Trước những yêu cầu cấp thiết đó,các thư viện công cộng ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình.Thư viện Quốc gia Việt Nam TVQGVN là thư viện đứng đầu trong hệthống thư viện côn
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Nhân loại đang bước vào thời đại lấy tri thức làm nguồn tài nguyênquan trọng, sử dụng, phân phối và sản xuất tri thức làm nhân tố chủ yếu củanền kinh tế tri thức trong xã hội thông tin Sự đột phá vươn tới thành công củathế giới hiện đại đều bắt nguồn từ thông tin trên cơ sở nguồn lực thông tin-nhân tố quan trọng nhất trong chiến lược phát triển của bất kỳ quốc gia nàotrên thế giới, là chìa khoá của tri thức và sự đổi mới của thế kỷ XXI
Thông tin đang thực sự trở thành tài nguyên vô giá, là yếu tố không thểthiếu đối với cuộc sống của con người Trình độ phát triển thông tin trở thànhmột trong những tiêu chuẩn hàng đầu của nền văn minh vật chất và tinh thần
xã hội trong nền kinh tế tri thức
Nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá- hiện đại hoá, việc thu thậpcác nguồn thông tin để cung cấp thông tin có chất lượng phục vụ cho ngườidùng tin có ý nghĩa vô cùng quan trọng Trước những yêu cầu cấp thiết đó,các thư viện công cộng ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình.Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQGVN) là thư viện đứng đầu trong hệthống thư viện công cộng ở nước ta Nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu tin cho ngườidùng tin đó là mục tiêu và động lực phát triển thủ đô Hà Nội nói riêng và đấtnước ta nói chung, do đó TVQGVN hết sức chú trọng công tác phát triểnnguồn tin nói chung và nguồn tin ngoại văn nói riêng Chính vì vậy, tôi chọn
đề tài “ Tìm hiểu công tác xây dựng và khai thác nguồn tin ngoại văn tại Thư viện Quốc gia Việt Nam” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
Trang 22 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nguồn tin ngoại văn tại Thư viện Quốc gia Việt Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận chung về nguồn tin
- Nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin tại TVQGVN
- Nghiên cứu thực trạng công tác xây dựng và khai thác nguồn tin ngoạivăn của TVQGVN
- Đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác xây dựng
và khai thác nguồn tin ngoại văn tại thư viện
5 Phương pháp nghiên cứu
Quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng.Những tài liệu chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, của Bộ Văn hoá- Thể thao- Dulịch về công tác thông tin- thư viện
Phương pháp nghiên cứu:
Trang 3- Thu thập, thống kê số liệu.
- Phân tích, so sánh và tổng hợp tài liệu
- Khảo sát thực tế, trao đổi với các chuyên gia và các nhà quản lý
6 Những đóng góp của khoá luận
Hiện tại nghiên cứu về nguồn lực thông tin của TVQGVN đã có một sốkhoá luận đề cập đến ở những khía cạnh khác nhau như đề tài của các tác giả:Trần Mỹ Dung, Nguyễn Thị Thu Hiền, Đỗ Thị Nụ,….Với sự cố gắng caonhất và trong khả năng có thể, đề tài “Tìm hiểu công tác xây dựng và khaithác nguồn tin ngoại văn tại Thư viện Quốc gia Việt Nam” của tác giả cónhững đóng góp sau:
7 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Khoá luậngồm những nội dung chính sau :
Chương 1 Khái quát về Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 4Chương 2 Thực trạng công tác xây dựng và khai thác nguồn tin ngoại văntại Thư viện Quốc gia Việt Nam.
Chương 3 Một số giải pháp công tác xây dựng và khai thác nguồn tinngoại văn tại Thư viện Quốc gia Việt Nam trong thời gian tới
Trong quá trình thực hiện khoá luận, do trình độ nghiên cứu và kinhnghiệm của bản thân hạn chế, khoá luận không thể tránh khỏi thiếu sót Rấtmong được sự đóng góp của thầy cô và bạn bè
Xin chân thành cám ơn !
Trang 5CHƯƠNG 1.
