỏi có tính bình giá, biểu cảm Phạm vi phản ánh đó tùy thuộc vào từng hoàn cảnh sống, vào kinh nghiệm và vào cách tiếp nhận của từng dân tộc
Trang 20Tính dân tộc trong thành ngữ tiếng Việt thể hiện ở việc phản ánh các truyền thống, phong tục, các hành vi cử chỉ, cách ứng xử, và đời sống sinh hoạt của người Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp, những hình ảnh gợi ra trong thành ngữ
cũng là những hình ảnh liên quan đến nền sản xuất đó như: sượng mẹ bở con; cọc đi
tìm trâu,… Trong thành ngữ Tiếng Việt còn ẩn hiện những đặc diểm của văn hóa ứng xử của lịch sử dân tộc
Ví dụ:
C ha kính mẹ rái
T hờ cha kính mẹ Tôn sư trọng đạo
Tính dân tộc còn thể hiện ở việc lựa chọn hình ảnh biểu trưng Đó có thể là
hình ảnh của những đồ vật như “chén, chăn - gối, áo,…”, hay những cái cây
“chanh, mướp,…”, hoặc những con vật như “trâu, chuột, mèo, ốc, cò,…” Chính từ
những hình ảnh quen thuộc mà chúng ta có có cách tiếp cận tìm hiểu dễ dàng
Ví dụ:
Chén chú chén anh; chăn đơn gối chiếc; cơm nhà áo vợ; cọc đi tìm trâu; hoài hồng ngâm cho cuột vọc…
Tính cụ thể của thành ngữ thể hiện ở thái độ đánh giá của người nói đối với
sự vật và phạm vi sử dụng của từng thành ngữ Điều đó có nghĩa là mỗi thành ngữ khi được sử dụng luôn kèm theo sắc thái biểu cảm cụ thể Mỗi thành ngữ là một
hiện tượng riêng biệt không giống nhau Cùng miêu tả trạng thái buồn nhưng buồn
như cha chết khác với buồn như đĩ về già
Tính cụ thể của thành ngữ còn biểu hiện ở phạm vi sử dụng, ở sự khác biệt với thành ngữ nước ngoài Một hiện tượng nào đó chỉ cho phép ta sử dụng một thành ngữ nhất định Chẳng hạn người Việt Nam xem rồng là biểu tượng thiêng
liêng ta có thành ngữ “gái có chồng như rồng có mây”, tuy nhiên ta không thể đem
thành ngữ này sử dụng trong một nước phương Tây nào đó Còn tùy theo từng trường hợp cụ thể ta biết cách lựa chọn phù hợp
Trang 21Ví dụ :
Gậy ông đập lưng ông - hại người giờ hại mình
Kẻ cắp gặp bà già - chỉ sự gặp nhau giữa hai kẻ xấu
d) Tính biểu thái
Mỗi thành ngữ luôn kèm theo một nội dung bình giá nhất định Đó có thể là
sự tán thành hoặc là chê bai, khinh rẻ hoặc là ái ngại, xót thương Tính biểu thái của thành ngữ có liên quan mật thiết đến phạm vi sử dụng thành ngữ, đến mục đích sử dụng của người nói và viết Khi đó thái độ tình cảm của người nói dược bộc lộ cụ
thể qua thành ngữ Ví dụ khi nói “bà chúa đứt tay” vừa diễn đạt sự việc vừa bộc lộ
sự không tán thành của người nói
Qua đó ta thấy thành ngữ tiếng Việt là phương tiện biểu đạt vô cùng hiệu quả trong quá trình giao tiếp Người nói không cần phải tỏ rõ thái độ của mình một cách thẳng thừng mà chỉ cần mượn một thành ngữ nào đó vẫn bộc lộ hết quan điểm
e) Tính điệp và đối
Tính điệp và đối của thành ngữ là biểu hiện về mặt hình thức thành ngữ Tuy
là hình thức nhưng nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải nội dung thành ngữ
Tính điệp giúp cho thành ngữ có được sự hài hòa về mặt vần điệu Điệp trong thành ngữ thể hiện ở cả mặt ngữ âm và ngữ nghĩa
Về mặt ngữ âm là sự láy lại một âm hoặc một vần nào đó
Ví dụ:
Ăn chắc mặc bền; vạ mồm vạ miệng; thất phu thất phụ; dở ông dở thằng…
Trong các đơn vị trên ta thấy đó không chỉ là sự điệp âm mà còn có điệp cả mặt ngữ nghĩa Điệp về mặt ngữ nghĩa là việc lặp lại các từ đồng nghĩa hay gần
nghĩa trong thành ngữ, với những ví dụ trên đó là các từ chắc - bền, mồm - miệng
Tính đối của thành ngữ thể hiện ở số lượng các từ trong thành ngữ thường là
số chẵn Đa số những thành ngữ tiếng Việt đều có số tiếng chẵn đặc biệt là bốn tiếng Nếu gọi các từ A, B, C, D là các tiếng của thành ngữ, ta có các cặp đối AB/CD, AC/BD, A/C, B/D
Trang 22Ví dụ:
N am ngoại nữ nội; nam tôn nữ ti; nam trọng nữ khinh sẽ có các cặp đối
tương đương nam/ nữ, nội/ ngoại, tôn/ ti, trọng/ khinh Về ý nghĩa các từ đối nhau
phải cùng trường nghĩa Nếu số tiếng trong thành ngữ là số lẻ thì trục đối nằm ở giữa
Chẳng hạn như thành ngữ “gậy ông đập lưng ông”, với thành ngữ này trục đối là từ “đập” Sự cân đối về nội dung có thể dựa trên sự cân đối về âm vận theo
quy luật bằng trắc
