Để làm phong phú bộ giống gà đang nuôi ở Việt Nam hiện nay, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu chọn lọc, nhân thuần, nâng cao năng xuất chất lượng một số giống gà nội hướ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGUYỄN XUÂN QUANG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG
VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA GÀ LAI F1 (TRỐNG ĐÔNG TẢO ×××× MÁI LƯƠNG PHƯỢNG)
NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60-62-40
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn: TS Trần Trang Nhung
PGS TS Hoàng Toàn Thắng
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, tôi
đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm, khoa Sau đại học, tập thể các thầy cô giáo và các
em sinh viên khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các hộ chăn nuôi đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn này
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn: TS Trần Trang Nhung; PGS TS Hoàng Toàn Thắng
Sự quan tâm động viên giúp đỡ tạo điều kiện của lãnh đạo Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Đồng Hỷ, lãnh đạo và cán bộ công chức phòng Nông nghiệp và PTNT cơ quan tôi đang công tác, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp để tôi hoàn thành nhiệm vụ công tác, học tập và luận văn tốt nghiệp./
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Xuân Quang
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu và kết quả trong được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa được bảo vệ ở một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trích dẫn trình bày trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Người cam đoan
Nguyễn Xuân Quang
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.1.1 Cơ sở khoa học của di truyền các tính trạng 4
1.1.2 Cơ sở khoa học nghiên cứu khả năng sinh trưởng 7
1.1.3 Cơ sở khoa học nghiên cứu khả năng cho thịt và chất lượng thịt 15
1.1.4 Cơ sở khoa học nghiên cứu mức độ tiêu tốn thức ăn 18
1.1.5 Sức sống và khả năng đề kháng bệnh tật 20
1.1.6 Cơ sở khoa học nghiên cứu về ưu thế lai 22
1.1.7 Cơ sở khoa học của nghiên cứu sự thích nghi của vật nuôi 23
1.1.8 Đánh giá sức sản xuất của vật nuôi 25
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 26
1.3 Giới thiệu về đối tượng nghiên cứu 30
1.3.1 Giống gà Lương Phượng 30
1.3.2 Giống gà Đông Tảo 31
Chương II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu 33
2.2 Thời gian nghiên cứu 33
2.3 Nội dung nghiên cứu 33
2.4 Phương pháp nghiên cứu 33
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 33
2.4.2 Phương pháp mổ khảo sát thân thịt 37
2.4.3 Phương pháp phân tích chất lượng thịt gà thí nghiệm 37
2.5 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 38
2.5.1 Tỷ lệ nuôi sống 38
2.5.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng 38
2.5.3 Các chỉ tiêu về hiệu quả thức ăn 39
2.5.4 Chỉ số sản xuất (PN): 40
Trang 52.5.5 Chỉ số kinh tế (EN) 40
2.5.6 Các chỉ tiêu sản xuất gà thí nghiệm 40
2.5.7 Hiệu quả nuôi gà thí nghiệm 42
2.6 Phương pháp sử lý số liệu: 42
Chương III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 Tỷ lệ nuôi sống 43
3.2 Kết quả theo dõi khả năng sinh trưởng và cho thịt 45
3.2.1 Sinh trưởng tích luỹ 45
3.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối 48
3.2.3 Sinh trưởng tương đối 51
3.3 Các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng thức ăn 53
3.3.1 Lượng thức ăn ăn được hàng ngày 53
3.3.2 Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng 55
3.3.3 Tiêu tốn Protein thô (CP) và NLTĐ (ME) 57
3.4 Đánh giá chỉ số sản xuất (PN) 60
3.5 Đánh giá chỉ số kinh tế (EN) 62
3.6 Đánh giá khả năng cho thịt 63
3.7 Chất lượng thịt của gà thí nghiệm 65
3.8 Đánh giá tuổi giết mổ thích hợp 65
3.9 Sơ bộ hạch toán kinh tế 68
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tổng hợp một số công trình lai tạo gà đã công bố ở nước ta 27
Bảng 1.2 Khả năng sản xuất của một số giống gà lai F1 28
Bảng 2.1: Tiêu chuẩn ăn của gà lông màu 34
Bảng 2.2 Giá trị dinh dưỡng của thức ăn nuôi gà thí nghiệm 35
Bảng 2.3 Lịch sử dụng vacxin cho gà thí nghiệm 36
Bảng 3.1 Kết quả theo dõi tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi (%) 44
Bảng 3.2 Kết quả theo dõi khả năng sinh trưởng tích luỹ (g/con) 46
Bảng 3.3: Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (g/con/tuần) 49
Bảng 3.4: Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm (%) 51
Bảng 3.5 Khả năng tiêu thụ thức ăn (g/con/ngày) 54
Bảng 3.6 Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng (kg) 56
Bảng 3.7 Mức độ tiêu tốn protein/kg tăng khối lượng (g/kg) 58
Bảng 3.8 Tiêu tốn năng lượng/kg tăng khối lượng (Kcal) 59
Bảng 3.9 Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm 61
Bảng 3.10 Chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm 62
Bảng 3.11 Kết quả mổ khảo sát gà thí nghiệm 64
Bảng 3.12 Kết quả phân tích thành phần hóa học của thịt 65
Bảng 3.13 Sơ bộ hạch toán kinh tế 68
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Ảnh gà Lương Phượng và gà Đông Tảo 32
Hình 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 33
Hình 3.1 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm 48
Hình 3.2 Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 51
Hình 3.3 Đồ thị sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 53
Hình 3.4 Biểu đồ chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm (PN) 61
Hình 3.5 Biểu đồ biểu diễn chỉ số kinh tế (EN) 63
Trang 8CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
EN : Chỉ số kinh tế
LP : Gà Lương Phượng Kcal : Kilocalo
KL : Khối lượng
ME : Năng lượng trao đổi
mx : Sai số của số trung bình NXB : Nhà xuất bản
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi gia cầm chiếm một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi trên thế giới và Việt Nam, cung cấp nguồn protein động vật dồi dào cho con người Gia cầm chiếm 20 - 25% tổng sản phẩm thịt trên thế giới, ở các nước phát triển tỷ lệ thịt gia cầm chiếm 30% hoặc hơn nữa Mức sản xuất và tiêu thụ thịt và trứng gia cầm không ngừng tăng qua các năm
Trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm có tốc độ sinh trưởng nhanh và bền vững với giá trị sản xuất lớn Ngành chăn nuôi đạt 9.059,8 tỷ đồng năm 1986 và tăng lên 21.199,7 tỷ đồng năm 2002 chiếm 17,8 - 21,2% giá trị sản xuất nông nghiệp, năm 2009 đạt 110.311,6 tỷ đồng đạt 26,9% Chăn nuôi gia cầm có giá trị sản xuất 1.701 tỷ đồng năm 1986 tăng lên 3.712,8 tỷ đồng năm 2002, chiếm 18 - 19% trong chăn nuôi
Tổng đàn gia cầm năm 1986 có 99,9 triệu con, đến 2003 có 254 triệu con (gà 185 triệu con) tốc độ tăng bình quân 7,85%/năm Từ 1990 đến 2003 tổng đàn gia cầm tăng từ 80,18 triệu con lên 185 triệu con Năm 2009 tổng đàn gia cầm đạt 280,18 triệu con (Phùng Quang Tiến, Hoàng Văn Lộc, Nguyễn Quý Khiêm, 2010)[55]
Ngành chăn nuôi gia cầm hiện nay ở nước ta đang phát triển mạnh theo
2 hướng chăn nuôi chính:
+ Chăn nuôi công nghiệp: Sử dụng các giống chuyên dụng cao sản, nuôi thâm canh nhằm tạo ra sản lượng thịt, trứng cao nhất, chăn nuôi hiệu quả trong thời gian ngắn nhất, chăn nuôi công nghiệp ước tính đạt khoảng 18 - 20% tổng sản phẩm gia cầm
+ Chăn nuôi theo hình thức bán công nghiệp, trang trại nông lâm kết hợp, chăn nuôi thả vườn, chăn nuôi truyền thống trong nông hộ quy mô nhỏ lẻ, tận dụng nguồn thức ăn rẻ tiền và điều kiện tự nhiên sẵn có tạo sản phẩm thịt chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
Chăn nuôi gia cầm trong nông hộ tại các tỉnh miền núi và trung du phía Bắc nói chung và tại Thái Nguyên nói riêng những năm gần đây đã có nhiều thay đổi đáng kể, các hộ chăn nuôi đã tận dụng những điều kiện tự nhiên sẵn
có chăn nuôi gà theo hướng bán chăn thả, chăn nuôi theo quy mô vừa và nhỏ
Trang 10với số lượng từ 500 - 2.000 con/hộ Thu nhập từ chăn nuôi gia cầm không ngừng tăng qua các năm Qua khảo sát trên địa bàn ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên cho thấy chăn nuôi gia cầm đã có nhiều chuyển biến tích cực, tuy nhiên bên cạnh một số ít trang trại chăn nuôi quy mô lớn, chăn nuôi công nghiệp với số lượng 4.000 - 8.000con/lứa thì hầu hết gia cầm vẫn được chăn nuôi theo phương thức chăn thả và bán chăn thả, quảng canh tự nhiên là chính trong các hộ nông dân (đặc biệt ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa) Nguồn cung cấp con giống cho các phương thức chăn nuôi này hầu hết là các giống nội địa