KHÁI QUÁT VỀ THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
1.1 Sự hình thành và phát triển của Thư viện Quốc Gia Việt Nam
Thư viện Quốc gia Việt Nam (National Library of Viet Nam) nguyên
là Sở Lưu trữ và thư viện Đông Dương thành lập ngày 29/11/1917 Ngày21/06/1919 thư viện chính thức mang tên Thư viện Trung ương Hà Nội, năm
1935 thư viện mang tên Pierr Pasquier Ngày 20/10/1945 thư viện đổi tênthành Quốc gia thư viện, năm 1946 khi Pháp chiếm đóng Hà Nội thư việnmang tên Thư viện Trung ương, năm 1953 đổi tên thành Tổng Thư viện dosáp nhập viện Đại học Hà Nội Từ ngày 29/06/1957 đến nay thư viện mangtên Thư viện Quốc gia Việt Nam
Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQGVN) là thư viện lớn nhất của cảnước với vốn tài liệu phong phú và đa dạng Thông qua sắc lệnh nộp lưuchiểu và thực hiện tốt công tác bổ sung vốn tài liệu, hiện nay TVQGVN cókhoảng 1,5 triệu bản sách, hơn 8.000 tên báo, tạp chí, hơn 15.000 luận án tiến
sĩ Thư viện có quan hệ trao đổi với khoảng trên 100 đơn vị trong và ngoàinước (thư viện, cơ quan văn hoá, giáo dục, báo chí) của trên 30 nước trên thếgiới
Hiện nay Thư viện Quốc gia Việt Nam là thành viên chính thức củaHiệp hội quốc tế các Hội thư viện và cơ quan thư viện (IFLA) Ngày25/11/2007 kỉ niệm 90 năm thành lập và đón nhận Huân chương Độc lậphạng nhì
1.2 Chức năng, nhiệm vụ
* Chức năng.
Trang 6Căn cứ vào quyết định số 81/2004/QĐ của Bộ Văn hoá - Thể thao- Dulịch (BVH-TT-DL), TVQGVN có chức năng: là đơn vị sự nghiệp có thu trựcthuộc Bộ Văn hoá - Thể thao- Du lịch gìn giữ di sản dân tộc, thu thập, tàngtrữ, khai thác và sử dụng chung vốn tài liệu dân tộc trong xã hội
Xử lí thông tin, biên soạn thư mục quốc gia và ấn phẩm thông tin về vănhoá nghệ thuật; tổ chức biên soạn Tổng thư mục Việt Nam
Hợp tác trao đổi tài liệu với thư viện trong và ngoài nước theo quy địnhcủa pháp luật
Nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào hoạtđộng thư viện
Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho các thư viện trong cả nước theo sựphân công của BVH-TT-DL hoặc yêu cầu của địa phương, đơn vị
Thực hiện hợp tác quốc tế theo kế hoạch của BVH-TT-DL và quy địnhcủa pháp luật
Lưu trữ các tài liệu có nội dung tại khoản 1 điều 5 của Pháp lệnh Thưviện và phục vụ cho người đọc theo quy định của chính phủ
Trang 71.3 Cơ cấu tổ chức.
Về cơ cấu tổ chức của TVQGVN gồm các phòng ban như sau:
Ban giám đốc: Giám đốc và các phó giám đốc
Phòng Tra cứu thông tin-tư liệu
Phòng Nghiên cứu khoa học
Trang 8Thư viện Quốc gia Việt Nam hiện có 195 công nhân viên chức, trong
đó có khoảng hơn 85% có trình độ đại học và trên đại học, công tác trong 13phòng chức năng
1.4 Người dùng tin và nhu cầu tin
Người dùng tin (NDT) là một trong bốn yếu tố cơ bản cấu thành mọi hệthống thông tin – thư viện NDT và nhu cầu tin (NCT) của họ là cơ sở cầnthiết định hướng cho các hoạt động của thư viện NDT vừa là chủ thể sản sinh
ra thông tin vừa là khách thể sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin thưviện (SP&DV TT-TV) Họ còn góp phần điều chỉnh các hoạt động của thưviện thông qua các thông tin phản hồi
