Có một điều chúng ta cần biết đó là tất cả những sáng tác mang tâm sự “non nước” đều gắn liền với lòng yêu nước của Tản Đà.. Tuy nhiên vấn đề trung tâm của tác phẩm lại không nằm ở đây,
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC……… 2
Chương 1: MỞ ĐẦU……… 3
1.1 Lý do chọn đề tài……… 3
1.2 Lịch sử vấn đề….……….………
1.3 Phương pháp nghiên cứu……….…
1.4 Nhiệm vụ của khoá luận……….…
1.5 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu………
1.6 Bố cục khoá luận……….…………
Chương 2: SƠ LƯỢC VỀ NỖI NIỀM NON NƯƠC VÀ HÌNH ẢNH “NON NƯỚC” TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC DÂN TỘC…
2.1 “Non nước” đối tượng của nghệ thuật, một khách thể thẩm mỹ………….………
2.2 Sơ lược về một số hình ảnh “ non nước” và nỗi niềm non nước trong văn học trước Tản Đà … 2.2.1 “Non nước”, “nước non” trong ca dao…………
2.2.2 “Non nước” trong một số hiện tượng văn học viết Trung đại………
Chương 3: CÁC LOẠI HÌNH ẢNH BIỂU HIỆN NỖI NIỀM NON NƯỚC CỦA TẢN ĐÀ… 3.1 Loại hình ảnh trực tiếp………
3.1.1 Hình ảnh “ non nước” ………
3.1.2 Hình ảnh non sông, sông núi, núi sông…………
3.1.3 Hình ảnh giang sơn, sơn hà, sơn hải………
3.2 Loại hình ảnh gián tiếp………
3.2.1 Hình ảnh danh lam thắng cảnh………
3.2.2 Hình ảnh các nhân vật lịch sử………
Trang 23.2.3 Hình ảnh bức dư đồ………
3.3 Một số loại hình ảnh mang tâm sự “non nước” trong một số tác phẩm văn xuôi……….………
3.3.1 “Hình ảnh” trong “Giấc mộng lớn”………
3.3.2 “Hình ảnh” trong “ Giấc mộng con”………
3.3.3 “Hình ảnh” trong tiểu thuyết “Thề non nước”…
Chương 4: NỖI NIỀM “NON NƯỚC” QUA CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT CỦA TẢN ĐÀ …………
4.1 Nỗi niềm “non nước” qua thế giới nhân vật của ông………
4.2 Nỗi niềm “non nước” qua cảm nhận thời gian của Tản Đà ………
4.3 Nỗi niềm “non nước” qua cái nhìn không gian của Tản Đà………
4.4 Ngôn ngữ nghệ thuật-Một cách biểu hiện nỗi niềm “ non nước”của Tản Đà ………
KẾT LUẬN………
TÀI LIỆU THAM KHẢO………
CHÚ THÍCH ………
Trang 3Chương 1 : MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài:
1.1.1 Tản Đà là một tác giả lớn, một phong cách lớn có ảnh hưởng
đến quá trình vận động phát triển của văn học nước nhà Tản Đà được coi là người mở đầu trào lưu lãng mạn trong thơ và xu hướng hiện thực trong văn xuôi trước 1930 Có vị trí qua trọng như vậy trong nền văn học nhưng bản thân cuộc đời, con người đặc biệt là những sáng tác của ông lại hết sức phức tạp, đem đến những cách hiểu cách tiếp cận khác nhau, những hướng đánh giá khác nhau Vì vậy Tản Đà được coi là một hiện tượng phức tạp của văn học Chúng tôi tiến hành tìm hiểu nổi niềm “non nước” trong tác phẩm của ông là để tìm một cách nhìn nhận đánh giá con người, nghệ thuật Tản Đà Đây cũng là một vấn đề, một hiện tượng nghệ thuật độc đáo Nó là vấn đề tư tưởng trong thời đại ông đang sống và viết văn Tâm sự “non nước” cũng là một dạng biểu hiện của lòng yêu nước Tình cảm yêu nước kiểu này của ông được tể hiện hết sức độc đáo nhưng nó có điểm dừng của mức độ Đây là một thứ tình cảm nhẹ nhàng thậm chí yếu đuối, nó lắng lại như một nỗi niềm sầu cảm chứ không mạnh mẽ, bộc trực, đột phát thành hành động 1.1.2 Thời Tản Đà sống và sáng tác, các cuộc cách mạng dân chủ tư sản bị thất bại, để lại một dư âm, một bầu không khí ảm đạm bao trùm
xã hội Trong bối cảnh xã hội ấy xuất hiện một kiểu tình cảm mới trong một lớp người tri thức Dư âm của những phong trào yêu nước để lại là nỗi bàng hoàng, xót xa, bất lực của cả một tầng lớp như Tản Đà Cũng chính vì điều này mà ”nỗi niềm non nước” của Tản Đà nó là một biểu
Trang 4hiện của sự thoái trào, nó là tiếng nói, là sản phẩm của những phong trào yêu nước bị thất bại Và niềm sầu cảm sâu xa, yếu đuối về đất nước ấy không phải chỉ có ở Tản Đà mà nó là biểu hiện của cả một thế
hệ như ông, trong đó có Á Nam Trần Tuấn Khải, Nguyễn Trọng Thuật Cho nên muốn hiểu được tư tưởng nghệ thuật của Tản Đà thì phải tìm hiểu nỗi niềm “non nước” của ông Đây là một trong những vấn đề cốt lõi trong quá trình tiếp cận nội dung tác phẩm của Tản Đà Có một điều chúng ta cần biết đó là tất cả những sáng tác mang tâm sự “non nước” đều gắn liền với lòng yêu nước của Tản Đà Chỉ có điều tấm lòng này chỉ dừng lại ở một tâm sự, một mối sầu về non nước, nó là sự day dứt
về nước non chứ chưa đạt đến một chủ nghĩa yêu nước tích cực Nó là biểu hiện của những tâm trạng đã trải qua sự khủng bố, thất bại liên tục của những hành động yêu nước Tất cả những biểu hiện ấy cho thấy nỗi niềm non nước của Tản Đà là một hiện tượng nghệ thuật độc đáo Nó
là phản ứng, là tấc lòng của cả một thế hệ nhà nho yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản Vì nó là biểu hiện tấc lòng của cả một thế hệ nên nó tạo ra một xu hướng văn học yêu nước khác với xu hướng yêu nước cách mạng ở Phan Bội Châu
1.1.3 Trong làng văn Tản Đà là nghệ sĩ đầu tiên sống bằng nghề của mình, coi văn chương là một thứ hàng hoá để bán, để kiếm sống ông là người đầu tiên gây dựng nên nghề văn chương với một cái tôi độc đáo thuần Việt, giàu tính dân tộc Cái tôi Tản Đà và cũng là cống hiến đầu tiên của ông cho văn học trước hết là một cái tôi bản ngữ, cái tôi cá nhân, nó là tiền đề cho cái tôi văn học lãng mạn sau này Cái tôi
cá nhân của Tản Đà không tách rời cái tôi lãng mạn nghệ sĩ Nổi niềm non nước của Tản Đà vừa là một phẩm chất con người cá nhân ông, với
tơ cach là khách thể của nghệ thuật nhưng “nổi niềm non nước” ấy cũng tạo cái nhìn nghệ thuật riêng của chủ thể sáng tạo bằng một cá tính nghệ thuật lãng mạn chủ nghĩa Vậy nên, tìm hiểu “nổi niềm non nước” trong nghệ thuật của ông là góp phần hiểu rõ hơn cái tôi lãng mạn độc đáo của Tản Đà Trong phong trào thơ mới có vơi có lúc vẫn còn vài nét mờ nhạt nào đó của tâm trạng yêu nước của một thế hệ sau
Trang 5Tản Đà Ví dụ như “Tràng Giang” của Huy Cận Tuy nhiên vấn đề trung tâm của tác phẩm lại không nằm ở đây, mà mấu chốt của tư tưởng tác phẩm là giải thoát một cái tôi lãng mạn, một cái tôi đang không biết đi về đâu, một cấi tôi bị gông cùm cho nên vấn đề trung tâm của tác phẩm là giải phóng một cái tôi lãng mạn, chuyện “non nước” không còn là ám ảnh thường nhật như trong thơ Tản Đà Hay “nhớ rừng” của Thế Lữ, hình ảnh chúa sơn lâm bị cùm gợi hình ảnh một “ ông già bến ngự”, gợi về một thời oai linh của dân tộc và ít nhiều nó kích thích vào nỗi niềm non nước của độc giả nhưng rõ ràng đó là kết quả khách quan của hình tượng, của cái tôi lãng mạn ấy chủ yếu gắn với khát vọng giải phóng bản ngã
1.1.4 Tản Đà là một tác giả lớn vì thế ở hầu hết các cấp học đều có học tác phẩm của ông chi nên việc tìm hiêủ nỗi niềm “ non nước” của ông sẽ giúp cho việc tìm hiểu nội dung tác phẩm, tư tưởng của Tản Đà được sâu hơn, rõ nét hơn
Lịch sử nghiên cứu Tản Đà đã nổ ra những cuộc tranh luận Tản Đà
có yêu nước hay không và cuối cùng đều đi đến kết luận Tản Đà có tư tưởng yêu nước Một kiểu yêu nước của nghệ sỹ Lòng yêu nước của Tản Đà khác với lòng yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh
và tình yêu nước của Tản Đà chỉ dừng lại ở nỗi niềm, tâm sự non nước, không phải là một tư tưởng lớn Có thể nói Tản Đà đã thay mặt cho một
bộ phận giai cấp tư sản, phát ngôn cho tư tưởng dân chủ tư sản bằng nỗi lòng của mình với đất nước
1.2 Lịch sử vấn đề:
Cho đến nay những công trình khảo cứu về Tản Đà không phải là ít, thậm chí Tản Đà còn được nghiên cứu “rầm rộ” một thời Song lịch sử nghiên cứu Tản Đà lại không liên tục, đồng đều và có nhiều điều cần phải bàn