và một có phần nhỏ là gà lai giữa gà nội địa và gà lông màu nhập nội Hầu hết các giống gà ta năng suất thấp, sức đẻ kém, sinh trưởng chậm, thời gian nuôi kéo dài đã làm giảm hiệu quả chăn nuôi gà trong nông hộ
Để làm phong phú bộ giống gà đang nuôi ở Việt Nam hiện nay, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu chọn lọc, nhân thuần, nâng cao năng xuất chất lượng một số giống gà nội hướng thịt và tìm các công thức lai giữa chúng với các giống gà lông màu nhập nội khác nhằm khai thác các đặc tính quý của cả bố và mẹ, nâng cao hơn nữa hiệu quả chăn nuôi gà thả vườn nhằm khai thác các điều kiện của hộ gia đình ở nông thôn nhất là nông thôn vùng trung du miền núi nơi còn nhiều điều kiện về đất đai, môi trường nhưng vẫn chủ yếu duy trì chăn nuôi gà thịt ở quy mô nhỏ và vừa Một số công thức lai tạo đã được nghiên cứu và ứng dụng trong thực tiễn đạt hiệu quả cao: Trống Ri x mái Lương Phượng (Nguyễn Huy Đạt, 2005)[7]; lai giữa gà Ri với gà
Ai Cập; (Nguyễn Huy Đạt, 2006)[5]; trống Ri x mái Lương Phượng và trống Lương Phượng x mái Ri (Phùng Hữu Trung, 2004)[44], Các giống gà lai trên hầu hết đã được người chăn nuôi tiếp nhận và khai thác
Vừa qua Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi - Viện Chăn nuôi
- đưa vào nghiên cứu cặp lai giữa gà bố Đông Tảo và gà mẹ Lương Phượng, các kết quả khảo sát ban đầu cho thấy đây là cặp lai có triển vọng tốt Việc thử nghiệm cặp lai này trong các điều kiện sinh thái khác nhau cũng như các phương thức chăn nuôi khác nhau là cần thiết để kết luận về giá trị của nó
Từ những nhu cầu thực tế trên chúng tôi tiến hành xây dựng đề tài
“Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của gà lai F1 (trống Đông Tảo × mái Lương Phượng) nuôi tại Thái Nguyên”
Trang 112 Mục đích của đề tài:
+ Nghiên cứu đánh giá khả năng sản xuất và hiệu quả kinh tế của gà lai F1 (trống Đông Tảo x mái Lương Phượng) nuôi thịt qua 2 phương thức nuôi bán chăn thả và nuôi nhốt tại các hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
+ Đề tài được thực hiện là cơ sở thực tiễn bổ xung cho quy trình chăn nuôi gà lai F1 (trống Đông Tảo x mái Lương Phượng) theo phương thức bán chăn thả và nuôi nhốt trong nông hộ tại tỉnh Thái Nguyên, đồng thời là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm đánh giá những công thức lai mới trong nghiên cứu và sản xuất
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
*Ý nghĩa hoa học:
Đây là hình thức lai giữa giống gà nội có xu hướng thịt (gà Đông Tảo) với giống gà Lương Phượng là giống nhập nội đã thích nghi với điều kiện chăn nuôi tại Việt Nam, con lai được sinh ra có các đặc điểm nổi bật của giống gà Lương Phượng: Lớn nhanh, khả năng sinh sản tốt, độ đồng đều cao, đồng thời phát huy được những đặc điểm quý của giống gà Đông Tảo: Khối lượng cơ thể lớn, thịt thơm ngon, thích nghi cao với các điều kiện khí hậu ở nước ta Việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà lai F1 này trong điều kiện chăn nuôi thực tế tại nông hộ là cần thiết, góp phần quan trọng nhằm đánh giá đặc tính di truyền, khả năng thích nghi và tiềm năng năng suất của giống trong điều kiện thực tế sản xuất tại địa phương, bổ xung vào cơ cấu giống và tăng cơ hội lựa chọn con giống cũng như phương thức chăn nuôi gia cầm ở nông hộ phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại địa phương
*Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu sẽ khẳng định chất lượng giống, khả năng thích nghi, giá trị kinh tế của phẩm giống từ đó bổ xung quy trình chăn nuôi và thời điểm giết mổ hợp lý áp dụng cho các cơ sở, hộ gia đình chăn nuôi gà theo phương thức bán chăn thả và nuôi nhốt nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị, góp phần nâng cao giá trị chăn nuôi
Trang 12Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Cơ sở khoa học của di truyền các tính trạng
Di truyền học là bộ môn khoa học nghiên cứu các quy luật di truyền của thế giới sinh vật và là cơ sở quan trọng của lý thuyết nhân giống hiện đại
Áp dụng các quy luật di truyền vào thực tiễn chọn giống và sản xuất đã giúp cho người chăn nuôi nâng cao năng suất, cải tiến và hoàn thiện các giống hiện
có cũng như chọn tạo và tìm ra các giống mới với những đặc tính nổi bật phù hợp với nhiều mục đích chăn nuôi
Nghiên cứu của các nhà khoa học đã cho thấy quy luật di truyền của Menden không chỉ đúng với giới thực vật mà còn đúng với cả giới động vật, việc nghiên cứu và ứng dụng các quy luật di truyền trong chọn tạo giống đã tạo ra nhiều giống vật nuôi mới, phương thức chăn nuôi mới có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu và sản xuất, không ngừng nâng cao sức sản xuất của gia cầm, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của con người
1.1.1.1 Sự di truyền các tính trạng số lượng
Di truyền là quá trình chuyển những tính trạng của cha mẹ cho con cái Theo các tác giả Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc (1998)[30] thì phần lớn các tính trạng kinh tế của vật nuôi đều là các tính trạng số lượng, sự thay đổi các tính trạng đó trong quá trình tiến hoá của sinh vật cũng phần lớn
là sự thay đổi của các tính trạng số lượng Khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới sự di truyền các tính trạng số lượng và biến dị của chúng các tác giả
đã kết luận: Kiểu hình của một cá thể hình thành liên quan đến nhiều yếu tố, chúng liên quan mật thiết với nhau và được biểu thị bằng công thức sau:
P = A + D + I + Eg + Es Trong đó:
P : Giá trị kiểu hình (Phenotyp Value)
Trang 13A : Giá trị cộng gộp (Additive Value)
D : Giá trị sai lệch trội (Dominance Value)
I : Sai lệch tương tác hay sai lệch át gen (Epistatic deviation)
Eg : Sai lệch môi trường chung (General enviromental diviation)
Es : Sai lệch môi trường riêng (Special enviromental diviation)
Từ công thức này ta thấy năng suất của giống vật nuôi sẽ được thể hiện
ở đời sau phụ thuộc rất lớn vào yếu tố di truyền hay kiểu gen (G = A + D + I)
và điều kiện ngoại cảnh tác động, đó là các giá trị kiểu hình của bố và mẹ được di truyền lại cho con cái Nghiên cứu các tính trạng di truyền mong muốn có được của con lai đáp ứng nhu cầu từng loại hình chăn nuôi, tạo ra các giống vật nuôi mới phù hợp, … đây là cơ sở khoa học của việc thiết lập các công thức lai giữa các giống nhằm tạo ra con lai có nhiều ưu điểm, phục
vụ chăn nuôi ở các điều kiện ngoại cảnh khác nhau
1.1.1.2 Sự di truyền hình dạng mào
Mào của gia cầm mang đặc điểm chung của giống, các giống gà khác nhau có tỷ lệ các hình dạng mào khác nhau Trong quá trình thuần hoá các
nghiên cứu đã chỉ ra rằng: từ mào đơn của gà rừng Bankiva đã đột biến sang
các dạng khác như mào lá, mào hoa hồng, mào hạt đậu, mào hồ đào (óc chó) mào lá được quy định bởi alen lặn của gen r, còn mào hoa hồng là do gen trội R của nó quy định Mào hạt đậu được hình thành từ 3 hàng hạt, nó được quy định từ alen trội không hoàn toàn của gen P
Mào hoa hồng gặp ở một số giống gà Trung Quốc, Ấn Độ và các giống
gà Châu Á khác Khi lai gà có mào hoa hồng với gà có mào đơn thì nhận được sự phân ly với mào lá và mào hạt đậu Khi lai gà có mào hoa hồng với
gà có mào hạt đậu, tất cả gà con ở thế hệ thứ nhất (F1) đều có mào hạt đậu Ở thế hệ thứ hai (F2) xuất hiện gà có mào lá Hiện tượng đó được giải thích trên
cơ sở di truyền theo phương thức sau đây: Bố mẹ có dạng mào hoa hồng với kiểu gen RRpp, còn gà có mào lá có kiểu gen rrPP Thế hệ F1 tồn tại kiểu gen của bố và mẹ RrPp - nó quy định dạng mào hạt đậu Ở F2 phân ly theo tỷ lệ 9
Trang 14hạt đậu (R và P), 3 hoa hồng (p và R), 3 hạt đậu (P và r) và 1 mào lá (rrpp) (Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Minh Hoàn, Lê Đình Phùng, 2006)[11]
1.1.1.3 Sự di truyền liên kết giới tính
Đặc điểm di truyền quy định giới tính ở gia cầm khác với các loài gia súc là con trống mang gien đồng hợp tử (XX), con mái mang gen dị hợp tử (XY) Những công trình nghiên cứu về sự di truyền các tính trạng liên kết với giới tính hoặc những tính trạng bị hạn chế bởi giới tính đã được áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi gia cầm như việc chọn tạo ra các giống gà có thể phân biệt được giới tính ở 01 ngày tuổi qua sự phân ly của màu sắc lông khi cho lai các dòng gà khác nhau Một số trường hợp lai khác cho kết quả di truyền tính trạng mọc lông ở gà con liên kết với giới tính, qua đó có thể phân biệt được giới tính thông qua quan sát tốc độ mọc lông ở gia cầm trong thời gian rất sớm
