Tác giả so sánh giữa RDA, AACR2, ISBD trên góc độ: Về khái niệm và thuật ngữ mới được sử dụng trong RDA; Về việc kiểm tra chạy thử nghiệm RDA để nghiên cứu tính thích ứng với biểu ghi MA
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
PHẠM KIM THANH
NGHIÊN CỨU KHÁC BIỆT GIỮA
“RESOURCE DESCRIPTION AND ACCESS”
VÀ QUY TẮC MÔ TẢ ANH – MỸ (AACR2) -
ĐỊNH HƯỚNG ÁP DỤNG VÀO THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THƯ VIỆN
Hà Nội – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
PHẠM KIM THANH
NGHIÊN CỨU KHÁC BIỆT GIỮA
“RESOURCE DESCRIPTION AND ACCESS”
VÀ QUY TẮC MÔ TẢ ANH – MỸ (AACR2) -
ĐỊNH HƯỚNG ÁP DỤNG VÀO THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
Chuyên ngành : Khoa học thư viện
Mã số : 60 32 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THƯ VIỆN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: Ts Lê Văn Viết
Hà Nội – 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của
cơ quan Thư viện Quốc gia Việt Nam và các đồng nghiệp Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới cơ quan và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lê Văn Viết – Phó giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Nhờ có sự giúp đỡ nhiệt tình và những ý kiến đóng góp quý báu của thầy mà luận văn của tôi được hoàn thành
Tôi xin chân thành cám ơn đồng nghiệp Thư viện Quốc gia Việt Nam giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu; đồng nghiệp Cục Thông tin Khoa học
và Công nghệ đã cùng chia sẻ nghiên cứu đề tài này với tôi
Tôi xin trân trọng cám ơn các PGS, TS và các cán bộ khoa Sau đại học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin chân thành cám ơn bạn bè, người thân trong gia đình
đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ tôi trong qua trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 8
LÝ LUẬN CƠ BẢN BIÊN SOẠN “RESOURCE DESCRIPTION AND ACCESS” 8
1.1 Giới thiệu tổng quan về “Resource Description and Access” 8
1.1.1 Sự ra đời của “Resource Description and Access” 8
1.1.2 Cấu trúc “Resource Description and Access” 9
1.1.3 Mục tiêu và nguyên tắc quản trị “Resource Description and Access” 12
1.2 Cơ sở lý luận biên soạn “Resource Description and Access” 15
1.2.1 Tiêu chuẩn mô tả quốc tế Internatioanl Standard Bibliographic Description 15 1.2.2 Nguyên tắc IFLA về biên mục hiện đại 17
1.3 Cơ sở thực tiễn biên soạn “Resource Description and Access” 32
1.4 Mối quan hệ giữa “Resource Description and Access” với lý thuyết biên mục hiện đại và quy tắc mô tả trước 34
1.4.1 Mối quan hệ giữa “Resource Description and Access” với Nguyên tắc biên mục hiện đại 34
1.4.2 Mối liên hệ giữa AACR2, ISBD và RDA: 38
Kết luận: 39
Chương 2 40
KHÁC BIỆT GIỮA “RESOURCE DESCRIPTION AND ACCESS” VỚI AACR2 40
2.1 Khác biệt tổng quan 40
Trang 52.1.1 Nguyên lý xây dựng bản qui tắc 40
2.1.2 Khác nhau về tài nguyên thông tin 44
2.2 Khác biệt về phương thức và yếu tố mô tả qua MARC21 47
2.2.1 Phương thức mô tả giữa AACR2 và RDA 47
2.2.2 Khác biệt về yếu tố mô tả qua MARC21 51
KẾT LUẬN: 87
Chương 3 90
ĐÁNH GIÁ VỀ “RESOURCE DESCRIPTION AND ACCESS” VÀ 90
ĐỊNH HƯỚNG ÁP DỤNG VÀO THƯ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM 90
3.1 Đánh giá “Resource Description and Access” qua thử nghiệm tại thư viện ở Mỹ 90
3.1.1 Điểm mạnh 92
3.1.2 Hạn chế 93
3.2 Định hướng áp dụng tại Thư viện Quốc gia Việt Nam 96
3.2.1 Thực trạng công tác biên mục tại Thư viện Quốc gia 96
3.2.2 Giải pháp triển khai 100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT
TẮT
VIẾT ĐẦY ĐỦ
AACR2 = Quy tắc mô tả Anh – Mỹ
FRAD = Functional Requirements for Authority Data - Yêu
cầu chức năng về dữ liệu kiểm soát thống nhất FRBR = Functional Requirements for Bibliographic Records -
Yêu cầu chức năng về biểu ghi thư mục IFLA = International Federation of Library Associations and
Institutions – Liên đoàn quốc tế Hiệp hội và Tổ chức Thư viện
ISBD = Internetional standard bibliographic description - Mô
tả thư mục tiêu chuẩn quốc tế ISBD (A) = Internetional standard bibliographic description for
Older Monographic Publications (Antiquarian) - Mô
tả thư mục tiêu chuẩn quốc tế (Tài liệu chuyên khảo trước năm 1801 – tài liệu quí hiếm)
ISBD
(CM)
= Internetional Standard Bibliographic Description (Cartographic Materials) - Mô tả thư mục tiêu chuẩn quốc tế (tài liệu bản đồ)
ISBD
(ER)
= International Standard Bibliographic Description for Electronic Resources - Mô tả thư mục tiêu chuẩn quốc tế (Nguồn điện tử)
ISBD (M) = Internetional Standard Bibliographic Description
(monograph) - Mô tả thư mục tiêu chuẩn quốc tế (Ấn
Trang 7phẩm chuyên khảo) ISBD
(NBM)
= Internetional Standard Bibliographic Description (non bibliographic monograph) - Mô tả thư mục tiêu chuẩn quốc tế ( tài liệu không phải chuyên khảo) ISBD
(PM)
= International Standard Bibliographic Description for Printed Music - Mô tả thư mục tiêu chuẩn quốc tế (bản âm nhạc in)
ISBD (S) = Internetional Standard Bibliographic Description
(series)- Mô tả thư mục tiêu chuẩn quốc tế (Ấn phẩm liên tục)
MARC = MAchine-Readable Cataloging - Biên mục đọc máy ONIX = ONline Information eXchange - Phần mềm trao đổi
thông tin trực tuyến RDA = Resource Description and Access - Mô tả và truy cập
tài nguyên TVQGVN = Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các thực thể nhóm 1 Tr.31
Sơ đồ 1.2: Quan hệ thực thể nhóm 1 với thực thể nhóm 2 Tr.33
Sơ đồ 1.3: Quan hệ giữa thực thể nhóm 1,2, 3 với Tác phẩm
qua chủ đề
Tr.34
Sơ đồ 1.4: Quan hệ giữa các thực thể theo mô hình đơn giản Tr.36
Sơ đồ 1.5: Quan hệ giữa các thực thể theo mô hình nâng cao Tr.37
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết đề tài
Trước một thực tế ngày càng xuất hiện nhiều loại hình chuyển tải thông tin qua các phương tiện thông tin đa dạng như văn bản in, âm thanh, hình ảnh, đa phương tiện, điện tử…được phát triển nhanh chóng với khối lượng khổng lồ Cùng với các hình thức chuyển tải thông tin, các hình thức tài liệu như sách, báo, tạp chí, bản đồ, tranh ảnh, âm nhạc, tài liệu chuyên khảo, tiêu chuẩn ngành, tài liệu pháp luật… cũng luôn thay đổi cùng với cuộc sống hiện đại cũng như nhu cầu tin của người dùng tin Những quy tắc biên mục truyền thống trước đây đã không còn phù hợp với tình hình hiện nay
Đã có những phát triển mới trong lý luận luận biên mục trên cơ sở nghiên cứu của cộng đồng thư viện thế giới
Nguyên tắc biên mục quốc tế mới ra đời đã thay thế nguyên tắc Pari năm 1961,
từ đó làm thay đổ0i căn bản nhiều vấn đề công tác biên mục “Nguyên tắc biên mục mới” được xây dựng dựa trên : “Functional Requirements for Bibliographic Records ” (FRBR) (Yêu cầu chức năng về biểu ghi thư mục); và “Functional Requirements for Authority Data”(FRAD) (Yêu cầu chức năng về dữ liệu kiểm soát thống nhất) do IFLA nghiên cứu và công bố gần đây
Resource Description and Access là bộ quy tắc biên mục mới do các nhà thư
viện học Mỹ biên soạn, ra đời nhằm thay thế AACR2, và dựa trên những “Nguyên tắc biên mục quốc tế mới” Vì vậy RDA chắc chắn có những thay đổi chuyển biến tiến bộ hơn AACR2
Đối với Thư viện Quốc gia Việt Nam, việc nghiên cứu tiêu chuẩn biên mục mới để phù hợp với tình hình hoạt động thực tiễn biên mục tại cơ quan TVQGVN nói riêng và hệ thống thư viện nói chung là yêu cầu cấp bách Phòng Phân loại biên mục có nhiệm vụ tham gia nghiên cứu các chuẩn nghiệp vụ để đóng góp ý kiến tham vấn, đề xuất cho cơ quan Với quy tắc mô tả RDA ra đời mới đây là mối quan tâm của chúng tôi trong công tác nghiên cứu quy tắc biên mục mô tả phù hợp với tình hình hiện nay