Quan điểm Tản Đà có yêu nước không đã có từ 1939 Trong “Tao đàn” số đặc biệt Tản Đà được Trương Tửu xếp vào hàng cùng với Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh Đến 1957 nhóm Lê Quý Đôn trong “lược thảo văn học” Việt Nam cũng xếp Tản Đà vào tốp những nhà nho yêu
Trang 6nước Cùng năm này có thêm công trình “ thơ Tản Đà chọn lọc”, Nguyễn Hữu Đang cũng xếp Tản Đà cùng với Nguyễn Đình Chiểu Cuộc tranh luận Tản Đà có yêu nước không thật sự bắt đầu vào năm
1965, trên tạp chí văn học với bài “Tản Đà có yêu nước không” của Nguyễn Đình Chú, ông này xếp Tản Đà vào tốp những người có tư tưởng yêu nước qua bài thơ “Thề non nước” Nhưng quan điểm này bị phản bác trên tạp chí văn học số 2, số 12 năm 1966 của Nguyễn Công Hoan và Tuấn Nghi Đứng đầu quan niệm này là Trần Yên Hưng Trần Yên Hưng cho rằng “Thề non nước” chỉ có nghĩa tình yêu trai gái quan điểm của Trần Yên Hưng cùng với nhóm Nguyễn Khắc Xương, Nguyễn Văn Hạnh và nhóm Triều Dương, Bùi Văn Nguyên đã tạo nên một cuộc tranh luận về “Thề non nước” trên tạp chí văn học Nếu Trần Yên Hưng cho rằng “Thề non nước” chỉ có tình yêu trai gái, “nước” là người con trai ra đi chưa về, “non” là người con gái mòn mỏi ở lại Thì nhóm Nguyễn Khắc Xương lại cho rằng “Thề non nước” có tình yêu nước của Tản Đà, quan điểm này có ba cách giải thích:
Cách một: “Non” là tác giả, “Nước” là đất nước đã mất
Cách hai : “Non” là một phần vật thể địa lý của đất nước như núi
sông, rừng biển “Nước” là phần hồn của đất nước là chủ quyền của dân tộc đã mất nước
Cách ba : “Non” là tác giả “Nước” là những người ra đi tìm đường
cứu nước
Còn nhóm các ông Triều Dương thì ghi nhận “Thề non nước” có chủ
đề kép và đây cũng là cách phân tích của sách giáo khoa
Như vậy, Tản Đà có yêu nước điều ấy không cần bàn cãi nữa nhưng tình yêu ấy là tình yêu theo kiểu của Tản Đà, một nghệ sĩ có tấm lòng với nước nên tình yêu nước ở Tản Đà khác với tình yêu nước kiểu chiến sĩ ở Phan Bội Châu Những công trình nghiên cứu về Tản Đà sẽ còn tiếp tục hy vọng trong tương lai sẽ có những công trình lớn hơn và lấy quan điểm này làm một cứ liệu
1.3 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 7Đây là đề tài đi theo hướng thi pháp học tìm hiểu những biểu hiện cảm nhận nghệ thuật của Tản Đà Lòng yêu nước, tâm sự nước non của Tản Đà được chính tác giả nhận thức và được biểu hiện dưới những hình thức nghệ thuật nào Ở đây chúng tôi không nhằm lý giải một vấn
đề chính trị, xã hội nào do vậy đối tượng mà chúng tôi quan tâm là văn bản ngôn từ của tác giả còn những yếu tố ngoài văn bản như con người, hoạt động, những phát ngôn phi nghệ thuật của tác giả chỉ là để tham khảo Chúng tôi chỉ quan tâm đến văn bản nghệ thuật và chủ yếu là thơ
và truyện Lấy văn bản ngôn từ làm trung tâm, những yếu tố ngoài văn bản không gây áp lực gì đối với quá trình nghiên cứu Chúng tôi không nghiên cứu nỗi niềm “non nước” như một vấn đề tư tưởng đạo đức, chính trị Vấn đề này trong lịch sử nghiên cứu Tản Đà đã xảy ra, họ lấy yếu tố ngoài văn bản để giải thích cho vấn đề bên trong văn bản chẳng hạn như tranh luận về “Thề non nước”, Trần Yên Hưng đã “quá coi trọng” vấn đề chính trị mà bỏ qua yếu tố văn học nên “kết tội” Tản Đà không yêu nước, còn đối với chúng tôi, chúng tôi có thể nhận ngay ra nỗi niềm “non nước” của tác giả qua cấu trúc ngôn từ của bài thơ, cũng
có người phủ nhận nỗi niềm “non nước” của Tản Đà bằng cách coi bài thơ là một thành tố, một tình tiết của tiểu thuyết cùng tên, viết về cuộc tình giữa người khách giang hồ và cô đào Vân Anh để phủ nhận một tâm sự yêu nước của bài thơ Truyện ngắn cùng tên là yếu tố ngoài văn bản, truỵên ngắn không nói đến một tình yêu nước mà nó phảng phất chuyện tình trai gái, người ta đã sai lầm khi lấy nội dung truyện ngắn
áp đặt cho nội dung bài thơ Sự thật thì bài thơ ra đời từ trước truyện ngắn, bài thơ được viết năm 1920, truỵên ngắn viết năm 1922, sau đó hai lần Tản Đà cho in lại bài thơ này vào năm 1925 và 1938 Như vậy
“Thề non nước” là bài thơ có vận mệnh độc lập, là một chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn, không lệ thuộc gì vào truyện ngắn cùng tên nếu có mối liên hệ nào đó giữa hai tác phẩm thì chỉ có thể nói bài thơ đó gợi ý cho truyện ngắn mà thôi Chúng tôi sẽ tiến hành thống kê số lần xuất hiện của những hình ảnh mang tâm sự non nước, những kiểu hình ảnh “non
Trang 8nước” khác nhau đẻ thấy chúng là những ám ảnh trong tâm trạng nhà thơ
Nghiên cứu Tản Đà là để tìm ra những yếu tố độc đáo của ông, vì vậy chúng tôi sẽ tiến hành so sánh Tản Đà trên quan điểm đồng đại và lịch đại để thấy rõ hiện tượng nghệ thuật Tản Đà
1.4 Nhiệm vụ của đề tài:
Nằm trong giới hạn một luận văn tốt nghiệp nên người viết chỉ có thể
cố gắng miêu tả các loại hình ảnh mang tâm sự “non nước” của tác giả, đông thời đặt nó trong cái nhìn hệ thống với loại hình ảnh đó trong lịch
sử văn học
Khảo sát cái nhìn nghệ thuật của Tản Đà khi biểu hiện nỗi niềm non nước qua các phạm trù của thi pháp học như thế giới nhân vật, không gian, thời gian…
Làm nổi bật rõ nết tính độc đáo , khác lạ của nghệ thuật Tản Đà
1.5 Phạm vi đối tƣợng nghiên cứu
Nỗi niềm non nước không chỉ hạn chế trong loại hình ảnh trực tiếp
mà còn những hình ảnh nghệ thuật khác cũng mang tâm sự non nước của tác giả, vì vậy ngoài hình ảnh trực tiếp chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát cả những loại hình ảnh khác như hình ảnh các anh hùng dân tộc, hình ảnh bức dư đồ
Ở đề tài này chúng tôi có thể khảo sát trong thơ cũng đủ nhưng chúng tôi muốn khảo sát cả trong văn xuôi mặc dù chúng tôi không có được toàn bộ tác phẩm của ông, nhưng số tác phẩm có được cũng tiêu biểu cho nghệ thuật Tản Đà và phạm vi chúng tôi lấy trong “Tuyển tập Tản Đà” do nhà xuất bản hội nhà văn, xuất bản năm 2002
Trang 9Chương 3: Các loại hình ảnh biểu hiện nỗi niềm non nước của Tản Đà
Chương 4: Nỗi niềm non nước qua cái nhìn nghệ thuật của Tản
“Non nước” là khách thể tự nhiên nhưng nội dung của nó trong văn học bao giờ cũng mang tính xã hội, lịch sử Chẳng hạn như “ “non nước” trong bài thơ “Qua Đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan
……
Dừng chân đứng lại trời non nước Một mảnh tình riêng ta với ta
Trang 10Rỏ ràng “non nước” trong bài thơ của nữ sỹ không phải chỉ là một vùng non nước bao la đẹp như tranh vẻ ấy Đèo Ngang vào lúc chiều tà, hoàng hôn tím lại Gió thì thào cỏ cây hoa lá đua chen Con người thưa thớt, vắng vẻ chỉ có vài chú tiều phu lấy củi về muộn Chợ xa xa đã lác đác người Nước non “non nước” không chỉ là nơi bà đang đứng, dưới chân là núi, dưới núi xa xa là biển Mà “non nước” ở đây là nổi niềm biết tỏ cùng ai của bà Đó là sự tiếc nuối thời huy hoàng xa xăm, một tâm sự bất tận nhưng kín đáo của một tài danh Cái “non nước” ấy là
“non nước” trong lòng tác giả Nước đã mất, Nhà Lê mất nước, trung thần ai lại thờ hai vua Là trung thần Nhà Lê bà coi như cũng đã mất nước của mình Trung thần Nhà Lê lại phải phục tùng nhà Nguyễn cho nên “non nước” là “non nước” đau đáu trong lòng tác giả, là sự tưởng nhớ Nhà Lê một đi không trở lại Bài thơ, tưởng chừng chỉ là tả cảnh Đèo Ngang, tả non nước thiên nhiên, ai dè ẩn trong đó là một tâm sự
