1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của mô hình rừng trồng thông nhựa pinus merkusiijungh et de vries tại thị trấn trạm tấu huyện trạm tấu tỉnh yên bái

56 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của mô hình rừng trồng Thông nhựa (Pinus merkusiiJungh. et de Vries) tại thị trấn Trạm Tấu, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái
Tác giả Trương Thị Minh Huế
Người hướng dẫn Cô Giáo Phạm Thị Quỳnh
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Thể loại khóa luận
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 815,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHÊN CỨU (7)
    • 1.1. Đặc điểm và giá trị của Thông nhựa (7)
      • 1.1.1. Đặc điển hình thái của Thông nhựa (7)
      • 1.1.2. Đặc tính sinh thái (7)
      • 1.1.3. Khai thác, sử dụng (8)
    • 1.2. Nghiên cứu về Thông trên thế giới (9)
      • 1.2.1. Nghiên cứu đánh giá sinh trưởng rừng trồng (9)
      • 1.2.2. Nghiên cứu về quy luật cấu trúc lâm phần (10)
      • 1.2.3. Nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế (12)
    • 1.3. Ở Việt Nam (13)
      • 1.3.1. Nghiên cứu đánh giá sinh trưởng rừng trồng (13)
      • 1.3.2. Nghiên cứu về quy luật cấu trúc lâm phần (15)
      • 1.3.3. Nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế (16)
      • 1.3.4. Thiết kế kỹ thuật trồng và chăm s c rừng trồng Thông nhựa (0)
      • 1.3.5. Nhận xét đánh giá chung (18)
  • CHƯƠNG 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (20)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (20)
      • 2.1.1. Mục tiêu tổng quát (20)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (20)
    • 2.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu (0)
      • 2.2.1. Đối tượng nghiên cứu (20)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (20)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (20)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (21)
      • 2.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu (21)
      • 2.4.2. Phương pháp điều tra ngoại nghiệp (21)
      • 2.4.3. Phương pháp nội nghiệp (22)
  • CHƯƠNG 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU (27)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (27)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (27)
      • 3.1.2. Địa hình (27)
      • 3.1.3. Khí hậu, thủy văn (28)
      • 3.1.4. Các nguồn tài nguyên (0)
        • 3.1.4.2. Tài nguyên rừng (31)
    • 3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội (31)
  • CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (32)
    • 4.1. Đánh giá một số chỉ tiêu sinh trưởng của rừng trồng Thông nhựa (32)
      • 4.1.1. Sinh trưởng về đường kính ngang ngực (D 1.3 ) (32)
      • 4.1.2. Sinh trưởng chiều cao (H vn ) của rừng trồng Thông nhựa (34)
      • 4.1.3. Sinh trưởng đường kính tán (Dt) của rừng trồng Thông nhựa (36)
    • 4.2. Đánh giá chất lượng, trữ lượng rừng trồng Thông nhựa (0)
      • 4.2.1. Chất lượng rừng trồng Thông nhựa (37)
      • 4.2.2. Trữ lượng rừng trồng Thông nhựa (39)
    • 4.4. Đánh giá hiệu quả kinh tế rừng trồng Thông nhựa (39)
    • 4.6. Đề xuất một số biện pháp phát triển rừng Thông nhựa (42)
  • CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ (44)
    • 5.1. Kết luận (44)
    • 5.2. Tồn tại (44)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (46)
    • Biểu 2.1. Biểu điều tra sinh trưởng tầng cây cao (0)
    • Biểu 2.2. Biểu chỉnh lý các chỉ tiêu tính toán (22)
    • Biểu 2.3. So sánh các mẫu về chất (24)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHÊN CỨU

Đặc điểm và giá trị của Thông nhựa

1.1.1 Đặc điển hình thái của Thông nhựa

Tên khác: Thông ta, Thông hai lá

Tên khoa học: : Pinuss merkusii Jungh et de Vries

Pinus merkusiana E.N.G Cooling et H.Gauss

Cây gỗ lớn có chiều cao từ 25 đến 30m, thậm chí có thể cao hơn, với đường kính ngang ngực từ 50 đến 60cm, có cây đạt tới 1m Thân cây thẳng, tròn và chứa nhiều nhựa, vỏ dày có màu nâu đỏ nhạt hoặc nâu đen, nứt dọc sâu Tán cây rộng với lá kim màu xanh thẫm dài từ 15 đến 20cm, gốc lá có bẹ dài từ 1 đến 2cm Quả cây hình nón, hạt hình trái xoan, hơi dẹt, ra hoa vào tháng 5 – 6 và quả chín vào tháng 9 – 10 năm sau, với tỷ lệ khoảng 35 – 40kg quả cho 1kg hạt, trong đó 1kg hạt chứa từ 27,000 đến 30,000 hạt.

Cây ưa sáng hoàn toàn và có khả năng chịu bóng râm nhẹ khi còn nhỏ Chúng giữ lá xanh quanh năm và có khả năng tái sinh hạt mạnh mẽ Rễ cây phát triển rộng rãi với chiều dài lên đến 8 – 10m, bao gồm rễ cọc sâu và rễ tơ có nấm cộng sinh tạo nốt sần Thời gian phát triển chậm nhất là trong giai đoạn từ 4 – 5 tuổi, và cây bắt đầu ra hoa khi đạt độ tuổi từ 10 – 12.

Thông nhựa, có nguồn gốc chính từ các nước Đông Nam Á, thường mọc ở độ cao từ 10 – 250m và 700 – 900m so với mực nước biển Loài cây này phân bố rộng rãi tại Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonesia và Philippines Tại Việt Nam, Thông nhựa mọc hoang và được trồng ở nhiều tỉnh như Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Đồng Nai Cây thường phát triển ở độ cao dưới 100 – 200m đến gần 1000m, từ những khu vực sát biển đến cách biển hơn 100km theo đường thẳng Thông nhựa có hai dạng sinh học với đặc trưng hình thái và sinh trưởng khác nhau, liên quan đến hai vùng có chế độ mưa khác nhau vào vụ Hè Thu và vụ Thu Đông.

Dạng 1 có lá dài, màu xanh thẫm mọc tập trung ở đỉnh thân, sinh trưởng nhanh về đường kính và chậm về chiều cao gồm Thông nhựa ở Bảo Lộc, Di Linh (Lâm Đồng), Yên Lập, Uông Bí (Quảng Ninh), Phú Bình (Thái Nguyên), Mộc Châu (Sơn La)

Dạng 2 có lá ngắn, màu xanh nhạt mọc tập trung ở giữa đến 1/3 trở lên đến đỉnh thân, sinh trưởng chậm về đường kính và nhanh hơn về chiều cao, gồm Thông nhựa ở Huế, Bố Trạch (Quảng Bình), Hoàng Mai (Nghệ An), Hà Trung (Thanh Hóa), Nho Quan (Ninh Bình)

Vùng thấp dưới 300 – 400m so với mực nước biển tại Quảng Ninh và Thái Nguyên có Thông nhựa dạng 1 với chế độ mưa mùa Hè Thu, trong khi dạng 2 với chế độ mưa mùa Thu Đông xuất hiện ở các tỉnh ven biển từ Ninh Bình đến Thừa Thiên – Huế.

Vùng cao 600 – 700m đến dưới 1000m chỉ có Thông nhựa dạng 1 với chế độ mưa mùa Hè Thu có ở các tỉnh Lâm Đồng ở phía Nam và Sơn La ở phía Bắc

Thông nhựa thích hợp ở vùng nhiệt độ trung bình năm từ 22 ÷ 25 0 C, có mùa khô nóng kéo dài từ 2 ÷ 4 tháng, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất từ

Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 22 ÷ 28°C, với tháng lạnh nhất đạt 15 ÷ 16°C và nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 0°C Loài Thông nhiệt đới này ưa sáng, phát triển trong khu vực có lượng mưa hàng năm từ 1200 ÷ 2200mm, trung bình là 1500mm/năm trở lên Chúng có khả năng chịu hạn và sống được ở nơi úng nước Nền đất Feralit phát triển trên nhiều loại đá mẹ khác nhau, với thành phần cơ giới từ nhẹ đến nặng, nhưng phù hợp nhất là loại trung bình, đặc biệt có phản ứng chua với pHKCL từ 3.3 – 4.9.