Trang 11Nghiên cứu những khác biệt giữa quy tắc Resource Description and Access với Quy tắc mô tả Anh – Mỹ AACR2 nhằm mục đích giúp giải quyết
bài toán lựa chọn tiêu chuẩn biên mục hiện đại là việc làm có ý nghĩa về lý luận
Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu so sánh giữa hai bộ Quy tắc Anh – Mỹ AACR2 và RDA từ đó
ta thấy được ưu điểm và hạn chế trong bộ quy tắc mô tả RDA so với AACR2 Cũng từ nghiên cứu này, với tình hình thực tiễn biên mục tại Thư viện Quốc gia Việt Nam tìm ra điểm tương đồng và khác biệt cụ thể giữa các quy tắc mô tả; Tìm ra những thuận lợi và khó khăn khi chuyển đổi quy tắc mô tả Từ đó chúng tôi xây dựng phương hướng áp dụng quy tắc mô tả mới, cũng như cách thức chuyển đổi dữ liệu theo quy tắc mô tả hiện nay với quy tắc mô tả mới
Qua đây đề xuất chính sách và giải pháp áp dụng quy tắc biên mục phù hợp với điều kiện hoạt động Thư viện Quốc gia Việt Nam Từ đó giải quyết bài toán lựa chọn tiêu chuẩn biên mục hiện đại tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, nâng cao hiệu quả công tác biên mục mô tả trong tình hình hiện nay
3 Tình hình nghiên cứu
3.1 Nước ngoài
Có nhiều bài viết về RDA qua website của các tổ chức, cơ quan thông tin thư viện, Hiệp hội thông tin thư viện quốc tế Những bài viết đã nghiên cứu về khái
Trang 12niệm thực thể, thuộc tính của thực thể, mối liên quan giữa thực thể, thuộc tính, khác biệt giữa RDA với qui tăc mô tả khác, khác biệt trong MARC21 khi mô tả RDA Trong các bài nghiên cứu về RDA được đăng tải trên các website đáng chú ý nhất là bài viết do tác giả Adam L Schiff về : “Change from AACR2 to RDA”: A comparision of examples” theo địa chỉ:
to-rda-a-comparison-of-examples.html Bài viết nghiên cứu về những thay đổi của RDA so với AACR2 Tác giả nghiên cứu dưới góc độ so sánh các yếu tố mô tả ở các vùng mô tả và đưa ra ví dụ cụ thể nhằm minh họa những thay đổi cơ bản giữa AACR2 và RDA
http://www.catalogingfutures.com/catalogingfutures/2010/04/changes-from-aacr2-Trên trang Web của Joint Steering Committee (JSC) theo địa chỉ
www.rda-jsc.org/docs/10_1_12 tác giả Barbara B Tillett trưởng phòng Chính sách và Tiêu
chuẩn của Thư viện Quốc Hội Mỹ có bài “Changes from AACR2 for Texts” nghiên
cứu về những thay đổi của RDA đối với tài liệu dạng văn bản Tác giả so sánh giữa RDA, AACR2, ISBD trên góc độ: Về khái niệm và thuật ngữ mới được sử dụng trong RDA; Về việc kiểm tra chạy thử nghiệm RDA để nghiên cứu tính thích ứng với biểu ghi MARC21 và OPAC; Về kiểm tra yêu cầu về FRBR và FRAD; Về kiểm định mối liên quan giữa thực thể và biểu hiện trong một tác phẩm…
Tại Hội nghị Hiệp hội thư viện Mỹ (ALA), tổ chức vào ngày 11/7/2009, tác giả Tom Delsey, người biên tập RDA từ năm 2004 đến 2009 đã đề cập sự khác biệt giữa RDAvới AACR2 theo cấu trúc của bộ qui tắc Bài trình bày có tiêu đề “RDA
Compared with AACR2” được đăng theo địa chỉ
presentations.ala.org/ /1/ /LLL-Delsey-ALA2009.pp
Ngoài ra có nhiều tài liệu liên quan tới RDA được đăng tải trên các website các thư viện lớn trên thế giới như Mỹ, Canada, Ôtxtrâylia…nhằm giúp giới thư viện trên thế giới tiếp cận được với RDA
Trang Web của IFLA requirements-for-authority-data đăng toàn bộ nội dung của FRAD, qua đó thấy
Trang 13http://www.ifla.org/publications/functional-được Yêu cầu chức năng về dữ liệu kiểm soát tính thống nhất: Mục tiêu, phạm vi của FRAD Khái niệm thực thể, thuộc tính, các mối liên quan kiểm soát nội dung, liên quan giữ thực thể và thuộc tính
Trên trang web: bibliographic-records đăng toàn bộ nội dung của FRBR, qua đó nắm được yêu cầu chức năng về biểu ghi thư mục: mục tiêu, phạm vi, phương pháp luận của FRBR Khái niệm về thực thể, thuộc tính, các mối liên quan giữa thực thể và thuộc tính Yêu cầu cơ bản đối với biểu ghi thư mục quốc gia
http://www.ifla.org/publications/functional-requirements-for-Tuy nhiên do rào cản về ngôn ngữ và trên nhiều trang Web nên việc tiếp cận với RDA có nhiều khó khăn với cộng đồng thư viện Việt Nam
3.2 Tại Việt Nam
Bài giới thiệu “Phát triển RDA để thay thế AACR2” của Ths Nguyễn Minh Hiệp đăng trên www.glib.hcmuns.edu.vn/hiep/writing/ RDA.pdf giới thiệu tổng quan về sự ra đời và vai trò của RDA Tác giả có bài nghiên cứu cấu trúc RDA; Những khái niệm, thuật ngữ mới được dùng trong RDA Nghiên cứu về khái niệm mới trong RDA
Ths Cao Minh Kiểm có bài đăng trên Tạp chí Thư viện Việt Nam, số 3 năm
2010 với tiêu đề “Giới thiệu một số khái niệm mới trong biên mục hiện đại” giới thiệu thuật ngữ được sử dụng trong RDA, cũng như những vấn đề mới được đề cập trong qui tắc mô tả RDA
Một số bài viết về RDAcủa Ths Cao Minh Kiểm, PGS Ths Nguyễn Duy Hoan
có bài viết đề cập tới những khác biệt giữa RDAvới AACR2
Cuộc “Tọa đàm RDA và khả năng áp dụng tại Việt Nam” tại Thư viện Quốc gia Việt Nam tổ chức ngày 25/2/2011 có nhiều bài báo cáo bước đầu tiếp cận với RDA : “Biên mục hiện đại và RDA” của Ths Nguyễn Thị Đào; “Tìm hiểu quy tắc biên mục mới RDA – mô tả và truy cập tài nguyên thông tin” của Ths Nguyễn Văn Hành, Ths Hoàng Thị Hòa; “Bộ quy tắc biên mục RDA đã ra đời đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong biên mục” của Ths Nguyễn Minh Hiệp; “Một số khác biệt cơ
Trang 14bản giữa AACR2 và RDA” của Ths Nguyễn Duy Hoan; Ths Vũ Minh Huệ ; “Sơ
bộ tìm hiểu và so sánh “mô tả và truy cập tài nguyên (RDA) với quy tắc biên mục Anh – Mỹ (AACR2)” của Ths Cao Minh Kiểm
Các bài báo cáo trong cuộc tọa đàm và các bài viết trên tạp chí đã mang lại một số đóng góp đáng kể trong việc tiếp cận với bản qui tắc mô tả mới này Tuy nhiên đây mới chỉ là những nghiên cứu bước đầu của các nhà thư viện Việt Nam, các bài viết có tính khái quát, giới hạn ở khái niệm chung, cơ bản, giản đơn Việc
sử dụng các thuật ngữ trong các bài viết về RDA chưa thống nhất, gây khó khăn cho giới chuyên môn trong việc tiếp cận RDA Ngoài ra việc tiếp cận với quy tắc RDA của các nhà thư viện Việt Nam còn khó khăn do rào cản ngôn ngữ
Xu hướng của Thư viện Quốc gia trong những năm tới là sẽ nghiên cứu để áp dụng RDA vào công tác biên mục của mình
Để đánh giá khả năng áp dụng qui tắc biên mục mới vào Thư viện Quốc gia Việt Nam cần có sự nghiên cứu sâu sắc, kỹ lưỡng hơn về RDA, trong đó có tìm sự
khác biệt giữa RDA với AACR2 Chính vì thế tôi đã chọn vấn đề: “Nghiên cứu khác biệt giữa “Resource Description and Access” với qui tắc biên mục Anh –
Mỹ (AACR2)– Định hướng áp dụng vào Thư viện Quốc gia Việt Nam” làm đề
tài nghiên cứu luận văn của mình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu chính trong luận văn là - Nghiên cứu khác biệt giữa
“Resource Description and Access” với AACR2
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Khả năng ứng dụng vào Thư viện Quốc gia Việt Nam
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu qui tắc mô tả quốc tế RDA, AACR2
Trang 15- So sánh những khác biệt của RDA và AACR2 và đề ra các giải pháp khoa học có tính khả thi để giúp Thư viện Quốc gia ứng dụng RDA vào công tác biên mục tài liệu hiện
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận xây dựng bộ qui tắc RDA
- Khái niệm về thực thể, thuộc tính, các mối liên quan; Nguyên tắc xây dựng điểm truy cập; Các quy tắc xây dựng yếu tố mô tả
- Nghiên cứu những khác biệt giữa RDA với AACR2: Khác biệt về nguyên lý xây dựng bản quy tắc; Tài nguyên thông tin; phương thức mô tả; yếu tố mô tả; Khác biệt về biểu ghi MARC21
- Đánh giá RDA, định hướng áp dụng vào Thư viện Quốc gia Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp lí luận chung
Quá trình nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
6.2 Phương pháp cụ thể
Sử dụng một số phương pháp khoa học :
