Trước năm 2006, ở nước ta đang tồn tại nhiều bảng phân loại khác nhau như bảng phân loại Thập tiến quốc tế, bảng BBK Bibliotechno-Bibliograficheskaia Klassifikaxiva, khung phân loại dùng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG KHUNG PHÂN LOẠI DDC ẤN BẢN RÚT GỌN 14
TIẾNG VIỆT TẠI THƯ VIỆN
QUỐC GIA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THƯ VIỆN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LÊ VĂN VIẾT
HÀ NỘI – 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân tác giả còn nhận được sự chỉ dẫn hết sức tận tình của Tiến sĩ Lê Văn Viết, người hướng dẫn khoa học
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến quý thầy, cô giáo Khoa Sau đại học Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã giảng dạy và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập
Nhân dịp này, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đối với gia đình và bạn bè đồng nghiệp trong cơ quan đã giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Do còn nhiều hạn chế nên những thiếu sót của luận văn là điều không tránh khỏi Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quí thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả Nguyễn Thị Lan Hương
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AACR2 Anglo-American Cataloguing Rules – Biên mục Anh Mỹ
BBK Bibliotechno Bibliograficheskaia Klassifikaxiva - Khung phân
loại BBK
DDC Dewey Decimal Classification – Khung phân loại DDC
MARC 21 Khổ mẫu biên mục máy tính
OCLC Online Computer Library Center – Trung tâm thư viện điện tử
trực tuyến OPAC Online Public Access Catalog – Mục lục tra cứu trực tuyến
TVQGVN Thư viện Quốc gia Việt Nam
TTKHXH Trung tâm thông tin khoa học xã hội
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1: VAI TRÒ CỦA KHUNG PHÂN LOẠI DDC Ở THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM 13
1.1 VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC PHÂN LOẠI TÀI LIỆU TRONG HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN 13
1.1.1 Khái niệm phân loại: 13
1.1.2 Vai trò của công tác phân loại tài liệu 15
1.1.3 Ý nghĩa, ứng dụng của công tác phân loại tài liệu trong thư viện 17
1.2 GIỚI THIỆU VỀ KHUNG PHÂN LOẠI THẬP PHÂN DDC 18
1.2.1 Lịch sử ra đời của khung phân loại thập phân DDC 18
1.2.2 Sự phát triển của khung phân loại thập phân DDC 19
1.2.3 Cấu trúc và cơ chế của khung phân loại thập phân DDC 21
1.2.4 Sự phổ biến của DDC trên thế giới: 39
1.3 QUÁ TRÌNH DỊCH, THÍCH NGHI VÀ XUẤT BẢN, CÔNG BỐ DDC 14 41
1.3.1 Quá trình thích nghi 41
1.3.2 Quá trình dịch 42
1.3.3 Thích nghi DDC vào hoàn cảnh Việt Nam 45
1.3.4 Công bố DDC 14 bản tiếng Việt 48
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG KHUNG PHÂN LOẠI DDC Ở THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM 50
2.1 CÔNG TÁC PHÂN LOẠI Ở THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM TRƯỚC KHI XUẤT HIỆN DDC 50
2.1.1 Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của Thư viện Quốc gia Việt Nam 50
Trang 52.1.2 Nguồn nhân lực và cơ cấu tổ chức của Thư viện Quốc Gia Việt Nam 52
2.1.3 Nguồn lực thông tin của Thư viện Quốc gia Việt Nam 52
2.1.4 Hoạt động xử lý thông tin và phân loại tài liệu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam 55
2.2 NHU CẦU ÁP DỤNG DDC Ở VIỆT NAM 63
2.2.1 Khắc phục sự đa dạng các khung phân loại ở Việt Nam 63
2.2.2 Hội nhập với quốc tế về công tác phân loại 64
2.2.3 Khai thác, trao đổi dư liệu thư mục đối với các nước khác 64
2.3 CÔNG TÁC CHUẨN BỊ ÁP DỤNG DDC TẠI THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM 65 2.3.1 Công tác tư tưởng 65
2.3.2 Mở các lớp tập huấn về DDC cho cán bộ thư viện 66
2.3.3 Thành lập ban chỉ đạo áp dụng khung phân loại DDC 67
2.3.4 Quy mô áp dụng khung phân loại DDC 14 tại TVQGVN 68
2.3.5 Biên soạn tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ tại TVQGVN 69
2.4 THỰC TẾ TRIỂN KHAI ÁP DỤNG TẠI THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM 75
2.4.1 Công tác phân loại tài liệu tại phòng phân loại biên mục của TVQGVN 75
2.4.2 Ứng dụng vào tổ chức kho mở 78
2.4.3 Ứng dụng vào biên soạn thư mục quốc gia 80
2.4.4 Công tác đào tạo hướng dẫn ứng dụng cho các thư viện ở Việt Nam 80
2.5 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG KẾT QUẢ PHÂN LOẠI TÀI LIỆU KHUNG PHÂN LOẠI DDC TẠI TVQGVN 83
2.5.1 Đánh giá chất lượng qua mẫu tìm cụ thể 83
2.5.2 Đánh giá chất lượng qua ý kiến của cán bộ thư viện ở các thư viện thuộc đồng bằng Sông Hồng 86
2.5.3 Đánh giá chất lượng qua ý kiến người sử dụng thông tin: 88
Trang 62.6 NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG KHUNG PHÂN LOẠI DDC TẠI THƯ VIỆN
QUỐC GIA VIỆT NAM 91
2.6.1 Ưu điểm 91
2.6.2 Hạn chế 93
2.6.3 Nhận xét chung 95
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG KHUNG PHÂN LOẠI DDC 97
3.1 TẠO SỰ THỐNG NHẤT NHẬN THỨC VỀ ÁP DỤNG DDC TỪ TRÊN XUỐNG DƯỚI 97
3.2 THÀNH LẬP BAN ÁP DỤNG DDC CHO TOÀN NGÀNH THƯ VIỆN 99
3.3 NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ CỦA CÁN BỘ XỬ LÝ 100
3.4 NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH VIỆC ỨNG DỤNG DDC 103
3.4.1 Thường xuyên hồi cố, kiểm tra, hiệu đính cơ sở dữ liệu của TVQGVN 103
3.4.2 Thực hiện biên mục tại nguồn 106
3.4.3 Biên soạn các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ 108
3.4.4 Đẩy mạnh công tác hướng dẫn áp dụng DDC trong cả nước 110
3.5 DỊCH VÀ ÁP DỤNG KHUNG PHÂN LOẠI DDC 22-23 112
KẾT LUẬN 115
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Công tác phân loại luôn được các thư viện và cơ quan thông tin trên thế giới hết sức quan tâm Phân loại tài liệu là một khâu quan trọng trong công tác nghiệp vụ thư viện nhằm mục đích tổ chức kho tư liệu và bộ máy tra cứu thông tin trong các cơ quan thông tin-thư viện
