1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tục thờ nước của người việt trong việc phùng thờ đức thánh tản viên ở bà vì hà nội

164 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 6,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

9 Là người say mê với những vấn đề tín ngưỡng văn hóa nguyên thủy tác giả đã quyết định chọn đề tài “ Tục thờ nước của người Việt trong việc thờ phụng Đức Thánh Tản ở Ba Vì Hà Nội” làm

Trang 1

1

BỘ VĂN HểA, THỂ THAO & DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HểA HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC HÀ

TụC THờ nước của người Việt trong việc

phụng thờ đức thánh tản ở ba vì (Hà NộI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HểA HỌC

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

2

BỘ VĂN HểA, THỂ THAO & DU LỊCHBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HểA HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC HÀ

TụC THờ nước của người Việt trong việc

Chuyờn ngành: Văn húa học

Mó số: 60310640

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HểA HỌC

Người hướng dẫn khoa học

TS Nguyễn Thị Việt Hương

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Phòng Đào tạo sau đại học, trường Đại học Văn hóa Hà Nội, quý thầy cô đã tận tình dạy dỗ, truyền thụ kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập ở trường và thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp

Đặc biệt tác giả xin tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Việt Hương đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡtrong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Tác giả cũng xin được chân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo phòng văn hoá huyện Ba Vì, cùng toàn thể ban quản lý các di tích đền Thượng, đền

Hạ, đền Trung, đền Và, đền Ngự Giội đã tạo điều kiện cho tác giả về khảo sát, điều tra, tìm hiểu thông tin… trong suốt thời gian tác giả thực hiện đề tài Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến tất cả bạn bè, gia đình và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tác giả hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tìm hiểu, thu thập các thông tin ,

tư liệu cũng như trong việc trình bày nội dung các vấn đề nhưng dotrình độ còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy kính mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo của các quý thầy cô để tác giả có thể hoàn thiện được bản luận văn này

Trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày19 tháng 09 năm 2013

TÁC GIẢ

Trang 4

4

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

****************

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS.Nguyễn Thị Việt Hương Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất kì hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác đều được trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này

Hà Nội, ngày19 tháng 09 năm 2013

TÁC GIẢ

Trang 5

5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA DANH BA VÌ VÀ TỤC THỜ NƯỚC CỦA NGƯỜI VIỆT 16

1.1 Khái quát về huyện Ba Vì 16

1.1.1 Địa giới hành chính và điều kiện tự nhiên 16

1.1.2 Đặc điểm dân cư 18

1.1.3 Đời sống kinh tế xã hội 18

1.1.4 Truyền thống lịch sử và văn hóa 19

1.2 Một số vấn đề về tục thờ nước của người Việt 23

1.2.1 Tục thờ nước trong quan hệ với đời sống sinh hoạt 23

1.2.2 Tục thờ nước trong quan hệ với hoạt động sản xuất nông nghiệp 25

1.2.3 Tục thờ nước trong quan hệ với các tục thờ khác 29

1.2.4 Tục thờ nước trong quan hệ với các sinh hoạt tín ngưỡng phổ biến của người Việt 34

1.2.5 Một số các nghi lễ, nghi thức liên quan đến yếu tố nước 39

Chương 2: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA TỤC THỜ NƯỚC TRONG VIỆC PHỤNG THỜ ĐỨC THÁNH TẢN TẠI BA VÌ 51

2.1 Lịch sử việc phụng thờ Đức Thánh Tản ở Ba Vì 51

2.1.1 Nguồn gốc việc phụng thờ Đức Thánh Tản 51

2.1.2 Sự phát triển của việc phụng thờ Đức Thánh Tản ở Ba Vì 53

2.2 Biểu hiện của tục thờ nước qua thần phả, thần tích về Đức Thánh Tản 58

2.2.1 Qua ghi chép sử sách 58

2.2.2 Qua thần phả, thần tích và truyền thuyết dân gian 64

2.3 Biểu hiện của tục thờ nước qua một số di tích 73

2.3.1 Khu di tích đền Tản Viên Sơn Thánh 73

2.3.2 Đền Ngự Giội 81

2.3.3 Đền Và 82

2.4 Biểu hiện của tục thờ nước qua lễ hội 84

Trang 6

6

2.4.1 Qua các dạng thức nghi lễ 84

2.4.2 Qua diễn xướng và trò chơi dân gian 93

Chương 3: TỤC THỜ NƯỚC NHÌN TỪ MỐI QUAN HỆ VỚI TỤC THỜ ĐÁ TRONG VIỆC PHỤNG THỜ ĐỨC THÁNH TẢN TẠI BA VÌ 99

3.1 Khái quát về tục thờ đá 99

3.2 Biểu hiện tục thờ đá trong việc phụng thờ Thánh Tản Viên 103

3.3 Bản chất sự gắn kết tục thờ nước và tục thờ đá trong việc phụng thờ Thánh Tản Viên 106

3.3.1 Thể hiện ý thức sợ hãi, sùng bái nguồn nước 106

3.3.2 Thể hiện khát vọng chinh phục nguồn nước 109

3.3.3 Thể hiện tư duy lưỡng phân, lưỡng hợp của tín ngưỡng bản cổ 114

3.4 Ý nghĩa và giá trị tục thờ nước trong hoạt động thờ phụng Thánh Tản Viên 119

3.4.1 Tăng cường tính cố kết cộng đồng 119

3.4.2 Thể hiện ý thức trân trọng và bảo vệ nguồn nước 120

3.4.3 Thể hiện khát vọng hướng về cội nguồn 122

3.5 Bảo tồn và phát huy giá trị việc phụng thờ Thánh Tản Viên 124

3.5.1 Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị việc phụng thờ Thánh Tản Viên 124

3.5.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trịviệc phụng thờ Đức Thánh Tản 126

KẾT LUẬN 136

TÀI LIỆU THAM KHẢO 140

MỞ ĐẦU

Trang 7

7

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là đất nước có bề dày truyền thống lịch sử lâu đời Sự giao thoa, du nhập của các nền văn hóa, tôn giáo và tín ngưỡng trong các giai đoạn lịch sử nhất định đã làm nền văn hóa dân gian Việt Nam trở nên hết sức phong phú, đa dạng Trong hệ tín ngưỡng dân gian tồn tại phức hợp này vẫn

có những tín ngưỡng mang những giá trị bản nguyên tối cổ tồn tại tới ngày nay, tiêu biểu trong số đó là tín ngưỡng thờ Đức Thánh Tản

Tín ngưỡng thờ Thánh Tản Viên có lịch sử hình thành từ thời đại Hùng Vương và mang đậm tính chất huyền thoại, truyền thuyết Tín ngưỡng nằm trong hệ thống thờ những thần linh bản địa cổ “Tứ bất tử” mang đậm tính chất huyền bí của dân gian Tín ngưỡng thờ Thánh Tản Viên thể hiện khát vọng của nhân dân lao động về ước mơ bất tận của con người là chinh phục giới tự nhiên Cùng với tín ngưỡng là một loạt các công trình, di tích, các nghi thức thờ cúng, lễ hội và các hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng khác có liên quan làm phong phú đa dạng thêm văn hóa tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam Nghiên cứu

về tín ngưỡng thờ Thánh Tản không phải một vấn đề quá mới mẻ nhưng nghiên cứu đặt trong quan hệ với sự liên hệ yếu tố thờ nước thì đây là một đề tài còn ít người chú ý tới

Ba Vì vốn là một vùng đất cổ gắn với nhiều huyền thoại Tín ngưỡng dân gian thờ Thánh Tản đã có ở vùng đất này từ ngàn năm nay Tín ngưỡng này có một vị trí hết sức đặc biệt trong tâm thức dân gian của cư dân Ba Vì Việc thờ phụng Đức Thánh Tản thực chất là tín ngưỡng sùng bái thiên nhiên thể ước vọng chinh phục dòng nước của con người Vùng đất Ba Vì chính là tượng trưng cho vị thánh Sơn thần chế ngự dòng nước của người Việt cổ

Trong dòng chảy của văn hóa tâm linh, sự giao thoa và tiếp biến văn hóa diễn ra liên tục, những giá trị văn hóa mới trong tín ngưỡng đa thần luôn

Trang 8

8

cú xu hướng đan xen, dung hội, chuyển húa vào nhau Tớn ngưỡng thờ Thỏnh Tản Viờn, cũng khụng nằm ngoài xu thế đú Trong hoạt động thờ phụng Đức Thỏnh Tản yếu tố nước chớnh là cội nguồn cho tớn ngưỡng thờ thần nỳi, đú là biểu trưng cho khỏt vọng thờ chinh phục tự nhiờn Nước vốn là yếu tố hàng đầu trong hoạt động sản xuất nụng nghiệp nước ta; cựng với nước là cỏc dạng thời tiết bất thường như hạn hỏn, lũ lụt đe dọa thường xuyờn đời sống nụng nghiệp Chớnh vỡ vậy mà thờ phụng nguồn nước luụn cú vị trớ trong đời sống tớn ngưỡng của cộng đồng cỏc dõn tộc Việt Thực chất của việc thờ phụng Đức Thỏnh Tản chớnh là khỏt vọng làm chủ nguồn nước, chống lại thiờn tai lũ lụt Vỡ thế trong việc thờ phụng Đức Thỏnh Tản luụn cú những yếu tố biểu hiện liờn quan tới tục thờ nước như cỏc yếu tố trong lễ hội (lễ rước nước, lễ đả ngư ) hay những biểu hiện trong thần phả thần tớch liờn quan

Tục thờ Đức Thánh Tản có quan hệ mật thiết với tục thờ nước đó là biểu hiện khát vọng của nhân dân qua lực lượng tín ngưỡng đối lập với sức mạnh của thần nước - thần núi Chính vì vậy mà trong hoạt động thờ phụng Đức Thỏnh Tản cú rất nhiều yếu tố liờn quan tới thờ phụng nguồn nước Đõy chớnh

là hai tớn ngưỡng văn húa nguyờn thủy của cư dõn Việt

Những giỏ trị văn húa mới cú khi phự hợp, cú khi khụng phự hợp (thậm chớ mõu thuẫn hoàn toàn) Chớnh vỡ vậy rất cần thiết phải cú nghiờn cứu, xem xột nhỡn nhận một cỏch kĩ lưỡng những giỏ trị cốt lừi để từ đú đề xuất cỏi gỡ cần phỏt huy, bảo tồn, cỏi gỡ cần gỡ cần điều chỉnh thậm chớ xúa bỏ nếu như khụng phự hợp Điều này đặc biệt cú ý nghĩa bởi trong thời gian gần đõy những sinh hoạt văn húa tõm linh được nhõn dõn ngày càng chỳ trọng phỏt triển, mở rộng Cỏc lễ hội khiến cho nhiều hoạt động tớn ngưỡng, tụn giỏo khụng cũn mang giỏ trị như trước nữa Những biểu hiện của tục thờ nước trong hoạt động phụng thờ đang mất dần hoặc biến tướng đi vỡ vậy nghiờn cứu đề tài để bảo tồn tớn ngưỡng là một yờu cầu cấp thiết