- Nghiên cứu tài liệu: Thông qua bản mới nhất về RDA (bản tiếng Anh), AACR2 (Bản dịch), ISBD (bản tiếng Anh), FRBR (Bản tiếng Anh), FRAD (Bản tiếng Anh)
- Phân tích, tổng hợp tài liệu từ các bài viết được đăng tải trên các trang Web của cơ quan thông tin thư viện lớn trong nước và nước ngoài, trên tạp chí Thư viện Việt Nam, trên tài liệu tham luận tại hội thảo về RDA tổ chức tại Thư viện Quốc gia Việt Nam So sánh, đánh giá về nội dung, mức độ phản ánh, khía cạnh đề cập vấn
đề của tài liệu
- Tham khảo ý kiến chuyên gia về lĩnh vực biên mục ở các cơ quan thư viện, trường đại học lớn trong nước
Trang 167 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương sau:
Chương 1: Lý luận cơ bản biên soạn “Resource Description and Access”
Chương 2: Khác biệt giữa “Resource Description and Access” với AACR2 Chương 3: Đánh giá về “Resource Description and Access” - Định hướng áp dụng vào Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 17Chương 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN BIÊN SOẠN “RESOURCE DESCRIPTION AND ACCESS”
1.1 Giới thiệu tổng quan về “Resource Description and Access”
1.1.1 Sự ra đời của “Resource Description and Access”
Hoạt động biên mục đã có từ lâu trên thế giới Công tác biên mục trong hoạt động thư viện thế giới ngày càng được quan tâm, năm 1961 Nguyên tắc biên mục quốc tế được thông qua tại Pari gọi tắt là “Nguyên tắc Pari” Trong hơn 40 năm qua
“Nguyên tắc Pari” là cơ sở mà các nhà thư viện học dựa vào đó xây dựng các tiêu chuẩn mô tả thư mục, bản tiêu chuẩn mô tả thư mục quốc tế đầu tiên ra đời có tên tiếng Anh là “Internatioanl Standard Bibliographic Description” viết tắt ISBD Dựa vào tiêu chuẩn mô tả ISBD, các nhà thư viện Mỹ - Anh đã kết hợp với nhau để xây dựng nên quy tắc biên mục Anh – Mỹ AACR phù hợp với cách mô tả tài liệu khối Anh – Mỹ Quy tắc AACR ra đời lần đầu tiên năm 1967 AACR2 là
viết tắt của Quy tắc Biên mục Anh-Mỹ, Second Edition Nó được đồng công bố bởi
Hiệp hội Thư viện Hoa Kỳ , Hiệp hội Thư viện Canada và Viện Chuyên gia Thư viện Thông tin Chartered ở Anh AACR2 được thiết kế để sử dụng trong xây dựng thư mục sách và danh mục tài liệu với tất cả các loại khác nhau trong thư viện Các quy định này bao gồm mô tả, và cung cấp các điểm truy cập, với các tài liệu có sẵn trong thư viện
Mặc dù tuyên bố là "Anglo-American", nhưng ấn bản đầu tiên của AACR xuất bản năm 1967 có một số khác biệt về văn phong Bắc Mỹ và Anh Ấn bản thứ hai của năm 1978 thống nhất hai bộ quy tắc (thông qua danh mục chính tả tiếng Anh)
và mang lại sự phù hợp với Tiêu chuẩn mô tả thư mục quốc tế ISBD AACR2 tồn tại trong một số phiên bản in, cũng như phiên bản trực tuyến, có một số phiên bản chỉnh sửa của AACR2 bao gồm cả một phiên bản ngắn gọn Nguyên tắc của AACR bao gồm biên mục từ tài liệu có trong tay chứ không phải là nguồn thông tin bên ngoài
Trong những năm qua, AACR2 đã được cập nhật bằng cách sửa đổi thường xuyên, và đã được sửa đổi đáng kể vào năm 1988 (phiên bản 2, 1988) và năm 2002 (xuất bản lần 2, sửa đổi) Việc sửa đổi năm 2002 đã thay đổi đáng kể phần mô tả vật
Trang 18lý của tài liệu Các nhà thư viện Mỹ xây dựng lịch trình cập nhật AACR hàng năm bắt đầu vào năm 2003 và đã ngừng vào năm 2005 Việc chỉnh sửa AACR2 vào năm tiếp theo đã gây ra sự bế tắc, do xuất hiện lý luận mới về biên mục hiện đại và sự phát triển không ngừng dạng tài nguyên thông tin trong thư viện và cơ quan thông tin Vì vậy yêu cầu cần thay đổi về cơ bản bộ quy tắc là cần thiết
Mô tả và truy cập tài nguyên (RDA) ra đời là một tiêu chuẩn cho biên mục cung
cấp hướng dẫn và chỉ dẫn xây dựng các dữ liệu mô tả tài nguyên có sẵn và tài nguyên được phát hiện trong cơ quan thông tin, thư viện, lưu trữ Bộ quy tắc được
sử dụng dành cho các thư viện và các tổ chức văn hoá khác như: bảo tàng và lưu trữ RDA được xây dựng dựa trên quyết định của Hội nghị quốc tế về các nguyên tắc biên mục và hướng phát triển AACR trong tương lai tổ chức tại Toronto vào năm 1997 Sự khác biệt chính giữa RDA và AACR là cấu trúc RDA được tổ chức dựa trên các yêu cầu chức năng biểu ghi thư mục (FRBR) Những nguyên tắc này xác định cả hai nhiệm vụ đáp ứng người dùng thư mục của thư viện và hệ thống cấp bậc của mối quan hệ trong dữ liệu thư mục Quy tắc RDA được quy định tương
thích với kỳ mô hình dữ liệu nào
1.1.2 Cấu trúc “Resource Description and Access”
RDA xây dựng cấu trúc bản quy tắc bám sát yêu cầu chức năng biểu ghi thư mục (FRBR) và yêu cầu chức năng kiểm soát tính thống nhất (FRAD), đó là dựa vào các khái niệm thuật ngữ thực thể, thuộc tính, biểu thị, biểu hiện, tài liệu như trong FRBR Nguyên tắc xây dựng mối liên quan giữa tác phẩm, biểu hiện biểu thị, tài liệu; Mối liên quan giữa cá nhân, cơ quan-tổ chức với một tài nguyên; Xây dựng mối liên quan về chủ đề Nguyên tắc xây dựng điểm truy cập và phương án lựa chọn trong mô tả tài nguyên Cấu trúc của RDA được chia thành 10 phần:
Phần 1: Xét thuộc tính của biểu thị và tài liệu
Phần 2: Cách ghi thuộc tính của tác phẩm và biểu hiện
Phần 3: Cách ghi thuộc tính của cá nhân, dòng họ, cơ quan – tổ chức
Phần 4: Cách ghi các thuộc tính về khái niệm, đối tượng, sự kiện, địa điểm
Trang 19Phần 5: Cách ghi liên quan cơ bản về tác phẩm, biểu hiện, biểu thị, tài liệu Phần 6: Cách ghi các liên quan về cá nhân, dòng họ, cơ quan – tổ chức với
một tài nguyên
Phần 7: Cách ghi mối liên quan về Khái niệm, đối tượng, sự kiện, địa điểm Phần 8: Cách ghi mối liên quan giữa tác phẩm, biểu hiện, biểu thị và tài liệu Phần 9: Cách ghi mối liên quan giữa cá nhân, dòng họ, cơ quan – tổ chức Phần 10: Cách ghi lại những liên quan giữa các khái niệm, đối tượng, sự kiện,
và địa điểm
Phần phụ lục từ A đến L: giải thích các trường hợp và hướng dẫn cách ghi
dữ liệu cụ thể
- Phụ lục A: RDA cung cấp chỉ dẫn viết hoa
- Phụ lục B: RDA danh sách các chữ viết tắt
- Phụ lục C: RDA liệt kê những bài đầu tiên bằng tiếng Anh và lựa chọn một
số ngôn ngữ khác mà được bỏ qua khi ghi lại ưu tiên tiêu đề thường dùng và tên ưu tiên cho người và cơ quan - tổ chức
- Phụ lục D: RDA cung cấp sơ đồ của tài liệu dữ liệu RDA được sử dụng để
mô tả tài nguyên nhằm lựa chọn phương án siêu dữ liệu liên quan để mã hóa hoặc trình bày dữ liệu mô tả tài nguyên(ví dụ, ISBD, MARC 21, Dublin Core)
- Phụ lục E: RDA cung cấp sơ đồ tài liệu dữ liệu RDA được sử dụng mô tả một thực thể liên quan với một tài nguyên nhằm lựa chọn phương án siêu dữ liệu liên quan để mã hóa hoặc trình bày các điểm truy cập và dữ liệu cơ quan biên mục (ví dụ, MARC 21)
- Phụ lục F: RDA cung cấp hướng dẫn về cách chọn và ghi tên người trong một số ngôn ngữ cụ thể, bổ sung các chỉ dẫn chung và các hướng dẫn đã được cung cấp trong chương 9 RDA
- Phụ lục G: RDA cung cấp thông tin về các tước hiệu quý tộc, về thứ bậc, vv, được sử dụng trong một số khu vực pháp lý cụ thể
- Phụ lục H: RDA cung cấp thông tin về ngày tháng ghi trong lịch Kitô giáo
Trang 20- Phụ lục I: RDA đưa danh mục thuật ngữ được sử dụng như là định danh để chỉ ra bản chất của mối liên quan giữa một tài nguyên và một người, họ tên, hay một cơ quan - tổ chức liên quan với tài nguyên cụ thể
- Phụ lục J: RDA danh mục thuật ngữ được sử dụng như là định danh để chỉ ra bản chất của mối liên quan giữa tác phẩm, biểu thị, biểu hiện, và tài liệu cụ thể
- Phụ lục K: RDA danh mục thuật ngữ được sử dụng như là định danh để chỉ
ra bản chất của mối liên quan giữa người, họ tên, và các cơ quan - tổ chức cụ thể
- Phụ lục L: RDA danh mục thuật ngữ được sử dụng như là định danh để chỉ
ra bản chất của mối liên quan giữa khái niệm, đối tượng, sự kiện, địa điểm
