1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHA THO TAN DA

19 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 63,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà thơ Mới sau này đã cho thấy khả năng thật đáng kể trong việc mở rộng những giới hạn thơ ca bởi những ảnh hưởng thâu nhận từ phương Tây nhưng sẽ không một ai trong số họ có được m[r]

Trang 1

Tản Đà (1988-1939)

Tản Đà (1888–1939) là một thi sĩ, văn sĩ, kịch tác gia lãng mạn người Việt Nam Trên văn đàn của

văn học Việt Nam trong hơn 3 thập niên đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tạo Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực, đi khắp miền đất nước, ông để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí Ông được đánh giá là người mở đầu cho thơ mới của văn học Việt Nam, là

"gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại" Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn dịch thơ Đường

và được biết đến như một người dịch thơ Đường sang thơ lục bát hay nhất Việt Nam

Cuộc đời và sự nghiệp Ông tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1888 (tức ngày 29 tháng 4 năm Mậu Tý),

tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây; nay là huyện Ba Vì (một thời thuộc ngoại thành Hà Nội, nay thuộc tỉnh Hà Tây)

Ông xuất thân trong một gia đình phong kiến quan lại Thân sinh ông là Nguyễn Danh Kế, đỗ Cử nhân, làm đến Án sát và từng giữ chức Ngự sử trong kinh Mẹ là Lưu Thị Hiền, cũng có sách ghi là đào

Nghiêm, vốn là một đào hát, nổi tiếng tài sắc, giỏi văn thơ

Do ảnh hưởng gia đình, năm 14 tuổi, ông đã thạo các lối từ chương thi phú Năm 1907, ông theo anh ra

Hà Nội, học trường Quy Thức ở phố Gia Ngư Năm 1909, đi thi hương ở Nam Định, bị hỏng Năm 1912,

đi thi khoa Nhâm Tý, vẫn hỏng Trở về Hà Nội, chứng kiến người yêu là cô Đỗ thị đi lấy chồng, ông chán nản bỏ về Hòa Bình tìm khuây lãng; rồi cùng bạn là nhà tư sản Bạch Thái Bưởi lên chùa uống rượu, làm thơ và thưởng trăng, sống theo lối "tịch cốc"

Năm 1915, ông lập gia đình Năm 1916, người anh từ trần, gia đình trở nên cùng túng, Tản Đà quyết định chuyển hẳn sang nghề cầm bút Thời gian này ông viết tuồng cho các rạp và được đọc thêm nhiều sách dịch Âu Tây bằng chữ Hán, nhờ đó tư tưởng có nhiều biến chuyển

Năm 1920, đi du lịch ở Huế, Đà Nẵng, trở về viết truyện "Thề non nước" Năm 1921, làm chủ bút tờ Hữu

Thanh tạp chí Được 6 tháng, từ chức, trở về quê Năm 1922, lại ra Hà Nội lập Tản Đà thư điếm, sau tập hợp với Nghiêm hàm ấn quán thành Tản Đà thư cục

Năm 1925, phong trào yêu nước dấy lên mạnh mẽ, Tản Đà càng nhập thế tích cực hơn Ông tổ chức một chuyến du lịch vào Nam, gặp gỡ nhiều nhà chí sĩ và viết bài trên nhiều báo

Tháng 2 năm 1928, trở về Bắc, rồi lên định cư vùng Yên Lập (Vĩnh Yên), nhưng bị quan lại địa phương gây khó dễ, phải xuống Hải Phòng, rồi lại lên Hà Nội Năm 1933, sau khi An Nam tạp chí bị đình bản,

ông chuyển sang trợ bút cho Văn học tạp chí ít lâu rồi về quê ở ẩn.

Cuối năm 1937, chuyển về làng Hà Trì (Hà Đông), tham gia dịch thuật, viết báo Sau vì bị viên quan Tổng đốc Hà Đông thù ghét, phải chuyển ra Hà Nội, mở lớp dạy Quốc văn hàm thụ, Hán văn diễn giảng, kiêm cả xem lý số Hà lạc Ông sống nghèo đói, không đủ ăn và trả tiền nhà, bị chủ nhà tịch thu đồ đạc và đuổi đi, Tản Đà phải cùng gia đình dọn về phố Cầu mới

Trong hai năm 1937 và 1938, ông dịch thơ Đường đăng trên báo Ngày nay, trong đó có bài Hoàng Hạc lâu nổi tiếng của Thôi Hiệu

Ông qua đời vì bệnh vào ngày 17 tháng 6 năm 1939

Trang 2

Đêm đông hoài cảm (Tản Đà)

Trăm năm nghĩ đời người có mấy

Một đêm đông sao thấy dài thay!

Lạnh lùng gió thổi sương bay

Chập chờn giấc bướm canh chầy lại canh

Ngó trên án đèn xanh hiu hắt,

Nghe tiếng kim kí cách giục giờ,

Đêm trường nghĩ vẩn lo vơ

Cái lo vô tận bao giờ là xong!

Thân nam tử đứng trong trần thế

Cuộc trăm năm có dễ ru mà!

Có đời mà đã có ta

Sao cho thân thế không là cỏ cây,

Đường có kẻ đường mây gặp bước,

Bước công danh sấn trước trèo cao

Thế gian tỏ mặt anh hào

Muôn nghìn mắt miệng trông vào ngợi khen

Cũng có kẻ tài hoa chữ lợi

Trắng hai tay làm nổi nên giàu

Chẳng khanh tướng, chẳng công hầu

Cũng bao vạn kẻ cúi đầu vào ra

Ấy những hạng vinh hoa phú quý

Làm tài trai đắc chí hơn người

Trăm năm nghĩ cũng nên đời

Trăm năm rồi nữa, biết rồi ra sao?

Lại những kẻ chí cao tài thấp

Bước đường đời lấp vấp quanh co

Phong lưu rồi đủ ấm no

Kém ra lưu lạc giang hồ cũng thân!

Nghĩ qua thử thách trần bao kẻ

Giật mình cho thân thế trăm năm,

Mối đâu bối rối tơ tằm

Lấy ai là kẻ đồng tâm gỡ cùng?

Bước lận đận thẹn cùng sông núi

Mớ văn chương tháng lụi năm tàn

Lụy trần ngày tháng lan man

Nỗi lòng riêng nghĩ muôn vàn càng thêm

Đèn hiu hắt tiếng kim kí cách

Mõ sang canh giục khách đòi cơn

Mạch sầu canh vắng như tuôn,

Nhớ ai nước nước non non bạn tình!