Mục đích cuối cùng của hoạt động xử lý thông tin là nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho người sử dụng tin trong việc tra cứu tin Trên thế giới và một số thư viện lớn ở Việt Nam, phân loại được áp dụng sâu rộng trong việc
tổ chức kho mở và tra cứu thông tin Chuẩn hóa đã và đang trở thành một yêu cầu khách quan của bất cứ ngành nghề hoạt động nào trong xã hội Vấn đề chuẩn hóa nói chung và chuẩn hóa trong công tác xử lý nghiệp vụ thư viện nói riêng như là một điều kiện tiên quyết để các thư viện ở Việt Nam có thể hội nhập và phát triển trên thế giới Trước xu thế hội nhập hiện nay, để có thể chia sẻ và trao đổi thông tin, các thư viện không thể không thực hiện chuẩn hóa các khâu công tác liên quan đến đến xử lý tài liệu
Trước năm 2006, ở nước ta đang tồn tại nhiều bảng phân loại khác nhau như bảng phân loại Thập tiến quốc tế, bảng BBK (Bibliotechno-Bibliograficheskaia Klassifikaxiva), khung phân loại dùng cho các Thư viện khoa học tổng hợp, khung đề mục hệ thống Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ Quốc gia (gọi tắt là khung đề mục Quốc gia vv…) trong đó nhiều
cơ quan sử dụng cùng lúc hai, ba khung phân loại, điều này gây lãng phí và công sức và phiền phức cho công tác phân loại tài liệu Phần lớn các bảng phân loại không cập nhật thường xuyên nên có nhiều thiếu sót, do đó đã có nhiều cuộc họp về chuẩn nghiệp vụ diễn ra trong đó có bảng phân loại chuẩn nhằm giải quyết vấn đề này
Trang 8Nhận thức được điều này, trong những năm vừa qua, TVQGVN với mục đính hội nhập và trao đổi thông tin, chia sẻ tiềm lực thông tin với các trung tâm thông tin và các thư viện lớn trong khu vực và trên thế giới, đã áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về truy cập và trao đổi thông tin trong các hoạt động thư viện và dịch vụ thông tin mà AACR2, MARC 21 và DDC là 3 công
cụ quan trọng
Sau khi có quyết định của Bộ Thông tin-Truyền thông, TVQGVN đã dịch khung phân loại thập phân Deway và bảng chỉ mục quan hệ rút gọn ấn bản lần thư 14 Vì theo đánh giá chung, bảng này phù hợp với tình hình thư viện hiện nay Năm 2006, bảng rút gọn DDC 14, phiên bản tiếng Việt đã được công bố
Ngày 7/5/2007, Bộ Văn hóa -Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch) đã ban hành công văn về “việc áp dụng chuẩn hóa nghiệp vụ trong các thư viện Việt Nam”
Theo quyết định số 1598/BVHTT-TV ban hành ngày 7/5/2007 các thư viện trong cả nước áp dụng khung phân loại DDC trong công tác phân loại Khung phân loại thập phân Deway mang tính quốc tế cao được hơn 200.000 thư viện trên 135 quốc gia đang sử dụng Chỉ số phân loại DDC được sử dụng trong thư mục quốc gia của hơn 60 nước trên thế giới trong đó có 15 nước thuộc khu vực Châu á-Thái bình dương, 13 nước ở châu Mỹ, 8 nước ở Châu
Âu, 7 nước ở Trung Đông Trong 125 năm tồn tại, DDC đã được dịch sang hơn 30 thứ tiếng khác nhau trên thế giới, 11 bản dịch đang được tiến hành, một số nước trên thế giới đã đưa ký hiệu DDC vào mục lục điện tử và các thư mục trên máy vi tính Một trong những đặc điểm rất mạnh của DDC là được cập nhật liên tục DDC thường xuyên được sửa chữa, bổ sung, xuất bản
TVQGVN là thư viện đứng đầu trong hệ thống thư viện công cộng của
cả nước, là nơi tiến hành kế hoạch dịch và áp dụng DDC 14 trong hệ thống
Trang 9thông tin thư viện cả nước từ tháng 6-2007 Trải qua 3 năm áp dụng khung phân loại DDC 14 đã thu được một số thành công nhưng cũng gặp phải một
số vấn đề cần giải quyết
Vì vậy việc nghiên cứu về quá trình áp dụng khung phân loại này để đưa
ra những đánh giá khách quan, tìm ra một phương pháp tiếp cận đúng đắn, đề xuất những giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng phân loại ở TVQGVN
là điều cần thiết Đồng thời việc làm này cũng có ý nghĩa quan trọng đối với công tác phân loại tài liệu của các thư viện khác trong cả nước vì TVQGVN có trách nhiệm hướng dẫn cho các thư viện trong cả nước áp dụng DDC Đó là lý
do thúc đẩy tác giả lựa chọn đề tài : “Nghiên cứu áp dụng khung phân loại Deway (DDC) ấn bản rút gọn 14 tại Thư viện Quốc gia Việt Nam” cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Thông tin-Thư viện của mình
2 Lịch sử nghiên cứu:
Một trong những sự kiện thu hút sự chú ý của giới thư viện Việt Nam năm 2006 là việc bản dịch khung phân loại DDC và bảng chỉ mục quan hệ rút gọn ấn bản lần thứ 14 đã được TVQGVN công bố Trong 2 năm vừa qua các thư viện và các cơ quan thông tin Việt Nam đã bắt đầu áp dụng các chuẩn nghiệp vụ mới và dành nhiều sự quan tâm chú ý đến vấn đề này Cho đến nay
đã có nhiều bài viết về khung phân loại DDC 14 cụ thể là:
- Phạm Thế Khang: Khung phân loại Dewey tiếng Việt “Ý tưởng đã
trở thành hiện thực”// Thư viện Việt Nam.- số 3 Giới thiệu qua về dự án DDC từ ý tưởng đến kết thúc bản dịch và phương án triển khai áp dụng khung phân loại DDC 14 tại TVQGVN
- Vũ Văn Sơn: Khung phân loại DDC ở Việt Nam// Thông tin và tư
liệu.- 2005.- số 1 Chỉ giới thiệu tình hình dịch và giới thiệu khung phân loại DDC trong giới thông tin thư viện ở Việt Nam Nêu quá trình mở rộng DDC 14
Trang 10trong bản dịch tiếng Việt ở các phần: môn loại lịch sử, bảng phụ địa lý, văn học
và ngôn ngữ Việt Nam, các Đảng phái chính trị và chủ nghĩa Mác-Lênin
- Vũ Văn Sơn: Tình hình dịch và mở rộng khung DDC trong tương
lai// Thông tin & Tư liệu.- 2008.- số 1.- Tr.8-15 Điểm lại lịch sử phát triển của DDC khi ra đời, đặc biệt là những thay đổi cập nhật về nội dung và cấu trúc của khung phân loại dưới ánh sáng của lý luận và thực tiễn phân loại thế