Trang 9

9

Là người say mê với những vấn đề tín ngưỡng văn hóa nguyên thủy tác

giả đã quyết định chọn đề tài “ Tục thờ nước của người Việt trong việc thờ

phụng Đức Thánh Tản ở Ba Vì (Hà Nội)” làm luận văn tốt nghiệp với mong

muốn sẽ góp phần nhỏ vào hoạt động nghiên cứu, bảo tồn tín ngưỡng văn hóa

cổ của vùng đất Ba Vì

2 Lịch sử vấn đề

Nhìn chung những công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Thánh Tản Viên còn thiếu tính hệ thống Những nghiên cứu này thường là những chuyên luận, biên khảo mang tính chất sưu tầm và thường được tập hợp trong nghiên cứu về xu hướng thờ đa thần Các nghiên cứu về sự phụng thờ Đức Thánh Tản trong mối liên hệ với tục thờ nước thì chưa được đề cập tới Có thể nhìn nhận tình hình nghiên cứu trước đây của đề tài theo hai giai đoạn:

Trước năm 1945: chủ yếu các công trình nghiên cứu dưới dạng cổ sử hay giai thoại, thần phả, thần tích Thánh Tản Viên có xuất hiện trong nhiều

tác phẩm có thể kể tới như: Việt Điện u linh của Lý Tế Xuyên (thế kỉ XIV) hay Dư địa chí của Nguyễn Trãi (thế kỉ XV) Nguồn tư liệu từ những cuốn

sách này còn khá khiêm tốn nhưng là nguồn tư liệu lịch sử quí giá về thần tích của tín ngưỡng

Thần phả, thần tích về Thánh Tản Viên còn được đề cập trong nhiều

bản ngọc phả cổ như : Hùng Vương ngọc phả, Tản Viên sơn ngọc phả hay ngọc phả Sự tích đức Thánh Tản Đây đều là những nguồn tư liệu lí giải

nguồn gốc sinh thành, xuất thân và cuộc đời hiển Thánh của sơn thần Tản Viên Những tư liệu phần lớn mang màu sắc truyện kể dân gian được sưu tầm, chép góp lại còn lại là những tư liệu dã sử không chính thống

Thánh Tản Viên cũng được đề cập trong bộ sử “Đại Việt sử kí toàn

thư” của tác giả Ngô Sĩ Liên Dù được đề cập trong bộ sử chính thống nhưng

Trang 10

bí hay truyền thuyết thì khá nhiều Có thể kể ra một số cuốn sách có truyện về

Thánh Tản như: Lĩnh Nam chích quái (Trần Thế Pháp), Nam hải dị nhân liệt

truyện (Phan Kế Bính - 1912) hay Sơn Tây tỉnh địa chí (Phạm Xuân Độ)

Những tư liệu tìm hiểu về Thánh Tản thời kì này còn sơ sài và mang nhiều màu sắc huyền bí nhưng đây cũng là những cứ liệu hết sức quan trong

để nghiên cứu về đức Thánh Tản Chính những tư liệu này là cơ sở để lí giải theo cách nhìn dân gian về đức Thánh Tản trong tâm thức người Việt cổ

Sau năm 1945: có khá nhiều đầu sách viết về văn hóa và văn hóa tín ngưỡng dân gian nói chung Các tác giả đều đi luận giải các vấn đề của tín ngưỡng thờ đa thần trong tâm thức người Việt Những công trình này đều có

ý nghĩa lớn trong khái quát về đề tài tín ngưỡng dân gian Một số công trình

có ý nghĩa trong định hình đời sống tâm linh của cư dân như: Tứ bất tử (1990), Đạo Mẫu ở Việt Nam (1996), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng dân

gian ở Việt Nam (2001) Giai đoạn này cũng chưa có những đề tài thực sự đi

sâu tìm hiểu tín ngưỡng thờ Thánh Tản Viên như một hiện tượng văn hóa thực sự, nhưng các công trình này cũng có đóng góp rất quan trọng để làm sáng tỏ bản chất của hiện tượng tín ngưỡng dân gian thờ đa thần, đặc biệt là tín ngưỡng thờ “Tứ bất tử” trong tâm thức người Việt cổ Tuy nhiên các nghiên cứu này cũng chưa đề cập tới mối liên hệ với yếu tố nước trong hoạt động thờ phụng một cách rõ nét

Trang 11

11

Cuốn sỏch “Thần, người và đất Việt” của Tạ Chớ Đại Trường (in lần

đầu 1990, tỏi bản 2006) đó đưa ra một cỏch nhỡn tương đối đa diện về tớn ngưỡng thờ thần tại Việt Nam Đặc biệt tỏc giả đó đưa ra một cỏch nhỡn nhận mới về sự thay đổi trong giao thoa văn húa của tớn ngưỡng thờ thần Cụng trỡnh cũng hệ thống một cỏch tương đối đầy đủ cỏc dạng thức thờ đa thần của người Việt cổ nhất là hệ thống thời thần linh bản địa Việt cổ

Tớn ngưỡng và văn húa tớn ngưỡng ở Việt Nam (Ngụ Đức Thịnh chủ

biờn, 2001) cung cấp cho đề tài một bộ khung vững chắc chuẩn xỏc về cỏi nhỡn tớn ngưỡng và tớn ngưỡng dõn gian Cụng trỡnh đó làm rừ mối quan hệ giữa tớn ngưỡng và tớn ngưỡng dõn gian; hệ giỏ trị và mặt tiờu cực của tụn giỏ tớn ngưỡng từ đú nhận thức rừ cỏi cần bảo tồn và cỏi cần thay đổi của tớn ngưỡng Cụng trỡnh này cú ý nghĩa rất lớn để hỡnh thành hệ tư duy lớ luận chung về nghiờn cứu tớn ngưỡng, tụn giỏo

Cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu về tục thờ nước cú thể kể tới như như: bài

“Vai trò của nước trong truyền thống văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á” của Trần Ngọc Thêm, “Tục thờ nước của người Việt ven sông Hồng” của Nguyễn Thị Việt Hương, hay bài: “Về một số lễ thức cầu nước cổ truyền của người

Việt” của Võ Hoàng Lan Cỏc cụng trỡnh nay cung cấp một hệ thống cơ sở

nền tảng về yếu tố thờ nước trong văn húa tớn ngưỡng cũng như cỏc nghi thức, diễn trỡnh của tục thờ nước

Nghiờn cứu về tớn ngưỡng núi chung hay một số bỡnh diện nhất định như tớn ngưỡng thờ Mẫu tớn ngưỡng thờ danh tướng thỡ tương đối phổ biến Nhưng cụng trỡnh nghiờn cứu chuyờn biệt riờng về đề tài Thỏnh Tản Viờn trong mối liờn hệ với tục thờ nước thỡ cũn rất hạn chế Hầu hết cỏc nghiờn cứu

về Đức Thỏnh Tản chỉ tập trung tỡm hiểu về tớn ngưỡng thờ phụng sơn thần qua cỏc di tớch hoặc hoạt động tổ chức lễ hội

Trang 12

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu, đề tài xác định một số nhiệm vụ:

- Tìm hiểu cơ sở hình thành việc phụng thờ Thánh Tản Viên tại Ba Vì

- Tìm hiểu những biểu hiện có liên quan tới tục thờ nước trong việc thờ phụng

- Phân tích, đánh giá rút ra mối quan hệ giữa tục thờ nước và tục thờ

đá qua tín ngưỡng thờ Đức Thánh Tản Viên

- Xác định vị trí, ý nghĩa của tín ngưỡng trong đời sống văn hóa nhân dân Ba Vì

- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị việc thờ phụng Thánh Tản Viên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài sẽ đi sâu tìm hiểu hoạt động thờ phụng Đức Thánh Tản Viên ở khu vực Ba Vì có liên quan tới yếu tố thờ nước Từ tìm hiểu các cơ sở thờ tự, lịch sử hình thành, đề tài sẽ luận giải bản chất việc thờ phụng và ý nghĩa có liên quan tới tục thờ nước trong đời sống cư dân vùng núi Ba Vì

Đề tài đi sâu tìm hiểu tục thờ nguồn nước trong mối quan hệ với tục thờ

đá gắn liền với tín ngưỡng thờ Thánh Tản Viên Thánh Tản Viên là vị thần bản cổ của dân tộc Việt có sự tiếp biến văn hóa của Đạo giáo Chính vì sự

Trang 13

13

phức hợp đề tài cần phải làm rõ một số vấn đề trong nội hàm các khái niệm

cơ bản để tránh sự trùng lặp như tín ngưỡng, tục thờ, tôn giáo

GS Ngô Đức Thịnh trong cuốn “Về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền”

quan niệm tín ngưỡng tôn giáo là một bộ phận đời sống tinh thần được con người cảm nhận chi phối phần nào cuộc sống con người là cái nằm ngoài sự hiểu biết của con người Tất cả là những cái siêu hình được con người tin và thực hành theo những môi trường tự nhiên, xã hội nhất định và đó là chất kết dính các cộng đồng, các dân tộc Cũng theo GS Ngô Đức Thịnh thì phân biệt

rõ giữa tín ngưỡng và tôn giáo là ở hệ thống giáo lý, kinh điển, giáo hội điện thờ và mối quan hệ với văn hóa dân gian

Hầu hết các quan niệm trên thế giới đều phân biệt rõ và coi tín ngưỡng

là sản phẩm của xã hội ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo Nhưng cũng có quan điểm đồng nhất hai khái niệm này là một không có sự phân biệt

Từ xem xét các quan điểm tác giả xin được đưa ra một số quan niệm:

- Tín ngưỡng có thể hiểu là niềm tin, sự ngưỡng mộ đối với một đối tượng siêu nhiên nào đó có ảnh hưởng, chi phối đến đời sống sinh hoạt của con người; là một sản phẩm văn hoá do con người quan hệ với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mà hình thành Những tín ngưỡng phổ biến như: tín ngưỡng sùng bái vật tổ, tín ngưỡng tôn sùng các anh hùng dân tộc, tín ngưỡng tôn thờ mẫu

- Tục thờ là thói quen thể hiện lòng tôn kính thần thánh, vật thiêng hoặc linh hồn người chết bằng hình thức lễ nghi, cúng bái đã trở thành lâu đời trong đời sống nhân dân, được mọi người nói chung công nhận và làm theo: tục thờ cúng tổ tiên, tục thờ nữ thần, tục thờ nước… Chỉ những tín ngưỡng nào trở thành thói quen lâu đời và được một cộng đồng người thừa nhận và thực hành mới trở thành tục thờ