Đề khối tình con thứ nhất (Tản Đà)

Chữ nghĩa Tây, Tầu trót dở dang

Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng

Nửa ngòi bút ngỗng ba sinh lụy,

Một mối tơ tằm mấy đoạn vương

Có kẹo có câu là sách vở,

Chẳng lề chẳng lối cũng văn chương

Còn non còn nước còn trăng gió,

Còn có thơ ca bán phố phường

Trang 3

Còn chơi

Ai đã hay đâu tớ chán đời

Đời chưa chán tớ, tớ còn chơi

Chơi cho thật chán, cho đời chán, Đời chán nhau thời tớ sẽ thôi

Nói thế, can gì tớ đã thôi ?

Đời đương có tớ, tớ còn chơi

Người ta chơi đã già đời cả

Như tớ năm nay mới nửa đời

Nửa đời chính độ tớ đương chơi Chơi muốn sao cho thật sướng đời Đời người ai có chơi như tớ

Chơi cứ bằng văn mãi chửa thôi Chơi văn sướng đến tớ là thôi,

Một mảnh trăng non chiếu cõi đời Văn vận nước nhà đương buổi mới Như trăng mới mọc tớ còn chơi Làng văn chi thiếu khách đua chơi, Dan díu ai như tớ với đời ?

Tớ đã với đời dan díu mãi,

Muốn thôi, đời cũng chửa cho thôi Đời đương dan díu, chửa cho thôi

Tớ dám xa xôi để phụ đời ?

Vắng tớ bấy lâu đời nhớ tớ,

Nhớ đời nên tớ vội ra chơi

Tớ hãy chơi cho quá nửa đời

Đời chưa quá nửa tớ chưa thôi

Tớ thôi, tớ nghĩ buồn cho tớ,

Buồn cả cho đời vắng bạn chơi Nào những ai đâu bạn của đời ? Sao mà bỏ vắng ít ra chơi ?

Chờ ai, chờ mãi, ai đâu tá ?

Hay ngán cho đời chẳng muốn chơi ? Nếu tớ như ai cũng ngán đời

Đời thêm vắng bạn, lấy ai chơi ? Cuộc đời tớ nghĩ chưa nên ngán Nên ngán thời xưa tớ đã thôi

Tớ nhớ năm xưa nửa ngán đời, Nghĩ đi nghĩ lại, lại ra chơi

Mê chơi cho tớ thành dan díu,

Đời dẫu cho thôi tớ chửa thôi

Tớ muốn chơi cho thật sướng đời, Đời chưa thật mãn, tớ chưa thôi Chẳng hay đời tớ lâu hay chóng ?

Dù chóng hay lâu, tớ hãy chơi Trăm năm: tớ độ thế mà thôi,

Trang 4

ức triệu ngàn năm chửa hết đời

Chắc có một phen đời khóc tớ

Đời chưa khóc tớ, tớ còn chơi

Trăm năm còn độ bảy mươi thôi,

Ngoài cuộc trăm năm tớ dặn đời:

ức triệu ngàn năm đời nhớ tớ,

Tớ thôi tớ cũng hãy còn chơi!

Bút đã thôi rồi lại chửa thôi,

Viết thêm câu nữa hỏi đời chơi:

"Lộng hoàn " này điệu từ đâu trước ?"

Hoạ được hay không, tớ đố đời!

TẢN ĐÀ - đặt vấn đề Văn học giao thời

Nghiên cứu trước tác của các tác giả văn học giao thời thấy nổi lên hai đặc điểm cơ bản sau:

-số lượng các tác phẩm không nhiều, không có những tác phẩm có giá trị kết tinh nghệ thuật ở trình độ cao

-vì nhiều lý do khác nhau, không có nhiều những nhà văn mà quá trình sáng tác kéo dài trong suốt giai đoạn văn học Có lẽ đây là những đặc điểm tất yếu của một nền văn học chưa thực sự được chuyên nghiệp hóa như ở giai đoạn sau này

Đặt trong tương quan ấy mới thấy hết ý nghĩa văn học sử của hiện tượng Tản Đà Cùng với Phan Bội Châu, sáng tác của Tản Đà kéo dài trong hầu khắp giai đoạn giao thời Cũng như Phan Bội Châu, sáng tác của Tản Đà trải trên nhiều thể loại khác nhau Cả hai, bằng những cách thức khác nhau, dường như là sự kiểm tra, tổng duyệt lại năng lực biểu đạt nghệ thuật của toàn bộ hệ thống thể loại văn học truyền thống trước những đòi hỏi mới mẻ nảy sinh từ thực tiễn đời sống văn học Điều này lý giải vì sao trong tất cả các bộ văn học sử, cùng với Phan Bội Châu, Tản Đà luôn được nhắc tới như một tác gia quan trọng của giai đoạn văn học giao thời Mặt khác, so với Phan Bội Châu, sáng tác của Tản Đà gắn chặt với môi trường đô thị - chịu những tác động của thị hiếu độc giả trong một môi trường mà văn học đã trở thành hàng hóa, viết văn trở thành một nghề với những trải nghiệm hoàn toàn mới mẻ Mọi miêu tả và phác thảo về lộ trình hiện đại hóa văn học đều không thể bỏ qua sự hiện diện của Tản Đà với tư cách là điểm chuyển giao giữa truyền thống và hiện đại Tất cả những lý do trên khiến vị trí văn học sử của Tản Đà được quyết định không phải chỉ bởi ông là một cá tính và tài năng nghệ thuật lớn mà còn bởi từ cuộc đời

và sự nghiệp sáng tác của Tản Đà người nghiên cứu có thể tìm ra những vấn đề chung mang tính quy luật cho toàn bộ giai đoạn văn học này

TẢN ĐÀ - I Tiểu sử và con người

Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu sinh ngày 25-5-1889 (20 tháng 4 năm Kỷ sửu, Thành Thái nguyên niên) tại làng Khê thượng, huyện Bất bạt, tỉnh Sơn tây nay là thôn Khê thượng, xã Sơn đà, huyện

Ba vì - Hà tây Nguyên quán của Tản Đà ở làng Lủ (tức Kim Lũ) huyện Thanh trì - Hà Nội

Dòng họ của Tản Đà có truyền thống khoa bảng Thân phụ của ông -Nguyễn Danh Kế đỗ cử nhân, làm quan đến chức Án sát Ninh bình Anh ruột (cùng cha khác mẹ) với Tản Đà là Nguyễn Tái Tích đỗ phó bảng, làm tri huyện sau đổi sang ngạch Học quan giữ chức Giáo thụ

Mẹ Tản Đà là Nhữ Thị Nghiêm, một đào hát tài sắc Nam định, lấy lẽ Nguyễn Danh Kế khi ông làm tri phủ Xuân Trường Bà là người hát hay và có tài làm thơ Nôm Tản Đà là con trái út của cuộc lương duyên giữa tài tử và giai nhân này