Gỗ thông chứa nhiều nhựa, đặc biệt là ở lõi, và từ nhựa này có thể chế biến ra hai sản phẩm chính là dầu Thông (Têrêbentin) và tùng hương (Côlôphan) Những nguyên liệu này rất cần thiết cho ngành công nghiệp sơn, véc ni, xenlulo, mỹ phẩm, xà phòng, giấy, chất dẻo, mực in và cao su Cây thông từ 25-30 tuổi sinh trưởng tốt có thể cho ra lượng nhựa từ 3-4kg/năm, và đây là loại thông có khả năng sản xuất nhựa cao nhất so với nhiều loại thông khác trên thế giới.

Gỗ dùng để đóng đồ mộc gia dụng, bao bì, ván phủ bề mặt trong toa xe

Gỗ nhỏ có đường kính dưới 25 – 30cm, nhẹ và hàm lượng nhựa ít, được sử dụng làm nguyên liệu cho giấy sợi dài Rễ của cây chứa nấm cộng sinh giúp cố định đạm và cải tạo đất Quy trình khai thác nhựa cây Thông nhựa QTN-29-97 theo quyết định số 2531 NN-KHCN/QĐ ngày 4/10/1997 của Bộ NN&PTNT yêu cầu khai thác cây từ 25 năm tuổi trở lên, với đường kính ngang ngực từ 25cm trở lên Phương pháp khai thác bao gồm nuôi dưỡng rừng đến tuổi thành thục, sử dụng kỹ thuật đẽo hình chữ nhật bằng quốc đẽo Hoàng Mai, và áp dụng phương pháp chích hình xương cá cho các cây chặt tỉa thưa lần 2 và 3 trong rừng trồng thuần loài.

Khi bô chứa nhựa đã đầy, cần thu hoạch ngay, thực hiện 2-3 lần mỗi tháng Nhựa phải được đựng trong thùng phi tráng kẽm hoặc bể xây, bảo quản ở nơi râm mát và được che chắn khỏi mưa.

Nghiên cứu về Thông trên thế giới

1.2.1 Nghiên cứu đánh giá sinh trưởng rừng trồng Ở Philippin, các tác giả Intari – SE; Natamiria – D (1973) đã nghiên cứu về tình hình sâu bệnh ở vườn ươm và rừng trồng đối với rừng trồng loài cây Thông nhựa và các biện pháp phòng trừ cho rằng, biện pháp kỹ thuật đem lại hiệu quả cao và thuốc Boordo là tốt nhất để phòng trừ bệnh rơm lá Thông

Nghiên cứu của Yao – N.Y.N (1981) tại Đài Chung, Đài Loan cho thấy Thông nhựa đứng thứ 5 trong số 12 loài Thông được khảo nghiệm, với mức sinh trưởng tốt Tuy nhiên, nghiên cứu của Baross – NF – de và Bandi – Rm (1981) tại Viosa, Minas Gerais, Brazil lại chỉ ra rằng sau 7 năm, Thông nhựa có mức sinh trưởng rất kém so với các loài Thông khác trong thử nghiệm.

Nghiên cứu đánh giá sinh trưởng rừng trồng của Vilmorin bắt đầu từ năm 1821 tại Pháp, với các khảo nghiệm về loài Thông Châu Âu (Pinus silvestris) tại Les Bares Từ năm 1929 đến 1936, nhà di truyền chọn giống cây rừng Langlet ở Thụy Điển đã tiến hành khảo nghiệm và so sánh sinh trưởng của các xuất xứ khác nhau của loài Thông Châu Âu.

Cuối những năm 1950, công tác trồng rừng được chú trọng phát triển với nhiều hoạt động khảo nghiệm và đánh giá sinh trưởng của các loài cây trồng trên toàn thế giới Một trong những nghiên cứu đáng chú ý là việc trồng khảo nghiệm và so sánh sinh trưởng của Thông Caribe (Pinus caribaea) tại Fiji vào năm 1955 Thời kỳ này cũng chứng kiến những so sánh đánh giá về các loài Thông khác như Thông ba lá (Pinus kesiya), Thông nhựa (Pinus merkusii) và một số loài Thông nhiệt đới khác.

Trong nghiên cứu đánh giá sinh trưởng rừng trồng, các yếu tố như đường kính, chiều cao và thể tích thân cây thường được xem xét Mối quan hệ giữa đường kính và sinh trưởng chiều cao là một khía cạnh quan trọng trong việc hiểu quy luật sinh trưởng của cây rừng Việc đánh giá sinh trưởng của cây rừng và lâm phần là cơ sở khoa học cho việc chọn lập địa, xuất xứ giống cây rừng, đồng thời cũng là trọng tâm trong sản lượng rừng Điều này đóng vai trò nền tảng cho việc nghiên cứu các phương pháp dự đoán sản lượng và các biện pháp nhằm nâng cao năng suất rừng.

1.2.2 Nghiên cứu về quy luật cấu trúc lâm phần a, Nghiên cứu quy luật cấu trúc đường kính thân cây ( N/D 1.3 )

Quy luật phân bố cây theo cỡ kính (N/D 1.3) là chỉ tiêu quan trọng trong cấu trúc rừng, với nhiều nghiên cứu từ các tác giả như Balley (1973) sử dụng hàm Weibull, và Schiffel biểu thị đường cong cộng dồn phần trăm số cây bằng đa thức bậc ba Naslund (1936, 1937) xác lập quy luật phân bố Charlier cho N/D 1.3 của lâm phần thuần loài theo tuổi khép tán Drachenko Z.N áp dụng phân bố Gamma cho số cây theo đường kính lâm phần Thông ôn đới Matvvee-Motin A.S cho rằng dạng phân bố đường kính phụ thuộc vào tuổi lâm phần, với sự biến động tăng theo tuổi Để tăng tính mềm dẻo, một số tác giả như Loetch (1973) sử dụng họ hàm Bêta, và Roemich (1995) nghiên cứu khả năng dùng hàm Gamma mô phỏng sự biến đổi phân bố đường kính Lembeke, Knapp và Ditbma (theo Phạm Ngọc Giao, 1995) cũng sử dụng phân bố Gamma và thiết lập mối tương quan giữa tuổi và chiều cao tầng trội qua các phương trình.

Một số tác giả sử dụng các hàm khác nhau để biểu thị phân bố kinh nghiệm của số cây theo đường kính (N/D), bao gồm hàm Meyerr, hàm Poisson, hàm Charlier, hàm Logarit chuẩn, họ đường cong Pearson và hàm Weibull.

Việc sử dụng hàm phân bố thực nghiệm N/D1.3 có thể phù hợp với một hoặc nhiều dạng hàm số ở các mức xác suất khác nhau, tùy thuộc vào kinh nghiệm Xác định hàm phân bố lý thuyết phù hợp với phân bố thực nghiệm sẽ giúp hiểu rõ hơn về quy luật cấu trúc của rừng Từ đó, điều chỉnh số cây theo đường kính ở từng cấp tuổi tương ứng sẽ là cách tiếp cận khoa học, mang lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng Nghiên cứu mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính thân cây (H VN - D 1.3) cũng là một yếu tố quan trọng trong việc này.

Nghiên cứu của nhiều tác giả chỉ ra rằng, khi tuổi cây rừng tăng, chiều cao của cây cũng tăng theo, phản ánh quá trình sinh trưởng tự nhiên Vagui A.B (1955) đã khẳng định điều này.