Nghiên cứu sự di truyền các tính trạng liên kết với giới tính có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn, giúp cho người chăn nuôi định hướng sản xuất, giảm chi phí đầu tư, chủ động trong xây dựng kế hoạch chăn nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế
1.1.1.4 Sự di truyền màu sắc lông
Màu sắc lông của gia cầm mang tính di truyền cao, màu sắc của bộ lông gia cầm có thể chia thành 2 nhóm: lông có màu và lông trắng Bộ lông màu là một tính trạng được thể hiện bởi ký hiệu C (Colour), bộ lông đen là chủ yếu ở gia cầm được thể hiện bằng gen E (Entarsion) Điều khiển màu của các vằn trên lông là alen B Màu đen của lông cũng như các màu khác được quy định bởi các sắc tố melanin và xantophin (ở gia súc chỉ có melanin), xantophin chỉ nằm trên da Những con có màu sắc vàng ở da, mỏ, chân đều
có đồng hợp thể theo gen W - gen điều khiển sự phân bố xantophin Màu vàng sáng được quy định bởi alen lặn s; màu sắc bạc do gen trội S (Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Minh Hoàn, Lê Đình Phùng, 2006)[11]
Trang 151.1.2 Cơ sở khoa học nghiên cứu khả năng sinh trưởng
1.1.2.1 Khả năng sinh trưởng
Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa,
là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn
bộ cơ thể của con vật trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước Qua đó ta có thể nói sinh trưởng như là kết quả của sự tác động tương hỗ của các hệ thống
tổ chức và chức năng của cơ thể Sinh trưởng là tổng thể của các quá trình xảy
ra đồng thời của việc tăng lên về mặt số lượng, thể tích bề mặt và kích thước, khối lượng của từng phần cũng như toàn bộ cơ thể con vật
Theo Nguyễn Đức Hưng và CS (2006)[11] Từ các kết quả nghiên cứu thực tiễn, tác giả Lee (1898) cho rằng sinh trưởng bao gồm các quá trình: tế bào phân chia, thể tích tăng lên và hình thành các chất giữa các tế bào mà hai quá trình đầu là quan trọng nhất
Somangaozen (1935) cho rằng: “Sự phát triển của cơ thể sống là ở chỗ tăng lên về khối lượng của các phần hoạt động trong cơ thể, từ đó mà năng lượng tự do trong cơ thể tăng lên Sự phát triển được thực hiện qua việc tăng lên các chiều, sự sinh sản của tế bào và các chất khác giữa các tế bào” Quá trình sinh trưởng phát triển của cơ thể động vật là kết quả của diễn biến sự trao đổi chất bên trong cơ thể trên cơ sở dinh dưỡng được cung cấp bởi thức
ăn Từ quá trình trao đổi chất mà tế bào có thể sinh sôi nảy nở, chuyển hóa và hình thành các chất mới, đồng thời các chất giữa các tế bào hình thành tăng thêm cả về số lượng và khối lượng Đây là cơ sở của sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể động vật
Gatner (1922) cho rằng: Quá trình sinh trưởng trước hết là do kết quả của phân chia tế bào, tăng thể tích của tế bào tạo nên sự sống Như vậy sự sinh trưởng của sinh vật phải thông qua 3 quá trình:
- Phân chia tế bào bằng hình thức nguyên nhiễm để tăng số lượng
tế bào
Trang 16- Tăng thể tích của tế bào bằng quá trình sinh tổng hợp các chất trong tế bào, đặc biệt là quá trình sinh tổng hợp protein xảy ra tại riboxom
- Tăng thể tích giữa các tế bào bằng cách tăng cường tổng hợp các chất gian bào
Cơ sở của quá trình sinh trưởng gồm hai quá trình chính: tế bào sinh sản và phát triển, trong đó phần lớn là do sự phát triển của tế bào, vì nếu chỉ
có sinh sản mà các tế bào con không lớn dần lên, không tăng dần khối lượng thì không thể tăng khối lượng của toàn cơ thể (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992)[23]
Qua nghiên cứu Davenport (1899) khẳng định: Sự sinh trưởng của cơ thể là tăng thể tích, đây không phải là phát triển và phát dục Ðây cũng không phải là tăng khối lượng, mặc dù tăng khối lượng là một đặc trưng của sinh trưởng Sinh trưởng tức là tăng các chiều do hình thành các chất mới qua sự tổng hợp của plasma - tức là nguồn nguyên liệu của đồng hóa - hoặc sự sinh trưởng cũng có thể thực hiện được qua sự hấp thu Sự tăng lên này có thể nhất thời hoặc cũng có thể mãi mãi (Theo Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Minh Hoàn, Lê Đình Phùng, 2006)[11]
Như vậy, có thể khẳng định về mặt sinh học sự sinh trưởng được xem như là một sự gia tăng tổng hợp protein, vì vậy khi nghiên cứu về chỉ tiêu sinh trưởng các nhà khoa học thường tìm hiểu việc tăng khối lượng, lấy khối lượng làm chỉ tiêu nghiên cứu Tăng trưởng thực sự là các tế bào mô cơ có tăng thêm khối lượng, số lượng và kích thước các chiều
1.1.2.2 Quy luật sinh trưởng theo giai đoạn
Sinh trưởng là sự lớn lên của cơ thể sinh vật, đây là quá trình sinh lý hết sức phức tạp và diễn biến theo một quy luật nhất định Quá trình này không diễn ra đồng đều và liên tục qua các giai đoạn mà có sự tăng lên và giảm đi theo các giai đoạn của quá trình sống của cơ thể sinh vật
Các tác giả Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Minh Hoàn, Lê Đình Phùng, (2006)[11] trích kết quả các công trình nghiên cứu cho thấy rằng sự sinh
Trang 17trưởng phát triển của gia súc tuân theo một quy luật với từng giai đoạn nhanh chậm khác nhau:
Tác giả A.F Midedorpher (1867), đã phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của gia súc, ông cho rằng gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó sự tăng khối lượng giảm dần theo từng tháng tuổi
D.A Kislowski (1930) nhấn mạnh rằng: thời gian của các giai đoạn kéo dài hay ngắn, số lượng giai đoạn, sự đột biến trong sinh trưởng của từng giống, từng cá thể đều có khác nhau trong phạm vi giống đó
K.B Xvesin (1952) khi nghiên cứu cường độ sinh trưởng của các bộ phận bên trong cơ thể ở thời kỳ bào thai, chia quá trình sinh trưởng thành hai giai đoạn: giai đoạn đầu phân hóa sinh trưởng mạnh hơn, giai đoạn thứ hai tăng cường sinh trưởng Mỗi giai đoạn lớn lại chia thành các giai đoạn nhỏ tăng cường phân hóa và tăng cường sinh trưởng
Khả năng sinh trưởng không đồng đều của vật nuôi được thể hiện bằng đường cong sinh trưởng Khi nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của gà thịt, Chambers (1990)[62] kết luận: đường cong sinh trưởng của gà thịt gồm pha sinh trưởng có tốc độ nhanh diễn ra từ sau khi nở, đến khi con vật đạt tốc độ sinh trưởng cao nhất và pha sinh trưởng có tốc độ chậm kéo dài từ giai đoạn
kế tiếp, đến khi con vật tiếp cận với giá trị trưởng thành
Các tác giả Phùng Đức Tiến (1996)[35]; Trần Long (1994)[22]; Nguyễn Đăng Vang (1983)[48], khi nghiên cứu đường cong sinh trưởng của các đối tượng gà thịt Hybro HV85, các tổ hợp lai gà Broiler hướng thịt Ross-
208 và HV85, ngỗng Rheinland cũng cho kết quả tương tự
Như vậy, tính giai đoạn của sự phát triển trong cơ thể không phải do một mà nhiều yếu tố ảnh hưởng (sự phân hóa, trao đổi chất, nội tiết, nuôi dưỡng ) Hơn nữa, các yếu tố đó trở thành một hệ thống phức tạp trong quá trình phát triển, ở giai đoạn này có yếu tố này mạnh hơn, ở giai đoạn khác yếu
tố khác có thể mạnh hơn
Trang 181.1.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng
*Ảnh hưởng của dòng, giống
Yếu tố di truyền có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của sinh vật nói chung, các dòng trong một giống, các giống khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau Trong chăn nuôi gia cầm, các dòng gà khác nhau khả năng sản xuất và cho thịt không giống nhau, các giống gà chuyên thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn các giống gà chuyên trứng và kiêm dụng
Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự (1994)[10], cho biết: sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500 - 700g
Trần Long (1994)[22], đã nghiên cứu tốc độ sinh trưởng trên 3 dòng thuần (dòng V1, V3, V5) của giống gà Hybro HV85 cho thấy tốc độ sinh trưởng 3 dòng hoàn toàn khác nhau ở 42 ngày tuổi
Theo Nguyễn Thị Khanh, Trần Công Xuân và cộng sự (2000)[16], nghiên cứu sinh trưởng trên dòng gà kiêm dụng 882 của giống gà Tam Hoàng cho thấy cơ thể đạt 1.557,83g/con ở 12 tuần tuổi
Theo Phùng Đức Tiến (1996)[35], đối với gà Hybro HV85 ở 56 ngày tuổi khối lượng cơ thể đạt 1.915,38g/con
Tác giả Nguyễn Đăng Vang và đồng sự (2001)[50] nghiên cứu ở một
số công thức lai cho kết quả:
- Dùng trống gà Mía lai với gà mái Kabir tạo con lai F1 MK lúc 12 tuần tuổi đạt khối lượng cơ thể 1.820g, tỷ lệ nuôi sống 90%, tiêu tốn thức ăn để sản xuất 1kg thịt từ 2,82 - 3,0kg Nuôi ở cả 2 phương thức nuôi bán chăn thả và chăn thả đều có hiệu quả