Cuộc đời của Tản Đà trải nhiều khóc cười Lên 3 tuổi, bố mất Năm sau, vì bất hòa với gia đình chồng, bà Nhữ Thị Nghiêm bỏ đi, trở lại nghề ca xướng Mặc dù ngay từ khi 15 tuổi đã nổi tiếng là thần đồng của tỉnh Sơn tây nhưng Tản Đà liên tiếp trượt cả hai kỳ thi hương 1909 và 1912 Cũng mùa xuân năm 1912, ông không qua được kỳ thi vào trường Hậu bổ vì trượt môn vấn đáp tiếng Pháp Thất bại trong khoa cử gắn liền với đổ vỡ trong tình duyên đã khiến cuộc đời Tản Đà rẽ sang một ngả khác

Năm 1915, Tản Đà có tác phẩm đăng trên Đông dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh và nhanh chóng có

Trang 5

được tiếng vang trên văn đàn Năm 1916, ông lấy bút danh Tản Đà và chính thức chọn con đường của một người viết văn, làm báo chuyên nghiệp Từ 1916 đến 1926 là những năm tháng đắc ý nhất của Tản

Đà Ông liên tiếp cho xuất bản các tác phẩm: Khối tình con I(1916), Giấc mộng con I (1917), Khối tình con II (1918), Đài gương, Đàn bà Tầu, Thần tiền, Lên sáu (1919), Lên tám (1920), Còn chơi (1921), Tản

Đà tùng văn (1922), Thề non nước (1922), Truyện thế gian I và II (1923), nhuận sắc Truyện Tỳ bà (tuồng) của Đoàn Tự Thuật và dịch Đại học (1922), Kinh thi (1924)

Từ năm 1926 đến 1933 ngoài việc xuất bản một số tác phẩm: Giấc mộng con II, Giấc mộng lớn (1932) và

in lại thơ văn cũ Tản Đà bỏ hết tâm sức vào việc làm báo với kỳ vọng vào một sự nghiệp văn chương “có bóng mây hơi nước đến dân xã” Sự lạc điệu của nhà Nho Tản Đà với môi trường đô thị bắt đầu bộc lộ rõ rệt Tờ An nam tạp chí, bất chấp những tâm huyết của ông chủ báo ngất ngưởng, liên tục bị đình bản vì lý

do tài chính và đến năm 1933 (sau 6 lần tái bản rồi đình bản) thì đình bản hẳn Lần vấp ngã này khiến Tản Đà thực sự chán nản và sự nghiệp của ông cũng đi vào giai đoạn thoái trào Từ 1933 cho đến những ngày cuối đời Tản Đà làm trợ bút cho các báo, dịch thơ Đường cho tờ Ngày nay, dịch Liêu trai, quảng cáo chữa văn, xem số Hà lạc Cũng vì sinh kế mà Tản Đà phải trôi dạt nhiều nơi: vào Nam, ra Hà nội, về quê, ra Quảng Yên rồi lại về Hà Đông Ông mất tại Ngã tư Sở, ngày 7 tháng 6 năm 1939, trong cảnh bần bách, để lại vợ và đàn con mà theo lời thuật của Nguyễn Tuân “vừa yếu lại vừa đuối”

Cuộc đời của Tản Đà, như thế, dù có những năm tháng đắc ý nhưng nhìn chung là bất như ý và nhiều đổ

vỡ Điều này khiến Tản Đà (vốn đầy tự tín, ngông nghênh) phải đối diện với một cảm nhận không ít mệt mỏi, chua xót: “Mỗi một phen ra đời lại một phen thất bại; mỗi một phen thất bại, đầu tóc lại bạc thêm” (Giấc mộng lớn) Nỗi sầu bàng bạc trong thơ văn Tản Đà một phần đến từ những trải nghiệm rất thực này

Tuy nhiên, dù phân nửa cuộc đời sau này gắn bó với môi trường đô thị và tập nhiễm không ít lối sống thị dân thì về cơ bản cốt cách của một nhà Nho tài tử vẫn rất đậm nét trong con người Tản Đà Trong một xã hội mà người ta đã học và làm quen được với sự sùng bái đồng tiền Tản Đà trước sau vẫn chọn lối ứng

xử của một khách chơi, một bậc trượng phu đầy hào sảng, phóng túng: Thơ lưng chất nặng, tay buồn rỗi / Bán áo mà mua giấy viết ngông (Dạm bán áo đoạn), Bạc tiền gió thoảng thơ đầy túi / Danh lợi bèo trôi, rượu nặng nai (Tự vịnh) Hoàn toàn không có sự khác biệt giữa hình ảnh Tản Đà trong những câu thơ trên và Tản Đà ngoài đời Sự thống nhất ấy đã khiến Tản Đà, trong mắt của người đương thời và đặc biệt của những kẻ hậu sinh, trở thành bậc trích tiên Vô số những giai thoại về Tản Đà đều xoay quanh cái cốt cách khác thường này của ông Cùng với thơ ca, con người thực của Tản Đà thực sự là một niềm say mê, ngưỡng mộ của nhiều thế hệ Thậm chí ngay cả khi những sáng tác của ông không còn sự hấp dẫn như buổi đầu xuất hiện thì sự hấp dẫn đến từ con người thực của Tản Đà vẫn không hề giảm sút Cá tính độc đáo của Tản Đà còn tiếp tục vang bóng trong những giai thoại về Nguyễn Tuân (người bạn vong niên mà sinh thời Tản Đà vốn có biệt nhãn) và nó khiến cho Lưu Trọng Lư dù có lúc không ưa gì cái Tôi kềnh càng của Tản Đà trong đời thực vẫn phải thừa nhận: “con người Nguyễn Khắc Hiếu chính là cái tác phẩm tuyệt xảo, một bài thơ hay nhất trong sự nghiệp của Tản Đà”

TẢN ĐÀ - II Kiểu nhà thơ giao thời: từ nhà Nho trở thành người sáng tác chuyên nghiệp và quan niệm về văn học của Tản Đà.

1/1.1 Thừa hưởng truyền thống của gia đình, Tản Đà ngay từ nhỏ, đã được rèn cặp theo lối học cử tử mà

người thầy cũng đồng thời là người anh ruột - phó bảng Nguyễn Tái Tích Ảnh hưởng của Nho giáo với Tản Đà, như thế, là một ảnh hưởng từ rất sớm và cũng rất tự nhiên như một nét của gia phong Chính vì thế, Tản Đà vào đời theo một lộ trình đã định trước và cũng khá quen thuộc với một nhà Nho: học hành -

đi thi - làm quan (trước để nối nghiệp nhà và với Tản Đà còn có thêm một mục đích rất dễ thương: có được người đẹp trong mộng) Chuyện trở thành nhà văn nhà báo chuyên nghiệp sau này trong cảm nhận

của Tản Đà là một sự lỡ dở: Chữ nghĩa Tây Tàu trót dở dang / Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng (Đề