kỷ 20 Khái lược những luận điểm, ý kiến dự báo và khuyến nghị của các chuyên gia thư viện học Hoa Kỳ thời hậu hiện đại đối với DDC, nêu ra mức
độ chuyên sâu cua DDC trong tương lai Những cách tiếp cận mới nhằm xem xét và quản trị DDC trong tương lai, cuối cùng là nêu mục đích của DDC trong tương lai
- Nguyễn Thanh Vân: Áp dụng phân loại DDC tại Thư viện Quốc gia
Việt Nam đăng trên các trang Web http:// www.nlv.gov.vn nêu qua về quá trình áp dụng DDC cho công tác phân loại tại phòng biên mục Thư viện Quốc gia Việt Nam Trong quá trình xử lý phân loại có đưa ra một số quyết định thống nhất phù hợp với Việt Nam trong các mục: Tư tưởng Hồ Chí Minh; mục CN Mác-Lênin; tác phẩm văn học Việt Nam; văn học thiếu nhi; văn học dân gian và nêu lên một số khó khăn khi sử dụng DDC
- Vũ Dương Thúy Ngà: Một số vấn đề cần lưu ý trong việc ghép ký
hiệu khi sử dụng khung phân loại thập phân Dewey// Thư viện Việt Nam.- số 2
- Hướng dẫn thực hành phân loại thập phân Dewey: Tài liệu hướng dẫn
sử dụng khung phân loại thập phân Dewey rút gọn, ấn bản 14.- Tp Hồ Chí Minh: Thư viện cao học, 2007
- Nguyễn Thị Đào (2002) Khung phân loại thập phân Dewey và khả
năng áp dụng ở Việt Nam: Luận văn thạc sỹ khoa học thư viện.Trường đại học Văn hóa Hà Nội
Trang 11Công trình ngiên cứu tổng quát về khung phân loại thập phân Dewey, đánh giá những thuận lợi và khó khăn về khả năng áp dụng khung phân loại này trong thời điểm DDC đang được lựa chọn như một giải pháp chuẩn hóa công tác phân loại tài liệu trong các cơ quan thông tin thư viện Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu:
3.1 Mục đích nghiên cứu:
- Luận văn nghiên cứu hiện trạng áp dụng DDC trong Thư viện Quốc gia Việt Nam, tìm ra những ưu điểm và nhược điểm của 3 năm áp dụng khung phân loại thập phân Dewey
- Đề xuất phương hướng, phương pháp đẩy mạnh và nâng cao chất lượng ứng dụng tại TVQGVN
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khảo sát đánh giá công tác phân loại của TVQGVN trong việc dịch
và xuất bản bằng tiếng Việt DDC rút gọn 14
- Nghiên cứu thực trạng áp dụng DDC 14 tại TVQGVN
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác phân loại và quá trình áp dụng DDC
tại TVQGVN
- Phạm vi nghiên cứu: Từ năm 2000 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Đề tài sử dụng phương pháp luận Mác-Lênin biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác thư viện
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
▪ Phương pháp phân tích tổng - hợp tài liệu
Trang 12▪ Phương pháp khảo sát thực tế, phỏng vấn lãnh đạo và nhân viên các phòng xử lý nghiệp vụ ở TVQGVN
▪ Phương pháp thống kê số liệu
▪ Phương pháp phân tích so sánh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:
- Lý luận làm phong phú thêm lý luận về phân loại nói chung và phân loại theo DDC nói riêng ở các thư viện Việt Nam
- Là tài liệu đúc rút về mặt lý luận thực tiễn áp dụng DDC tại TVQGVN
- Là tại liệu tham khảo tốt cho các thư viện Việt Nam trong việc ứng dụng khung phân loại thập phân DDC
- Là tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và học tập cho các trường đại học và cao đẳng thư viện
7 Cấu trúc luận văn: gồm 3 chương
Ngoài phần mở đầu, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn chia thành 3 chương:
Chương 1: Vai trò của khung phân loại DDC ở TVQGVN
Chương 2: Thực trạng của việc áp dụng khung phân loại DDC ở TVQGVN
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng ứng dụng khung phân loại DDC
Trang 13CHƯƠNG I VAI TRÒ CỦA KHUNG PHÂN LOẠI DDC
Ở THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
1.1 VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC PHÂN LOẠI TÀI LIỆU TRONG HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN
1.1.1 Khái niệm phân loại:
■ Phân loại: Là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống
xã hội và nhiều ngành khoa học Phân loại hiểu theo nghĩa rộng là việc sắp xếp, tổ chức các sự vật, hiện tượng và toàn bộ tri thức hoặc thông tin theo một trật tự có hệ thống [13,tr.9] Đây là một hoạt động cơ bản, một hệ thống trí tuệ của con người Để nhận biết và nghiên cứu về các sự vật hiện tượng, con người đã tiến hành việc phân loại với nhiều mục đích khác nhau
Gốc của thuật ngữ phân loại trong tiếng Latinh là Classifacen Trong
đó Class là cấp bậc, loại và facen là phân chia Phân loại là phân chia một hiện tượng, sự vật… thành các lớp các cấp bậc Theo Từ điển Oxford phân
loại có hai nghĩa: Một là chỉ hoạt động phân loại và hai là chỉ sự phân chia hoặc sắp xếp có hệ thống trong một lớp hoặc các lớp [13, tr.10]
Trên cơ sở đó có thể rút ra bản chất của phân loại là sự phân chia các đối tượng, sự vật, hiện tượng thành những nhóm nhất định căn cứ vào những dấu hiệu giống nhau và khác nhau của chúng
Trong mỗi sự vật hiện tượng đều có những dấu hiệu đặc trưng nhất định giúp cho chúng ta có thể nhận biết về sự vật, hiện tượng đó Việc lựa chọn dấu hiệu đặc trưng nào làm cơ sở để phân loại sẽ quyết định tính chất của việc phân loại Dựa trên tính chất của các dấu hiệu đặc trưng cho đối
tượng phân loại mà việc phân loại được chia thành hai dạng: Phân loại tự nhiên và phân loại nhân tạo
Trang 14■ Phân loại tự nhiên: Là dạng phân loại dựa vào những đặc điểm
giống và khác nhau thuộc bản chất của sự vật, hiện tượng [13, tr.12]
■ Phân loại nhân tạo: Là dạng phân loại dựa vào những đặc điểm,dấu hiệu có tính chất thứ yếu, những đặc điểm hình thức của sự vật hiện tượng [13, tr.13]
Phân loại tự nhiên và phân loại nhân tạo tuy khác nhau về bản chất nhưng chúng đều được áp dụng rộng rãi trong đời sống, khoa học và xã hội Trong các thư viện và cơ quan thông tin, việc phân chia tài liệu theo nội dung tài liệu là phân loại tự nhiên và việc phân chia tài liệu theo hình thức, khổ cỡ của tài liệu là phân loại nhân tạo Phân loại tự nhiên và phân loại nhân tạo được kết hợp với nhau nhằm mục đích giúp cho người đọc và người dùng tin tìm kiếm tài liệu một cách nhanh chóng và thuận tiện