“non nước” Một vấn đề có tính lịch sử - xã hội Chuyện Nhà Lê mất nước, nhà Nguyễn chiếm ngôi là chuyện của lịch sử - xã hội
Hay bài thơ “Bánh trôi” của nữ sỹ Hồ Xuân Hương :
Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non
“Non nước” một khách thể tự nhiên mang giá trị thẩm mỹ
Giá trị thẩm mỹ mà khách thể thẩm mỹ đem lại trước hết đó là những hiện tượng thẩm mỹ trong nghệ thuật Mà biểu hiện đầu tiên của
nó là phạm trù cái đẹp Cái đẹp trong nghệ thuật, là sự phảm ánh chân thực cái đẹp trong cuộc sống Do đó cái đẹp trong nghệ thuật có quan
hệ với cái đẹp trong đời sống “Non nước” trong nghệ thuật có mối
Trang 11quan hệ với núi sông Đay là mối quan hệ giữa cái phản ánh và cái được phản ánh Cho nên “non nước” trong văn học thống nhất với nước non, non nước của tự nhiên Tuy nhiên cái đẹp của “non nước” không thể đồng nhất với với núi sông của tự nhiên
Biểu hiện đầu tiên của cái đẹp trong nghệ thuật đó là cái đẹp mang tính điển hình cái đẹp tiêu biểu: Ví dụ trong bài ca dao;
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ
Ai vô xứ Nghệ thì vô…
Chúng ta đã công nhận nội dung của bài ca dao trên chính là vẻ đẹp của non của nước, vẻ đẹp của núi sông xứ Nghệ Một bức tranh sơn thuỷ mỹ lệ Nhưng “non nước” ấy không còn là non nước của hiện thực
mà đó là “non nước” của nghệ thuật Tuy nhiên khi đi vào nghệ thuật
“non nước” đã mất đi cái khắc nhiệt, cái thiên nhiên bất lợi cho cuộc sống của con người và điều người ta cảm nhận ở bức tranh ấy là vẻ đẹp
“non nước” của xứ Nghệ nó gợi một nổi niềm nho nhỏ vơí nước
“Non nước” hay non xanh nước biếc của xứ Nghệ chứa đựng những nét chủ yếu tiêu biểu cho cái đẹp cùng loại Tức là một vùng non nước nào đó khác Điều này được Biêlinski gọi là “Mãnh lực nghệ thuật”[1],
vì nếu hiện thực trần trụi ngoài tự nhiên thì có lẻ không bao giờ người
ta nhận thấy hết cái đẹp của xứ Nghệ
Như vậy, nghệ thuật đã làm biến đổi giá trị sự vật “non nước”, làm cho “non nước” trỡ nên mới lạ, cái đẹp như được nhân lên, ai chưa đến
xứ Nghệ cũng biết xứ Nghệ đẹp đến thế nào
Điều đấng nói là cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp sống mãi với thời gian Giải đất xứ Nghệ vẫn mãi mãi là một vùng non xa nước biếc cho dù có thể mòn, sông có thể cạn Điều này thật đúng Xê-rốp nói: Thời gian phải bất lực trước cái đẹp trong nghệ thuật [2]
Mọi sự vật, hiện tượng nào dù mong kích thước, tầm vóc đến đâu, khi đã đi vào văn học, được chủ thể công nhận bao giờ nó cũng gắn bó với thái độ, cảm xúc, tình cảm của người nghệ sỹ Cái đẹp trong nghệ thuật đã mang tính chủ quan của người nghệ sỹ, vì vậy cái đẹp không
Trang 12còn vô tư, khách quan, ngẩu nhiên như nó vẫn có ngoài tự nhiên Điều này cũng lý giải tại sao cùng một phạm trù cùng loại cùng đối tượng phản ánh , nhưng nghệ sỹ mỗi người lại tạo nên một vẻ đẹp khác nhau
Và đây cũng chính là cái đẹp, là nội dung đi theo hình thức, hình thức mang tính nội dung
Cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp không chỉ về hình thức mà cái đẹp ấy còn là cái đẹp mang tính nội dung Ở đây bất cứ yếu tố nào của hình thức đều mang tính nội dung, chứa đựng nội dung, liên quan đến nội dung Như chúng ta thấy “non xanh, nước biếc” hay câu thơ “Long lanh đáy nước in trời – Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng” đều
là vẻ đẹp của non nước, vẻ đẹp của thiên nhiên nhưng hình thức “non xanh nước biếc” liên tục của nước và non nó tạo nên vẻ đẹp của núi non hùng vỉ, cái mênh mông xanh bạt ngàn của núi, của biển đến vô tận Nó gợi lên cảm giác nguyên sơ buổi đầu của giải đất này Còn câu
“Long lanh đáy nước in trời – Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng”, “nước”, “non” tách nhau ra, xa nhau đi với những đối tượng khác tạo nên bức tranh nên thơ hơn, nhẹ nhàng mộng ảo và riêng tư hơn của lòng người Như vậy trong nghệ thuật cái đẹp cũng là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức Hình thức mang tính nội dung nên nếu hình thức thay đổi nội dung cũng biến đổi theo Chẳng hạn như nếu ta thay giang và sơn vào nước và non thì rỏ ràng hình thức đã bị phá vỡ, hình thức cấu trúc thẩm mỹ của câu ca dao
Như vậy cái đẹp dù xuất phát từ hiện thực, “non nước” là nước non của thiên nhiên nhưng “nước non” ấy lại không đồng nhất với núi sông ngoài văn bản nghệ thuật Cái đẹp trong tác phẩm là cái đẹp mang tímh sáng tạo độc đáo của người nghệ sỹ, hoạt động sáng tạo có mục đích
2.2 Sơ lược về một số hình ảnh “non nước” và nổi niền “non nước” trong văn học trước Tản Đà
Trong lịch sử văn học có hai dạng biểu hiện của lòng yêu nước Biểu hiện thứ nhất trở thành chủ nghĩa yêu nước, mang tính tích cực chiến đấu như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu Tình yêu nước của các bậc anh hùng ấy đã đạt đến tầm chủ nghĩa yêu nước và họ là những
Trang 13nhà văn chiến sỹ đấu tranh giải phóng dân tộc và như vậy nó trở thành một quan điểm anh hùng của những nhà văn yêu nước
Lòng yêu nước trong văn học có dạng biểu hiện thứ hai đó là những tâm sự yêu nước Chủ thể của nó không phải là nhà văn chiến sỹ mà là nhà văn chiến sỹ mà là loại nhà văn tỏ ra sự bất lực của mình, trong cuộc đấu tranh dân tộc nó cũng là một tâm sự sâu xa những khoảng có tính tích cực chiến đấu Tuy nhiên chính nổi niềm ấy lại để lại dấu ấn độc đáo trong văn học nghệ thuật, ví dụ ở Nguyễn Khuyến và Tản Đà thì không thể gọi đó là chủ nghĩa yêu nước được mà nó chỉ là tâm sự,
nó thâm trầm sâu xa Tất nhiên cả hai loại biểu hiện yêu nước trên đều gắn liền với chủ đề văn học yêu nước
Trong văn học lại có dạng nhà văn có tưng tưởng nhân đạo chủ nghĩa Trong khi xây dựng hình tượng nghệ thuật thì về khách quan kiểu hình tượng ấy vẫn có biểu hiện mờ nhạt của lòng yêu nước Hình tượng nhân đạo nhưng phảng phất biểu hiện yêu nước nên cũng có tác dụng tích cực đối với người đọc Ví dụ trong văn học có kiểu để thể hiện, diển tả tình yêu đôi lứa chủ thể thường lấy non sông thề bồi với nhau, hay sông núi là thước đo chiều sâu tình yêu như kiểu “mấy sông
em cũng lội, mấy đèo em cũng qua” Bản thân sông núi, đã gợi lên hình ảnh non nước rồi cho nên về khách quan thì nó vẫn có cái gì đó liên quan đến hai chữ “yêu nước”
Chung tôi xin trích một số loại hình ảnh mang tâm sự yêu nước của những kiểu tác giả như trên:
2.2.1 “ Non nước”, “nước non” trong ca dao
Non nước, nước non trong ca dao được sử dụng như là một đối tượng của nghệ thuật, ngoài giá trị định danh, định loại ra nó còn mang giá trị thẩm mỹ Theo thống kê của chúng tôi “non nước” trong ca dao được sử dụng thường xuyên nhưng dưới dạng tên riêng của nó như núi Thái Sơn, núi Con Voi, núi Tam Điệp…rất đông Theo thống kê của tác giả Nguyễn Xuân Kính trong quyễn “Thi pháp ca dao” thì có đến bốn chín lần nhắc đến tên núi và bốn mốt lần nhắc đến tên sông Trong khi đó các đối tượng cùng phạm trù như ao, đầm, đồi, đèo lại chỉ một
Trang 14vài ba lần mặc dù xuất hiện giới hình thức là những danh từ riêng điều
đó cũng chứng tỏ “non nước” là đối tượng của nghệ thuật, là khách thể thẩm mỹ thường xuyên cùng với tên làng, tên các địa danh đi vào ca dao như một hiện tượng nghệ thuật độc đáo của thể loại này
Ví dụ:
Rủ nhau lên núi đốt than Anh lên Tam Điệp em sang non Trình Củi than nhem nhuốc với tình
Ghi lời vàng đá xin mình chớ quên Hay:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ
Ai vô xứ Nghệ thì vô!