Như vậy từ phần 1 đến phần 4 trong cấu trúc RDA đề cập tới việc xác định các thuộc tính thực thể của tài nguyên, có nghĩa là xác định các tài liệu mô tả tương ứng với các thành phần tạo nên một tài nguyên Tài nguyên này có thể là một tài liệu, một đối tượng cụ thể Các thuộc tính thực thể này có liên quan tới thuộc tính thực
thể trong FRBR và FRAD, cách nhận dạng các thực thể: Tác phẩm, biểu hiện, biểu
thị, tài liệu, cá nhân, dòng họ, cơ quan – tổ chức, khái niệm, đối tượng, sự kiện, địa điểm chưa được đề cập trong bản thảo lần đầu
Phần 5 – đến phần 10: Đề cập tới các mối liên quan giữa các thực thể để nhận dạng tài nguyên Việc nhận dạng tài nguyên được thể hiện qua các tài liệu mô tả hình thức và mô tả nội dung của tài nguyên Quy định này giúp tăng khả năng truy cập thông tin RDA cung cấp hướng dẫn về việc xây dựng các điểm truy cập và các điểm truy cập tham chiếu cho tác phẩm, các cách biểu thị, người, họ tên, và cơ quan
- tổ chức tới một tài nguyên thông tin, một tác phẩm, một hình thức trình bày, một định dạng thể hiện, một tài liệu
Tuy nhiên các phần 4,7,10 liên quan tới thực thể như xác định khái niệm của : Khái niệm, đối tượng, sự kiện, địa điểm ; Xác định mối liên hệ giữa khái niệm, đối tượng, sự kiện, địa điểm; chưa được đề cập trong bản thảo này
Ngoài ra, RDA cung cấp hướng dẫn về việc sử dụng tiêu đề (Tiêu đề ưu tiên,
tiêu đề song song, tiêu đề khác, vv) như là các điểm truy cập
Trang 21Phần 3: Phụ lục giới thiệu các phụ lục về nguyên tắc viết hoa; nguyên tắc viết tắt; Điều khoản mô tả; Cú pháp ghi dữ liệu mô tả; Cú pháp ghi điểm truy cập kiểm soát; Hướng dẫn thêm về tên người; Tên quý tộc; Cách viết thuật ngữ; Ngày trong lịch thiên chúa giáo; Định danh các liên quan; Các ví dụ trường hợp cụ thể cách ghi
dữ liệu
1.1.3 Mục tiêu và nguyên tắc quản trị “Resource Description and Access”
Mục tiêu
Xây dựng bộ quy tắc mô tả RDA dựa trên những mục tiêu cơ bản:
Đáp ứng nhu cầu người dùng tin
Các dữ liệu phải đạt tiêu chí tìm kiếm của người dùng tin Điều quan trọng trong RDA là khả năng tìm kiếm tất cả tài nguyên thông tin thể hiện một tác phẩm
cụ thể dưới nhiều dạng khác nhau như: chữ cái – số, âm nhạc, bản nhạc, âm thanh, hình ảnh, đối tượng, phim ảnh, dạng số vv , hoặc bất kỳ sự kết hợp của hình thức nào khác Chẳng hạn như tác phẩm được xuất bản vừa dạng in, vừa dạng số, vừa
âm thanh, quy tắc RDA giúp tích hợp các dữ liệu của ba dạng đó, giúp người tìm tin
sẽ tìm được cả ba dạng
Mục tiêu tìm tất cả tài nguyên mà thể hiện một biểu hiện của tác phẩm như dạng vật mang tin, hình ảnh, bản đồ, âm thanh, bản nhạc, năm ra đời tác phẩm, năm xuất bản, ngôn ngữ tác phẩm, tên tiêu đề khác, số tập, tỷ lệ bản đồ, kỹ thuật trình bày, kỹ thuật ghi âm, số lượng từ, số lượng trang…VD: Tìm các Tác phẩm của Hồ Chí Minh dạng hình ảnh, ở đây “dạng hình ảnh” là một biểu hiện, tác phẩm “Hồ Chí Minh” là một biểu hiện
Tìm tất cả các tài nguyên liên quan tới một người Ví dụ như: Khi tìm kiếm theo tên của tác giả sẽ tìm ra tập hợp tất cả các tác phẩm của tác giả đó ở cả dạng thư mục, hoặc toàn văn, hình ảnh, âm thanh, tài liệu số…., hoặc tìm các tác phẩm
mà tác giả đó cùng viết chung Với các quy tắc hiện nay, việc tra cứu mới chỉ dừng
ở thực hiện dạng thư mục
Khác với các quy tắc mô tả khác đó là cần đáp ứng yêu cầu tìm tin theo chủ đề được đưa ra
Trang 22 Tìm các tác phẩm cụ thể; Hoặc tìm biểu hiện của tác phẩm nào đó ví dụ như:
“Tác phẩm Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh được viết bằng chữ Hán thì tác giả
Hồ Chí Minh và chữ Hán là biểu hiện của tác phẩm; Hoặc tìm theo tài liệu mô tả
thư mục nào đó như tìm theo tên nhà xuất bản, tên tùng thư; Hoặc theo tên người,
tên cơ quan-tổ chức, tên những người, cơ quan – tổ chức liên quan, theo đặc điểm
riêng của người liên quan tới tác phẩm, phân biệt giữa những người cùng tên; Hoặc tài nguyên có đặc điểm vật mang tin phù hợp với người dùng tin, có ngôn ngữ phù hợp với người dùng tin
Xác định các tài nguyên được mô tả tương ứng với tài nguyên cần tìm kiếm, hoặc phân biệt giữa hai hay nhiều tài nguyên có đặc điểm tương tự hoặc khác nhau
Xác định tính đại diện cho tác phẩm là tên người, họ đi kèm, tên cơ quan – tổ chức, hoặc sự giống và khác nhau giữa yếu tố để tìm kiếm tác phẩm Đó chính là
xác định tiêu đề là tên, họ của cá nhân, hoặc tiêu đề là tên cơ quan – tổ chức Cần
xác định thêm yêu tố làm rõ tên người đó là vai trò tác giả, năm sinh năm mất, để phân biệt những người có tên giống nhau
Chọn tài nguyên phù hợp với yêu cầu tìm kiếm của người dùng tin với đặc trưng vật lý của vật mang tin như bản in, bản số hóa, bản âm thanh, chữ nổi…; Hoặc với ngôn ngữ phù hợp
Mục tiêu quan trọng nữa của RDA trong bổ sung vốn tài liệu thông qua mua, cho mượn, vv hoặc truy cập từ xa vào tài nguyên điện tử khác thông qua kết nối trực tuyến Như vậy với quy tắc RDA việc xây dựng mục lục liên hợp là thuận lợi đối với các cơ quan thông tin thư viện Đây cũng là mục tiêu cơ bản, trước mắt của
cơ quan thông tin thư viện trong thời kỳ hội nhập quốc gia và quốc tế
Mục tiêu khác nữa của RDA là hiểu được các mối liên quan giữa hai hay nhiều thực thể; Giữa thực tể được mô tả và thực thể được biết đến, ví dụ hình thức ngôn ngữ của một tác phẩm giữa yêu cầu tìm và tác phẩm thực có khác nhau; Và hiểu được cách xác định tiêu đề thường dùng đối với tác phẩm có nhiều tên khác nhau
Trang 23 Mục tiêu mà tác giả biên soạn RDA nhắm tới đó là hiệu quả chi phí Dữ liệu phải đáp ứng yêu cầu chức năng hỗ trợ người dùng tin với chi phí thấp nhất, cũng như chi phí cho quá trình biên mục được giảm tới mức thấp nhất có thể
Các dữ liệu hoạt động độc lập theo định dạng, phương tiện, hoặc hệ thống lưu trữ hoặc truyền dữ liệu thông thường và linh hoạt điều chỉnh để sử dụng trong các môi trường đa dạng Các dữ liệu cần được tuân thủ theo nguyên tắc hội nhập để tích hợp với cơ sở dữ liệu hiện có (đặc biệt là những người sử dụng phát triển AACR và các tiêu chuẩn liên quan) [23, tr.4-5]
Nguyên tắc quản trị
RDA quản trị theo các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Nguyên tắc phân biệt: Các dữ liệu mô tả một tài nguyên này phân biệt với tài nguyên khác Dữ liệu mô tả các thực thể khác nhau cùng liên kết với một tài nguyên được phân biệt bằng dấu hiệu nhận dạng của mỗi thực thể
Nguyên tắc đầy đủ: Các dữ liệu mô tả một tài nguyên cần đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dùng tin để lựa chọn tài nguyên thích hợp
Nguyên tắc liên quan: Các dữ liệu mô tả một tài nguyên cần chỉ ra các mối liên quan quan trọng giữa các tài nguyên được mô tả và các tài nguyên khác.Các dữ liệu mô tả một thực thể liên kết với một tài nguyên cần phản ánh các mối liên quan thư mục quan trọng giữa các thực thể và với các thực thể khác
Tính đại diện: Dữ liệu mô tả một tài nguyên cần phản ánh đại diện của chính tài nguyên đó Tên hoặc hình thức của tên liên quan tới tài nguyên được quy định như Cá nhân, Dòng họ, hoặc Cơ quan – Tổ chức là tên hoặc hình thức của tên phổ biến nhất trong quá trình tìm kiếm, hoặc tên được chấp nhận theo ngôn ngữ và chữ viết thường dùng Các tên và hình thức khác của Cá nhân, Dòng họ, hoặc Cơ quan - Tổ chức liên quan tới tài nguyên cần để tiến hành tìm kiếm, nên được ghi như là tên biến
Tiêu đề được quy định là tiêu đề chính đối với một tác phẩm phải dùng tiêu
đề có tần suất tìm kiếm nhiều nhất, hoặc tiêu đề thể hiện ngôn ngữ gốc của tác phẩm Các tiêu đề khác được tìm thấy trong tác phẩm hoặc nguồn tham khảo, hoặc
Trang 24người sử dụng dùng để tìm kiếm, phải được ghi như là tiêu đề biến Điều này cho ta thấy quy định chặt chẽ của RDA gần với nhu cầu tìm tin của người dùng tin, ưu tiên đến người dùng tin Điều này đòi hỏi cán bộ biên mục phải nắm bắt được tác phẩm