Phục vụ NCT của NDT là mục đích tồn tại và phát triển của các cơquan TT-TV Hiệu quả hoạt động phục vụ NDT được coi là thước đo đánh giáchất lượng hoạt động của bất kì các cơ quan TT-TV nào Vì thế nghiên cứuNCT của NDT là một trong các nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan TT-TV.Nghiên cứu NCT là nhận dạng nhu cầu về thông tin của NDT, trên cơ sở đótìm ra những biện pháp cụ thể phù hợp để cung cấp thông tin phù hợp cho họ
Việc tìm hiểu đặc điểm NDT của TVQGVN và xác định NCT của họ
đã được nghiên cứu thông qua kết quả của quá trình điều tra bằng phiếu điềutra nhu cầu tin (kết quả điều tra với tổng số phát ra là 120 phiếu thu về 111phiếu), nghiên cứu thông qua báo cáo công tác của phòng đọc trong 5 nămgần đây
Các phương pháp trên đã xác định được thành phần NDT tạiTVQGVN, xác định được trình độ học vấn, lĩnh vực chuyên môn, loại nguồntin, ngôn ngữ mà họ thường sử dụng, đồng thời xác định được mức độ thoảmãn NCT của NDT Từ đó đưa ra các biện pháp nhằm hoàn thiện công tácxây dựng và khai thác nguồn tin nói chung và xây dựng và khai thác nguồntin ngoại văn nói riêng
Trang 9* Số liệu thống kê thành phần NDT của TVQGVN từ năm 2005 đếnnăm 2009
Qua bảng số liệu này cho thấy số NDT chủ yếu đến TVQGVN làm thẻ
là cán bộ và sinh viên trong đó lượng sinh viên luôn là đối tượng làm thẻđông đảo nhất của thư viện Tuy nhiên số lượng NDT đăng kí làm thẻ trongcác năm gần đây có xu hướng giảm dần, năm 2006 là năm có số lượng làmthẻ đạt cao nhất 24.836 thẻ Những năm sau thì số lượng thẻ có giảm đi đáng
kể, đây là một điểm cần chú ý trong hoạt động phục vụ NDT của TVQGVN
Theo thống kê phiếu điều tra thì trình độ của NDT như sau: Cử nhânchiếm 82,9 % ( 92 phiếu ), thạc sĩ chiếm 12,6 % ( 14 phiếu), PGS.GS chiếm0,9 % ( 1 phiếu), trình độ khác chiếm 3,6% ( 4 phiếu )
Theo phiếu điều tra NCT, thành phần NDT của TVQGVN như sau:Sinh viên các trường đại học cao đẳng chiếm 68,5% ( 76 phiếu ); cán bộ quản
lí lãnh đạo chiếm 4,5% (5 phiếu); sản xuất kinh doanh chiếm 2,7 % (3 phiếu),giảng dạy chiếm chiếm 10,8 % (12 phiếu), hành chính sự nghiệp là 7,2% (8phiếu), đối tượng khác 6,3%(7 phiếu) Do địa bàn Hà Nội có tới hơn 40trường đại học, cao đẳng trong cả nước nên lượng sinh viên tới TVQGVN khálớn chiếm 68,5% Tuy nhiên bộ phận NDT là cán bộ hoạt động ở các lĩnhvực nói chung còn thấp, đòi hỏi Thư viện cần có biện pháp để thu hút bộ phậnnày
Theo thống kê phiếu điều tra NCT của NDT về các lĩnh vực như sau:
Trang 10Lĩnh vực quan tâm Số lượng Tỉ lệ %
Theo thống kê phiếu điều tra NCT về loại ngôn ngữ mà người dùng tin
sử dụng tại TVQGVN, nhìn chung NDT sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhaubên cạnh ngôn ngữ tiếng Việt của nguồn tin chiếm 90% với 100 phiếu vàchiếm số lượng cao nhất, sau đó là tiếng Anh chiếm 51,3% với 57 phiếu, cácthứ tiếng khác ít hơn: tiếng Nhật chiếm 5,4% với 6 phiếu, tiếng Pháp chiếm3,6% với 4 phiếu, tiếng Trung chiếm 1,8% (2 phiếu), tiếng Nga chiếm 0,9%(1phiếu), các ngôn ngữ khác chiếm 0,9% (1 phiếu) Như vậy TVQGVN nên
bổ sung các loại ngôn ngữ nào để bạn đọc có thể sử dụng tốt nhất và làmphong phú nguồn tin ngoại văn tại thư viện
Từ phiếu điều tra NCT ta thấy các loại hình nguồn tin truyền thống vẫnđược quan tâm sử dụng, nhất là sách chiếm 93,6% (104 phiếu), Internet chiếm30,6% (34 phiếu), CSDL chiếm 4,5% (5 phiếu), vi phim vi phiếu 0,9% (1phiếu), tài liệu dạng khác chiếm 3,6% (4 phiếu) Qua đó ta cũng thấy các loại
Trang 11hình nguồn tin như CSDL, vi phim vi phiếu, CD-ROM rất ít người sử dụng
mà những nguồn tin đó thì TVQGVN rất phong phú và có chất lượng Do đóThư viện cần có biện pháp tuyên truyền hướng dẫn NDT sử dụng các loạihình nguồn tin này để không lãng phí và giảm thiểu áp lực về sử dụng nguồntin dạng sách
Ngoài ra khi thống kê phiếu điều tra thì thời gian xuất bản của nguồntin từ năm 2000 đến nay được sử dụng nhiều nhất chiếm 91% (101 phiếu ), từnăm 1987 -2000 chiếm 19,8% ( 22 phiếu), trước năm 1945 chiếm 9,9% ( 11phiếu), từ năm 1954 đến 1986 chiếm 8,1% (9 phiếu), từ năm 1945 đến năm
1954 chiếm 5,4% (6 phiếu)
Qua điều tra trên ta thấy NCT của NDT tại TVQGVN rất đa dạng vàphức tạp Thông qua nghiên cứu phiếu điều tra, báo cáo của công tác phục vụbạn đọc và dựa trên quy định của TVQGVN về đối tượng phục vụ, có thểphân loại đối tượng người dùng tin của TVQGVN thành các nhóm sau:
Nhóm 1: Các cán bộ cao cấp thuộc các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước, cán bộ quản lý các cấp, các ngành.
Các cán bộ lãnh đạo từ Trung ương đến các tỉnh thành phố là nhữngngười ra quyết định các cấp nhằm xây dựng đường lối, chính sách, chủ trươngcủa Đảng và Nhà nước, Bộ - ngành Thông tin cho họ là những thông tinmang tính mới, tính định hướng giải quyết tình hình thực tiễn trong và ngoàinước Do vậy thông tin cần cô đọng, đầy đủ để giúp họ tiết kiệm thời gian cóthể ra quyết định đúng đắn
Nhóm 2: Các cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy, kỹ sư.
Nhóm NDT này cần các thông tin gốc, thông tin thư mục, tổng luận
về nghiên cứu khoa học của một lĩnh vực chuyên môn, những thành tựu mới,những phương pháp mới của khoa học kỹ thuật trong và ngoài nước
Trang 12Nhóm 3: Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành khoa học.
Nhóm NDT này là những người tích lũy kiến thức để đáp ứng yêucầu công việc, nên họ cần thông tin mang tính cơ sở lý thuyết cơ bản đồngthời tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học và thông tin đi sâu vào mộtlĩnh vực chuyên ngành
Nhóm 4: Quần chúng nhân dân.
NDT mục đích sử dụng thông tin của họ khác với nhóm NDT trên
Họ sử dụng thông tin khoa học kỹ thuật vào hoạt động thực tiễn để làm ra củacải vật chất cho xã hội, nâng cao đời sống nhằm phát triển toàn diện cho conngười
So với những năm trước đây, thành phần NDT của Thư viện Quốc giaViệt Nam phong phú và đa dạng hơn Ngoài NDT trong nước còn có đốitượng người nước ngoài, sinh viên học viên cao học ngày càng đông đảo hơn
1.5 Các vấn đề chung về nguồn tin
* Khái niệm nguồn tin: Nguồn tin là sản phẩm trí tuệ, là sản phẩm lao
động khoa học, kiến thức, suy nghĩ, sáng tạo của con người, phản ánh nhữngthông tin được kiểm soát và ghi lại dưới một dạng vật chất nào đó
Khái niệm phát triển nguồn tin: là quá trình làm cho nhu cầu thông
tin của NDT được đáp ứng kịp thời, đầy đủ, chính xác Nói cách khác, pháttriển nguồn tin là nhằm đáp ứng NCT của NDT
* Phân loại nguồn tin: có nhiều cách phân loại như:
Dựa vào chất liệu vật mang tin thì nguồn tin chia thành 3 loại:
Nguồn tin in trên giấy: sách, báo, tạp chí, bản đồ, bản vẽ…
Trang 13Nguồn tin trên phim ảnh, băng đĩa, băng từ….
Nguồn tin điện tử
Dựa vào mức độ xử lí thông tin: chia thành các loại: Nguồn tin cấp 1,nguồn tin cấp 2, nguồn tin cấp 3
Ngoài 2 cách phân loại nguồn tin trên, còn có các cách phân loại nguồntin: thời gian xuất bản, nội dung thông tin, mức độ công bố, mục đích ýnghĩa…
* Đặc trưng của nguồn tin
Tính vật lý: Thể hiện trên 3 phương diện: Vật chứa đựng thông tin,phương thức ghi và truyền thông tin, phương pháp tiếp cận
Tính cấu trúc: Thông tin không có tính cấu trúc thì không thể có giá trị.Tính cấu trúc có tính cấp thứ bậc, ngôi thứ từ giản lược đến phức tạp Cấutrúc giản lược nhất là thư mục Cấp bậc phức tạp nhất là nhận xét đánh giá giátrị nội dung trong hoạt động Thông tin Khoa học và đóng góp với đời sống xãhội
Tính truy cập: Thông tin có giá trị khi được truyền đi, phổ biến và sửdụng Để truy cập thông tin thông qua các điểm truy cập như: MLCC, MLPL,MLCĐ và bộ máy tra cứu bổ trợ Thể hiện hệ thống hoá và sắp xếp phù hợpvới thói quen NDT tìm kiếm thông tin Khi phát triển mạng thông tin, Hệthống mục lục trực tuyến online (mục lục OPAC) qua thuật ngữ tìm kiếm, từkhoá, từ chuẩn,…Các điểm truy cập cần được kết nối bằng các toán tử logic
Tính giá trị : Trong nguồn tin các thông tin đều chứa những nội dung
và có ý nghĩa nhất định đối với từng lĩnh vực Các cơ quan TT-TV phân loại,
xử lý phân tích, tổng hợp logic tin và xây dựng điểm truy cập cho người sửdụng Cần phát huy điểm mạnh và hạn chế nhược điểm của nó, đòi hỏi cán bộ
Trang 14thư viện có trình độ cao trong phân loại, xử lý nguồn tin Gía trị thông tin trithức trong nguồn tin sẽ cao khi nguồn tin được phổ biến rộng rãi và nhiềungười sử dụng.
Tính chia sẻ: Trong đời sống xã hội con người cần trao đổi thông tin,mỗi người sử dụng thông tin lại tạo ra thông tin mới Các thông tin đượctruyền đi giao lưu với người khác qua các hình thức: thảo luận, truyền đạt,mệnh lệnh, thư từ,….Hợp tác chia sẻ nguồn tin giữa các cơ quan TT-TV làmphong phú nguồn thông tin mỗi cơ quan, đồng thời nâng cao hiệu quả thoảmãn NCT của NDT và tiết kiệm kinh phí bổ sung
Trang 15
CHƯƠNG 2.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC
NGUỒN TIN NGOẠI VĂN TẠI THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
2.1 Qúa trình hình thành và phát triển nguồn tin của Thư viện Quốc gia Việt Nam
* Giai đoạn trước 1954:
Khi mới thành lập vốn tài liệu ban đầu TVQGVN chỉ có khoảng vàinghìn bản, được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau Đến năm 1953 phòngđọc sách có 15.092 bản, 1.215 tên tạp chí (chủ yếu là tạp chí Đông Dương vàViệt Nam), 420 tên tạp chí ngoại văn, 647 tên nhật báo Trong đó sách tiếngViệt là 11.088 bản, tiếng Pháp là 13.515 bản, tiếng Anh có 2.016 bản Ngày31/01/1922 toàn quyền Pháp ban hành nghị định quy định lưu chiểu các ấnphẩm xuất bản ở 5 xứ Đông Dương cho Thư viện Đông Dương Việc thựchiện lưu chiểu khá nghiêm túc, theo thống kê từ năm 1922 đến 1940 Thư viện
đã nhận được số lượng ẩn phẩm được lưu chiểu như sau:
- 1.381 tên sách các loại
- 5.123 các loại báo và tạp chí
- 1.291 các bản đồ
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chủ Tịch đã kí sắc lệnh số
18 về Lưu chiểu văn hoá phẩm, sắc lệnh đã được thực hiện tốt từ tháng9/1945 đến tháng 12/1946 số sách nhập vào thư viện là 3.733 bản
* Giai đoạn từ 1954 đến 1985.
Tháng 10/1954 TVQGVN đã thu nhận được 4.168 tên tài liệu xuất bản ởvùng kháng chiến và 2.500 tên tài liệu xuất bản trong vùng địch tạm chiếm,
Trang 16xây dựng tiến hành mua sách Hán Nôm và tạo lập được kho sách Hán Nômtrên 4.000 bản của 2.270 tên sách.