- Dùng trống gà Kabir lai với mái Ri, gà lai F1 nuôi đến 12 tuần tuổi đạt 1.720g/con, tỷ lệ nuôi sống 92% và tiêu tốn 3,17kg thức ăn để sản xuất 1kg thịt
- Dùng gà trống Kabir lai với gà mái Tam Hoàng và ngược lại dùng gà trống Tam Hoàng lai với mái Kabir cũng cho kết quả rất tốt, con lai F1 đạt khối lượng cơ thể lúc 12 tuần tuổi là 2.200 - 2.399g Dùng gà Kabir lai với
Trang 19Tam Hoàng Jiangcun cũng cho kết quả tương tự Đặc biệt công thức lai giữa
gà Kabir lai với gà Lương Phượng được hầu hết các vùng trong cả nước chấp nhận Công thức lai giữa Kabir với gà Ri được miền Trung (Huế, Đà Nẵng)
và miền Bắc ưa chuộng Các tổ hợp lai này đã được phổ biến rộng rãi và được người chăn nuôi rất ưa chuộng
Nhiều đề tài cũng nghiên cứu chọn tạo ra tổ hợp lai gà thương phẩm kiêm dụng thịt trứng để phù hợp với những người nuôi cần sản xuất trứng từ
gà chăn thả Tổ hợp lai trống Rhode Ri lai với mái Tam Hoàng, trống Rhode
Ri lai với mái Jiangcun đều cho sản lượng trứng từ 123-189 quả/năm, cao hơn 30% so với gà Ri và gà Tàu vàng song nếu nuôi thịt cũng rất tốt, đến 12 tuần tuổi gà đạt 1.300-1.750g, tỷ lệ nuôi sống cao, tiêu tốn ít thức ăn hơn so với các giống gà nội
Trần Thanh Vân (2002)[49], nghiên cứu khả năng sinh trưởng của gà Kabir, Lương Phượng và gà Sasso cho kết quả khối lượng cơ thể ở 10 tuần tuổi đạt lần lượt là 1.990,28g/con, 1.993,27g/con và 2.189,29g/con
Đặc tính di truyền của dòng, giống là nhân tố quan trọng có liên quan mật thiết đến quá trình sinh trưởng và cho thịt của gà, đặc tính di truyền còn đặt ra giới hạn sinh trưởng mà mỗi dòng, mỗi giống có thể đạt được Căn cứ vào đó người chăn nuôi có thể lựa chọn chủng loại giống và đầu tư thâm canh hợp lý để đạt hiệu quả chăn nuôi cao nhất
*Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông
Tính biệt có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể của gia cầm, sự khác biệt đó do sự khác nhau của quá trình trao đổi chất
và đặc điểm sinh lý của cơ thể Theo Chambers J.R (1990)[62]: Gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái 24 - 32%, những sai khác này được quy định bởi các gen liên kết với giới tính Những gen này ở gà trống (nhiễm sắc thể giới tính XX) hoạt động mạnh hơn ở gà mái (nhiễm sắc thể giới tính XY)
Trang 20Trần Đình Miên (1994)[24] cho biết lúc gà mới nở gà trống có khối lượng nặng hơn gà mái 1%, sự sai khác này tăng dần theo lứa tuổi, ở tuần tuổi thứ 8 khối lượng gà trống cao hơn gà mái là 27%
Theo North và cộng sự (1990), lúc mới sinh gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau chênh lệch càng lớn: ở 2; 3 và 8 tuần tuổi sự khác nhau tương ứng là 5%, 11% và 27%
Tốc độ sinh trưởng của gà còn phụ thuộc vào tốc độ mọc lông Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã xác định, trong cùng một giống, cùng tính biệt thì gà có tốc độ mọc lông nhanh có tốc độ sinh trưởng và phát triển cao hơn Kushner K.F (1974), cho rằng tốc độ mọc lông có quan hệ chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng Thông thường gà lớn nhanh thì mọc lông nhanh và đều hơn ở gà chậm lớn Hayer và cộng sự (1970), đã xác định trong cùng một giống thì gà mái mọc lông đều hơn gà trống và tác giả cho rằng ảnh hưởng của hormon có quan hệ ngược chiều với gen liên kết giới tính quy định tốc độ mọc lông Siegel và Dumington (1978), cho rằng những alen quy định mọc lông nhanh phù hợp với alen quy định tăng trọng cao (Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Minh Hoàn, Lê Đình Phùng, 2006)[11]
Nghiên cứu ảnh hưởng của tính biệt đối với khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà broiler có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Ở các nước công nghiệp, người ta nuôi gà broiler tách riêng trống, mái Việc này, làm tăng độ đồng đều trong đàn và thuận lợi cho việc giết mổ tự động Nuôi tách riêng trống, mái sẽ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng, tăng khối lượng nhanh, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, làm cho gà trống không lấn át gà mái, giảm gà bị trầy xước
Hoàng Toàn Thắng (1996)[38] từ thực tế nghiên cứu tốc độ sinh trưởng của gia cầm theo tính biệt đã đưa ra khuyến cáo người chăn nuôi để đạt năng suất cao cần nuôi tách riêng trống mái
*Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Dinh dưỡng là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất tới tốc độ sinh trưởng của
gà Các chất dinh dưỡng có trong thức ăn gồm nhiều thành phần, mỗi thành
Trang 21phần có tầm quan trọng và ý nghĩa riêng Trong đó quan trọng nhất là protein, năng lượng, tỷ lệ năng lượng/protein, các chất khoáng đa vi lượng và vitamin các loại Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1993)[20], cho rằng để phát huy được khả năng sinh trưởng cần phải cung cấp thức ăn tối ưu, với đầy đủ các chất dinh dưỡng được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, các axit amin với năng lượng Ngoài ra, trong thức ăn hỗn hợp nuôi gà còn được bổ sung nhiều chế phẩm sinh học, hoá học để kích thích sinh trưởng làm tăng chất lượng thịt
Lê Hồng Sơn, Hoàng Văn Tiến (1998)[27] nghiên cứu ảnh hưởng của các chế độ dinh dưỡng khác nhau đến tốc độ sinh trưởng của gà Tam Hoàng
882 so sánh mức protein thô 19,51% và 17,50% ở giai đoạn 0 - 6 tuần tuổi cho kết quả tương ứng 408,43g/con và 378,33g/con Như vậy, sự thay đổi của
tỷ lệ protein trong khẩu phần ăn của gà dẫn đến sự sai khác về tốc độ sinh trưởng của gà thí nghiệm
Bùi Đức Lũng và cộng sự (1992)[19], nghiên cứu bổ sung khoáng và vitamin vào khẩu phần nuôi gà Hybro HV85 cho kết quả khối lượng gà ở 7 tuần tuổi ở lô thí nghiệm tăng hơn 85,3g/con so với lô đối chứng
Lê Hồng Sơn, Hoàng Văn Tiến (1998)[28] Xác định mức năng lượng
và protein thích hợp trong thức ăn để nuôi gà thịt Tam Hoàng dòng 882 cho thấy mức năng lượng thích hợp cho gà Tam Hoàng dòng 882 có 3 giai đoạn là 2.800 - 2.900 - 3.100 kcal/kg thức ăn, mức protein tương ứng là 20 - 19 -
18% Tỷ lệ nuôi sống cao 95 - 100%
Như vậy, để đạt năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi gà, phát huy được tiềm năng sinh trưởng của giống thì cần phải xây dựng những khẩu phần nuôi dưỡng hoàn hảo, cân đối trên cơ sở tính toán nhu cầu axit amin cho từng giai đoạn sinh trưởng
*Ảnh hưởng của mùa vụ, thời tiết
Khả năng sinh trưởng của gia cầm còn bị ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện chăm sóc, mùa vụ, khí hậu chuồng nuôi, phương thức chăn nuôi và công tác thú y phòng trừ bệnh dịch
Trang 22Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1993)[20], nhiệt độ cao làm cho khả năng ăn và thu nhận thức ăn giảm dẫn đến tăng trọng kém Giai đoạn gà con cần nhiệt độ 30 – 350C, nếu nhiệt độ thấp hơn gà ăn kém, chậm lớn, tỷ lệ chết cao Sau 5 tuần tuổi nhiệt độ tiêu chuẩn chuồng nuôi từ 18 - 200C sẽ giúp gà ăn khoẻ, lớn nhanh
Lewis và cộng sự (1992)[11], cho biết ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng trong ngày tác động đến các giống khác nhau thì khác nhau, trong giai đoạn sinh trưởng khác nhau thì ảnh hưởng bởi thời gian chiếu sáng cũng khác nhau, đặc biệt vào các tuần tuổi 9, 12, 15, nếu tăng độ chiếu sáng sẽ làm gà phát dục sớm
*Ảnh hưởng của độ tuổi
Quá trình sinh trưởng, phát dục của gà từ khi mới nở đến khi già và chết chịu sự chi phối của quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn; quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều
Bozko P.E (1973)[11], dẫn tài liệu của Krullo B.C cho thấy, trong độ tuổi từ mới nở đến 60 ngày, quá trình sinh trưởng của gà chia làm 3 giai đoạn:
- Từ mới nở đến 10 ngày: gà con chưa điều tiết được thân nhiệt, cơ xương mềm yếu, gà ít vận động, ngủ nhiều, khả năng phản ứng với đều kiện ngoại cảnh kém, gà có tốc độ sinh trưởng nhanh Giai đoạn này chưa có sự khác nhau về sinh trưởng giữa con trống và con mái
- Từ 11 đến 30 ngày: gà có tốc độ sinh trưởng rất nhanh và có sự khác biệt rõ rệt giữa con trống và con mái, màu sắc lông và các đặc điểm thứ cấp
Gà chuyển hoá thức ăn tốt, cơ quan điều tiết thân nhiệt đã hoàn thiện
- Từ 31 đến 60 ngày: khối lượng của gà tăng nhanh gấp nhiều lần so với lúc mới nở, các phản xạ về thức ăn, nước uống, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng đã được củng cố bền vững