“Khối tình con” thứ nhất

Thực tế này lý giải vì sao: trước năm 1913 không thấy phát lộ một khả năng cũng như thiên hướng đặc biệt nào của Tản Đà về lĩnh vực sáng tác văn chương nghệ thuật Vốn liếng của Tản Đà thời kỳ này dù có xuất sắc hơn người thì chủ yếu vẫn chỉ là chuyện chữ nghĩa đóng khung trong sách vở thánh hiền

Hiểu thế, mới có thể lý giải được vì sao việc hỏng thi Hương năm 1912 lại khiến Tản Đà chán nản, bi phẫn đến như thế Ở thời gian này, lối học thi cử truyền thống đã đến hồi kết Ba năm sau, năm 1915, sẽ

là khoa thi chữ Hán cuối cùng ở miền Bắc Trước Tản Đà không lâu, dù cay cú, dù than thở thì Tú Xương vẫn có thể trọn đời theo nghiệp khoa cử Đến Tản Đà, sự phá sản của lối vào đời truyền thống ấy đã trở thành hiện thực nhãn tiền Nhà Nho Tản Đà không còn đủ tự tin, cơ bản hơn, cũng không còn đủ cơ hội

Trang 6

để đánh cược vào khoa cử Bị trượt ra khỏi quỹ đạo truyền thống, hoàn toàn mất phương hướng trong hành xử đấy mới chính là nguyên nhân sâu xa gây ra sự chán nản đến độ “quyết mong tịch cốc để từ trần”

ở Tản Đà - mà sự kiện “ý trung nhân xuất giá” chỉ là một giọt nước tràn ly

1.2 Chính ở thời điểm này, sáng tác văn chương xuất hiện như một phương thức để giải tỏa Những sáng

tác này sau đó sẽ được in ở hai quyển Khối tình và Khối tình con thứ nhất nhưng như Tản Đà đã thuật lại

rất rõ: “trong khi đương viết ở Cổ đằng, thực chưa có bụng nào viết văn để in vậy” Tản Đà chỉ thực sự

lựa chọn con đường của một người kiếm sống bằng ngòi bút vào năm 1916 Đây là năm ông lấy bút hiệu Tản Đà Đặc biệt cũng trong năm này ông từ chối lời mời vào học mà không phải qua thi tuyển của E.Vayrac giám đốc trường Hậu bổ Ở điểm xuất phát không được chuẩn bị và cũng không hề có ý định để trở thành nhà văn chuyên nghiệp, đến với nghề văn khá muộn nhưng lại rất cương quyết và triệt để trong toàn bộ quãng đời còn lại Những nguyên nhân nào đã làm nên sự biến đổi đặc biệt quan trọng này ở nhà Nho Tản Đà?

Trong nhận thức mang tính tiên nghiệm của nhà Nho có ba điều cũng là ba lĩnh vực để có thể lưu danh thiên cổ (tam bất hủ): lập đức, lập công và lập ngôn Mãi cho đến cuối đời, Phan Bội Châu vẫn nhắc lại

tiên đề này Sự tán thưởng với quan điểm lập thân này cũng được Tản Đà công khai bày tỏ: “Đã gọi là

thằng người phải có một cái hơn con vật Hoặc là cái đức hay, hoặc là cái việc hay, hoặc là câu nói hay”

(An nam tạp chí - số 8) Cốt cách tài tử lại thêm những pha tạp của lối sống thị dân khiến Tản Đà không

bị hấp dẫn bởi những khuôn mẫu của một nhà đạo đức Ở vào một thời đại mà văn minh phương Tây đã chứng tỏ sự ưu việt hơn hẳn của nó thì ngả rẽ kỳ vọng vào một sự nghiệp kinh bang tế thế cũng trở nên

mù mịt đối với một nhà Nho phải “phá nghiệp kiếm ăn xoàng” như Tản Đà Chỉ còn một mảnh đất cuối

cùng: mảnh đất của “lời nói hay” (lập ngôn) để Tản Đà có thể thi thố với đời Có không ít những nguyên

cớ chủ quan và khách quan khuyến khích Tản Đà theo ngả rẽ này Từ sau những năm 1910, trên cơ sở của môi trường đô thị hiện đại, viết văn làm báo đã trở thành một nghề Tiếp sau những tờ công báo là sự

ra đời của báo chí tư nhân đáp ứng những nhu cầu và thị hiếu mới của tầng lớp thị dân đang ngày một trở nên đông đảo Danh phận của người viết văn làm báo được thừa nhận và xem trọng Đây là cơ sở để

Phạm Quỳnh có thể tự tin và hào hứng tuyên truyền cho luận điểm: “Các nước Âu Mỹ trọng các nhà văn

sĩ hơn các bậc đế vương vì cái công nghiệp tinh thần còn có giá trị quý báu và ảnh hưởng sâu xa hơn là những sự nghiệp nhất thời về mặt chính trị” Cái không khí mới mẻ của thời cuộc ấy không phải là

không có sức hấp dẫn Thêm nữa, ngay từ bài tản văn đầu tiên của mình in trên Đông dương tạp chí, Tản

Đà đã được tán thưởng đặc biệt đến mức ông chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh - với tất cả sự nhạy bén về thị trường của một nhà báo chuyên nghiệp - đã phải mở và dành riêng một mục cho Nguyễn Khắc Hiếu lấy

tên là Một lối văn Nôm Một loạt những bài tản văn tiếp theo như: Cái chứa trong bụng người, Giá ngày,

Giá người, Giải sầu đưa lại cho Nguyễn Khắc Hiếu một địa vị danh tiếng trong văn đàn Những nguyên

cớ trên lý giải vì sao Tản Đà đã mạnh dạn để đến với văn học chuyên nghiệp một cách quyết liệt và triệt

để đến thế - một lựa chọn mà ngay cả những nhà văn ở giai đoạn 1932-1945 sau này không phải ai cũng

có được

Thực tế này đã đem lại những nét thật sự mới mẻ trong quan niệm về văn học của Tản Đà Ngay từ năm

1916, trong lời đề tựa cho tập Khối tình con thứ nhất, người ta đã bắt gặp một chân dung và một tuyên ngôn cho sự tồn tại của một loại hình nhà văn mà rồi đây sẽ chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống văn học:

Còn non còn nước còn trăng gió

Còn có thơ ca bán phố phường

Trong quan niệm truyền thống, văn học là một thứ quà tặng để thù tạc Điều này giải thích vì sao trong văn học trung đại bất chấp một khối lượng lớn những tác phẩm được sáng tác thì trong đời sống vẫn không có khái niệm thi sĩ, khái niệm nhà văn Người ta gọi Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến theo phẩm hàm, học vị Những danh hiệu đó dường như tôn quý hơn và cũng rộng lớn hơn danh hiệu thi sĩ Làm thơ không phải là một nghề, nó là một phần (được đề cao nhưng không bắt buộc phải có) trong hoạt động sống của một ông quan, của một nhà khoa bảng Trong sự đối sánh ấy, cái tuyên ngôn về “thơ ca bán phố phường” của Tản Đà là một sự khai sinh cho một danh phận mới: nhà văn chuyên nghiệp, cũng đồng thời nó đem đến cho văn học một thuộc tính mới: thuộc tính hàng hóa Từ

quan niệm mới mẻ về văn học này, Tản Đà sẽ tổng kết cuộc đời mình với tư cách của một người: Khi làm

chủ báo lúc viết mướn (Tiễn ông Công lên chầu trời) Chỉ từ Tản Đà người ta mới bắt gặp những trải

nghiệm thật mới mẻ của một người viết văn với những điều kiện khắc nghiệt của thị trường: Bao nhiêu

củi nước mới thành văn/Được bán văn ra chết mấy lần/Ông chủ nhà in in đã đắt/Lại ông hàng sách mấy

mươi phân (Lo văn ế)

Với những mới mẻ trong cách thế hành nghề cũng như trong tầng sâu quan niệm văn học như trên Tản

Đà xứng đáng được xem là người tiên phong trên con đường vận động từ lối viết văn làm thơ của nhà Nho sang lối viết văn làm thơ của một nhà văn chuyên nghiệp

2 Tuy nhiên con đường trở thành nhà văn chuyên nghiệp của Tản Đà càng về sau càng trở nên quanh co

Trang 7

và chung cuộc trở thành dang dở

2.1 Nhà văn chuyên nghiệp và văn chương trở thành hàng hóa - những quan niệm mới mẻ này kéo theo

nó một loạt những hệ quả mà quan trọng nhất là tác động của người đọc đến sáng tác của nhà văn Tự nhìn nhận mình với chức phận: đem “thơ ca bán phố phường” một cách tự nhiên những nhu cầu, thị hiếu của tầng lớp thị dân đã có những tác động không nhỏ đến thực tế sáng tác của Tản Đà Những tác phẩm xoay quanh đề tài du ký, những câu chuyện tình ái với hình bóng của các giai nhân trong hầu hết những sáng tác của ông cũng như những sầu muộn vẩn vơ trong các tập Khối tình con - một phần là xuất phát

từ cá tính sáng tạo của Tản Đà nhưng mặt khác cũng có sự gợi ý và kích thích từ phía môi trường của độc giả những thập kỷ hai mươi trong môi trường đô thị Dễ dàng nhìn thấy những tương đồng (ở những mức

độ đậm nhạt khác nhau) trong các đề tài và mô- tip nghệ thuật nói trên giữa Tản Đà và một loạt những cây bút đương thời như: Nguyễn Bá Trác, Đoàn Như Khuê, Phạm Quỳnh và muộn hơn một chút là Đông

Hồ, Tương Phố, Hoàng Ngọc Phách Những tương đồng này cho thấy rất rõ đằng sau những sáng tác văn học là những nhu cầu và thị hiếu mới của thời đại mà những người cầm bút một khi đã đi vào con đường một nhà văn chuyên nghiệp ít nhiều đều chịu sự tác động và định hướng của chúng

2.2 Tuy nhiên, người ta còn bắt gặp một cách hệ thống những quan niệm văn học của nhà Nho truyền thống - đóng vai trò như một khung khổ định trước trong tư duy về văn học của Tản Đà

Tản Đà là người tự tín và thành thật Ông tự khen thơ mình nhiều lần và tỏ ra đặc biệt tự hào về thi tài của mình Nhưng còn có một niềm tự hào khác - cũng là một chức phận mà Tản Đà rất mực đề cao, xem

đó như mục đích tối thượng cho hoạt động sáng tác của mình: truyền bá thiên lương cho nhân loại (Hầu

trời) Chức phận này Tản Đà suốt đời chẳng bao giờ nguôi quên: Hai chữ “thiên lương” thằng Hiếu

nhớ/Dám mong không phụ Trời trông mong (Tiễn ông Công lên chầu Trời) Quan điểm đem văn

chương phục vụ cho nhiệm vụ truyền bá thiên lương này, một lần khác, được Tản Đà trình bày một cách

khúc chiết và có lập luận chặt chẽ hơn qua lời của Chu Kiều Oanh: “Văn chương có trọng giá, không

phải là một sự đùa vui trong ý thú, không phải là một sự đua vui trong phẩm bình, mà phải có bóng mây hơi nước đến dân xã Sao cho nhân tâm, phong tục được thuần chính, dân trí tư tưởng được khai minh,

là chức trách của ngòi bút đại văn gia” Với cách hiểu này văn chương được đề cao rất mực nhưng cái

làm nên giá trị của văn chương không phải ở tự thân văn chương mà ở chức năng giáo huấn, ở khả năng khai minh, chính tâm cho xã hội - một sự tái hiện trọn vẹn cho mệnh đề “văn dĩ tải đạo” quen thuộc của Nho gia

Giai đoạn giao thời là sự đan xen của hai hệ thống thể loại cũ - mới Bên cạnh văn - thơ - phú - lục của truyền thống còn là những thể loại mới có nguồn gốc từ phương Tây: truyện ngắn, tiểu thuyết Vấn đề không chỉ là sự phức tạp trong hệ thống thể loại, cơ bản hơn, còn là sự phức tạp trong cách thức phân

loại Trong bài báo Chữ Nho với chữ Quốc ngữ (1918), Phạm Quỳnh đề xuất quan điểm: “Văn có nhiều

lối đã đành, mà văn cũng có nhiều hạng” Nhiều lối là sự khác biệt về thể loại, phong cách Nhiều hạng

lại là sự phân biệt về tôn ty: cao - thấp, trên - dưới, khinh - trọng Phân chia các thể loại theo cả hai tiêu chí: nhiều lối và nhiều hạng cũng là đặc điểm nổi bật trong quan niệm thể loại của Tản Đà mà tiêu biểu

nhất là trong bài Hầu Trời (1921):

Đọc hết văn vần sang văn xuôi

Hết văn thuyết lý lại văn chơi

Hai quyển Khối tình văn thuyết lý

Thần tiên, Giấc mộng văn tiểu thuyết

Đài gương, Lên sáu văn vị đời

Trong một loạt những cách gọi tên trên thấy có sự phân loại theo lối: văn vần và văn xuôi nhưng sự đối lập giữa văn thuyết lý và văn chơi, văn vị đời và văn chơi là phân loại theo thứ hạng Mặc dù thành danh với Giấc mộng con nhưng trong quan niệm của mình Tản Đà không xem trọng tiểu thuyết như tản văn

Sau này khi giới thiệu Giấc mộng lớn, Tản Đà cũng giữ quan điểm này: “chẳng qua là một cuốn văn chơi (TVT nhấn mạnh), tưởng cũng không quan hệ đến những lời phẩm bình của các bậc đại nhã cao nhân

vậy” Văn vị đời - có bóng mây hơi nước đến dân xã - mới là thể loại mà Tản Đà xem trọng Ông khẳng