Ở câu ca dao trên khối cấu trúc “non nước” được cách ra làm hai đối tượng “ non” và “ nước” nhưng vẫn năm trong phạm trù “non nước”, non tách ra khỏi nước, non đi với một từ khác nước đi với yếu tố khác tạo thành cụm “ non xanh nước biếc” Kết cấu “ non xanh nước biếc” làm tăng vẻ đẹp sơn thủy bức tranh
Non nước ở đây chính là sông, là núi nhưng nghệ sỹ dân gian đã không dùng “núi xanh, sông biếc”, bởi nếu nói như vậy câu thơ sẻ chỉ
có giá trị tả thực mà hạn chế giá trị thẩm mỹ giá trị nghệ thuật của bức tranh Cấu trúc “non nước” bị tách ra mà không dùng “ non xanh nước biếc”, rỏ ràng nếu dùng như vậy câu dưới sẻ phá vỡ cấu trúc thi pháp 6/8 của lục bát Đồng thời khi đọc “ non xanh nước biếc” nó tạo nhịp điệu 2/2 phù hợp với cái quanh quanh, khúc khủy của con đường về xứ Nghệ
Nội dung chính của câu ca dao là vẻ đẹp sơn thuỷ của dải đất xứ Nghệ nên “non nước” là hình ảnh trung tâm Chính vì sự lựa chọn “non nước” làm đối tượng miêu tả nên khách quan mà xét ngoài nội dung miêu tả vẻ đẹp một vùng đất Hồng-Lam thì tự nó gợi lên cái gì đó tha thiết, sức cuốn hút đối với người đọc, đặc biệt là những người con xứ
Trang 15Nghệ Từ đó cho ta thêm yêu, thêm nhớ quê hương mình và như vậy nội dung của nó cũng phảng phất một tình yêu quê, yêu nước
Hay bài ca dao sau đây:
Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn Đền đài tháp bút chưa mòn
Hỡi ai gây dựng nên non nước này
“Non nước” lúc này lại kết với nhau tạo nên một cấu trúc bền chặt, làm vị trí một từ ở trong câu, danh từ và nó không còn là non xanh nước biếc nữa, bản thân “non nước” lúc này không cần phải thể hiện
mà nó kết lại để mang giá trị đại diện Non nước lúc này là cảnh Kiếm
Hồ, chùa Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, một loạt danh thắng của thủ đô, tạo nên bức tranh phong cảnh đặc thù của nền văn hoá Phật giáo Có đền đài tháp bút chùa chiền, tất cả những chi tiết ấy tự thân nó đã có giá trị gợi hình ảnh đất nước và bản chất của nước non Cho nên non nước kết lại, đại diện cho những chi tiết đã có giá trị mô tả ấy Vì vậy sau một loạt những yếu tố tả thiên nhiên rồi thì non nước xuất hiện sau cùng như một sự khái quát lại, nhắc lại cầu Thê Húc, Tháp Bút, đền Ngọc Sơn là “non nước” ta đó
Từ hai ví dụ trên cho thấy hình thức cấu trúc của non nước tương ứng với một giá trị nào đó Và rỏ ràng bài ca dao trên lại cùng mang một chút tâm sự “non nước” ở mức độ nhẹ nhàng
2.1.2 “Non nươc” trong một số hiện tượng văn học viết Trung đại
Non nước trong ca dao được dùng như hiện thân của quê hương, đất nước Theo điều tra, khảo sát của chúng tôi có hơn 80% những bài
ca dao có sử dụng hình ảnh “non nước” kiểu này là để chỉ thiên nhiên, còn trong văn học bác học thì “non nước” mang nội “dân chủ” hơn Ngoài những bài thơ dùng “non nước” như biểu hiện của giá trị “non xanh nước biếc” thì non nước lại được tập trung vào ý nghĩa là hình ảnh Tổ Quốc, đất nước
Ví dụ : Bài thơ của Lý Thường Kiệt:
Trang 16Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư
Tuỵêt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lổ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Đây là hình ảnh “non nước” của người anh hùng xã thân vì nước, nó gắn với chủ nghĩa yêu nước của người Việt
Hay trong bài “ Bình ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi
Xã tắc từ đây vững bền Giang sơn từ đây đổi mới
Do đặc điẻm của nền văn học trung đại coi chử Hán là chử của người có học, chử của kẻ bề trên, bậc tài danh, là chữ chính thống của một quốc gia cho nên “non nước”, “nước non” được dùng bằng chử Hán “Sơn hà” hay “Giang sơn” Dù hình thức ngữ âm có khác như đó
là những từ đồng nghĩa cho nên giá trị biểu đạt như nhau
Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp nhà văn trung đại đều dùng chữ Hán thay cho chữ Nôm Đặc biệt đối với nhà văn, viết văn là
để phục vụ mục đích chính trị, phục vụ nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc thì cách chọn non nước hay giang sơn, sơn hà lại linh hoạt hơn, phụ thuộc vào đối tượng tiếp nhận:
Trời nam một dải non sông Nghìn năm cơ nghiệp cha ông hảy còn
Từ khi đá lở sông cồn Nước non trơ đó mà hồ nữa đâu ? (Chiêu hồn nước) Non sông, nước non là dạng “non nước” trực tiếp cả về âm và nghĩa Phan Bội Châu làm thơ để hướng đến toàn dân Việt thôi thúc kêu gọi ở
họ lòng căm thù ý chí đấu tranh cho nên tác giả không thể dùng chữ Hán, loại chữ không đến 30% dân số biết
Như vậy “non nước” ở những hình thức trên là hình thức của một tấm lòng nhớ nước, là ý chí đấu tranh đến cùng cho dân tộc, là biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước nó mang tính tích cực góp phần thôi thúc tinh thần đấu tranh của mọi tầng lớp nhân dân Cũng vì lẽ đó “non
Trang 17nước” là một cấu trúc chặt như phần hồn và phần xác của một dân tộc, một quốc gia
“Non nước” từ văn học dân gian đến văn học bác học cũng đã có sự khác biệt trong giá trị sử dụng, tất nhiên ở đây chúng tôi không nói đến mức độ tuyệt đối mà chỉ ở phần số đông, đại đa số
“Non nước” trong “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du như có thêm nội dung mới Hồn “non nước” phong phú hơn, đa dạng hơn đặc biệt là cách sử dụng cấu trúc non nước đã linh hoạt hơn “Non nước” Ngoài giá trị về mặt nội dung của từ có giá trị mới của hình thức từ
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát “Truyện Kiều” của Nguyễn Du trong toàn bộ tác phẩm này có hai mốt cặp lục bát xuất hiện hình ảnh
“non nước” trực tiếp Trong hai mốt lần ấy có mười ba lần cấu trúc
“non nước” chiếm 58% còn tám lần cấu trúc “non nước” chiếm 32%
Và trong hai mốt lần ấy thì cấu trúc non nước bền vững kết lại thành một khối là mười sáu lần còn non nước tách ra, đi sánh đôi hoặc đứng bên nhau là năm lần
“Non nước”, “nước non” với ý nghĩa hình thức của từ là để chỉ núi chỉ sông Núi sông luôn đi liền với nhau tạo sự hoàn chỉnh, đủ đầy của một quần thể thiên nhiên có cao của núi, có sâu của sông Có chim thú, hoa cỏ có cá tôm dưới sông sâu Núi sông có phẩm chất gắn kết từ đây Nói đến ắt phải có sông mới đầy đủ, nói đến sông mà không có núi hẳn
đó là một sự khiếm khuyết Nước non, non nước chính vì thế mà nó không chỉ biểu thị ý nghĩa của bản thân nó còn được dùng để biểu thị những giá trị khác nữa
Bên cạnh giá trị biểu tượng cho “nước non nhà”thì nước non với phẩm chất vững bền, trường cửu, non như yếu tố của dương, nước là biểu hiện của âm, “non nước” kết lại âm dương sum vầy Chính vì phẩm chất ấy “non nước” cón là biểu tượng tình yêu trai gái, là biểu tượng của thuỷ chung
Nguyễn Du đã không bỏ qua đặc tính này của “non nước”, ông gắn hình ảnh của “non nước” vào câu chuyện tình của Thuý Kiều với nhiều
Trang 18cung bậc cấp độ khác nhau: “Non nước” trước hết vẫn là đối tượng thề nguyền của nàng Thuý và chàng Kim:
- Sánh vai về chốn thư liêu
Góp lời phong nguyệt nặng nguyền non sông
- Dặm khuya ngắt tạnh mù khơi
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông
Như vậy “lời non sông” chính là lời thề nguyền, hẹn ước của hai người “lời non sông” lúc này không phẩi là lời của núi của sông là lời của tình yêu, ý nghĩa nằm ngoài từ và tạo nên tính quan niệm khi nói đến “lời non sông”, “lời non nước” đó là lời của tình yêu đôi lứa, thề hẹn với nhau
Nguyễn Du đã khai thác tất cả các hình thức cấu trúc có thể có của cấu trúc “nước non”, “non nước” vào mục đích của mình:
Cấu trức “nước non”:
- Nước non cách mấy buồng thêu Những là trộm dấu thầm yêu chốc mòng
- Lượng trên dù chẳng chút tình Gió mưa âu hẳn tan tành nước non
- Xót tình máu mủ thay lời nước non
- Sinh rằng: Từ thủa tương tri Tấm riêng riêng những nặng vì nước non
…
Nước non để chữ tương phùng kiếp sau
Cấu trúc “non nước” : Tóc thề đã chấm ngang vai Nào lời non nước nào lời sắt son
Trang 19Lâm tri vừa một tháng tròn tới nơi
tả lại gắn với một tấm lòng yêu nước Nằm trong bản thân, ý nghĩa nội tại nước non đã gợi hình ảnh nước, khi Nguyễn Du miêu tả “còn non còn nước còn dài, còn về còn nhớ đến người hôm nay, những gì lạ nước, lạ non, dặm nghìn nước thẳm non xa” lại là hình ảnh là cách quen thuộc để nhà văn miêu tả đất nước
Tuy không trực tiếp nói chuyện yêu nước, nhớ nước nhưng cách dùng hình ảnh, chọn loại hình ảnh nào trong miêu tả là quan niệm chủ quan và ít nhiều cho thấy một Nguyễn Du gắn bó với quê hương đất nước Mặt khác khi dùng các hình ảnh đó cũng gợi lên ở độc giả chút quyến luyến thết tha với quê hương đất nước của mình
Chương 3: CÁC LOẠI HÌNH ẢNH BIỂU HIỆN NỖI NIỀM
NON NƯỚC CỦA TẢN ĐÀ
Trong nghệ thuật khi biểu hiện lòng yêu nước thì có nhiều cách khác nhau và cũng có nhiều loại hình ảnh khác nhau Có hình ảnh trực tiếp, hình ảnh gián tiếp Hình ảnh gián tiếp không trực tiếp bộc lộ tình yêu nước nhưng nó lại có ý nghĩa khách quan gợi lên lòng yêu nước ở
Trang 20người đọc Có điều này là nhờ sự lựa chọn đối tượng làm hình tượng và
sự miêu tả hình tượng của tác giả Điều này tạo nên tính hiệu quả nghệ thuật của hình tượng Tuy nhiên để nói lên lòng yêu nước thì dùng hình ảnh trực tiếp vẫn có tác dụng hơn cả và đây củng là loại hình ảnh trung tâm, xuất hiện nhiều trong tác phẩm của Tản Đà và ở đây chúng tôi cũng tạm chia hình ảnh “non nước” ra làm hai loại: Loại hình ảnh trực tiếp và loại hình ảnh gián tiếp
3.1 Loại hình ảnh trực tiếp
3.1.1 Hình ảnh “non nước”
Loại hình ảnh này ở phần thơ theo số liệu thống kê của chúng tôi có
42 lần xuất hiện trong đó 28 lần “non nước”, “nước non” đi liền với nhau thành một khối chặt kiểu non nước, nước non chiếm 67% Còn
“non nước” tách nhau ra, “non” đi với một đơn vị từ khác, “nước” đi với một yếu tố khác là 14 lần chiếm 23% Trong 28 lần “non nước” đi liền với nhau thì kiểu “non nước” là 10 lần chiếm 37%, “nước non” là
16 lần chiếm 63%
Trong “Giấc mộng lớn” Tản Đà tự nhận mình là kẻ đa tình chỉ có điều chuyện tình của Tản Đà đáng buồn thê thảm, thất tình hết lần này sang lần khác Có lẻ thi sỹ không gặp may trong “Tình trường” nên mới đáng thương đến thế, đã thề nguyền đã ước hẹn nhưng đành lỗi hẹn chờ kiếp sau:
- Non nước thề nguyền xưa đã lỗi
- Thề nguyền non nước đợi ngày tái sinh
Vì thế nước non của Tản Đà là “non nước” của sự chia li cách biệt:
- Non nước xa khơi tình bở ngở
- Nước non khởi cách nghìn trùng
- Trông ra non nước mịt mù
- Non nước bấy lâu lòng tưởng nhớ
Mà ai tri kỷ vắng tăm hơi
Mong nhớ đến thế mà kẻ tri kỷ vẫn biệt tăm vô âm tín nên đã coi cái chuyện tình yêu là “chuyện non nước còn nhiều” chưa biết để tự ân ủi mình
Trang 21Chuyện tình yêu thì “khơi cách nghìn trùng” còn chuyện đất nước thì sao?