Đào Văn Khanh (2001)[17], nghiên cứu trên gà trống Lương Phượng nuôi vụ thu ở Thái Nguyên cho kết quả: Sinh trưởng tương đối ở tuần 1 là cao nhất đạt 87,10%, tuần 4 giảm dần là 42,80% và tuần 12 còn 9,58%
Trang 231.1.2.4 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng
Việc xác định khả năng sinh trưởng của động vật rất khó khăn phức tạp
vì vậy trong công tác đánh giá và chọn tạo giống ngày nay các nhà khoa học dựa vào một số chỉ tiêu để đánh giá khả năng sinh trưởng của động vật:
+ Khối lượng cơ thể: Khối lượng cơ thể thể hiện sự tổng hợp và tích luỹ các chất dinh dưỡng trong cơ thể động vật, khối lượng càng cao thể hiện sự sinh trưởng mạnh, khối lượng sản phẩm thu được lớn Tỷ lệ khối lượng các phần trên
cơ thể hình thành nên giá trị chất lượng của sản phẩm, hướng sản xuất
+ Kích thước các chiều đo: Kích thước các chiều đo liên quan mật thiết đến khối lượng cơ thể, tỷ lệ các thành phần (thịt, xương, da …) Trong chăn nuôi thường nghiên cứu một số chỉ tiêu: Dài thân, vòng ngực, chiều dài xương đùi, chiều dài xương ngực, dài lườn, dài bàn chân, vòng ống chân… các chỉ tiêu này liên quan mật thiết tới chất lượng thịt, khối lượng sản phẩm thu được
+ Tốc độ sinh trưởng: Tốc độ sinh trưởng là mức độ tăng khối lượng và các chiều đo của cơ thể trong những khoảng thời gian nhất định
+ Tiêu tốn thức ăn: Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng phản ánh quá trình chuyển hoá thức ăn để sinh trưởng Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại Để phát huy tối đa khả năng sinh trưởng của gia cầm thì việc cung cấp thức ăn đầy đủ và tối ưu các chất dinh dưỡng, cân bằng protein, các axit amin và năng lượng là điều tối cần thiết
1.1.3 Cơ sở khoa học nghiên cứu khả năng cho thịt và chất lượng thịt
1.1.3.1 Về khả năng cho thịt của gà
Khả năng cho thịt là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi gia cầm, khả năng cho thịt phụ thuộc rất nhiều vào dòng, giống Năng suất cho thịt của các dòng, giống khác nhau thì khác nhau đồng thời chất lượng thịt cũng khác nhau, điều này liên quan chặt chẽ với yếu tố di truyền Các chỉ tiêu khác cũng mang tính chất đặc trưng cho dòng, giống: Tỷ lệ thịt
Trang 24xẻ, tỷ lệ thịt đùi, lườn, cánh, xương, mỡ bụng, lông, da, … Quan điểm này đã được Đào Văn Khanh (2001)[17], nghiên cứu và khẳng định
Theo tác giả Ngô Giản Luyện (1994)[21], cho rằng: trong cùng dòng, năng suất, chất lượng và tỷ lệ các phần thân thịt cũng khác nhau giữa trống
và mái
Theo Chambers (1990)[62], giữa các dòng luôn có sự khác nhau về di truyền năng suất thịt xẻ, tỷ lệ các phần như thịt đùi, thịt ngực, cánh, chân hay phần thịt ăn được (không xương) và từng phần thịt, xương, da
Ngô Giản Luyện (1994)[21], khi khảo sát năng suất thịt của 3 dòng V1,
V3, V5 giống gà Hybro HV85 cho thấy giữa các dòng có sự sai khác nhau rõ rệt Trong cùng một dòng thì tính biệt cũng có sự khác nhau: tỷ lệ thân thịt gà trống cao hơn gà mái và tỷ lệ thịt ngực của gà mái cao hơn gà trống
Nguyễn Văn Thiện, Hoàng Phanh (1999)[35], nghiên cứu khả năng sinh trưởng và sinh sản của gà Mía cho biết, nhìn chung tỷ lệ thân thịt, thịt đùi, thịt lườn ở gà Mía cao hơn ở gà Ri
Trần Công Xuân, Hoàng Văn Lộc, Nguyễn Đăng Vang, Nguyễn Thị Khanh, Nguyễn Quốc Đạt (1998)[59] Nghiên cứu khả năng cho thịt của gà Tam Hoàng Jiangcun cho kết quả mổ khảo sát ở giai đoạn 15 tuần tuổi đạt tỷ
lệ thân thịt 67,97%, tỷ lệ thịt ức/thân thịt đạt 20,61%, tỷ lệ thịt đùi/thân thịt 24,22% Tỷ lệ nước ở thịt ức là 73,33% thấp hơn thịt gà công nghiệp 1%, tỷ lệ protein thịt ức đạt 24,06 - 24,57% cao hơn thịt gà công nghiệp 1% và tương đương với gà Ri
Nghiên cứu khả năng cho thịt của con lai giữa gà Kabir với gà RhoderiJiangcun, các tác giả Phạm Thị Minh Thu, Trần Đình Miên, Trần Công Xuân cho thấy: tỷ lệ thân thịt gà trống cao hơn gà mái (trống: 77,59%
và mái: 77,49%), tỷ lệ thịt ngực của gà trống thấp hơn gà mái (trống: 18,95%
và mái: 20,75%), xong tỷ lệ thịt đùi của gà trống cao hơn gà mái (trống: 21,69% và mái: 19,75%), do vậy tỷ lệ thịt (đùi+ ngực) ở gà trống cao hơn gà mái (Báo cáo khoa học Chăn nuôi thú y 1999 - 2000)[37]
Trang 25Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến, Lê Thị Nga (2000)[57], nghiên cứu công thức lai kinh tế giữa gà Kabir và Lương Phượng hoa cho thấy tỷ lệ thân thịt 72,04 – 72,32%; tỷ lệ thịt đùi 20,64 – 21,43%; tỷ lệ thịt ngực 20,68 – 20,80%
1.1.3.2 Về chất lượng thịt gà
Chất lượng thịt được phản ánh qua phân tích hàm lượng thành phần các chất dinh dưỡng có trong thịt gà, thành phần này có sự khác nhau giữa các dòng, giống và độ tuổi Chất lượng thịt thường được đánh giá qua hàm lượng vật chất khô, tỷ lệ protein, lipit, khoáng tổng số…Vật chất khô thể hiện độ chắc của thịt, protein thể hiện giá trị dinh dưỡng, mỡ thể hiện độ béo của thịt, khoáng tạo nên vị đậm đà Giá trị của thịt còn phụ thuộc vào những yếu tố khác như hàm lượng và tỷ lệ các axit amin, hàm lượng vitamin, khoáng đa vi lượng, các hoạt chất sinh học… Ngoài ra các chất có ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người như cholesterol cũng được xem xét để đánh giá chỉ tiêu về chất lượng
Chất lượng của sản phẩm thịt bị ảnh hưởng rất lớn bởi tốc độ sinh trưởng Theo Proudman J.A và cộng sự (1970), nghiên cứu gà Plymouth trắng khi cho ăn tự do và mổ khảo sát lúc 6 tuần tuổi, phân tích thịt cho thấy nhóm sinh trưởng nhanh tỷ lệ nước 68,1%, protein 20,7%, mỡ 6,9% và khoáng 3% Còn nhóm sinh trưởng chậm cho tỷ lệ tương ứng các tanh phần
là 69,8%; 20,6% và 4,8%; 3,1% (Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự)[10]
Chamber (1990)[62], tốc độ sinh trưởng có tương quan âm với tỷ lệ mỡ (-0,39) và tương quan dương với phần trăm protein (0,53) với độ ẩm (0,32) và khoáng tổng số (0,14)
Theo Trần Công Xuân, Hoàng Văn Lộc và cộng sự (1999)[59], tính biệt cũng quy định chất lượng thịt Thịt gà Tam Hoàng 882 nuôi đến 13 tuần tuổi, ở con trống thịt ngực có tỷ lệ protein 24,13%; mỡ 0,38% và khoáng tổng
số 1,26%, thịt đùi có tỷ lệ protein 20,07%; mỡ 1,37% và khoáng tổng số 1,08% Đối với con mái thịt ngực có các giá trị tương ứng là 24,72%; 0,306%
và 1,31%, thịt đùi có các giá trị tương ứng là 20,91%; 1,673% và 1,26%
Trang 26Nhu cầu tiêu dùng hiện nay là chất lượng thịt, vì vậy việc nghiên cứu phương thức chăn nuôi, thức ăn dinh dưỡng, thời gian nuôi và tuổi xuất bán phù hợp của gà nuôi luôn luôn là vấn đề cần thiết, vì nó liên quan đến thị hiếu người tiêu dùng và giá thành sản phẩm
1.1.4 Cơ sở khoa học nghiên cứu mức độ tiêu tốn thức ăn
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là tỷ lệ chuyển hoá thức ăn để đạt được tốc độ tăng khối lượng, vì đây là một chức năng chính của quá trình chuyển hoá thức ăn, hay nói cách khác tiêu tốn thức ăn là hiệu suất giữa thức
ăn trên kilôgam tăng khối lượng Trong chăn nuôi, chi phí thức ăn thường chiếm 70% giá thành sản phẩm, do vậy chi phí thức ăn/1 đơn vị sản phẩm càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại
Theo Phùng Đức Tiến (1996)[35], hệ số tương quan giữa khối lượng cơ thể và tăng khối lượng với tiêu tốn thức ăn đã được Chambers (1984), xác định là từ -0,5 đến -0,9 Tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn
là âm và thấp (từ -0,2 đến -0,8) Box và Bohren (1954), Willson (1969), đã xác định hệ số tương quan giữa khả năng tăng khối lượng cơ thể và hiệu quả chuyển hoá thức ăn từ 1 - 4 tuần tuổi là r = + 0,5
Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, tiêu tốn và chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng, tỷ lệ nuôi sống của gà Kabir (K), Ri x Jiangcun (RJ) và Kabir x RiJiangcun (KRJ) theo các tác giả Phạm Thị Minh Thu, Trần Đình Miên, Trần Công Xuân, (2000) [37] cho thấy:
- Gà KRJ nuôi lấy thịt lúc 12 tuần tuổi đạt 2.013,96 g/con,cao hơn so với gà RJ (1.553,66 g/con) xấp xỉ gà K (2.137,44 g/con), có ưu thế lai so với trung bình của bố mẹ chúng là 9,12%
- Tiêu tốn và chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng thấp nhất ở gà K (2,74
kg và 9.196 đ) tiếp đến gà KRJ (2,92 kg) cao nhất ở gà RJ (3,19 kg)
- Tỷ lệ nuôi sống: gà lai KRJ có khả năng chống chịu và thích ứng với môi trường sống với tỷ lệ nuôi sống đạt 94% cao hơn so với gà K (90,5%) chỉ thấp thua so với gà RJ (95%)