Năm 1955 Thư viện Bắc Kinh đã gửi tặng TVQGVN 36.000 bản sáchtiếng Trung, năm 1956 Thư viện Quốc Gia Liên Xô gửi tặng 30.000 bản( sách tiếng Anh và tiếng Pháp) Sách nhập vào TVQGVN qua lưu chiểu từ1967-1985 là 18.399 bản
Thư viện được phép nhận luận án tiến sĩ, phó tiến sĩ của công dân ViệtNam bảo vệ trong và ngoài nước, của người nước ngoài bảo vệ ở Việt Namtheo quyết định 401/TTg ngày 9/10/1976 của Thủ tướng Chính phủ, thành lậpkho luận án gồm 998 bản
* Giai đoạn 1986 -2002.
Ngày 7/7/1993 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Xuất bản năm 1993.Nghị định 79/CP ngày 6/11/1993 của Thủ tướng chính phủ cho phépTVQGVN nhận lưu chiểu 4 bản cho 1 tên ấn phẩm Năm 1997 Thư viện đãnhận 370 tên, năm 1998 là 535 tên, 1999 là 587 tên Tính đến tháng 12/1999,Thư viện đã thu nhận được 8.000 bản luận án tiến sĩ, đồng thời trao đổi được1.215 cuốn sách ngoại văn, gấp 3 lần số mua Số sách ngoại văn bằng tiếngTrung, Anh, Pháp mua trong năm 1999 chỉ đạt 482 cuốn, tháng 2/2002 tài liệukho lưu chiểu đã đạt tới 140.045 tên
* Giai đoạn từ 2002 đến nay.
Tính đến năm 2008 TVQGVN có 1.300.468 tổng số bản sách và 800.752tổng số tên sách, hơn 8.000 tên báo- tạp chí Trải qua hơn 90 năm xây dựng
và trưởng thành hiện nay TVQGVN đã có được gần 1.500.000 bản sách, hơn8.000 tên báo-tạp chí, hơn 15.000 luận án, hơn 1.000 đĩa CD-ROM và cácCSDL cho người dùng tin sử dụng
Trang 172.2 Vai trò nguồn tin ngoại văn tại Thư viện Quốc gia Việt Nam
Nguồn tin ngoại văn là thành phần của hệ thống thông tin và là nguyênliệu đầu vào của quá trình hoạt động thông tin khoa học Chính vì vậy vốn tàiliệu ngoại văn giữ vị trí then chốt, quyết định sự tồn tại và hiệu quả hoạt độngthông tin khoa học
Nguồn tin ngoại văn là cơ sở để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin,làm công cụ tra cứu như: thư mục, các CSDL thư mục là tiêu chí để đánhgiá chất lượng một sản phẩm thông tin - thư viện
Nguồn tin ngoại văn tạo ra các sản phẩm thông tin phản ánh tính độc đáo,tính quí hiếm của thông tin nhằm đáp ứng các yêu cầu của thị trường, tạo ragiá trị gia tăng của thông tin như: thông tin phân tích, tổng luận
Nguồn tin đó là cơ sở để hợp tác và chia sẻ giữa các cơ quan thông tin thư viện Như chúng ta đã biết, nguồn tin của các thư viện ngày càng trở nênbất cập do sự tăng lên nhanh chóng, trong đó có các thông tin khoa học tăngtheo cấp số nhân Mâu thuẫn của sự gia tăng “chóng mặt” giữa khối lượngthông tin, kinh phí hàng năm cho việc bổ sung nguồn tin và yêu cầu của ngườidùng tin đã đặt ra một yêu cầu đối với các cơ quan thông tin - thư viện Sựthành bại trong nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học một phần phụthuộc vào khả năng với tới các nguồn tin phù hợp
Do vậy TVQGVN có chính sách phát triển nguồn tin nói chung và xâydựng, khai thác nguồn tin ngoại văn nói riêng cho phù hợp với chức năng vànhiệm vụ trên cơ sở nhu cầu tin của người sử dụng, đảm bảo bốn mục tiêu:xây dựng nguồn tin phong phú, đa dạng; đội ngũ cán bộ có trình độ chuyênmôn và tin học cao; số lượng người dùng tin đông đảo được đào tạo và hệthống cơ sở hạ tầng bền vững