Trang 14

14

- Tụn giỏo là sự phỏt triển cao hơn của tục thờ với tư cỏch một giỏo lớ, giỏo phỏp chớnh là sự phỏt triển một tớn ngưỡng, được cộng đồng thể chế, quy phạm hoỏ cao độ Mỗi tụn giỏo cần cú: một hệ thống giỏo lớ; một vị giỏo chủ đứng đầu (Chỳa Trời, đức Phật Thớch Ca, Lóo Tử); một hệ thống thể chế, nghi lễ thờ tự và nơi thờ tự; một hệ thống tổ chức gồm giỏo luật nghiờm chỉnh, giỏo hội với cỏc tớn đồ

4.2 Phạm vi nghiờn cứu

Về khụng gian: chủ yếu trong hệ thống thờ tự, thần phả và thần tớch tại khu di tớch thờ Thỏnh Tản và tứ cung (thuộc huyện Ba Vỡ – TP Hà Nội) Ngoài ra cũn khảo sỏt khu vực đền Ngự Giội, đền Lăng Xương và một số đỡnh, đền thờ Thỏnh Tản Viờn ở những khu vực khỏc

Về mặt thời gian đề tài tỡm hiểu từ giai đoạn xuất hiện tớn ngưỡng thờ

tứ bất tử (từ thời Hựng Vương – trong Hựng Vương ngọc phả) kộo dài cho đến ngày nay

5 Phương phỏp nghiờn cứu

Luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành: văn hóa học,

sử học, dân tộc học, xã hội học

Cỏc phương phỏp nghiờn cụ thể như:

Phương phỏp nghiờn cứu tài liệu: đọc, tỡm hiểu và phõn tớch một số tài liệu trong một số đầu sỏch, bài bỏo, bài nghiờn cứu liờn quan tới tớn ngưỡng văn húa dõn gian núi chung và tớn ngưỡng thờ Thỏnh Tản Viờn núi riờng

Nguồn tư liệu sử dụng để nghiờn cứu:

- Nguồn tư liệu thành văn: Một số bộ sử, một số ngọc phả như: Đại Việt

Sử Kớ Toàn Thư, Hựng Vương ngọc phả, Tản Viờn sơn ngọc phả, Ngọc phả đền Và ; một số cuốn sỏch về thần phả thần tớch như: Việt Điện u linh, Lĩnh Nam chớch quỏi, Nam hải dị nhõn ; một số đầu sỏch nghiờn

cứu về tớn ngưỡng, tớn ngưỡng thờ “Tứ bất tử”, một số bỏo cỏo, bài

Trang 15

15

nghiên cứu chuyên luận, luận văn, luận án có liên quan về lịch sử, văn hóa của vấn đề

- Nguồn tư liệu điền dã, thực địa

- Nguồn tư liệu internet: sử dụng, tham khảo một số tư liệu trên một số web, blog có nghiên cứu về tín ngưỡng văn hóa dân gian

Phương pháp điền dã khảo sát các di tích, kiến trúc thờ tự, hệ thống điện thờ, lễ hội tại các cơ sở thờ tự chính trong vùng Từ đó đối chiếu với các tư liệu thành văn nghiên cứu trong tài liệu để rút ra một hệ thống cơ bản những biểu hiện việc thờ phụng Đức Thánh Tản có liên quan tới tục thờ nước

6 Dự kiến đóng góp của luận văn

Luận văn sẽ đưa ra quan điểm mới về hoạt động phụng thờ Đức Thánh Tản trong mối quan hệ với tục thờ nước Làm rõ những biểu hiện của tục thờ nước trong hệ thống di tích, thần phả, lễ hội có liên quan tới Đức Thánh Tản trong không gian Ba Vì

Luận văn đưa ra lý giải mối quan hệ tục thờ nước với tục thờ đá đồng thời đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị tích cực của việc thờ phụng Đức Thánh Tản trong thời thời đại hiện nay

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo nội dung luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát địa danh Ba Vì và tục thờ nước của người Việt Chương 2: Những biểu hiện của tục thờ nước trong việc phụng thờ Đức

Thánh Tản tại Ba Vì

Chương 3: Tục thờ nước nhìn từ mối quan hệ với tục thờ đá trong việc

phụng thờ Đức Thánh Tản tại Ba Vì

Trang 16

16

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA DANH BA VÌ VÀ TỤC THỜ NƯỚC CỦA

NGƯỜI VIỆT 1.1 Khái quát về huyện Ba Vì

1.1.1 Địa giới hành chính và điều kiện tự nhiên

Huyện Ba Vì được thành lập ngày 26/7/1968 trên cơ sở hợp nhất các huyện cũ Bất Bạt, Tùng Thiện và Quảng Oai của tỉnh Hà Tây Thời kỳ 1975-

1978 thuộc tỉnh Hà Sơn Bình Từ năm 1978 đến năm 1991 thuộc thành phố

Hà Nội Từ năm 1991 đến năm 2008 thuộc Hà Tây Từ 1 tháng 8 năm 2008,

Ba Vì lại trở về là một huyện của Hà Nội

Trước khi sáp nhập vào Hà Nội, toàn huyện Ba Vì có 1 thị trấn và 31

xã Ngày 1 tháng 8 năm 2008, cũng như các huyện khác của tỉnh Hà Tây, huyện Ba Vì sáp nhập vào Hà Nội Tuy nhiên trước đó, ngày 10 tháng 7 năm

2008, toàn bộ diện tích tự nhiên là 454,08 ha và dân số 2.701 người của xã Tân Đức, thuộc huyện Ba Vì được sáp nhập vào thành phố Việt Trì, Phú Thọ, theo Nghị quyết của kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII về điều chỉnh địa giới hành chính giữa tỉnh Hà Tây và tỉnh Phú Thọ Hiện tại, huyện Ba Vì có tổng diện tích khoảng 428 km2 theo tổ chức hành chính gồm có 1 thị trấn là Tây Đằng (huyện lỵ) và 30 xã

Huyện Ba Vì là một huyện bán sơn địa, diện tích tự nhiên là 428 km²,

là huyện có diện tích lớn nhất Hà Nội Huyện có hai hồ khá lớn là hồ Suối Hai, và hồ Đồng Mô Các hồ này đều là hồ nhân tạo và nằm ở đầu nguồn sông Tích, chảy sang thị xã Sơn Tây, và một số huyện phía Tây Hà Nội, rồi đổ nước vào sông Đáy Ở ranh giới của huyện với tỉnh Phú Thọ có hai ngã ba sông là: ngã ba Trung Hà giữa sông Đà và sông Hồng (tại xã Phong Vân) và ngã ba Bạch Hạc giữa sông Hồng và sông Lô (tại các xã Tản Hồng và Phú Cường, đối diện với thành phố Việt Trì)

Trang 17

17

Địa hình của huyện thấp dần từ phía Tây Nam sang phía Đông Bắc, chia thành 3 tiểu vùng địa hình khác nhau: vùng núi, vùng đồi, và vùng đồng bằng ven sông Hồng

Vùng núi tập trung chủ yếu ở khu vực vườn quốc gia Ba Vì Đây là nơi

có nền địa hình cao nhất địa bàn huyện với 3 đỉnh đều đó độ cao trên 1000m Đây là nơi được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cả bức tranh sơn thuỷ hữu tình, với hệ sinh thái phong phú, thảm thực vật đa dạng Nơi đây có tiềm năng rất lớn để khai thác thế mạnh vào hoạt động du lịch nghỉ dưỡng

Theo số liệu năm 2008, diện tích rừng toàn huyện có 10.724,9 ha, trong

đó rừng sản xuất 4.400,4 ha, rừng phòng hộ là 78,4 ha và 6.246 ha rừng đặc dụng Diện tích rừng tự nhiên tập trung chủ yếu ở vùng núi Ba Vì từ độ cao

400 m trở lên

Về khí hậu, Ba Vì nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa Các yếu tố khí tượng trung bình nhiều năm

ở trạm khí tượng Ba Vì cho thấy:

Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với nhiệt độ trung bình 23°C, tháng 6 và tháng 7 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 28,6°C Tổng lượng mưa là 1832,2 mm (chiếm 90,87% lượng mưa cả năm) Lượng mưa các tháng đều vượt trên 100 mm với 104 ngày mưa và tháng mưa lớn nhất là tháng 8 (339,6 mm)

Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 3 với nhiệt độ xấp

xỉ 20°C , tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất 15,8°C; lượng mưa các tháng biến động từ 15đến 64,4 mm và tháng mưa ít nhất là tháng 12 chỉ đạt 15 mm

Đất đai huyện Ba Vì được chia làm 2 nhóm, nhóm vùng đồng bằng và nhóm đất vùng đồi núi Nhóm đất vùng đồng bằng có 12.892 ha bằng 41,1% diện tích đất đai toàn huyện Nhóm đất vùng đồi núi: 18.478 ha bằng 58,9% đất đai của huyện

Trang 18

18

Với điều kiện tự nhiên khá đặc thù Ba Vì là nơi có nhiều thắng cảnh thiên nhiên độc đáo được khách du lịch gần xa ưa thích như: Ao Vua, Khoang Xanh - Suối Tiên, hồ Tiên Sa, Thiên Sơn - Suối Ngà, khu du lịch Tản Đà, Thác Đa, hồ Suối Hai, hồ Cẩm Quỳ, rừng nguyên sinh Bằng Tạ - Đầm Long, đồi cò Ngọc Nhị Nơi có nhiều trang trại đồng quê, nhiều sản phẩm nông nghiệp phong phú Ngoài ra còn có nguồn nước khoáng nóng thiên nhiên tại Thuần Mỹ rất thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng

1.1.2 Đặc điểm dân cư

Huyện Ba Vì với dân số hơn 261 nghìn người gồm 3 dân tộc cư trú chủ yếu là Kinh, Mường, Dao Trong đó người Mường là 2,3 vạn người, người Dao là hơn 2 nghìn người Trong đó người dân tộc sinh sống chủ yếu tại 7 xã khu vực miền núi của huyện như Minh Quang, Tản Lĩnh, Ba Vì, Ba Trại, Vân Hòa, Yên Bài và Khánh Thượng Người dân tộc chiếm 40% dân số của 7 xã

miền núi Đặc biệt có xã Ba Vì người Dao chiếm gần 100% dân số xã

Chính vì vậy huyện Ba Vì theo chương trình 134, 135 của chính phủ

đã thực hiện nhiều chính sách để phát triển, giữ gìn những bản sắc đồng thời

phát triển kinh tế đồng bào các dân tộc thiểu số tại địa phương

Tuy nhiên cuộc sống của đồng bào người dân tộc Mường, Dao ở huyện

Ba Vì còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao hơn so với mức trung bình của huyện nhiều, nhiều xã có tỷ lệ hộ nghèo hơn 50% như xã Ba Vì