định: “Văn chương mà không được như các văn Lư Thoa, Lương Khải Siêu thời sự nghiệp có đáng giá là

mấy” Đặt tâm tư học lực của mình vào tản văn chính là một kỳ vọng của Tản Đà vào một sự nghiệp văn

chương của Khang, Lương, Lư Thoa - những hình mẫu cho hạng văn vị đời của ông

Với những quan niệm về tính chất và thể loại văn học như trên dễ hiểu là vì sao từ 1926 trở đi Tản Đà bỏ hẳn những sáng tác thuộc hệ thống thể loại văn chơi để chuyển sang viết báo tuyên truyền cho thuyết thiên lương, kỳ vọng vào một sự nghiệp văn chương giáo hóa, chính nhân tâm, thuần phong tục Oái oăm thay, lựa chọn này đã khiến ông xa rời quỹ đạo của một nhà văn chuyên nghiệp để trở về với kiểu văn học nhà Nho truyền thống Áp lực từ phía thị hiếu của độc giả bị thay thế bởi những hành xử quen thuộc trong sáng tác văn học truyền thống Sự “lại giống” này (chữ dùng của GS Trần Đình Hượu), như thực tế

Trang 8

cho thấy, chẳng những khiến Tản Đà đánh mất độc giả mà, cơ bản hơn, nó đồng thời làm mất đi nhu cầu

và khả năng (vốn dĩ rất dồi dào) tìm tòi đổi mới văn học theo hướng hiện đại trong những sáng tác ở giai đoạn trước đó của ông Là một trong những đại diện đầu tiên ở vào thời điểm phôi thai của nền văn học mới cùng với không ít những hăm hở “phá cách vứt điệu luật” nhưng hấp lực từ quan niệm văn học truyền thống đã khiến Tản Đà càng đi càng trở nên bối rối, chậm bước để rồi trở lại với điểm xuất phát ban đầu Quả thực, không phải cứ có một quan niệm mới là có ngay những tác phẩm có giá trị nhưng nếu không được định hướng từ một quan niệm văn học thực sự mới mẻ thì ngay cả với một tài năng cỡ Tản

Đà cũng khó có được khả năng và một xung lực cần thiết cho những cách tân nghệ thuật đích thực

TẢN ĐÀ - III.Sầu - Mộng và sự hiện diện của cái Tôi cá nhân

Vấn đề cái Tôi cá nhân trong văn học cho đến nay vẫn là một đề tài mở, cho phép song song tồn tại những cách lý giải và quan niệm khác nhau

Từ góc độ triết học, có thể nhận thấy: con người ở bất kỳ thời đại nào cũng có chung những nhu cầu cơ bản Một trong những nhu cầu cơ bản đó là nhu cầu được sống với chính mình Tuy nhiên, khả năng nhận biết những phương thức để đáp ứng những nhu cầu này ở mỗi nền văn hóa, ở mỗi thời đại là khác nhau Chính vì thế cái Tôi cá nhân nói chung và cái Tôi cá nhân trong văn học nói riêng là một hiện tượng cần được nhận thức trong những tồn tại lịch sử cụ thể

Văn học nghệ thuật thời trung đại, một mặt, chịu ảnh hưởng của Nho giáo (thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải

đạo); mặt khác, với tư cách là tiếng nói của tinh thần của thế giới tâm hồn văn học nghệ thuật còn là

mảnh đất để cái Tôi cá nhân hiện diện Điều này là cần thiết không phải chỉ bởi đặc thù của hoạt động sáng tạo nghệ thuật: luôn gắn liền với vấn đề phong cách, cá tính sáng tạo, gắn liền với những trải nghiệm của cá nhân người cầm bút Cơ bản hơn, sự hiện diện của cái Tôi cá nhân trong văn học nghệ thuật còn là một nhu cầu để cân bằng cho đời sống tinh thần của con người, giúp anh ta được sống với chính mình, tạm gác bỏ những ràng buộc, những giới hạn của con người chức phận luân thường Cách đặt vấn đề như trên giúp chúng ta nhìn nhận về cái Tôi cá nhân không chỉ như một phương diện của nội dung tác phẩm

mà còn có vai trò như một tiêu chí để phân biệt hai loại văn chương trong văn học trung đại: văn chương chức năng và văn chương nghệ thuật

Dấu vết của loại hình văn chương chức năng vẫn tồn tại ở Tản Đà một cách khá rõ nét (chủ yếu ở những tác phẩm thuộc loại văn vị đời) nhưng những sáng tác có ý nghĩa văn học sử quan trọng nhất của ông lại thuộc về loại hình văn chương nghệ thuật Chính ở những tác phẩm thuộc loại này mà cái Tôi cá nhân bắt đầu hiện diện như một tiêu điểm thẩm mỹ trong những sáng tác của Tản Đà qua hai phạm trù thẩm mỹ chính: Sầu - Mộng

1 Không phải đến Tản Đà văn học Việt Nam mới biết đến chữ sầu Trong văn học truyền thống sầu là

một phạm trù thẩm mỹ và ý nghĩa của nó không chỉ là một tầng vỉa nội dung mà, như trên đã nói, còn là một tiêu chí quan trọng để phân biệt giữa văn học mang tính nghệ thuật phân biệt với bộ phận văn học chức năng Trong bộ phận văn học chức năng con người chức phận đóng vai trò chủ đạo Tư thế quan phương là tư thế đã được quy định từ trước trong các tác phẩm loại này Một cách tự nhiên, cái Sầu cũng như những cảm xúc tự nhiên khác của con người cá nhân không có lý do để hiện diện Nhưng trong những tác phẩm nghệ thuật thì khác Ở đó con người được sống với cái Tôi riêng tư của mình với những hoài vọng những day dứt, nỗi đam mê và sự khổ đau, những dự phóng và cả những bất thành, dang dở

Dễ hiểu vì sao cái Sầu luôn bàng bạc trong những tác phẩm mà ở đó tư thế quan phương được thay thế bằng tư thế của một cá nhân với những nếm trải chân thực trong cuộc đời Sầu, vì thế, là một ô cửa sổ để nhìn vào thế giới của cái Tôi trong văn học trung đại

1.1 Mạch sầu của Tản Đà, trước tiên, bắt nguồn từ mạch sầu truyền thống Đấy, thường bắt gặp một cách

phổ biến, là cái sầu về kiếp người ngắn ngủi Tản Đà chấp nhận bi kịch này như một tất yếu của kiếp người, không còn dằn dỗi ông chỉ ngậm ngùi than thở:

Ấy ai quay tít địa cầu

Đầu ai nửa trắng nửa pha mầu xuân xanh

Trông gương mình lại ngợ mình

Phải chăng vẫn giống đa tình ngày xưa

( Bài hát xuân tình)