■ Phân loại khoa học: Là sự phân chia và sắp xếp các lĩnh vực tri thức
theo một trật tự nhất định trên cơ sở xem xét nội dung, đối tượng nghiên cứu
và phạm vi ứng dụng của nó[13,tr.14] Đối tượng của phân loại khoa học là các khoa học Phân loại khoa học có ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng các bảng phân loại và đến công tác phân loại tài liệu trong các cơ quan thông tin thư viện
■ Phân loại tài liệu: là sự phân chia các tài liệu theo từng môn loại tri
thức dựa trên cơ sở nội dung của chúng, gắn cho chúng một ký hiệu phân loại nhất định và sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định [13, tr.16]
Phân loại tài liệu hoặc phân loại thư viện là phân loại sách báo, tài liệu, sản phẩm của trí tuệ loài người Về bản chất phân loại thư viện hoặc phân loại tài liệu là một, tuy nhiên để phân biệt chính xác thì phân loại thư viện có thể hiểu là phân loại tài liệu trong thư viện, hoặc để tổ chức thư viện phục vụ người đọc Phân loại tài liệu hiểu theo nghĩa rộng hơn, nó không chỉ phục vụ
Trang 15cho thư viện mà còn cho các lĩnh vực khác liên quan như các công việc lưu trữ, bảo tàng, phát hành, xuất bản, triển lãm sách báo…
1.1.2 Vai trò của công tác phân loại tài liệu
Trong công tác thư viện, tài liệu sau khi được bổ sung, trước khi được luân chuyển đến tay người đọc phải trải qua một quá trình xử lý kỹ thuật khá phức tạp nhằm đảm bảo việc phục vụ tài liệu đạt hiệu quả cao, bao gồm nhiều khâu, trong đó có khâu phân loại
Công tác phân loại luôn được các thư viện và cơ quan thông tin trên thế giới hết sức quan tâm Phân loại tài liệu là một khâu công tác quan trọng và cần thiết trong toàn bộ công tác thư viện và thông tin khoa học, giúp cho việc kiểm soát thư mục, góp phần thúc đẩy việc khai thác, trao đổi thông tin trong phạm vi quốc gia và quốc tế Trên thế giới và một số thư viện lớn ở Việt Nam, phân loại được áp dụng sâu rộng trong việc tổ chức kho mở và tổ chức
bộ máy tra cứu thông tin
Đối với chức năng sắp xếp tài liệu trên giá, phân loại tài liệu nhằm mục đích tập trung tất cả các tài liệu của cùng một môn loại tri thức vào với nhau
và đặt vào những vị trí gần nhau để giúp người dùng tin nhận biết và xác định
vị trí tài liệu một cách nhanh chóng thông qua ký hiệu phân loại
Mục lục phân loại là công cụ tra cứu tin truyền thống trong thư viện và cơ quan thông tin Với mục lục phân loại người đọc chỉ cần xác định vấn đề mình cần nghiên cứu thuộc ngành khoa học nào, qua đó họ có thể tìm thấy những tài liệu mình cần Ngoài ra, mục lục phân loại còn giúp cho các cán bộ thư viện nhanh chóng nắm bắt được nội dung kho tài liệu, giúp họ trả lời các nhu cầu tin, biên soạn thư mục chuyên đề, lựa chọn tài liệu phục vụ triển lãm,…
Trong xã hội thông tin hiện đại cũng như mọi ngành nghề khác, ngành thư viện - thông tin cũng phải đối mặt với những vấn đề có tính chất toàn cầu
Trang 16Hơn bao giờ hết vấn đề phân loại tài liệu, kiểm soát các nguồn tin, đặc biệt là các nguồn tin trên Internet đang được cộng đồng thư viện thế giới và Việt Nam hết sức quan tâm
Mục đích của việc phân loại là nhằm đáp ứng yêu cầu tổ chức kiến thức thông tin Trong môi trường điện tử vai trò của phân loại được đặc biệt nhấn mạnh trong tìm tin, quản lý thông tin và trong nghiên cứu Hệ thống các ký hiệu phân loại được sử dụng nâng cao hiệu quả tìm tin trực tuyến Người dùng tin sử dụng ký hiệu phân loại để sàng lọc diện tìm kiếm bằng ngữ cảnh hay xác định các trọng tâm của vấn đề cần tìm
Phân loại tài liệu là một trong những công đoạn xử lý nội dung tài liệu trong hoạt động nghiệp vụ của thư viện và được ra đời từ thời kỳ cổ đại Từ thế kỷ XIX đến nay, hoạt động phân loại tài liệu đã có những bước phát triển vượt bậc Phân loại tài liệu là cơ sở cho mọi hoạt động thư viện – thông tin: xây dựng và phát triển vốn tài liệu, tổ chức vốn tài liệu, tổ chức bộ máy tra cứu truyền thống và hiện đại đồng thời góp phần tích cực cho công tác tuyên truyền, giới thiệu tài liệu cho người đọc
Đặc biệt hiện nay trong môi trường thư viện điện tử, ngôn ngữ tìm tin phân loại – kết quả của quá trình phân loại tài liệu – càng khẳng định vị trí và tầm quan trọng của mình trong quá trình tìm tin, trong đó các ký hiệu phân loại đã trở thành các điểm truy cập tìm tin hữu hiệu theo nội dung các lĩnh vực tri thức khác nhau của phân loại Nhiệm vụ của phương pháp phân loại
là đảm bảo sự đúng đắn, chính xác và thống nhất cả về nội dung lẫn hình thức của những quyết định phân loại, đồng thời phải đảm bảo phản ánh rõ ràng mối liên quan hoặc giới hạn giữa các đề mục Sự thống nhất về mặt phương pháp trong quá trình phân loại có ý nghĩa to lớn trong công tác tổ chức kho và một số công tác khác như lưu trữ, tìm kiếm thông tin và công tác biên mục tập trung trong hoạt động thư viện
Trang 171.1.3 Ý nghĩa, ứng dụng của công tác phân loại tài liệu trong thư viện
Nhiệm vụ của thư viện là phục vụ người đọc bằng nguồn tài liệu của mình, phải luôn đáp ứng nhu cầu đa dạng của người đọc về những vấn đề khác nhau của khoa học và đời sống xã hội Do đó, tổ chức tài liệu trong thư viện phải khoa học, hệ thống để người đọc có thể sử dụng hiệu quả toàn bộ tài liệu của thư viện Phân loại tài liệu có ý nghĩa quan trọng trong công tác tổ chức tài liệu trong thư viện
Nhiều nhà thư viện học trước đây đã khẳng định: Cơ sở của thư viện là sách, nền tảng của nghề thư viện là phân loại Không có phân loại tài liệu người cán bộ thư viện không thể xây dựng và tổ chức thư viện có hệ thống
Phân loại tài liệu được ứng dụng vào nhiều công việc của hoạt động thông tin thư viện, đặc biệt là việc tổ chức kho mở - xu hướng của các thư viện ngày nay Kho mở còn gọi là kho tự chọn, người đọc có thể tự tìm tài liệu trong kho theo nhu cầu mà không cần sự giúp đỡ của thủ thư Thói quen của người đọc thường là tìm tài liệu theo nội dung việc sắp xếp tài liệu theo trật tự các lĩnh vực khoa học trong bảng phân loại áp dụng kết hợp với tên tác giả/tên sách là cách sắp xếp phổ biến hiện nay, đáp ứng thói quen của người đọc, đồng thời cũng mang tính khoa học cao Phân loại còn được ứng dụng để
tổ chức, tạo lập, sắp xếp các đề mục trong bảng thư mục, tổ chức mục lục phân loại, xây dựng vốn tài liệu, tuyên truyền giới thiệu tài liệu, tìm tin trong các cơ sở dữ liệu
Ngoài ra, ở một số nước ngoài và Việt Nam, trong biên mục tập trung
và biên mục tại nguồn (phần biên mục mô tả kèm theo tài liệu), ký hiệu phân loại được coi là một yếu tố bắt buộc phải có để góp phần thống nhất và chuẩn hoá về mặt xử lý nghiệp vụ Do đó công tác phân loại bắt buộc phải có và giữ vai trò quan trọng trong hoạt động thông tin – thư viện
Trang 181.2 GIỚI THIỆU VỀ KHUNG PHÂN LOẠI THẬP PHÂN DDC
1.2.1 Lịch sử ra đời của khung phân loại thập phân DDC
Một phương pháp phân loại hiện đại sẽ dễ dàng đáp ứng nhu cầu trong việc tìm kiếm thông tin trong hệ thống mục lục truyền thống cũng như hệ thống mục lục truy cập công cộng trực tuyến (OPAC) Đã có một số khung phân loại nổi tiếng trên thế giới Đó là khung phân loại thập phân Dewey (DDC), khung phân loại Thư viện Quốc hội Mỹ (LC), Khung phân loại thập phân quốc tế (UDC), khung phân loại thư viện thư mục (BBK), Khung phân loại hai chấm của S.R Ranganathan Trong đó, DDC là khung phân loại được
sử dụng, nghiên cứu và thảo luận nhiều nhất trên thế giới
Hệ Thống Phân loại Thập Phân Dewey (viết tắt là DDC của nhóm chữ Dewey Decimal Classification System) hay Bảng (Khung) Phân Loại DDC trong tiếng Việt) là một công cụ dùng để sắp xếp cho có hệ thống các tri thức của con người Nó đã được liên tục tu chỉnh để theo kịp đà tiến triển của tri thức Hệ thống này đã do ông Melvil Dewey sáng lập năm 1873 và được xuất bản lần đầu vào năm 1876 Khung Phân Loại Dewey đã được nhà xuất bản Forest Press xuất bản, và vào năm 1988 nhà xuất bản này trở thành một đơn
vị của Hệ Thống OCLC, (Online Computer Library Center), Inc [9]
Thời ấy việc phân loại sách đòi hỏi phải phân loại lại mỗi khi vốn tài liệu tăng lên vượt ra ngoài không gian giá sách, vì nói chung ký hiệu phân loại được gắn với vị trí của tài liệu trên giá Trong hệ thống này, sách được đặt tại vị trí vật lý cố định trong thư viện, chứ không phải trong không gian tri thức của một hệ thống phân loại theo chủ đề Mỗi khi vốn tài liệu thư viện tăng lên vượt khả năng xếp giá thì lại phải phân loại lại Vị trí cố định không thể giữ nguyên từ toà nhà này sang toà nhà khác, bởi vì cách tổ chức sắp xếp
và số lượng các hàng các giá là khác nhau, và vị trí cố định lại dựa trên những đặc trưng vật lý đó
Trang 19Dewey đã phát minh ra cách sử dụng số thập phân để biểu thị chủ đề của cuốn sách chứ không dùng số nguyên bình thường để đại diện cho vị trí sách trong không gian, ví dụ: 1,2,3,… đại diện cho cuốn sách thứ nhất, thứ hai, thứ ba mà thư viện có được trong một chủng loại nào đó[9, tr.5] Dewey
đã dùng các con số Ả rập từ 0-9 trên mỗi mức của hệ phân cấp này Ví dụ 3 đại diện cho khoa học xã hội, 34_Luật, 341_Luật quốc tế, 341.6_Luật chiến tranh quốc tế… Mỗi con số thêm vào sẽ diễn đạt chi tiết hơn đối với nội dung của mỗi cuốn sách và đặt nó bên cạnh những cuốn sách khác có cùng chủ đề hay chủ đề liên quan Mỗi số thập phân cung cấp trật tự tuyến tính cho các chủ đề của toàn bộ thư viện
Phát minh về vị trí tương đối đã làm cho ông không cần phải đánh số lại cho sách khi số sách tăng lên vì ông đã đánh số những cuốn sách theo nội dung tri thức của chúng chứ không theo vị trí vật lý
Công trình của Melvil Deway đã tạo ra một cuộc cách mạng trong khoa học thư viện và khởi động trong mọi thời đại mới của ngành thư viện Melvil Dewey xứng đáng là cha đẻ của ngành thư viện hiện đại [9, tr.6]
1.2.2 Sự phát triển của khung phân loại thập phân DDC
Trong thời gian Dewey còn sống hệ thống phân loại thập phân của ông được xuất bản 12 lần [9, tr.7]
● 1876: Xuất bản lần đầu với 42 trang với nhan đề “A Classification
and Subject Index for cataloguing and arranging the books and paphlets of a libraly”
● 1885: Xuất bản lần 2 là quan trọng nhất vì được Dewey hoàn chỉnh
một cách có hệ thống hơn Chính ấn bản này đã thiết lập hình thức và chính sách trong 65 năm tiếp theo
● 1890: Viện thư mục học quốc tế nay là Liên đoàn quốc tế về thông tin
và tư liệu được phép Dewey dịch và sửa đổi cho mục đích sử dụng toàn cầu
Trang 20● 1905: Xuất bản UDC - Bảng cải biên từ DDC do một hội nghị các
nước Châu Âu
● 1932: Xuất bản lần 13, lần đầu tiên mang tên Dewey, được xem như
là ấn bản tưởng niệm ông
● 1958: Xuất bản lần 16 bắt đầu có sự hỗ trợ của Thư viện Quốc hội
Hoa Kỳ
● 1971: Xuất bản lần 18 thành 3 tập
● 1989: Xuất bản lần 20 do biên tập viên chính là John P.Comaroni với
bốn tập.
● 1996: Xuất bản lần 21 với Joan Mitchell là biên tập chính, đó là ấn
bản đầy đủ 21 (1996); Đồng thời ấn hành Dewey for Window trên đĩa ROM
CD-● 2000: Phát hành WebDewey trên mạng Internet
● 2003: Xuất bản lần 22
● 2010: Sẽ xuất bản lần 23
Ngoài bảng phân loại, Dewey còn là người sáng lập Hội Thư viện Hoa
Kỳ (ALA) vào năm 1876 Hiện nay ALA là một hội thư viện lớn nhất thế giới với 57.000 hội viên từ 93 quốc gia Ông giữ chức thư ký đầu tiên của ALA từ 1876-1890 và chủ tịch các nhiệm kỳ 1890-1891 và 1892-1893 Ông cũng là
một trong những người sáng lập và biên tập các tạp chí “Tạp chí Thư viện” (1876-1881) và “Sổ tay Thư viện” (1886-1898) Ông là người thúc đẩy việc
chuẩn hoá nghiệp vụ thư viện và đã thành lập một văn phòng tư vấn về thư viện và sau này trở thành Cục Thư viện Hoa Kỳ (1905) Ông đã mất vào ngày 26/12/1931 sau một cơn đột quỵ [9, tr.7]
Hệ Thống Phân Loại thập Phân Dewey là hệ thống phân loại thư liệu được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới Đã có trên 135 quốc gia sử dụng và
Trang 21nó đã được dịch sang 30 thứ tiếng Những bản dịch đang được tiến hành gần đây hay đã hoàn tất bao gồm các bản tiếng Á Rập, Trung Hoa, Pháp, Hy Lạp,
Do Thái, Ý, Ba Tư, Nga, Tây Ban Nha và Thổ Nhĩ Kỳ Tại Hoa Kỳ, các thư viện sử dụng Khung DDC bao gồm : 95% tổng số các thư viện công cộng và thư viện học đường, 25% các thư viện đại học và 20% các thư viện chuyên ngành Thêm vào đó, hệ thống này còn được sử dụng vào những mục đích khác, chẳng hạn như việc dùng nó làm một công cụ để dò tìm tài liệu trên các trang điện tử trong hệ thống mạng lưới thông tin toàn cầu (World Wide Web)
1.2.3 Cấu trúc và cơ chế của khung phân loại thập phân DDC
Bảng Phân Loại Thập Phân Dewey (Khung DDC) được xuất bản thành hai ấn bản khác nhau: một ấn bản đầy đủ và một ấn bản rút ngắn Ấn bản rút ngắn (Abridged) được xuất bản lần đầu năm 1900, dùng cho các thư viện có khoảng trên dưới 20.000 tên sách trở xuống Ấn bản rút gọn này thường đi kèm với ấn bản đầy đủ và thường xuất bản sau ấn bản đầy đủ một năm Ví dụ: DDC 21 xuất bản năm 1996 có ấn bản rút gọn là Abridged 13 xuất bản năm
1997, DDC 22 có bản rút gọn là Abridged 14 xuất bản năm 2004
Khung DDC được cập nhật hoá trong khoảng thời gian giữa hai ấn bản
kế tiếp bằng những bảng phụ đính và sửa đổi được xuất bản dưới nhan đề
Dewey Decimal Classification, Additions, Notes and Decisions (DC&)
Ấn bản đầy đủ cũng được xuất bản dưới dạng điện tử, Dewey for Windows Những thông báo thay đổi có trong trong sách DC& cũng đã được cập nhật và du nhập vào đĩa Dewey for Windows này
1.2.3.1 Cấu trúc tổng thể của DDC 22 [9, tr.9)
● Hình thức 4 tập DDC 22
Gồm trên 4000 trang, 4 tập và 6 bảng phụ dùng để mở rộng các ký hiệu các lớp của bảng chính
Trang 22Tập 1: Giới thiệu, thuật ngữ giải thích, Cẩm nang và bảng phụ (1-6) _ Bảng 1: Tiểu phân mục tiêu chuẩn
_ Bảng 2: Khu vực địa lý, thời kỳ lịch sử, nhân vật
_ Bảng 3: Tiểu phân mục cho nghệ thuật, từng nền văn học, thể loại văn học chuyên biệt
_ Bảng 4: Tiểu phân mục cho từng ngôn ngữ và họ ngôn ngữ
_ Bảng 5: Nhóm dân tộc và quốc gia
_ Bảng 2: Khu vực địa lý và nhân vật
_ Bảng 3: Tiểu phân mục cho từng nền văn học và cho thể loại văn học chuyên biệt
_ Bảng 4: Tiểu phân mục cho từng ngôn ngữ
●Dãy số cơ bản của DDC:
0 Tin học, thông tin và tác phẩm tổng quát
1 Triết học & tâm lý học
2 Tôn giáo
Trang 23000 Tin học, thông tin và tác phẩm tổng quát
100 Triết học & tâm lý học
Trang 24DDC, nó được phân chia ra làm mười môn loại chính, bao gồm tất cả tri thức của con người Mỗi một môn loại chính lại được phân chia thành mười phân mục và mỗi phân mục lại chia thành 10 phân đoạn và tiếp tục dùng những số
thập phân để phân nhánh (có khi những số có trong những phân mục và những
đoạn chưa được dùng đến) Thế giới tri thức được sắp xếp theo hệ phân cấp từ các chủ đề lớn nhất đến hẹp nhất biểu thị bằng hệ thống ký hiệu trong bảng phân loại Sau đây là ba bản Tóm Lược của Khung DDC.[9, tr.10]
Bản Tóm Lược thứ nhất bao gồm mười môn loại chính Số vị (hay
con số (digit)) đầu tiên có trong mỗi cụm số gồm ba số vị (con số) được biểu
hiện môn loại chính Thí dụ, 500 [số 5 trong ba số vị (con số) 500] biểu hiện
ngành khoa học tự nhiên và toán học
Bản Tóm Lược thứ hai bao gồm một trăm phân mục Số vị (con số)
thứ hai của cụm số có ba số vị (con số) được thể hiện cho phân mục Thí dụ,
500 [số 0 đứng hàng thứ hai sát ngay số vị (con số) 5 trong ba số vị (con số) 500] được dùng cho những tác phẩm tổng quát về khoa học, 510 cho toán học, 520 cho thiên văn học, và 530 cho vật lý
Bản Tóm Lược thứ ba bao gồm một ngàn đoạn Số vị (con số) thứ ba
của cụm số có ba số vị (con số) được thể hiện cho đoạn Như vậy, 530 [số 0
đứng hàng thứ ba trong ba số vị (con số) 530] được dùng cho những tác phẩm
tổng quát về vật lý, 531 cho cơ học cổ điển, 532 cho cơ học chất lỏng, 533
cho cơ học khí
Số Ả rập được dùng để tượng trưng cho mỗi môn loại của Khung DDC Một dấu chấm thập phân được đặt ngay sau số vị (con số) thứ ba của số môn loại, tiếp theo sau là việc phân mục theo lối thập phân [phân chia theo mười]
để định đến mức đặc thù cần có của sự phân loại
Một đề mục [hay đề tài, môn loại] có thể xuất hiện trong nhiều ngành kiến thức.Ví dụ, "y phục" có nhiều khía cạnh có thể cho vào nhiều ngành kiến
Trang 25thức Ảnh hưởng về khía cạnh tâm lý của "y phục" thuộc về số phân loại 155.95 như là một thành phần của ngành Tâm lý học; phong tục liên hệ đến
"y phục" lại được cho vào số 391 như là một thành phần của Phong tục; và y phục trong nghĩa của thời trang lại được cho số 746.92 như là một thành phần của Mỹ thuật học
cả những môn loại phụ, kể cả những đề tài phụ thuộc của những số đồng
đẳng Hệ cấp theo ký hiệu (notational hierarchy) được biểu hiện bằng chiều dài của ký hiệu Những số có trong bất cứ cấp bậc nào thường được coi là phụ thuộc cho một loại mà ký hiệu được dùng có một số vị ngắn hơn; hay được
coi là đồng đẳng với một loại mà ký hiệu có cùng số vị như nhau; và được coi
là cao hơn đối với một loại mà ký hiệu số có một hay nhiều số vị dài hơn.[8] Những số vị được gạch dưới có trong những thí dụ dưới đây được biểu hiện cho hệ cấp theo ký hiệu:
600 Công nghệ (Khoa học ứng dụng)
630 Nông nghiệp và những công nghệ liên hệ
636 Nghề chăn nuôi gia súc
Trang 26Đôi khi, một vài dấu hiệu khác cũng có thể được dùng để biểu hiện cho
hệ cấp một khi hệ cấp này không thể thực hiện được qua những ký hiệu Các mối liên hệ giữa những đề tài đã vi phạm quy tắc làm hệ cấp theo ký hiệu được chỉ rõ bằng những tiêu đề, những ghi chú và những tiểu dẫn đặc biệt
1.2.3.3 Bảng phụ
Một tài liệu ngoài chủ đề chính còn có những khía cạnh phụ khác nhau như khía cạnh đề tài, thời gian, ngôn ngữ, hình thức… Những khía cạnh ấy được phân chia và sắp xếp thành các bảng phụ
■ Bảng 1: Tiểu phân mục tiêu chuẩn
(Standard Subdivisionns)
Phản ánh những khía cạnh đặc trưng cho chủ đề tài liệu, bao gồm khía cạnh hình thức của tài liệu (từ điển, niên giám, ấn phẩm định kỳ…) và khía cạnh đề tài của một nội dung tài liệu (lý thuyết, lịch sử, nghiên cứu…).[7]
Tóm lược bảng 1:
-01 Triết lý và lý thuyết -02 Tài liệu hỗn hợp -03 Từ điển, bách khoa từ điển, sách dẫn -04 Đề tài chuyên biệt
-05 Ấn phẩm liên tục -06 Tổ chức và quản lý -07 Giáo dục, nghiên cứu, đề tài liên quan -08 Lịch sử và miêu tả nhân vật
-09 Xử lý lịch sử, địa lý, nhân vật
* Ví dụ: - Từ điển về thư viện học và thông tin học 020.3
020 Thư viện học và thông tin học
Trang 27-03 Từ điển, bách khoa từ điển, sách dẫn
- Bài tập vật lý 530.076
530 Vật lý học
-076 Ôn tập và bài tập
- Tạp chí triết học Phương Đông 181.005
181 Triết học Phương Đông
-05 Xuất bản phẩm nhiều kỳ
Mục đích dùng tiểu phân mục tiêu chuẩn:
+ Để làm cho số phân loại cụ thể hơn
+ Để phân biệt những cách xử lý chủ đề khác nhau
+ Để miêu tả phương cách xử lý tài liệu, để những tài liệu bao gồm khía cạnh phi chủ đề của một chủ đề “lớn” có thể tập trung với nhau trên kệ sách
- Lý thuyết ngân hàng thương mại 332.1201
■ Bảng 2: Khu vực địa lý và nhân vật
(Geographic Areas, Historical Periods, Persons)
Bảng 2 là bảng phụ lớn nhất trong DDC dùng để phản ánh các khía cạnh địa lý liên quan đến đề tài nghiên cứu của tài liệu như nơi chốn, quốc gia, tỉnh, thành phố… và những vấn đề liên quan đến nhân vật như sự nghiệp, tiểu sử…
Các ký hiệu cơ bản của bảng 2:
-1 Khu vực, vùng, địa điểm nói chung; đại dương và biển
Trang 28-2 Con người
-3 Thế giới cổ đại
-6 Châu Phi
-9 Phần khác của thế giới và thế giới ngoài trái đất
Ký hiệu của bảng 2 được thêm vào ký hiệu phân loại chính theo hai cách:
* Có hướng dẫn: Thêm trợ ký hiệu địa lý trực tiếp vào KHPL chính
theo ghi chú trong khung phân loại
* Ví dụ: - Cơ cấu chính quyền ở Việt Nam: 320.4597
320.4 Cơ cấu và chức năng của chính quyền
-44 Pháp (Bảng 2)
* Không hướng dẫn: khi không có hướng dẫn cụ thể cho việc thêm ký
hiệu của bảng 2, người ta thường ghép ký hiệu của bảng 2 với KHPL bảng
Trang 29chính thông qua ký hiệu trung gian -09 từ bảng 1 Tại ký hiệu -09 từ bảng 1 ta
có hướng dẫn như sau:
-091 Nghiên cứu theo khu vực, vùng, địa điểm nói chung
Thêm vào chỉ số cơ bản -091 các số liên tiếp sau -1 ở ký hiệu 11-19 từ bảng 2, vd., vùng nóng -0913
-093-099 Nghiên cứu theo châu lục, quốc gia, địa phương cụ thể, thế giới ngoài trái đất
Thêm vào chỉ số cơ bản -09 ký hiệu 3-9 từ bảng 2, vd., chủ đề ở Bắc
Bảng 3 nói về các kiến thức cơ bản của văn học và các nền văn học của các nước trên thế giới Bảng này phản ánh các thể loại của các tác phẩm văn học như thi ca, tiểu thuyết, kịch… và thời kỳ lịch sử văn học từ cổ đại đến hiện đại Các ký hiệu của bảng 3 không dùng cho tất cả các lớp ở bảng chính
mà chỉ dùng cho lớp 800 (văn học) hoặc một số ký hiệu phân loại ở lớp 700 (Nghệ thuật và vui chơi giải trí) khi có các hướng dẫn cụ thể
Bảng 3 được chia thành 3 bảng nhỏ:
Bảng 3A dùng cho tác phẩm của hoặc về tác giả cá nhân
Bảng 3B dùng cho tác phẩm của hoặc về nhiều tác giả
Trang 30Bảng 3C chỉ dùng khi một khía cạnh nào đó của tác phẩm cần được
thêm vào; cũng dùng cho 700.4 và 808-809
Trong DDC rút gọn, bảng 3 không chia nhỏ thành các bảng 3A, 3B, 3C
Bảng 3A: Tác phẩm của/về tác giả cá nhân
Các ký hiệu của bảng 3A:
* Ví dụ: - Tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình” của Lev Tolstoi: 891.734
- Tác phẩm “Newspaper days” của Theodore Dreiser
(1871-1945): 813.52
Trang 31-3 Tiểu thuyết (Bảng 3A)
Bảng 3B: Tác phẩm của/về nhiều tác giả
Thường sử dụng cho những hình thức văn chương đặc biệt như tuyển tập văn học hay lịch sử, phê bình văn học từ hai tác giả trở lên
Các ký hiệu của bảng 3B:
-09 Lịch sử, mô tả, đánh giá phê bình nhiều thể loại
Trang 32Bảng 3C: Ký hiệu được thêm vào khi có hướng dẫn
Bảng 3C chỉ được dùng khi có hướng dẫn mở rộng ở bảng 3B và có thể ghép với một số ký hiệu của lớp 808-809 và của lớp 700.4, 791.4 nhằm chỉ rõ thêm các khía cạnh khác của tác phẩm ngoài thể loại như chất lượng, văn phong, quan điểm, vị trí, thời gian, cá nhân, dân tộc…
Các ký hiệu của bảng 3C
văn phong, cách thức, quan điểm
-3 Nghệ thuật và văn học thể hiện những chủ đề, đề tài chuyên biệt
dân tộc, nhóm quốc gia
Trang 3382 Số theo sau -3 trong -382 Chủ đề tôn giáo của Bảng 3C
Biểu đồ 1.1: Sơ đồ sử dụng Bảng 3B và 3C cho Sưu tập văn học hơn 2 tác giả (Hướng dẫn thực hành phân loại thập phân Dewey [9, tr.61])
Trang 34■ Bảng 4: Tiểu phân mục cho từng ngôn ngữ và nhóm ngôn ngữ (Subdivision of Individual Languages and Language Families)
Bảng 4 là bảng phụ đơn giản nhất trong DDC, đơn giản cả về cấu trúc lẫn việc sử dụng Bảng 4 phản ánh các khía cạnh nghiên cứu của một ngôn ngữ hay một nhóm ngôn ngữ, chỉ được dùng để kết hợp với ký hiệu của bảng chính 420-490 các ngôn ngữ cụ thể
Các ký hiệu chính của bảng 4:
-1 Hệ chữ viết, âm vị học, âm ngữ học của các dạng chuẩn ngôn ngữ