1.1.3 Đời sống kinh tế xã hội

Theo báo cáo tổng kết kinh tế xã hội mới nhất kết thúc năm 2012: Tốc độ phát triển kinh tế của huyện trong năm 2012 đạt 13,9%, tổng giá trị sản xuất đạt gần 14 nghìn tỷ đồng, tăng 8% so với cùng kỳ, thu nhập bình quân đầu người 24,7 triệu đồng

Trang 19

19

Về cơ bản huyện Ba Vì vẫn chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp với tỉ trọng chiếm tỉ lệ cao, tỉ lệ lao động làm nông chiếm tới 83% lao động toàn huyện

Các ngành chăn nuôi, trồng trọt tập trung vào hướng đi mới gần đây là trồng chè xuất khẩu và nuôi gia súc lấy thịt, sữa với số lượng lớn

Ngành du lịch cũng là định hướng trọng điểm phát triển mới trong vài năm trở lại đây song cũng đạt được bước đột phá đáng kể khi tăng tỉ trọng ngành dịch vụ, du lịch lên 43% với tỉ suất tăng bình quân năm về doanh thu lên tới 33,8%

Ngành nông nghiệp sản lượng lúa cả năm đạt hơn 59 tạ/ ha, gieo sạ cả hai vụ đạt gần 4.900 ha, đàn bò sữa đạt 6.043 con, tăng 47% so với cùng kỳ, sản lượng thịt xuất chuồng tăng

Tỷ lệ hộ nghèo giảm 3,2%, an sinh xã hội được đảm bảo, làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân An ninh quốc phòng được giữ vững, cải cách hành chính được đẩy mạnh

1.1.4 Truyền thống lịch sử và văn hóa

Ba Vì là vùng đất địa linh, nhân kiệt, một vùng đất tối cổ, có truyền thống văn hoá lâu đời, độc đáo, đặc trưng bởi 3 dân tộc Kinh - Mường - Dao với những phong tục, tập quán, nét văn hoá riêng biệt Ba Vì có một nền văn hoá dân gian vật thể và phi vật thể độc đáo Huyền thoại Sơn Tinh - Thủy Tinh, bản anh hùng ca hùng tráng nhất về sức mạnh Việt Nam trong thời kỳ dựng nước Những nơi thờ phụng Ngài không những chỉ lâu đời mà còn rộng khắp các nơi trong huyện Ba Vì và phủ rộng ra cả vùng Sơn Tây, Phú Thọ… Đáng chú ý nhất đó chính là cụm di tích Đền Hạ - Đền Trung - Đền Thượng thuộc quần thể di tích Tản Viên Sơn đã được công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia

Trang 20

20

Ba Vì vốn là một vùng đất cổ có lịch sử lâu đời Nơi đây vốn là phát tích của một khu vực văn hóa cổ đã có lịch sử hàng ngàn năm với truyền thống văn hóa, nghệ thuật độc đáo Nơi đây là vùng tiếp nối cuối cùng của trung tâm văn hóa xứ Đoài xưa với vùng đất tổ Phú Thọ Vùng đất này xưa là quê hương vùng đất có nhiều sáng tạo văn hóa, nghệ thuật tiêu biểu là hệ thống hàng trăm tích truyện cổ về Tản Viên Sơn Thánh được ghi chép trong các thần tích, thần phả hay lưu truyền trong các tác phẩm dân gian Ngoài ra xung quanh vùng núi Tản còn lưu truyền nhiều truyện về các anh hùng, các vị nhân thần gần gũi như: Từ Đạo Hạnh, Quận Cồ, Trạng Bùng, Phùng Hưng Những sáng tạo văn hóa dân gian này là những giá trị văn hóa tinh thần đặc sắc không chỉ làm giàu thêm đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Ba Vì mà còn là nguồn tư liệu quí giá góp phần vào bức tranh chung của đời sống văn hóa cả nước

Ba Vì có hơn 60 di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng, được phân bố đều khắp ở cả 3 vùng trong huyện Những di tích lịch sử này phần lớn có kiến trúc độc đáo gắn liền với tên tuổi các vị anh hùng của dân tộc, danh nhân văn hoá như: Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đỉnh núi Ba Vì, khu di tích K9

Trong hệ thống di tích ở khu vực Ba Vì nổi bật nhất phải kể đến kiến trúc đình làng Những ngôi đình làng tại Ba Vì hầu như giữ lại được rất nguyên vẹn giá trị kiến trúc cổ đại diện cho thời đại Đây là khu vực có rất nhiều đình làng cổ như: đình Phú Hữu, đình Phú Xuyên, đình Tây Đằng, đình Chu Quyến Trong đó có những di tích có tầm cỡ quốc gia như: đình Tây Đằng, đình Chu Quyến Ngoài ra tại đây có đình Thụy Phiêu được các nhà khoa học đánh giá là một trong những ngôi đình cổ nhất Việt Nam có niên đại năm 1531- từ thời Nhà Mạc Đình làng trong văn hóa đời sống tinh thần ở làng quê Bắc Bộ có một vị trí đặc biệt quan trọng đó là nơi tổ chức các sinh hoạt cộng đồng cũng là nơi con người thể hiện tâm tư tình cảm ước mơ

Trang 21

21

nguyện vọng gửi gắm vào Thành Hoàng của làng Những ngôi đình làng ở Ba

Vì đa phần thờ Tản Viên, chỉ một số ít khác thờ Hai Bà Trưng hoặc một số vị thần sông nước (ven sông Đà)

Khu vực Ba Vì có hàng năm diễn ra nhiều lễ hội cổ liên quan tới những tập tục tín ngưỡng đặc sắc có liên quan chỉ có ở trong vùng như hội làng Vân

Sa (xã Tản Hồng) có trò chiềng tứ dân tổ chức rước kén và cướp kén, hay tục chèo thuyền đưa chúa gái về thăm vua cha ở làng Khê Thượng đặc biệt có nhiều hội còn giữ lại được nhiều yếu tố cầu mưa của cư dân nông nghiệp như tục rước nước hội đền Và, đền Ngự Giội, hội đả ngư Những tục lệ, lễ thức, sinh hoạt văn hóa văn nghệ hay trò chơi dân gian này phản ánh sự đa dạng văn hóa trong đời sống tinh thần của nhân dân Ba Vì đồng thời biểu hiện giá trị truyền thống đến từ tài năng trí tuệ và sáng tạo nghệ thuật từ ngàn đời của

cư dân vùng núi Tản sông Đà

Khu vực vùng núi Ba Vì là nơi cư trú xen kẽ của ba dân tộc Kinh – Mường – Dao tạo ra sự đan xen văn hóa nhất định Đồng thời tạo ra sự đa dạng văn hóa sắc tộc bất nhất của tỉnh Hà Tây cũ Sự đan xen văn hóa ở khu vực này hết sức rõ nét đặc biệt là giữa người Mường và người Kinh Nhiều giá trị văn hóa của một phần bộ phận người Mường ở Ba Vì đã bị “Kinh hóa”

và ngược lại một bộ phận người Kinh bị “Mường hóa” sự thay đổi này dù không nhiều và không rõ nét nhưng tạo ra nhiều lớp văn hóa chung đặc biệt Hình tượng thần Tản Viên cũng là một nhân vật được thờ phụng mang đặc trưng của cả hai tộc người này Vùng núi Ba Vì đặc biệt có một số xã gần 100% là người dân tộc thiểu số như xã Ba Vì điều này rất tốt cho việc gìn giữ văn hóa dân tộc thiểu số Hàng năm những lễ hội độc đáo của người Mường, người Dao như: tết nhảy của người Dao, tết cồng chiêng của người Mường Đặc biệt với vị trí nằm trong khu vực Xứ Đoài xưa vùng văn hóa cổ Ba Vì kết

Trang 22

“Tứ bất tử” của điện thờ Việt tộc Ảnh hưởng văn hóa tín ngưỡng thờ cúng Thánh Tản đậm đặc và rõ nét tạo sự lan tỏa ra cả khu vực xung quanh biến vùng đất Ba Vì trở thành vùng truyền thuyết, vùng văn hóa, thờ phụng, lễ nghi liên quan đến Thánh Tản Viên

Ba Vì là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử cách mạng Nhân dân

Ba Vì vốn bình dị, thông minh, hiếu học, cần cù, sáng tạo trong lao động kiên cường, bất khuất trong chống giặc ngoại xâm điều này đã được thể hiện rõtrong hai cuộc kháng chống Thực dân Pháp và đế Quốc Mỹ xâm lược Trong thời kỳ đổi mới Đảng bộ, nhân dân huyện Ba Vì tiếp tục phát huy truyền thống quê hương, phát triển mạnh mẽ và vững chắc góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp hiện đại hóa đất nước Những thành tích mà Đảng bộ và

Trang 23

23

nhân dân huyện Ba Vì đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Mỹ, Huân chương lao động hạng nhất thời kỳ đổi mới

1.2 Một số vấn đề về tục thờ nước của người Việt

1.2.1 Tục thờ nước trong quan hệ với đời sống sinh hoạt

Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài người và sinh vật trên trái đất Theo tổng cục môi trường năm 2010 thì con người mỗi ngày cần

250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lít nước cho hoạt động công nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp

Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường nước và 44% trọng lượng cơ thể con người Để sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước và 1 tấn chất bột cần 1.000 tấn nước

Tài nguyên nước ở trên thế giới theo tính toán hiện nay là 1,39 tỷ km3, tập trung trong thuỷ quyển 97,2%, còn lại trong khí quyển và thạch quyển 94% lượng nước là nước mặn, 2% là nước ngọt tập trung trong băng ở hai cực, 0,6% là nước ngầm, còn lại là nước sông và hồ Lượng nước trong khí quyển khoảng 0,001%, trong sinh quyển 0,002%, trong sông suối 0,00007% tổng lượng nước trên trái đất Lượng nước ngọt con người sử dụng xuất phát

từ nước mưa (lượng mưa trên trái đất 105.000km3 /năm) Lượng nước con người sử dụng trong một năm khoảng 35.000 km³, trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho hoạt động nông nghiệp)

Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống trên, nước còn là chất mang năng lượng (thủy triều, thuỷ năng), chất mang vật liệu và tác nhân điều hoà khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên Có thể nói sự sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất phụ thuộc vào nước