Càng về sau này, cảm giác về sự hữu hạn của kiếp người càng giày vò nhà thơ Nó khiến ông bâng

khuâng trước cảnh tượng của bông hoa: Đương ở trên cành bỗng chốc rơi (Hoa rụng); chạnh lòng trước ngôi mả cũ ven đường; ngao ngán, thậm chí, hoảng sợ khi phải đối diện với thực cảnh: Tuyết nhuộm đầu

xanh, tóc bạc phơ (Thơ thẩn) Nhận biết đó là một quy luật chẳng thể đổi khác, Tản Đà thể hiện nỗi tiếc

đời bằng lời van xin thời gian chậm bước:

Trang 9

Thương thay! xuân chẳng đợi chờ

Tiếc thay! xưa những hững hờ với xuân

Trăm nghìn gửi lại Đông quân

Hãy khoan khoan tới, hãy dần dần lui

(Xuân cảm)

Ý niệm về kiếp người ngắn ngủi mài sắc cảm nhận về thời gian khiến Tản Đà ngay cả khi khai thác những đề tài rất quen thuộc trong truyền thống vẫn có được những nét riêng của mình trong cách khai

triển tứ thơ và phô diễn cảm xúc Cái làm nên không khi bâng khuâng đặc biệt trong Tống biệt không gì

khác là những cảm giác về thời gian được cài suốt mạch bài thơ:

-Nửa năm tiên cảnh

Một bước trần ai

-Trời đất từ đây xa cách mãi

-Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.

Cũng như thế với Thu khuê oán - một đề tài không thể truyền thống hơn được nữa nếu không muốn nói là

rất dễ rơi vào sáo cũ và trên thực tế là Tản Đà đã có những câu thơ rất sáo - thì chỗ thoát sáo của ông đấy

là điểm nhấn trong cảm nhận về thời gian ở khổ cuối:

Ngày tháng đi chóng, năm canh trường

Lác đác sao tàn lấp lánh gương

Trên trời Chức nữ cùng Ngưu lang

Một giải sông Ngân lệ mấy hàng

Hệ thống ngôn từ và thi liệu vẫn là của truyền thống nhưng những cảm nhận thời gian trong một loạt những trích dẫn trên dường như là sự báo trước những tứ thơ chất đầy ám ảnh thời gian trong thơ Mới sau này

1.2 Cái sầu về kiếp người ngắn ngủi là cái sầu của nhân sinh phổ quát Với Tản Đà, mạch sầu này của

ông được phô diễn một cách thấm thía hơn khi nó gắn với cái sầu về thân thế sự nghiệp - nỗi sầu được chắt ra từ những trải nghiệm rất riêng của cuộc đời Tản Đà Là người ôm ấp nhiều cao vọng nhưng thực

tế cuộc đời lại khiến Tản Đà nhiều phen phải đối diện với sự lỡ dở, thất bại Nếu để ý kỹ, càng về cuối đời - khi mà cảm nhận về quỹ thời gian của đời người cất tiếng ngày một riết róng - thì thơ văn của Tản

Đà (hơn bao giờ hết) càng ngậm ngùi nỗi buồn của một kẻ trắng tay với cuộc đời Mỗi độ năm tận, xuân

về lại khiến Tản Đà thêm se sắt bởi nó nhắc nhở ông về những gì dang dở, bất thành Một năm trước khi mất, trong ngày Tết ông Công, kiểm định cuộc đời mình, Tản Đà viết những dòng thành thực nhất cũng

là chua xót nhất:

Khi làm chủ báo lúc viết mướn

Hai chục năm dư cảnh không cùng

Trần gian thước đất vẫn không có

Bút sắt chẳng hơn gì bút lông

Ngày xanh như ngựa đầu xanh bạc

Chán cả giang hồ hết cả ngông

(Tiễn ông Công lên chầu trời)

Cũng chính mạch sầu này trở thành cái nhìn nghệ thuật để Tản Đà viết Giấc mộng lớn -cuốn tự truyện về cuộc đời mình Nhịp chính trong mạch trần thuật của Giấc mộng lớn là những đổ vỡ trong cuộc đời của

Tản Đà Những sự kiện khác chỉ được kể có tính chất điểm xuyết Cứ sau mỗi lần thất bại, vấp ngã lại thấy Tản Đà thêm một lần chùng xuống mệt mỏi Kết thúc tác phẩm, thật thấm thía nhưng cũng thật chẳng thanh thản chút nào khi Tản Đà phải đối diện với chân dung tự họa của mình qua đôi câu đối có ý nghĩa như một tổng kết:

Hơn mười năm bút sắt, bút lông, hao giấy mực chẳng ích gì cho xã hội

Trải ba xứ đường xe đường bể, trụi râu mày còn thẹn với giang san

Khép lại cuốn sách là hình ảnh một kẻ không nhà - một khách giang hồ ngoài ý muốn, mỏi mệt trong mọi ước vọng Một kết thúc mở, nhưng là cho những bi kịch mà ở điểm mút của nó là một cái chết bất thường trong cảnh túng quẫn Chung cuộc, kinh nghiệm cuộc đời mà Tản Đà thấm thía hơn cả là một trải nghiệm

: “ở đời, chỉ những sự buồn mới là thật” (Xuân như mộng) Ta sẽ còn đề cập đến ý nghĩa mỹ học của hiện

tượng này ở phần sau trong sự đối sánh với cõi mộng Ở đây chỉ xin lưu ý: việc những chất liệu có tính chất tiểu sử của Tản Đà đi vào tác phẩm văn học qua cửa ngõ của cái sầu như trên cho thấy sầu là một phương tiện để cái Tôi thân thế của Tản Đà xuất hiện với tư cách là một phương diện của cái Tôi cá nhân được ý thức

1.3 Cô đơn là một âm giai khác của nỗi sầu mà qua đó cái Tôi cá nhân trong những sáng tác của Tản Đà

hiện diện Nhà Nho trong truyền thống do ý thức về phận vị đặc tuyển của mình, do tinh thần tự nhiệm

nên những nỗi “tiên ưu” (Nguyến Trãi), những cảnh ngộ “ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ” (ta có tấc lòng

Trang 10

không biết nói cùng ai - Nguyễn Du) khiến họ không ít phen phải đối diện với nỗi cô đơn Mạch khác của nỗi cô đơn được khơi nguồn từ cảm hứng thương thân, xót thân ở Hồ Xuân Hương, nàng chinh phụ, người cung nữ Sự đa dạng là hiển nhiên nhưng vẫn có một mẫu số chung cho những sầu muộn cô đơn trong truyền thống: chúng thuộc phạm trù cái bi Đấy là cái cô đơn bi phẫn, ưu uất Đến Tản Đà, cái cô đơn đã bắt đầu có những nét mới lạ trong cách phô diễn, trong diện mạo Diễn tả cái cô đơn, ngay cả khi

bi lụy nhất, Tản Đà cũng thiên về cái réo rắt, buông lơi Tâm sự cô đơn vì thế không nén lại, u uẩn mà

thường chỉ như một hơi thở nhẹ thoát, bảng lảng: Chiều quá khách chơi về đã vãn/Gốc cây thơ thẩn một

mình ngồi (Chơi trại hàng hoa), Mạch sầu canh vắng như tuôn/Nhớ ai nước nước non non bạn tình (Đêm