Độ chính xác: Dữ liệu mô tả một tài nguyên cần có thêm thông tin bổ sung
để sửa chữa hoặc làm rõ những điều chưa rõ, khó hiểu, hoặc gây hiểu nhầm đối với các thông tin thể hiện tài nguyên
Thuộc tính: Dữ liệu ghi lại mối liên quan giữa một tài nguyên và một Cá nhân, Dòng họ, hoặc Cơ quan - Tổ chức liên quan với tài nguyên đó phải phản ánh thuộc tính trách nhiệm trong tài nguyên này hoặc các tài nguyên khác mà bất kể là thuộc tính trách nhiệm có chính xác hay không
Yếu tố thực tế: Với tài nguyên mà không phải là phiên bản từ tài nguyên chính nên sử dụng cách thông thường là ưu tiên ngôn ngữ và chữ viết của cơ quan tạo lập dữ liệu Sử dụng tên người, họ tên, tên cơ quan – tổ chức là những tên ưu tiên theo ngôn ngữ liên quan gần với tên đó
Tính đồng nhất: Các phụ lục về viết hoa, tên viết tắt, trật tự của các yếu tố, dấu câu phải được thống nhất trong việc trình bày dữ liệu mô tả một tài nguyên hoặc thực thể liên quan tới tài nguyên [23, tr.6-8]
1.2 Cơ sở lý luận biên soạn “Resource Description and Access”
1.2.1 Tiêu chuẩn mô tả quốc tế Internatioanl Standard Bibliographic Description
Mô tả thư mục tiêu chuẩn quốc tế ISBD là một tập hợp các quy tắc do Liên
đoàn quốc tế Hiệp hội và Tổ chức Thư viện (IFLA) soạn thảo để xây dựng ra một tiêu chuẩn mô tả thư mục mà qua đó mọi người có thể đọc được, đặc biệt là để sử dụng tài liệu thông qua dạng thư mục hoặc mục lục trong thư viện ISBD phải đáp ứng được yêu cầu về kiểm soát thư mục, mô tả được tất cả các dạng tài liệu và đặc biệt là chia sẻ dữ liệu biên mục giữa các cơ quan biên mục Tiêu chuẩn mô tả thư mục ISBD được biên soạn theo các mục tiêu và nguyên tắc sau đây:
- ISBD cung cấp các quy định phù hợp cho mô tả tất cả các loại tài nguyên công
bố, mức độ mà tính thống nhất, các quy định đối với từng nguồn tài liệu riêng biệt
Trang 25- ISBD cung cấp các quy định trên toàn thế giới về biên mục mô tả tương thích
để hỗ trợ việc trao đổi thư mục giữa các cơ quan thư mục trong nước, thư viện quốc
tế và thông tin cộng đồng (bao gồm cả các nhà sản xuất và nhà xuất bản)
- ISBD có thể đưa ra các mức độ mô tả khác nhau, bao gồm cả yêu cầu cần thiết cho cơ quan biên soạn thư mục quốc gia, thư viện các trường đại học và các cơ quan nghiên cứu khác Điều này cho thấy tính linh hoạt của ISBD đối với các mức
độ mô tả thư mục tài liệu Chính những điều này cho thấy ISBD được tồn tại trong thời gian khá dài
- Các yếu tố mô tả cần thiết để xác định và lựa chọn đối với một nguồn tài liệu được quy định cụ thể đối với từng loại hình tài liệu Điều này cho thấy tính cứng nhắc trong tiêu chuẩn mô tả đối với loại hình tài liệu
- Xây dựng một bộ các yếu tố thông tin để thể hiện tài liệu
ISBD cung cấp các quy định chung áp dụng cho các loại tài liệu, và quy định cụ thể cho từng loại hình tài liệu hoặc là trường hợp ngoại lệ đối với các dạng tài liệu khác thông qua quy tắc chung [17, tr.7]
Các dạng nguồn tin được áp dụng trong bộ tiêu chuẩn mô tả ISBD đó là: Dạng bản đồ; Điện tử; Phim ảnh; Đa phương tiện; Âm nhạc; Văn bản; Âm thanh; Hình ảnh Các tiêu chuẩn mô tả ISBD bao gồm: Tài liệu không phải dạng sách (ISBD (NBM)); Ấn phẩm liên tục (ISBD (S)); các ấn phẩm chuyên khảo (ISBD (M)); tài liệu bản đồ (ISBD (CM)); chuyên khảo trước năm 1801 – tài liệu quí hiếm (ISBD (A)); và bản âm nhạc in (ISBD (PM)); ISBD (ER) là tiêu chuẩn được công bố gần đây nhất Mỗi tiêu chuẩn mô tả ISBD nhằm thể hiện một tập hợp chặt chẽ các quy định cho loại tác phẩm riêng biệt
Nói chung, ISBD được áp dụng để mô tả các biểu thị, bằng cách mô tả các tài
liệu có sẵn trong tay như là biểu thị toàn bộ “Yêu cầu chức năng cho biểu ghi thư
mục (FRBR)” Bằng cách này, ISBD áp dụng Tuyên bố của Nguyên tắc quốc tế Biên mục năm 1961
Trong ISBD, các cơ quan biên soạn thư mục quốc gia bắt buộc tuân theo những quy định các yếu tố mô tả, phạm vi áp dụng đối với các nguồn tài liệu nhằm
Trang 26áp dụng chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan biên soạn thư mục với nhau Việc chia sẻ
dữ liệu thư mục bao gồm các yếu tố dữ liệu được coi là “bắt buộc” trong tất cả các trường hợp nhất định, và trong một số trường hợp khác các yếu tố được coi là thêm vào khi cần thiết
Những quy định của ISBD các có thể được bổ sung theo hướng dẫn của IFLA
1.2.2 Nguyên tắc IFLA về biên mục hiện đại
Gần bốn mươi năm trước, Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội và Tổ chức thư viện (IFLA) bắt đầu kiểm tra lại danh mục lý thuyết cơ bản và thực hành trên một cấp độ quốc tế Kết quả quan trọng đầu tiên của nỗ lực này là một tập hợp các nguyên tắc biên mục đã đồng ý tại một hội nghị quốc tế tổ chức tại Paris vào năm 1961 mà sau
đó được biết đến như các Nguyên tắc Paris Một cam kết chủ chốt thứ hai đã được khởi xướng tại Hội nghị quốc tế của các chuyên gia Biên mục được tổ chức tại Copenhagen vào 1969 với việc thông qua một Nghị quyết để thiết lập các tiêu chuẩn quốc tế cho các hình thức và nội dung của mô tả thư mục Việc đầu tiên của các tiêu chuẩn được phát triển theo các giải pháp thư mục tiêu chuẩn quốc tế ISBD cho mô tả tài liệu dạng chuyên khảo đã xuất bản năm 1971 Trong những năm tiếp theo cam kết nguyên tắc Paris và ISBDs đã được chấp nhận như nền tảng đối với biên mục quốc gia và quốc tế
Tại Hội Nghị Stockholm 1990 về biểu ghi thư mục, IFLA đã đưa ra giải pháp nghiên cứu xác định yêu cầu chức năng biểu ghi thư mục
Năm 2009, IFLA đã thông qua “Tuyên bố về Nguyên tắc Biên mục Quốc tế”
để thay thế Nguyên tắc Pari Đây là nguyên tắc biên mục được đề ra để định hướng
cho công tác biên mục trên phạm quốc gia và quốc tế để xây dựng quy tắc biên mục hiện đại
Tuyên bố của IFLA được xây dựng trên đặc điểm truyền thống của biên mục
trên thế giới và mô hình khái niệm về Yêu cầu chức năng biểu ghi thư mục (Functional Requirements of Bibliographic Record – FRBR) và Yêu cầu chức năng
dữ liệu kiểm soát tính thống nhất (Functional Requirements for Authority Data –
FRAD)
Trang 27Cả hai mô hình FRBR và FRAD đều xác định các thuật ngữ trong biểu ghi thư mục được nghiên cứu và phát triển theo mục đích sau:
- Mục đích của biểu ghi thư mục được định nghĩa là tổng hợp của dữ liệu liên kết với các thực thể được mô tả trong mục lục thư viện và thư mục quốc gia Trong
đó tổng hợp của dữ liệu là các yếu tố mô tả như được định nghĩa trong ISBDs; các yếu tố dữ liệu được sử dụng trong tiêu đề cho cá nhân, cơ quan – tổ chức, tên tài liệu, và chủ đề có chức năng như chỉ mục
- Mô hình FRBR và FRAD nghiên cứu toàn diện về thuật ngữ của các dạng tài liệu Các dữ liệu được ghi lại bao gồm các tài liệu dạng âm nhạc bản in, văn bản, bản đồ, âm thanh hình ảnh, vật liệu và đồ họa ba chiều; Mô tả tài liệu các dạng vật
lý trong biểu ghi thư mục : bài báo, phim ảnh, băng từ, lưu trữ quang học, phương tiện truyền thông, vv; Gồm tất cả các định dạng mô tả như : sách, tờ rời, đĩa, băng cát xét, vv; Mô tả phản ánh các cách ghi lại thông tin như :tín hiệu, âm thanh, điện
tử, kỹ thuật số, quang học, vv
1.2.2.1 Khái niệm “Yêu cầu chức năng biểu ghi thư mục” FRBR
Theo mô hình FRBR đưa ra bao gồm các thực thể, mối liên quan và các thuộc tính được sử dụng để mô tả tài nguyên Có ba nhóm các thực thể
Nhóm 1 bao gồm các nguồn lực – tác phẩm (work), biểu hiện (expression),
biểu thị (manifestion), và tài liệu (item)
Nhóm 2 là những thực thể chịu trách nhiệm đối với Nhóm 1 –Cá nhân
(person), dòng họ (family), cơ quan - tổ chức (corporate body)
Nhóm 3 là đối tượng theo định hướng và bao gồm các khái niệm (concept), đối