Trang 24

24

Nước đi vào đời sống sinh hoạt của cá nhân cũng như cộng đồng một cách tự nhiên nó biểu hiện qua ngôn từ, qua cách thức tổ chức cộng đồng làng xã Trong văn hóa hiện đại những từ vựng trong sinh hoạt hàng ngày có nguồn gốc từ nguồn nước còn tồn tại khá nhiều Những từ ngữ gắn liền nguồn nước như “ quá giang”, “kéo bè kéo cánh”, “trôi chảy”, “thuận buồm xuôi gió”, “xuống nước năn nỉ”, “nguồn đào tạo”, “nguồn vốn” đều được sử dụng rất nhiểu trong ngôn ngữ hàng ngày Những từ ngữ có gốc gắn liền với đời sống sông nước hay yếu tố nước tồn tại trong văn hóa ngôn từ giao tiếp hay ngôn ngữ văn bản đã có lịch sử từ rất lâu đời Đây chính là biểu hiện sự tồn tại của nước trong văn hóa sinh hoạt

Trong đời sống tổ chức cộng đồng nước đóng một vai trò rất quan

trọng trong đời sống sinh hoạt của tập thể Trong cuốn “Bức khảm văn hóa

Châu Á” tác giả Evans Grant đề cập tới một mô hình xã hội, nhà nước được

ra đời từ sự tác động của nguồn nước đó là “mô hình xã hội thủy lực” Mô hình xã hội thủy lực được xác định là một dạng phát triển của một xã hội như một nền văn minh phát triển dựa trên tiền đề cơ bản là nguồn nước Theo Evans Grant thì các nền văn minh lớn trên thế giới đặc biệt là các nền văn minh lớn ở Châu Á đều tập trung ở gần các con sông lớn đây là nền tảng của các xã hội nguyên thủy này phát triển mạnh mẽ và cũng chính vì vậy mà yếu

tố nguồn nước có tác động và chi phối mạnh tới đời sống văn hóa cư dân nơi đây Mô hình xã hội thủy lực là mô hình xã hội chuyển cư theo dòng nước và

từ từ làm chủ nguồn nước, tổ chức đời sống cộng đồng theo nguồn nước và dựa vào nguồn nước để sinh hoạt Điều này đúng với hầu hết các xã hội tiền công xã nguyên thủy cho tới tận thời kì cận hiện đại các thành đô lớn của các quốc gia người Việt cổ đều nằm gần những dòng sông lớn

Trong đời sống tổ chức cộng đồng nước là yếu tố trung tâm và hàng đầu của đời sống sinh hoạt Từ đời sống tổ chức làng xã nhỏ bé cho đến tổ

Trang 25

25

chức cộng đồng của một quốc gia rộng lớn mô hình xã hội thủy lực vẫn luôn phù hợp Nền văn minh sơ sử đầu tiên của người Việt cổ là quốc gia Văn Lang ra đời từ sự hợp nhất các bộ lạc dưới sự cai trị của vị vua họ Hùng Quốc gia tập quyền sơ khai này nằm trên lưu vực tiếp giáp ba con sông Thao, sông Đà và sông Lô dù đây là cơ sở nền văn minh phát triển đầu tiên mở đầu thời đại phong kiến tập quyền hàng ngàn năm lịch sử Tổ chức xã hội nhỏ nhất sau này của xã hội được công nhận là một làng Đơn vị tổ chức hành chính này cũng có sự ảnh hưởng của nguồn nước trong sinh hoạt Đại đa số các làng Việt truyền thống Bắc Bộ xưa đều có giếng làng (đầu, cuối làng hoặc

cả hai) là nguồn nước đại diện cho sinh hoạt của cả làng

Nước ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống các cư dân cả trong các thành đô rộng lớn lẫn các bản làng xa xôi Thế nên chẳng phải ngạc nhiên khi yếu tố nước đóng vai trò chính trong các nghi thức, lễ hội của người Việt từ rất xa xưa cho tới tận bây giờ Trong mọi lễ hội, kể cả ngày tết cổ truyền với tư cách

là lễ hội lớn nhất của một dân tộc, người ta cũng luôn bắt gặp những lễ thức thờ nước, những tục, trò… liên quan đến thờ nước

1.2.2 Tục thờ nước trong quan hệ với hoạt động sản xuất nông nghiệp

Nước là một trong những yếu tố rất quan trọng trong đời sống sinh hoạt của con người Trên thế giới, không một dân tộc nào lại sống mà không cần tới nước Tuy nhiên vai trò của nước đối với mỗi dân tộc ở những điều kiện

tự nhiên khác nhau thì sẽ khác nhau Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp cũng vậy, đối với các quốc gia coi cây lúa nước là lương thực chủ yếu thì nước chính là yếu tố sống còn đảm bảo của cả nền sản xuất nông nghiệp

Khu vực Đông Nam Á là khu vực nhiệt đới gió mùa lượng mưa trung bình ở đây vào loại cao nhất thế giới Khoảng trên 2000mm/ 1 năm đây là điều kiện rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp đặc biệt là cây lúa nước

Trang 26

26

Với vĩ độ nằm trong khu vực Đông Nam Á nhiệt đới gió mùa ẩm Việt nam có nền khí hậu nhiệt đới gió mùa rất đặc trưng Khí hậu ở miền Bắc với bốn mùa rõ rệt (mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông) còn miền Nam là hai mùa (mùa mưa, từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 9, và mùa khô, từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 4) Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển Độ

ẩm tương đối trung bình là 84% suốt năm Hằng năm, lượng mưa từ 1.200 đến 3.000 mm,số giờ nắng khoảng 1.500 đến 3.000 giờ/năm Như vậy, nắng, mưa, nóng, độ ẩm, núi, sông ngòi, kênh rạch đã ảnh hưởng và chi phối toàn

bộ nền văn hóa Việt Nam Đồng thời với một đường bờ biển dài hơn 3200km với hệ thống sông ngòi hết sức dày đặc (trung bình cứ 20km lại có một cửa sông ) yếu tố nước có sự ảnh hưởng khá thường xuyên tới đời sống sinh hoạt cũng như hoạt động tổ chức sản xuất trong hầu khắp các lĩnh vực

Từ trong lịch sử, người Việt xưa vốn cư trú chủ yếu ở khu vực trung

du, sau đó tràn xuống vùng đồng bằng đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Hồng và sông Thái Bình – nơi lượng phù sa tương đối lớn rất phù hợp với việc trồng lúa nước Văn minh lúa nước và tập tục, tín ngưỡng gắn với nông nghiệp trên vùng đồng bằng châu thổ là văn hóa truyền thống của người Việt Quốc gia đầu tiên được biết tới cũng chính là gắn liền với sự phát triển của cây lúa trời được thần dưỡng bởi việc sử dụng nguồn nước đó chính là quốc gia Văn Lang

Dân gian vẫn nói trong sản xuất nông nghiệp: ‘‘Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống’’ Nước là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với sản xuất tiếp sau đó mới là phân bón, quá trình chăm sóc và giống cây

Khoa học ngày nay cũng đã chứng minh việc đảm bảo nguồn nước trong vụ cày cấy và trong thời gian sinh trưởng của cấy lúa cần được đặc biệt

Trang 27

27

chú ý bởi có nước thì cây lúa mới sinh trưởng và phát triển tốt được Trong

cuốn “Lúa Việt Nam trong vùng lúa Nam và Đông Nam Châu Á’’ GS Bùi

Huy Đáp nêu rõnhu cầu về nước của cây lúa cũng thay đổi tùy từng thời kỳ sinh trưởng của cây lúa:

- Trong thời kỳ mạ, lúa cần nước để sinh trưởng nhưng không nên để mạ ngập sâu và lâu vì mạ sẽ lướt cây Mạ nước gieo trên đất bùn nhão sẽ

có sự phát triển nhanh, dễ dàng vì có đủ độ ẩm và ôxy

- Thời kỳ lúa đẻ, nhu cầu về nước cao hơn, vì trong thời kỳ này, lúa sinh trưởng mạnh Vì vậy, thời kỳ con gái, lúa cần đủ nước nhưng lớp nước không được cao quá 5cm để lúa đẻ nhánh dễ dàng

- Khi lúa đứng cái, nhu cầu nước có giảm trong một thời gian ngắn nhưng khi lúa bắt đầu phân hóa đòng, phát triển đòng, trổ bông…thì nhu cầu nước lại tăng

- Lúc lúa bắt đầu chắc xanh rồi chín, nhu cầu nước giảm mạnh và giảm đến số không khi lúa chín vàng

Những đặc điểm và nhu cầu sinh lý của cây lúa như vậy cho ta thấy yếu

tố nước và ánh sáng giữ vai trò quyết định tới năng suất lúa Ngày nay với sự phát triển của khoa học kĩ thuật như tạo các giống lúa chịu hạn tốt hơn, hệ thống kênh mương tưới tiêu thuận tiện đã phần nào giúp cho quá trình sản xuất không phụ thuộc quá nhiều vào thiên nhiên nữa

Thiếu mưa vào đầu vụ sẽ gây trở ngại cho việc cày bừa đất, phải gieo cấy muộn, ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng do đó cũng ảnh hưởng tới năng suất Thiếu mưa, thiếu nước cày cấy có thể làm cho mạ mùa bị cháy khô không kịp cấy Lúc lúa trỗ cũng dễ gặp hạn cuối vụ, bị nghẹn khó trỗ thoát Trong mùa mưa lại thường có nhiều mây, làm giảm cường độ ánh sáng, độ

ẩm không khí cũng tăng cao, gió cũng thường mạnh và dễ chuyển thành bão

Trang 28

28

Lượng mưa trong mùa lại thất thường, dễ gây ngập lụt, đặc biệt mưa lớn trong những ngày cuối vụ sẽ làm giảm mạnh sản lượng thu hoạch Tất cả các giai đoạn phát triển của cây lúa nguồn nước đều có sự tác động gây ảnh hưởng đáng kể đến quá trình sinh trưởng cũng như năng suất mùa vụ

Chính từ sự phụ thuộc như vậy từ xa xưa người nông dân đã luôn dựa vào các đấng thần linh mong được sự phù hộ, che chở để có được nguồn nước

ổn định Ngoài ra nền sản xuất nông nghiệp thờ cúng nguồn nước như một tín ngưỡng sơ khai rồi sau đó phát triển thành tục thờ cũng chính là thể hiện sự khiếp sợ trước thiên nhiên Nước là tai họa đứng hàng đầu trong mọi tai họa: thủy, hỏa, đạo tặc Vì vậy, để chống lũ lụt, cha ông ta từ xưa đã biết đắp đê chống lũ

Chính vì các lí do trong sản xuất và cuộc sống, người nông dân luôn tìm về dựa vào các đấng thần linh phù hộ, họ gửi những ước vọng của mình thông qua những tục – trò dân gian hay những nghi lễ, lễ hội thể hiện sự tôn kính với nguồn nước