Nhờ có tính điệp và đối mà thành ngữ trở nên giàu nhạc tính, cân đối, dễ đọc,
dễ nhớ và để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc
1.1.1.4 Phân loại thành ngữ
a) Dựa vào tiêu chí cấu tạo
Dựa vào tiêu chí cấu tạo có thể chia thành ngữ thành hai loại Đó là thành ngữ có kết cấu cụm từ và thành ngữ có kết cấu chủ vị
Thành ngữ có kết cấu cụm từ chiếm số lượng lớn trong tổng số thành ngữ Đây là những thành ngữ được tạo nên từ việc tổ hợp các từ nhất định, có nghĩa (trong đó không có từ nào là chủ ngữ, vị ngữ)
Ví dụ :
Khóc như cha chết
Buồn như đĩ về già
Thành ngữ có kết cấu chủ vị, đây là những thành ngữ được cấu tạo từ một cụm chủ vị, hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp
Ví dụ :
Mẹ già lo bảy lo ba
Mẹ già như chuối chín cây
b) Dựa vào tiêu chí nguồn gốc
Trang 23• Thành ngữ thuần Việt
Đây là những sáng tác của dân gian, mang đậm dấu ấn dân tộc Thành ngữ thuần Việt có từ ngữ bình dân do đó nó dễ hiểu, gần gũi, đặc biệt là có sắc thái biểu
cảm đặc sắc Chẳng hạn, các thành ngữ thuần Việt: cha nào con nấy; cha truyền
con nối; mẹ tròn con vuông,…
Thành ngữ thuần Việt có thể được hình thành bằng hai con đường chủ yếu là
sự cố định hóa các cụm từ tự do Chẳng hạn, thành ngữ cha mẹ cú đẻ con tiên và tổ hợp các từ dựa vào cấu trúc ABAC như: cha già mẹ héo; bữa đực bữa cái; bóng cô
Giữ nguyên gốc: hổ phụ sinh hổ tử; loan phượng hòa minh; nam tu nữ nhũ;
tử ấm thê phong; tứ hải giai huynh đệ,…
Dạng dịch toàn bộ ra tiếng Việt
Ví dụ :
L ấy chồng theo chồng được dịch từ thành ngữ tiếng Hán xuất giá tòng phu
Dạng chỉ dịch một bộ phận và giữ nguyên cấu trúc thành ngữ gốc
Ví dụ:
Ngoài ra chúng ta còn vay mượn thành ngữ từ cả ngôn ngữ Ấn Âu, nhưng số
lượng không đáng kể Chẳng hạn, thành ngữ giống như hai giọt nước được dịch ra
từ thành ngữ tiếng Anh To be alike as two drops of water
Sự vay mượn từ thành ngữ nước ngoài góp phần làm phong phú thêm cho vốn ngôn ngữ dân tộc nói chung và thành ngữ nói riêng
Trang 24c ) Dựa vào tiêu chí biểu trưng
Khi phân loại thành ngữ dựa vào tiêu chí này ta có hai loại thành ngữ đó là
thành ngữ có tính biểu trưng thấp và thành ngữ có tính biểu trưng cao
• Thành ngữ có tính biểu trưng thấp
Đây là những thành ngữ mà ý nghĩa của nó hiện rõ trên bề mặt ngôn từ
Người nói không cần phải trải qua quá trình suy nghĩ tìm tòi ý nghĩa sâu xa bên
trong Thành ngữ dạng này chủ yếu được cấu tạo bằng cách so sánh Trong thành
ngữ chỉ có một yếu tố có tính biểu trưng
Ví dụ :
đẹp như Hằng Nga; mặt tươi như hoa không mọi người cần tư duy nhiều
vẫn có thể hiểu nghĩa
• Thành ngữ có tính biểu trưng cao
Ngược lại với thành ngữ có tính biểu trưng thấp, những thành ngữ loại này
luôn chứa đựng bên trong nó một nội dung ý nghĩa sâu xa Nghĩa của thành ngữ ẩn
bên trong bề mặt ngôn từ đòi hỏi người nói, người viết phải có sự tư duy mới tìm ra
Thành ngữ được cấu tạo từ phương thức ẩn dụ và hoán dụ là những thành
ngữ có tính biểu trưng cao Chẳng hạn, thành ngữ chiếc bách giữa dòng, ở đây dân
gian không phải đang miêu tả lại sự việc mà là thông qua hiện tượng đó ngầm nêu
lên số phận bấp bênh vô định, không tự làm chủ được đời mình của người phụ nữ
1.1.2 Lý thuyết về tục ngữ tiếng Việt
1.1.2.1 Khái niệm
Hiện nay, như đã thấy, định nghĩa về tục ngữ có một số lượng rất đáng kể
Sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu về tục ngữ của các nhà nghiên cứu Việt
Nam
“Tục ngữ là những câu nói ngắn, gọn, có ý nghĩa hàm xúc, do nhân dân lao
động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ.” [43; tr.244]
“Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có vần hoặc không có vần, có nhịp
điệu hoặc không có nhịp điệu, đúc kết kinh nghiệm sản xuất hay đấu tranh xã hội,
Trang 25rút ra một chân lý phổ biến, ghi lại một nhận xét về luân lý, phong tục tập quán của nhân dân.” [58; tr.191]
“Tục ngữ là những câu cực kỳ bình dị, chắc nịch răn đời bằng những điều luân lý sâu xa hoặc tổng kết ngắn gọn những kinh nghiệm về công việc làm ăn” [82;
tr.109]
“Tục ngữ là một câu khái quát, nghĩa do tổng cộng các thành tố, rất hàm súc, nổi bật bởi ý nghĩa phán đoán và được tái hiện trong quá trình nói năng như một phát ngôn bậc cao ở dạng làm sẵn.” [4; tr.40]
“ Tục ngữ là những câu hoàn chỉnh, có ý nghĩa trọn vẹn, nói lên một nhận xét
về tâm lý, một lời phê phán khen hay chê, hoặc một câu khuyên nhủ, hoặc một kinh nghiệm về nhận thức tự nhiên hay xã hội.” [48; tr.5]
“Tục ngữ là tiếng nói của nhân dân lao động được đúc kết dưới những hình thức tinh đơn giản nhất, nhưng nội dung lại súc tích nhất và được chuyển tải bằng lối nói vần điệu.” [84; tr.5 ]
“Tục ngữ là một câu nói ngắn gọn, có cấu trúc tương đối ổn định, có cách diễn đạt phúng dụ (ngụ ý) đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức của một dân tộc.” [86; tr.271]
Trên đây là những định nghĩa tục ngữ của một số nhà nghiên cứu về tục ngữ
ở Việt Nam Nhìn chung qua đó có thể hiểu tục ngữ là một đơn vị ngôn ngữ, có chức năng thông báo Đồng thời tục ngữ có khả năng tạo câu một cách độc lập dưới dạng lời nói Tục ngữ có hình thức cấu trúc tương đối ổn định, có ý nghĩa khái quát cao, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội
Trang 261.1.2.2 Nội dung của tục ngữ
Tục ngữ thường hay được ví như là một “túi khôn” của dân tộc ta vì bản thân
nó vốn dĩ chứa đựng một kho tàng tri thức của đời sống Tri thức đó có thể là tri thức về thế giới tự nhiên, về con người trong mối quan hệ với con người với giới tự nhiên,…
Trong đó bộ phận to lớn của tục ngữ phản ánh về thế giới tự nhiên, về mối quan hệ của con người với thế giới tự nhiên là nói về thời tiết, về kinh nghiệm lao động của nhân dân tích lũy được qua bao đời bao thế hệ, có được trong quá trình lao động và đấu tranh với thiên nhiên Qua các đơn vị tục ngữ về thời tiết về giới tự nhiên, về mối quan hệ của con người với thế giới tự nhiên ta thấy được ở đó là sự tinh tế của nhân dân lao động trong cách nhìn cách đánh giá về các hiện tượng tự
nhiên Ta thấy nhiều đơn vị như: chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa; gió bấc hiu
hiu, sếu kêu thì rét; ráng vàng thì nắng, ráng trắng thì mưa,… đều là những kinh
nghiệm quý báu mà nhân dân đúc kết được khi quan sát thời tiết Tục ngữ về lao động sản xuất thường phản ánh tập quán làm ăn của nhân dân ta bao đời Thường xuất hiện trong tục ngữ là những kinh nghiệm như kinh nghiệm về trồng trọt, đặc
biệt là trồng lúa: nhai kỹ no lâu, cày sâu lúa tốt; khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen;
làm ruộng không trâu, làm giàu không vợ/ thóc,…Trong tục ngữ về kinh nghiệm
sản xuất của dân tộc ta thấy cũng có nhiều đơn vị tục ngữ có nội dung nói về kinh
nghiệm chài lưới như: tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông, và chọn giống trong chăn nuôi như: chấm trán, lọ đuôi, không nuôi cũng vậy (chọn lợn) ; gà đen chân
t rắng mẹ mắng cũng mua, gà trắng chân chì mua chi giống đó (chọn gà),… Bên
cạnh đó, tục ngữ còn có nhiều đơn vị viết về các ngành nghề thủ công truyền thống
của dân tộc như nghề gốm: “nhất dáng nhì men, ba chàm, bốn vẽ”, nghề dệt: “con
gái thấy hoa vải to như bò thấy nhà táng”… Nhìn chung tục ngữ về kinh nghiệm
lao động sản xuất, về dự báo thời tiết chiếm số lượng không nhiều trong kho tàng tục ngữ nói chung như tục ngữ về con người, đời sống xã hội Bộ phận tục ngữ phản ánh về con người đời sống xã hội chiếm một số lượng rất lớn trong kho tàng tục ngữ người Việt Nội dung về con người, đời sống xã hội của trong tục ngữ vô cùng
Trang 27phong phú Từ những kí ức về thời kỳ lịch sử xa xưa của dân tộc như: ăn lông ở lỗ;
năm cha bảy mẹ,… cho đến những hiện tượng lịch sử, nhân vật lịch sử nổi bật,
những thay đổi về kinh tế chính trị ảnh hưởng đến cuộc sống nhân dân như thế nào
cũng được tục ngữ ghi lại: đít Lý Râu, đầu Án Cộng; lệnh ông, cồng bà; hăm mốt
Lê Lai, hăm hai Lê Lợi,… và cả tập tục sinh hoạt hàng ngày của nhân dân: lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng Nam; ếch tháng ba, gà tháng bảy; cơm có bữa, chợ có chiều,… Bên cạnh đó, các đặc điểm trong tổ chức, tập tục của xã hội – đơn vị cơ sở
của chế độ phong kiến Việt Nam cũng được phản ánh trong tục ngữ như: sống lâu
lên lão làng; phép vua thua lệ làng; đất có lề, quê có thói,… Tục ngữ cũng phản
ánh về các đức tính tốt đẹp của nhân dân ta như tính cẩn thận: một người biết lo
bằng kho người hay làm; tính cần cù: siêng làm thì có, siêng học thì hay; tính kiên
trì, nhẫn nại: còn nước còn tát; tinh thần lạc quan: có công mài sắt, có ngày nên
kim; sự ý thức về vẻ đẹp tâm hồn: đói cho sạch rách cho thơm; cái nết đánh chết cái
đẹp”,… Tục ngữ còn phản ánh tổ chức gia đình và những quan điểm thân tộc của
nhân dân trong xã hội phong kiến: cha truyền con nối; chết trẻ còn hơn lấy lẽ; chim
có tổ, người có tông,… Ngoài ra tục ngữ cũng phản ánh cả về các giai cấp, các tầng
lớp nhân dân, mà chủ yếu là nhân dân lao động: canh một chưa nằm, canh năm đã
dậy; muốn nói oan làm quan mà nói; tuần hà là cha kẻ cướp,… Bên cạnh những
nội dung trên tục ngữ người Việt còn phản ánh nhiều nội dung khác như tình hình đấu tranh của nhân dân chống áp bức bóc lột trong xã hội phong kiến, trong xã hội sau cách mạng tháng Tám, tình cảm gia đình của nhân dân ta, tư tưởng đạo đức tốt đẹp của nhân dân,… Nhìn chung, nội dung tục ngữ người Việt vô cùng phong phú,
đa dạng Đây là kết tinh của tinh hoa dân tộc, là những giá trị tinh thần quý báu mà đời sau có được từ bao thế hệ cha ông đi trước
1.1.2.3 Đặc điểm của tục ngữ
a) Tính ngắn gọn, hàm súc
Tục ngữ ra đời bắt nguồn từ những nhận xét, phán đoán, suy luận của con người về các hiện tượng tự nhiên và xã hội Những nhận xét, phán đoán này cần
Trang 28phải được đúc rút lại thành những kinh nghiệm chân lý thì mới có giá trị, mới có thể tồn tại được qua thời gian Hơn nữa, những kinh nghiệm này cần phải được lưu giữ, phổ biến từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác….Nhưng sự lưu giữ này chủ yếu bằng con đường truyền miệng Do đó, tục ngữ cần phải thật ngắn gọn, hàm súc mới có thể dễ dàng lưu truyền trong dân gian bằng con đường truyền miệng, ngược lại tục ngữ nếu quá dài dòng sẽ rất khó lưu truyền qua truyền miệng Ý nhiều lời ít, tiết kiệm ngôn ngữ đến mức tối đa, đó là nguyên tắc lớn nhất,
là đặc điểm nổi bật nhất của tục ngữ Tục ngữ ưa cách nói ngắn, quen nói ngắn, nói ngắn một cách thường xuyên, cũng nội dung ấy mà càng ngắn càng hay Lời nói ngắn của tục ngữ (xét về hình thức biểu đạt) là cốt để nói nhiều (xét về phương diện nội dung), nghĩa là nhằm làm tăng mức độ khái quát cho bài học kinh nghiệm Tục
ngữ thường là ngắn Đơn vị ngắn nhất chỉ có ba tiếng: may hơn khôn; túng thì
tính,… đơn vị trung bình thường những đơn vị có từ 4 đến tám tiếng: mất con còn
cháu; bụt chùa nhà không thiêng; buôn có một, bán có mười; có thờ có thiêng, có kiêng có lành;… Những đơn vị dài nhất chỉ khoảng 15 – 18 tiếng nhưng số lượng
này rất ít: đen đông, chớp lạnh, quái vàng hoa bầu, trong ba điều ấy có lành đâu (15 tiếng); dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm
ngoài ngõ (18 tiếng),…
b) Tính đối xứng
Đây là một đặc điểm nổi bật của tục ngữ, đặc điểm này ngoài việc giúp cho tục ngữ có được tính ngắn gọn, chặt chẽ mà còn tạo cho tục ngữ tính nhịp nhàng, dễ đến được với người nghe Kho tàng tục ngữ Việt Nam có rất nhiều đơn vị tục ngữ
có tính đối xứng tục ngữ có tính đối xứng có hai loại: đơn vị đối xứng đơn, đơn vị đối xứng kép
Đơn vị đối xứng đơn là đơn vị khi xét về mặt lôgic có nội dung là một phán đoán, khi xét về mặt cú pháp mỗi đơn vị tục ngữ là một câu đơn mà mỗi thành phần
câu tương đương với một vế ví dụ: tham thì thâm; con gái là cái bòn,…
Trang 29Đơn vị đối xứng kép là đơn vị khi xét về mặt lôgic có sự liên kết hai hoặc hơn hai phán đoán, khi xét về mặt cú pháp mỗi đơn vị là một đơn vị phức mà mỗi thành phần đơn vị tương đương với một đơn vị đơn
Ví dụ: đói ăn vụng, túng làm liều; nhất sĩ, nhì phân, tam cần, tứ giống,…
Trong đó loại đối xứng kép phổ biến hơn, chiếm một số lượng lớn trong toàn bộ kho tàng tục ngữ
Về nhịp: nhịp trong tục ngữ là một yếu tố quan trọng để tạo nên và góp phần làm rõ tính đối xứng của nó Nhịp trong tục ngữ vốn rất đa dạng, linh hoạt Chính vì vậy, chúng ta rất dễ bắt gặp trong cùng một đơn vị tục ngữ nhưng lại có nhiều cách ngắt nhịp
Ví dụ:
- Dâu hiền hơn/ con gái
Dâu hiền / hơn con gái
- Rể hiền hơn/ con trai
Rể hiền/ hơn con trai
Đồng thời trong một đơn vị tục ngữ nhiều khi có nhiều loại nhịp khác nhau đan xen lẫn nhau
Ví dụ: lúc thì chẳng có ai/ lúc thì ông xã/ ông cai đầy nhà (nhịp 5/4/4);
ruộng bề bề/ không bằng/ nghề trong tay (nhịp 3/2/3),… Cho dù nhịp có linh hoạt
đến đâu cũng phải gắn với ý, có như thế mới thể hiện được ý của tục ngữ Tính vần điệu của tục ngữ cũng khá đa dạng, phức tạp Hai yếu tố này luôn có sự gắn bó mật thiết với nhau để làm cho tục ngữ có tính nhạc, có sự hài hòa, có sự cân đối, sự sinh
Trang 30động Chính nhịp và vần giúp cho tục ngữ dễ dàng đến được với con người, dễ dàng
đi vào trí nhớ người tiếp nhận
Tục ngữ dân tộc là tài sản quý báu của nhân dân bao đời, đây là những sáng tạo nghệ thuật của nhân dân ta, là nơi đúc kết kinh nghiệm về thiên nhiên cuộc sống con người Qua tục ngữ các thế hệ con cháu đời sau tiếp thu được nhiều kiến thức
bổ ích mà ông cha ta có được trong chính cuộc sống của họ Tục ngữ dân tộc là một kho kiến thức rộng lớn về thế giới rộng lớn đồng thời cũng là một là một kho mỹ từ của dân tộc, ở đó có nhiều sáng tạo ngôn từ có giá trị Chính vì vậy, giá trị của tục ngữ qua bao đời vẫn còn nguyên vẹn và ngày càng được nâng cao
1.2 Lý thuyết về giới
Để có cơ sở tìm hiểu về vấn đề giới trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt trước
giới (gender) đang tồn tại trong tình hình hiện nay
1.2.1 Khái niệm Giới tính (sex)
bản nhất giữa đàn ông và đàn bà, khác biệt về cơ quan sinh dục và những khả năng sinh sản.” [87; tr.147]
Như vậy việc phân biệt giới tính (con trai – con gái) được xác định về mặt gien, và có tính phổ quát rộng rãi; còn phân biệt giới dựa trên những đặc điểm về văn hóa và dễ biến đổi
Một số tác giả khác nhấn mạnh đến yếu tố sinh học và gien trong khi định
nghĩa “giới tính là những đặc điểm sinh học của phụ nữ và giới nam được xác định
Trang 31là hình dạng của cơ quan sinh dục bên ngoài và những đặc điểm giới tính khác có thể thấy được như bộ ngực đã phát triển ở phụ nữ) Mặt khác các nhà khoa học còn phân biệt nam nữ dựa trên giới tính sinh sản giao tử (sự hiện diện của buồng trứng ở giới nữ và tinh hoàn ở giới nam) và giới tính nhiễm sắc thể (hai nhiễm sắc thể X ở giới nữ, một nhiễm sắc thể X và một nhiễm sắc thể Y ở giới nam) Đồng thời, những nghiên cứu liên văn hóa đã cho thấy những chỉ số cơ thể về sự khác biệt giới tính không cho phép chúng ta đoán trước được những vai trò mà giới nam hay giới
nữ sẽ đảm nhận trong một xã hội cụ thể nào đó Do vậy các nhà nhân học xã hội phân biệt giữa giới tính và giới, với cách hiểu giới là sản phẩm của văn hóa liên quan đến những quan niệm và hành vi được xem là phù hợp với mỗi giới tính
Theo Nguyễn Như Ý trong “Đại từ điển tiếng Việt” giới tính là một danh từ dùng để chỉ “những đặc điểm riêng của nam hoặc nữ, của giống đực hay giống
cái”
Theo Nguyễn Lân trong “Từ và ngữ Việt Nam” “giới tính (với giới: phân
cách, tính: tính chất) là đặc điểm về cấu tạo hoặc tâm lí khiến nam hoặc nữ khác nhau”
Vĩnh Tịnh trong “Từ điển tiếng Việt” giới tính là những đặc điểm chung để
phân biệt nam và nữ
Trong dự thảo luật bình đẳng giới 2006 giải thích về giới tính như sau: «Giới
tính0 0là sự khác biệt giữa giới nữ và giới nam về mặt sinh học »
Như vậy, giới tính tựu trung lại được hiểu là thuật ngữ dùng để chỉ đến những khác biệt giữa nam và nữ về mặt tâm sinh lý, là sự khác biệt về mặt sinh học giữa giới nam và phụ nữ Giới tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể thay đổi được
1.2 2 Khái niệm Giới (Gender)
Đây là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau Sau đây là những cách hiểu phổ biến
Trang 323 Trong Dự thảo Luật Bình đẳng giới0 0của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam năm
giới nam do xã hội quy định »
và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.”
trò và mối quan hệ xã hội giữa giới nam và giới nữ Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và giới nam các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được”
Ngoài ra trên trang web của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam ngày 15/ 09/
2010 cũng có sự giải thích về giới và giới tính như sau:
“ Giới và giới tính
Giới tính0 0chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ
Giới0 0chỉ0 0đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ
xã hội
Những khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ là không thể thay đổi được Những đặc điểm có thể hoán đổi cho nhau giữa nam và nữ được coi là thuộc về khía cạnh Giới
Ví dụ: Phụ nữ cũng có thể mạnh mẽ và quyết đoán Phụ nữ có thể trở thành lãnh đạo, phi công, thợ máy/kỹ sư… Ngược lại giới nam có thể dịu dàng và kiên nhẫn, có thể làm đầu bếp, nhân viên đánh máy, thư ký…
Những đặc điểm có thể hoán đổi đó là những0 0khái niệm, nếp nghĩ và tiêu chuẩn0 0mang tính chất xã hội Đó là0 0sự khác biệt về Giới0 0và nó thay đổi theo thời gian, không gian…
Giới tính là0 0bẩm sinh và đồng nhất0 0(nam và nữ khắp nơi trên thế giới đều có chức năng/cơ quan sinh sản giống nhau),0 0không thể thay đổi được0 0(giữa nam và nữ), do các yếu tố sinh học quyết định Chúng ta sinh ra là đàn ông hay đàn bà: chúng ta không thể lựa chọn và không thể thay đổi được điều đó
Trang 33Giới phản ảnh sự khác biệt giữa nam và nữ về khía cạnh0 0xã hội Những sự khác biệt này là0 0do quá trình họ1c 1mà thành,0 0đa dạng,0 0và có thể thay đổi Chúng thay đổi theo thời gian, từ nước này sang nước khác, từ nền văn hoá này sang nền văn hoá khác trong một bối cảnh cụ thể của một xã hội, do các yếu tố xã hội, lịch sử, tôn giáo, kinh tế quyết định (Địa vị của người phụ nữ phương Tây khác với địa vị của người phụ nữ phương Đông, địa vị xã hội của phụ nữ Việt Nam khác với địa vị
xã hội của phụ nữ Hồi giáo, địa vị của phụ nữ nông thôn khác với địa vị của phụ nữ vùng thành thị)
Quá trình thay đổi các đặc điểm Giới thường cần nhiều thời gian bởi vì nó đòi hỏi một sự thay đổi trong tư tưởng, định kiến, nhận thức, thói quen và cách cư
xử vốn được coi là mẫu mực của cả xã hội Sự thay đổi về mặt xã hội này thường diễn ra chậm và phụ thuộc vào mong muốn và quyết tâm thay đổi của con người.”
Hoàng Bá Thịnh trong “Xã hội học về giới” định nghĩa giới như sau: “Khái
niệm giới không chỉ đề cập đến nam và nữ mà cả mối quan hệ giữa nam và nữ Trong mối quan hệ ấy có sự phân biệt về vai trò, trách nhiệm, hành vi hoặc sự mong đợi mà xã hội đã quy định cho mỗi giới Những quy định/ mong đợi xã hội này phù hợp với các đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo; vì thế
nó luôn biến đổi theo các giai đoạn lịch sử và có sự khác biệt giữa các cộng đồng,
xã hội.”