-2 Từ nguyên học của các dạng chuẩn ngôn ngữ
-3 Từ điển dạng chuẩn ngôn ngữ
-5 Ngữ pháp dạng chuẩn ngôn ngữ
-7 Những biến thể mang tính lịch sử và địa lý, biến thể hiện đại không mang tính địa lý
-8 Cách sử dụng chuẩn của ngôn ngữ học ứng dụng
Cách ghép ký hiệu bảng 4: Trong bảng chính, chỉ những ký hiệu phân
loại được đánh dấu * hoặc ở những ký hiệu có ghi chú thêm ký hiệu của bảng
4 thì mới có thể ghép thêm ký hiệu của bảng 4
Ví dụ: - Từ điển Đức-Việt: 433
43 * Tiếng Đức
-3 Từ điển (Bảng 4)
- Ngữ pháp tiếng Việt: 495.9225 495.922 * Tiếng Việt
-5 Ngữ pháp (Bảng 4)
Trang 35- Ngữ pháp tiếng Trung Quốc: 495.91 495.91 Tiếng Trung Quốc
Không thêm ký hiệu Bảng 4 vì không có hướng dẫn
■ Bảng 5: Nhóm dân tộc và quốc gia (Ethnic and National Groups)
Bảng 5 phản ánh các khái niệm về dân tộc, chủng tộc liên quan đến nội dung tài liệu
Tóm lược bảng 5:
* Có hướng dẫn: Cộng thêm trực tiếp vào số căn bản
Ví dụ: 155.8 Tâm lý học dân tộc và tâm lý học sắc tộc
Thêm vào chỉ số cơ bản 155.84 ký hiệu 03-99 từ bảng 5
- Tâm lý học Do Thái: 155.84924 155.84 Tâm lý học dân tộc của các chủng tộc, nhóm cụ thể
Trang 36- Nghiên cứu xã hội học người Đức 305.8 Xã hội học của các nhóm chủng tộc, dân tộc, nhóm quốc gia (Số căn bản có chỉ dẫn)
* Không có hướng dẫn: Kiểm tra lại số căn bản trong bảng phân loại
xem có chú thích gì không, thêm số -089 từ bảng 1 trước khi cộng thêm từ
Bảng 6 phản ánh hệ thống các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới được
nhóm theo họ ngôn ngữ Bảng 6 cung cấp cơ sở cho việc xây dựng các ký
hiệu phân loại trong lớp 490 và 890 cho các ngôn ngữ chuyên biệt và các nền
văn học (Ví dụ: Bảng 6, tiếng Việt có ký hiệu 95922 thì tại lớp 400, ngôn ngữ
tiếng Việt là 495.922, lớp 800 có văn học Việt Nam là 895.922)
Trang 37Ví dụ: - Kinh thánh bằng tiếng Pháp: 220.541
220 Kinh thánh 220.53-59 Bản dịch sang một ngôn ngữ khác [ngoài tiếng Anh]
220.53-60 Thêm vào chỉ số cơ bản 220.5 ký hiệu 3-9 từ bảng 6
Bảng 6 có thể kết hợp với bảng 4
Dùng để biểu thị chủ đề có hai ngôn ngữ Công thức như sau:
Trang 38Số căn bản cho ngôn ngữ thứ nhất (Từ bảng phân loại)
+ Một ký hiệu từ bảng 4 biểu thị khía cạnh có liên quan cả hai ngôn ngữ + Ký hiệu bảng 6 cho ngôn ngữ thứ hai
■ Bảng chỉ mục quan hệ (Relative Index)
Trong bảng chính, các chủ đề được phân bố theo ngành; còn trong bảng chỉ mục quan hệ, các chủ đề được sắp xếp theo vần chữ cái, với các thuật ngữ nhận dạng các ngành mà trong đó các chủ đề được đề cập, và các thuật ngữ này cũng được sắp xếp theo vần chữ cái dưới các chủ đề
Trang 39xem phần hướng dẫn ở 391 so với 646,746,9
Trong một số trường hợp thuật ngữ chỉ ngụ ý chứ không nói rõ ngành
Ở ví dụ trên, khoa nội trợ được liệt kê, nhưng ngành khoa học quân sự lại được ngụ ý bằng “lực lượng vũ trang”
Bảng chỉ mục quan hệ chủ yếu là một bảng tra DDC như một hệ thống
Nó bao gồm hẩu hết các thuật ngữ nằm trong bảng chính và bảng phụ, và các thuật ngữ có sự bảo đảm về tài liệu cho khái niệm được bản chính và bản phụ thẻ hiện Bảng chỉ mục quan hệ không đầy đủ tuyệt đối Nếu không tìm thấy một thuật ngữ nào đó, người phân loại phải tìm thử một thuật ngữ rộng hơn hoặc tra cứu trực tiếp bảng chính và bảng phụ Bao giờ cũng phải tra bảng chính và bảng phụ trước khi sử dụng một chỉ số tìm được trong Bảng chỉ mục quan hệ
1.2.4 Sự phổ biến của DDC trên thế giới:
Kể từ lần đầu tiên DDC được ấn hành vào năm 1876 với toàn bộ có 42 trang đến nay đã có hơn 20 lần tái bản Ấn bản thứ 22 với số trang đã gấp hơn
100 lần, ngoài ra còn phát hành các ấn bản điện tử để đáp ứng yêu cầu mới Điều này đã nói lên sức sống của một khung phân loại Mặc dù có nhược điểm là khuynh hướng Anh-Mỹ và Châu Âu nhấn mạnh về ngôn ngữ, văn học
Trang 40và lịch sử trong các con số 400, 800 và 900, khung DDC có nhiều ưu điểm khác khiến hiện nay đã được sử dụng rộng rãi khắp nơi trên thế giới
Văn phòng của Ủy ban biên soạn Bảng Phân loại Dewey được đặt ngay tại Bộ phận đặc trách về Bảng Phân loại thập phân của Thư viện Quốc
hội Hoa Kỳ, tại đây hàng năm những chuyên gia về phân loại đã cung ứng hơn 110.000 số PLTPD cho những tài liệu được Thư viện này làm biên mục Việc đặt Văn phòng của Ủy ban này tại bộ phận nói trên trong Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ giúp cho các thành viên của Ủy ban nhận biết được những khuynh hướng nằm trong những tài liệu được xuất bản để có thể du nhập chúng vào việc thiết lập thêm số cho Bảng Phân loại này Những thành viên của Ủy ban chuẩn bị những bảng đề nghị sửa đổi và mở rộng về phân loại, rồi
chuyển những thứ này đến Ủy ban đặc trách về chính sách thiết lập số thập phân Dewey (EPC = Decimal Classification Editorial Policy Committee) để
được duyệt xét và đề nghị thi hành [9,tr.8]
Ủy ban EPC nói trên là một Ủy ban quốc tế gồm có 10 ủy viên Họ có nhiệm vụ cố vấn những nhà chủ biên và nhà xuất bản OCLC Forest Press về những vấn đề liên hệ đến những thay đổi, những sáng kiến mới, và sự phát triển tổng quát của Khung phân loại DDC Ủy ban này bao gồm những đại biểu của OCLC Forest Press, Hội Thư viện Hoa Kỳ, Thư viện Quốc hội Hoa
Kỳ và Hội Thư viện Anh quốc Ủy ban này bày tỏ những mối quan tâm của những người sử dụng Khung phân loại DDC; những đại biểu này là những người thuộc các thư viện công cộng, thư viện chuyên ngành, thư viện đại học
và các trường thư viện [9,tr.11]
Những số phân loại của Khung phân loại DDC đã được đưa vào những biểu ghi thư mục máy đọc được (MARC: MAchine-Readable-Cataloging records) tại Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ và đã được phân phối đến các thư viện khác bằng những phương tiện truyền thông dùng máy điện toán, dữ kiện