Đường cong chiều cao có xu hướng tăng lên theo độ tuổi, như đã được Tiourin A.V (1972) phát hiện khi nghiên cứu các cấp tuổi khác nhau Curtis R.O đã mô phỏng mối quan hệ giữa chiều cao, đường kính và tuổi thông qua một phương trình cụ thể.

Krauter.G (1958) và Tiourin.A.V (1932) đã nghiên cứu mối tương quan giữa chiều cao và đường kính ngang ngực của cây, dựa trên cấp đất và cấp tuổi Kết quả cho thấy, khi phân hóa thành các cấp chiều cao, mối quan hệ này không cần xem xét đến cấp đất hay cấp tuổi, vì các yếu tố này đã được phản ánh qua kích thước cây, tức là đường kính và chiều cao đã bao hàm tác động của hoàn cảnh và tuổi cây.

Trong thực tiễn điều tra rừng, có thể xác định chiều cao tương ứng với cỡ kính thông qua mối quan hệ HVN – D1.3 mà không cần phải đo độ cao của toàn bộ cây.

Có nhiều tác giả dùng các phương trình toán học khác nhau để biểu thị quan hệ như: Naslund M (1929); Asnann F (1936); Hohenall W (1936); Michailow F

Nhiều nhà nghiên cứu như Prodan M (1944), Krenn K (1946), và Meyerr H.A (1952) đã đề xuất các dạng phương trình để mô phỏng mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính, bao gồm các phương trình như h = a + a1*d + a2*d^2, h = a*d^b, và logh = a + b*logd Tuy nhiên, việc lựa chọn phương trình phù hợp nhất cho từng đối tượng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Các nghiên cứu trước đây cho thấy phương trình parabol và phương trình logarit có khả năng mô phỏng tốt cho phân bố thực nghiệm của đường cong chiều cao.

1.2.3 Nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế

Trong hệ thống kinh tế thị trường toàn cầu, việc đánh giá hiệu quả các dự án, đặc biệt là dự án trồng rừng, đã bắt đầu từ những năm 1950 Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại đã giúp hoàn thiện các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế Hiện nay, nhiều chỉ tiêu này đã được lập trình trong phần mềm và cài đặt trên các máy tính bỏ túi chuyên dụng như Busines/Financial, Calculators EL-733 và EL-735, cũng như trong phần mềm Excel và Microsoft Project 4 for Windows Nhiều giáo trình và bài giảng liên quan cũng đã được xuất bản tại các trường đại học trên toàn thế giới.

Năm 1914, Jond E–Gunter từ trường đại học tổng hợp bang Michigan, Mỹ, đã phát hành giáo trình "Những vấn đề cơ bản trong đánh giá đầu tư Lâm nghiệp", trong đó tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của rừng trồng Tác giả đã trình bày các nội dung quan trọng như lãi suất, cơ sở tính lãi, và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả rừng trồng, bao gồm giá trị thu nhập và chi phí, giá trị hiện tại thuần, tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ, cũng như tỷ lệ thu nhập trên chi phí.

Ở Việt Nam

1.3.1 Nghiên cứu đánh giá sinh trưởng rừng trồng Ở Việt Nam cùng với Thông 3 lá (P.kesiya); Thông đuôi ngựa (P.massoniana) thì Thông nhựa (p.merkusii) là loài đang được khai thác nhựa phổ biến ở nước ta Thông nhựa cho năng suất cao hơn 2 loài Thông nói trên Mặt khác, đây là loài các sinh trưởng nhanh (Đỗ Doãn Triệu, 1997) [8]

Ngày nay, diện tích trông Thông nhựa ở các tỉnh ngày càng được mở rộng, ở Hà Tĩnh 14.502ha (STRAP-1995), ở Nghệ An 14.000ha (Tô Hồng Hải

1995) [4] và từ 6.000 đến 10.000ha ở các tỉnh Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế và

Quảng Trị Chúng ta đang có khoảng 120.000ha rừng trồng Thông nhựa đã, đang chuẩn bị đến tuổi khai thác

Nghiên cứu về phân vùng lập địa trồng rừng cho Thông nhựa (Ngô Đình

Thông nhựa là loài cây có khả năng sinh trưởng tốt trong những điều kiện đất không lý tưởng, tuy nhiên, đất cần phải phù hợp với các đặc tính sinh thái của nó để phát triển hiệu quả.

Nghiên cứu khảo nghiệm đánh giá sinh trưởng loài cây trồng rừng ở Việt

Việc nghiên cứu và trồng cây tại Nam bắt đầu từ những năm 1930 do các nhà lâm nghiệp người Pháp thực hiện, với các loài cây chủ yếu như Lim xanh (erythrophoeum forrdii), Long não (cinnamomum camphora) và Bạch đàn trắng (eucalyptus camaldulensis) (Nguyễn Ngọc Bách) [1].

Nguyễn Xuân Quát (1986) đã thực hiện nghiên cứu về thông nhựa tại Việt Nam, với tiêu đề “Nghiên cứu Thông nhựa ở Việt Nam yêu cầu chất lượng cây con và hỗn hợp ruột bầu ươm cây để trồng rừng.” Kết luận của tác giả cho thấy thông nhựa có phạm vi phân bố rộng rãi, trải dài qua 10 vĩ tuyến và 5 kinh tuyến, với độ cao từ 100 đến 1000m và cách biển từ 5km.

Thông nhựa phát triển tốt nhất trong môi trường có pH và hàm lượng lân thích hợp, đây là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và chất lượng cây con.

Lê Đình Khải (1981) và Phí Quang Đệ (1985) đã chỉ ra rằng Thông nhựa là loài cây thích hợp với đất cằn cỗi và vùng đồi thấp ven biển, nơi mà các loại cây khác khó phát triển Nghiên cứu cho thấy Thông nhựa có xuất xứ từ Hà Trung - Thanh Hóa sinh trưởng nhanh nhất tại các khu vực khảo nghiệm Đại Lải và Đông Hà.

Nguyễn Sĩ Giao (1965; 1970; 1973; 1976; 1977) đã nghiên cứu ứng dụng nấm cộng sinh trong việc tạo cây con Thông nhựa và phòng chống bệnh khô rơm lá Thông Kết quả cho thấy, việc sử dụng các công thức bón mồi đất nấm tự nhiên giúp cây phát triển mạnh mẽ về chiều cao, đường kính và thể tích thân Đặc biệt, thuốc Boordo cho thấy hiệu quả cao nhất trong việc phòng chống bệnh khô rơm lá Thông.

Trần Cửu (1993 - 1996) [2] đã nghiên cứu đánh giá sinh trưởng một số loài cây bản địa ở Quảng Ngãi như: Sao đen (Hopea odorata), Thông nhựa

(Pinus merkusii), Giổi (Talauma gioi), Muồng đen (Cassia siamea), Dầu con rái

Muồng đen, Sao đen, và Dầu con rái là ba loài cây bản địa có tốc độ sinh trưởng nhanh, trong khi Thông nhựa và Giổi cần thêm các thử nghiệm để có kết luận chính xác hơn về khả năng phát triển của chúng.

Các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng trụi lá Thông có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và sản lượng nhựa Thông (Trần Văn Đường) Đồng thời, việc khuyến khích trồng Thông nhựa trên gò đồi Quảng Trị cũng được đề xuất (Nguyễn Xuân Thông).

1.3.2 Nghiên cứu về quy luật cấu trúc lâm phần

Việc phát hiện ra những quy luật cấu trúc là cơ sở cho kinh doanh rừng

Hiện nay, các nghiên cứu về cấu trúc đường kính thân cây (N/D 1.3) đang được áp dụng rộng rãi trong sản xuất kinh doanh rừng tại Việt Nam, mang lại hiệu quả cao.