Trang 27Nghiên cứu trên đối tượng giống gà VP2 (trống Đông Tảo x mái Lương Phượng) có kết quả khối lượng cơ thể tại thời điểm 4 tuần tuổi đạt 355,3g/con tăng hơn so với sơ sinh 8,2 lần, và tại 8 tuần tuổi khối lượng cơ thể đạt 1.007,4 g/con, so với sơ sinh tăng hơn 23,4 lần, độ đồng đều về khối lượng cơ thể cao với hệ số Cv (%) dao động trong khoảng từ 9 - 12%, mức tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể tại 8 tuần tuổi là 2,82 kg (Nguyễn Huy Đạt,
Vũ Ngọc Sơn, Nguyễn Thành Đồng, Hoàng Thị Nguyệt, 2006)[5]
Đối với gia cầm nuôi thịt, tiêu tốn thức ăn phụ thuộc vào tốc độ sinh trưởng, độ tuổi, giai đoạn đầu tiêu tốn thức ăn thấp, giai đoạn sau cao hơn:
Trần Công Xuân, Hoàng Văn Lộc và cộng sự (1999)[61], cho biết, gà Tam Hoàng khi nuôi thịt đến 15 tuần tuổi tiêu tốn 3,609 kg thức ăn/kg tăng khối lượng Gà Tam Hoàng Jiangcun nuôi thịt tiêu tốn 3,652 - 3,911 kg thức ăn/kg tăng khối lượng
Đoàn Xuân Trúc, Nguyễn Huy Đạt và cộng sự (1999)[42], cho biết tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà AA, ISA - MPK và BE88 khi nuôi đến
7 tuần tuổi tương ứng 2,09; 2,06 và 2,13kg Ngoài ra tiêu tốn thức ăn còn phụ thuộc vào tính biệt, điều kiện thời tiết khí hậu, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng cũng như tình hình sức khoẻ của đàn gia cầm
Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng có liên quan đến tính biệt, biện pháp nuôi dưỡng và những tác động kỹ thuật Do vậy, để hạ thấp mức độ tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cần thực hiện cho gà ăn theo nhu cầu đặc điểm sinh lý, cải thiện khả năng tăng khối lượng, giảm thời gian nuôi vỗ béo kết hợp với quy trình chọn lọc và lai tạo
Khả năng sinh trưởng và cho thịt của gia cầm nói chung, của gà broiler nói riêng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Trong đó, các yếu tố cơ bản là đặc điểm di truyền của giống, của dòng, tuổi, tính biệt, thức ăn, biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng, … Do đó, muốn nâng cao năng suất, chất lượng thịt gia cầm không được coi nhẹ yếu tố nào, các nghiên cứu trên đây là cơ sở khoa học cho người chăn nuôi có biện pháp tổng hợp nhằm không ngừng nâng cao khả
Trang 28năng sinh trưởng và cho thịt của gia cầm với mục đích vừa có năng suất cao, vừa có chất lượng tốt, hợp thị hiếu người tiêu dùng
Sức sống và khả năng kháng bệnh tật của gia cầm có liên quan đến yếu tố di truyền Dòng, giống khác nhau thì khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh và điều kiện chăn nuôi khác nhau, khả năng phản ứng lại với các nguyên nhân gây bệnh cũng khác nhau thông qua hệ thống miễn dịch của cơ thể, sức sống và khả năng đề kháng bệnh tật thay đổi theo lứa tuổi và tính biệt
Hiện nay, với cơ chế mở cửa việc nhập nhiều giống gà có đặc tính sản xuất cao từ nước ngoài hay giữa các địa phương cần quan tâm tới khả năng thích nghi với điều kiện môi trường, sức sống và khả năng kháng bệnh Khả năng này mang yếu tố di truyền đặc trưng cho từng loài, giống, dòng, cá thể
và được xác định bởi khả năng chống chịu các tác động của dịch bệnh và ngoại cảnh vì vậy trong chăn nuôi cần đáp ứng đầy đủ điều kiện thích hợp cho gia cầm phát triển như chuồng trại, thức ăn, chăm sóc, quản lý, chăn nuôi mang lại hiệu quả cao
Các yếu tố ngoại cảnh tác động gây ảnh hưởng xấu tới sức đề kháng của cơ thể, dễ gây hiện tượng stress làm giảm sức sống Trong điều kiện tự nhiên nước ta các yếu tố này tác động lần lượt ở các mức độ khác nhau tại những vùng địa lý khác nhau Do vậy để có sức sống cao đòi hỏi gia cầm phải
có sự thích nghi với điều kiện sống, thông qua hệ thống miễn dịch và các cơ chế đáp ứng miễn dịch để chống lại các tác nhân gây bệnh
Trang 29Brandsch H và Biichel H (1978)[2]: Tỷ lệ sống của gà con khi nở là chỉ tiêu chủ yếu đánh giá sức sống của gia cầm, ở giai đoạn hậu phôi, sự giảm sức sống được thể hiện ở tỷ lệ chết cao qua các giai đoạn sinh trưởng Tỷ lệ sống được xác định bằng tỷ lệ phần trăm số cá thể còn sống ở một giai đoạn,
so với các cá thể ở giai đoạn trước Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể do sự có mặt của các gen nửa gây chết, nhưng phần lớn là do tác động của
môi trường
Tỷ lệ nuôi sống của gia cầm non trong điều kiện bình thường đạt khoảng 90% nhưng cũng có những dòng gà tỷ lệ nuôi sống có thể lên tới 98 - 99% Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Quang Tiến, Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến và cộng sự (1996)[34] cho biết tỷ lệ nuôi sống từ 1 đến 140 ngày tuổi của các dòng gà chuyên thịt HE - Ross 208 đạt từ 95 - 98% Tỷ lệ nuôi sống của gà Tam Hoàng Jiangcun ở giai đoạn gà con đạt 97 - 98% và giai đoạn sau 100% (Trần Công Xuân và CTV, 2001)[56]
Ngô Giản Luyện (1994)[21] cho rằng gia cầm thông qua hệ thống miễn dịch và các cơ chế đáp ứng miễn dịch để chống lại các tác nhân gây bệnh Kotris và cộng sự (1988) nghiên cứu cho thấy những gà mái có số lượng bạch cầu cao hơn ở độ tuổi 60 và 100 ngày thì tương ứng với sức sống và sản lượng trứng cao
Theo Ngô Giản luyện (1994)[21] công bố nghiên cứu về sức sống của gia cầm trong cơ sở di truyền năng suất và chọn giống động vật đã trích dẫn nghiên cứu của Johansson (1972), Marco A.S và cộng sự (1982) cho biết sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định trước hết bởi khả năng có tính
di truyền của động vật, có thể chống lại các ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường, cũng như các ảnh hưởng khác của dịch bệnh
HillF, Dikerson G.E và Kempster H.L (1954)[64], đã tính toán được
hệ số di truyền sức sống là 0,06 Sức sống được tính theo các giai đoạn nuôi dưỡng khác nhau Theo tài liệu của Gavora J.F (1990)[63], hệ số di truyền có sức kháng bệnh là 0,25 Theo Robertson A và Lemer I.M (1949)[65], hệ số
Trang 30di truyền về tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh thường phụ thuộc dòng, giống, giới tính Tỷ lệ nuôi sống phụ thuộc rất lớn vào vào yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, thời tiết, mùa vụ
Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên (1998)[26] xét về khả năng thích nghi khi điều kiện sống thay đổi như về thức ăn, thời tiết, khí hậu, quy trình chăn nuôi, môi trường, vi sinh vật xung quanh…cho thấy gà lông màu có khả năng
thích ứng rộng rãi hơn đối với môi trường sống
Khavecman (1972)[18], để tăng cường các biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng, đảm bảo chất lượng sản phẩm ngày càng tốt hơn trong chăn nuôi, ngoài việc tiếp tục chọn lọc các cá thể, các dòng có sức miễn kháng cao, người ta còn chú trọng đến nghiên cứu theo dõi các tập tính bẩm sinh của con vật về sinh sản, sinh trưởng, kiếm ăn… Từ đó áp dụng các biện pháp nuôi dưỡng theo kiểu nuôi nhốt hay chăn thả, biện pháp làm sạch môi trường trang trại và xung quanh, tuân thủ chặt chẽ các quy tắc về an toàn dịch bệnh Những việc làm cần thiết đó sẽ bổ trợ thêm tính miễn kháng, ngăn ngừa được những
stress mang hậu quả làm giảm sức sống và chất lượng sản phẩm
1.1.6 Cơ sở khoa học nghiên cứu về ưu thế lai
Theo các tác giả Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Minh Hoàn, Lê Đình Phùng (2006) [11], ưu thế lai được Shull (1914) đưa ra và được Snell (1961) thảo luận định nghĩa này trong nhân giống Có thể hiểu ưu thế lai theo nghĩa toàn bộ là sức sống, sức miễn kháng đối với bệnh tật và các tính trạng sản xuất của con lai được nâng cao Mặt khác có thể hiểu ưu thế lai trong từng mặt, từng tính trạng một; có khi chỉ một vài tính trạng phát triển còn các tính trạng khác có khi giữ nguyên như khi chưa tiến hành lai giống, thậm chí có tính trạng còn giảm đi
Sự tăng về sức sống, độ lớn, sức sinh sản, tốc độ phát triển, khả năng chống đỡ với bệnh tật và những thay đổi của khí hậu thời tiết biểu hiện ở cơ thể lai so với cơ thể bố mẹ, kết quả của sự kết hợp giữa các giao tử của bố,
mẹ ở cơ thể con lai được gọi là ưu thế lai
Trang 31Theo Dương Mạnh Hùng (2004)[15], ưu thế lai cao nhất ở thế hệ F1,
ưu thế lai ở thế hệ F2 (giao phối F1 x F1, hoặc giữa F1 với dòng bố, mẹ khởi đầu) chỉ bằng ½ ưu thế lai ở F1
Thực tế trong chọn giống chăn nuôi gia cầm gần đây cho thấy: Sản lượng trứng cao của các giống gà hướng trứng; sự tăng trọng nhanh, tầm vóc lớn của các giống gà hướng thịt; khả năng sử dụng thức ăn tốt của các dòng
gà gần đây đã trở thành nổi tiếng trên thế giới không thể tách rời khỏi sự lai tạo và sử dụng ưu thế lai
Trong chăn nuôi gia cầm hướng trứng, để nhận được ưu thế lai cao người ta thường sử dụng các phương pháp lai đó là: Lai giữa các giống, lai giữa các dòng và lai hỗn hợp từ 2, 3, 4 dòng hợp lại