tượng (object), sự kiện (event), và địa điểm (place) Tất cả các thực thể được mô tả
bởi các thuộc tính, và có thể được liên kết bởi các mối liên quan Những yếu tố này
được liên quan trực tiếp đến yêu cầu của người dùng tin và mô hình tổ chức dữ liệu trong cơ quan thông tin FRBR cho phép các hệ thống thư viện để tạo tra liên kết các cơ sở dữ liệu dạng thư mục giữa các cơ quan thông tin thư viện [15; tr.18]
Thực thể nhóm 1:
Tác phẩm (Work)– là một sáng tạo trí tuệ hoặc nghệ thuật riêng biệt (nghĩa
là nội dung trí tuệ hoặc nghệ thuật)
Trang 28Ví dụ: Một tác phẩm được biến thể với nhiều tên khác nhau, có sự chỉnh sửa về nội
dung, được coi là tác phẩm mới
Tác phẩm - w1 William Shakespeare’s Romeo and Juliet
Tác phẩm - w2 Franco Zeffirelli’s motion picture Romeo and Juliet
Tác phẩm - w3 Baz Lurhmann’s motion picture William Shakespeare’s Romeo and Juliet [15, tr.24]
- Tác phẩm được nhận dạng qua các thuộc tính là các yếu tố lõi: Nhan đề tác
phẩm; Nhan đề ưu tiên của tác phẩm mà được chọn làm điểm truy cập; Ngày ra đời của tác phẩm; Địa điểm liên quan tới tác phẩm; Một thể loại tác phẩm cụ thể; Cá nhân liên quan tới tác phẩm; Đặc điểm nhận dạng phân biệt các tác phẩm trùng tên nhưng khác nhau về tên người, hoặc cơ quan - tổ chức tạo ra tác phẩm… Tác phẩm
âm nhạc được thể hiện qua: Nhạc cụ, bản nhạc, giọng nói, nhà soạn nhạc, một giàn nhạc; phương tiên biểu diễn; Chỉ số đối với một tác phẩm âm nhạc (số series) hoặc nhà xuất bản…Đây là những yếu tố lõi để nhận dạng tác phẩm
- Ngoài ra để nhận dạng tác phẩm qua thuộc tính là yếu tố nâng cao : về nội
dung của tài nguyên như: các nhan đề khác của tác phẩm như là nhan đề hình thức của tác phẩm; Bản chất nội dung chính của một tài nguyên như tác phẩm về luật, một bản báo cáo ; Phạm vi nội dung theo trình tự thời gian và địa lý đối với nội dung của một tài nguyên; Hệ thống tổ chức lưu trữ tài nguyên trong một bộ sưu tập; Nhóm người sử dụng tài nguyên thích hợp theo đặc điểm lứa tuổi hoặc trình độ học vấn; Thông tin về lịch sử tác phẩm; Nguồn tham khảo tìm thông tin trong việc xác định nhan đề; tên người; đặc điểm nhận dạng các thực thể Và nhận dạng tác
phẩm qua các thuộc tính là các yếu tố đặc biệt
Biểu hiện (Expression)- là việc biểu thị nội dung trí tuệ, hoặc nghệ thuật của
một tác phẩm thông qua các từ, cụm từ, đoạn văn, kí hiệu âm nhạc, âm thanh, hình ảnh, đối tượng, phim ảnh, vv , hoặc bất kỳ sự kết hợp của các hình thức nào giữa chúng Ví dụ: Một bản dịch tác phẩm từ ngôn ngữ khác, hoặc thay đổi hình thức diễn đạt từ số chuyển sang chữ viết
Ví dụ 1:
Tác phẩm - w1 Henry Gray’s Anatomy of the human body
Biểu hiện- e1 Văn bản và minh họa lần xuất bản thứ nhất
Trang 29Biểu hiện- e2 Văn bản và minh họa lần xuất bản thứ hai
Biểu hiện- e3 Văn bản và minh họa lần xuất bản thứ ba
Ví dụ 2:
Tác phẩm - w1 Ellwanger’s Tennis bis zum Turnierspieler
Biển hiện - e1 Văn bản gốc bằng tiếng Anh
Biểu hiện – e2 dịch từ tiếng Anh do Wendy Gill [15, tr.25]
- Biểu hiện được nhận dạng qua các thuộc tính là các yếu tố lõi gồm: Ngày
sớm nhất liên quan tới biểu hiện; Ngôn ngữ thể hiện; Xác định đặc điểm của biểu hiện này với biểu hiện khác, ví dụ như biểu ghi có thẩm quyền; Về biểu hiện nội dung: phản ánh dạng truyền tin được thể hiện và thông qua cảm nhận của con người, ví dụ dạng hình ảnh, dạng hình ảnh bản đồ động, bản đồ hình ảnh 3 chiều, bản đồ 2 chiều, atlas, dữ liệu số, chương trình máy tính, phim, âm nhạc, lời nói, hình ảnh tĩnh, hình ảnh cảm nhận bằng xúc giác; Nội dung tỷ lệ bản đồ; Đặc điểm phân biệt khác: như là đặc điểm nội dung, ngôn ngữ, ngày của biểu hiện, đặc điểm phân biệt tác phẩm luật pháp, tác phẩm tôn giáo, tác phẩm âm nhạc
- Biểu hiện được nhận dạng qua yếu tố nâng cao gồm: Những người đóng góp
sáng tạo ra sản phẩm nghệ thuật, hoặc kỹ thuật trong phim ảnh, video; Thời gian chạy băng hoặc đĩa …; Nơi và ngày thu nhận tài nguyên (Nơi, ngày ghi âm, quay phim); Minh họa nội dung tài nguyên: biểu đồ, đồ thị, bản đồ, minh họa, phả hệ, ảnh, chân dung…; Chú thích bằng xúc giác: chữ nổi, hình nổi, mã âm nhạc nổi…; Giải thưởng được công nhận chính thức đối với tài nguyên….; Và biểu hiện được
nhận dạng qua thuộc tính là yếu tố đặc biệt
Biểu thị (Manifestion)- là thể hiện yếu tố vật lý của một biểu hiện của tác
phẩm Biểu thị bao gồm đa dạng như: Bản thảo, sách, tờ rời, bản đồ, tài liệu ghi âm,
âm nhạc v.v Một biểu thị gồm tất cả các dối tượng cùng mang đặc tính giống nhau
về cả khía cạnh trí tuệ và hình thức vật lý
Ví dụ:
Tác phẩm - w1 Harry Lindgren’s Geometric dissections
Biểu hiện - e1 Nhan đề văn bản gốc: Geometric dissections
Trang 30Biểu thị - m1 Sách xuất bản năm 1964 bởi Van Nostrand
Biểu hiện – e2 Nhan đề được chỉnh sửa: Recreational problems in geometric dissections Biểu thị - m2 Sách xuất bản năm 1972 do tác giả Dover [15, tr.27]
- Biểu thị được nhận dạng qua thuộc tính là yếu tố lõi gồm: Nhan đề - là tập
hợp các ký tự, chữ về một tài nguyên hoặc một tác phẩm chứa trong đó; Nhan đề chính– tên chính của tài nguyên; Nhan đề khác; Ngày đăng ký bản quyền; Loại vật mang tin – kết hợp với thiết bị trung gian để xem, để quay, để chạy, đánh số định
kỳ, thông tin trách nhiệm, thông tin xuất bản, thông tin phát hành v.v thể hiện nội dung tài nguyên; Mức độ thể hiện: mức độ hình ảnh tính, văn bản, hình ảnh động 3 chiều tạo nên nguồn tài nguyên; Số tùng thư – là số, chữ hoặc kết hợp cả số và chữ,
số của lần phát hành đầu tiên hoặc cuối cùng; Thông tin trách nhiệm tạo ra tài nguyên; Thông tin trách nhiệm liên quan tới tiêu đề chính; Thông tin trách nhiệm liên quan tới lần xuất bản, nơi xuất bản, nhà xuất bản, nơi phát hành, nhà phát hành;
Mở rộng đối với tài nguyên âm thanh: băng ghi âm, số cuộn, đĩa âm thanh, băng ghi
âm, thẻ máy tính, chíp máy tính, đĩa máy tính, hộp băng máy tính, băng catset máy tính, băng cối máy tính…, tài nguyên trực tuyến, hộp microfilm…, hộp phim, dải phim thuộc bộ phim, cuộn phim, hộp đựng cuộn phim…, đĩa stereo, một tấm ghi âm thanh…, băng video, hộp đựng băng video…; Biểu thị được nhận dạng qua thuộc tính là yếu tố yếu tố nâng cao: yếu tố mở rộng cho yếu tố lõi, và yếu tố đặc biệt
Tài liệu (Item) - một tài liệu đơn lẻ hoặc thể hiện của một biểu thị
Ví dụ:
w1 - tác phẩm: Ronald Hayman’s Playback
e1 - biểu hiện: văn bản của tác giả chỉnh sửa cho xuất bản
m1 – Biểu thị: sách được Davis – Poynter xuất bản năm 1973
Trang 31nguyên như người tạo lập tài nguyên, nhà xuất bản, người nắm giữ tài nguyên, dịch
vụ tra cứu tóm tắt tài nguyên; Địa chỉ nguồn truy cập tài nguyên từ xa; Đặc điểm xác định tài liệu đơn lẻ này khác tài liệu đơn lẻ khác; Hạn chế truy cập tài nguyên; Hạn chế sử dụng tài nguyên; Phụ chú về độ lớn tài nguyên, kích thước; Kích thước
vật mang tin Và nhận dạng qua thuộc tính là các yếu tố đặc biệt
Ví dụ 2:
w1- tác phẩm: Allan Wakeman’s Jabberwocky
e1 - Biểu hiện: các ghi chú thiết kế trò chơi và văn bản của tác giả
m1 - Biểu thị: trò chơi và kèm theo ghi chú dành cho giáo viên
m2 – Biểu thị: Longman xuất bản năm 1974
i1 - bản tài liệu : Bản sao chép thiếu ghi chú dành cho giáo viên
Các thuộc tính và liên quan với thực thể tác phẩm, biểu hiện, biểu thị, và tài liệu có chức năng chính hỗ trợ cho người dùng liên quan đến quản lý tài nguyên (vd, trao đổi tài liệu, bảo quản)[15, tr.29]
Các tài liệu dữ liệu mô tả các thực thể liên quan tới một tài nguyên được đề
cập trong FRBR phản ánh thuộc tính và mối liên quan liên quan đến thực thể nhóm
2 như sau: người, dòng họ, cơ quan - tổ chức, và địa điểm,
Thực thể Nhóm 2 được định nghĩa như sau:
Cá nhân (person) - một cá nhân hoặc một chủ thể được tạo ra bởi một cá