Vùng văn hóa Đông Nam Á không chỉ có Việt Nam, tín ngưỡng thờ nước mới có lịch sử tồn tại lâu đời và thể hiện sinh động như vậy Các quốc gia có nền đại sản xuất nông nghiệp lâu đời như Thái Lan, Lào, Miến Điện… hàng năm đều có những lễ hội rất lớn có liên quan tới nước như lễ hội năm mới té nước hàng năm hay lễ hội cầu mùa cũng có bao gồm nghi thức rước nước…Đối với Việt Nam thì nước có mặt trong mọi mặt của đời sống từ vật chất cho tới tinh thần: các trò chơi đốt pháo, đập pháo chính là có nguồn gốc

từ tín ngưỡng cầu mưa, các trò thả diều có nguồn gốc từ tín ngưỡng cầu cạn, các trò rèn luyện sức khỏe, sự khéo léo như “bắt trạch trong chum”, thi bắt vịt dưới ao, thi thổi cơm trên thuyền, đua thuyền…

Trang 29

29

Sự phụ thuộc của cây lúa vào nước là những tiền đề cơ bản dẫn tới tâm

lý phụng thờ nguồn nước, đặc biệt là nước mưa của người nông dân Việt Cũng bởi sự phụ thuộc này mà yếu tố nước đã mang trong nó tính chất hai mặt đối với sản xuất và đời sống Chính sự quan trọng của nguồn nước cũng như sự sợ hãi nguồn nước là lí do chính để hình thành tín ngưỡng rồi phát triển thành tục thờ nước của đồng bào các dân tộc Việt Nam

1.2.3 Tục thờ nước trong quan hệ với các tục thờ khác

Quan hệ giữa tục thờ nước và tục thờ đá

Thờ nước và thờ đá là hai hình thức thờ nhiên thần bản địa tối cổ của

cư dân Việt Thờ nước và thờ đá chính là thể hiện tư duy lưỡng phân xen kẽ

và khó tách rời Các nghi thức trong thờ phụng của các vị thần thờ đá luôn luôn có yếu tố của nguồn nước như nghi lễ tắm tượng, rửa tượng… Sự đối nghịch này thực chất lại chính là yếu tố cân bằng âm dương lưỡng hợp trong văn hóa dân gian

Đối với nhiều cộng đồng trên thế giới, các công cụ bằng đá không chỉ đơn thuần là vật dụng lao động, nó là vật thiêng mang ý nghĩa ma thuật Đá còn là đặc trưng cơ bản của núi Hình dáng sừng sững của núi lại thường được xem như trục vũ trụ, thông linh giữa trời và đất, đá vì thế có thể là phương tiện để truyền đạt mong muốn của con người với các thế lực siêu nhiên khác Ngay từ trong những giai đoạn đầu tiên của lịch sử phát triển loài người thì đá đã được thổi hồn mang ý nghĩa thần thánh Nó không chỉ là công

cụ sản xuất đầu tiên mà còn đại diện cho nhiều yếu tố thể hiện khát vọng con người trong chinh phục tự nhiên (sử dụng công cụ đá phá rừng sản xuất, săn bắn, canh tác, xây nhà…)

Những biểu hiện thờ mang màu sắc dân gian có liên quan tới đá từ thờ Thánh (Linh Lang đại Vương, Phù Đổng Thiên Vương, Thánh Chèm…) cho

Trang 30

30

đến thờ linh vật đá, tượng đá (Hòn Vọng Phu, Hòn Trống Mái…) đều biểu trưng đại diện cho những yếu tố cứng rắn, kì vĩ khổng lồ Những biểu trưng tâm linh này thường là đại diện cho công cụ trị thủy chinh phục nguồn nước

đó chính là những vị thần trị thủy như Sơn Tinh, Huyền Thiên Trấn Vũ… Chính vì vậy có thể thấy đó chính là những đại diện cho một mặt tương khắc trong mối quan hệ không thể thiếu với tục thờ nước

Nếu như trong mối quan hệ với tín ngưỡng thờ sinh thực khí tục thờ nước mang yếu tố âm – yoni thì tục thờ đá mang yếu tố dương – linga rất rõ ràng Yếu tố đá mang sức mạnh và sự cương vượng Đá thể hiện sự cứng rắn

và thường gắn liền tới núi và hay mang dáng dấp của những người đàn ông có hình hài và sức mạnh khổng lồ

Tục thờ nước và tục thờ đá xuất hiện trong lịch sử thờ phụng dân tộc từ thở sơ khai Đây là hai dạng thờ bản cổ có lịch sử lâu đời nhất gắn liền với hệ thống thần linh bản cổ thờ nhiên thần Biểu hiện rõ ràng nhất trong hệ thống thần linh bản địa Việt cổ tiêu biểu cho hai tục thờ này đó chính là các thần linh nhiên thần, các thần cây đá và các thần sông nước Từ những cuốn sách

xưa nhất ghi chép lại như “Việt điện u Linh” hay “Lĩnh Nam chính quái” đều

có nhắc tên các vị thần bàn cổ này Chính vì thế có thể nói trong hệ thống thờ phụng của cư dân Việt cổ các vị thần sông nước nói riêng và các lễ nghi của tục thờ nguồn nước nói chung từ lâu đã có có vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh của cư dân nước Việt

Quan hệ giữa tục thờ nước và tục thờ cây

Thờ cây hay thờ cây thiêng là tín ngưỡng có tính tối cổ phổ biến khắp các châu lục, trên thế giới cho đến ngày nay Nó là biểu hiện sự gắn bó mật thiết giữa con người với sinh thái tự nhiên Ở mỗi quốc gia, vùng miền, hội giáo ý nghĩa việc thờ cây có những nội dung khác nhau

Trang 31

31

Trong văn hóa Việt Nam, tục thờ cây cũng rất phổ biến và sự tôn kính

đã đi vào tiềm thức chưa phai của dân Việt Sử thi "Đẻ đất đẻ nước” của

người Mường nhắc đến cây si; người Việt có hẳn chuyện Mộc tinh trong Lĩnh Nam chích quái, thờ mẫu thượng ngàn và thờ cây đa, cây gạo ở mọi làng quê, đình chùa, miếu mạo hay tục thờ mía ngày tết

Đối với người Việt, cây cối là loại sinh thể đặc biệt, có đời sống trực giác tâm linh y như con người; có năng lượng phát ra và tương tác được với năng lượng của con người Vì vậy, cây cối được người Việt sử dụng trong phép điều hòa môi trường sống (phong thủy) như là những nội dung chủ đạo (cùng đá, nước, núi, phương hướng ) Mặt khác, cây còn được coi là nơi trú ngụ của các vị thần linh hay ma quỷ

Thờ cây thiêng và thờ nước có mối quan hệ nhất định trong hệ thống tín ngưỡng thờ phụng Tục thờ cây cùng với tục thờ đá và thờ nước là ba tục thờ tối cổ bản địa của cộng đồng các dân tộc Việt Trong tâm thức dân gian mối quan hệ này thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau

Thờ Tứ Pháp là tín ngưỡng thờ bốn vị thần tự nhiên có ảnh hưởng quyết định đến đời sống nông nghiệp Bốn vị thần đó là: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện Thờ Tứ Pháp thực chất chính là sự phát triển của thờ các bà Mây, Mưa, Sấm, Chớp do quá trình giao lưu Phật giáo mà thành Truyền thuyết về việc xuất hiện tục thờ bốn vị thần này được chép vào sách

“Lĩnh Nam chích quái” với tên “Truyện Man Nương” có một số chi tiết rất

đặc biệt Đó là nàng Man Nương được nhà sư tặng cho cây gậy có khả năng chọc xuống đất tạo ra nước để cứu dân chúng khi hạn hán Gậy là một dạng vật thiêng tuy không nói rõ là chất liệu gì nhưng ước chừng là một loại gỗ nào

đó Một vật có yếu tố mộc, cây lại có khả năng tạo ra nước Hình tượng cây thiêng tạo ra nguồn nước

Trang 32

32

Trong truyện còn nhắc tới chi tiết đứa bé do Man Nương sinh ra được đem cho vào rừng nhờ cây thần Dung thụ (cây Dâu) giúp Mùa lụt nọ kéo đổ cây Dung thụ trôi ra sông Dâu, người ta vớt không được, Man Nương chỉ nhẹ nhàng lấy yếm kéo cây vào bờ là xong Dân làng mừng vui cho cưa cây làm bốn khúc, tạc bốn pho tượng Mây – Mưa – Sấm – Chớp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) cho thờ ở bốn ngôi đền (sau là chùa) Còn cái nhân cây (đứa bé) biến thành hòn đá (đức Thạch Quang) bị chìm xuống nước, bà Man Nương hô một câu nó nhảy tọt vào lòng bà, hiện hòn đá được thờ ở chùa Dâu [66] Tứ Pháp bản chất là tín ngưỡng thờ cúng thần linh tạo ra nguồn nước (mây, mưa, sấm, chớp) có liên quan trực tiếp tới tục thờ nguồn nước Theo truyện ghi lại những pho tượng thờ lại có nguồn gốc từ một gốc cây thiêng (cây Dâu) theo nguồn nước đến nơi lập đền thờ Từ gốc cây thiêng tạo nên hình tượng thờ cúng biểu trưng đại diện cho tín ngưỡng thờ Tứ pháp có liên quan mật thiết với tục thờ nước

Quan hệ giữa tục thờ nước và tục thờ sinh thực khí

Tín ngưỡng phồn thực được hiểu đơn giản là sự sùng bái việc sinh nở của muôn loài nhưng những biểu hiện của nó thì lại rất đa dạng, bởi suy cho cùng, đó chính là mục đích cao nhất của cuộc sống Tục thờ sinh thực khí chính là một trong những biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực Trong đời sống văn hóa tín ngưỡng thì tục thờ sinh thực khí có mối quan hệ khá đặc biệt với tục thờ nước hay nói chính xác hơn là các lễ thức cầu nước và trị thuỷ, cầu mùa có quan hệ khá mật thiết với dạng tục thờ này

Tục thờ sinh thực khí hay tục thờ yoni và linga biểu hiện cho hai sinh thực khí nam – nữ, đực – cái, hai vị thần, hai căn nguyên của vũ trụ Phân tích chữ Phạn từ “Yoni” còn có nghĩa là sự khởi đầu của sinh mệnh và nghĩa là Nước Tín ngưỡng sùng bái sinh thực khí nữ suy ra tức là sùng bái nguồn

Trang 33

33

nước, mang ý nghĩa là thờ nước, nguồn nước là khởi đầu cho sự hình thành của con người, của muôn loài