- Nước non sang xuân hoa cỏ mới
Nước non đã có khởi sắc hơn nhưng vẩn chưa quên được câu chuyện đất nước năm Đinh Mảo Dẫn đến chuyện An Nam tạp chí bị đình bản mà ngậm ngùi
- Nước non đinh mảo ngậm ngùi ai
Chuyện nước non là chuyện còn nhiều chưa biết nhưng có một chuyện phải biết đó là:
- Nước non ai có là người đầu binh
- Nước non xoay chuyển bây giờ là ai ? Nước đã mất, vua quan nhà Nguyễn lại bất tài vô dụng nên nổi niềm non nước là nổi niềm lớn nhất của Tản Đà Mặc dù với nước “ tình nguyện vọng chứa chan non nước” Nhưng trong cái thời buổi đó gió Á mưa Âu ấy nước non thăng trậm biến động, thi sỷ củng chẳng biết làm gì được:
- Dư đồ rách nơc non tô lại
- Khí thiêng sông núi phụ hộ nước non
Và tin vào vận nước, tin vào niềm hy vọng của mình:
- Nước non này chi dễ cỏ hoa ai
- Nước non vẫn nước non nhà
Và nếu nước non ấy còn thì sẻ còn tất cả:
- Còn trời còn nước còn non Tiến trình vạn lý anh còn chơi xa
- Còn non còn nước còn trăng gió Còn có thơ ca bán phố phường
- Dư đồ còn đó chưa phai Còn non còn nước còn người nước non
- Dưới trên còn đất còn trời Còn non còn nước còn người còn non
“Nước non” còn thì sẽ còn tất cả đó là lẽ thường nhưng nước non đang gặp vận hạn, rồi củng chẳng biết nước non sẻ đi đến đâu non sẻ ra
Trang 22sao Nổi buồn nước non cùng với chuyện “non nước” chẳng thành nên thi sỹ có vẻ ngao ngán trước cảnh non xanh nước biếc:
- Ngày xuân thêm tuổi càng cao Non xanh nước biếc càng ngao ngán lòng
“Ngao ngán lòng” cũng có lý do của nó “ Non xanh nước biếc suốt một ngày anh chẳng có gặp ai”
Tản Đà quả đúng là đa tình nên đến “trắng tóc” tình vẫn còn mặn nồng
- Cảnh còn biếc nước xanh non Đầu ai trắng tóc duyên còn thắm tơ
Cảnh còn đó đất trời còn nguyên, nhưng người củ thì đã đổi thay quá Còn ta vẫn mong ngày đoàn tụ, “non nước” tương phùng
3.1.2 Hình ảnh non sông, sông núi, núi sông
Theo thống kê của chúng tôi loại hình ảnh này xuất hiện 24 lần trong đó 13 lần là dạng núi sông, sông núi chiếm 58% còn lại 11 lần là hình ảnh “non sông” chiếm 42% Trong 24 lần ấy thì kiểu kết cấu chặt thành một khối theo kiểu “ núi sông”, “sông núi” là 15 lần chiếm trên 50% và 9 lần tách ra khỏi sông đi với các đơn vị khác
Sống núi, núi sông trước hết là sông núi nước Nam, là những nơi thi
sỹ đã đến, đã đi qua nên sông núi không đổi thay theo thời gian, sông vẫn là sông, núi vẫn còn nguyên núi:
- Khúc sông kia đỉnh núi này Cảnh vật còn nguyên sông với núi
Sông chưa cạn đá chưa mòn
- Non xanh còn đợi sông dài còn sâu
- Còn núi còn sông nhìn vẫn rõ
Núi sông, non sông là một phần vật thể của đất nước lấy núi sông để thể hiện, lấy non nước làm đối tượng nguyện ước cũng là một cách để
ta gắn bó hơn nữa với nước non:
- Đá vàng xin nguyện với non sông
- Núi sông thề nguyền
Trang 23Lời thề với non sông cũng là nguyện ước với đất nước nên gánh nặng trên vai là trách nhiệm của lời thề:
-Non sông thề với hai vai
Lời thề ấy là lời thề của tuổi trẻ, của sức trẻ khi nhiệt huyết với nước non đang tràn đầy:
- Thủa xuân xanh thề ước non sông
Lời thề, trải qua những “ lận đận” chuyện thề xưa không thực hiện được đành chịu thẹn với núi sông:
- Bước lận đận thẹn cùng sông núi
Dù không lâm vào cảnh “sông cái chiếc thuyền nan”, bởi chuyện
“non nước” là chuyện đại sự chuyện của cả dân tộc, với thân phận của mình Tản Đà chẳng làm được gì cho nước nên nhìn cảnh “Bốn mặt non sông một mái chèo” đành ngậm ngùi với nước non Vì thế nhìn sông , nhìn núi thấy đau buốt:
- Trông mây nước bốn bề lạnh ngắt
Ngắm non sông tám mặt sầu treo
Cảm giác đứng ngắm non sông mà đau chuyện nước non là cảm giác bất lực:
- Non sông đứng ngắm lệ nhường vơi
Bất lực vì mình là kẻ mắc nợ sông núi , kẻ mang ơn tái tạo Đứng trước núi sông thấy hết sự tỉnh tại, xô bồ, hỗn độn của thời cuộc Dù vậy đôi lúc cũng có cái cảm giác vui mới của lúc sang xuân:
- Non sông ngày cùng một ngày khác xưa
- Non sông như vẽ cỏ hoa tươi
- Xuân mới năm nay đã đến rồi
Có được cảm giác ấy chắc hẳn Tản Đà phải tạm quên đi chuyện đất nước, như vậy mới có niềm vui trước cảnh quan quê hương Tuy nhiên đây chỉ là niềm vui ngắn ngủi tạm thời vì nổi niềm non nước là nổi niềm lớn nhất của Tản Đà
3.1.3 Hình ảnh giang sơn, sơn hà, sơn hải
Đây là tên gọi khác của núi sông , một dạng đồng nghĩa với nước non, chỉ khác âm Tuy đồng nghĩa nhưng giang sơn, sơn hà, sơn hải lại
Trang 24có sắc thái khác Giang sơn có sắc thái trang trọng thành kính hơn Tạo cảm giác thiêng liêng Chính vì điều này mà hầu hết các tác giả dùng giang sơn , sơn hà để chỉ đất nước ,Tổ quốc
Theo thống kê của chúng tôi có mười tám lần hình ảnh giang sơn ,sơn hà , sơn hải xuất hiện (ở phần thơ) Có gần mười lần ở phần chuyện trong 18 lần ấy có 13 lần là hình ảnh giang sơn chiếm 72% Còn sơn hà 4 lần chiếm gần 28% sơn hải chỉ có 1 lần Giang sơn, cách gọi Tổ quốc một cách trang trọng, thành kính:
- Vô tình chi mấy hoá công Giang sơn để giận anh hùng ngìn thu
- Ba thu mưa gió dài ghê Bốn mặt giang san áo phất cờ
- Nhìn giang san bạc tóc như chơi
-Lệ ai giàn dụa với giang san
Hối lỗi với giang san đấy nhưng cũng có lúc lại lơ là chuyện đất nước, đây là cảm giác tự an ủi vỗ về lòng mình:
- Thẹn vì tình mà ngờ mắt với Giang san
- Lờ mít giang san khi chóng mặt
Đừng lăn thiên địa lúc rời tay
Cảm nhận về đất nước là cảm nhận về cái tôi cá nhân nên cảm nhận mang tính chủ quan:
- Mái sơn hà cũ kỹ bốn ngìn năm
Hình ảnh “ Mái sơn hà cũ kỹ bốn ngìn năm” là cách nhìn hơi khắt khe nhưng đó là cái nhìn của tư tưởng mới Như đã nói, cảm xúc với
“giang san” , đất nước là cảm xúc đa chiều có vui, có buồn, hờn giận , có thẹn thùng nhưng đất nước bao giờ cũng là Tổ Quốc mà ông yêu hơn tất thảy Đất nước bầu bạn, sơn hà là thú chơi:
Trang 25- Văn chương thời nôm na Thú chơi có sơn hà
Lại có cả thách thức với “sơn hà”, thách thức thật ra lại xuất phát từ cảm giác bất lực, cảm giác thất bại mà thôi:
-Chơi cho biết mặt sơn hà Chơi cho sơn hà biết ai là mặt chơi
Như vậy toàn bộ loại hình ảnh giang sơn, sơn hà là để chỉ Tổ Quốc Đây là loại hình ảnh gợi nổi niềm non nước một cách tực tiếp nhất,
Theo thống kê của chúng tôi, ở phần thơ Tản Đà có nhắc đến 8 danh lam thắng cảnh như Chùa Hương, Hồ Tây, Hồ Gươm, Đèo Ngang, Hải Vân Quan, sông Đà núi Tản…Trong đó chùa Hương được nhắc đến 3 lần, sông Đà núi Tản 20 lần Toàn bộ những nơi, Tản Đà đã đến hoặc từng sống ở đó Chùa Hương là nơi Tản Đà “ tịch cốc” nên dấu ấn khá đậm trong thơ ông Một chùa Hương được coi là “Thiên hạ đệ nhất động”nên vẻ đẹp của nó cũng là vẻ đẹp độc đáo hiếm có:
- Chùa Hương trời điểm lại trời tô Một bức tranh tình trải mấy thu
Cùng là vẻ đẹp tự nhiên nhưng vẻ đẹp Tây Hồ lại hui hắt vắng vẻ:
- Hiu hắt Tây Hồ chiếc lá rơi
Đên thu văng vặc bóng người theo
Vẻ đẹp Tây Hồ làm cho Hà Nội có vẻ êm đềm nguyên sơ thì vẻ đẹp
Hồ Gươm lại là vẻ đẹp phố xá hiện đại của Hà Nội ngàn năm văn hiến
- Đèn Hà Nội sáng trưng lữa điện Quanh Hồ Gươm xe điện cao xa
Trang 26Chùa Hương, Tây Hồ, lại Hồ Gươm, lại thêm sông Đà núi Tản được nhắc lại nhiều lần nhất Điều này cũng dễ hiểu bởi tình yêu cho quê nhà luôn là tình yêu lớn nhất cố hương là tất cả
Sông Đà núi Tản trước hết là sông là núi như bao con sông ngọn núi đất Việt khác, cùng trường tồn với đất trời:
- Đà giang nước chảy tản mây bay
- Sông Đà núi Tản nghìn năm
- Một giải Ba Vì vạn cổ lưu
Ba Vì núi Tản thiên niên thọ
Sống ấy, núi ấy, chính là quê hương yêu dấu:
- Đà giang tản lĩnh nước non quê
Cái địa thế của một vùng “nước non quê” ấy tạo ra cuộc hôn phối hoà thuận:
- Bên kia thời núi bên này thời sông
Sông kia núi nọ hợp đồng
- Văn chương thời nôm na
- Mạch nước Sông Đà tim róc rách Ngàn năm non tản mắt lơ mơ