nhân (hoặc kết hợp với một hoặc nhiều tên người khác) Nhận dạng một cá nhân thông qua thuộc tính là yếu tố lõi : Xác định tên người có kèm theo Họ tên đầy đủ; Tên thường dùng (được chọn làm điểm truy cập); Tên bút danh; Ngày tháng liên quan tới cá nhân (ví dụ năm sinh, năm mất ); Nghề nghiệp; Chuyên môn; Thời kỳ hoạt động chính; Tên người gắn với chức vị; Một thuật ngữ khác liên quan tới tên người; Tiểu sử của một cá nhân; Nơi sinh, Nơi cư trú; Giới tính; Ngôn ngữ…
Nhận dạng một cá nhân qua thuộc tính là yếu tố nâng cao: nơi sinh, nơi mất,
quốc gia liên quan tới cá nhân, địa chỉ của cá nhân…
Nhận dạng một cá nhân qua thuộc tính là yếu tố đặc biệt
Trang 32 Dòng họ (Family) - hai hoặc nhiều người có liên quan theo huyết thống, kết hôn, nhận con nuôi, tổ chức dân sự, hoặc tình trạng pháp lý tương tự, hoặc những cá
nhân khác tự thể hiện là một họ tên Nhận dạng một Dòng họ thông qua thuộc tính là yếu tố lõi Tên của một Dòng họ được biểu thị bằng một chuỗi ký tự với các
đặc điểm: Tên thường dùng (được chọn làm điểm truy cập có thẩm quyền) để nhận dạng họ tên này với họ tên khác; Các kiểu dòng họ; Ngày có liên quan tới dòng họ; Tên tham khảo của dòng họ; Lịch sử dòng họ; Nguồn tham khảo xác định tên tiêu
đề hoặc thuộc tính nhận dạng họ
Nhận dạng Dòng họ thông qua thuộc tính là yếu tố nâng cao: Lịch sử gia
đình, ghi chú của người biên mục, nguồn thông tin thao khảo…
Nhận dạng Dòng họ thông qua thuộc tính là yếu tố đặc biệt
Cơ quan – tổ chức (corporate body) là một nhóm người và / hoặc tổ chức
được xác định bởi một tên cụ thể và có những đạo luật riêng, hoặc có thể hoạt động như một đơn vị Tên cơ quan –tổ chức được biểu thị bằng một chuỗi ký tự với các
Đặc điểm nhận dạng Cơ quan – tổ chức qua các thuộc tính là yếu tố lõi : Tên
cơ quan; Tên ưu tiên là tên hình thức được lựa chọn là điểm truy cập; Ngày liên quan tới cơ quan – tổ chức ví dụ: Ngày tổ chức hội nghị, ngày kết thúc, ngày thành lập cơ quan - tổ chức…; Địa điểm liên quan tới cơ quan ví dụ: nơi đặt trụ sở của tổ chức, Nơi tổ chức hội nghị; Vị trí trụ sở chính của cơ quan; Ở mức độ cao hơn: tên
cơ quan được biểu thị qua số lần của hội nghị; Lĩnh vực hoạt động của cơ quan – tổ chức; Tên cơ quan có kèm theo một tài liệu liên quan để phân biệt giữa cơ quan có trùng tên với nhau
Đặc điểm nhận dạng Cơ quan – tổ chức qua các thuộc tính là yếu tố nâng
cao: Lịch sử cơ quan; Lĩnh vực hoạt động; Ngôn ngữ thể hiện tên cơ quan; Nguồn
tham khảo về cơ quan…
Các tài liệu dữ liệu mô tả các thực thể liên quan tới một tài nguyên được đề
cập trong FRBR phản ánh thuộc tính và mối liên quan liên quan đến thực thuộc
nhóm 3 như sau: Khái niệm (Concept), Đối tượng (Object), Sự kiện (Event) và Địa
điểm (Place), được quy định trong FRBR
Trang 33Thực thể nhóm 3 được định nghĩa trong FRBR như sau:
Khái niệm (Concept) là bao gồm một phạm vi toàn diện của khái niệm trừu
tượng mà có thể là chủ đề của tác phẩm: các lĩnh vực của tri thức, kỷ luật, trường phái tư tưởng (triết lý, tôn giáo, tư tưởng chính trị, vv), lý thuyết, quy trình, kỹ thuật,thực hành, vv Một khái niệm có thể được mở rộng trong tự nhiên hoặc định nghĩa hẹp lại và chính xác theo nội dung tài nguyên được mô tả
Ví dụ: Khái niệm - c1 Kinh tế học
Khái niệm - c2 Chủ nghĩa lãng mạn [15, tr.32]
Đặc điểm nhận dạng Khái niệm qua thuộc tính là yếu tố nâng cao: Thuật ngữ
về khái niệm; thuật ngữ thường dùng; Phụ chú do cán bộ biên mục sửa đổi điểm truy cập; Định danh khái niệm; Tình trạng định danh khái niệm (mức độ xác thực của dữ liệu liên quan đến thực thể: Đã được thiết lập đầy đủ, có thời hạn.)
Đối tượng (Object) là bao gồm một phạm vi toàn diện của vật chất có thể là
chủ đề của tác phẩm: đối tượng có trong tự nhiên có thể là vật động hoặc vô tri vô giác; đối tượng đứng yên, di chuyển, và các đối tượng là sản phẩm sáng tạo của con
người, đối tượng là vật không có còn tồn tại
Ví dụ: Đối tượng - o1 Cung điện Buckingham
Đối tượng - o22 Tàu vũ trụ Apollo 11
Đối tượng – o3 Tháp Eiffel [16, tr.32]
Đặc điểm nhận dạng Đối tượng qua thuộc tính là yếu tố nâng cao : Tên của
đối tượng, tên thường dùng, tên khác của đối tượng; Định danh đối tượng; Nguồn tham khảo; Phụ chú do cán bộ biên mục sửa đổi điểm truy cập; Tình trạng định danh (Mức độ xác thực liên quan đến thực thể: mức độ này đã được thiết lập đầy
đủ, có thời hạn) Đối tượng được nhận dạng qua thuộc tính là yếu tố đặc biệt
Sự kiện (Event) được định nghĩa : bao gồm một hoạt động hoặc sự việc diễn
mà là chủ đề của tác phẩm như: Sự kiện lịch sử, kỷ nguyên, khoảng thời gian
Ví dụ: Sự kiện – E1 Chiến thắng 30-4
Sự kiện – E2 Cuộc tổng tuyển cử 1946
Trang 34Sự kiện – E3 Kháng chiến chống Mỹ
Đặc điểm nhận dạng Sự kiện qua thuộc tính là yếu tố nâng cao: Tên của Sự
kiện, tên thường dùng, tên khác của sự kiện; Định danh sự kiện; Nguồn tham khảo; Phụ chú do cán bộ biên mục sửa đổi; Tình trạng định danh (Mức độ xác thực liên quan đến thực thể: Đã được thiết lập đầy đủ, có thời hạn) Sự kiện được xác định qua nội
dung của tài nguyên được mô tả Sự kiện được nhận dạng qua yếu tố đặc biệt
Địa điểm (Place) được định nghĩa như là nơi chốn được đặt ở: mặt đất
và ngoài Trái đất, địa điểm lịch sử và địa điểm đương đại, địa điểm địa lý và khu vực pháp lý địa chính trị
Ví dụ: Địa điểm – p1 Việt Nam
Địa điểm – p2 Châu Âu
Đặc điểm nhận dạng Địa điểm qua thuộc tính là yếu tố nâng cao: một địa
điểm được xác định theo: Tên, tên thường dùng; Định danh địa điểm; Nguồn tham khảo; Phụ chú do cán bộ biên mục sửa đổi điểm truy cập; Tình trạng định danh (Mức độ xác thực liên quan đến thực thể: Đã được thiết lập đầy đủ, có thời hạn)
Địa điểm được nhận dạng qua yếu tố đặc biệt
Như vậy qua đây cho thấy thực thể là khái niệm, đối tượng, sự kiện, địa điểm
không có đặc điểm nhận dạng qua thuộc tính là yếu tố cơ bản [15, tr.13]
Mối quan hệ giữa các thực thể của nhóm
Mối quan hệ giữa thực thể nhóm 1 được liên kết với nhau qua các mối quan
hệ: Tác phẩm – Biểu hiện – Biểu thị - Tài liệu Mối quan hệ giữa thực thể nhóm 1 được mô tả trong một Tác phẩm và được nhận ra thông qua nhiều biểu hiện; chẳng
hạn một tác phẩm có nhiều tên tác phẩm khác nhau, hoặc một tác phẩm được xuất
bản bằng nhiều ngôn ngữ, tên khác hoặc ngôn ngữ khác nhau là những biểu hiện của tác phẩm
Một biểu hiện của tác phẩm được thể hiện trong nhiều biểu thị khác nhau; chẳng hạn các biểu thị bằng các ngôn ngữ khác nhau: tiếng Anh, tiếng Việt, tiếng
Pháp v.v
Trang 35Kết nối logic giữa tác phẩm và biểu hiện, như được phản ánh trong mô hình
thông qua các quan hệ, cũng là cơ sở để định danh tác phẩm đại diện bởi một
biểu hiện đơn lẻ và để đảm bảo rằng tất cả các biểu hiện của một tác phẩm được kết nối đến tác phẩm Quan hệ này được thể hiện trong sơ đồ 1.1 sau:
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các thực thể nhóm 1 [15, tr.19]
Một biểu thị được cụ thể hóa bằng nhiều tài liệu; chẳng hạn cùng một tác phẩm
“Nhật ký trong tù” của Hồ Chủ Tịch được nhận ra bằng biểu thị: tiếng Việt, tiếng Tây
Ban Nha v.v , thì các tài liệu có ngôn ngữ khác nhau là biểu thị của tài liệu
Ví dụ: với nhan đề tài liệu : “Nhật ký trong tù” có số ĐKCB: VV05
8858 VV05.08859 là những bản tài liệu riêng lẻ được định nghĩa như trong mô hình khái niệm, mang đặc trưng của biểu thị tác phẩm
Nhật ký trong tù = Carnet de prison có các bản riêng lẻ có số ĐKCB: VN10.01944 VN10.01945 được coi là bản tài liệu, đây mang biểu hiện ngôn ngữ
Trang 36là tiếng nước ngoài, được biểu thị bằng tiếng Tây Ban Nha, bản tài liệu mang hai số ĐKCB trên đặc trưng cho tác phẩm
Như vậy một tác phẩm được biểu thị qua các biểu hiện và tài liệu