trong xã hội, có chung những đặc điểm nhất định”
Nguyễn Lân trong “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” định nghĩa giới là “tầng
lớp người cùng một nghề nghiệp một xu hướng hoặc một cương vị xã hội”
Bên cạnh hướng nghiên cứu giới có sự phân biệt hai khái niệm giới tính và giới thì trong thực tế cũng có nhiều người quan niệm chỉ có một và một khái niệm giới Đối với những người theo quan niệm này thì họ cho rằng nếu phân biệt rạch ròi hai khái niệm giới và giới tính cũng tức là có sự phân biệt rạch ròi hai yếu tố tự nhiên và xã hội Và thực tế, hai ếu tố này không hề tách biệt rạch ròi nhau Như vậy, việc nghiên cứu giới trong ngôn ngữ chúng ta cũng có thể vận dụng một khái niệm
Trang 34giới mà không cần phân biệt với giới tính, bởi giới vốn đã bao hàm giới tính trong
đó Giới là một khái niệm có sự liên quan đến một hệ thống của các vai trò và các mối quan hệ giữa phụ nữ và giới nam được xác định không chỉ bởi sinh học mà còn
bởi bối cảnh xã hội, chính trị, và kinh tế “Giới là những tập hợp người được xếp
loại và phân biệt trên cơ sở đặc điểm giải phẫu cơ thể (trước hết và chủ yếu là cơ quan sinh dục, nhưng không chỉ có các cơ quan này), và được đông đảo các thành viên trong cộng đồng, một xã hội hay một nền văn hóa chỉ định cho những kiểu hành vi riêng, trách nhiệm và quyền lợi riêng Giới còn là mối quan hệ (giới nam xác định trong quan hệ với nữ và ngược lại) Quan hệ giới là sự tác động qua lại giữa nam và nữ theo những mẫu hình xã hội nhất định, và quan hệ này được nhìn nahanj khác nhau ở những xã hội khác nhau” [5, tr.18]
Trên đây là khái niệm về giới có thể dùng làm tiền đề cho việc nghiên cứu giới trong khoa học xã hội nói chung và trong ngôn ngữ học xã hội giới nói riêng Vận dụng những hiểu biết cơ bản trên về giới vào việc nghiên cứu tìm hiểu giới trong các đơn vị thành ngữ, tục ngữ sẽ giúp tạo ra được một cơ sở vững chắc cho vấn đề cần tìm hiểu
1.3 Sự phân chia giới trong đời sống và trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt
Đây là một vấn đề còn nhiều điều đang gây tranh cãi trong giới nghiên cứu hiện nay Nhiều người quan niệm rằng trong thực tế chỉ có hai giới, vì họ nhận thấy rằng trong giới tự nhiên đa số trường hợp chỉ có hai giới sinh học Điều này làm cho các xã hội cũng thường chia giới ra thành hai giới nam và nữ Bất chấp một thực tế rằng trong xã hội loài người không chỉ có hai và chỉ hai giới Xét về vấn đề phân
Trung Hoa trong cách phân chia giới Đó là luật chia âm - dương và chia giới thành hai giới nam – dương và nữ - âm
Trong ngôn ngữ của chúng ta cũng vậy, cụ thể là trong thành ngữ, tục ngữ sự phân chia giới trong đời sống xã hội đã đi vào một cách trọn vẹn Chúng ta thấy có
Trang 35hai và chỉ hai giới được tập trung phản ánh, được thừa nhận Nếu một giới nào khác hai giới nam và nữ xuất hiện trong ngôn ngữ thì giới đó chỉ là phi chính thức Nó không được thừa nhận một cách chính thức như hai giới nam và nữ Giới khác hai giới cơ bản trong xã hội đi vào trong ngôn ngữ thường là với góc độ tiêu cực, bị phê phán
Khảo sát thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt chúng ta thấy có rất ít sự phản ánh vào trong ngôn ngữ một giới nào khác hai giới nam và nữ Chỉ có một vài đơn vị
như: thất phu thất phụ, ái nam ái nữ, bán nam bán nữ Nhưng những đơn vị này
thường có nội dung tiêu cực khi miêu tả về những người không thuộc hai giới cơ bản nam và nữ Đồng thời nghĩa của đơn vị cũng phải dựa vào hai từ chỉ giới chính
là nam và nữ để phản ánh Điều này đồng nghĩa với việc nhân dân ta không chấp nhận một giới nào khác ngoài hai giới nam và nữ Trong hơn 1794 câu thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt được tìm thấy nói về vấn đề giới chủ yếu là nói về hai giới nam
và nữ Mặc cho cách phản ảnh giới trong thành ngữ, tục ngữ theo hướng nào, trực tiếp trong ý nghĩ của từ hay gián tiếp thông qua những hình ảnh biểu trưng đa phần
số đơn vị thành ngữ, tục ngữ chỉ trình bày về những vấn đề liên quan đến hai giới nam và nữ Cụ thể trong 1794 đơn vị thành ngữ, tục ngữ chỉ có 3 đơn vị được nêu
khác nói về một giới không phải nam hoặc nữ, Không có sự miêu tả gì phẩm chất hay tính cách, của một giới nào khác Điều này chứng minh cho thực tế trong xã hội ta cũng chỉ thừa nhận hai giới và đặc điểm này đã đi vào thành ngữ, tục ngữ Trên cơ sở này chúng tôi tiến hành nghiên cứu về hai và chỉ hai giới trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt với những vấn đề cụ thể
1.4 Tiểu kết
Tóm lại, ở chương này, chúng tôi trình bày cơ sở lý luận chung của đề tài Trong đó, lần lượt trình bày lý thuyết chung về thành ngữ, lý thuyết chung về tục ngữ và lý thuyết về giới trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt
Trang 36Thành ngữ là những cụm từ cố định, là một đơn vị từ vựng có sẵn trong hệ thống từ vựng của một dân tộc, là đơn vị ngôn ngữ và đồng thời cũng là một đơn vị mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc vì các yếu tố văn hóa mà thành ngữ đã phản ánh Chính vì vậy chúng ta có thể đồng thời gọi thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ - văn hóa Thành ngữ có những đặc điểm nổi bật là tính biểu trưng, tính hình tượng, tính dân tộc và tính cụ thể, tính biểu thái, tính điệp và đối Để phân biệt thành ngữ, chúng tôi dựa vào các tiêu chí: tiêu chí cấu tạo, tiêu chí nguồn gốc, tiêu chí biểu trưng
Đồng thời, chúng tôi cũng đưa ra lý thuyết chung về tục ngữ tiếng Việt Tục ngữ có hình thức cấu trúc tương đối ổn định, có ý nghĩa khái quát cao, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội
Vì thế, nội dung tục ngữ người Việt vô cùng phong phú, đa dạng Tục ngữ có tính ngắn gọn, hàm súc, tính đối xứng, tính vần điệu Tục ngữ dân tộc là một kho kiến thức rộng lớn về thế giới rộng lớn đồng thời cũng là một là một kho mỹ từ của dân tộc, ở đó có nhiều sáng tạo ngôn từ có giá trị Chính vì vậy, giá trị của tục ngữ qua bao đời vẫn còn nguyên vẹn và ngày càng được nâng cao
Phần lý thuyết về giới, chúng tôi trình bày hai khái niệm giới tính (sex) và giới (gender) để làm tiền đề cho việc tìm hiểu giới Khoảng 3 thập kỷ trở lại đây, trong các tác phẩm khoa học xã hội vấn đề giới được đề cập rất nhiều Khảo sát thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt chúng tôi nhận thấy có rất ít sự phản ánh vào trong ngôn ngữ một giới nào khác hai giới nam và nữ
Tất cả những điều đó sẽ là cơ sở lí thuyết để chúng tôi đi sâu khảo sát một số vấn đề về giới ở chương hai và chương ba như ngôn ngữ về giới, số lượng giới và
sự kỳ thị giới
Trang 37Chương 2:
Ngôn ng ữ về giới và quan niệm về số lượng giới được phản ảnh trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt
2.1 Nhận xét về số lượng thành ngữ, tục ngữ khảo sát
vị thành ngữ, tục ngữ có chứa từ ngữ chỉ giới Khảo sát ngữ liệu từ những từ điển thành ngữ, tục ngữ chúng tôi nhận thấy số lượng thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ giới trong tổng số thành ngữ, tục ngữ cũng chiếm một số lượng đáng kể Với một số lượng như thế thành ngữ, tục ngữ chứa từ ngữ về giới đã phản ánh được những vấn
đề cơ bản về giới trong tiếng Việt
Dựa vào nguồn tư liệu thu thập được chúng tôi cũng có đủ cơ sở để tìm hiểu những vấn đề chủ chốt của giới trong đời sống mà thành ngữ, tục ngữ lưu giữ được Đồng thời chúng tôi cũng có cơ sở để đưa ra những nhận định của mình
có yếu tố giới cũng có một số đặc điểm tương tự như ngôn ngữ dùng để nói về giới
Trang 38nói chung Ngôn ngữ giới có thể hiểu là một loại ngôn ngữ mà chỉ dùng để nói về giới này mà không dùng để nói về giới kia và ngược lại Đây là loại ngôn ngữ dành
để sử dụng riêng khi đề cập đến giới này mà không dùng khi đề cập đến giới còn lại Do đó, khi có ai đó sử dụng vượt qua ranh giới riêng biệt đó tức là dùng từ ngữ vốn chỉ để nói về giới này để nói về giới kia, lúc đó người ta gọi là mang tính hoặc
có thiên hướng của giới khác Lúc sử dụng ngôn ngữ có thiên hướng về giới khác để nói về giới này thì sắc thái tu từ thường là sắc thái tiêu cực Ngôn ngữ giới thường
có hai loại, ngôn ngữ nói về giới nam và ngôn ngữ nói về giới nữ Khảo sát trong
gồm ba loại: danh từ - giúp xác định giới, tính từ và động từ dùng để miêu tả, khắc họa đặc điểm, trạng thái về giới
Ngôn ngữ chỉ về giới có hai loại được sử dụng trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt là từ ngữ có sự xác định giới trực tiếp qua ý nghĩa từ vựng và từ ngữ nói
về giới gián tiếp bằng những biện pháp tu từ
2.2.1 Nhận xét về từ ngữ và tần số xuất hiện của từ ngữ trực tiếp chỉ giới bằng ý nghĩa từ vựng
2.2.1.1 Từ ngữ trực tiếp chỉ về giới nam qua ý nghĩa từ vựng
Từ ngữ chỉ giới nam trực tiếp chủ yếu là các danh từ Từ ngữ chỉ giới trực tiếp qua ý nghĩa từ vựng có 1261 lượt xuất hiện trong tổng 1794 đơn vị thành ngữ, tục ngữ chúng tôi thu nhập được Từ ngữ trực tiếp về giới nam trong bộ phận thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt xuất hiện trong các đơn vị thành ngữ, tục ngữ chỉ chứa yếu tố giới nam và cả trong các đơn vị thành ngữ, tục ngữ chứa cả hai yếu tố
về giới (nam và nữ) Qua các từ ngữ đó, chúng ta khá dễ dàng nhận biết đặc điểm giới tính được phân biệt trong đó do ý nghĩa từ điển của chúng đã có sự phân biệt giới rõ ràng Sau đây là những từ ngữ chỉ giới trực tiếp cùng với tần số xuất hiện cụ thể của chúng
Trang 39Bảng 2.1 Từ ngữ trực tiếp chỉ giới nam qua ý nghĩa từ vựng