đông hoài cảm), Những ai mặt biển chân giời/Nghe mưa ai có nhớ nhời nước non (Mưa thu đất khách)

Bắt gặp nhiều hơn ở Tản Đà là cái cô đơn trong điệu sầu man mác và không hiếm khi nó được vờn vẽ

trong một khung cảnh thiên nhiên đầy gợi cảm: Con đường vô hạn khách đông tây/Ta nhớ ai mà đứng

mãi đây (Quê nhà chơi mát cảm hứng), Suối tuôn róc rách ngang đèo/Gió thu bay lá bóng chiều về tây/Chung quang những lá cùng cây/Biết người tri kỉ đâu đây mà tìm (Vô đề)

Cái cô đơn ở đây rõ ràng không còn thích thú với cung bậc bi thương, chất chứa vẫn thường bắt gặp trong thơ cổ điển mà bắt đầu hướng tới cái du dương, êm ái thi vị đầy mới mẻ Dường như bắt gặp ở đây một

xu hướng mỹ lệ hóa cái cô đơn và đồng nhất nó với những cảm giác bâng khuâng mơ hồ, thậm chí

là mơ mộng trong thế giới nội cảm của nhân vật trữ tình Những nỗi sầu và cô đơn như thế khiến

người ta thích thú nếm trải và khám phá Cái Tôi cá nhân trong bước khởi đầu tìm kiếm chính mình đã hiện ra trong thơ Tản Đà với gương mặt của những nỗi cô đơn duyên dáng và tình tứ như thế Nó báo trước cho cái tôi - cảm xúc và sự say mê đặc biệt với những cô đơn, sầu khổ của thơ ca giai đoạn tiếp theo

2/ 2.1 Cùng với sầu là mộng Ngay từ rất sớm, trong lời tựa cho cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình: Giấc

mộng con, Tản Đà đã tự gọi mình là người mộng Chỉ cần nhìn vào nhan đề của các tác phẩm (Giấc mộng con I và II, Giấc mộng lớn, Xuân như mộng, Nhớ mộng ) cũng có thể dễ dàng nhận thấy: cõi

mộng là không gian nghệ thuật đặc trưng cho thế giới nghệ thuật của Tản Đà Không ít lần ông bàn luận

và triết lý về nó Trong quan niệm của Tản Đà, con người sống trong hai thế giới Thế giới thứ nhất là thế

giới của những gì đã trải biết Ông gọi đó là “cảnh ngộ ở đời” Nhưng còn có một thế giới khác, thế giới của những cảnh ngộ: “thân thể chưa trải biết mà ý thức đã đi trước” - những trải nghiệm thuần túy chỉ có

trong tưởng tượng Đây chính là thế giới của mộng Được gợi ý từ nhãn quan “tề vật luận” của Trang tử,

Tản Đà phân biệt: “mộng là cái mộng con, đời là cái mộng nhớn” Quan điểm về cõi mộng, một lần khác,

được thể hiện đầy đủ và hệ thống hơn qua lời của Chu Kiều Oanh:

“Con người ta ở trong vũ trụ, hình thể có giới hạn mà tinh thần không có giới hạn Cho nên lấy hình thể

mà nói thời ngoài các sự vật hiện tại ở trước mắt, đều là không có; lấy tinh thần mà nói thời phàm cảm giác còn đi tới, tức không phải giả mà là chân”

Mộng trong quan niệm của Tản Đà ở đây có hai điểm đặc biệt quan trọng Thứ nhất: mộng thuộc về cõi

tinh thần, mà cõi tinh thần là “không có giới hạn” Vậy nên, thế giới của mộng là không có giới hạn,

không bị ước thúc bởi những quy tắc của thế giới hiện thực Thứ hai: mặc dù không thuộc về thế giới

hiện thực ở đời nhưng những trải nghiệm trong cõi mộng cũng là một hiện thực - nó “không phải giả mà

là chân”

Điều gì đã khiến Tản Đà quan tâm đến cõi mộng đến độ phải tường giải, thuyết minh về nó một cách trực tiếp và có hệ thống đến như thế trong tác phẩm của mình? Không thể trả lời thấu đáo câu hỏi này nếu không gắn nó với ý thức về cái Tôi Trong tản văn của mình, Tản Đà nhiều lần triết lý về cái gọi là

“thằng người” Ông nhận thấy đó là một danh xưng cao quý và vì thế công khai giữ một thái độ khinh bạc với sự tồn tại vô nghĩa của những kẻ: “chỉ từ lúc biết ăn cơm, mỗi năm mỗi nhớn lên; lấy một, hai vợ;

đẻ ba, bốn con; sống năm, sáu, bảy mươi tuổi; rồi chết, thời nghĩ hơn con lợn kia bao nhiêu?” (Thằng người) Khó chịu đến mức ác cảm với những tồn - tại - vô - nhân - xưng như thế nên dễ hiểu là Tản Đà

chủ trương: con người sống ở đời phải quan tâm đến việc: “nuôi cái tài sức, theo cái ý thú, để làm xong

cái phận sự mình” Nhân vật Nguyễn Khắc Hiếu trong Giấc mộng conI khẳng định: “Nếu không có riêng một ý thú, không định được một đích hạn, thời như đội chiếc thuyền nan ra đứng trông cửa bể” Cái ý

thú, cái đích hạn ấy, Tản Đà khao khát có được nó trong cuộc đời thực Nhưng trong khi chưa được thỏa nguyện, ông có thể tìm thấy nó, được sống với nó một cách thật thỏa nguyện trong cõi mộng Hai thuộc tính của cõi mộng nói trên: chân thực và không có giới hạn giúp ông được sống với những gì mà mình ao ước, với những gì mà ông cảm thấy có ý nghĩa trong cuộc đời Mộng với Tản Đà, do thế, không gì khác

là những thể nghiệm bằng tưởng tượng Không bị ràng buộc bởi những giới hạn trong cuộc đời thực,

mộng là môi trường để cái Tôi cá nhân hiện diện với những dự phóng để chiếm lĩnh thế giới lý tưởng, qua đó mà nếm trải khám phá những kích thước, những chân trời mới mẻ.

2.2 Trong và bằng thơ văn, Tản Đà theo đuổi những cuộc chơi cũng là những giấc mộng của riêng mình

Ông tuyên ngôn về nó một cách tự tín và ngông ngạo: Chơi cho biết mặt sơn hà / Cho sơn hà biết ai là

Ngày đăng: 25/06/2021, 11:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w