- Vân nhà tản lỉnh không tương trực Lãnh nộ đà giang cấp tự lưu
Trước cái tình cảnh của núi, của sông, thi sỹ đã có lúc cảm thấy hết cái tĩnh tại trong lòng mình, sự yên lặng gợi man mát trong lòng Chẳng
Trang 27hiểu tình hiểu cảnh hay cảnh hiểu tình mà sông núi cũng “ man mát” đến thế
- Đỉnh non Tản mây trời man mát Dãi sông Đà bọt nước lênh đênh
Sông Đà núi Tản quả là một vùng “ non nước” liệt vào hàng danh thắng Vẻ đẹp núi sông, nước non nơi đây thật hiếm nơi nào có:
- Nước rợn sông Đà con cá nhảy Mầy trùm non Tản cánh diều bay
Sông Đà núi Tản nước non quê nên đi đâu rồi ta cũng nhớ về sông
về núi ấy Cố hương là nơi đón nhận ta khi chẳng còn nơi nào đến, chốn nào để an Sự trở về cũng là sự tìm lại chính mình khi con người
đã trải qua biến động lớn trong tâm hồn:
- Tản viên bóng gác tà dương
Gió thu dục khách lên đường về quê
Trở về gặp lại cái cảm giác “ non nước”xưa nên núi sông vẫn là một vùng sông núi huyền thoại:
- Ba Vì tây lĩnh non thêm trể Một giải thu giang nước vẫn đầy
Cái mãn nguyện của núi, cái buồn muôn thủa của sông là cả một câu chuyện dài Sông ấy, núi ấy là của đất trời, sông núi huyền thoại thế mà Tản Đà dám coi mình ngang hàng với núi sông Vùng đất Sơn Tây có núi có, có sông mình nữa là hai vì thế cái tài tình của Tản Đà cũng cái tài tình khác thường, tương ứng với vũ trụ:
- Sông Đà núi Tản ai hun đúc
Bút thánh câu thần sớm vải vung
Sông Đà núi Tản “nước non quê” nhưng quê hương ấy lại là một vùng nước Nam Nên yêu quê là Tản Đà đã yêu nước rồi Người ta thường nói : Quê hương đất nước tức là đồng nghĩa quê với Tổ quốc cũng không sai Cũng vì thế Tản Đà ý thức “ Sông Đà núi Tản nước Nam Việt” Tự hào về quê hương cũng là tự hào về đất nước, có đất nước mới có quê, rồi lại mới có mình Hình ảnh Sông Đà núi Tản là
Trang 28loại hình ảnh mang tâm sự nước non đậm chất nghệ sỹ nhất, mang tâm
hồn Tản Đà nhất
3.2.2 Hình ảnh các nhân vật lịch sử, các anh hùng dân tộc
Chúng tôi đã thống kê được có 13 vị anh hùng dân tộc ,nhân vật lịch
sử được nhắc tên Đó là những người đã có công dựng nước và giữ nước Tổ tiên của con cháu nước Việt cũng là người gây dựng “nước non” này:
- Sông Bạch Đằng giang Giồng cọc đứng là Ngô Quyền
Cùng trên dòng sông đó lại vang lên chiến thắng quân Nguyên Mông của tướng sỹ quân binh nhà Trần:
- Sóng vừa yên Đến hồi trần tiên
Con cháu chi Hồng Bàng, họ Hùng Vương yêu hoà bình muốn sống một cuộc sống giản dị cùng làng ,cùng xóm với những người thân hiền hoà chân chất Nhưng “khi bản đồ về Minh”, kẻ thù cướp nước xuất hiện:
-Một người Lam Sơn Gùi lầm than
Gươm vàng Lê Lợi Lau sạch máu thù
Là những người dân bình thường giản dị nhưng khi có giặc xâm lăng lại hoá anh hùng cho nên “ngang đời nhà Thanh” lại xuất hiện một bọn:
- Tôn, Tôn sầm Tôn sầm hai gã Binh mã tung hoành Lập tức có “ngọn cờ Quang Trung” tung bay trên bầu trời Thăng Long đánh tan đạo quân cướp nước và phá nước, “ Trận thành Thăng Long” ghi tên người anh hùng áo vải
Gần với chúng ta hơn, gần với Tản Đà nhất đó là Hàm Nghi Ông vua của Triều Nguyễn Một ông vua giỏi thơ ca mà có cái chí của một
Trang 29vị quân vương, quyết chống Pháp đến cùng, để rồi chịu cảnh tù đày nơi đất người
Nhắc đến các nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc là Tản Đà đã lật lại những chiến công của họ Điều này minh chứng cho lòng yêu nước của các bậc đế vương thời đã qua Dùng hình ảnh các anh hùng dân tộc , Tản Đà không cần trực tiếp phất ngôn cho lòng yêu nước của mình mà thông qua con mắt ngưỡng vọng người đọc cũng hiểu được tâm sự nước non của ông qua loại hình ảnh này
Bức dư đồ của Tản Đà, là bức dư đồ đặc biệt, bức dư đồ không lành lặn, bức dư đồ mang dáng vẻ tang thương:
- Bức dư đồ rách đã cam khó lòng
- Bức dư đồ rách không bồi
- Bức dư đồ rách nước non tô lại
Dư đồ là hồn thiêng đất nước, là hình hài nước non thu lại Dữ cho được dư đồ là giữ đước nước, mất dư đồ vào tay giặc là mất nước:
- Núi Thiên Cầm trời bắt đôi Hồ Quan lại Minh sang giữ bản đồ
Yêu nước, Tản Đà lấy tên nước đặt tên cho tờ báo của mình “An Nam tạp chí”, tên tờ báo gợi nhớ nước “An Nam tạp chí” có bìa in hình đất nước nên Tản Đà gửi nỗi nhớ nước vào nỗi nhớ “An Nam” :
- Dám quên đông pháp người tri kỷ
Riêng ngớ An Nam bức địa đồ
Yêu nước nên phải giữ nước, giữ cho được địa đồ dù gian khổ đến mấy:
- Biết bao gọi gió dầm mưa
Bức dư đồ giữ bây giờ còn đây
Trang 30“Dư đồ rách ” mong có ngày “nước non tô lại” song trước thực trạng đất nước “gió Á mưa Âu” thi sỹ thấy xót xa Đây cũng là nỗi xót
xa chung của cả dân tộc :
- Nọ bức dư đồ thử đứng coi Sông sông núi núi khéo bia cười
Biết bao lúc mới công vờn vẻ
Sao đến bây giờ rách tả tơi?
Dư đồ là một loại hình ảnh đầy cảm xúc trạng thái tình cảm có đau buồn mất mát, có tin tưởng và hi vọng Hình ảnh dư đồ là loại hình ảnh dán tiếp biểu hiện tâm sự “non nước” của tác giả nhưng nó lại gợi lên nổi nhớ nước một cách trực tiếp sâu sắc hơn cả
3.3 Một số loại hình ảnh mang tâm sự “non nước” trong các tác phẩm văn xuôi
Chúng tôi phân loại ra như thế này nhìn về hình thức có vẻ máy móc nhưng vẫn cần thiết vì các hình ảnh trong từng tác phẩm đều nằm trong
hệ thống của tác phẩm, và nó có quan hệ với nhau Khi phân tích các hình ảnh nằm trong hệ thống ấy sẻ làm toát lên hình ảnh lớn mang tâm
sự “nước non ” của Tản Đà có thể hình dung “ giấc mộng lớn”, “giấc mộng con”, và tiểu thuyết “Thề non nước” có xuất hiện loại hình ảnh mang tâm sự non nước của tác giả Nó sẽ tạo nên một bất ngờ lớn trong việc nghiên cứu, tìm hiểu tâm sự nước non của ông Nó không chỉ làm
rỏ tư tưởng nghệ thuật Tản Đà mà còn cho thấy hết cái nhìn nghệ thuật của ông về đất nước, con người Chúng tôi sẻ tiến hành miêu tả các loại hình ảnh biểu hiện tâm sự “non nước” trong từng tác phẩm cụ thể
3.3.1 Các hình ảnh trong “Giấc mộng lớn”
Nếu như ở phần thơ mới chỉ là những hình ảnh mang tâm sự “non nước”,thì đến phần văn xuôi do ưu thế của thể loại mà hình ảnh “non nước” hiện lên cụ thể, ít trừu tượng Ở cuốn tự truyên “giấc mộng lớn” đất nước hiện lên có chiều dài có chiều sâu có bề ngang Hình hài đất nước được xác định
Trang 31Trước hết “non nước” hiện lên với chiều dài địa lý, điều này đước thể hiện bằng sự xuất hiện của 27 tỉnh, thành phố Các đơn vị hành chính này xuyên suốt từ Bắc vào Nam tạo nên chiều dài đất nước
Hai bảy tỉnh chia làm ba miền, miền bắc với 11 tỉnh thành trong đó
có bốn tỉnh là miền núi, 9 tỉnh đồng bằng và ven biển Bốn tỉnh miền trung và tám tỉnh phía nam cho thấy hết hết cái thiên nhiên nước ta cực
kỳ phong phong phú, đa dạng Điều kì diệu của thiên nhiên đó là vẻ đẹp độc đáo cuả tạo hoá Cuốn tiểu thuyết dài 61 trang với bảy danh lam thắng cảnh được nhắc tới, tuy nhiên số cảnh đẹp chưa phải là đã hết Cảnh quan kỳ thú, đa dạng có chùa chiền, có núi, có biển Chùa, có chùa non tiên “ Chùa non tiên có núi non tiên …chùa ở chân núi, núi trông xuống sông, sông có bãi, trên bãi có miếu riêng thờ chư vị tiên nữ”…
“Non nước” có tình như vậy Tản Đà không đến mới là lạ Trong lúc
“ vô liệu” lại có bạn hữu nên chùa non tiên trở thành “ chỗ dung người yếm thế‟
Núi, có núi Ngũ Hoành Sơn, đã kỳ quan lại thêm kỳ quan nếu như núi Sót được coi là “danh lam” của tỉnh Hà Tĩnh thì Ngũ Hành Sơn lại nổi tiếng cả nước và thế giới là một kỳ quan Ở đó nổi tiếng về sự hùng
vĩ bao la của núi non Đến Ngũ Hoành Sơn du khách được tắm mình trong không khí phật giáo, với những ngôi chùa nổi tiếng và cảm giác
“sắc sắc không không” Ngũ Hành Sơn hùng vĩ bao nhiêu thì Hải Vân Quan “thiên hạ đệ nhất hùng quan” cũng kỳ vĩ bấy nhiêu Đèo Ngang không có được cái mênh mông rợn ngợp của những nơi ấy nhưng đó laị
là nơi mà cảnh làm cho tình dậy nhất vì thế mà biết bao thi sỹ đã lặng người đi vì cảnh sắc nơi đây