Yoni mang nghĩa là nước, có lẽ do liên tưởng dựa trên sự tương đồng

về hình thức của hai vật được so sánh với nhau Nước giống như cái hình thoi vành ngoài con mắt lại là một mẫu hình tượng trưng khác Tuy nhiên, ngoài mối tương liên về hình thức, nước được xem là đồng nghĩa với nữ âm, với âm tinh chủ yếu bởi chúng đều cùng thực hiện chức năng khởi đầu sinh mệnh Theo quan niệm của người phương Đông, nước tạo nên con người được chứng minh bằng quá trình hình thành và sinh trưởng cụ thể của bào thai chứ không phải chỉ ở phương diện thần thoại Con người hình thành trong bào thai qua một qua trình 9 tháng 10 ngày nằm trong một bọc nước đây là xuất phát của quan điểm coi nước là cội nguồn ra đời của mỗi con người

Trong tục thờ nước thì rắn là một linh vật quan trọng đặc trưng cho nhiểu yếu tố sức mạnh của thủy thần Một sinh vật mềm dẻo, bí ẩn và không thể nắm bắt dễ dàng Trong một số biểu tượng tục thờ sinh thực khí rắn thuộc yếu tố nước như đã nói ở trên biểu trưng cho yoni lại là biểu tượng của dương vật – linga Đây là con vật đặc biệt, có rất nhiều biến thể và mang nhiều ý nghĩa Một trong những ý nghĩa khá nổi bật được gắn với rắn: nó được coi là biểu tượng của tính lưỡng trị giới tính biểu lộ ở chỗ nó vừa là tử cung, vừa

là dương vật Nét ý nghĩa này của rắn một phần xuất phát từ chính hình thể của chúng nhưng phần khác, do vai trò đem lại sự sống của hình tượng Con rắn huyền thoại tạo nên sự sinh sôi nảy nở đã khiến nó được hình dung thành một linga của trời cắm sâu vào lòng đất (cầu vồng) Sự giao hợp thiêng liêng này bao giờ cũng đi kèm với những cơn mưa, nguồn tinh quý báu khởi đầu sự sống Lớp ý nghĩa này đã đồng nhất rắn = dương vật = nước mà sự chuyển hoá vai trò thì không thể lúc nào cũng phân biệt rõ ràng được

Trang 34

34

Giống như một sinh thực khí, rắn còn là hiện thân của nhục dục, tức là hiện thân của nguồn năng lực sinh sản, mang lại công năng đầy đủ cho một dương vật sung mãn Bởi vậy, hiện tượng rắn phối ngẫu để sinh ra con người được bắt gặp ở rất nhiều huyền thoại thần linh Việt cổ Những tích truyện như rồng phun chu tinh thụ thai ra đời của Sơn Tinh, Xà Nương công chúa (đền Đồng Nhân, xã Hải Bối, Đông Anh hoặc trong mối liên hệ gián tiếp, việc nằm

mơ thấy rồng, rắn hay sinh ra một bọc như trứng rắn trong sự ra đời của Bạch Hạc Tam Giang, Thánh Gióng ở Bộ Đầu, ông Đống, ông Vực ở làng Ruộng (xã Vĩnh Ngọc, Đông Anh) cũng đều cho thấy mối liên hệ với một yếu tố mang vai trò công cụ sinh sản, khởi đầu sự sống là rắn Hình tượng rắn là sự biểu lộ đa dạng vai trò trong mối quan hệ với tục thờ sinh thực khí đó cũng chính là biểu lộ sự đa dạng của tục thờ nước trong mối quan hệ với tục thờ sinh thực khí

1.2.4 Tục thờ nước trong quan hệ với các sinh hoạt tín ngưỡng phổ biến của người Việt

Quan hệ với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Trong hệ thống nghi lễ của người Việt, thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đặc biệt chú trọng ngày giỗ Thờ cúng tổ tiên là toàn bộ các hình thức lễ nghi, cúng bái nhằm bày tỏ lòng tôn kính của các thế hệ sau với những người thuộc thế hệ đầu tiên của một dòng họ với ông bà, cha mẹ đã qua đời Tục thờ cúng

tổ tiên của người Việt ra đời từ lâu, trên cơ sở niềm tin về sự bất tử của linh hồn sau khi con người đã chết, tin rằng con người ta chết là đi về với tiên tổ nơi chín suối Tuy ở nơi chín suối nhưng ông bà, cha mẹ vẫn thường xuyên

đi về, thăm nom con cháu Do người Việt Nam coi trọng ngày mất nên vào ngày này hàng năm, người ta làm lễ cúng tưởng nhớ người chết gọi là ngày giỗ Trong ngày giỗ này, một lễ vật bắt buộc phải có để con cháu dâng lên bàn thờ là chén nước Nước ngoài yếu tố dễ tìm, phổ biến thì nó luôn được coi là

Trang 35

35

thứ sạch sẽ và quý báu, là sự thành tâm của con cháu khi bái ơn tiên tổ Đồng thời trong ngày giỗ, con cháu cũng không quên tục hóa vàng với mong muốn báo đáp cho người cõi âm một cuộc sống đầy đủ giống như khi còn sống trên trần gian: “ trần sao âm vậy” Nghi thức hóa vàng thường được thực hiện trên nền đất, khi vàng mã được hóa, lửa cháy lên, người ta đổ rượu vào để cho nước ngấm xuống đất tạo thành một vòng tròn khép kín: đất – nước – lửa Chỉ khi nước ngấm xuống đất thì người ta mới yên tâm rằng, nước đã mang những lời cầu nguyện của họ tới thế giới bên kia, và người âm đã nhận được

lễ vật từ gia đình họ [20]

Người Việt khi làm tang lễ cũng không quên đặt bát nước trên quan tài người vừa qua đời Điều này được thực hiện cùng với việc người chết phải được mang theo một chút tiền đò khi đi về nơi chín suối

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên theo nghĩa rộng hơn là phụng thờ Thủy tổ của cả dân tộc dưới hình thức Totem cũng ghi đậm dấu ấn của yếu tố nước Theo tác giả Phan Đăng Nhật, biểu tượng vật tổ của người Việt gắn liền với huyền thoại Rắn – thuồng luồng thuộc về nước, sống trong nước, từ nước ra, trở về với nước, trở thành thần sông nước và thần mưa Người dân tin rằng cầu mưa ở Thần thường được linh nghiệm

Như vậy, trong niềm tin của con người, mặc dù nước có thể hủy hoại tất cả những dấu hiệu của sự sống nhưng đồng thời, chính nước cũng đánh thức sự hồi sinh Huyền thoại về những trận đại hồng thủy trong quá khứ của tất cả các dân tộc là bằng chứng về sự cuồng nộ của tự nhiên, nhưng chính họa tiết hoa văn hình thuyền trên trống đồng, cùng với phong tục săm mình hình thủy quái lại là sự gợi mở về quan niệm linh hồn được nước dẫn dắt vào một cuộc sống mới

Trang 36

36

Quan hệ với tín ngưỡng thờ Thành Hoàng

Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng có nguồn gốc từ thời Trung hoa cổ, sau khi du nhập vào làng xã Việt Nam đã nhanh chóng bám rễ vào trong tâm thức người nông dân Việt, trở nên hết sức đa dạng Gốc của chữ Thành Hoàng là

từ chữ Thành Hào, vốn du nhập từ Trung Quốc với lịch sử đan xen giữa nhiều triều đại phong kiến tập quyền tranh đấu giành quyền thống trị Người phương Bắc khi đó để bảo vệ thành quách, lãnh thổ của quốc gia, châu, huyện của mình thường đào hào đắp thành tạo ra một khu vực cư trú được bao quanh bởi hào nước vận mệnh nhân dân trong thành lúc này gắn liền với yếu

tố nước trên cả hai phương diện tổ chức đời sống và xây dựng đời sống tín ngưỡng tâm linh

Người Việt không có truyền thống đào hào, đắp thành nhưng về cơ bản làng quê Việt vẫn có sự xẻ lạch, được khu biệt bởi những con sông, lạch nước nhỏ bao quanh Vào Việt Nam, chữ Thành Hào biến thành Thành Hoàng Thành Hoàng với người Việt là từ dùng để chỉ vị thần đứng đầu được nhân dân trong một làng thờ phụng bảo vệ làng Đó có thể là một vị nhiên thần như Phù Đổng Thiên Vương, một thần núi như Tản Viên Sơn thần, một vị nhân thần có công với dân với nước như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Dã Tượng lại có khi là các yêu thần, tà thần với nhiều sự tích hết sức lạ lùng, nhiều khi có vẻ vô lý Tuy nhiên các Thành Hoàng được vua sắc phong (trừ những tà thần, yêu thần ) luôn luôn tượng trưng cho làng xã mà mình cai quản là biểu hiện của lịch sử, của đạo đức, phong tục, pháp luật cũng như hy vọng sống của cả làng

Trong văn hóa tâm linh của người Việt từ xa xưa tín ngưỡng thờ Thành Hoàng luôn luôn có sự gắn kết nhất định với yếu tố nguồn nước từ đình làng cho đến lễ nghi diễn xướng, lễ hội Đầu tiên là về vị thế đặt đình, hầu hết các

Trang 37

37

ngôi đình đều hướng mặt ra sông hoặc ao hồ Địa thế thường gặp là thường có

ao trước cửa đình Hiện tượng này gặp ở hầu hết các đình làng ở Bắc Bộ Ao

có thể rộng hoặc hẹp có khi lại là một nhánh sông cụt hoặc là ao giả nhỏ hình bán nguyệt, cũng có khi là cả một hồ nước rộng lớn Lý giải theo địa vực phong thủy nhiều ý kiến cho rằng đây là sự cân bằng âm dương cho các ngôi đình tựa kiến trúc “đạp thủy”

Trong tín ngưỡng thờ cúng dân dã làng xã có rất nhiều vị Thành Hoàng được thờ phụng gián tiếp hay trực tiếp liên quan tới tục thờ nước Họ có thể là

vị thần chủ nguồn nước hoặc những vị thần có sức mạnh trấn diệt nguồn nước Trong hệ thống Thành Hoàng thì đây là các vị Sơn thần và các vị Thủy thần gắn bó với huyền tích địa phương các làng xã Các địa phương thờ Thủy thần thường ở ven biển, ven sông (sông Đáy, sông Hồng, sông Cầu ) hoặc nơi có các đầm, hồ lớn Danh xưng các thần cũng tùy các địa phương mà khác nhau như: Linh Lang, Long Vương, Tam Giang, Tứ vị Thánh Nương Các vị thủy thần được thờ trong đình làng bao gồm cả thần biển và thần sông nước Những vị thần có nguồn gốc liên quan tới nguồn nước là thần chủ của một làng có vai trò và ảnh hưởng rất lớn tới đời sống cư dân làng xã [58]

