TỔNG QUAN RỪNG NGẬP MẶN
Trên thế giới
1.1.1 Đặc điểm phân bố của rừng ngập mặn:
Rừng ngập mặn trên thế giới có diện tích khoảng 18.107.700 ha, phân bố chủ yếu ở các vùng biển ấm Vị trí xa nhất của rừng ngập mặn ở Bắc bán cầu là vịnh Agaba thuộc Hồng Hải và Nam Nhật Bản, trong khi ở Nam bán cầu, rừng ngập mặn xuất hiện tại Australia, đảo Chathan và phía Tây New Zealand.
Rừ ng ngâ ̣p mă ̣n phân bố chủ yếu ở vùng có khí hâ ̣u ẩm và mưa nhiều
Mặc dù có thể tồn ta ̣i ở những vùng nhiê ̣t đô ̣ tháng la ̣nh nhất xuống đến 10 0
C Song thuận lơ ̣i nhất cho phát triển rừng ngâ ̣p mă ̣n vẫn là vùng nhiệt đô ̣ trung bình 20 0 C trở lên và lượng mưa trên 1.000mm/năm (Larsson J., Folke
Trên toàn cầu, diện tích rừng ngập mặn ước tính khoảng 17 triệu ha, phân bố tại 117 quốc gia Khu vực châu Á có khoảng 8,4 triệu ha rừng ngập mặn, chiếm 46% tổng diện tích thế giới Đặc biệt, bảy nước Đông Nam Á đóng góp tới 36% tổng diện tích rừng ngập mặn toàn cầu (Mark Spalding và cộng sự, 1997).
1.1.2 Diễn biến diện tích của rừng ngập mặn:
Áp lực dân số cao tại các vùng ven biển đã dẫn đến việc chuyển đổi các khu rừng ngập mặn sang nhiều mục đích sử dụng khác nhau, như xây dựng cơ sở hạ tầng, nuôi trồng thủy sản, sản xuất gạo và muối Diện tích rừng ngập mặn toàn cầu được ước tính khoảng 15,6 triệu ha vào năm 1980 và gần đây đã tăng lên khoảng 17 triệu ha vào năm 2000 Sự thay đổi này được thể hiện rõ trong Bảng 1.1, cho thấy sự biến động diện tích rừng ngập mặn từ năm 1980 đến năm 2000.
Bảng 1.1 Ước tính rừng ngập mặn trên thế giới
Năm Số quốc gia Tông số
(Nguồn: FAO-UNEP, 1981a,b,c, Sanger và cộng sự, 1983, FAO, 1994, Groombridge, 1992, ITTO/ISME, 1993, Fisher and Spalding, 1993, Spalding và cộng sự, 1997, Aizpuru và cộng sự, 2000) 1.1.3 Thực trạng trồng rừng ngập mặn:
Nhiều tổ chức quốc tế như UNDP, UNEP và FAO đã tham gia vào việc trồng và phục hồi rừng ngập mặn, cung cấp tài chính cho các tổ chức chuyên môn để nghiên cứu quản lý rừng Chính phủ nhiều nước đã ban hành chính sách khuyến khích trồng lại rừng ngập mặn Tại Thái Lan, Đước đôi và Đưng được ưu tiên trồng vì chất lượng gỗ tốt và nhiệt lượng cao, với tỷ lệ sống trên 80% cho Đước đôi và 94% cho Đưng Từ năm 1987 đến 1992, Malaysia đã trồng 4.300 ha rừng ngập mặn, chủ yếu là Đước đôi và Đưng.
Inđônêxia trồng bốn loài cây chính gồm Đước đôi (Rhizophora apiculata Griff), Đước vòi, Đưng và Vẹt dù bông đỏ (Bruguiera gymnorhizan (L.) Lamk), trong đó Vẹt dù bông đỏ được trồng từ cây con có bầu 3-4 tháng tuổi với 3-4 lá Đước đôi, Đước vòi và Đưng được trồng trực tiếp bằng trụ mầm (Soemodihardjo và cộng sự, 1996) Tại Ấn Độ, năm loài cây chính được tập trung trồng là Mấm lưỡi đồng (Avicennia officinalis L.), Mấm biển, Đước đôi, Đưng và Bần chua (Sonneratia caseolaris).
Phương pháp trồng Đước đôi, Đưng và Mấm biển có thể thực hiện bằng cách trồng trực tiếp từ trụ mầm hoặc cây con trong túi bầu kích thước 4cm x 10cm Đối với các loài này, mật độ trồng được khuyến nghị là 1,5m x 1,5m (G.A Untawale, 1996).
Pakistan trồng bốn loài cây ngập mặn: Mấm biển, Sú, Đưng, Dà (Ceriop tagal (Perr) C.B Robinson) bằng hai phương pháp là cây có bầu và trồng trực tiếp Tại Bănglađét, các loài Vẹt dù (Bruguiera sexangula (Lour.) Poir) được trồng bằng cây con trong túi bầu và trồng trực tiếp (N.A Siddiqi 1996) Ở Colombia, loài Đước đỏ được gieo ươm với mật độ 25 trụ mầm/m2, sau đó chọn các cây con có chiều cao từ 0,25m đến 0,5m để trồng với mật độ 9 cây/m2 (C Bohorquerz, 1996).
Nghiên cứu về rừng ngập mặn đã xác định được sự phân bố và đặc điểm sinh thái của các loại thực vật trong hệ sinh thái này, với rừng ngập mặn chủ yếu tập trung ở vùng cửa sông, ven biển và các khu vực nước lợ, nước mặn, chịu ảnh hưởng của thuỷ triều Hiện tại, hệ thực vật rừng ngập mặn đã phát triển 100 loài, trong đó một số loài có sự phân bố hạn chế, trong khi nhiều loài khác lại xuất hiện ở nhiều vùng sinh thái khác nhau (Tomlinson, 1986; Mark Spalding và cộng sự 1997; Rao 1987).
Châu Á là khu vực có sự đa dạng loài cây ngập mặn lớn nhất, với khoảng 70 loài, tiếp theo là châu Phi với khoảng 30 loài, và châu Mỹ cùng vùng Caribean với khoảng 11 loài Các loài cây ngập mặn phổ biến bao gồm những loài thuộc chi Đước (Rhizophora), Vẹt (Bruguiera) và Trang (Kandelia).
Francois Blasco (1983) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phân bố và sinh trưởng của cây ngập mặn, cho rằng ở vùng xích đạo hoặc gần xích đạo, với nhiệt độ không khí trung bình năm từ 26 – 27°C, không có tháng nào mà nhiệt độ nước biển ven bờ dưới 20°C, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của rừng ngập mặn Ngược lại, nếu trong năm có nhiều tháng nhiệt độ nước biển dưới 16°C, rừng ngập mặn sẽ không xuất hiện.
Theo UNESCO (1979) và FAO (1982), hệ sinh thái rừng ngập mặn ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương đang bị đe dọa nghiêm trọng do khai thác tài nguyên không hợp lý, dẫn đến biến đổi tiêu cực về môi trường đất và nước Các tổ chức này khuyến cáo các quốc gia có rừng ngập mặn cần áp dụng biện pháp hiệu quả để khắc phục tình trạng này, bao gồm xây dựng hệ thống chính sách và văn bản pháp luật về quản lý đất và rừng ngập mặn, cũng như nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng, khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ, kết hợp với mô hình lâm ngư.
Ở Việt Nam
1.2.1 Thực trạng và phân bố của rừng ngập mặn:
Theo Phan Nguyên Hồng (1991,1993) rừng ngập mặn Việt Nam được phân chia theo 4 vùng chính và một số tiểu vùng như sau:
Vùng I: Ven biển Đồng Bắc, từ Mũi Ngọc đến Đồ Sơn Trong đó có 3 tiểu vùng phân bố rừng ngập mặn:
Tiểu vùng 1: Từ Móng Cái đến Cửa Ông
Tiểu vùng 2: Từ Cửa Ông đến Cửa Lục
Tiểu vùng 3: Từ Cửa Lục đến Đồ Sơn
Vùng II: Ven biển Đồng bằng sông Hồng, từ Đồ Sơn đến cửa Lạch Trường – Thanh Hoá, vùng này được chia thành 2 tiểu vùng:
Tiểu vùng 1: Từ Đồ Sơn đến sông Văn úc
Tiểu vùng 2: Từ cửa sông Văn úc đến cửa Lạch Trường
Vùng III: ven biển Trung Bộ, từ Lạch Trường đến Vũn tàu, vùng này được chia làm 3 tiểu vùng
Tiểu vùng 1: Từ Lạch Trường đến mũi Ròn
Tiểu vùng 2: Từ mũi Ròn đến Đèo Hải Vân
Tiểu vùng 3: Từ Đèo Hải Vân đến Vũng Tàu
Vùng IV: Ven biển Nam Bộ, từ Vũng Tàu đến mũi Nài, vùng này được chia làm 4 tiểu vùng:
Tiểu vùng 1: Từ Vũng Tàu đến cửa sông Soài Rạp (ven biển Đông Nam Bộ)
Tiểu vùng 2: Từ cửa sông Soài Rạp đến cửa sông Mỹ Thạnh (ven biển Đồng bằng sông Cửu Long)
Tiểu vùng 3: Từ cửa sông Mỹ Thạnh đến cửa sông Bảy Háp (tây nam bán đảo Cà Mau)
Tiểu vùng 4: Từ cửa sông Bảy Háp đến Mũi Nài ( Hà Tiên)
Viện Khoa học Việt Nam và Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã tiến hành thống kê diện tích các loại rừng trên toàn quốc.
Việt Nam có 6 vùng phân bố rừng ngập mặn quan trọng, bao gồm: (I) Đông Bắc, (II) Đồng bằng sông Hồng, (III) Bắc Trung Bộ, (IV) Nam Trung Bộ, (V) Đông Nam Bộ và TP Hồ Chí Minh, (VI) Đồng bằng sông Cửu Long Những vùng này cần được đánh giá và điều tra tài nguyên rừng một cách phù hợp để bảo tồn và phát triển bền vững.
Số liệu thống kê diện tích rừng và đất RNM toàn quốc theo các vùng sinh thái năm 2008 được trình bày ở bảng 2.1
Bảng 1.2: Diện tích rừng và đất RNM toàn quốc theo các vùng sinh thái năm 2008
TT Vùng ven biển Tổng
Diện tích có RNM (ha) Chưa có
1 Quảng Ninh và đồng bằng Bắc Bộ 88.340 37.651 19.745 17.905 50.689
4 Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh 61.110 41.666 14.898 26.768 19.444
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2008 )
Tổng diện tích đất ngập mặn được ghi nhận là 323.712 ha, trong đó diện tích có rừng đạt 209.741 ha, chiếm 64,8%, còn diện tích không có rừng là 113.972 ha, chiếm 35,2%.
RNM chủ yếu tập trung tại Đồng Bằng Sông Cửu Long với diện tích 128.537 ha, chiếm 61,28% Khu vực Đông Nam Bộ và TP Hồ Chí Minh có diện tích 41.666 ha, chiếm 19,86% Trong khi đó, vùng Quảng Ninh và đồng bằng Bắc Bộ chiếm 17,9% với diện tích 37.651 ha.
Việt Nam sở hữu 3.200 km đường bờ biển, nhưng các hệ sinh thái ven biển đang chịu ảnh hưởng nặng nề từ biến đổi khí hậu Xói mòn bờ biển gia tăng không chỉ gây thiệt hại cho hệ thống đê và cơ sở hạ tầng ven biển, mà còn làm gia tăng sự xâm nhập mặn vào các khu vực nông nghiệp và dân cư.
Rừng ngập mặn giữ vai trò thiết yếu trong việc bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và tạo ra nguồn thu nhập Chúng hoạt động như một hàng rào tự nhiên chống lại sự xâm nhập của nước biển và tác động của mực nước biển dâng, đồng thời cung cấp hệ sinh thái quan trọng cho sự sinh sản của cá, cua và các sản phẩm từ biển cũng như cửa sông.
1.2.2 Diễn biến diện tích rừng ngập mặn tại khu vực Cà Mau:
Từ thế kỷ 20, Cà Mau, nơi có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất Việt Nam, chủ yếu khai thác rừng ngập mặn theo chu kỳ 25-30 năm với sản phẩm chính là gỗ xây dựng, than Đước, Vẹt, ta nanh và củi Trong giai đoạn chiến tranh hóa học (1962-1969), hơn 150.000 ha rừng ngập mặn ở Nam bộ đã bị tàn phá Đến những năm 80, sự phát triển mạnh mẽ của ngành nuôi tôm xuất khẩu đã dẫn đến việc chuyển đổi rừng ngập mặn thành các đầm tôm, mặc dù theo tiêu chí của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tỷ lệ giữa diện tích nuôi tôm và rừng phải là 30% tôm và 70% rừng, nhưng thực tế không được đảm bảo Nghiên cứu của Nguyễn Tác An và Phan Minh Thu (2005) dựa trên ảnh vệ tinh Spot và GIS đã so sánh diện tích rừng ngập mặn giữa Cà Mau và Trà Vinh.
1965 và 2001 như sau (Bảng 2, hình 1)
Gần đây, diện tích rừng ngập mặn tại Cà Mau và các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long đã gia tăng nhờ vào mô hình lâm-ngư kết hợp và các dự án trồng rừng phòng hộ ven biển được Tổ chức Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ, với tổng diện tích đạt 3.698 ha.
2000 – 2006 nhưng chất lượng rừng chưa cao; tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng để nuôi tôm vẫn còn xảy ra ở một số địa phương
Bảng 1.3: Diện tích rừng ngập mặn và các đầm tôm ở Cà Mau và Trà Vinh qua các thời điểm
Tỉnh Năm Diện tích rừng
Diện tích nuôi tôm nước lợ (ha)
Hình 1.1: Hiện trạng rừng ngập mặn ở huyện Ngọc Hiển – tỉnh Cà Mau năm 1965 (A) và 2001 (B)
Sau gần 40 năm, tỉnh Cà Mau đã mất 52.043 ha rừng, tương đương khoảng 57,6% diện tích, chủ yếu do chuyển đổi sang nuôi tôm Trong mô hình lâm ngư kết hợp, diện tích rừng ngập mặn chiếm khoảng 60-70% tổng diện tích.
1.2.3 Các nghiên cứu về rừng ngập mặn nói chung và khu vực nghiên cứu nói riêng:
1.2.3.1 Nghiên cứu về phân loại, phân bố:
Trong nghiên cứu đầu tiên về rừng ngập mặn tại Việt Nam, Vũ Văn Cương (1964) đã phân loại thực vật rừng Sát ở khu vực Sài Gòn – Vũng Tàu thành hai nhóm chính: thực vật nước mặn và thực vật nước lợ Các loài thực vật như Đưng phân bố ven sông Soài Rạp, Đông Tranh và một số cửa sông nhỏ, trong khi Cóc trắng xuất hiện rải rác ở những vùng đất cao, và Vẹt đen thường gặp ở khu vực nước lợ.
Lê Công Khanh (1986) đã phân tích các đặc điểm sinh học để phân loại các chi và họ cây trong rừng ngập mặn Ông đã phân chia 57 loài cây ngập mặn thành 4 nhóm dựa trên tính chất ngập nước và độ mặn của nước Nhóm đầu tiên bao gồm các loài mọc trên đất bồi ngập nước mặn với độ mặn từ 15-32‰.
Trong số 25 loài, bao gồm Đưng và Cóc trắng, có 9 loài sinh sống trên đất bồi ngập nước lợ với độ mặn từ 0,5-15‰, trong đó có Vẹt đen Bên cạnh đó, nhóm sống trên đất bồi ít ngập nước lợ có 12 loài.
Phùng Trung Ngân và Châu Quang Hiền (1987) đã xác định bảy kiểu thảm thực vật ngập mặn ở Việt Nam, bao gồm: Rừng Mấm hoặc Bần đơn thuần, rừng Đước đơn thuần, rừng Dừa nước, rừng hỗn hợp vùng triều trung bình, rừng Vẹt – Giá vùng đất cao, Rừng Chà là - Ráng đại và trảng thoái hóa.
Nguyễn Hoàng Trí (1999) và Phan Nguyên Hồng cùng các cộng sự cho rằng loài Đưng không xuất hiện ở miền Bắc Việt Nam, mà chỉ tồn tại ở ven biển miền Trung và Nam Bộ Quần xã Đưng tiên phong được tìm thấy ở phía Tây bán đảo Cam Ranh, gần quần xã Mấm trắng và Bần trắng trên đất ngập triều trung bình Cóc trắng phân bố ở cả ba miền, thường sống trên vùng đất cao ngập triều không thường xuyên với nền đất tương đối chặt Vẹt đen không có ở miền Bắc, mà chỉ có ở vùng nước lợ miền Nam Trang có sự phân bố từ Bắc vào Nam, chịu đựng biên độ nhiệt khá khắc nghiệt và hiện đang được trồng phổ biến ở miền Bắc.
(2005) nghiên cứu tổng quan rừng ngập mặn ở Việt Nam đã xây dựng nên bản đồ phân bố rừng ngập mặn Việt Nam
1.2.3.2 Nghiên cứu các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến phân bố rừng ngập mặn:
Trong nghiên cứu "Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam" của Phan Nguyên Hồng (1991), tác giả đã phân tích sự phân bố, sinh thái và sinh lý của sinh khối rừng ngập mặn tại Việt Nam.
- Số loài cây ngập mặn ở miền Bắc Việt Nam ít hơn và có kích thước cây bé hơn ở miền Nam vì có nhiệt độ thấp trong mùa đông
- Vùng ít mưa, số lượng loài và kích thước cây giảm
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu
2.1.1 Mục tiêu chung: Đánh giá được thực trạng công tác trồng rừng ngập mặn ven biển tại huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu nhằm góp phần xây dựng giải pháp phát triển rừng ngập mặn bền vững trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
2.1.2 Mục tiêu cụ thể: Đánh giá được hiện trạng rừng trồng, tình hình sinh trưởng và tái sinh của một số mô hình rừng trồng ngập mặn tại khu vực nghiên cứu Đề xuất được giải pháp nhằm cải thiện tình hình sinh trưởng và quản lý tốt các mô hình rừng trồng các loài cây ngập mặn tại khu vực nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng của nghiên cứu là các mô hình rừng trồng các loài cây ngập mặn ven biển được trồng từ năm 1998 đến năm 2008
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu Đề tài được tiến hành trên địa bàn huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu
2.3.1 Đánh giá được hiện trạng rừng trồng ngập mặn:
2.3.2 Đánh giá sinh trưởng của một số mô hình rừng trồng ngập mặn: 2.3.3 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng: 2.3.4 Đề xuất một số giải pháp về quản lý rừng ngập mặn ven biển cho khu vực nghiên cứu:
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận:
Sinh trưởng của rừng, đặc biệt là rừng ngập mặn, được hình thành từ mối quan hệ phức tạp giữa sinh vật và môi trường cũng như giữa các sinh vật với nhau Để hiểu rõ vấn đề này, cần tiếp cận từ quan điểm tổng hợp, xem xét các yếu tố và mối quan hệ biện chứng giữa chúng nhằm phát hiện ra quy luật sinh trưởng của rừng.
Hệ sinh thái rừng ngập mặn có đặc trưng của tính hệ thống, tương tự như các hệ sinh thái khác Việc nghiên cứu rừng trồng ngập mặn cần được thực hiện trong bối cảnh một hệ thống tổng thể, nơi mà con người tác động vào thiên nhiên nhằm tạo ra môi trường tối ưu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây rừng.
Kế thừa các nghiên cứu và đánh giá trước đây về rừng ngập mặn, bài viết tổng hợp các số liệu từ các dự án liên quan đến diện tích, loài cây, và kỹ thuật trồng rừng ngập mặn.
Điều tra và đánh giá thực địa các mô hình trồng rừng ngập mặn được thực hiện tại các ô tiêu chuẩn tạm thời theo nguyên tắc ngẫu nhiên Các xã trọng điểm về trồng rừng ngập mặn đã được lựa chọn để tiến hành điều tra chi tiết.
2.4.2 Các phương pháp cụ thể:
2.4.2.1 Thu thập các thông tin, số liệu, kết quả nghiên cứu đã có:
- Các tài liệu kế thừa có chọn lọc như sau:
Tỉnh Bạc Liêu đã triển khai nhiều giải pháp phục hồi rừng, tập trung vào việc trồng rừng ngập mặn (RNM) tại các địa phương Bài viết này cung cấp thông tin chi tiết về kết quả đạt được, những bài học kinh nghiệm quý giá, cũng như các mô hình trồng rừng RNM có tiềm năng phát triển Đồng thời, các kiến nghị và đề xuất cũng được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả công tác phục hồi rừng tại tỉnh.
- Những tư liệu về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thuỷ văn, đất đai, địa hình, tài nguyên rừng
- Tư liệu về điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội: dân số, lao động, thành phần dân tộc, tập quán canh tác
- Những kết quả nghiên cứu có liên quan đến phục hồi rừng, những văn bản liên quan đến phục hồi rừng ở Việt Nam
2.4.2.2 Phương pháp điều tra và đánh giá tại các nghiên cứu điểm:
Phương pháp đánh giá được sử dụng bao gồm lập ô tiêu chuẩn và phỏng vấn bán định hướng với cán bộ và người dân tham gia quản lý trồng rừng ngập mặn Đầu tiên, cần làm việc với các dự án cấp tỉnh và huyện để nắm bắt tình hình chung, từ đó lựa chọn các điểm và mô hình rừng trồng ngập mặn để tiến hành điều tra chi tiết.
* Tiêu chí cơ bản để chọn địa điểm nghiên cứu là:
- Có diện tích rừng trồng ngập mặn nhiều nhất;
- Có nhiều cấp tuổi rừng nhất;
Các mô hình rừng trồng đa dạng về thành phần, bao gồm cả mô hình thuần loài và hỗn loài Đề tài đã chọn ra 5 mô hình rừng trồng tiêu biểu để tiến hành điều tra và đo đếm, nhằm đánh giá các tiêu chí liên quan.
Mô hình trồng Đước dưới mương và Phi lao trên bờ líp được áp dụng tại vùng bị ngập triều cao, với số ngày ngập triều dưới 100 ngày mỗi năm và thổ nhưỡng là sét cứng Dự án Bảo vệ và Phát triển những vùng đất ngập nước ven biển đã thực hiện kỹ thuật làm đất bằng cách đào mương rộng 3 mét và sâu 0,4 mét, tạo thành các bờ líp rộng 2,5 mét và cao 0,4 mét Sau đó, Đước được trồng dưới các mương với mật độ 10.000 cây/ha, trong khi Phi lao được trồng trên các bờ líp với mật độ 2.500 cây/ha.
Hình 2.1: Rừng Đước trồng dưới mương, Phi lao trên bờ líp
Mô hình 2 đề xuất trồng Đước thuần loài trong vuông tôm với mật độ 10.000 cây/ha, áp dụng cho vùng bị ngập khi triều trung bình Khu vực này có từ 200-300 ngày ngập triều mỗi năm và thổ nhưỡng là bùn chặt, phù hợp cho việc phát triển cây Đước.
Hình 2.2: Rừng Đước trồng trong vuông tôm
Mô hình 3: Rừng trồng Cóc trắng thuần được triển khai trong vuông tôm đã giao khoán cho các hộ dân, nằm ở khu vực bị ngập triều cao với số ngày ngập triều dưới 100 ngày/năm và thổ nhưỡng là sét cứng Dự án phát triển rừng tỉnh Bạc Liêu đã áp dụng kỹ thuật làm đất bằng cách đắp các mô đất có kích thước 1m x 1m x 0,7m, sau đó trồng cây Cóc trắng bằng cây con có bầu với mật độ 10.000 cây/ha.
Hình 2.3: Rừng Cóc trắng trồng trong vuông tôm
Mô hình 4 đề xuất trồng rừng Cóc trắng thuần loài trên diện tích đất ngoài vuông tôm, phù hợp với vùng bị ngập triều cao, với số ngày ngập triều dưới 100 ngày/năm và thổ nhưỡng là sét cứng Dự án phát triển rừng tỉnh Bạc Liêu đã áp dụng kỹ thuật làm đất bằng cách đắp các mô đất có kích thước 1x1 mét và cao 0,7 mét Sau đó, cây Cóc trắng được trồng bằng cây con có bầu với mật độ 10.000 cây/ha, nhằm tối ưu hóa hiệu quả sinh trưởng và phát triển của rừng.
Hình 2.4: Rừng Cóc trắng trồng ngoài vuông tôm
Mô hình 5 giới thiệu việc trồng rừng hỗn loài Dà vôi và Đước đôi trên diện tích đất trống trước đây được giao khoán cho các hộ gia đình để sản xuất lâm ngư kết hợp Chi cục Kiểm lâm đã trồng Dà vôi với mật độ 10.000 cây/ha trước, sau đó, sau vài năm, tiến hành trồng Đước đôi với cùng mật độ 10.000 cây/ha Đất trên mặt rừng thuộc vùng bị ngập triều trung bình với 100-200 ngày ngập/năm, có thổ nhưỡng là sét mềm Trong khi đó, đất dưới các kênh bồi lắng bị ngập triều trung bình từ 200-300 ngày/năm, với thổ nhưỡng là bùn chặt.
Hình 2.5: Rừng Dà vôi - Đước đôi
* Việc điều tra thu thập số liệu trên các ô tiêu chuẩn được xác định trên bản đồ và ngoài thực địa:
Để lập ô tiêu chuẩn trong quy trình điều tra lâm học rừng trồng thông thường, cần sử dụng ô tiêu chuẩn hình vuông với diện tích 100m2 (10m x 10m) Đối với mô hình rừng trồng Đước (dưới mương) và Phi lao (trên bờ líp), diện tích ô tiêu chuẩn sẽ được mở rộng lên 250m2.
- Số lượng ô tiêu chuẩn điều tra trên 05 mô hình rừng trồng là 15 OTC, cụ thể như sau:
+ Mô hình rừng trồng hỗn loài theo băng Đước đôi (dưới mương), Phi lao (trên bờ líp): 03 OTC
+ Mô hình rừng trồng Đước đôi thuần loài trên đất trống trong vuông tôm: 03 OTC
+ Mô hình rừng trồng Cóc trắng thuần loài trong vuông tôm: 03 OTC + Mô hình rừng trồng Cóc trắng thuần loài ngoài vuông tôm: 03 OTC
+ Mô hình rừng trồng hỗn loài Dà vôi, Đước đôi trên đất trống ngoài vuông tôm: 03 OTC
Trong OTC, việc ghi chép thông tin như số hiệu ô, vị trí ô, các tác động chính vào rừng, và lịch sử hình thành rừng là rất quan trọng Đồng thời, cần tiến hành đo đếm các chỉ tiêu liên quan để đảm bảo quản lý và bảo vệ rừng hiệu quả.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình
Khu vực nghiên cứu thuộc rừng phòng hộ ven biển huyện Đông Hải nằm ở phía tây nam của tỉnh Bạc Liêu, trong tọa độ địa lý từ 8 0 59’48” đến
9 0 15’59 vĩ độ Bắc và từ 105 0 35’36” đến 105 0 35’01” kinh độ Đông
- Phía bắc giáp Đê biển Đông
- Phía nam giáp Biển Đông
- Phía Đông giáp huyện Hòa Bình
- Phía Tây giáp tỉnh Cà Mau
Hình 3.1 Hiện trạng rừng phòng hộ ven biển huyện Đông Hải
Khu rừng nghiên cứu có địa hình tương đối bằng phẳng và có độ nghiêng nhẹ hướng vào nội địa Độ cao trung bình từ +0,4m đến +1,3m so với mực nước biển không có sự chênh lệch lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng và bảo vệ rừng ngập mặn.
Tình hình khí tượng
Lượng bốc hơi trung bình hàng năm là 1.233 mm Lượng bốc hơi trong các tháng mùa mưa khoảng 2 – 3 mm/ngày, trong các tháng mùa khô khoảng 4-5 mm/ngày
Có hai hướng gió chính:
- Gió Tây Bắc từ tháng 5 đến tháng 11, tốc độ bình quân 2m/s; mạnh nhất 10 m/s mang theo nhiều hơi nước nên thường có mưa
Gió Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau có tốc độ trung bình đạt 2,34m/s, với cường độ mạnh nhất lên đến 9m/s Hiện tượng này gây ra thời tiết khô lạnh, dẫn đến sự gia tăng lượng bốc hơi và giảm đáng kể lượng mưa.
Bảng 3.1 Tốc độ gió trung bình tại khu vực nghiên cứu ĐVT: m/s
Bắc Đông Đông Nam Đông Đông Bắc Đông Đông Nam
(Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn tỉnh Bạc Liêu, năm 2012) 3.1.2.3 Nhiệt độ, độ ẩm lượng mưa, chế độ thủy triều:
Nhiệt độ, độ ẩm lượng mưa, chế độ thủy triều tại khu vực nghiên cứu thể hiện trong bảng 3.2
Bảng 3.2 Nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, chế độ thủy triều tại khu vực nghiên cứu
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 TB năm Nhiệt độ không khí
Số giờ nắng 230,5 282 313 316 266 208 192 189 189 133 175 165 2658 Độ ẩm trung bình
(Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn tỉnh Bạc Liêu, năm 2012)
- Nhiệt độ cao và khá ổn định qua các tháng, chênh lệch trung bình 1-
5 0 C, nhiệt độ trung bình trong năm là 27,5 0 C, cao nhất là 28,3 0 C; thấp nhất
Nhiệt độ cao nhất trong năm thường diễn ra từ tháng 4 đến tháng 6, trong khi các tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2 Trung bình, khu vực này nhận được khoảng 7,2 giờ nắng mỗi ngày.
- Độ ẩm trung bình năm khoảng 83%, từ tháng 5 đến tháng 12 (các tháng mùa mưa) độ ẩm tương đối cao khoảng 89%, chênh lệch độ ẩm giữa các tháng vào khoảng 1-11%
- Lượng mưa trung bình năm khoảng trên 1.707,6 mm, với khoảng 106 ngày mưa Lượng mưa nhiều nhất là vào tháng 5 đến tháng 10 trong năm
Chế độ thủy triều tại khu vực nghiên cứu bị ảnh hưởng trực tiếp bởi chế độ bán nhật triều của biển Đông, với lưu tốc dòng chảy mạnh và biên độ triều lớn trung bình đạt 2,85 m Mực nước cao nhất thường xảy ra vào tháng 10 với chiều cao trung bình 223 cm, trong khi mực nước thấp nhất vào tháng 5 với chiều cao trung bình -215 cm Những điều kiện này tạo thuận lợi cho việc tiêu nước tự chảy, rửa mặn và phèn, cũng như việc lấy nước mặn từ biển vào đồng ruộng để nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối và phát triển rừng ngập mặn.
3.1.2.4 Độ mặn nước biển trung bình:
- Độ mặn nước biển có sự tăng lên và giảm xuống theo tháng, độ mặn cao nhất là tháng 4, thấp nhất vào tháng 2, thể hiện tại bảng 3.3
Bảng 3.3: Độ mặn nước biển tại trạm thủy văn Gành Hào ĐVT: ‰
Tình hình địa chất
Theo tài liệu của Phân viện quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp miền Nam, vùng nghiên cứu chủ yếu là đất mặn, đặc biệt là đất mặn ít Một số phẫu diện đất cho thấy pH giảm ở độ sâu trên 80 cm, với sự hiện diện của chất hữu cơ bán phân hủy Hàm lượng Cl- cao (từ 0,11-1,92%) và độ dẫn điện EC5 cùng tổng muối tan cũng ở mức cao Chất hữu cơ ở tầng mặt giảm nhanh theo độ sâu, với hàm lượng HCHC chỉ đạt 2,3 – 2,5% Về thành phần cơ giới, đất có cấu trúc thô với thịt pha cát (90% thịt nhiều và 10% cát).
Nhìn chung, các điều kiện khí hậu, thuỷ văn, đất đai tại vùng nghiên cứu phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của cây rừng ngập mặn
3 2 Tình hình dân sinh, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu:
Tình hình dân số
Về mặt hành chính: Khu vực nghiên cứu nằm trên địa bàn 3 xã Điền Hải, Long Điền Tây và thị trấn Gành Hào
Theo thống kê năm 2011, huyện có dân số 132.608 người, chủ yếu gồm ba dân tộc Kinh, Hoa, Khơmer, cùng với 18 người thuộc các dân tộc khác Khu vực thành thị có 13.090 người, chiếm 9,87%, trong khi khu vực nông thôn có 119.518 người, chiếm 90,13% Mật độ dân số toàn huyện trung bình là 246 người/km2, với sự phân bố không đồng đều Thị trấn Gành Hào có mật độ cao nhất là 818 người/km2, trong khi xã Long Điền Tây có mật độ thấp nhất là 165 người/km2 Các xã khác có mật độ dân số dao động từ 220 đến 330 người/km2 (Niên giám thống kê huyện Đông Hải, 2011).
Lao động – việc làm
Tính đến năm 2011, huyện có 79.564 lao động, chiếm 60% dân số, trong đó hiện có 63.167 người đang làm việc, tương đương 79,39% lực lượng lao động Tuy nhiên, khoảng 20,61% lao động vẫn thất nghiệp hoặc thiếu việc làm Để giải quyết vấn đề này, nhiều lao động đã được tạo việc làm thông qua việc mở rộng sản xuất kinh doanh và các dự án vay vốn từ nhiều nguồn khác nhau.
Số lượng lao động được đào tạo chuyên môn hiện nay còn thấp, với tỷ lệ đạt 37% vào năm 2011, trong đó chỉ có khoảng 18% là lao động qua đào tạo nghề Mỗi năm, trung bình chỉ có khoảng 2.000 lao động được giải quyết việc làm.
Công tác trồng và bảo vệ rừng hàng năm không chỉ tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người dân địa phương, mà còn giúp giảm thiểu các tác động tiêu cực đến rừng ngập mặn Tuy nhiên, sự dư thừa lao động ở nông thôn đã ảnh hưởng đến công tác quản lý và bảo vệ rừng, dẫn đến tình trạng khai thác tài nguyên như lấy củi và đánh bắt thủy sản trong rừng.
Kinh tế - thu nhập
Kinh tế biển của huyện là một thế mạnh nổi bật, với sản lượng thủy sản luôn đứng đầu tỉnh nhờ vào nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản Huyện còn nổi tiếng với nghề làm muối truyền thống, đạt chất lượng hàng đầu khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ; từ 80% nông, lâm, ngư nghiệp năm 2002, tỷ trọng này đã giảm còn 58% vào năm 2011, trong khi công nghiệp xây dựng tăng từ 8% lên 18% và thương mại dịch vụ từ 12% lên 24% Năm 2011, tổng sản phẩm xã hội đạt gần 3000 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 15% và thu nhập bình quân đầu người gần 20 triệu đồng, gấp 3 lần so với năm 2002.
Tình hình cơ sở vật chất, hạ tầng
Huyện đang tích cực nâng cấp cơ sở hạ tầng, bao gồm cả cảng Gành Hào và trung tâm thương mại Gành Hào, cũng như nâng cấp tuyến đường Gái Rai - Rành Hào đạt tiêu chuẩn cấp 4 đồng bằng, kết nối quốc lộ 1A với trung tâm thị trấn Gành Hào Tuyến đường dài trên 30 km này có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, phục vụ cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa, đồng thời thông thương với Đường Hồ Chí Minh, kết nối Bạc Liêu với Kiên Giang Tính đến năm 2011, 84/84 ấp của huyện đã có đường giao thông liên ấp, 10/11 xã có đường ô tô đến trung tâm Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 97,3%, tăng 2,2 lần so với năm 2002 Tổng nguồn vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trong 10 năm qua lên tới 763 tỷ đồng, với mục tiêu phát triển huyện thành Thị xã trong tương lai gần.
Cơ sở phúc lợi xã hội
Tính đến năm 2011, huyện có 51 trường học với hơn 630 phòng học, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp năm học 2010 - 2011 đạt từ 96% trở lên Hiện tại, 100% phòng học đã được xây dựng cơ bản và bán cơ bản, trong đó có 5 trường đạt chuẩn quốc gia Đặc biệt, 55% giáo viên đạt chuẩn và gần 42% giáo viên vượt chuẩn.
Bệnh viện đa khoa huyện và các Trạm y tế xã, thị trấn đã được nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ khám và điều trị bệnh Hiện nay, hơn 70% xã trong huyện đạt chuẩn quốc gia về y tế, và 100% trạm y tế đều có bác sĩ làm việc, đảm bảo chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân.
Văn hóa – xã hội
Đến nay 100% hộ dân có phương tiện nghe, nhìn, 95% hộ gia đình và 90% ấp đạt chuẩn văn hóa, 1 xã đạt chuẩn văn hóa
Trong 10 năm qua, huyện đã thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, vận động quỹ Đền ơn đáp nghĩa đạt hơn 16 tỷ đồng và hỗ trợ xây dựng gần 1000 căn nhà tình nghĩa Đồng thời, huyện cũng đã huy động quỹ Vì người nghèo và quỹ An sinh xã hội với tổng số tiền 12 tỷ đồng, triển khai xây dựng trên 6.800 căn nhà tình thương và 167 căn nhà cho người nghèo, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 22.46% Tổng thu ngân sách Nhà nước trong 10 năm qua đạt trên 370 tỷ đồng, trong đó năm 2011 đạt 57 tỷ đồng, tăng 6.4 lần so với năm trước.
Các công trình khác
Cấp điện là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, với hạ tầng lưới điện đã được đầu tư mạnh mẽ Đến nay, điện lưới quốc gia đã phủ sóng tới 10/10 trung tâm xã, thị trấn, nâng tỷ lệ hộ dân toàn huyện sử dụng điện lưới quốc gia từ 44,13% vào năm 2000 lên 90,0% vào năm 2005 và 96,5% vào năm 2011, trong đó tỷ lệ hộ nông thôn đạt 93,5%.
Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch theo Tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch QCVN 02 đạt 62,5%, trong đó khu vực nông thôn có tỷ lệ 53,58% Ngoài ra, tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh toàn tỉnh đạt 42,0%, khu vực nông thôn đạt 33,67% Bên cạnh đó, số chuồng trại chăn nuôi gia súc hợp vệ sinh đạt 39,34% số hộ.
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Hiện trạng rừng trồng ngập mặn tại khu vực nghiên cứu:
Dựa trên việc thu thập tài liệu thống kê và trao đổi với cán bộ Chi cục Kiểm lâm, hiện trạng rừng trồng ngập mặn tại tỉnh Bạc Liêu đã được đánh giá.
4.1.1 Diện tích rừng trồng ngập mặn từ 1998 đến 2010:
Từ năm 1998 đến 2010, tỉnh Bạc Liêu đã triển khai 3 chương trình dự án đầu tư trồng rừng ngập mặn, với tổng diện tích khoảng 2.051 ha Kết quả của các dự án này được thể hiện trong bảng 4.1.
Bảng 4.1 Diện tích trồng rừng ngập mặn qua các năm
Năm trồng Loài cây Diện tích
Diện tích thành rừng (ha)
1998 Đước đôi 196,40 10.000 230.475 196,40 100 Cóc trắng 78,50 10.000 157.000 78,50 100
Tra lâm vồ 2,60 5.000 20.522 2,60 100 Đước đôi, Phi lao 23,90 (10.000;
Phi lao 29,00 2.500 178.839 26,30 90,69 Đước đôi 45,30 10.000 62.044 33,00 72,85 Đước, Phi lao 42,40 (10.000;2.500) 113.618 42,40 100
Dà vôi 32,65 10.000 71.601 - - Đước đôi 21,10 10.000 99.676 21,10 100 Đước đôi 34,91 5.000 60.981 34,91 100
( Chi cục Kiểm lâm Bạc Liêu, 2012)
Từ bảng 4.1, tổng diện tích rừng trồng ngập mặn giai đoạn 1998-2010 đạt 2.105 ha, trong đó huyện Đông Hải chiếm 723,58 ha Tổng số vốn đầu tư cho dự án là 4.113 triệu đồng Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm, diện tích rừng được nghiệm thu sau 1 - 3 tháng trồng là 2.105 ha, với tỷ lệ sống của các lô rừng đều đạt trên 85% Tuy nhiên, hiện tại diện tích thành rừng vẫn chưa được xác định rõ.
Qua phỏng vấn các cán bộ Chi cục Kiểm lâm và chính quyền địa phương, nguyên nhân chính dẫn đến việc điều chỉnh quy hoạch sản xuất nông - lâm - ngư - diêm nghiệp tại tỉnh Bạc Liêu là do yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cây trồng vật nuôi, bố trí dân cư và xây dựng cơ sở hạ tầng Sau mỗi lần điều chỉnh, đã có 809,5 ha rừng ngập mặn chuyển mục đích sử dụng, trong đó 390 ha rừng trồng bị thiệt hại 100% do điều kiện lập địa khắc nghiệt và thiếu biện pháp kỹ thuật phù hợp trong quá trình trồng rừng.
Năm 1998, 42,4 ha rừng Tra lâm vồ đã được trồng tại huyện Hòa Bình trong khu sản xuất lâm ngư kết hợp Mặc dù rừng phát triển tốt ban đầu, sau 3 năm chăm sóc, rừng đã bị chết dần và hiện nay đã thiệt hại hoàn toàn Nguyên nhân chính là do quá trình nuôi tôm trong sản xuất lâm – ngư kết hợp, dẫn đến tình trạng ứ nước làm cây trồng chết.
Vào năm 1999, 12 ha rừng Dà vôi đã được trồng tại xã Vĩnh Hậu, huyện Hòa Bình, trên khu vực ngập triều cao Mặc dù rừng phát triển tốt ban đầu, sau 3 năm chăm sóc, rừng đã bị thiệt hại hoàn toàn Nguyên nhân chính là do các hộ nuôi tôm giữ mực nước quá cao và ứ đọng nước lâu ngày, không phù hợp với đặc tính sinh học của cây Dà vôi, dẫn đến tình trạng cây trồng chết dần.
Vào năm 2000, 20 ha rừng Mấm trồng đã bị mất trắng do trồng trên bãi bồi chưa ổn định, dẫn đến thiệt hại từ sóng biển sau khi rừng được trồng.
Năm 2001, 43 ha rừng Đước tại xã Vĩnh Trạch Đông, thành phố Bạc Liêu đã bị mất hoàn toàn do điều kiện môi trường không phù hợp Rừng trồng gặp phải tình trạng ngập triều cao, đất bị thoái hóa cứng và độ mặn cao, trong khi việc ngập nước thủy triều không diễn ra thường xuyên, dẫn đến sự sinh trưởng và phát triển kém của cây Đước.
Năm 2001, 43 ha rừng Đước tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình đã bị mất hoàn toàn Nguyên nhân chính là do việc trồng rừng trên bãi bồi không ổn định, không phù hợp với sinh thái của loài Đước, dẫn đến thiệt hại do sóng biển Thêm vào đó, sự phát triển mạnh mẽ của rừng Mấm biển đã chèn ép và khiến rừng Đước không thể phát triển, dẫn đến tình trạng chết dần.
Vào năm 2002, 5 ha rừng Tra lâm vồ đã được trồng trên vùng đất ngập triều cao với kỹ thuật đào đất đắp mô kích thước 1mx1mx0,7m, giúp cây sinh trưởng tốt nhờ không bị ngập triều và được nước mưa rửa mặn Tuy nhiên, sau 3 năm, rừng trồng đã chết dần và hiện nay đã thiệt hại hoàn toàn do thiếu kinh phí bồi đắp các mô, khiến gió và mưa làm xói mòn, rửa trôi đất, dẫn đến điều kiện lập địa không còn phù hợp cho sự phát triển của cây.
Năm 2008, 32,65 ha rừng Dà vôi trồng trên đất ngập triều cao đã bị mất trắng do mùa khô, khi đất không ngập nước thủy triều và độ mặn trong đất quá cao Sự bốc hơi nước mạnh mẽ trên đất trống đã khiến cho rừng trồng không thể sinh trưởng và phát triển, dẫn đến tình trạng chết dần của cây.
- Từ năm 2002 đến năm 2009, có 62,97 ha rừng Đước trồng trong khu sản xuất lâm ngư kết hợp bị mất trắng (năm 2002 có 15,97 ha, năm
Từ năm 2003 đến năm 2009, diện tích rừng Đước giảm từ 38 ha xuống còn 9 ha do điều kiện lập địa không đồng đều, với những khu vực ngập sâu và ngập nông Khi các hộ dân xả nước để duy trì rừng trồng ở những nơi ngập sâu, thì các khu vực ngập nông lại bị khô, ảnh hưởng đến việc nuôi trồng thủy sản của họ Hậu quả là toàn bộ diện tích rừng Đước mới trồng trên đất ngập sâu đã chết.
Từ những thiệt hại rừng trồng nêu trên ta thấy:
Cần tiến hành điều tra chi tiết và khoanh vùng để xây dựng bản đồ phân chia địa bàn theo các cấp độ khó khăn Từ đó, có thể đưa ra các giải pháp trồng rừng phù hợp.