Lên núi, rồi lại xuống biển tạo thế cân bằng để “kết duyên non nước” nên thi sỹ đến Nha Trang nơi có nước biển xanh biếc, những buồm thuyền đánh cá trắng phau Mỗi thuyền hai buồm xa xa kết đôi thật là “nhất hành bạch lộ thượng thanh hiên vậy”
Như vậy với hai mười bảy tỉnh thành phố, trong đó có những tỉnh thành đước nhắc đến hơn 20 lần như Hà Nội 14 lần, Sơn Tây 13 lần và
Trang 32không thể có tỉnh nào được nhắc đến dưới 2 lần, đã xác định chều dài, chiều rộng đất nước Khuôn hình đất nước đước xác định Đây là hình dạng đất nước về mặt địa lý
27 tỉnh thành trong một cuốn tự truyện dày 61 trang cũng là 27 nơi Tản Đà đã đi qua, đã đến hoặc gắn bó lâu dài có lúc ông còn như một chủ nhân, có lúc lại như một du khách vản cảnh Chỉ có điều du khách này không phải là du khách thường chỉ thăm vãn cảnh cho thoả cái thú yêu thiên nhiên, được ngắm núi, ngắm sông cho thoả thích mà ông là một Tản Đà du khách nên cái việc vãn cảnh ấy lại có thêm ý nghĩa nữa Điều này liên quan đến việc Tản Đà chọn nơi nào để thăm, nơi nào
mộ Đến thăm di tích Tự Đức “ông vua hiếu văn” để tỏ cái tình của kẻ cùng hội cùng thuyền Đến thăm Đồng Dương di tích Chiêm Thành để nhớ, để thương về một đất nước “điêu tàn” chỉ cón là dĩ vãng với những đổ nát của một cung điện đã lùi, xa thăm đền thờ làng Kiên Mỹ Muốn hiểu về thực trạng đất nước, đân tộc nào đó thì không có cách
gì hơn là tìm hiểu những con người sống trên đất nước đó Hình dáng
họ ra sao, họ sống thế nào, họ nghĩ gì về đất nước mình
Người đầu tiên, nhân vật trung tâm của cốt truyện chính là tác giả, thi sỹ tự xưng “mình” Đây là người tài tình, cái tài bắt đầu từ khi còn nhỏ mới lên bảy, lên tám, “học hết đước một quyển tam tự kinh, một quyển ấu học ngũ ngôn thi ”.Từ cái tài này lại nảy sinh ra cái tình, cái tình từ đây mà ra “trong ấu học ngũ ngôn thi thì nhất là hai câu “ Hoa
cù hồng phấn nữ, tranh khán lục y lang” Con người có tài, lại có tình
đó là một sự trọn vẹn không phải ai cũng có được Nhưng đối với Tản
Đà cái tài tình đi liền với cái truân chuyên, cái kiếp long đong lận đận,
Trang 33đến cuối đời vẫn chưa có một ngôi nhà để ở Bán văn nuôi miệng mà văn hạ giới thì rẻ như bèo nên cái nghèo vẫn cứ hoàn nghèo Dọc đường từ Bắc và Nam lại từ Nam ra Bắc tiền chi tiêu lại toàn là vay thậm chí lại còn được cho thêm Cái cảnh nghệ sỹ như Tản Đà âu đã làm mất tinh thần của những kẻ đang mộng làm văn sỹ
Nghèo đến thế nhưng có bao giớ Tản Đà cho là mình nghèo, tấm lòng hào hiệp, rộng rãi Mà trên đời này có ai lấy cái chuyện thiếu thốn vật chất làm nghèo, nếo có nghèo thì nghèo tài, nghèo tình ai lại nghèo thứ ấy Dọc đường đi tiền ăn, tiền tiêu đều phải vay cả ấy thế mà Tản
Đà vẫn có tiền cho bọn trẻ con ở núi Sót và một bạn nghèo khác Thôi thì đó cũng là chuyện của muôn đời “ lá rách ít đùm lá rách nhiều” Góp thêm vào diện mạo cái nghèo làm cho cái nghoè hoàn chỉnh hơn là một bọn người nghèo mà Tản Đà có “cơ may” hàn trình cùng
Họ là những dân thường đi làm ăn xa đến ngày về lại quê thì không có một đồng Đói đến mức quên cả tình người, đánh nhau sưng mày sưng mặt, chỉ vì nắm cơm, miếng thịt Cũng chỉ vài miếng ăn mà quỵ luỵ người khác hèn hạ khốn cùng “ gọi lại đãi một hào ăn quà rồi thấy người ấy thụp xuống lạy một cách cảm tạ” Họ toàn là những kẻ đau,
ốm rách rưới như nhau, từ những vùng quê nghèo như Thái Bình, Hưng Yên… Có người nghèo đương nhiên có người giàu người nghèo tạo ra
kẻ giàu mà lạy Nhưng người giàu trong cuốn tiểu thuyết chỉ thấp thoáng một vài ông quan còn sót lại của một triều đại đã làm “ vong quốc”, một vài nhà tư sản liên quan đến tác giả Tất cả những loại người giàu, nghèo ấy làm cho diện mạo nước An Nam thêm rõ ràng Nghèo cũng nhiều loại mà giàu cũng có nhiều loại
Trong cuốn tiểu thuyết có một nhân vật được coi là “ Linh hồn nước Nam” đó là cụ Phan, một nhà nho yêu nước, một chiến sỹ đấu tranh vì
Tổ Quốc, đã có những hành động làm “mất lòng” nhà bảo hộ, nên phải chịu cảnh giam lỏng ở Huế cho đến cuối đời để cái tình với nước với non giang giở, giở giang mãi vậy !
3.3.2 Các hình ảnh trong “Giấc mộng con”
Trang 34Thật kì lạ có “giấc mộng lớn” rồi lại có thêm “giấc mộng con” Nhưng như vậy không phải là chuyện đã có chim bố lại có thêm chim con mà đó là chuyện đã có Phượng Hoàng lại có thêm loài Công ngũ sắc
Trong “ Giấc mộng con” , Tản Đà “ tiêu du du” một vòng gặp một nơi mà không biết phải gọi đó là nơi nào đành tạm gọi đó là “ cái đời mới” “Cõi đời mới” không hẳn là một nước lại càng không phải một nhà mặc dù họ cùng đông đúc, cũng có cuộc sống như thường Chỉ khác là điều kiện sinh hoạt ở đây quả khác xa con người ở cõi đời cũ Người “ Cõi đời mới” sống trên băng tuyết nhưng vẫn có ánh sáng, có sức ấm lấy từ lòng đất và họ vẫn gieo trồng như thường Quả là sức sáng tạo kì diệu của con người ở “ Cõi đời mới”
Con người ở đây cũng ăn, cũng sống bình thường nhưng thức ăn toàn là một loại vịt giời, có thêm cá nhưng thịt gà, bò, dê, đều không
có Nhà cửa làm bằng pha lê “ Thân nhà thuần một chất pha lê tạo thành một hình động trăm sắc” Người ở cỏi đời mới chế một loại thuốc ngủ đặc biệt, uống một viên ngủ một tiếng, uống hai viên ngủ hai tiếng… Phương tiện đi lại cũng độc đáo không kém, toàn bằng xe nai, người nói tiếng nai, nai hiểu ý người Loại phương tiện này thật quá khác với tàu điện và xe buýt ở cõi đời cũ
Điều kiện sinh hoạt ở cõi đời mới đã tiện lợi rồi, bộ máy chính quyền cũng hết sức giản đơn Trên nhất có thống trưởng, dưới có thôn trưởng Thôn trưởng và thống trưởng sẻ làm mãi nếu không có lỗi gì đó với nhân dân Thống trưởng và thôn trưởng đều do nhân dân bầu ra Trai 18 và gái 16 tuổi đều được đi bầu
Như vậy “ Cõi đời mới” là một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội
“dù ngồi nhà, dù ra đường, tai không nghe thấy có một tiếng than buồn, mắt không thấy ai có một hạt lệ Ruộng không có sổ, mỗi thôn có một giới hạn riêng Sổ địch thời gian, gái chia làm 2, mổi bên lại chia làm 5 hạng Từ 12 tuổi trở xuống là một hạng, 13 đến 20 là một hạng, 21 đến
40 tuổi là một hạng, 41 đến 50 là một hạng, 51 trở lên là một hạng Chia như thế đó tiện đến lúc cắt việc mà không hạng nào có thế thân”
Trang 35Những chữ “ không có thuế thân” được in nghiêng làm người đọc chú ý hoá ra cái khác cơ bản và là bản chất của xã hội là mấy chữ ấy Con người ở “ Cõi đời mới” chẳng phải thần tiên cũng chẳng phải siêu nhân gì họ là những người có nguồn gốc đàng hoàng “Chúng tôi
tổ tiên nguyên cùng là người Mỹ Châu Lịch sử 1770 tổ tiên chúng tôi nổi dận nhà nước Anh xử đãi một cách hà khắc, nhân rủ nhau hơn 100 người và đen theo người giống đỏ hơn 200 người cùng đi” Như vậy hoá ra họ là những người dân mất nước đem theo cái hoài vọng về “non nước” đến với “ Cõi đời mới” vì chế độ hà khắc của thực dân Anh mà đành bỏ quê hương, Tổ Quốc ra đi Như thế họ với Tản Đà nào có khác
gì nhau
Dù tốt đẹp đến mấy thì “ Cõi đời mới” vẫn chỉ là một giấc mộng nằm trong cái mộng con của Tản Đà về một đất nước xa xa mà ông đang mơ tưởng Cái hiện thời của xã hội ông đang sống hết sức ngột ngạt, bế tắc mà ông thì bất lực không biết phải làm gì cho nước, cho non dù rằng nổi niềm ấy đang trăn trở dày vò ông đêm ngày Khao khát thoát ra khỏi cái xã hội ấy là khát khao thay đổi xã hội, giải phóng đất nước nên Tản Đà mới luôn mong về một đất nước của riêng ông như thế “Tiêu du du” thế nào mà lại lên thiên giới gặp người thiên đình nói chuyện văn chương chữ nghĩa vơi Dương Quý Phi, Đông Phương Sóc Gặp lại Chu Kiều Oanh và làm báo An Nam với cụ Hàn Thuyên Tờ báo mà Tản Đà đã để bao tâm huyết vào đấy nhưng vẫn cứ long đong lận đận số phân “ An Nam”
Lên thiên đình cũng là cơ hội cho thi sỹ gặp lại những người không tìm đâu ra ở Hạ Giới Gặp cụ Khổng cha đẻ của nho gia để bày tỏ cái chí “Tôn phù Khổng học” của mình Cụ Khổng khen “ở An Nam ta nghe nói chỉ có anh là người chân tâm với nho học” Tản Đà còn đến thăm, uống rượi cùng cụ Nguyễn Trãi hỏi ý kiến cụ về vận hội nước nhà Cụ Nguyễn “không buồn vì dĩ vãng của mình mà chỉ buồn vì vận hội sau này của nước nhà, đời không có hào kiệt chẳng thà nước đừng
có giang sơn” Cụ Nguyễn cũng buồn vì không được tái sinh
Trang 36Trong những lần gặp gở nơi thiên đình bữa “ tiệc bồng lai” gây án tượng nhất Toàn một nơi tiên cảnh với các mỹ nữ, một nơi duy chỉ có Tản Đà là khác giới lại có phần trần tục Các mỹ nữ đều nhiều một loại
vì chuyện nước mà luỵ đến thân Họ may mắn gặp được Tản Đà hay Tản Đà có duyên mới gặp được họ mà thấy hết thảy đều vui vẻ cùng nhau hát bài “ nước nươc non non” Bài hát Tản Đà làm theo yêu càu của Dương Quý Phi đều làm cho bài hát tăng phần tang thương thương Chính là cái bối cảnh làm ra bài hát ấy, nào là “ cảnh Nhà Đường trong lúc An Lộc Sơn vào Trường an và tình hình nươc Ngô trong Quân Việt vào Cô Tô” Cái tình-cảnh ấy cất lên tiếng hát rằng :
Non xanh xanh nước xanh xanh Nươc non như vẻ bức tranh tình Nước non tan tành
Giọt luỵ tràn năm canh Đêm năm canh
Nổi niềm non nước đối ai quên cho đành Quên sao đành
Trần hoàn xa cách Bồng lai non nước xanh xanh
Non xanh, nước xanh còn là cái nhìn khách quan chứ đến “non nước tan tành”thì đó lại là cảm xúc chủ quan rồi Câu thơ bật ra từ nỗi lòng sâu kín về chuyện nước non Từ những tâm sự không biết tỏ cùng ai của Tản Đà, về số phận vong quốc của những người tri âm tri kỷ
Lên trời cũng là cách Tản Đà chửi trực diện vào bọn bán nước, phản dân như Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải…
Vừa thực, vừa hư, mộng mộng ảo ảo là cho câu chuyện lên tiên giới của Tản Đà vời mang tính hiện thực vừa mang tính lãng mạn Đó là thứ lãng mạn không thoát li, không cắt đứt cuống rốn với hiện thực đất nước
3.3.3 Các hình ảnh trong tiểu thuyết Thề non nước
Trang 37Đoạn trích “ Thanh lương” xoay quanh câu chuyện tình của hai người tài tình cả hai Một cô gái tài sắc nhưng truân chuyên, liệt vào hạng hồng nhan bạc phận Một người khách giang hồ nay đây mai đó
mà không thời ở yên
Vân Anh vốn là cô gái con nhà gia giáo có ăn, có học lại thêm có tài, “ nghĩ là thân một người con gái có nhan sắc có tài hoa, có học vấn
vì nhà cữa sa sút mà truỵ lạc vào xóm Bình Khang” Từ nhỏ đã học chữ nho và cũng biết làm thơ Như tiền định, vốn dĩ những con gái có tài sắc sớm muộn gì cũng “ hồng nhan bạc phận”, lại đeo thêm cái nghiệp thi ca ắt bị khổ luỵ đến thân là nhẽ thường Người ả đào xinh xắn và cũng có phong cách ấy không biết chiều khách nên ăn ở cũng bần tiện, rách rưới Người mẹ già ốm đau luôn, nhà cửa tuyềnh toàng chẳng có
gì đánh nói
Người tài tình gặp người tài tình nên quý mến nhau, cùng nhau uống rượu và cùng làm thơ Họ cũng có “tình” với nhau nhưng tình yêu của họ là một thứ tình yêu “chốc lát”, có đó mà lại klhông có một thứ tình chỉ mới dùng lại ở việc cảm mến nhau của những kẻ tài tử giai nhân gặp nhau trở nên duyên nợ một chút vậy thôi Chẳng ràng buộc không gắn bó gì cả, “chị thời hoa đào nước chảy, chổ ở rất là vô thường: Tôi thời là một người khách luôn, quanh năm giang hồ không biết đâu mà định Lúc nào ngẫu nhiên gặp lại nhau thời cùng nhau nói chuyện”
Vân Anh vốn nặng về chữ “tình” mà người khách đa tình lại nặng
về chữ “ khách” hơn nên có phần tủi hờn, đáng thương cho thân phận tài hoa ấy Bài thơ “Thề non nước” là của cả hai người cùng vịnh một bức tranh Bức tranh vẽ một ngọn núi, nhìn kỹ mới thấy một ngàn dâu dưới chân núi tức là sông nước khi xưa vì tang thương đã biến đổi Hình ảnh bức tranh gợi nổi nhớ nước mặc dù khách và chủ đều không nói chuyện nước non gì
Cùng vịnh nên lời này lại đến lời kia, lời thơ của vân anh ngăn bó thuỷ chung bao nhiêu lời thơ của khách lại thoái thác, thoát gông, thoát cùm bấy nhiêu:
Trang 38Khách đa tình đến rồi lại đi:
Nước non nặng một lời thề Nước đi đi mãi không về cùng non ………
Nước thì đi mãi, non cứ thế trông chờ cho đến tiều tuỵ:
Non cao những ngóng cùng trông Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày Sương mai một nắnm hao gầy
Tóc mây một mái đã dầy tuyết sương
…………
Non thời nhớ nước, nươc mà quên non!
Dù cho sông cạn đá mòn
Còn non còn nước hãy còn thề xưa
Nước thì đi mãi, non đã kiệt sức vì đợi chờ mặc dù vậy non vẫn hi vọng vẫn tin vào ngày đoàn tụ bên nhau hài hoà:
Nước non hộ ngộ còn luôn Bảo cho non chớ có buồn làm chi Nước kia dù hảy còn đi
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui
………
Non non nước nước không nguôi lời thề
“Non” hy vọng dấy lên khát vọng hướng tới hạnh phúc, hướng tới tình yêu cũng là một phẩm chất của con người Trong khó khăn thất bại biết hy vọng cũng là một động lực để vượt qua tất cả Niềm hy vọng của “ non” về ngày đoàn tụ là niềm hy vọng của nhân vật trữ tình về một niềm tin vào đại nghiệp Nó loáng thoáng niềm tin của Tản Đà vào chuyện nước non
Có thể nhìn tháy chuyện tình yêu của Vân Anh và người khách giang hồ là một thứ tình thoảng qua không gắn bó, trách nhiệm gì Cảm mến tài nhau đến với nhau trong chốc lát Như số trời đã định được xum vầy là xum vầy, được chia li là chia li Đành ngậm ngùi vậy Cũng
Trang 39như nhà văn có thể ngậm ngùi trong câu chuyện tình của họ một chút tang thương, tan tác của nước non này
Quan niện hiểu nội dung văn học từ đề tài, chủ đề, tư tưởng, tính cách đã thành truyền thống và coi những vấn đề của hình thức, của giá
Trang 40trị thẩm mỹ chỉ là hàng thứ yếu Ví dụ bài thơ “Thề non nước” của Tản
Đà, trước đây do không coi trọng những vấn đề của hình thức mà dẫn đến những cách hiểu, cách suy diễn khác nhau về nghĩa của bài thơ, Người thì cho bài thơ có nghĩa này, người lại cho bài thơ có nghĩa nọ Tất cả đều chỉ căn cứ vào đề tài, tư tưởng, coi bài thơ như là một tình tiết, một “sản phẩm” từ tiểu thuyết cùng tên Nhưng thực ra, nghĩa của bài thơ lại nằm chính trang hình thức ngôn từ của bài thơ Chúng tôi có thể nhận ra nghĩa của bài thơ từ hình thức ấy Ở hai câu đầu của bài thơ
là một cấu trúc hình thức độc đáo, ẩn ý mang tính quan niệm nghệ thuật của Tản Đà:
Nước non nặng một lời thề Nước đi đi mãi không về cùng non
Ở câu đầu là ý niệm về một lời thề trong quá khứ ở đó “nước non” bên nhau trong quan hệ hài hoà nên “nước” ở bên “non” Câu hai trở về với hiện tại chia cắt được diễn tả qua vị trí của “non nước”ở hai đầu câu thơ, đó là một khoản cách xa thẳm của tâm trạng
Đó là một kiểu cấu trúc độc đáo của thời gian nghệ thuật, thời gian tâm trạng “Non nước” trong tác phẩm của Tản Đà là một hiện tượng
đa nghĩa và mục đích của chúng tôi không phải đi tìm xem hình tượng
ấy có những nghĩa nào, mà mục đích của chúng tôi là xem xét xem những hình thức nào chứa đựng những nghĩa ấy Như vậy luận văn của chúng tôi đã tiến gần đến cách tiếp nhận văn học mới Đó là cách tiếp nhận văn học theo quan điểm của thi pháp học Thi pháp học theo định nghĩa của M.B Khrapchenco là “ khoa học nghiên cứu hệ thống các nguyên tắc, phương thức, phương tiện mỹ học dùng để sáng tạo nên các tác phẩm nghệ thuật”.[3] Các phương thức, phương tiện mỹ học là
hệ thống các yếu tố cấu tạo nên hình thức nghệ thuật Hình thức này được coi là hệ thống có tính toàn vẹn và có quá trình thay đổi, phát triển tiến hoá Chúng ta nghiên cứu hệ thống hình thức là chúng ta nghiên cứu xem cái gì được thể hiện trong hình thức ấy, tức là hình thức mang nội dung gì Hình thức của nội dung Đây được xem như một cách tiếp nhận văn học mới làm thay đổi cách tiếp nhận văn học