Trong tín ngưỡng thờ Thành Hoàng một hoạt động không thể thiếu hàng năm đó là tổ chức lễ hội nhằm tôn vinh, tưởng nhớ công ơn của thần đối làng xã Trong các nghi lễ của hầu hết các ngôi đình Việt có một nghi lễ không thể thiếu là lễ rước nước Lễ rước nước về tắm tượng Thánh là nghi lễ trang nghiêm biểu hiện sự quan trọng của yếu tố nước trong văn hóa dân gian làng xã Nước được lấy từ nơi có nguồn trong sạch, linh thiêng (có thể giữa sông hoặc trong giếng làng tùy địa phương) được rước trang nghiêm về đình làng để tắm ngai và tượng Thánh Đây là một trong những nghi lễ quan trọng trong diễn trình của bất cứ một lễ hội làng truyền thống nào

Trang 38

38

Quan hệ với tín ngưỡng thờ Mẫu

Thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian thuần Việt, có lịch sử lâu đời, biến chuyển thích ứng với sự thay đổi của xã hội Hiện nay, tín ngưỡng này vẫn đang được thực hành phổ biến và đa dạng ở khắp các vùng miền

Trong hệ thống thờ mẫu tứ phủ thì Mẫu Thoải là đại diện cho hình tượng bà mẹ cai quản vùng sông nước Đây cũng được coi là hình tượng thờ

có hệ thống và tín ngưỡng lễ nghi đầy đủ nhất về một vị thần có nguồn gốc gắn liền với tục thờ nước Mẹ nước, Bà Thủy, hay Mẫu Thoải (âm đọc chệch

đi từ chữ Thủy) hay bà chúa Sông, Bà Lạch là những danh xưng khác nhau để gọi Mẫu Mẫu Thoải theo quan niệm dân gian là người cai quản tất cả vùng sông nước bao gồm các loài thủy tộc và có nhiệm vụ chăm lo đời sống dân cư ngư nghiệp Mẫu Thoải chính là một vị thủy thần theo màu sắc của tín ngưỡng thờ Mẫu dân gian Vị thần chủ này có xuất thân và khu vực cai quản gắn bó mật thiết với nguồn nước

Trong tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu hình tượng rắn hay Ông Lốt là hình tượng xuất hiện trong nhiều điện thờ Mẫu Rắn chính là linh vật đại diện cho thủy thần Xuất phát từ môi trường tự nhiên gắn với điều kiện sông nước, hình tượng rắn đã được đồng hóa với thủy thần, đi vào tâm thức dân gian Việt Nam từ rất sớm và thường gắn với tục thờ các vị thần tự nhiên Có thể tìm thấy các đền thờ thần rắn dọc theo sông Hồng, sông Cầu, sông Đuống… và qua các di tích, lễ hội như : Thần tích và hội làng Linh Đàm thờ vị thủy thần Bảo Ninh hay hội làng Thủ Lệ Theo thần tích và truyền thuyết này đều nhắc tới rắn như biểu tượng của thủy thần Hình tượng Ông Lốt trong tín ngưỡng thờ Mẫu cũng có ý nghĩa tương tự Ông Lốt trong các điện thờ Mẫu dưới dạng Thanh Xà, Bạch Xà vừa là đại diện cho hình ảnh thủy thần vừa làm rõ nét hơn bản chất Mẫu Thoải trong tam tòa Thánh Mẫu là một vị thủy thần

Trang 39

Sự phụng thờ nguồn nước còn thể hiện trong việc thờ Thủy Thần – một

hệ thống các vị thần liên quan đến vùng sông nước Thờ Thủy thần (hay Hà Bá) được hiểu là những quyền năng siêu nhiên thuộc thế giới nước thì lễ rước nước là không thể thiếu

Những lễ hội có lễ rước nước tiêu biểu cho tục thờ thủy thần như:

- Hội làng Linh Đàm (Thôn Linh Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội),

- Hội Làng Thủ Lệ (Ngọc Khánh – Ba Đình – Hà Nội) thờ Linh Lang Đại Vương,

- Hội Làng Yên Nội (Thôn Yên Nội, xã Liên Mạc, Huyện Từ Liêm, Hà Nội) thờ Thổ Lệnh Bạch Hạc Tam Giang…

Trong các lễ hội, thì nghi thức rước nước luôn xuất hiện là điểm tương đồng, nổi bật trong diễn trình lễ hội Lễ rước nước (còn gọi là lễ cấp thủy) là một nghi thức tâm linh rất đặc biệt biểu hiện tín ngưỡng cầu nước của các cư dân sống với nền văn minh lúa nước ven sông Hồng Thông qua nghi thức này người dân cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu

Lễ rước nước thường được diễn ra vào ngày đầu tiên của lễ hội với các quy định khá giống nhau Một buổi lễ rước nước thường được khởi đầu sau khi cụ chủ tế làm lễ khẩn cáo, xin phép thần thánh, các đội lần lượt rước cờ hội, chiêng trống ra khỏi di tích, tiếp sau là đội tế nam, đội tế nữ, phường bát

Trang 40

40

âm và kiệu chóe Trong một số trường hợp các kiệu ngai không được rước ra khỏi hậu cung trong nghi thức rước nước này (như rước nước ở đền Chèm, Lệ Mật…) khi đó nghi thức rước nước chỉ mang ý nghĩa khởi đầu Ngược lại ở một số lễ hội khác, các kiệu ngai được rước toàn bộ ra khỏi cung, đi cùng kiệu chóe đến sát vị trí lấy nước mới dừng, để rồi sẽ đóng vai hộ tống kiệu nước về cung (Hội Nhật Tân, Hội làng Yên Nội )

Những nghi thức này thường là trung tâm của lễ hội, khi nước được rước về, các Thánh hồi cung là kết thúc Vì vậy, những lễ rước nước cùng kiệu Thánh này sẽ được tổ chức quy mô lớn, thu hút sự chú ý của nhiều người, đoàn rước vì thế mà có số lượng người tham gia đông hơn Khi đoàn rước đã tới điểm lấy nước, nghi thức phổ biến thường là: có một thuyền nhẹ chở kiệu chóe và lễ vật cùng một số ít những người được lựa chọn sẽ tiến về phía giữa sông, thuyền ngược dòng đến một vị trí đã được quy định, sau đó thường quay theo hướng ngược chiều kim đồng hồ (tức chiều phải qua trái rồi mới dừng) Vị trí được quy định lấy nước có thể có nhiều cách xác định khác nhau nhưng ý nghĩa chính của việc xác định này là đảm bảo nước ở vị trí được chọn phải trong nhất

Nguồn nước vốn đã mang ý nghĩa khởi nguồn cho cuộc sống nhưng khi được đón về bằng những hành vi mang tính ma thuật, sức mạnh chi phối cuộc sống của nó đã được nhân lên Đây là lý do vì sao các lễ rước nước có bài vị Đức Thánh đi kèm thường phải đổi thứ tự đoàn rước khi trở về Khi đi chỉ có kiệu chóe nên Đức Thánh được trân trọng rước trước Trở về, nguồn nước linh thiêng đã thay thế vị trí này Trật tự của thế giới thần linh được con người áp đặt bởi quan niệm về vai trò đối với cuộc sống

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2010), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2010
2. Toan Ánh (1992), Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam (quyển hạ), Nxb Khoa học xã hội, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam (quyển hạ)
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1992
3. Toan Ánh (1992), Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam (quyển thượng), Nxb Khoa học xã hội, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam (quyển thượng)
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1992
4. Phan Thị Bảo (2011), Các cung đền thờ đức Thánh Tản Viên, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cung đền thờ đức Thánh Tản Viên
Tác giả: Phan Thị Bảo
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2011
5. Phan Kế Bính (1930), Nam Hải dị nhân, Kiểm học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Hải dị nhân
Tác giả: Phan Kế Bính
Năm: 1930
6. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1997), Từ điển Biểu tượng văn hoá thế giới, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Biểu tượng văn hoá thế giới
Tác giả: Jean Chevalier, Alain Gheerbrant
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1997
7. Hoàng Xuân Chinh (2009), Các nền văn hóa cổ Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nền văn hóa cổ Việt Nam
Tác giả: Hoàng Xuân Chinh
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2009
8. Jean Cuisinier (1996), Người Mường – địa lý nhân văn và xã hội học, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Mường – địa lý nhân văn và xã hội học
Tác giả: Jean Cuisinier
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1996
9. Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Hữu Tưởng (1993), Bản dịch Ngọc Phả đền Và, Viện Hán Nôm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản dịch Ngọc Phả đền Và
Tác giả: Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Hữu Tưởng
Nhà XB: Viện Hán Nôm
Năm: 1993
10. Phạm Anh Dũng (2008), Bản đồ du lịch nam Hà Nội, Nxb Bản đồ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ du lịch nam Hà Nội
Tác giả: Phạm Anh Dũng
Nhà XB: Nxb Bản đồ
Năm: 2008
11. Nguyễn Đăng Duy (2001), Đạo giáo với văn hóa Việt Nam, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo giáo với văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2001
12. Bùi Huy Đáp (1979), Lúa Việt Nam trong vùng lúa Nam và Đông Nam Châu Á, H- Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lúa Việt Nam trong vùng lúa Nam và Đông Nam Châu Á
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Năm: 1979
13. Phạm Xuân Độ (1941), Sơn Tây tỉnh địa chí, Kiểm học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơn Tây tỉnh địa chí
Tác giả: Phạm Xuân Độ
Năm: 1941
14. Lê Thị Hiền (2007), Việc phụng thờ Sơn Tinh ở Hà Tây bản chất và nguồn gốc, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc phụng thờ Sơn Tinh ở Hà Tây bản chất và nguồn gốc
Tác giả: Lê Thị Hiền
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
15. Nguyễn Duy Hinh (2001), Người Việt Nam với Đạo giáo, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Việt Nam với Đạo giáo
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
16. Hồ sơ di tích đền Dội, (thôn Duy Bình, xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc), tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Bảo tàng tỉnh Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ di tích đền Dội
17. Hồ sơ di tích đền Và, (thôn Vân Gia, xã Trung Hưng, thị xã Sơn Tây), tài liệu đánh máy, lưu trữ tại Ban quản lý di tích đền Và Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ di tích đền Và
18. Nguyễn Việt Hùng (2011), Sự tích vọng phu và tín ngưỡng thờ đá ở Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tích vọng phu và tín ngưỡng thờ đá ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Việt Hùng
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2011
19. Nguyễn Thị Việt Hương (2005), ‘‘Tục thờ nước của người Việt ven sông Hồng’’, Tạp chí văn hóa dân gian, số 6, tr.45 – 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục thờ nước của người Việt ven sông Hồng
Tác giả: Nguyễn Thị Việt Hương
Nhà XB: Tạp chí văn hóa dân gian
Năm: 2005
20. Nguyễn Thị Việt Hương (2007), Tục thờ nước ở Hà Nội và phụ cận, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục thờ nước ở Hà Nội và phụ cận
Tác giả: Nguyễn Thị Việt Hương
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w