Tác giả Đồng Sĩ Hiền (1974)[5] đã chọn họ đường cong Pearson với

Bài viết đề cập đến bảy loại đường cong khác nhau để biểu diễn phân bố cây theo kích thước đường kính trong rừng tự nhiên Nguyễn Hải Tuất (1975, 1982, 1990) đã áp dụng hàm Meyer và hàm khoảng cách để mô tả quy luật cấu trúc đường kính của rừng thứ sinh, đồng thời ứng dụng quá trình Poisson trong nghiên cứu quần thể rừng Ngoài ra, Nguyễn Văn Trương (1983) cũng đã sử dụng phân bố Poisson để nghiên cứu và mô phỏng quy luật cấu trúc đường kính thân cây cho các loại rừng hỗn giao khác tuổi.

Phạm Ngọc Giao (1995) đã nghiên cứu quy luật N/D cho Thông nhựa ở vùng Đông Bắc, chứng minh tính thích ứng của hàm Weibull trong việc xây dựng mô hình cấu trúc đường kính cho lâm phần Thông đuôi ngựa Hàm Weibull được sử dụng để mô tả sự phân bố đường kính của cây trong nghiên cứu này.

F(x) là tần số quan sát x là cỡ đường kính hay cỡ chiều cao α, λ là hai hàm số của phương trình

Những kết quả nghiên cứu định lượng trên là những cơ sở quan trọng cho việc vận dụng vào nghiên cứu đối tượng Thông nhựa (Pinus merkusii)

Trong nghiên cứu xây dựng mô hình cấu trúc N/D và N/H, hàm Weibull được chọn là phù hợp cho việc nghiên cứu rừng trồng.

Thông nhựa thuần loài đều tuổi b, Nghiên cứu quy luật quan hệ giữa chiều cao và đường kính thân cây

Phạm Ngọc Giao (1995)[3] đã khẳng định tương quan H/D của các lâm phần Thông nhựa tồn tại chặt dưới dạng phương trình Logarit một chiều : h = a + b*logd (1.14)

Bảo Huy (1993) đã tiến hành thử nghiệm bốn phương trình tương quan chiều cao (H) và đường kính (D) cho các loài cây ưu thế như Bằng lăng, Căm xe, Kháo, và Chiêu liêu, được nghiên cứu trong môi trường rừng rụng lá và rừng nửa rụng lá Các phương trình được sử dụng bao gồm: h = a + b*logd1.3, h = a + b*d1.3, logh = a + b*d1.3, và logh = a + b*logd1.3.

Từ đó, tác giả đã chọn được phương trình thích hợp nhất là:

Logh = a + b*logd1.3 (1.19) Trịnh Khắc Mười và Đào Công Khanh (1995) đã nghiên cứu quy luật tăng trưởng, từ đó xây dựng biểu cấp đất cho rừng trồng Thông nhựa Họ cũng lập biểu thể tích 2 nhân tố bằng phương pháp đường sinh và biểu tỉa thưa Thông nhựa cho 3 cấp đất.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu để bổ sung kiến thức lý thuyết và thực tế về loài Thông nhựa tại Việt Nam

- Đánh giá được tình hình sinh trưởng và hiệu quả của cây Thông nhựa tại huyện Trạm Tấu - Yên Bái

- Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp nhằm nâng cao sinh trưởng của rừng trồng Thông nhựa

2.2 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là rừng trồng Thông nhựa trên địa bàn huyện Trạm Tấu

- Khóa luận chỉ nghiên cứu cây Thông nhựa tuổi 13

- Địa điểm tại thị trấn Trạm Tấu, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái.

Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá một số chỉ tiêu sinh trưởng của rừng trồng Thông nhựa

+ Sinh trưởng đường kính ngang ngực (D 1.3 )

+ Sinh trưởng chiều cao (H VN )

+ Sinh trưởng đường kính tán (Dt)

- Đánh giá chất lượn, trữ lượng rừng trồng Thông nhựa

+ Chất lượng của lâm phần

+ Trữ lượng của lâm phần

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng trồng Thông nhựa

+Giá trị hiện tại ròng (NPV)

+ Tỷ lệ thu nhập trên chi phí (BCR)

+ Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ (IRR)

- Đề xuất một số giải pháp phát triển rừng trồng Thông nhựa

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

- Kế thừa tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở khu vực nghiên cứu

- Kế thừa tài liệu về rừng trồng Thông nhựa 5 năm gần nhất ở địa phương

2.4.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp a.Công tác chuẩn bị

- Chuẩn bị các dụng cụ điều tra: thước dây, địa bàn, thước kẹp kính, thước đo cao (Blume-leiss)

- Chuẩn bị các mẫu biểu điều tra, đo đếm b Điều tra sơ thám

Khóa luận tiến hành điều tra sơ thám toàn bộ khu vực nghiên cứu nhằm nắm bắt tình hình chung như ranh giới, địa chất thổ nhưỡng, khí hậu thủy văn, địa hình và sự sinh trưởng của thực vật Dựa trên kết quả này, nơi đại diện điển hình nhất sẽ được chọn để lập ô tiêu chuẩn Đối với mỗi vị trí (chân, sườn, đỉnh), sẽ thiết lập 3 ô tiêu chuẩn có kích thước 500m² (25x20m), với tổng cộng 9 ô tiêu chuẩn tại 3 vị trí khác nhau.

- xác định hướng phơi bằng địa bàn cầm tay

- Đo đường kính D 1.3 của cây bằng thước kẹp kính

- Đo chiều cao H vn bằng thước Blume leiss

- Đo đường kính tán Dt của cây bằng thước dây theo 2 chiều Đông Tây, Nam Bắc, rồi lấy giá trị trung bình

Đánh giá chất lượng rừng trồng dựa vào hình thái cây và mức độ sinh trưởng, phân loại tất cả các cây trong OTC thành các nhóm chất lượng trung bình, tốt và xấu.

+ Cây tốt (T): là những cây sinh trưởng tốt, thân thẳng, tán lá cân đối, cây không cong queo, sâu bệnh

+ Cây trung bình (TB): là những cây không bị lệch tán, không có hoặc ít bị khuyết tật

+ Cây xấu (X): là những cây cong queo, sâu bệnh, sinh trưởng kém

Số liệu thu được tổng hợp vào biểu 01:

Biểu 2.1 Biểu điều tra sinh trưởng tầng cây cao

Mật độ: Ngày điều tra: Độ dốc: Người điều tra:

Sau khi thu thập đầy đủ số liệu cần điều tra, tiến hành xử lý và tính toán dữ liệu trên máy tính bằng phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp.

Tính toán các trị số trung bình mẫu: D1.3 , Hvn , Hdc , Dt

(2.2) trong đó: n: dung lượng mẫu quan sát

Xmax: trị số quan sát của các chỉ tiêu Xmin: trị số quan sát của các chỉ tiêu

Từ đó lập biểu chỉnh lý các chỉ tiêu tính toán

Biểu 2.2 Biểu chỉnh lý các chỉ tiêu tính toán

Giá trị giữa tổ (xi)

Tần số (Fi) Fi*Xi Fi*Xi

* Tính các đặc trưng mẫu:

Kiểm tra sự thuần nhất của các chỉ tiêu sinh trưởng giữa các OTC với nhau:

Trong đó: X1, X2 là giá trị trung bình của mẫu 1 và mẫu 2

S 2 , S 2 là phương sai của mẫu 1 và mẫu 2 n 1 ,n 2 là dung lượng quan sát mẫu 1 và mẫu 2

Nếu giá trị tuyệt đối của U nhỏ hơn hoặc bằng 1,96, giả thuyết H0 được chấp nhận, cho thấy hai mẫu là thuần nhất Ngược lại, nếu giá trị tuyệt đối của U lớn hơn 1,96, giả thuyết H0 bị bác bỏ, điều này cho thấy hai mẫu không thuần nhất.

Kiểm tra chất lượng rừng ở 3 vị trí chân đồi, sườn giữa và sườn đỉnh bằng tiêu chuẩn Xn

* Phẩm chất của cây rừng:

* Xác định trữ lượng và dự tính trữ lượng của lâm phần

- Từ tập hợp các biểu thu thập từ các OTC ta tính trữ lượng lâm phần theo công thức:

M/ha= (m 3 ) (2.8) Đựa theo các công thức tính sau:

+ Tính tiết diện ngang (g/ha) Tiết diện ngang của từng cây theo công thức: g = (*D 2 ) (2.9) Sau đó tính tổng tiết diện ngang rồi suy ra của 1 ha

+ Thể tích thân cây riêng lẻ

Trong đó: g - tiết diện ngang trung bình

H - chiều cao trung bình f - Hình số độ thon cây (f=0,5)

- Vẽ sơ đồ biểu thị mối quan hệ tương quan giữa quá trình sinh trưởng và tăng trưởng trữ lượng lâm phần

- So sánh các mẫu về chất:

Biểu 2.3 So sánh các mẫu về chất

OTC Tốt Trung bình Xấu Tổng

Tổng số Tb1 Tb2 Tb3 TS Áp dụng công thức tính:

Trong đó: fij là tần số quan sát của mẫu I cấp chất lượng j

Tai là tổng số tần số quan sát mẫu thứ i

Tbj là tổng tần số quan sát thứ j

TS là tổng tần số quan sát của toàn thí nghiệm

So sánh χ²n: tính toán với χ²05 tra bảng bậc tự do K = (a-1).(b-1)

+ Nếu χ²n tính toán > χ²05 tra bảng thì kết luận có sự sai khác rõ rệt về chất lượng rừng giữa các đối tượng nghiên cứu

+ Nếu χ²n tính toán r, phương án có khả năng hoàn trả vốn và được chấp nhận

Nếu IRR < r, phương án không còn khả năng hoàn trả vốn nên không chấp nhận.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên

Huyện Trạm Tấu – tỉnh Yên Bái cách trung tâm tỉnh 114 km, có tọa độ địa lý từ 21 0 21 ’ -21 0 40 ’ độ vĩ Bắc, 104 0 17 ’ - 104 0 40 ’ độ kinh Đông;

- Phía Bắc và Đông tiếp giáp với huyện Văn Chấn

- Phía Nam giáp với huyện Phù Yên tỉnh Sơn La

- Phía Tây Nam giáp với huyện Bắc Yên tỉnh Sơn La

- Phía Tây giáp với huyện Mường La tỉnh Sơn La

- Phía Tây Bắc giáp với huyện Mù Căng Chải

Huyện Trạm Tấu bao gồm 12 đơn vị hành chính, trong đó có 1 thị trấn và 11 xã thuộc vùng cao đặc biệt khó khăn Dựa trên đặc điểm tự nhiên và kinh tế, huyện được chia thành 3 khu vực chính.

- Khu vực 1: Gồm 4 xã và thị trấn là Hát Lừu, Bản Mù, Bản Công, Xà Hồ và TT Trạm Tấu

- Khu vực 2: Gồm 4 xã là Pá Hu, Pá Lau, Túc Đán, Trạm Tấu

- Khu vực 3: Gồm 3 xã là Phình Hồ, Làng Nhì, Tà Si Láng

Với tổng diện tích tự nhiên của huyện là 74.333,60 ha chiếm 10,80% diện tích tự nhiên toàn tỉnh

Huyện Trạm Tấu nằm ở sườn Đông dãy Pu Luông thuộc hệ thống núi Hoàng Liên Sơn, với độ cao trung bình khoảng 1.300m so với mực nước biển Địa hình nơi đây có nhiều núi cao, trong đó đỉnh Pu Luông cao nhất đạt 2.985m, và thấp nhất là 390m, tạo thành các vòng cung lớn từ Bắc xuống Nam Địa hình cao dần từ Đông sang Tây với hệ thống núi trẻ, đỉnh nhọn và vách đứng, độ dốc lớn, chia huyện thành nhiều vùng nhỏ, gây khó khăn cho việc giao lưu giữa các khu vực Tuy nhiên, lợi thế chính của huyện là phát triển nghề rừng, nhờ vào điều kiện địa hình tạo ra hệ thống khe suối chảy theo hướng từ

Khu vực Tây sang Đông có độ dốc lớn, dẫn đến nguy cơ lũ quét trong mùa mưa và tình trạng thiếu nước trong mùa khô, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt và sản xuất của người dân địa phương.

Huyện Trạm Tấu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, về cơ bản khí hậu hình thành 2 mùa rõ rệt:

Mùa mưa diễn ra từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, trong thời gian này thường xảy ra lũ quét, lũ ống và sạt lở đất, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản.

Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau thường mang đến khí hậu khô hanh, rét đậm và rét hại, gây ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất và đời sống của người dân.

- Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 o C - 23 o C Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 7, trung bình khoảng 28 o C Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1, trung bình khoảng 13 o C

- Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.427mm, tập trung chủ yếu từ tháng

5 đến tháng 10 Tháng có lượng mưa trung bình cao nhất là tháng 8 với 275mm/ tháng, tháng có lượng mưa trung bình thấp nhất là tháng 12 với 15mm/ tháng

- Độ ẩm không khí bình quân năm khoảng 83%, cao nhất là 86,5% vào tháng 8 và thấp nhất là 77,7% vào tháng 3

- Số giờ nắng trung bình hàng năm là 1.271 giờ, tập trung chủ yếu từ tháng 4 đến tháng 9

Trạm Tấu, huyện vùng núi cao của tỉnh Yên Bái, ít chịu ảnh hưởng của bão nhưng thường xuyên phải đối mặt với sương muối, gió Lào và lốc xoáy, gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của người dân Khí hậu nơi đây khá khắc nghiệt, đặc biệt là số giờ nắng thấp, ảnh hưởng lớn đến việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới như tăng vụ, luân canh, gối vụ và đưa giống mới vào sản xuất.

Trạm Tấu không có hệ thống sông lớn, vì vậy chế độ thủy văn chủ yếu phụ thuộc vào các suối và ngòi Huyện có khoảng 30 con suối và ngòi chảy từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông, tạo thành một mạng lưới thủy hệ dày đặc xuyên qua các xã.

Hệ thống sông suối tại Trạm Tấu có đặc điểm ngắn và dốc, với dòng chảy phụ thuộc vào mùa Vào mùa mưa, tốc độ dòng chảy tăng mạnh, gây ra lũ lụt và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân hai bên bờ Ngược lại, mùa khô khiến mực nước hạ thấp, dẫn đến dòng chảy yếu và thường xuyên xảy ra tình trạng khô hạn.

3.1.4.1 Tài nguyên đất đai a) Hiện trạng tài nguyên đất:

Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng ban đầu, huyện Trạm Tấu có những loại đất chính sau:

Nhóm đất xám (Acrisols) hình thành từ các loại đá mẹ khác nhau hoặc từ mẫu chất nghèo dinh dưỡng trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm Đây là loại đất cát pha ít sạn thô, có hàm lượng dinh dưỡng thấp, khả năng thấm thoát nước và giữ nước trung bình Diện tích của nhóm đất này khoảng 51.000 ha, chiếm khoảng 69% tổng diện tích tự nhiên.

- Đất xám mùn đá sâu (Xu-d2): phân bố ở tất cả các xã trên địa bàn huyện

- Đất xám mùn điển hình (Xu-d2): phân bố tập trung chủ yếu ở các xã Bản Mù, Tà Si Láng, Phình Hồ, Pá Hu, Túc Đán

- Đất xám Feralit đá sâu (Xf-d2): phân bố tập trung chủ yếu ở các xã Tà Si Láng, Phình Hồ, Túc Đán

- Đất xám cơ giới nhẹ điển hình (Xa-h): phân bố tập trung chủ yếu ở xã Túc Đán

- Đất xám kết von đá sâu (Xfe-d2): phân bố tập trung chủ yếu ở xã Hát Lừu

Nhóm đất đỏ (Feralits) có diện tích khoảng 8.262 ha, chiếm khoảng 11% tổng diện tích tự nhiên Mặc dù nhóm đất này có dinh dưỡng khá, nhưng do độ dốc lớn, nó chủ yếu phù hợp với cây lâm nghiệp Một số khu vực có độ dốc dưới 25 độ có thể trồng các loại cây dài ngày như chè và cây ăn quả.

- Đất nâu đỏ điển hình (Fđ-h): phân bố tập trung chủ yếu ở các xã Hát Lừu, Trạm Tấu

- Đất nâu đỏ, đá sâu (Fđ-d2): phân bố tập trung chủ yếu ở các xã Pá Hu, Trạm Tấu, Bản Công

- Đất mùn vàng đỏ đá sâu (Fu-d2): phân bố tập trung chủ yếu ở xã Bản Công

- Đất mùn vàng đỏ điển hình (Fu-h): phân bố tập trung chủ yếu ở các xã Trạm Tấu, Pá Lau, Túc Đán

Nhóm đất mùn Alit núi cao (Alisols) có diện tích khoảng 15.000 ha, chiếm 20% tổng diện tích tự nhiên và phân bố ở độ cao trên 1.800m Mặc dù nhóm đất này có thành phần dinh dưỡng khá, nhưng do độ dốc lớn, chúng chỉ thích hợp cho cây lâm nghiệp.

- Đất mùn Alit núi cao điển hình giàu mùn (Ah-u): phân bố tập trung chủ yếu ở các xã Xà Hồ, Trạm Tấu, Pá Lau, Túc Đán

- Đất mùn Alit núi cao điển hình đá sâu (Ah-d2): phân bố tập trung chủ yếu ở các xã Xà Hồ, Bản Mù, Bản Công, Tà Xi Láng, Túc Đán

Nhóm đất phù sa (Fluvisols) chiếm khoảng 0,01% diện tích tự nhiên với diện tích khoảng 10ha, được hình thành từ quá trình bào mòn và rửa trôi trên thượng nguồn, lắng tụ ở hạ lưu các con suối Đất phù sa có thành phần cơ giới nhẹ, độ dày tầng đất lớn hơn 100 cm, dung tích hấp thụ thấp và thường có tính chua Mặc dù vậy, nhóm đất này vẫn đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông, lâm nghiệp.

Đất đai huyện Trạm Tấu có hàm lượng dinh dưỡng thấp, vì vậy việc cải tạo và sử dụng đất cần được đầu tư nhiều công sức và thời gian.

Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện năm 2012 là 74.333,60 ha (tăng 0,57 ha so với năm 2005) Trong đó:

- Đất nông nghiệp là 63.078,77 ha, chiếm 84,86% diện tích toàn huyện

- Đất phi nông nghiệp là 1.524,37 ha, chiếm 2,05% diện tích toàn huyện

Đất chưa sử dụng tại huyện có tổng diện tích 9.730,46 ha, chiếm 13,09% tổng diện tích Trong số đó, đất đồi núi chiếm 9.319,06 ha, tương đương 95,77% diện tích đất chưa sử dụng, tạo ra tiềm năng lớn cho phát triển sản xuất lâm nghiệp.

Theo thống kê đất đai năm 2012, huyện Trạm Tấu có tổng diện tích đất lâm nghiệp lên tới 56.448,38 ha, chiếm 75,94% tổng diện tích tự nhiên Trong đó, diện tích rừng sản xuất là 7.344,91 ha và rừng phòng hộ là 49.103,47 ha Rừng chủ yếu tập trung tại các xã như Xà Hồ, Túc Đán, Bản Công, Tà Si Láng, Bản Mù và Làng Nhì.

Đặc điểm kinh tế - xã hội

Tính đến năm 2013, huyện Trạm Tấu có dân số đạt 29.281 người với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 2,2%, tăng nhẹ so với 2,1% của năm 2010 Mặc dù dân số tăng, chất lượng dân số vẫn thấp, với tỷ lệ hộ nghèo cao lên đến 66,07%, trong đó một số xã như Xà Hồ có tỷ lệ hộ nghèo trên 80%.

Pá Lau, Túc Đán, Làng Nhì, Tà Si Láng

Huyện Trạm Tấu là nơi sinh sống của 11 dân tộc, trong đó dân tộc Mông chiếm hơn 77%, dân tộc Thái khoảng 16%, và dân tộc Kinh gần 7% Sự đa dạng này tạo nên một nền văn hóa phong phú với nhiều truyền thống và bản sắc độc đáo, thể hiện những giá trị nhân văn sâu sắc.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Đánh giá một số chỉ tiêu sinh trưởng của rừng trồng Thông nhựa

4.1.1 Sinh trưởng về đường kính ngang ngực (D 1.3 ) Đường kính D 1.3 là một trong những nhân tố quan trọng để đánh giá sự sinh trưởng của cây rừng, là cơ sở để thuyết minh sức sinh trưởng và phát triển của cây rừng nhanh hay chậm, đồng thời nó là nhân tố quan trọng trong điều tra rừng, là chỉ tiêu để đánh giá trữ lượng, sản lượng, lượng tăng trưởng của lâm phần Đặc biệt là tham gia vào dự đoán sinh trưởng của cây rừng trong tương lai, từ đó áp dụng các biện pháp kĩ thuật lâm sinh vào nhằm nâng cao hiệu quả và năng suất của rừng

Kết quả về các chỉ tiêu sinh trưởng của ba ô tiêu chuẩn tại cùng một vị trí cho thấy không có sự khác biệt lớn Để kiểm tra sự thuần nhất của ba OTC ở vị trí này, chúng tôi đã sử dụng tiêu chuẩn U của phân bố tiêu chuẩn, nhằm gộp mẫu lại và tăng tính đại diện cho mỗi khu vực nghiên cứu Kết quả chi tiết được trình bày trong bảng 4.1.

Bảng 4.1 Kiểm tra tính thuần nhất về đường kính ngang ngực D 1.3

Biểu đồ 4.1 Sinh trưởng D 1.3 (cm) của cây Thông nhựa

Qua bảng 4.1 và biểu đồ 4.1cho thấy :

Đường kính D1.3 của Thông nhựa trồng thuần loài dao động từ 17,85 cm đến 19,17 cm, với hệ số biến động (S%) từ 13,68% đến 21,54% ở các OTC Sự dao động này không lớn ở ba vị trí chân, sườn và đỉnh đồi, cho thấy Thông nhựa 13 tuổi đã đạt giai đoạn phát triển ổn định và có khả năng cho sản lượng hàng năm.

Kết quả kiểm tra sai dị giữa các OTC theo tiêu chuẩn U của phân bố chuẩn cho thấy tất cả các giá trị ǀUǀ tính toán đều nhỏ hơn 1,96, cho phép gộp 3 OTC ở cùng vị trí để so sánh các chỉ tiêu sinh trưởng, như được trình bày trong bảng 4.2.

Bảng 4.2 So sánh sinh trưởng đường kính D 1.3 ở 3 vị trí

Từ bảng kết quả 4.2 cho thấy:

Kết quả phân tích cho thấy giá trị U của các vị trí nhỏ hơn 1.96, do đó giả thuyết Ho được chấp nhận Điều này chỉ ra rằng sự sinh trưởng về đường kính của Thông nhựa ở ba dạng địa hình trong khu vực nghiên cứu không có sự khác biệt đáng kể.

4.1.2 Sinh trưởng chiều cao (H vn ) của rừng trồng Thông nhựa

Chiều cao vút ngọn (Hvn) là chỉ tiêu quan trọng đánh giá sinh trưởng của cây rừng theo chiều thẳng đứng, cùng với D1.3, Hvn là yếu tố cơ bản trong điều tra rừng và xác định trữ lượng rừng Nhiều nghiên cứu đã sử dụng chiều cao làm tiêu chí để phân loại đất, vì nó không chỉ phản ánh sự thích nghi của loài với điều kiện lập địa mà còn ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm thu được Trong giai đoạn rừng non, sự tăng trưởng chiều cao diễn ra mạnh mẽ hơn so với đường kính, cho thấy mức độ sinh trưởng chính xác của cây rừng Kết quả tính toán giá trị trung bình và các đặc trưng mẫu của các ÔTC được thể hiện trong bảng 4.3.

Bảng 4.3 Kiểm tra tính thuần nhất về chiều cao (H vn )

Biểu đồ 4.2 Sinh trưởng H VN (m) của cây Thông nhựa

Qua bảng 4.3 và biểu đồ 4.2 cho thấy :

Sinh trưởng của chiều cao Hvn của Thông nhựa trồng thuần loài ở mật độ

1200 cây/ha biến động từ 11.36 m đến 12.05 cm Hệ số biến động (S%) về chiều cao ở các OTC dao động từ 12.06% đến 15.79 %

Kết quả kiểm tra sai dị giữa các OTC có mật độ tương đương theo tiêu chuẩn U của phân bố chuẩn cho thấy tất cả các giá trị |U| tính toán đều nhỏ hơn 1,96, điều này chứng tỏ rằng sự sinh trưởng của Thông nhựa ở cùng mật độ không có sự khác biệt về chiều cao.

Bảng 4.4 So sánh sinh trưởng chiều cao H vn ở 3 vị trí

Vị trí N (cây/OTC) Mật độ

Từ bảng kết quả 4.4 cho thấy:

Kết quả phân tích cho thấy giá trị U ở các vị trí nhỏ hơn 1.96, do đó giả thuyết H o được chấp nhận Điều này chỉ ra rằng sinh trưởng chiều cao của Thông nhựa ở ba dạng địa hình trong khu vực nghiên cứu không có sự khác biệt đáng kể.

4.1.3 Sinh trưởng đường kính tán (Dt) của rừng trồng Thông nhựa

Kết quả tính toán sinh trưởng đường kính tán của rừng trồng Thông nhựa được trình bày tại bảng 4.5:

Bảng 4.5.Sinh trưởng đường kính tán (D t ) của Thông nhựa

Biểu đồ 4.3 Sinh trưởng Dt(m) của cây Thông nhựa

Đánh giá chất lượng, trữ lượng rừng trồng Thông nhựa

Sinh trưởng của đường kính tán (Dt) của Thông nhựa trồng thuần loài ở mật độ 1200 cây/ha dao động trong khoảng từ 2.46 m đến 2.6 cm Hệ số biến động (S%) về đường kính tán ở các OTC ghi nhận từ 9.43% đến 14.30%.

Kết quả kiểm tra sai dị giữa các OTC với mật độ đồng nhất theo tiêu chuẩn U cho thấy hầu hết các giá trị |U| đều nhỏ hơn 1,96, điều này chứng minh rằng sự sinh trưởng của Thông nhựa trong cùng mật độ không có sự khác biệt về đường kính tán.

Bảng 4.6 So sánh sinh trưởng đường kính tánD t ở 3 vị trí

Từ bảng kết quả 4.6 cho thấy:

Kết quả phân tích cho thấy giá trị U ở tất cả các vị trí đều nhỏ hơn 1.96, do đó giả thuyết Ho được chấp nhận Điều này cho thấy rằng sự sinh trưởng chiều cao của Thông nhựa ở ba dạng địa hình trong khu vực nghiên cứu không có sự khác biệt đáng kể.

4.2 Đánh giá chất lƣợng, trữ lƣợng rừng trồng Thông nhựa

4.2.1 Chất lượng rừng trồng Thông nhựa

Cây rừng đóng vai trò chủ yếu trong rừng trồng, và sự phân hóa của chúng là hiện tượng tự nhiên phổ biến Phẩm chất cây rừng phản ánh sinh trưởng của chúng, là yếu tố quan trọng trong sản xuất lâm nghiệp Để quản lý và kinh doanh rừng hiệu quả, người ta thường dựa vào mức độ phân hóa của cây rừng để phân cấp chúng.

Quá trình phân cấp cây rừng giúp hiểu rõ sự biến đổi về kết cấu trong các giai đoạn tuổi khác nhau, từ đó điều chỉnh để tối ưu hóa sản lượng và môi trường lâm phần Trong quần thể rừng thuần loài, hiện tượng phân hoá xảy ra khi một số cá thể phát triển mạnh mẽ và có kích thước lớn, trong khi những cá thể yếu hơn lại nhỏ hơn Nguyên nhân của sự phân hoá này bao gồm di truyền, biến dị cá thể, tương tác giữa các cá thể và điều kiện môi trường Khi tuổi lâm phần tăng, nhu cầu về không gian dinh dưỡng cũng lớn hơn, dẫn đến sự cạnh tranh dinh dưỡng ngày càng gay gắt Cuối cùng, những cá thể yếu kém sẽ bị chèn ép và không thể tồn tại trong lâm phần.

Kết quả được tổng hợp ở bảng sau:

Bảng 4.7 Chất lƣợng cây rừng Thông nhựa ở tuổi 13 trên các dạng địa hình

STT OTC Tốt Tỷ lệ

Tỷ lệ (%) Xấu Tỷ lệ

Tỷ lệ cây có phẩm chất tốt dao động từ 21.88% đến 40%, tương ứng với 175 cây Số lượng cây có phẩm chất trung bình là 221 cây, chiếm từ 34.48% đến 50% Trong khi đó, cây có phẩm chất xấu chỉ chiếm từ 12.73% đến 36.21%, với tổng số 134 cây, cho thấy tỷ lệ này khá thấp.

Tỉ lệ cây rừng có phẩm chất tốt trong 9 OTC đạt 33.02%, trong khi cây có phẩm chất trung bình chiếm 41.70%, cho thấy tình trạng sinh trưởng của lâm phần ở mức trung bình Tỉ lệ cây có phẩm chất xấu chỉ đạt 25.28%, điều này cho thấy phẩm chất cây rừng tại khu vực nghiên cứu chủ yếu đạt loại trung bình.

4.2.2 Trữ lượng rừng trồng Thông nhựa

Trữ lượng là chỉ tiêu tổng hợp quan trọng trong điều tra rừng, giúp xác định mức độ sinh trưởng và phát triển của cây trồng Nhờ vào trữ lượng, chúng ta có thể áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp để nâng cao sản lượng và chất lượng gỗ Hơn nữa, trữ lượng cũng đóng vai trò quan trọng trong thiết kế khai thác, nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường sinh thái Kết quả tính trữ lượng rừng Thông nhựa tuổi.

13 được tổng hợp vào bảng sau:

Bảng 4.8 Trữ lƣợng rừng trồng Thông nhựa tại khu vực nghiên cứu

STT OTC N (cây/OTC) Mật độ

Từ kết quả bảng 4.8 cho thấy:

Trữ lượng của lâm phần thay đổi theo vị trí, cụ thể là tăng dần từ chân đồi lên sừng đồi và đạt mức cao nhất ở đỉnh đồi Sự biến đổi này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm sinh trưởng của loài thông nhựa.

Đánh giá hiệu quả kinh tế rừng trồng Thông nhựa

Để đánh giá hiệu quả của một dự án lâm nghiệp, cần xem xét nhiều mặt lợi ích về môi trường, kinh tế và xã hội Bên cạnh các tác dụng tích cực của khu rừng, hiệu quả kinh tế là yếu tố quan trọng giúp phát triển bền vững Khóa luận này tập trung vào việc đánh giá hiệu quả kinh tế cho 1 ha rừng trồng.