Quan hệ giữa các thực thể nhóm 1 với thực thể nhóm 2, đó là :
- Quan hệ giữa tác phẩm với thực thể nhóm 2, chẳng hạn: mối quan hệ giữa tác
phẩm với tác giả thông qua quan hệ người tạo nên tác phẩm; quan hệ giữa tác phẩm
với người chủ biên, biên soạn; quan hệ giữa tác phẩm với một dòng họ; quan hệ giữa tác phẩm với một cơ quan – tổ chức v.v
- Mối quan hệ được xác định giữa biểu hiện với thực thể nhóm 2 thông qua quan hệ
giữa tác phẩm với người dịch; Hoặc cá nhân liên quan tới việc hiệu đính bản dịch
của Biểu hiện bằng ngôn ngữ khác của tác phẩm; Hoặc chẳng hạn quan hệ giữa lần
xuất bản với tác giả liên quan tới lần xuất bản, ở đây biểu hiện là tài liệu tái bản, hoặc tài nguyên được sáng tạo lại có chỉnh sửa Tác giả liên quan tới bổ sung, chỉnh sửa tài nguyên
- Mối quan hệ giữa biểu thị liên quan tới cá nhân, dòng họ, hoặc cơ quan – tổ chức
Các biểu thị thể hiện đặc trưng của biểu hiện đó có thể là tên của một cơ quan xuất bản, nhà xuất bản, nhà phân phối, nhà phát hành, nhà sản xuất, nơi sản xuất, nơi xuất bản, nơi phân phối, nơi phát hành, năm xuất bản, năm sản xuất, năm phân phối, năm phát hành, hoặc năm bản quyền v.v Những biểu thị này đều có mối quan hệ với thực thể nhóm 2 đó là người sản xuất, người chịu trách nhiệm xuất bản, người nắm giữ bản quyền, người phân phối v.v
- Mối quan hệ giữa tài liệu với thực thể nhóm 2, chẳng hạn, một tác phẩm được thể
hiện dưới dạng bản in, hoặc dạng âm thanh, hình ảnh Như vậy cá nhân, liên quan tới chuyển tải tác phẩm dạng hình ảnh, âm thanh là quan hệ giữa tài liệu với thực thể nhóm 2 [15, tr.19]
Ví dụ: w1 Lost treasures of the world
e1 Nguồn điện tử
m1 Xuất bản đĩa quang điện tử năm 1994 do Follard CD-Visions
i1 Bản đầu tiên do Thư viện công cộng Calgary lưu trữ
Trang 37i2 Bản thứ 2 do Thư viện công cộng Calgary lưu trữ [15, tr.63]
Sơ đồ 1.2 dưới đây thể hiện mối quan hệ giữa thực thể nhóm 1 với thực thể nhóm 2
Sơ đồ 1.2: Quan hệ thực thể nhóm 1 với thực thể nhóm 2 [16, tr.20]
Quan hệ giữa thực thể nhóm 3
Các thực thể trong nhóm 3 đại diện cho một tập hợp bổ sung của các thực thể
như là các đối tượng của tác phẩm Nhóm này bao gồm :khái niệm (một khái niệm trừu tượng hoặc ý tưởng), đối tượng (một thứ vật chất), sự kiện (một hành động hay xảy ra), và địa điểm (vị trí)
Sơ đồ 1.3 dưới đây mô tả các "chủ đề" liên quan giữa các thực thể trong
nhóm 3 và thực thể tác phẩm trong nhóm 1 Sơ đồ chỉ ra rằng một tác phẩm có thể có nhiều chủ đề như khái niệm, đối tượng, sự kiện, và / hoặc địa điểm Ngược lại, một khái niệm, đối tượng, sự kiện, và / hoặc địa điểm có thể có nhiều hơn một
tác phẩm
Sơ đồ này cũng mô tả các mối quan hệ "chủ đề" giữa tác phẩm và các thực
thể trong nhóm 1 và nhóm 2 Sơ đồ chỉ ra tác phẩm có thể có nhiều chủ đề liên
Trang 38quan nhiều biểu hiện, nhiều biểu thị, cá nhân, cơ quan – tổ chức Ngược lại từ mỗi
biểu hiện, biểu thị, tài liệu, cá nhân, dòng họ, cơ quan – tổ chức đều xác định
được nhiều tác phẩm
Sơ đồ 1.3: Quan hệ giữa thực thể nhóm 1, 2, 3 với Tác phẩm theo chủ đề [15, tr.22]
1.2.2.2 Khái niệm “Yêu cầu chức năng cho dữ liệu kiểm soát tính thống nhất” (FRAD)
Trong thư viện, cơ quan lưu trữ thông tin, thư mục hoặc mục lục thư viện là công
cụ tập hợp dữ liệu tài nguyên thông tin được sắp xếp theo một trật tự nhất định, thống nhất để tăng cường hiệu quả công tác tìm tin Một trong những yêu cầu mà mỗi bản thư mục, hay mục lục cần phải có đó là xây dựng tính thống nhất trong dữ liệu Tính thống
nhất bao gồm: thống nhất về tên người, dòng họ, tên cơ quan – tổ chức, tên tác phẩm,
các biểu hiện liên quan tới tài nguyên thông tin Hình thức kiểm soát tính thống nhất
theo tên người, dòng họ, tên cơ quan – tổ chức, theo tên tác phẩm, theo các biểu hiện
Tác phẩm
Tác phẩm Biểu hiện Biểu thị Tài liệu
Cá nhân Dòng họ
Cơ quan – Tổ chức Khái niệm
Sự kiện Đối tượng Địa điểm
Có chủ đề
Có chủ đề
Có chủ đề
Trang 39được gọi theo tiếng Anh là Authority Vai trò của tính thống nhất dữ liệu đó là nhiệm
vụ liên kết các biểu ghi có chung thuộc tính của thực thể
Xuất phát từ yêu cầu trên, IFLA đã đề xuất nghiên cứu mô hình yêu cầu chức năng đối với dữ liệu kiểm soát tính nhất quán, gọi là mô hình “Functional requirement of Authority Data” (FRAD) Mục đích mô hình là hỗ trợ kiểm soát tính nhất quán trong biểu ghi thư mục Cụ thể là :
- FRAD cung cấp mô hình giữa thực thể và các mối liên quan để kiểm soát tính thống nhất đáp ứng nhu cầu tin của chính người sáng tạo ra tác phẩm, người tạo
ra và duy trì dữ liệu, người sử dụng cuối cùng dữ liệu
- FRAD hỗ trợ đánh giá tiềm năng chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các cơ quan thư viện, lưu trữ [14, tr.7]
Trong FRAD đưa ra khái niệm về : Tác phẩm (work), Biểu hiện (expression),
Biểu thị (manifestion), Tài liệu (Item), Cá nhân (person), Dòng họ (family), Cơ quan - tổ chức (Corporate body), Khái niệm (concept), Đối tượng (Object), Sự kiện (Event), Địa điểm (Place) Những khái niệm về thực thể này được định nghĩa như
trong FRBR
FRAD đưa ra mô hình những thực thể đặc thù là: Tên người, Tên dòng họ, Tên
cơ quan – tổ chức; Đặc điểm nhận dạng tác phẩm; Điển truy cập; Quy tắc biên mục
lưu trữ dữ liệu; Hay một quy ước của cơ quan tạo lập dữ liệu; Hoặc các điểm truy
cập có kiểm soát các hình thức biến thể của tên tác phẩm hoặc tên người, dòng họ,
cơ quan – tổ chức liên quan tới tác phẩm, vv Thực thể trong FRAD cũng có các
thuộc tính (mô tả) và các mối liên quan, chẳng hạn như các hình thức tên tác phẩm trước đó và sau đó [15, tr.10]
Các thực thể được thể hiện mối liên quan với nhau theo mô hình đơn giản
Sơ đồ 1.4 : Quan hệ giữa các thực thể theo mô hình đơn giản [14, tr.10]
Thực thể thư mục Tên và/hoặc số
định danh
Điểm truy cập có kiểm soát
Được nhận biêt bởi Là cơ sở cho
Trang 40Theo mô hình trên: Thực thể thư mục được nhận biết bởi tên và hoặc số định danh
Điều này có nghĩa là đối với một tác phẩm nhất định được xác định với một tên tác cụ thể, hoặc nhận biết theo tên của tác giả, hoặc tên người biên soạn, tên người chủ biên v.v hoặc được nhận biết theo số đăng ký cá biệt, hoặc được nhận biết theo chỉ số tiêu chuẩn ISBN hoặc ISSN v.v
Tên và hoặc số định danh là cơ sở cho Điểm truy cập có kiểm soát
Điều này có nghĩa là cần xây dựng điểm truy cập có kiểm soát đối với thực thể
là tên tác phẩm, hoặc tên tác giả, tên người biên soạn, tên người chủ biên v.v ; hoặc
số đăng ký cá biệt, chỉ số tiêu chuẩn ISBN, hoặc ISSN v.v
Ở mức độ cao, mô hình khái niệm trong FRAD thể hiện dữ liệu thống nhất ở tất cả các thực thể nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3
Mối quan hệ giữa các thực thể: Các mối quan hệ được mô tả trong (sơ đồ 1.5) phản ánh các liên quan vốn có giữa các loại thực thể khác nhau Các dòng
và mũi tên kết nối các thực thể ở phần trên của sơ đồ với những cá nhân đại diện cho các mối quan hệ giữa tên và nhận dạng và các thực thể thư mục mà chúng có liên quan (cá nhân, dòng họ, cơ quan – tổ chức, tác phẩm, biểu hiện, biểu thị, tài liệu, khái niệm, đối tượng, sự kiện, và địa điểm) Để xác định một tài nguyên, việc xây dựng các thực thể quan hệ là thực thể nhóm 1, 2, 3, được biết đến bởi tên tác phẩm, hoặc tên tác giả, tên người biên soạn, hoặc số đăng kí cá biệt, chỉ
số ISBN, ISSN v.v Những thực thể tên/ số định danh này là cơ sở xây dựng điểm truy cập có kiểm soát Tất cả các thực thể được xác định mối quan hệ thông qua quy tắc biên mục và do cơ quan biên mục áp dụng vào công tác mô tả tài nguyên Và cũng chính bộ quy tắc mô tả tài nguyên quy định điểm truy cập có kiểm soát đối với thực thể của tài nguyên Các mối quan hệ này được mô tả theo
sơ đồ sau: