Bên cạnh đó Trung tâm đã nhập thêm 20 lô hạt của các dòng sai quả về xây dựng các khảo nghiệm hậu thế để phục vụ công tác nghiên cứu cải thiện giống trong tương lai.. Kết quả của các ngh
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Được sự phân công của Viện Công Nghệ Sinh Học - Trường Đại Học Lâm Nghiệp và được sự đồng ý của cô giáo hướng dẫn TS Khuất Thị Hải Ninh
tôi đã thực hiện đề tài “Đánh giá khảo nghiệm chọn lọc các dòng Mắc ca
(Macadamia integrifolia) tại Thạch thành - Thanh hóa”
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến các thầy,
cô giáo trường đại học Lâm Nghiệp và các thầy cô trong Viện Công Nghệ Sinh Học đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáoTS Khuất Thị Hải Ninh đã tận tâm hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Xong do kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế về tên cây cũng như đặc điểm hình thái của nhiều loại cây nên không thể tránh khỏi những sai xót nhất định
mà bản thân chưa biết được Tôi rất mong sự giúp đỡ của quý thầy và các bạn
để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 2
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU i
MỤC LỤC ii
DANH TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Giới thiệu chung về cây Mắc ca (Macadamia integrifolia) 3
1.1.1 Đặc điểm sinh học 3
1.1.2 Đặc điểm phân bố 4
1.2 Các nghiên cứu về cây Mắc ca 4
1.2.1 Nghiên cứu Mắc ca trên thế giới 4
1.2.2 Nghiên cứu Mắc ca ở Việt Nam 7
Phần 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 10
2.1 Vị trí địa lý 10
2.2 Khí hậu đất đai 10
PHẦN 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 11
3.2 Nội dung nghiên cứu 11
3.3 Đối tượng nghiên cứu 11
3.4 Phương pháp nghiên cứu 11
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 11
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 11
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 12
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 14
4.1 Đánh giá tỉ lệ sống của các dòng vô tính Mắc ca 14
4.2 Đánh giá sinh trưởng các dòng vô tính Mắc ca 14
Trang 34.3 Đánh giá sản lƣợng quả của các dòng vô tính Mắc ca 16
4.3.1 Đánh giá tỉ lệ cây ra quả 16
4.3.2 Đánh giá sản lƣợng quả 17
PHẦN 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 19
5.1 Kết luận 19
5.2 Tồn tại 19
5.3 Khuyến nghị 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1.Đặc điểm khí hậu vùng khảo nghiệm 10
Bảng 3.2 Tính chất hoá - lý của đất ở các khu vực khảo nghiệm 10
Bảng 4.1 Tỉ lệ sống của các dòng vô tính mắc ca 14
Bảng 4.2 Sinh trưởng của một số dòng mắc ca 15
tại Thạch thành - Thanh hóa 15
Bảng 4.3 Tỉ lệ cây ra quả của các dòng vô tính Mắc ca 16
Bảng 4.4 Sản lượng quả của các dòng Mắc ca tại 17
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1.Cây và quả mắc ca 3 Hình 4.1 Dòng Mắc ca 695 khảo nghiệm tại Thạch thành – Thanh Hoá 18
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Mắc ca (Macadamia integrifolia) đã được Trung tâm nghiên cứu giống
cây rừng thuộc viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam trồng thử tại Ba Vì từ năm 1994 Năm 2000, một số cây đã ra quả và cho đến năm 2010, nhiều cây
đã cho đến hơn 20 kg hạt Từ năm 2004 đến nay, Mắc ca đã bắt đầu được gây trồng ở nhiều địa phương ở nước ta như Tây Bắc, Tây Nguyên và một số địa phương khác trong đó một số vùng đã cho quả rất tốt như ở Tây Nguyên và Tây Bắc Gần đây phong trào trồng Mắc ca đang phát triển mạnh mẽ hứa hẹn
sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng rừng Năm 2016, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã thông qua quy hoạch phát triển Mắc ca ở Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, theo đó diện tích gây trồng Mắc ca đến năm 2020 là khoảng 10.000 ha và đến năm 2030 là khoảng 30.000 ha Trong đó việc nghiên cứu lựa chọn các giống có năng suất hạt và chất lượng nhân cao phù hợp cho từng vùng sinh thái và hoàn thiện kỹ thuật thu hái, bảo quản và chế biến Mắc ca được coi là khâu then chốt
Đề tài ”khảo nghiệm giống và nhân giống sinh dưỡng cây Mắc ca ở Việt Nam ” giai đoạn 1 và giai đoạn 2 được Trung tâm nghiên cứu giống cây
rừng thực hiện trong các năm 2002 -2010 Trong giai đoạn này 9 dòng Mắc ca
có năng suất hạt cao đã được Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng nhập từ Australia và 2 dòng khác được nhập từ Trung Quốc Các dòng này đã được bố trí khảo nghiệm tại Ba Vì (Hà Nội), Mai Sơn (Sơn La), Uông Bí (Quảng Ninh), Đồng Hới (Quảng Bình), Krông Năng (Đắc Lắc), Đại Lải (Vĩnh Phúc)
và Đắc plao (Đắc Nông) Bên cạnh đó Trung tâm đã nhập thêm 20 lô hạt của các dòng sai quả về xây dựng các khảo nghiệm hậu thế để phục vụ công tác nghiên cứu cải thiện giống trong tương lai Kết quả của các nghiên cứu giai đoạn này là (i) đã bước đầu nhân giống thành công bằng phương pháp ghép các dòng Mắc ca ; (ii) bước đầu xác định được các một số dòng có năng suất hạt cao trên một số vùng sinh thái
Trang 8Nhằm tiếp tục đánh giá khả năng gây trồng và chọn lọc được giống Mắc
ca có năng suất cao phục vụ gây trồng cũng như hoàn thiện kỹ thuật nhân giống
và gây trồng cây Mắc ca ở Việt Nam cần có những nghiên cứu tiếp theo để giải quyết những vấn đề đã nêu Với những lý do đó, đề tài “Tiếp tục khảo nghiệm
và đánh giá khả năng phát triển cây Mắc ca tại Việt Nam ” được đặt ra và nghiên cứu bởi Viện Nghiên cứu giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp Thạch Thành – Thanh hoá là một trong những địa điểm được lựa chọn để khảo nghiệm loài cây có giá trị này Để đánh giá tình hình sinh trưởng và sản lượng quả từ đó lựa chọn được các dòng Mắc ca có triển vọng tại khu vực khảo
nghiệm tôi thực hiện đề tài “Đánh giá khảo nghiệm chọn lọc các dòng Mắc
ca (Macadamia integrifolia) tại Thạch Thành- Thanh Hóa”
Trang 9PHẦN 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu chung về cây Mắc ca (Macadamia integrifolia)
1.1.1 Đặc điểm sinh học
Mắc ca (Macadamia integrifolia) cao tới 18m, tán rộng 15m, vỏ cành
nhạt màu hơn loài M ternifolia (Mắc ca 3 lá), lá non màu xanh nhạt, lá hình
trứng ngược hoặc thuôn ngược Lá dài 10,2 - 30,5 cm, rộng 2,5 - 7,6 cm, có cuống lá ngắn, không có hoặc gần như không có răng cưa, đuôi lá tròn, 3 lá hoặc 4 lá mọc xoáy ốc, nhưng ở cây con hoặc cành non có thể gặp 1 đôi lá mọc đối Hoa thường mọc ra từ cành già, thường là mọc từ mắt lá sớm thành thục nhất ở đoạn cuối cành (phía ngọn), Hoa thường dài 10,2 - 30,5 cm; mỗi hoa có
từ 100 - 300 bông hoa (hoa màu trắng) Quả chín rộ vào tháng 3 đến tháng 6 ở
Úc (mùa thu đông nam bán cầu) và từ tháng 7 đến tháng 11 ở Hawaii Nhưng ở California quả chín từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau Tại Quảng Châu và Bán đảo Lôi Châu quả chín từ giữa tháng 8 đến cuối tháng 9 Ngoài
ra, ở cây cao tuổi ngoài mùa hoa tập trung vẫn có thể thấy hoa nở rải rác suốt năm Vì vậy có thể coi loài này là "hoa quả liên tục" Quả hình tròn, vỏ quả không có lông nhung, màu xanh bóng Vỏ hạt nhẵn, đường kính hạt khoảng 1,3
- 3,2 cm, nhân màu trắng sữa, có hương thơm, chất lượng rất cao
Hình 1.1.Cây và quả mắc ca
Trang 101.1.2 Đặc điểm phân bố
Mắc ca phân bố tự nhiên tại vùng rừng mưa phía đông đường phân
thủy giữa nội địa Úc với bờ biển đông Úc, chủ yếu là trên lãnh thổ bang Quensland và một phần bang Newsouth wales trong khoảng 25 - 28o vĩ độ nam Vùng phân bố tập trung nhất là dãy núi Mepherson mà một bên là sông Nunaibah và bên kia là sông Mary ở phía bắc trên giải rộng 24km, dài 442km Hiện nay các dòng vô tính được gây trồng phổ biến ở quy mô thương mại chủ yếu được tuyển chọn từ loài này
1.2 Các nghiên cứu về cây Mắc ca
1.2.1 Nghiên cứu Mắc ca trên thế giới
a) Nghiên cứu chọn lập địa gây trồng
Theo báo cáo của Trung tâm đa dạng Úc, Mắc ca chịu đựng khô hạn,
độ dốc và gió (Duke, 1978) Theo nghiên cứu sinh thái của cây Mắc ca sống ở
nơi có nhiệt độ hàng năm 15-250C, lượng mưa hàng năm 700-2600mm, pH từ 4,5-6 Mắc ca phát triển tốt nhất trong khu vực rừng nhiệt đới, dọc theo bờ biển với độ ẩm cao và mưa nhiều Mắc ca mọc tốt trên nhiều loại đất, nhưng không thành công trên bãi cát ven biển bạc màu, đất sét nặng hoặc rặng núi sỏi Sản lượng tốt trên đất sét pha mùn, thoát nước tốt và đất sét pha mùn cát
Nhiều báo cáo đã chỉ ra rằng Mắc ca có tốc độ sinh trưởng tốt nhất ở nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20°C đến 25°C với lượng mưa hàng năm từ
1500 mm đến 2500 mm (Allemann và Young 2006; Quinlan và Wilk 2005; Trochoulias và Lahav 1982) Tiếp xúc kéo dài với nhiệt độ trên 350C hay dưới
100C sẽ làm ảnh hưởng đến búp non, cây bị úa vàng và chậm phát triển (Trochoulias, Lahav 1982) Mắc ca là loài cây khá nhạy cảm với sương giá, cây con có thể bị chết và làm hư hỏng hoa và lá của cây già (Quinlan, Wilk 2005) nên nhiệt độ trung bình tối thiểu hàng ngày của các tháng lạnh nhất phải cao hơn 30
C (Allemann và Young 2006)
O'Hara (1957) cho rằng các vườn trồng Mắc ca không nên tiếp xúc với gió nóng và khô trong giai đoạn đầu ra hoa và hình thành hạt, vì có thể ảnh
Trang 11hưởng đến hoa và việc đậu quả Cây Mắc ca không có rễ cọc, vì vậy cây có thể bị bật gốc khi có gió to (Quinlan và Wilk 2005)
b) Nghiên cứu chọn giống
Từ năm 1922, trạm thực nghiệm nông nghiệp Hawaii đã dẫn giống
và gây trồng thử cây Mắc ca ở quy mô thương mại, nhưng do trồng bằng cây hạt nên không đạt hiệu quả kinh tế Từ năm 1936, Trạm thực nghiệm nông nghiệp này bắt đầu tuyển chọn ưu trội; từ 12.000 cá thể đã chọn và đặt tên được cho 15 cây trội và nhân vô tính (Bell, 1995) Đến năm 1948 đã chính thức đặt tên các dòng đầu tiên và đến năm 1954 đã đặt thành đề tài nghiên cứu, đánh giá một cách hệ thống và khẳng định các dòng tuyển chọn, nghiên cứu kỹ thuật phối hợp dòng nhằm tối ưu hoá hiệu quả thụ phấn, nghiên cứu
kỹ thuật gây trồng, thu hái, bảo quản, chế biến Năm 1956 bắt đầu phổ cập các dòng đã tuyển chọn và khuyến khích gây trồng trên quy mô thương mại Đến nay tất cả các trang trại gây trồng Mắc ca trên thế giới đều đã đi đến nhận định chung là: nhân tố quyết định thành công của việc gây trồng Mắc ca quy
mô thương mại là giống, phải dùng các dòng vô tính đã được tuyển chọn thích hợp với lập địa của mình mới mong đạt được sản lượng và chất lượng cao
Nhiều nước đã bắt tay vào tuyển chọn dòng ưu trội trên các trang trại của mình, nhưng hầu hết đều dựa trên cơ sở các dòng đã được tuyển chọn của Hawaii và các dòng này phần lớn đều được tuyển chọn từ loài Mắc ca vỏ hạt
láng (Macadamia integrifolia) Tất cả các dòng do Hawaii tuyển chọn đều có
phiên hiệu chung là HAES - chữ cái đầu trong tên tiếng Anh của trạm thực nghiệm nông nghiệp Hawaii Đây là phiên hiệu được đặt ra khi sơ tuyển, mặc
dù sau khi được công nhận và đặt tên mới, trong sản xuất và trong giao dịch quốc tế người ta vẫn gọi theo thói quen cũ Hawaii đã chọn ra được các dòng: Keauhou - HAES 246, Kakea - HAES 508, Nuuan - HAES 336, Kohala - HAES 386, Pahou - HAES 428 Các năm sau lại đưa ra thêm các dòng: IKaika - HAES 333, Wailua - HAES 475, Keaau - HAES 660, Kau - HAES
344, Mauka - HAES 471, Makai - HAES 800, Purvis - HAES 294, Pahala -
Trang 12HAES 788, Denison - HAES 790 và một số dòng lai là Beaumont - HAES
695 và NSW 44 v.v Trong số đó, một số dòng được ưa chuộng và gây trồng rộng rãi tại Hawaii gồm: Keauhou (HAES 246), Kakea (508) và Ikaika (333)
Tại Australia, các nghiên cứu về chọn giống và nhân giống Mắc ca đã
được thực hiện chủ yếu là chọn lọc cây trội, khảo nghiệm hậu thế và khảo nghiệm dòng vô tính tại các vùng sinh thái khác nhau (Hardner và
MeConchie, 1999; Peace và Hardner, 2000; Peace và cs , 2001)
Có nhiều đặc điểm quan tâm để cải thiện di truyền cho Mắc ca (Hardner
và cs., 2009) Nghiên cứu cũng cho thấy không có tương quan di truyền giữa
kích thước cây và năng suất hạt (Hardner và cs., 2002) Các thông số đã được
sử dụng để mô tả năng suất là: Tuổi của cây trồng, năng suất ở một độ tuổi nhất định và tổng sản lượng hoặc trung bình trong khoảng thời gian đặc biệt, do vậy chọn lọc sớm là hướng đi rút ngắn thời gian cho vườn quả năng suất hơn và
kiểm soát được di truyền (Hardner và cs , 2009) Nghiên cứu về năng suất ở
chọn lọc sớm đã chỉ ra mối quan hệ có ý nghĩa giữa kiểu gen (G) và môi trường
(E) (Hardner và cs., 2006) Năng suất trồng vườn cây ăn quả sau này trong độ tuổi có thể tăng lên đến 60% (MaFadyen và cs., 2004) Các hệ số di truyền về năng suất ở tuổi 10 là rất cao (Hardner và cs., 2009)
Bên cạnh chương trình cải thiện giống Mắc ca tại Australia họ cũng đi vào trồng khảo nghiệm vùng, phân vùng và từng lập địa, từ đó đưa ra khuyến cáo các nhà vườn trồng cây Mắc ca (Wilson, 2006)
Mắc ca đã trồng ở Kenya khoảng 40 năm, nhưng phát triển thành cây
thương mại khoảng 25 năm trở lại đây Nghiên cứu trồng Mắc ca ở các độ cao
và lượng mưa khác nhau 1280 – 1750 m và độ cao lớn hơn 1750 m của cao nguyên, từ các vùng sinh thái của Kenya đã chọn được 300 cây mẹ, qua khảo nghiệm đã xác định được 17 dòng sai quả cho sản lượng hạt từ 55 đến 80 kg hạt/cây, đồng thời cũng đã cải thiện về tỷ lệ nhân (31,3 – 33,7%) ở tuổi 15
(Ondabu và cs., 2007)
Nghiên cứu lai giống Mắc ca cũng được thực hiện và bước đầu đã thu được một số kết quả khả quan (Hardner và MeConchie, 2000) Theo Tanner
Trang 13giống lai có nguồn gốc ở Rancho Santa Fe, nhân chiếm tỷ lệ trung bình 46% trọng lượng của hạt, hương vị của hạt thơm, hàm lượng dầu của giống lai 75%,
vỏ rất mỏng, giống lai Mắc ca có kích cỡ trung bình, tán hình kim tự tháp và
bắt đầu cho quả sau 5 năm Các giống lai của cây Mắc ca đã được nhập khẩu trồng tại trang trại nghiên cứu Ukulinga - Đại học Natal-Pietermaritzburg từ năm 1969 (Allan, 1968; Reim, 1991) Trường Đại học Natal (Allan, 1992) cũng đã khảo nghiệm trên các vùng sinh thái khác nhau, đã xác định được các giống lai không những cho sản lượng cao mà còn cho tỷ lệ nhân cấp I trên 90% (Allan, 2001) Nghiên cứu nhân giống sinh dưỡng cho Mắc ca bắt đầu được nghiên cứu ở Australia từ năm 1930 (Cheel và Morrison, 1935)
Nghiên cứu về bản đồ di truyền của lần đầu tiên đã được báo cáo và
xây dựng bản đồ di truyền cho một thành viên trong họ Proteaceae Các bản
đồ sẽ là cơ sở để tiếp tục lập bản đồ và sẽ tạo điều kiện cho việc xác định các gen vùng với các biểu hiện khác nhau về đặc điểm thông qua phân tích (Peace
và cs., 2003)
1.2.2 Nghiên cứu Mắc ca ở Việt Nam
Cây Mắc ca đã được Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện
Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam trồng thử tại Ba Vì năm 1994 Đến năm
1999 một số cây đã bắt đầu cho quả Năm 2009 có cây đã có 20 kg hạt
Đầu năm 2002 Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã nhập 12 dòng sai quả bằng cây ghép của Australia và Trung Quốc (Daddow, 246, 344, 294,
816, 849, 856, 741, NG8, 842, OC và A800) Năm 2003 – 2004 một số đơn vị khác đã nhập cây Mắc ca trồng thử nghiệm như ở Con Cuông (Nghệ An), Xí nghiệp giống cây lâm nghiệp Lạng Sơn, song tỷ lệ cây ra hoa và đậu quả không rõ ràng
Thông qua đề tài ” Khảo nghiệm giống và đánh giá khả năng thích nghi của Mắc ca ở Việt Nam ” giai đoạn 2002-2005 và 2006-2010, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã xây dựng một số khảo nghiệm giống trên một số vùng sinh thái, kết quả đánh giá bước đầu cho thấy :
Trang 14- Khảo nghiệm tại Krông Năng (Đắc Lắc) cho tỷ lệ đậu quả của từng dòng rất rõ rệt và cũng là nơi khảo nghiệm có tỷ lệ đậu quả cao nhất trong các địa điểm trồng khảo nghiệm, không những thế năng suất hạt còn cao hơn so với cây sản xuất nguyên sản tại Australia Sau 6,4 năm trồng các dòng Mắc ca trồng khảo nghiệm đều có tỷ lệ sống cao (87,5 - 100%) Tổng hợp các chỉ tiêu
về sinh trưởng và khả năng ra hoa và đậu quả, bước đầu có thể đánh giá các dòng 816, 849, 246, 741 và OC là thích hợp cho vùng Krông Năng (Đắc Lắc)
và những vùng có điều kiện khí hậu và đất đai tương tự như ở Krông Năng (Đắc Lắc)
- Khảo nghiệm tại Mai Sơn (Sơn La) cây Mắc ca sinh trưởng, phát triển tốt, song ra hoa chậm hơn so với các khảo nghiệm ở các vùng cùng tuổi và đậu quả ít Tuy nhiên đến năm 2011 các dòng Mắc ca tại Mai Sơn đã ra hoa kết quả tốt, trong đó 2 dòng OC và 246 có sản lượng hạt cao nhất đạt từ 5,6 – 6,2 kg/cây
- Tại Ba Vì, trên điều kiện đất đồi thoái hóa mạnh, tầng đất mỏng, nhiều đá lẫn nhưng do áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tốt nên cây vẫn sinh trưởng phát triển tương đối tốt Tuy vậy, sản lượng hạt năm 2010 rất thấp, dòng cao nhất chỉ đạt 1,4 kg/cây (Nguyễn Đình Hải, 2010) mặc dù vẫn
có sự sai khác khá rõ giữa các dòng Năm 2011, các dòng đều đã có hạt trong
đó 3 dòng OC, 246 và 816 có sản lượng cao nhất đạt từ 4,7 đến 6 kg/cây
- Khảo nghiệm tại Đồng Hới (Quảng Bình), cây sinh trưởng phát triển tốt, ra nhiều hoa và đậu quả tốt, song do ảnh hưởng của nắng, nóng kéo dài nhiều ngày làm ảnh hưởng đến tỷ lệ rụng quả, do vậy kết qủa đậu quả là không cao
Năm 2011 và năm 2013 Viện Nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp đã công nhận được 3 giống quốc gia gồm : OC, 246 và 816 cho các tỉnh Tây Nguyên, Tây Bắc và Trung du phía bắc (theo quyết định số 65/QĐ-BNN-TCLN ngày 11 tháng 01 năm 2013) và 3 giống tiến bộ kỹ thuật
Trang 15Daddow và 842 cho vùng Trung du miền bắc (theo quyết định số BNN-TCLN ngày 11 tháng 01 năm 2013) và 849 cho vùng Tây Nguyên (theo quyết định số 2040/QĐ-BNN-TCLN ngày 01 tháng 09 năm 2011)
65/QĐ-Trong những năm gần đây một số cơ sở khác cũng bắt đầu trồng thử cây Mắc ca trên một số vùng như: Viện KHKT Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên, Con Cuông (Nghệ An), Sơn La, Điện Biên, Lạng Sơn.v.v…
Viện KHKT Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên - thuộc Viện KH Nông nghiệp Việt Nam, đã có một đề tài nghiên cứu về cây Mắc ca „ Nghiên cứu chọn lọc các giống Mắc ca thích hợp điều kiện Tây Nguyên và khả năng phát triển cây Mắc ca bằng phương thức trồng xen‟ Do ThS Trần Vinh làm chủ nghiệm đề tài đã nhập bộ giống Trung Quốc từ Xí nghiệp giống cây lâm nghiệp Lạng Sơn gồm: H2, 508, OC, 344, 814 và bộ giống từ Thái Lan gồm: H2, 508, 246, 344, 741, 660 Kết quả nghiên cứu của Viện KHKT Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên cho thấy tại Gia Lai tỷ lệ rụng quả non rất nhiều mặc dù
bộ giống khảo nghiệm nhập nội từ Trung Quốc đã trên 6 tuổi, số lượng quả non rụng tại Gia Lai chủ yếu vào tháng 3 và kéo dài cho đến tháng 5, khi đó
số lượng quả còn trên cây còn rất ít (Trần Vinh và cs., 2009)
Năm 2006 dự án xây dựng vườn ươm và tập huấn nhân giống Mắc ca
có năng suất cao cho 3 tỉnh miền Bắc (Hoà Bình, Hà Tây và Lạng Sơn) do Trung tâm Du lịch Sinh thái Hội KHKTLN Việt Nam phối hợp với ACIAR
có sự tham gia của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng, đã được thực hiện
Năm 2011 Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Nông Lâm Sản chế biến – Tổng công ty rau quả nông sản đã công nhận được 4 giống tiến bộ kỹ thuật gồm : 482, 741, 800, 900 (theo quyết định số 2039/QĐ-BNN-TCLN ngày 01 tháng 09 năm 2011) vùng áp dụng Trạm Cankina Ba Vì- Hà Nội và những nơi
có điều kiện sinh thái tương tự
Trang 16Phần 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Vị trí địa lý
Huyện Thạch Thành là huyện miền núi phía tây bắc của tỉnh Thanh Hóa
+ Phía bắc giáp huyện Nho Quan (tỉnh Ninh Bình)
+ Phía tây giáp huyện Cẩm Thuỷ và huyện Bá Thước
+ Phía nam giáp huyện Vĩnh Lộc
+ Phía đông giáp huyện Hà Trung
2.2 Khí hậu đất đai
Tại Thạch Thành, Thanh Hóa: địa hình là đồi, có độ dốc vừa phải (dưới 300) cao dưới 800m so với mặt biển; nơi đất bằng, chân đồi hoặc sườn thoải Đất feralit phát triển trên đá Poocphia, đá vôi, phiến thạch, phyllit hoặc phù sa nặng đến sét pha trung bình; độ ẩm 80-90% độ ẩm lớn nhất ngoài đồng; mầu đất thường là vàng hoặc vàng đỏ; pH (H2O) = 4,6-7; hàm lượng P2O5 và
K2O dễ tiêu thường nghèo; hàm lượng chất hữu cơ trong đất thấp
Bảng 3.1.Đặc điểm khí hậu vùng khảo nghiệm Địa điểm
khảo
nghiệm
Lượng mưa (mm)
Tháng mưa (100 mm)
Lượng bốc hơi
mm
Nhiệt độ ( 0C ) Trung
bình năm
Trang 17PHẦN 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được sinh trưởng và năng suất quả của một số dòng Mắc ca
được khảo nghiệm ở Thạch Thành – Thanh hoá từ đó lựa chọn được các dòng
có triển vọng để gây trồng
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá sinh trưởng của các dòng Mắc ca
- Đánh giá sản lượng quả của các dòng Mắc ca
- Đánh giá tỉ lệ cây ra quả của các dòng Mắc ca
3.3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Gồm 24 dòng Mắc ca : 238, DC,
A38, 849, QN, A16, 741, 900, A4,334, 695, 814, 816, 842, 856, DAD, 0C, A800, 246,788, BB5, BV5, NG8 và đối chứng (ĐC) là cây hạt
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Đề tài kế thừa hiện trường nghiên cứu đã có do Viện Nghiên cứu Giống
và Công nghệ sinh học thực hiện để triển khai các nội dung nghiên cứu Khảo nghiệm được thiết kế theo khối ngẫu nhiên không đầy đủ 3cây/CT, 4 lần lặp
- Chiều cao vút ngọn (Hvn): đo từ gốc sát mặt đất tới đỉnh ngọn chính
- Đường kính gốc (Do): đo tại vị trí cách mặt đất 5 cm
- Đường kính tán (Dt): đo theo hai chiều Đông Tây - Nam Bắc, sau đó lấy giá trị trung bình
Trang 18- Dụng cụ đo đường kính và chiều cao chuyên dùng
0 Trong đó: Xi là giá trị quan sát của mẫu i
+ Sai tiêu chuẩn mẫu Sx =
) ( x x
Qxy
. Trong đó:
+ Qx = x2 - (x)2 /n, Qy = y2 - (y)2 /n
+ x và y là 2 đại quan sát từng cặp ở mẫu
Qui ước trị tuyệt đối của r (Nguyễn Hải Tuất và Nguyễn Trọng Bình, 2005)[32] như sau:
0 r < 0,3 Tương quan yếu
0,3 r < 0,5 Tương quan vừa phải
0,5 r < 0,7 Tương quan tuơng đối chặt
0,7 r < 0,9 Tương quan chặt