1.1.7 Cơ sở khoa học của nghiên cứu sự thích nghi của vật nuôi
Thích nghi là sự thích ứng và phù hợp của gia súc trong những điều kiện sống, điều kiện nuôi dưỡng, quản lý và sử dụng mới Trong những điều kiện mới ấy, gia súc vẫn sống, sinh trưởng và sinh sản và sản xuất bình thường đồng thời vẫn phát huy được các đặc tính giá trị cũ và có khả năng di truyền ổn định các tính trạng ấy cho đời sau (Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn,
2006)[31]
Như vậy, thích nghi chính là phản ứng tích cực của cơ thể con vật trong điều kiện sống mới với những tác động trực tiếp của ngoại cảnh và những tác động của con người, các điều kiện chăn nuôi Nghiên cứu thích nghi cũng là nghiên cứu về sự thay đổi những chỉ tiêu về ngoại hình, sinh lý, khả năng sản xuất, khả năng chống chịu của con vật trong điều kiện sống mới so với môi trường cũ của nó và tác động của con người làm cho con vật thích ứng với điều kiện sống mới, nâng cao được sức sản xuất Nghiên cứu về khả năng thích nghi của con vật cũng là nghiên cứu tác động của con người đối với sinh vật để tạo nên môi trường phù hợp làm cho con vật thích ứng được với điều kiện mới, nâng cao được sức sản xuất
Trang 32Thích nghi là kết quả của hàng loạt những quá trình sinh hoá phức tạp trong cơ thể con vật nhờ đó mà nó có thể sống phù hợp với các điều kiện của môi trường mới Nếu con vật được nuôi trong môi trường khác xa với môi trường cũ của nó đã sống mà không thích nghi được nó sẽ kém sinh trưởng phát triển, gầy mòn, kém sinh sản, dễ mang bệnh tật và cuối cùng sẽ chết Động vật nói chung có khả năng sinh trưởng, phát triển và sinh sản với mức
độ khác nhau trong điều kiện môi trường sống khác nhau
Nghiên cứu về vấn đề thích nghi của vật nuôi đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đây còn là một vấn đề có tầm ứng dụng trong thực tiễn sản xuất rất lớn Khi nghiên cứu về một số loài vật nuôi, Walton, Hamnond (1938) (theo trích dẫn của Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Minh Hoàn, Lê Đình Phùng, 2006)[11] đã thừa nhận rằng điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng đến các tính trạng số lượng nhưng vật nuôi vẫn chịu ở mức độ có giới hạn gọi là
“điểm cao sinh lý” Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng vật nuôi dễ thích nghi hơn ở những vùng mà khí hậu nói chung không khác xa bao nhiêu so với khí hậu vùng gốc của nó, hoặc tiểu khí hậu ở vùng thích nghi đã được cải tiến rất nhiều Cho nên có thể gặp ở nhiều địa điểm khác nhau trên thế giới cũng với những giống vật nuôi đó
Thích nghi của vật nuôi được thể hiện ở các mặt sau:
- Thay đổi về ngoại hình, sinh lý, tốc độ sinh trưởng phát triển, chống chịu bệnh dịch, khả năng sản xuất, khả năng sinh sản, của con vật
- Những biến đổi về trao đổi chất của con vật nhằm thích nghi với những điều kiện ngoại cảnh tác động
Khi nghiên cứu thích nghi không những cần phải xem xét bản thân con vật đang thích nghi mà còn cả đời con của nó được sinh ra trong môi trường mới, xem xét sự thay đổi so với giống gốc, sự thay đổi đó có lợi gì cho con người và có hại gì cho con vật Nghiên cứu xác định mối tương quan giữa tính
di truyền của con vật với điều kiện môi trường sống mới
Trang 33Từ các kết quả nghiên cứu các nhà khoa học đã kết luận vấn đề lai giữa các giống nhập nội với giống địa phương sẽ mang lại hiệu quả chăn nuôi cao, con lai có sức chống bệnh cao và chịu đựng được những biến đổi của điều kiện ngoại cảnh khá tốt
Tất cả những kết quả nói trên đã chứng minh việc tiến hành lai giữa các giống nhập với các giống sẵn có tại địa phương là một biện pháp giúp cho các giống nhập nội thích nghi có hiệu quả cao với điều kiện mới, đồng thời còn chứng tỏ phạm trù lai tạo để thích nghi là đúng quy luật
1.1.8 Đánh giá sức sản xuất của vật nuôi
Mục đích cuối cùng của việc nhân giống, tạo giống là nhằm tạo nên những phẩm giống có sức sản xuất và sinh sản cao, đáp ứng được nhu cầu sử dụng của con người Sức sản xuất của vật nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau: di truyền của phẩm giống, dinh dưỡng, thức ăn, khả năng chống bệnh, kỹ thuật chăn nuôi và môi trường sinh thái mà vật nuôi sinh sống Việc đánh giá sức sản xuất có ý nghĩa rất lớn trong chăn nuôi
- Qua việc đánh giá sức sản xuất người ta có thể phát hiện được những giống tốt để tiến hành chọn lọc, nhân giống và lai tạo nhằm tạo ra những phẩm giống có năng suất cao, giá thành hạ, nâng cao hiệu quả chăn nuôi
- Trong công tác giống, chỉ tiêu về sức sản xuất là cơ sở để so sánh sự thay đổi về lượng: Khối lượng, kích thước cơ thể, sản lượng trứng, của vật nuôi, từ đó có thể đề ra biện pháp nuôi dưỡng, chọn lọc các con giống và quyết định phương hướng chọn giống và nhân giống Đồng thời đánh giá được sức sản xuất cũng là cơ sở để tính toán các tham số di truyền áp dụng trong chọn lọc và nhân giống
- Về mặt kỹ thuật, biết được sức sản xuất sẽ giúp cho việc lập kế hoạch
dự trù đầy đủ thức ăn, cũng như các phương tiện khác đồng thời đưa ra các biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng tốt, tác động vào các qui luật sinh trưởng, phát dục nhằm khai thác tối đa sức sản xuất của vật nuôi
Trang 341.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Chăn nuôi gia cầm (chăn nuôi gà nói riêng) ở Việt Nam còn chưa phát triển, các trang trại chăn nuôi quy mô lớn, chăn nuôi công nghiệp chưa nhiều, chăn nuôi gà trong các trang trại chăn nuôi tập trung chủ yếu là các giống gà ngoại nhập do đặc tính thuần hóa cao, phù hợp với phương thức chăn nuôi công nghiệp trang trại tập trung Các giống gà địa phương chủ yếu chăn nuôi theo phương thức quảng canh, chăn thả tự do, tận dụng nguồn thức ăn và điều kiện tự nhiên sẵn có để chăn nuôi gia đình Hiện nay, nhu cầu người tiêu dùng
về sản phẩm thịt gà ngày càng cao, mặt khác đòi hỏi thịt gà phải săn chắc, gà phải được vận động nhiều, chủng loại thức ăn đa dạng phong phú, tỷ lệ mỡ trong sản phẩm thấp, mang nhiều đặc điểm của giống gà địa phương truyền thống Đáp ứng nhu cầu đó nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học đã tập trung vào việc lai tạo ra các tổ hợp lai mới giữa các giống cao sản nhập nội và giống địa phương tạo ra các dòng gà có đặc tính phù hợp với phương thức chăn nuôi bán chăn thả
Ứng dụng các thành tựu của di truyền học và lai tạo giống gia cầm của thế giới vào thực tiễn chăn nuôi gia cầm ở nước ta đã được các nhà khoa học quan tâm từ những năm 70, nhưng phát triển mạnh và có đóng góp tích cực cho sản xuất là khoảng 10 năm trở lại đây Các công trình nghiên cứu lai tạo được thực hiện theo 3 hướng:
1) Lai giữa các giống, dòng gia cầm cao sản nhập nội;
2) Lai giữa các giống gia cầm địa phương trong nước;
3) Lai giữa một giống là gia cầm cao sản nhập nội với một giống địa phương
Một số công trình lai tạo gà đã được nghiên cứu và công bố kết quả và ứng dụng trong thực tiễn sản xuất:
Trang 35Bảng 1.1 Tổng hợp một số công trình lai tạo giữa gà nội và ngoại nhập
đã công bố ở nước ta
Red Rhode island x Mía Tạ An Bình, 1973
Red Rhode island x Ri Nguyễn Đức Hưng, 1975
Red Rhode island x Ri Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hoài Tao, 1985
Tiền Giang x Tam Hoàng Lê Thanh Hải, Lê Hoàng Dung, Đồng Sỹ Hùng, 1997 Đông Tảo x TH Jangcun Nguyễn Đăng Vang, Trần Công Xuân, 1999 Kabir x Ri; Mía x Ri Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Huy Đạt, 1999 Tam Hoàng x Ri
Tam Hoàng x Mía
Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Đăng
Vang, 2001 Mía x Kabir
Ri x Kabir
Trần Sáng Tạo, Nguyễn Đức Hưng, Nguyễn Đăng
Vang, 2002 Lương Phượng x Ri Nguyễn Huy Đạt, 2004
Mía x Lương Phượng
Đông Tảo x Lương Phượng
Đông Tảo x Kabir
Vũ Ngọc Sơn, Nguyễn Huy Đạt, 2006
(Nguồn: Nguyễn Đức Hưng (2006), Giáo trình chăn nuôi gia cầm,
NXB Đại học Huế )[14]
Từ các kết quả lai tạo, các nhà khoa học đã nghiên cứu chọn tạo ra nhiều công thức lai đem lại giá trị ứng dụng cao trong thực tế sản xuất, sản phẩm nghiên cứu được người dân đón nhận và triển khai rộng khắp, làm phong phú thêm bộ giống gà nuôi trong nông hộ Với các ưu điểm nổi trội như tăng khối lượng cơ thể, rút ngắn thời gian chăn nuôi, nâng cao hiệu quả
sử dụng thức ăn, cải thiện năng suất trứng, chất lượng thịt, nâng cao hiệu quả chăn nuôi, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng
Trang 36Bảng 1.2 Khả năng sản xuất của một số gà lai F 1
TT Tổ hợp lai gà trống x gà mái Khối lượng cơ thể 12
tuần tuổi
Tỷ lệ nuôi sống (%)
Tiêu tốn thức ăn/1
kg thịt (kg)
F 1 nuôi thịt
1 Mía x Kabir 1.820 90 2,91
2 Kabir x Ri 1.720 92 3,17
3 Jiang cun x Kabir 2.289 72,5 2,87
4 Kabir x Jiang cun 2.220 73,2 2,89
5 Kabir x Tam Hoàng 2.300 92 2,9
6 Tam Hoàng x Kabir 2.260 94 2,9
7 Kabir x Lương Phượng 1.740-2.340 95 2,85-3,08
8 Rhoderi x Tam Hoàng 1.300 95 3,25
9 Rhoderi x Jiang cun 1.740 94 3,1
Nguồn: Nguyễn Đức Hưng (2006)[14]
Nước ta có nhiều giống gà có giá trị như: gà Hồ, gà Ri, gà Đông Tảo,
gà Mía, có ưu điểm thịt ngon, thích nghi cao với các điều kiện khí hậu ở nhiều vùng sinh thái khác nhau trên cả nước, nhược điểm của các giống gà nội là năng suất thịt, trứng thấp không đáp ứng đủ nhu cầu người tiêu dùng Tận dụng ưu điểm của các giống gà nội, góp phần nâng cao giống gà thả vườn, năm 2007 Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi - Viện chăn nuôi - đã thực nghiệm cho lai tạo giữa gà trống Đông Tảo với mái Lương Phượng tạo con lai F1 (đặt tên là VP2) làm cơ sở chọn tạo giống Gà VP2 có đặc điểm mào nụ là chủ yếu (chiếm 95,5%), màu lông được di truyền theo màu lông của gà Đông Tảo, lúc mới nở lông màu sọc dưa chiếm
đa số (81,8%), lúc trưởng thành gà trống có màu lông đỏ đốm đen, gà mái có
2 nhóm màu lông là nâu lá chuối khô (chiếm 83,56%) và màu vàng đốm (chiếm 16,44%), chân nhỏ có kích thước trung bình từ 4 -4,5cm, da chân có màu vàng
Trang 37Gà VP2 có khối lượng cơ thể tại 4 tuần tuổi đạt 355,3g/con tăng hơn
so với sơ sinh 8,2 lần, tại thời điểm 8 tuần tuổi khối lượng đạt 1.007,4g/con
so với sơ sinh tăng hơn 23,4 lần, độ đồng đều cao, tỷ lệ nuôi sống đến 8 tuần tuổi đạt 92,60%, mức tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng cơ thể tại 8 tuần tuổi là 2,82 kg Khối lượng cơ thể lúc trưởng thành (thời kỳ đẻ trứng) con trống đạt 2.456,80g/con và 1.843,80g đối với gà mái Năng suất trứng bình quân 79,69 quả/mái/31tuần đẻ (Theo Nguyễn Huy Đạt, Hồ Xuân Tùng
và CS, 2008)[6]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Chăn nuôi gia cầm mang lại khối lượng sản phẩm lớn cung cấp cho nhu cầu về sản phẩm thịt cho nhân loại, chính vì vậy việc nghiên cứu chọn tạo ra các dòng, giống gia cầm mới có năng suất, sản lượng cao luôn đòi hỏi các nhà khoa học quan tâm
Bằng các công thức lai tạo và chọn lọc giữa các giống gà nhập nội và các giống gà địa phương, người Trung Quốc đã thành công trong việc cho ra đời nhiều giống gà có khả năng sinh trưởng phát triển cao, phù hợp với nhiều phương thức chăn nuôi khác nhau: Giống gà Tam Hoàng, Lương Phượng, đây
là các giống gà được tạo ra trên cơ sở lai tạo và chọn lọc giữa giống gà Thạch Kỳ của Trung Quốc với các giống gà ngoại nhập (giống gà Kabir của Israel) Các giống gà này có nhiều đặc điểm vượt trội, cải thiện đáng kể ngoại hình và thể chất
mà vẫn giữ được các đặc tính di truyền quý của giống gà địa phương
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều giống gà cao sản mới được chọn tạo và đưa vào sản xuất có tính chuyên biệt theo các hướng khác nhau, hãng SASSO (Pháp) đã tiến hành lai tạo và nhân giống thành công giống gà Sasso năm 1978 với nhiều dòng khác nhau gồm 18 dòng gà trống và
6 dòng gà mái phù hợp với các phương thức, mục đích chăn nuôi Giống gà này có khả năng thích nghi cao, dễ nuôi ở các điều kiện nóng ẩm, sức kháng bệnh tốt, chất lượng thịt thơm ngon
Trang 38Ở Israel, công ty Kabir đã tạo ra giống gà Kabir từ con lai của giống gà địa phương Sinai có sức chịu nóng cao với gà Whiter Leghorn, Plymouth Hiện nay, công ty Kabir đã tạo ra 28 dòng gà chuyên thịt lông trắng và lông màu trong đó có 13 dòng nổi tiếng bán ra khắp thế giới là dòng trống K100, K100N, K400, K400N, K666, K666N, K368 và K66; dòng mái gồm K44, K25, K123 (Lông trắng) và K156 (Lông nâu)
1.3 Giới thiệu về đối tượng nghiên cứu
1.3.1 Giống gà Lương Phượng
Gà Lương Phượng còn được gọi là gà Lương Phượng Hoa là giống gà kiêm dụng trứng - thịt, lông màu được nhập nội từ Trung Quốc, là kết quả lai tạo giữa dòng trống là giống gà nội của Trung Quốc với dòng mái nhập ngoại (Nguyễn Duy Hoan, 1999)[13] Gà Lương Phượng được nhập vào nước ta từ cuối năm 1997 và đã được nuôi phổ biến ở nhiều địa phương trong cả nước Đây là giống gà có khả năng thích nghi cao với mọi điều kiện chăn nuôi: nuôi nhốt (nuôi công nghiệp), bán chăn thả, chăn thả Gà có thân hình chắc, thịt ngon, lông có hai màu chính: vằn sọc dưa và màu vàng rơm; con trống màu cánh gián, mào cờ; mỏ, da, chân màu vàng Tốc độ sinh trưởng nhanh và có sức kháng bệnh tốt
Theo các tác giả Vũ Ngọc Sơn, Nguyễn Huy Đạt, Trần Long (1998)[29], khi nghiên cứu về gà Lương Phượng cho biết: gà có tỷ lệ nuôi sống đạt 90 - 95% và ít mắc các bệnh gặp phải trong chăn nuôi gà công nghiệp, khả năng sử dụng thức ăn tốt trong chăn nuôi tập trung, sau 90 ngày nuôi gà trống đạt 2.700g/con, gà mái đạt 2.000g/con, chi phí 2,5 - 2,6kg thức ăn/1kg tăng khối lượng Nuôi chăn thả 100 - 120 ngày bình quân khối lượng
gà đạt 2.100 - 2.300g/con
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đăng Vang (2001)[50], gà trống Lương Phượng có màu vàng tía, gà mái có màu vàng xám Da, mỏ, chân gà Lương Phượng có màu vàng Gà thương phẩm ở 12 tuần tuổi có khối lượng
cơ thể con trống 1.850g/con, con mái 1.680g/con, tỷ lệ nuôi sống đạt 96,5%
Trang 39Các tác giả Trần Công Xuân, Hoàng Văn Lộc, Bạch Thị Thanh Dân, Lê Thu Hiền, Nguyễn Quý Khiêm, Phùng Đức Tiến, Đỗ Thị Sợi, Nguyễn Liên Hương (2001)[61], nghiên cứu khả năng sản xuất của gà Lương Phượng Hoa Trung Quốc cho kết quả: gà Lương Phượng nuôi thương phẩm có khả năng cho thịt cao, khối lượng cơ thể lúc 10 tuần tuổi đạt 1.788,4g - 1.822,65g/con, tiêu tốn 2,64 - 2,68kg thức ăn/1kg tăng khối lượng, chỉ số sản xuất (PN - Production Number) ở 8 - 10 tuần tuổi từ 96,81 - 108,04; thành phần hoá học của thịt tương đương với thịt gà nội, tỷ lệ nuôi sống cao đạt 98%
1.3.2 Giống gà Đông Tảo
Gà Đông Tảo (còn có tên gọi là Đông Cảo): có nguồn gốc ở thôn Đông Tảo xã Cấp Tiến huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên Hiện nay, giống gà này được phát triển ra nhiều địa phương trong tỉnh Hưng Yên, ngoài ra còn được nuôi ở tỉnh Hải Dương, Hà Nội, Thái Bình, Hà Nam,
Gà Đông Tảo có đặc điểm nổi bật là tầm vóc thô, đầu to, mào nụ, mắt sâu, chân to xù xì có nhiều hàng vảy, xương to, nhiều thịt nhưng thịt không mịn, da đỏ ở bụng và cổ (gà trống); da màu trắng đục (gà mái) Gà trống có lông màu mận chín (màu mã lĩnh) chiếm đa số, con mái có màu lông điển hình chiếm đa số là xám xen kẽ đốm đen, nâu (màu lá chuối khô) Khối lượng
cơ thể lúc mới nở là 33g/con (Nguyễn Đức Hưng trích dẫn của Sử An Ninh và đồng nghiệp, 2003)[14] Gà thịt lúc 4 tháng tuổi có khối lượng trung bình con trống đạt 2,5 kg, con mái đạt 2,0 kg Gà đẻ lúc 4 tháng tuổi, con trống trung bình đạt 4,8 kg/con, con mái 3,5 kg/con (Theo tài liệu: Atlas các giống gia súc, gia cầm Việt Nam, 2004)[52] Lúc trưởng thành con mái nặng 2,5 - 3 kg, con trống nặng 3,5 - 4 kg, sức đẻ bình quân 60 - 70 trứng/mái/năm, khối lượng trứng 50 - 60g/quả, gà Đông Tảo thiên về hướng sản xuất thịt rõ rệt, có thể lai với các giống gà khác tạo giống gà nuôi thịt (Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc, 2004)[13]
Gà Đông Tảo có ưu điểm: Tầm vóc lớn, khối lượng trứng to Nhưng có nhược điểm xương to, đẻ ít, khả năng tăng đàn chậm, gà con mọc lông chậm
Trang 40Hiện nay, gà Đông Tảo được nuôi theo 2 hướng: Nuôi thuần chủng và lai tạo với các giống gà khác, gà trống Đông Tảo thường được dùng để lai với gà Ri,
gà Lương Phượng, gà Kabir tạo con lai lấy thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh và chất lượng thịt tốt được thị trường tiêu dùng chấp nhận Đây là vốn gen quí dùng để lai với các giống gà khác sẽ cho gà broiler có năng suất cao
Gà Lương Phượng Gà Đông Tảo (Đông Cảo)
Hình 1.1 Ảnh gà Lương Phượng và gà Đông Tảo
(Nguồn: Atlas các giống gia súc, gia cầm Việt Nam,
http://www.vcn.vnn.vn/Post/atlat/Giongnoi/ga_dongtao.pdf) [52]
Việc sử dụng công thức lai giữa gà trống Đông Tảo với mái Lương Phượng tạo con lai có sức chống chịu cao với điều kiện ngoại cảnh, nâng cao khả năng sinh sản, phù hợp với điều kiện chăn nuôi bán chăn thả ở địa bàn vùng núi và trung du phía Bắc Con lai lớn nhanh, chịu đựng kham khổ tốt, chất lượng thịt thơm ngon