Tại tuổi 13, rừng trồng Thông nhựa chưa được khai thác nhựa, do đó khóa luận tập trung vào hiệu quả kinh tế từ việc khai thác gỗ Trữ lượng rừng trung bình hiện tại đạt 182,98 m³/ha, với đơn giá gỗ Thông nhựa là 1.600.000 đồng/m³ Dựa trên định mức kinh tế kỹ thuật và điều kiện địa phương, chi phí và lợi nhuận cho 1 ha rừng trồng Thông nhựa tuổi 13 đã được tính toán cụ thể.

Bảng 4.9 Chi phí lợi nhuận cho 1ha rừng trồng Thông nhựa Đơn vị: VNĐ

Năm Trồng rừng Chăm sóc Bảo vệ Khai thác Chi phí Doanh thu Lợi nhuận

(chi tiết xem tại phụ biểu)

Hệ số chiết khấu được sử dụng là tỷ lệ lãi suất thực tế, hiện tại lãi suất vay vốn kinh doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) là 7%/năm Kết quả tính toán các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của cây Thông nhựa được trình bày trong bảng dưới đây.

Bảng 4.10 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế cho 1 ha rừng trồng Thông nhựa Đơn vị: đồng

Năm Ct Bt r (1+r)^t Bt-Ct Bt-Ct/(1+r)^t Ct/(1+r)^t Bt/(1+r)^t (Bt/(1+r)^t )/(Ct/(1+r)^t)

Từ kết quả tính toán trên cho thấy:

Chỉ tiêu thu nhập/chi phí (BCR) là thước đo chất lượng vốn đầu tư, thể hiện hệ số sinh lãi thực tế Chỉ số này cho biết mỗi đồng đầu tư vào sản xuất kinh doanh sẽ mang lại bao nhiêu đồng khi kết thúc hoạt động đầu tư Cụ thể, ở tuổi 13, đầu tư hiệu quả trồng rừng đạt BCR = 1,86, tức là mỗi đồng chi phí sẽ thu về 1,86 đồng thu nhập Giá trị NPV tương ứng là 56.254.868,19 đồng, minh chứng cho hiệu quả của khoản đầu tư này.

Tỷ lệ thu hồi nội bộ (IRR) là chỉ tiêu quan trọng thể hiện lãi suất tiền vay tối đa để đầu tư mà vẫn đảm bảo không bị lỗ Tại lâm phần Thông nhựa tuổi 13, IRR đạt 11%, cao hơn 7%, cho thấy phương án kinh doanh có khả năng hoàn trả vốn và nên được chấp nhận Điều này chỉ ra rằng việc khai thác Thông nhựa ở tuổi 13 nhằm mục đích lấy gỗ có thể mang lại lợi nhuận Tuy nhiên, giá trị IRR tương đối thấp, gần bằng lãi vay, cho thấy hiệu quả kinh tế không cao.

Phương án này đã mang lại hiệu quả kinh tế, nhưng chất lượng đầu tư vẫn cần cải thiện Cần tiếp tục nuôi dưỡng lâm phần thông nhựa để thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển, từ đó gia tăng sản lượng gỗ và nhựa thu được Đồng thời, cần có kế hoạch mở rộng sản xuất và áp dụng mô hình kinh doanh bền vững.

Đề xuất một số biện pháp phát triển rừng Thông nhựa

Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Trạm Tấu có nhiệm vụ chính là trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng Mục tiêu của đơn vị là phủ xanh đất trống và đồi núi trọc, đồng thời khai thác lợi ích từ nhựa Trong bối cảnh này, rừng trồng Thông nhựa trở thành một trong những loài cây ưu tiên phát triển để đáp ứng nhu cầu bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế.

Với mục tiêu nâng cao sản lượng và năng suất rừng trồng tại khu vực nghiên cứu tác giả đề xuất các giải pháp sau:

Rừng thông nhựa 13 tuổi tại đây đang sinh trưởng tốt, nhưng đã xuất hiện sự cạnh tranh về không gian dinh dưỡng Do đó, các biện pháp cần thiết trong thời gian tới bao gồm chặt nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo vệ rừng.

Khu vực nghiên cứu đã xảy ra sự cạnh tranh về không gian dinh dưỡng giữa các cây thông nhựa, dẫn đến việc cần thiết phải chặt bỏ một số cây xấu để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của những cây khỏe mạnh hơn.

Trong giai đoạn này, Thông nhựa thường bị tấn công bởi nhiều loại sâu bệnh như sâu ăn lá, sâu đục nõn và bệnh rơm lá, vì vậy việc phát hiện sớm và áp dụng biện pháp phòng trừ kịp thời là rất quan trọng Đối với Thông nhựa 13 tuổi tại khu vực nghiên cứu, công tác phòng cháy chữa cháy rừng trở nên cần thiết, đặc biệt là trong mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4.

3 năm sau Vào mùa khô nên tăng cường công tác tuần tra, làm đường ranh cản lửa và chữa cháy kịp thời khi có cháy xảy ra

Nên nghiên cứu và phổ biến mô hình nông lâm kết hợp (NLKH) để cải thiện đời sống người dân làm nghề rừng Mô hình NLKH giúp người dân chăm sóc cây nông nghiệp, đồng thời nâng cao việc chăm sóc và bảo vệ cây rừng.

Ngày đăng: 23/06/2021, 16:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bách và các cộng tác viên, Nghiên cứu đánh giá sản lượng nhựa và chất lượng của loài Thông nhựa (pinus merkusii, E.N.G, cooling et H.Gaussen) trên những cấp đất khác nhau ở tỉnh Quảng Trị và Nghệ An để góp phần kinh doanh rừng trồng Thông một cách hợp lý và hiệu quả, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, tháng 1 năm 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá sản lượng nhựa và chất lượng của loài Thông nhựa (pinus merkusii, E.N.G, cooling et H.Gaussen) trên những cấp đất khác nhau ở tỉnh Quảng Trị và Nghệ An để góp phần kinh doanh rừng trồng Thông một cách hợp lý và hiệu quả
2. Trần Cừu 1996, “ Kết quả bước đầu trong việc trồng thử nghiệm một số loài cây bản địa ở Quảng Ngãi”, tạp chí Lân nghiệp, trang 9-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu trong việc trồng thử nghiệm một số loài cây bản địa ở Quảng Ngãi
3. Phạm Ngọc Giao 1995, Mô phỏng động thái một số quy luật kết cấu lâm phần và ứng dụng của chứng trong điều tra kinh doanh rừng trồng Thông đuôi ngựa (pinus massoniana Lamb.) ở khu vực Đông Bắc Việt Nam, luận án tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp, trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô phỏng động thái một số quy luật kết cấu lâm phần và ứng dụng của chứng trong điều tra kinh doanh rừng trồng Thông đuôi ngựa (pinus massoniana Lamb.) ở khu vực Đông Bắc Việt Nam
5. Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng 1998, Giáo trình cải thiện giống cây rừng, trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cải thiện giống cây rừng
6. Nguyễn Xuân Quát 1986, Thông nhựa (pinus merkusii, E.N.G, cooling et H.Gaussen) ở Việt Nam yêu cầu chất lượng cây con và hỗn hợp ruột bầu ươm cây để trồng rừng, luận án phó tiến sĩ Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông nhựa (pinus merkusii, E.N.G, cooling et H.Gaussen) ở Việt Nam yêu cầu chất lượng cây con và hỗn hợp ruột bầu ươm cây để trồng rừng
7. Nguyễn Xuân Thông, Nên trồng rừng Thông nhựa (pinus merkusii, E.N.G, cooling et H.Gaussen) trên vừng đất gò đồi tỉnh Quảng Trị, tạp chí Lâm nghiệp số 8/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nên trồng rừng Thông nhựa (pinus merkusii, E.N.G, cooling et H.Gaussen) trên vừng đất gò đồi tỉnh Quảng Trị
8. Đỗ Doãn Triệu 1997, Đánh giá các dự án đầu tư trong trồng rừng trong cơ chế thị trường, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, trang 11-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá các dự án đầu tư trong trồng rừng trong cơ chế thị trường

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w